| Kinh Duy Ma Cật Lược Giải |
|
|
|
| Chư Kinh Giảng Giải - Chú giải Kinh Điển Đại Thừa | ||||||||||
| Viết bởi Thích Duy Lực | ||||||||||
Trang 1 của 5 Kinh Duy Ma Cật bất khả tư nghì, tuyệt diệu cùng tột, ý chỉ thâm huyền, chẳng phải lời nói có thể diễn tả. Siêu việt tam không (Nhơn không, Pháp không, Không không) chẳng phải Nhị thừa có thể đo lường. Mênh mông Vô vi mà Vô sở bất vi, chẳng biết tại sao như thế mà tự được như thế, tâm cảnh đều tuyệt, nói bất khả tư nghì là vậy. Ngài Cưu Ma La Thập dịch Kinh này từ Phạn sang Hán, văn gọn mà nghĩa thấu, nguyên chánh bản dịch, giữ đủ thánh ý, nhưng vì đời sau qua nhiều tay chép đi chép lại, rồi chia thành nhiều bản khác nhau, hoặc có chỗ sai ý và tối nghĩa. Chúng tôi dịch từ Hán sang Việt, gặp những trường hợp này phải nhờ lời chú giải của Ngài La Thập và Tăng Triệu để đính chính lại và làm sáng tỏ nghĩa kinh. Gặp những chỗ cùng một ý mà văn hơi dài dòng, thì chúng tôi lược bỏ cho gọn và cố giữ bản ý để thích ứng với độc giả đời nay. Có người nói làm như vậy không được, nhưng Ngài Cưu Ma La Thập khi dịch Kinh Di Ðà, mười phương Phật Ngài chỉ dịch sáu phương, cũng vẫn giữ đủ nghĩa kinh mà người đọc lại cảm thấy lưu loát dễ hiểu. Việc ấy cũng có thể làm mô phạm cho người dịch Kinh đời sau. Cho nên chúng tôi cả gan lược bỏ chỗ dài dòng là vậy, xin độc giả hoan hỉ thứ lỗi cho. Kinh Duy Ma Cật Lược GiảiHán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La ThậpViệt dịch: Thích Duy Lực(Kinh này nguyên nằm trong Quyển: Chư Kinh Tập Yếu, Thích Duy Lực Biên Soạn, Thành Hội Phật Giáo Tp. Hồ Chí Minh, Ấn Hành: PL.2537 – 1993 nhưng nội dung của các kinh khác nhau đồng thời trong các bản ấn hành trước đều in riêng rẽ nên chúng tôi tách ra để dễ phân loại. Ngoài ra chúng tôi dựa trên nội dung và ý của tác giả thêm chữ hai chữ "lược giải" ở tựa kinh bttdtkvn) MỤC LỤCLời Dịch Giả 1/ Phẩm Phật Quốc Thứ Nhất 2/ Phẩm Phương Tiện Thứ Hai 3/ Phẩm Ðệ Tử Thứ Ba 4/ Phẩm Bồ tát Thứ Tư 5/ Phẩm Văn Thù Sư Lợi Thăm Bệnh Thứ Năm 6/ Phẩm Bất Tư Nghì Thứ Sáu 7/ Phẩm Quán Chúng Sinh Thứ Bảy 8/ Phẩm Phật Ðạo Thứ Tám 9/ Phẩm Nhập Pháp Môn Bất Nhị Thứ Chín 10/ Phẩm Hương Tích Phật Thứ Mười 11/ Phẩm Hạnh Bồ tát Thứ Mười Một 12/ Phẩm Bất Ðộng Như Lai Thứ Mười Hai 13/ Phẩm Pháp Cúng Dường Thứ Mười Ba 14/ Phẩm Chúc Lụy Thứ Mười Bốn Lời Dịch GiảKinh Duy Ma Cật bất khả tư nghì, tuyệt diệu cùng tột, ý chỉ thâm huyền, chẳng phải lời nói có thể diễn tả. Siêu việt tam không (Nhơn không, Pháp không, Không không) chẳng phải Nhị thừa có thể đo lường. Mênh mông Vô vi mà Vô sở bất vi, chẳng biết tại sao như thế mà tự được như thế, tâm cảnh đều tuyệt, nói bất khả tư nghì là vậy. Ngài Cưu Ma La Thập dịch Kinh này từ Phạn sang Hán, văn gọn mà nghĩa thấu, nguyên chánh bản dịch, giữ đủ thánh ý, nhưng vì đời sau qua nhiều tay chép đi chép lại, rồi chia thành nhiều bản khác nhau, hoặc có chỗ sai ý và tối nghĩa. Chúng tôi dịch từ Hán sang Việt, gặp những trường hợp này phải nhờ lời chú giải của Ngài La Thập và Tăng Triệu để đính chính lại và làm sáng tỏ nghĩa kinh. Gặp những chỗ cùng một ý mà văn hơi dài dòng, thì chúng tôi lược bỏ cho gọn và cố giữ bản ý để thích ứng với độc giả đời nay. Có người nói làm như vậy không được, nhưng Ngài Cưu Ma La Thập khi dịch Kinh Di Ðà, mười phương Phật Ngài chỉ dịch sáu phương, cũng vẫn giữ đủ nghĩa kinh mà người đọc lại cảm thấy lưu loát dễ hiểu. Việc ấy cũng có thể làm mô phạm cho người dịch Kinh đời sau. Cho nên chúng tôi cả gan lược bỏ chỗ dài dòng là vậy, xin độc giả hoan hỉ thứ lỗi cho.
