| Pháp Hoa Đề Cương |
|
|
|
| Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa | |||
| Viết bởi Thích Nhật Quang | |||
|
Trang 1 của 9 Kinh Pháp Hoa là một đại sự của chư Phật, là yếu môn của Bồ-tát, là chân như bình đẳng của Như Lai, vì thương chúng sanh mà khai thị ngộ nhập. Kinh Pháp Hoa cùng kinh Lăng Nghiêm đồng một ý hướng, mà kinh Pháp Hoa là mật ý xưng dương tán thán Phật tri kiến. Kinh Lăng Nghiêm là nói rõ Phật tri kiến. Đến kinh Niết-bàn thì dạy: “Sanh diệt đã hết, lặng lẽ là vui”. Chính nơi đây, niềm vui lớn mới thật rốt ráo. Không luận người Ấn hay người Hoa, chẳng riêng Việt Nam hay Nhật Bản, mà toàn thể nhân loại, cho đến muôn loài sanh trong Pháp giới, đều có “Tri kiến Phật”, đều sẵn đủ “Trí tuệ Như Lai”. Chỉ khác nhau ở chỗ, người hữu duyên sớm nhận ra trân bảo nhà mình, đời đời giàu sang, kẻ vô phần thì Đông Tây rong ruổi, mãi mãi đói khó. Pháp Hoa Đề CươngThiền sư Minh ChánhThích Nhật Quang dịchNhà Xuất Bản TP Hồ Chí Minh, 1999Mục LụcLời Giới Thiệu Lời Người Dịch Phàm Lệ Lời Dẫn Tựa Pháp Hoa Đề Cương 1/ Tựa Tông Chỉ Đề Cương Kinh Diệu Pháp Liên Hoa 2/ Tông Chỉ Đề Cương Kinh Diệu Pháp Liên Hoa 3/ Tổng Nêu Pháp Dụ Và Đề Mục Của Kinh 4/ Tổng Nêu Nhân Do Tôn Chỉ Khai Thị Ngộ Nhập 5/ Nêu Rõ Diệu Lý Theo Mỗi Phẩm Trong Kinh Phân Giải 6/ Phẩm Phương Tiện, Thí Dụ, Tín Giải Và Thọ Ký. 7/ Phẩm Dược Thảo Dụ Và Hóa Thành Dụ 8/ Phẩm Ngũ Bá Đệ Tử Thọ Ký, Thọ Học Vô Nhân Ký Và Phẩm Pháp Sư 9/ Phẩm Hiện Bảo Tháp 10/ Phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa 11/ Phẩm Trì 12/ Phẩm An Lạc Hạnh 13/ Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất 14/ Phẩm Như Lai Thọ Lượng 15/ Phẩm Phân Biệt Công Đức, Tùy Hỷ Công Đức Và Pháp Sư Công Đức 16/ Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát 17/ Phẩm Như Lai Thần Lực Và Chúc Lụy 18/ Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bản Sự 19/ Phẩm Diệu Âm Bồ Tát 20/ Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn 21/ Phẩm Đà-La-Ni 22/ Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự 23/ Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát 24/ Bạt Dẫn Đề Mục Đầu Kinh Phụ Tụng Tông Chỉ Các Chữ Bạt Dẫn Đề Mục Đầu Kinh 25/ Phụ Tụng Khai Thị Ngộ Nhập, Nhất Phật Thừa Tri Kiến Đạo, Trí Tuệ Tông Chỉ 26/ Các Chữ Phụ Tụng, Tụng 14 Chữ Tổng Nhiếp Diệu Nghĩa, Để Tiện Ngoạn Đọc. 27/ Chỉ Thẳng Diệu Nghĩa Của 14 Chữ Toát Yếu 28/ Phụng Khuyến Hối Tàng Mật Cơ Tụng Vài Tắc Lời Giới ThiệuQuyển Pháp Hoa Đề Cương là một tác phẩm thật có giá trị của một Thiền sư Việt Phật tử Việt Với bản nguyện xương minh Phật giáo nước nhà, cùng phá dẹp thành trì mê lầm đang ngăn lấp con đường Chánh giác của hàng Phật tử, nên chúng tôi ghi vào đây vài lời giới thiệu với độc giả. Thích Thanh Từ Lời Người DịchVào hạ năm trước, khi