Giáo lý Phần 1 ( Rất hay )

Mời các bạn thảo luận giáo lý và phương pháp hành trì Phật giáo Nam truyền.
zelda
Bài viết: 682
Ngày: 22/08/07 09:21
Giới tính: Nam
Đến từ: HCM
Nghề nghiệp: Đi làm , đi học

Giáo lý Phần 1 ( Rất hay )

Bài viết chưa xem gửi bởi zelda »

"Các con hãy uống đi! Hãy uống đi! Ðây là món linh dược để thấm nhuần Chân-lý, để mãi mãi sống an lành.
Với diệu dược này, các con sẽ chiến thắng, nguồn sanh-tử và thoát khỏi biển trầm-luân
". (Milinda Panhã)

Từ ngàn xưa, nhân-loại đã ý thức nỗi thống khổ của cuộc đời, con người sanh ra chẳng được bao lâu lại phải già phải chết và suốt quá trình sinh-hoạt để duy-trì kiếp sống, lại phải đương đầu với biết bao tai-họa bất thường. Một nhà Hiền triết Ấn-Ðộ nói rằng: Trong đời sống trăm năm, chẳng mấy ai hưởng được một ngày vui trọn vẹn.

Muốn tìm cách thoát khổ, trên khắp thế-gian đã xuất hiện một số triết-gia lỗi lạc, xây dựng Tôn-giáo với học thuyết hay đường lối tu-tập của mình. Nhưng hầu hết các Giáo-chủ sáng lập Tôn-giáo, đều chịu ảnh-hưởng ít nhiều những truyền thống tập quán cố hữu, thần quyền trong mỗi xứ, nên thường chủ trương các học thuyết siêu hình, trừu tượng, mơ mộng không thực-tế hay thiếu khoa-học. Thảy thảy đều cho rằng nỗi khổ của chúng-sanh từ ngoài vào, nên cổ võ tín-đồ phải nương nhờ nơi tha lực để cứu rỗi linh hồn sau khi chết. Họ nghĩ tưởng ra nhiều cảnh Thiên-Ðàng cực-lạc làm chỗ dung thân vĩnh-cửu cho nhân-loại.

Nhưng Ðức-Phật Thích-Ca Gotama lại quả quyết rằng niềm đau khổ phát xuất từ bên trong mỗi con người.

Tuy nhiên sự chuyển hóa tư-tưởng của phần đông để trở về với chân-lý là một công trình trọng-đại, đầy dẫy cam-go kham-khổ. Muốn thành-tựu, bậc lãnh đạo tinh thần phải sáng suốt, quả cảm hơn người, phải là bậc xả thân cầu đạo, xả phú cầu bần, giải gió dầm sương, thực hành rất nhiều phương-pháp, mới mong đạt tới trình độ viên mãn cuối cùng.

Nhà học Phật Ðức Georges GRIMM viết: "Chỉ có Thái-tử Sĩ-Ðạt-Ta biết thấu triệt cái trạng thái viên mãn cùng tột đó nên Ngài mới được suy tôn là Phật".

Tại một xứ Ấn-Ðộ bị chìm đắm lâu đời trong tập quán tín-ngưỡng cố-hữu về những triết thuyết Phiếm-thần, Nhất-thần, Ða-thần. Ðức Thích-Ca là vị Thánh Tổ duy nhất dám san-bằng hệ-thống giai-cấp của Bà-La-Môn giáo, dám phá vỡ quyền năng thần-thoại của đấng tối cao Brahma, dám bứng tận gốc rễ tin tưởng dị đoan về các vị Thánh bất khả tri, để sáng lập ra một giáo-lý với đường lối tu-tập khác các Tôn-giáo trên thế-giới, gây ngạc nhiên cho các nhà Bác-học cận đại, khi họ bắt đầu sưu tầm về Phật-Giáo. Càng khảo xét họ càng hăng say, tiếp tục tìm kiếm vì họ đã nhận chân giá trị tuyệt-diệu của Chánh-Pháp. Hiện nay trong mấy nước lớn như: Anh, Pháp, Ðức, Mỹ, .., đều có tổ chức những viện nghiên-cứu Ðạo-Phật đang hoạt-động thường xuyên. Tại Ấn-Ðộ có nhiều triết-gia thuộc Ấn- Ðộ giáo công nhận tư cách Thánh-nhân cao tột của Ðức Thích-Ca, nhưng họ không đủ uy tín, khả-năng chấn-hưng Chánh-giáo vì ảnh-hưởng sâu rộng của khối đông quần chúng còn mến chuộng tha lực thần quyền.