1/ Phẩm Phật Quốc Thứ Nhất Tôi nghe như vầy: Một thuở Phật tại Tỳ Da Ly, vườn Am La Thọ, với chúng đại Tỳ kheo tám ngàn vị, Bồ tát ba mươi hai ngàn vị, là những vị có tiếng tăm, đều đã thành tựu trí hạnh Đại thừa, do oai thần chư Phật kiến lập, làm hộ pháp thành, thọ trì chánh pháp. Pháp âm oai hùng như sư tử rống, danh đồn khắp mười phương, người đời không cầu thỉnh, mà các ngài sẵn sàng làm bạn, giúp cho an vui, khiến Tam Bảo hưng thịnh nối tiếp mãi mãi. Hàng phục ma oán, ngăn dẹp các ngoại đạo, lìa hẳn tất cả các chướng ngại ràng buộc, tâm thường an trụ nơi Vô ngại giải thoát, tổng trì định niệm, luôn luôn biện tài, sáu Ba la mật và sức phương tiện đều đầy đủ cả, cho đến Vô sở đắc mà chẳng khởi pháp nhẫn, hay tùy thuận chuyển pháp luân bất thối, khéo giải pháp tướng, thấu biết căn cơ chúng sanh. Vì đại chúng đắc sức Vô sở úy, dùng công đức trí huệ để tu tâm, tướng tốt đệ nhất, xả bỏ tất cả trang sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao xa vượt hẳn núi Tu Di, lòng tin vững chắc như kim cương, pháp bảo soi khắp như mưa cam lồ, âm thanh thuyết pháp vi diệu đệ nhất, dứt các tà kiến và nhị biên, thâm nhập duyên khởi, chẳng còn tập khí. Liễu đạt diệu nghĩa các pháp, khéo biết tâm sở hành của chúng sanh, siêu việt số lượng, chẳng có gì để so bằng. Dùng thập lực vô úy, mười tám pháp bất cộng, sức tự tại huệ của Phật, đóng bít tất cả cửa nẻo ác thú, hiện thân sanh nơi lục đạo, làm Ðại Y Vương khéo trị các bệnh, khiến chúng sanh thành tựu vô lượng công đức, khiến vô lượng Phật quốc đều trang nghiêm trong sạch, kẻ nghe đều được lợi ích. Những việc làm của các Ngài đều chẳng uổng phí, các công đức như thế đều hoàn toàn viên mãn. Bậc Bồ tát như: Ðẳng Quán Bồ tát, Bất Ðẳng Quán Bồ tát, Ðẳng Bất Ðẳng Quán Bồ tát, Ðịnh Ðại Tự Vương Bồ tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ tát, cho đến Di Lặc Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Bồ tát, v.v... tất cả ba mươi hai ngàn vị. Còn có Phạm Thiên Vương cùng một tên Thi Khí mười ngàn vị từ bốn thiên hạ đến nơi Phật ở mà nghe pháp. Còn có Ðế Thích muời hai ngàn vị cũng từ bốn thiên hạ đến dự pháp hội. Ngoài ra còn có Ðại Oai Lực Chư Thiên, Long Thần, Dọa Xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, v.v... đều đến dự pháp hội. Lúc ấy, Phật vì Vô lượng đại chúng thuyết pháp, ví như chúa núi Tu Di hiện nơi biển lớn, trải tòa sư tử, oai đức che trùm tất cả đại chúng. Bấy giờ, tại thành phố Tỳ Da Ly có một Trưởng giả tên là Bửu Tích, cùng với năm trăm vị Trưởng giả cầm Bửu Cái đến nơi Phật, cung kính đảnh lễ, mỗi mỗi đều dùng Bửu Cái của mình cúng dường Phật. Nhờ oai thần Phật khiến các Bửu Cái hợp thành một Bửu Cái, trùm khắp đại thiên thế giới, tất cả núi sông đất đai, cho đến các thiên cung, long cung, thần cung và nhật nguyệt đều hiển hiện trong Bửu Cái, và chư Phật thuyết pháp trong mười phương cũng hiện trong Bửu Cái. Lúc ấy, tất cả đại chúng thấy thần lực của Phật như thế, đều tán thán là việc chưa từng có, nên chấp tay lễ Phật, chiêm ngưỡng chẳng nháy mắt. Trưởng giả Bửu Tích liền tụng bài kệ trước Phật rằng: Mắt trong dài rộng như hoa sen, Tâm sạch đã vượt các Thiền định. Tịnh nghiệp lâu đời chẳng kể xiết, Tịch diệt đảnh lễ dắt chúng sanh. Ðã thấy thần biến của đại thánh, Phổ biến hiển hiện mười phương cõi. Chư Phật thuyết pháp ở trong đó, Tất cả chúng sanh đều thấy nghe. Pháp lực của Phật vượt quần sanh, Thường dùng pháp tài thí tất cả. Hay khéo phân biệt các pháp tướng, Mà nơi đệ nhất nghĩa chẳng động. Ðối với các pháp được tự tại, Cho nên đảnh lễ Pháp Vương này. Thuyết pháp chẳng hữu cũng chẳng vô, Vì do nhân duyên các pháp sanh. Vô ngã, vô tạo, vô thọ giả, Những nghiệp thiện ác cũng chẳng mất. Phật lực hàng ma từ nay khởi, Kẻ đắc cam lồ Phật đạo thành. Vô tâm, vô úy, vô thọ hành, Mà được dẹp hết các ngoại đạo. Thường chuyển pháp luân nơi đại thiên. Pháp ấy bổn lai vốn trong sạch, Trời người đắc đạo đó là chứng. Tam bảo vì thế hiện trong đời, Dùng diệu pháp này độ chúng sanh. Thọ rồi chẳng lui thường tịch lặng, Ðộ thoát sanh tử Ðại Y Vương. Kính