trao tập Đề Cương này cho tôi, Thầy tôi dạy: “Chú chịu khó đọc kỹ rồi dịch ra, để phổ biến một tài liệu quý giá của Phật giáo Việt Sau khi nhận sách và đọc qua, thâm tâm tôi khoan khoái lạ thường. Khác nào người bệnh ngặt, được toát mồ hôi. Như kẻ lạc lối trong đêm dày, chợt gặp mục tiêu và ánh sáng. Cũng như kẻ khốn cùng, bỗng được của báu vô lượng. Ôi thích thú, sung sướng không kể xiết! Thật vậy, không luận người Ấn hay người Hoa, chẳng riêng Việt Nam hay Nhật Bản, mà toàn thể nhân loại, cho đến muôn loài sanh trong Pháp giới, đều có “Tri kiến Phật”, đều sẵn đủ “Trí tuệ Như Lai”. Chỉ khác nhau ở chỗ, người hữu duyên sớm nhận ra trân bảo nhà mình, đời đời giàu sang, kẻ vô phần thì Đông Tây rong ruổi, mãi mãi đói khó. Chớ nào phải, trong biển Tỳ lô lại nổi bất bình, trên pháp thể an tường há sanh bỉ thử… Việt Những vị tích cực như Khuông Việt, Vạn Hạnh… Những vị kỳ bí như Không Lộ, Giác Hải… Những vị uyên bác như Thanh Biện, Viên Thông… Cho đến những vị siêu thoát như Thiền Lão… những vị mẫu mực như Đạo Huệ… và vô số những vị khác, hoặc ẩn hoặc hiển, cùng nêu cao ngọn đuốc trí tuệ, làm cho Cơ Thiền đã vang lừng một thuở. Chính các Ngài đã khéo léo hòa tấu khúc Tông phong thanh tao vi vút khắp sơn khê. Mãi đến thời Pháp thuộc gần đây, âm hưởng đó vẫn còn bàng bạc gội nhuần ngoài cỏ nội. Các bậc kiến tánh thâm tu quảng học như thế, vẫn tiếp tục ra đời, mà nhân vật đại biểu cho thời này là Minh Chánh thượng nhân, người làm ra Đề Cương này. Thế nên biết: “Giọt nước dòng Tào nhuần thấm khắp nơi” vậy. Hôm nay, con thành kính đốt nén tâm hương, dâng lên mười phương các đấng Điều Ngự, cùng lịch đại Thánh Hiền, và Minh Chánh thượng nhân, nguyện từ bi phủ giám cho con. Đồng thời, soi tỏ lòng con, khiến con sáng suốt phiên dịch Đề Cương này, hầu khêu sáng ngọn đuốc trí tuệ mà các Ngài đã nhen nhúm từ lâu. Con cũng mong mỏi hiện tại chư Thiện tri thức, từ mẫn bổ chính cho bản dịch, để khi đến tay quý độc giả được hoàn bị hơn. Lại nguyện mọi loài cùng dự hội Pháp Hoa, đều ngộ nhập Tri kiến Phật, hằng sống với bản thể thanh tịnh như như của mình. Tu Viện Chân Không Đầu xuân năm Quý Sửu 1973 (PL. 2517) Thích Nhật Quang Kính đề Phàm LệTrong nguyên bản Đề Cương này, có nhiều phẩm tác giả chỉ nói tóm lược, mà không nêu rõ tên mỗi phẩm. Vì muốn tiện lợi cho việc tham khảo của quý độc giả, dịch giả tự ý ghi thêm tên mỗi phẩm, theo thứ tự của mục lục toàn kinh. Ngoài ra, khi gặp những danh từ chuyên môn, dịch giả chú thích ra, và chỗ nào dẫn danh hiệu Phật… xin lược bớt. Như vậy, trình tự và ý thú của toàn kinh được liên tục, và quý vị sẽ theo dõi dễ dàng. Sau cùng, dịch giả dẫn thêm mục lục của toàn kinh theo bản dịch của Hòa thượng Trí Tịnh. Dịch giả. Cung kính dâng lên Thầy, Người chỉ con lối sống. Thích