"Nhưng đây là nói về Phật-Giáo cổ truyền, chớ không phải những gì chúng ta thấy hằng ngày trong các đền chùa rải rác khắp miền Ðông Á". (Georges GRIMM)

Trong những nơi mà đấng Cha Lành bị quên lãng. Kim thân Ngài được sắp sau hàng ngũ các Thần-linh bất-lực và bất-khả tư nghì.

Ðức-Phật suốt thông nhiều điều bí-ẩn vũ-trụ nhưng chỉ truyền lại những gì hữu-ích cho đời đạo-đức.

Ngài thuyết:

Này các thầy Tỳ-Khưu! Những Pháp-môn mà Như-lai công bố rất ít, ví như mớ lá Sisu trong nắm tay. Còn những điều chẳng tiện nói ra nhiều vô kể như số lá Sisu khắp khu rừng".

"Mà tại sao vậy?"

-"Vì các điều đó không lợi ích, không đưa tới thánh-thiện, không đem lại bình-an, không tạo nên kiến-thức cao-siêu, không đưa tới giác-ngộ ... đạt tới Niết-Bàn".


(Samyutta Nikãya)

Ngày nọ, một Ðạo-sĩ than phiền Ðức-Phật giữ im-lặng trong một số vấn đề như:

- Thế gian trường cửu hay không bền vững?

- Hữu biên hay vô biên?

- Linh hồn và xác thân là một hay khác nhau?

- Ðức Như-Lai tịch diệt rồi sẽ mất hay còn tiếp tục? ...


Ðức Thế Tôn đáp:

-"Hỡi này ông bạn! Nếu kẻ nào chỉ bằng lòng thọ-giáo sau khi hiểu rõ vấn-đề đó, thì y sẽ chết trước khi được lời giải-đáp thích nghi. Thế-gian vĩnh-cửu hay vô-thường, hữu-biên hay vô-biên, linh-hồn và xác-thân là một hay khác nhau, Ðức Như-Lai sau khi tịch diệt rồi sẽ còn còn tiếp tục hay không, những điều đó chẳng liên quan gì tới tư cách giải-thoát, không hủy-diệt được những thảm họa sanh, già, đau, chết, ... Như-Lai chỉ dạy phải làm thế nào trong kiếp hiện tại để khỏi phải sanh tử triền miên!

Trả lời có hay không về những vấn đề như vậy là vô bổ, là lý-luận, trơn-truộc như loài trạch, là đám rừng, là ngỏ bí, là lừa đảo, là cạm-bẩy, là bãi sa-mạc... Chỉ gây thêm tranh chấp, khổ đau, thất-vọng. Như-Lai mặc nhiên vì những lẽ đó".


(Majjhimã Nikãya)

Một kẻ ngụy-biện khác muốn biết rõ bản chất vũ-trụ, Ngài day qua phía khác đáp:

"Người đó không muốn biết những gì mắt thấy, mà chỉ cần biết những gì không thấy được. Người đi xa hơn nữa sẽ mệt nhọc vô-ích, nhưng chẳng thế nào tìm được như sở-nguyện. Người không chịu vớ lấy cái gì ở trước tầm tay, lại mong bắt những cái bóng xa vời chốn không gian, làm cho lòng ham muốn gia-tăng. Chỉ những kẻ nào diệt được dục-vọng mới đáng ngợi khen".