lễ pháp hải đức vô lượng, Khen chê chẳng động như Tu Di. Ðồng bực thương xót kẻ lành dữ, Tâm hành bình đẳng như hư không. Ðược nghe Pháp Bảo ai chẳng kính, Nay dâng Thế Tôn lọng mọn này. Ðại thiên thế giới hiện trong đó, Cung điện chư thiên và long thần. Cho đến Càn thát bà, Dạ xoa, Mọi vật thế gian đều thấy rõ. Phật hiện biến hóa đại bi này, Chúng thấy hy hữu đề tán thán. Nay con đảnh lễ Tam Giới Tôn, Ðại Thánh chỗ nương của mọi loài, Tịnh tâm quán Phật đều hoan hỉ, Ðược gặp Thế Tôn ngay trước mình, Ấy là thần lực pháp bất cộng, Phật dùng một âm để thuyết pháp. Chúng sanh hiểu biết theo mỗi loài, Ðều cho Thế Tôn thuyết vì mình. Ấy là thần lực pháp bất cộng, Phật dùng một âm để thuyết pháp. Chúng sanh hiểu biết theo mỗi loài, Phổ biến thọ hành được lợi ích, Ấy là thần lực pháp bất cộng, Phật dùng một âm để thuyết pháp. Hoặc có khiếp sợ hoặc hoan hỉ, Hoặc sanh nhàm chán hoặc dứt nghi. Ấy là thần lực pháp bất cộng, Ðảnh lễ Ðức Phật đại tinh tấn. Ðảnh lễ bậc đặng vô sở úy, Ðảnh lễ trụ nơi pháp bất cộng, Ðảnh lễ tất cả Ðại Ðạo Sư, Ðảnh lễ hay dứt mọi trói buộc. Ðảnh lễ đã đến bờ bên kia, Ðảnh lễ hay độ những thế gian. Ðảnh lễ lìa hẳn việc sanh tử, Thấu tướng khứ lai của chúng sanh. Ðối với các pháp được giải thoát, Chẳng nhiễm việc đời như hoa sen. Thường khéo vào nơi hạnh không tịch, Liễu đạt pháp tướng vô quái ngại, Ðảnh lễ hư không vô sở y. Bấy giờ, Trưởng giả Bửu Tích thuyết kệ xong, bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Năm trăm Trưởng giả này đều đã phát tâm Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh giác, nguyện nghe sự trong sạch của cõi Phật, mong Thế Tôn giảng về hạnh Tịnh Ðộ của Bồ tát. Phật bảo: Lành thay! Bửu Tích! Khéo vì chư Bồ tát hỏi Như Lai về hạnh Tịnh Ðộ. Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo ghi nhớ lấy, ta sẽ vì ngươi mà thuyết. Lúc ấy, Bửu Tích và năm trăm vị Trưởng giả vâng lời Phật dạy mà lắng nghe. Phật bảo Bửu Tích: Tất cả chúng sanh là cõi Phật của Bồ tát. Tại sao? Bồ tát tùy sự giáo hóa chúng sanh mà nhận lấy cõi Phật, tùy sự điều phục chúng sanh mà nhận lấy cõi Phật, tùy chúng sanh nên theo quốc độ nào vào trí huệ của Phật mà nhận lấy cõi Phật, tùy chúng sanh nên theo quốc độ nào phát khởi căn tánh Bồ tát mà nhận lấy cõi Phật. Tại sao? Bồ tát nhận lấy cõi Phật trong sạch đều vì muốn xây dựng nhà cửa nơi khoảng đất trống thì tùy ý Vô ngại, nếu xây dựng giữa hư không trọn chẳng thể được. Bồ tát cũng thế, vì thành tựu chúng sanh, nên nguyện nhận lấy cõi Phật nơi hư không vậy. Bửu Tích nên biết: TRỰC TÂM là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, những chúng sanh chẳng xiểm khúc đến sanh quốc độ đó. THÂM TÂM là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh công đức viên mãn đến sanh quốc độ đó. BỒ ÐỀ TÂM là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh tu Ðại Thừa đến sanh quốc độ đó. BỐ THÍ là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh hay hỉ xả đến sanh quốc độ đó. TRÌ GIỚI là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh hành Thập Thiện đã mãn nguyện đến sanh quốc độ đó. NHẪN NHỤC là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh trang nghiêm ba mươi hai tướng đến sanh quốc độ đó. TINH TẤN là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh siêng tu mọi công đức đến sanh quốc độ đó. THIỀN ÐỊNH là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh nhiếp tâm chẳng loạn đến sanh quốc độ đó. TRÍ HUỆ là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh được chánh định đến sanh quốc độ đó. TỨ VÔ LƯỢNG TÂM là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh thành tựu Từ Bi Hỉ Xả đến sanh quốc độ đó. TỨ NHIẾP PHÁP là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, nhiếp chúng sanh tu giải thoát đến sanh quốc độ đó. PHƯƠNG TIỆN là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúng sanh nơi tất cả phương tiện Vô ngại đến sanh quốc độ đó. BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ÐẠO là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, người tu tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo đến sanh quốc độ đó. HỒI HƯỚNG TÂM là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, được tất cả quốc độ công đức viên mãn. GIẢI THOÁT BÁT NẠN là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, trong quốc độ chẳng có tam ác, bát nạn. TỰ GIỮ GIỚI HẠNH, CHẲNG KHINH CHÊ NGƯỜI PHÁ GIỚI là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, trong quốc độ chẳng có danh từ Phạm Giới Cấm. THẬP THIỆN là Tịnh độ của Bồ tát, khi Bồ tát thành Phật, chúnh sanh chẳng chết yểu, lại được giàu sang, quyến thuộc chẳng chia lìa, thanh tịnh hạnh, lời nói thành thật, thường dùng lời dịu dàng, khéo giải hòa người kiện cáo nhau, lời nói ra ắt hữu ích, chẳng ganh tỵ, chẳng sân hận, đầy đủ chánh kiến v.v... đều đến sanh quốc độ đó. Như thế Bửu Tích! Bồ tát tùy theo TRỰC TÂM mà khởi hạnh, tùy theo sự khởi hạnh thì được THÂM TÂM, tùy sự thâm tâm thì ý được điều phục, tùy sự điều phục thì được nói và hành như một, tùy sự nói hành như một thì hay hồi hướng, tùy sự hồi hướng thì có phương tiện, tùy sự phương tiện được thành tựu chúng sanh, tùy sự thành tựu chúng sanh thì cõi Phật trong sạch, tùy cõi Phật trong sạch thì thuyết pháp trong sạch, tùy sự thuyết pháp trong sạch thì trí huệ trong sạch, tùy sự trí huệ trong sạch thì tâm họ trong sạch, tùy tâm trong sạch thì tất cả công đức trong sạch. Cho nên Bửu Tích! Nếu Bồ tát muốn đắc Tịnh độ, nên tịnh tâm họ, tùy nơi tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Bấy giờ Xá Lợi Phất thừa oai thần của Phật mà nghĩ rằng: Nếu Bồ tát tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Vậy Thế Tôn khi còn làm Bồ tát, tâm ý bất tịnh sao, mà Phật độ bất tịnh như thế! Phật biết Xá Lợi Phất nghĩ vậy liền bảo rằng: Ý ngươi thế nào? Nhật nguyệt bất tịnh ư mà kẻ mù chẳng thấy? Bạch Thế Tôn! Ấy là lỗi của người mù, chẳng phải lỗi của nhật nguyệt. Xá Lợi Phất! Vì chúng sanh có tội chướng nên chẳng thấy quốc độ nghiêm tịnh của Như Lai, chứ chẳng phải lỗi của Như Lai. Xá Lợi Phất! Tịnh độ ta đây mà ngươi chẳng thấy. Lúc ấy, Loa Kế Phạm Vương nói với Xá Lợi Phất rằng: Chớ nghĩ như thế, cho cõi Phật đây là bất tịnh. Tại sao? Tôi thấy cõi Phật của Thích Ca Mâu Ni thanh tịnh như Tự Tại Thiên Cung. Xá Lợi Phất nói: Sao tôi thấy cõi này toàn là gò nỗng, hầm hố, chông gai, sỏi sạn đất đá, núi non nhơ nhớp đầy dẫy như thế! Loa Kế Phạm Vương nói: Ðấy là do tâm của Ngài có cao thấp, không nương theo trí huệ của Phật nên thấy cõi này chẳng thanh tịnh đó thôi. Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bồ tát đối với tất cả chúng sanh thãy đều bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh, y theo trí huệ của Phật thì mới thấy được cõi Phật này thanh tịnh. Lúc đó, Phật dùng ngón chân nhấn xuống đất, tức thì Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới liền hiện ra Vô lượng thất bửu trang nghiêm, cũng như cõi Vô lượng công đức bửu trang nghiêm của Phật Bửu Trang Nghiêm. Tất cả đại chúng tán thán việc chưa từng có và đều thấy mình ngồi trên bửu liên hoa. Phật bảo Xá Lợi Phất: Ngươi hãy xem cõi Phật này nghiêm tịnh chăng? Xá Lợi Phất bạch Thế Tôn: Vâng ạ! Con xưa nay vốn chẳng thấy chẳng nghe, nay cõi Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh. Phật bảo Xá Lợi Phất: Cõi Phật ta thường thanh tịnh như thế! Nhưng vì muốn độ người thấp kém, nên thị hiện cõi đầy nhơ nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như chư thiên ăn cơm chung trong một bửu bát, mà tùy theo phước đức của họ thấy cơm có khác. Cũng thế, Xá Lợi Phất! Nếu người tâm tịnh bèn thấy cõi này công đức trang nghiêm. Khi Phật hiện ra cõi này nghiêm tịnh, năm trăm vị Trưởng giả đều đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, tám mươi bốn ngàn người đều phát tâm Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh giác. Phật thu nhiếp thần túc, thì thế giới trở lại như cũ, ba mươi hai ngàn chư thiên và người biết pháp hữu vi đều là Vô thường, xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh, tám ngàn Tỳ kheo chẳng còn chấp thọ các pháp, kiết lậu đã hết, tâm ý được mở mang.