Nhật Quang Ba mươi năm trôi giạt. Chả biết ta là gì! Quày đầu trông lối cũ, A đấy, chính ta đi! Lời Dẫn Tựa Pháp Hoa Đề CươngKinh nói: “Chư Phật vì một đại sự nhân duyên xuất hiện trong đời là muốn khiến cho chúng sanh khai thị ngộ nhập tri kiến Phật”. Nhưng câu kinh trên cũng là cương lĩnh chánh yếu của toàn bộ, các nhà sớ giải lấy đó làm chỉ thú nòng cốt để giải thích rộng bộ kinh này. Do đó mới biết chư Phật nói ba câu hỏi, chín thí dụ, hội ba về một, dẫn quyền vào thật để khai thị. Đó là khiến tất cả chúng sanh biết được bản lai diện mục, gọi là tri kiến Phật để ngộ nhập nó. Xét khi Phật còn tại thế, hàng Thanh văn nghe qua hai lượt được ngộ, Phật liền thọ ký cho họ. Cho đến tất cả chúng sanh nghe qua một câu một kệ của kinh này có một niệm tùy hỷ, Phật cũng huyền ký cho họ. Đó là rốt ráo một đại sự nhân duyên vậy. Trộm nghĩ kinh này là vua trong các kinh, các nước đều truyền bá rộng rãi. Riêng ở Trung Hoa có đến hơn trăm nhà sớ giải thì đủ biết tầm quan trọng của nó rồi. Bộ kinh này lưu thông đến nước ta (Việt Nay ty Hoằng pháp chúng tôi (Thanh Chúc, Thanh Quy, Thanh Trà) phát tâm khắc lại và lấy bộ này làm một trong mười khoa công án. Đây là lời dẫn vậy. Vĩnh nghiêm, hậu học Tỳ kheo Thanh Hanh Kính đề lời dẫn tựa. Hoàng triều Bảo Đại năm thứ chín (1933) tháng 4 mùng 10. Nước Đại Nam, tỉnh Ninh Bình, phủ An Khánh, huyện An Mô, tổng Đam Khê, xã Đam Khê, chùa Bích Động tàng trữ bản để về sau biết mà in. 1/ Tựa Tông Chỉ Đề Cương Kinh Diệu Pháp Liên HoaMột lúc nọ, nhân khi du hóa đặt bước đến Liêm Khê, mừng rỡ gặp được Thiền sư Thanh Đàm, cùng nhau luận bàn vui vẻ. Thiền sư bảo: “ Vừa mới biên tập đề cương kinh Diệu Pháp chưa được phân nửa. Hồi hôm nằm mộng thấy đức Bổn Sư dường như về ấn thọ cho, lại thấy rõ trên nửa tòa có đức Đa Bảo. Nay Tôn giả vừa đến đây, là ý Phật khiến cho Ngài đến chứng minh đó vậy”. Lúc đó, Thanh Nguyên tôi nửa mừng nửa sợ cầm bản thảo nhuận sắc vừa biên xong, mới rõ tạng tánh, hồ tâm Như Lai chói suốt. Tôi xin thành thật viết bài tựa này để chứng minh. Kệ rằng: Đề Cương kinh báu Diệu Liên Hoa, Chỉ bảo cho ta ngọc Biện Hòa, Hai mươi tám phẩm từ biển giác, Đại thiên sa giới hội tâm cơ. Hòa Thượng Năng Nhân thầm thọ ký, Như Lai Đa Bảo kín hộ gia, Khiến rõ tâm ta đâu tá sứ, Ngợi khen Diệu Pháp lẫn Liên Hoa. Đề Cương ngọc trụ Diệu Liên Hoa, Năng sử ngô vi tích Biện Hòa, Nhị thập bát châu uyên giác hải, Đại thiên sa giới hội tâm cơ. Năng nhân Hòa thượng minh tương thọ, Đa Bảo Như Lai mật hộ gia, Khiển ngã tâm lai minh tá xứ, Tán dương Diệu Pháp, tán Liên Hoa. Trộm nghe: kinh Pháp Hoa là một đại sự của chư Phật, là yếu môn của Bồ tát, là chân như bình đẳng của Như Lai, vì thương chúng sanh mà khai thị ngộ nhập. Thường khi chư Phật diễn nói chẳng cần truyền trước. Hằng