(Jãtaka)

"Tánh hiếu-kỳ, ngụy-biện, hay tranh chấp về các vấn-đề tâm-lý, cũng nguy-hiểm không thua gì sự khao-khát khoái-lạc trần-gian. Nếu cái tâm Tham-ái là chướng-ngại của hàng thế-nhân, thì tật hay lý-luận, phê-phán, tranh-tài về đạo-đức, cũng rất tai-hại cho kẻ tu-hành. Cả hai thứ Ái, Dục đó đều là sáng tác của Ma-vương. Nó làm phung-phí công-phu tìm kiếm, biện-bát, cải-vã vô-ích làm mất thì giờ, tạo thêm phiền toái mà thôi. Ma-vương là tên thợ săn không hề biết mệt. Các đạo-sĩ là những con mồi béo bở, mà nó luôn luôn tìm cách đưa vào cạm-bẩy.

Có một số Tu-sĩ giữ nếp sống khác thường. Nghĩ rằng mình đã thoát khỏi thế-lực của Ma-vương. Nhưng thật ra họ còn nô-lệ cho kiến-thức, cho quan-niệm: Thế-gian là trường-cửu hay biến đổi, xác-thân và linh-hồn là một hay khác nhau, ... Vì đó họ không thoát-ly khỏi mảnh lưới của Ma-vương
".
(Majjhimã Nikãya)

"Chẳng có chi là mật nhiệm trong Chánh-Pháp (không có Mật-Tông), giáo-lý của Như-Lai truyền lại chiếu sáng giữa ban ngày, chứ không phải bị cất giấu trong bóng tối. Có ba thứ thường mang tính cách che giấu hay bí mật là phụ-nữ, ấn-chú của Bà-La-Môn và những đạo-lý giả hiệu.

Có ba thứ rọi sáng lúc ban ngày, hay ban đêm là Mặt trời, Mặt trăng và Giáo-lý của Chư-Phật".


(Mahã Parinibbana Sutta.)

Phần đông nhân loại không để ý đến sự khổ. Cũng như đám trẻ vui đùa trong nhà lửa, mân-mê các món đồ chơi, mà quên nghĩ đến cái chết sắp đến nơi.

Ðấng Từ-Bi Vô-Lượng như Ðức-Phật chẳng khác người cha thấy các con khờ dại, quay quần trong đám lửa nên không thể làm ngơ. Ngài cất tiếng gọi và tìm cách đưa chúng ra khỏi chốn nguy nan.

Ngài tin món thuốc cứu đời rất hữu hiệu. Nếu nỗi khổ đau do những động cơ bên ngoài tạo tác thì vô phương cứu chữa. Nhưng nó xuất phát từ bên trong con người. Nên Ngài quả quyết đó chẳng phải là chứng bệnh nan y. Người đời khó tránh khổ đau trong kiếp hiện tại, nhưng có đủ khả-năng thoát khỏi cảnh khốn cùng về buổi tương-lai nếu trì chí quyết tâm noi theo đường lối của Ðức Như-Lai.

Về tư cách giác tha, Ðức-Phật dạy:

"Người bị trói, không thể mở trói cho kẻ khác. Người đui mù không thể dẫn đường cho bất cứ ai. Chỉ có bậc Giác-ngộ mới mong giải-thoát cho người khác. Chỉ có kẻ sáng-suốt mới có thể đưa đường giúp kẻ mù lòa.

Cũng như một đoàn người mù nắm tay nhau tìm lối đi. Người đi trước không thấy, người đi sau cũng không thấy. Chỉ có bậc nhìn thấy thực tại viên-mãn, mới mong xứng-đáng với danh hiệu Sa-Môn, mới là bậc Thiện trí thức. Chớ không phải kẻ chỉ biết lập lại những câu Thánh-ngữ hay công thức lưu truyền đã được phổ biến từ xưa
".

(Lalita Vistara)

Trích: http://www.phatgiaovn.dk/forum/viewtopic.php?t=341


Gieo suy nghĩ, gặt hành động
Gieo hành động, gặt thói quen
Gieo thói quen, gặt tính cách
Gieo tính cách, gặt số phận

Dick Lyles
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.6 khách