2/ Phẩm Phương Tiện Thứ Hai Lúc ấy trong thành Tỳ Da Ly, có vị Trưởng giả tên là Duy Ma Cật, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, sâu trồng cội lành, được Vô Sanh Pháp Nhẫn, biện tài vô ngại, du hí thần thông, cho đến tổng trì, được Vô sở úy, hàng phục ma oán, nhập pháp môn thâm diệu, khéo dùng trí huệ, thông đạt phương tiện, đại nguyện thành tựu, thấu rõ tâm chúng sanh, hay phân biệt các căn lợi độn, nơi Phật đạo tâm đã thuần thục, quyết định Ðại thừa, việc làm chẳng cần tác ý, tâm lượng như biển, oai nghi đồng Phật, chư Phật khen ngợi, các vua chúa trời người thãy đều kính trọng. Vì muốn độ người đời nên Ngài thị hiện phương tiện ở thành Tỳ Da Ly, dùng Vô lượng của cải để nhiếp độ dân nghèo, giữ giới hạnh trong sạch để nhiếp độ kẻ phá giới, dùng hạnh nhẫn nhục để nhiếp độ kẻ giận dữ sân hận, dùng đại tinh tấn để nhiếp độ kẻ biếng nhác, nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm loạn, dùng trí huệ để nhiếp độ kẻ Vô trí. Dù hiện thân bạch y mà giữ giới hạnh trong sạch của Sa môn, dù ở tại gia mà không đắm nhiễm cõi đời, thị hiện có vợ con quyến thuộc mà thường tu thanh tịnh hạnh, dù mặc đồ quí báu mà dùng tướng tốt để trang nghiêm, dù ăn uống theo người đời mà lấy Thiền duyệt làm mùi vị, hoặc đến chỗ cờ bạc, xướng hát vẫn tùy cơ độ người, dù thọ pháp ngoại đạo mà chẳng hoại chánh tín, dù hiểu rõ thế pháp mà thường ưa Phật pháp. Tất cả người gặp đều cung kính cúng dường, xưng Ngài là bậc nhất trong hàng người được cúng dường, hành đúng chánh pháp để nhiếp độ khắp kẻ sang, hèn, già, trẻ, kinh doanh sự nghiệp thế gian được lợi mà chẳng vui mừng. Dạo khắp thành phố để lợi ích chúng sanh, dùng chánh pháp để cứu giúp tất cả người, vào chỗ giảng thuyết kinh luận để dẫn dắt theo Ðại Thừa, vào các học đường để mở mang trí huệ cho học trò, vào nhà dâm để thị hiện tội lỗi của dâm dục, vào quán rượu mà trí huệ chẳng bị nhiễu loạn. Nếu ở hàng Trưởng giả thì làm bậc tôn túc trong Trưởng giả vì thuyết pháp thù thắng cho họ. Nếu ở hàng Cư sĩ thì làm bậc tôn túc trong Cư sĩ vì đoạn dứt tham dục cho họ. Nếu ở hàng Sát Lỵ (dòng vua chúa) thì làm bậc tôn túc trong Sát Lỵ vì dạy nhẫn nhục cho họ. Nếu ở hàng Bà la môn thì làm bậc tôn túc trong Bà la môn vì trừ ngã mạn cho họ. Nếu ở hàng đại thần thì làm bậc tôn túc trong đại thần vì dạy chánh pháp cho họ. Nếu ở hàng vương tử thì làm bậc tôn túc trong vương tử vì chỉ thị trung hiếu cho họ. Nếu ở hàng nội quan (thái giám và cung phi làm quan chức trong cung) thì làm bậc tôn túc trong nội quan vì giáo hóa cung nữ theo chánh pháp. Nếu ở hàng thường dân thì làm bậc tôn túc trong thường dân vì chỉ bảo làm việc phước đức cho họ. Nếu ở hàng Phạm Thiên thì làm bậc tôn túc trong Phạm Thiên vì dạy bảo trí huệ thù thắng. Nếu ở hàng Ðế Thích thì làm bậc tôn túc trong Ðế Thích vì thị hiện cho biết sự Vô thường. Nếu ở hàng Tứ Thiên Vương thì làm bậc tôn túc trong Tứ Thiên Vương vì dạy họ hộ giúp cho chúng sanh. Trưởng giả Duy Ma Cật dùng vô lượng phương tiện như thế để lợi ích chúng sanh, phương tiện ấy là hiện thân có bệnh. Vì Ngài bệnh nên quốc vương, đại thần, Trưởng giả, Cư sĩ, Bà la môn v.v... cùng các vương tử, quan lại và quyến thuộc, Vô số ngàn người đều đi thăm bệnh. Nhân dịp này, vì tất cả mọi người đến thăm bệnh, Ngài dùng phương tiện mà thuyết pháp rằng: Này các nhơn giả! Cái huyễn thân này thật là vô thường, nó không có sức, không mạnh, không bền chắc, là vật mau hư hoại, thật chẳng thể tin cậy! Nó là cái ổ chứa nhóm những thứ khổ não bệnh hoạn. Các nhơn giả! Người có trí sáng suốt không bao giờ nương cậy nó. Nếu xét cho