ngày chúng sanh tu trì sẽ được thọ ký quả đương lai. Diệu Pháp là huyền vi khó vạch bày mà lại cao lớn vòi vọi. Liên Hoa là bông sen chẳng nhiễm bùn nhơ, hương thơm ngào ngạt. Rộng lớn bao trùm pháp giới, cõi nước nhiều như số bụi nhỏ của đức Như Lai cũng không bỏ sót, tròn sáng soi khắp hằng sa, Bát nhã, Bồ đề thảy đều đầy đủ. Chư Tổ tha thiết nghĩ đến chúng sanh, mới dùng văn cú, ngữ ngôn để mở bày, chẳng khác nào mò châu đáy biển, tìm ngọc non cao. Đến như ngài Sa môn Thanh Đàm có duyên tam học từ đời trước, ngày nay may mắn gặp được chánh tông. Ngài noi theo phong cách tuyệt vời của cửa Động đỉnh giác, nếm pháp vị sâu mầu của Tổ Đạo Nguyên. Vào năm Đinh Mão Ngài theo Tổ sư ở Nguyệt Quang Thiền tự, trong lòng mừng vui cung kính tưởng như khó gặp mà gặp được một vị Phật sống như thế, thật là cởi mở tấc lòng. Giữa một buổi trưa mặt nhật rỡ ràng, Ngài bèn sửa sang y phục, hình sắc nghiêm trang, trải tọa cụ trước Tổ, quỳ gối chắp tay bạch cùng Tổ sư Đạo Nguyên rằng: Tâm chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa. Vậy rốt ráo tâm ở chỗ nào? Tổ sư mỉm cười xoa đầu Ngài, liền chỉ bày tâm ấn và nói kệ rằng: Theo thời ứng dụng, Gặp vật thấy cơ, Tánh vốn như như, Trong ngoài nào mắc? Tùy thời ứng dụng, Ngộ vật kiến cơ, Tánh bổn như như, Hà quan nội ngoại. Lúc ấy, ngài Thanh Đàm vui mừng lễ bái đảnh thọ ân cần, hoát nhiên nắm được chìa khóa chẳng còn ngại cửa đóng. Từ đó Ngài chuyên tinh nghiên cứu tam tạng, phẩu phán nhất thừa. Phàm các kinh Diệu Pháp, Lăng Nghiêm nếu có chỗ nào nghi ngờ liền đem thưa hỏi. Đến năm Canh Ngọ, Ngài đăng đàn thọ giới Cụ Túc, từng gõ cửa Tổ sư để được kiến tánh. Tổ sư lại có mật ấn nói bài kệ: Chặng mày phóng quang đừng nói Phật, Gót chân mây phủ chớ bảo Tiên, Ngươi nên nuôi dưỡng trâu cường tráng. Hôm sớm quen cày tấc ruộng kia. Quang phóng mi gian vô đạo Phật, Vân sinh túc hạ vị ngôn tiên, Nhiêu quân bảo dưỡng ngưu phì tráng, Triêu tịch thục canh bỉ thốn điền. Ngài Thanh Đàm từ đó càng thêm tinh tấn, tay không rời quyển kinh. Trải qua bốn mươi tám năm (từ năm Đinh Tỵ đến Đinh Mão), Ngài chống tích đến Liêm Khê tư duy bí tạng của Cổ Phật, không tiếc rẻ với chúng sanh mà muốn cho tất cả đồng được vào tri kiến, nên nói: “Tôi dầu được chút ít đâu nên xẻn tiếc ư?”. Đề Cương kinh Diệu Pháp này nếu có chút công đức lành nào, chẳng dám dành riêng phần mình mà muốn cho Liên Hoa đồng mọc ở đầm trong; chẳng tìm cầu bên ngoài mà khiến Diệu Pháp sẵn chứa nơi tấc đất. Trông mong hàng thanh chúng đầy đủ mắt chân chánh. Như trong đây lý sự được đi đôi thì xin tất cả được Như Lai thọ ký. Đốt hương kính cẩn viết lời tựa này. Kệ rằng: Bích Động Thanh Đàm sen ngát hương, Diệu hoa trỏ thẳng pháp đề cương, Nhất thừa Minh Chánh liền khai thị, Tam yếu Đạo Trung rộng