kỹ thì thân này như đống bọt, chẳng thể cầm nắm. Thân này như bóng nổi, chẳng thể bền lâu. Thân này như dương diệm, do ánh sáng mặt trời phản chiếu mà sanh. Thân này như cây chuối, chính giữa không bền chắc. Thân này như huyễn, từ điên đảo khởi. Thân này như mộng, do tâm hư vọng mới thấy. Thân này như bóng, do nghiệp nhân hiện. Thân này như tiếng vang, thuộc về nhân duyên. Thân này như đám mây, trong giây lát biến mất. Thân này như điện chớp, niệm niệm chẳng trụ. Thân này Vô chủ như địa đại, Vô ngã như hỏa đại, Vô thọ như phong đại, Vô nhơn như thủy đại. Thân này chẳng thật, nương tứ đại làm nhà. Thân này vốn không, lìa ngã, ngã sở. Thân này Vô tri như cây cỏ, miểng ngói. Thân này Vô tác, tùy sức gió xoay chuyển. Thân này bất tịnh, chứa đầy những thứ dơ bẩn. Thân này giả dối, dù có tắm rửa ăn mặc rốt cuộc cũng phải tiêu diệt. Thân này là tai họa, vì sanh bệnh hoạn khổ não. Thân này như giếng khô trên gò, vì bị sự già yếu ép ngặt. Thân này chẳng định, vì có sanh ắt phải chết. Thân này như rắn độc, như oán tặc, như hư không tụ hợp, do ngũ ấm, lục nhập, thập bát giới hòa hợp mà thành. Các nhơn giả! Nên vui thích thân Phật, nhàm chán thân này. Tại sao? Thân Phật là Pháp thân, từ Vô lượng trí huệ công đức sanh; từ giới định huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến và từ bi hỉ xả sanh; từ bố thí, nhẫn nhục, nhu hòa, siêng năng, tinh tấn, Thiền định, giải thoát, Tam muội, đa văn, trí huệ, các Ba la mật sanh; từ phương tiện, lục thông, tam minh, ba mươi bảy phẩm trợ đạo và chỉ quán sanh; từ thập lực, tứ Vô sở úy, mười tám pháp bất cộng sanh; từ đoạn dứt tất cả pháp bất thiện, tụ tập tất cả pháp thiện sanh; từ chơn thật chẳng buông lung sanh; từ Vô lượng pháp trong sạch kể trên sanh thân Như Lai. Các nhơn giả! Muốn đắc thân Phật, đoạn dứt tất cả bệnh chúng sanh, phải phát tâm Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh giác. Như thế, Trưởng giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh mà ứng cơ thuyết pháp, khiến tất cả đều phát tâm Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh giác.
3/ Phẩm Ðệ Tử Thứ Ba Lúc bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật nghĩ thầm rằng: Nay mình nằm bệnh ở trên giường, Thế Tôn đại từ, lẽ nào chẳng đoái lòng thương xót! Phật biết ý Ngài, liền bảo Xá Lợi Phất đến thăm bệnh. Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Thế Tôn! Con không xứng đáng đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Tại sao? Con nhớ lại khi xưa, từng đến ngồi Tĩnh tọa dưới gốc cây trong rừng, khi ấy Ngài đến bảo con rằng: Này Xá Lợi Phất! Không hẳn ngồi đó mới là Tĩnh tọa. Nói Tĩnh tọa là chẳng hiện thân ý nơi tam giới là Tĩnh tọa, đại định chẳng khởi diệt mà hiện các oai nghi là Tĩnh tọa, thị hiện việc phàm phu mà chẳng bỏ đạo pháp là Tĩnh tọa, tâm chẳng trụ trong cũng chẳng ở ngoài là Tĩnh tọa, tu hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo mà chư kiến chẳng động là Tĩnh tọa, chẳng dứt phiền não mà nhập Niết bàn là Tĩnh tọa. Nếu tọa như thế mới được Phật ấn khả. Bạch Thế Tôn! Lúc ấy con nghe lời này, im lặng chẳng thể trả lời, vì thế nên con không đáng đến thăm bệnh Ngài. Phật bảo Mục Kiền Liên đến thăm bệnh. Mục Kiền Liên bạch Phật rằng: Thế Tôn! Con không xứng đáng đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Tại sao? Con nhớ lại khi xưa, vào thành Tỳ Da Ly, ở trong xóm làng vì các Cư sĩ thuyết pháp. Lúc ấy Ngài đến bảo con rằng: Này Mục Kiền Liên! Thuyết pháp cho bạch y Cư sĩ chẳng nên thuyết như thế. Nói Thuyết Pháp nên thuyết đúng như pháp. Pháp chẳng chúng sanh vì lìa chúng sanh