xiển dương, Muôn phương tỏ ngộ tâm viên tịnh, Tất cả vào sâu lý viễn trường, Thanh tịnh liên hoa ngời pháp giới, Tỳ lô tạng hải diễn chân thường. Bích Thanh Đàm xuất diệu liên hương, Hoa mục chỉ tiêu tổng pháp cương, Minh Chánh nhất thừa khai tối quảng, Đạo Trung tam yếu thị hoằng dương, Quần phương hội ngộ viên tâm tịnh, Chúng đẳng đế quan nhập lý trường, Thanh tịnh liên hoa quang pháp giới, Tỳ lô tạng hải diễn chân thường. Hoàng triều Gia Long năm thứ 18 (1820) tháng 8, ngày lành. Sa môn Thanh Đàm, Thiền Sư Viên Giác Bổn Minh 2/ Tông Chỉ Đề Cương Kinh Diệu Pháp Liên HoaĐức Thế Tôn, vì một đại sự nhân duyên nên xuất hiện ở đời. Bởi muốn khai thị cho chúng sanh khiến ngộ nhập Phật tri kiến đạo. Lúc mới thành Chánh giác, Ngài nói kinh Hoa Nghiêm, đem cho họ giáo Viên đốn Nhất thừa, khiến mọi người đồng lên biển Hoa Tạng. Nhưng pháp lớn cơ nhỏ, chắc chắn là khó vào. Do đó, Giáo có năm thời, Thừa chia ba tạng. Thời thứ hai, nơi vườn Lộc Dã, Ngài nói kinh A hàm. Thời thứ ba, tại tịnh xá Kỳ Hoàn, Ngài nói kinh Bát nhã. Thời thứ tư, trong núi Kỳ Xà Quật, Ngài nói kinh Pháp Hoa. Thời thứ năm, ở thành lớn Câu Thi, Ngài nói kinh Niết bàn. Hai thời trước, là phần giáo của Tiểu thừa và Nhị thừa. Đến thời Pháp Hoa, là phần giáo của Đại thừa. Kinh nói: Phật nói kinh Đại thừa, tên “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Bởi chư Phật hộ niệm, từ lâu xa đến giờ. Nay, trong chúng đệ tử, căn cơ đã thuần thục, lưới nghi cũng trừ xong, có thể kham nhận lãnh pháp lớn, nên Phật đem Đại thừa này giao phó. Giáo này cũng đồng với kinh Hoa Nghiêm. Do đó, kinh nói: “Thẳng bẳng bỏ phương tiện, chỉ nói đạo vô thượng. Khiến cho chúng đệ tử, nương đạo Nhất thừa này, tiến vào Tối thượng thừa, Tri kiến Phật nhất đại sự, A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề”. Nhưng, kinh Pháp Hoa cùng kinh Lăng Nghiêm đồng một ý hướng, mà kinh Pháp Hoa là mật ý xưng dương tán thán Phật tri kiến. Kinh Lăng Nghiêm là nói rõ Phật tri kiến. Đến kinh Niết bàn thì dạy: “Sanh diệt đã hết, lặng lẽ là vui”. Chính nơi đây, niềm vui lớn mới thật rốt ráo. Nên biết trên hội Pháp Hoa, là lúc đào giếng đã thấy đất ướt, biết chắc gần tới nước. Hội Lăng Nghiêm, là khi thấy nước rồi. Hội Niết bàn, là lúc uống nước. Thế thì, nhân duyên một việc lớn, chính là giải thoát vậy. Nói là lớn, cũng chẳng vượt qua tâm. Nhưng, tâm lại là Tri kiến chân như, bản lai không một vật. Chúng sanh tự quên cái bản lai này, theo vọng thức, trôi giạt mãi trong biển khổ. Cho nên, Pháp của Phật nói ra, dụ như chiếc bè, hay cứu vớt chúng sanh, ngược dòng mà qua, khiến họ bỏ vọng về chân. Sau đó, mới khai thị cho họ, dạy biết cái “bản lai thanh tịnh”, ngộ nhập “Tri kiến địa chân như”. Tỳ kheo Thanh Đàm, Thiền sư Giác Đạo Tuân Minh Chánh tuyển.
|