cấu, pháp chẳng có ngã vì lìa ngã cấu, pháp chẳng thọ mạng vì lìa sanh tử, pháp chẳng có người vì chẳng việc trước sau, pháp thường tịch lặng vì các tướng vốn diệt, pháp lìa nơi tướng vì chẳng có sở duyên, pháp chẳng danh tự vì ngôn ngữ đoạn dứt, pháp chẳng có sở thuyết vì lìa giác quan, pháp chẳng hình tướng vì như hư không, pháp chẳng hí luận vì tất cánh không, pháp chẳng ngã sở vì lìa ngã sở, pháp chẳng phân biệt vì lìa ý thức, pháp chẳng thể so sánh vì chẳng có đối đãi, pháp chẳng thuộc nhân vì chẳng nhờ duyên, pháp đồng pháp tánh vì nhập các pháp, pháp tùy nơi Như (như thật tế) vì vô sở tùy, pháp trụ thật tế vì vốn Vô biên, pháp chẳng lay động vì chẳng nương lục trần, pháp chẳng khứ lai vì vốn vô trụ, pháp tùy thuận tánh không, vô tướng nên Vô tác, pháp lìa tốt xấu, pháp chẳng thêm bớt, pháp chẳng sanh diệt, pháp chẳng chỗ về, pháp siêu lục căn, pháp chẳng cao thấp, pháp thường trụ chẳng động, pháp lìa tất cả quán hạnh. Vậy Mục Kiền Liên! Pháp tướng như thế, há có thể thuyết ư! Nay nói thuyết pháp là vô thuyết vô thị, người nghe pháp vô văn vô đắc, ví như nhà huyễn thuật thuyết pháp cho người huyễn. Nên theo ý này mà thuyết. Phải biết chúng sanh căn cơ có lợi độn, nên chẳng chấp tri kiến, Vô sở quái ngại, dùng tâm đại bi tán thán Ðại thừa, nhớ đền ơn Phật, chẳng lìa Tam Bảo, rồi sau mới thuyết pháp. Khi Duy Ma Cật thuyết pháp này, tám trăm Cư sĩ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Con chẳng biện tài, nên không dám đến thăm bệnh. Phật bảo Ðại Ca Diếp đến thăm bệnh. Ca Diếp bạch Phật rằng: Thế Tôn! Con chẳng xứng đáng đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Tại sao? Con nhớ lại khi xưa, khất thực nơi xóm dân nghèo. Lúc ấy Ngài đến bảo con rằng: Này Ca Diếp! Có lòng từ bi mà tâm chẳng bình đẳng, bỏ giàu theo nghèo. Ca Diếp! Trụ pháp bình đẳng nên khất thực theo thứ tự, vì không ăn nên đi khất thực, vì hoại tướng hòa hợp nên bốc cơm ăn, vì chẳng lãnh thọ nên lãnh thọ đồ ăn, vì quán tưởng như hư không tụ hợp nên vào nơi làng xóm dân tụ, thấy sắc đồng như mù, nghe tiếng đồng như điếc, ngửi mùi đồng như gió, nếm vị chẳng phân biệt, thân xúc như tâm trí chứng biết (vì trí chứng vô chứng, nên xúc đồng như không xúc), rõ các pháp như tướng huyễn hóa, chẳng tự tánh, chẳng tha tánh, xưa vốn vô sanh, nay cũng vô diệt. Ca Diếp! Nếu được chẳng bỏ tám tà mà nhập tám giải thoát, dùng tướng tà mà nhập chánh pháp, dùng một thức ăn để thí đủ cho tất cả, cho đến cúng dường chư Phật và chư hiền thánh, rồi sau mới có thể ăn. Người ăn như thế, chẳng có phiền não, chẳng lìa phiền não, chẳng nhập định, chẳng xuất định, chẳng trụ thế gian, chẳng trụ Niết bàn, kẻ bố thí chẳng phước lớn phước nhỏ, chẳng thêm chẳng bớt, chẳng nương Thanh văn, ấy mới chính là nhập Phật đạo. Ca Diếp! Ăn như thế mới là không uổng thức ăn của người bố thí vậy! Bạch Thế Tôn! Lúc con nghe lời này được pháp chưa từng có, nơi thâm tâm liền khởi cung kính tất cả Bồ tát, lại nghĩ rằng người gán tên tại gia mà lại có biện tài trí huệ như thế, ai nghe mà chẳng phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Từ đó con chẳng dùng hạnh Thanh văn Duyên giác để dạy người. Cho nên con không đáng đến thăm bệnh. Phật bảo Tu Bồ Ðề đến thăm bệnh. Tu Bồ Ðề bạch Phật rằng: Thế Tôn! Con chẳng xứng đáng đến thăm bệnh Duy Ma Cật. Tại sao? Con nhớ lại khi xưa, vào nhà Ngài khất thực. Ngài lấy bát con đựng đầy cơm, bảo rằng: Này Tu Bồ Ðề! Ðối với sự ăn bình đẳng thì các pháp cũng bình đẳng, các pháp bình đẳng thì sự ăn cũng bình đẳng, khất thực như thế mới được lấy ăn. Vậy nếu Tu Bồ Ðề chẳng đoạn dứt tham sân si, cũng chẳng cùng với tham sân si, chẳng hoại nơi thân mà tùy nhất tướng (Nhất tướng vô tướng), chẳng diệt si ái mà được giải thoát, dùng tướng ngũ nghịch mà được giải thoát, chẳng trói cũng chẳng mở, chẳng thấy Tứ Ðế, phi chẳng thấy Tứ Ðế, phi đắc quả, phi bất đắc quả, phi phàm phu, phi lìa phàm phu, phi bậc thánh, phi chẳng bậc thánh, dù thành tựu tất cả pháp mà lìa các pháp tướng, mới được lấy ăn. Nếu Tu Bồ Ðề chẳng thấy Phật, chẳng nghe pháp, bọn lục sư (sáu phái) ngoại đạo là thầy của ông, vì họ xuất gia bị đọa, ông cũng đọa theo, mới được lấy ăn. LƯỢC GIẢIBọn lục sư ngoại đạo là thầy của ông, vì họ xuất gia bị đọa, ông cũng đọa theo: 1. Thầy có nhiều loại. Thầy Bổn sư, thầy dạy đạo, thầy y chỉ nuôi cho ăn học, thầy dạy chữ nghĩa thế gian, v.v... Chẳng phải chỉ có thầy Bổn sư mới được gọi là thầy. 2. Theo Trí Giả Ðại Sư có ba loại ngoại đạo. Thứ nhất là ngoại đạo chánh thức, tu hành thành tựu, được sanh cõi Trời chẳng bị đọa. Thứ hai là ở nơi Phật pháp xuất gia mà hành theo pháp ngoại đạo thì phải bị đọa. Thứ ba là học Phật pháp thành ngoại đạo, vì hiểu lầm ý Phật, cho ý mình hiểu là đúng chánh pháp mà dùng để dạy người, cũng bị đọa như ngoại đạo thứ hai vậy. Theo sự thật, trong Phật pháp có một số người Bổn sư bị đọa mà đệ tử được kiến tánh. Chẳng phải Bổn sư bị đọa thì đệ tử phải đọa theo. Nguyên nhân bị đọa là bởi vì hành tà pháp mà cho là chánh pháp, làm cho chúng sanh hiểu lầm nên mới phải bị đọa. Ðây là lược giải theo có nghĩa lý. Nhưng đoạn này Ngài Duy Ma Cật cố ý nói ra những lời Vô nghĩa lý, ấy chỉ là phương tiện dùng để phá những kẻ chấp thật văn tự lời nói của chư Phật chư Tổ mà thôi. (Lược giải hết) Nếu Tu Bồ Ðề tâm nhập tà kiến, chẳng đến bờ bên kia, trụ nơi tám nạn, chẳng ra khỏi nạn, lìa pháp thanh tịnh mà đắc Vô tranh Tam muội, tất cả chúng sanh cũng đắc Tam muội ấy, kẻ bố thí ông chẳng gọi là phước điền, kẻ cúng dường ông phải đọa tam ác đạo. Ông cùng ma chúng bắt tay nhau làm bè bạn, ông cùng ma chúng với những trần lao đồng nhau chẳng khác, nơi tất cả chúng sinh có tâm oán ghét, báng Phật hủy pháp, chẳng nhập tăng chúng, cuối cùng chẳng thể diệt độ, ông nếu như thế mới được lấy ăn. Bạch Thế Tôn! Khi nghe lời dạy này, con cảm thấy ngơ ngác, chẳng hiểu Ngài nói gì, chẳng biết trả lời thế nào, liền để bát lại muốn ra khỏi nhà. Lúc ấy Ngài Duy Ma Cật bảo: Này Tu Bồ Ðề! Cứ lấy bát đi đừng sợ. Ý ông thế nào? Nếu đem việc này hỏi người huyễn hóa của Như Lai làm ra, người ấy có sợ chăng?" Con đáp: Không ạ! Ngài Duy Ma Cật nói: Tất cả các pháp, tướng như huyễn hóa, nay ông cũng chẳng nên sợ. Tại sao? Tất cả ngôn thuyết đều chẳng lìa tướng huyễn hóa. Cho nên người trí chẳng dính mắc văn tự, nên chẳng có sợ. Tại sao? vì tánh của văn tự tự lìa văn tự, chẳng chấp văn tự ấy mới là giải thoát. Tướng giải thoát đó tức là các pháp vậy. Khi Duy Ma Cật thuyết pháp này, hai trăm thiên tử đắc pháp nhãn tịnh, vì thế nên con không đáng đến thăm bệnh. LƯỢC GIẢIKinh Kim Cang nói: Nếu có ai nói Như Lai có thuyết pháp là phỉ báng Phật, vì pháp lìa văn tự. Nhưng chúng sanh học Phật đều đuổi theo văn tự để tìm hiểu chân lý. Phật rất sợ chúng sanh nhận lầm như thế, kẹt vào lý chướng nên vừa thuyết xong liền phá. Ðoạn Tu Bồ Ðề thăm bệnh này là chuyên dùng những lời vô nghĩa để phá những người chấp thật vào văn tự lời nói trong kinh điển. Tu Bồ Ðề chẳng phải không biết mà sợ, vì hợp tác với Duy Ma Cật nên thị hiện sợ, để cho Duy Ma Cật giảng rõ văn tự và lời nói là tướng huyễn hóa. Chẳng chấp văn tự ấy là giải thoát, tướng giải thoát đó tức là các pháp vậy. (Lược giải hết)
|



