Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Nghiên cứu học hỏi tư tưởng Phật giáo bắc tông: Câu xá, thành thật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Du già, pháp tướng tông, trừ hệ bát nhã, thiền và chuyên mục đã có.

Điều hành viên: phuoctuong

Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Quán các pháp hữu vi ………………….. Lìa phan duyên, sở duyên
Không tâm lượng của tâm………………. Ta nói là tâm lượng
Lượng ấy chỗ tự tánh …………………… Duyên sanh cả hai lìa
Tánh cứu cánh diệu tịnh………………… Ta nói tên tâm lượng
.

Ở trước nói thế gian duyên sanh, duyên sanh nên không tánh. Ở đây mới chỉ ra người giác tự tâm lượng, hay lìa phan duyên và sở duyên, liền đó không tâm, bèn hợp với tâm lượng. Nghĩa là tự tánh tâm này vốn không năng duyên sở duyên, cứu cánh là viên diệu. Nếu ở ngoài tâm mà vừa có chấp trước bèn rơi vào vọng tưởng, chẳng phải cái bản hiện lượng.

Lập bày ngã thế đế………………………. Ấy là không sự thật
Lập bày các ấm thân…………………….. Không thật cũng như thế.
Có bốn thứ bình đẳng ……………………Tướng và nhơn tánh sanh
Thứ ba vô ngã đồng………………………Thứ tư tu pháp tu
.

Trước nói tự tánh tâm lượng tất cả tánh lìa đương thể là diệu tịnh. Đây nói lập bày năm uẩn, hoặc người hoặc pháp cho đến có tướng cùng vô tướng, sanh cùng vô sanh, ngã cùng vô ngã, năng tu và sở tu thảy đều bình đẳng không có thật tánh, để hiển chỉ có tự tánh tâm lượng, ngoài tánh này không có cái gì riêng khác.
Lập bày thế đế là nhơn tướng. Lập bày các ấm là pháp tướng.
Bốn thứ bình đẳng: tướng, nhơn, ngã, tu
1) Tướng tức là tướng năm ấm. Năm ấm không thật thì tướng và vô tướng bình đẳng.
2) Tướng ắt có nhơn, nhơn là tập đế trong tứ đế, là sanh nhơn của năm ấm. Quả tướng đã dối thì sanh cùng vô sanh bình đẳng.
3) Nhơn quả sanh nhau thì đủ có nghĩa ngã. Nhơn quả chẳng sanh thì ngã cùng vô ngã bình đẳng.
4) Hiểu rõ ngã chẳng phải ngã, gọi là tu. Ngã đã chẳng có tức rõ không có bị rõ thì tu cùng không tu bình đẳng.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Vọng tưởng tập khí chuyển ……………. Có các thứ tâm sanh
Cảnh giới hiện bên ngoài……………….. Ấy tâm lượng thế tục
Hiện ngoài mà chẳng có………………… Tâm thấy các thứ kia
Dựng lập làm thân, tài…………………… Ta nói là tâm lượng
.

Đây nói tâm lượng thế tục do tập khí chuyển ra, vọng sanh phân biệt dường như có ngoại cảnh. Giác được lý này thì trở lại là tự tánh tâm lượng.
Hiện ngoài chẳng phải có là: chẳng phải riêng có, do tâm vọng thấy. Căn thân, khí giới (pháp giới vô tình), hiện ra đều duy tâm.

Lìa tất cả các kiến ……………………….. Và lìa tưởng, sở tưởng.
Không được cũng không sanh…………..Ta nói là tâm lượng.

Phi tánh, phi phi tánh…………………….. Tánh, phi tánh thảy lìa.
Gọi kia tâm giải thoát…………………….. Ta nói là tâm lượng.

Như như cùng không tế………………….Niết bàn và pháp giới
Các thứ thân ý sanh…………………….. Ta nói là tâm lượng
.

Các kiến là hai ngã kiến nhơn - pháp.
Tưởng, sở tưởng là năng tưởng và sở tưởng.
Lìa những cái này thì được gốc tự tâm, mà chẳng phải mới được, cho nên nói “không được”
Tâm lượng hiện tiền thì chẳng chấp sanh và nhơn có tánh. Cả hai đều đoạn, cho nên nói “không sanh”.
Hai pháp có - không do tứ cú sanh ra, tứ cú đã lìa, liền đó giải thoát.
Như như, không tế, Niết bàn, Pháp giới đều chỉ cho tâm lượng chơn tịnh, viên mãn, cho đến các thân ý sanh, thể dụng đều diệu, thảy nói về tự tánh đến chỗ tột cùng.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

C - CHỈ NGỮ NGHĨA, TRÍ THỨC ĐỂ HIỂN DỤNG TÔNG THÔNG
Chia làm năm phần

1) CHỈ TƯỚNG NGỮ
Khi ấy Bồ tát Đại Huệ bạch Phật rằng : Thế Tôn! Như Thế Tôn đã nói, Đại Bồ tát phải rành rẽ về ngữ nghĩa. Thế nào là Bồ tát rành nghữ nghĩa? Thế nào là ngữ? thế nào là nghĩa ?
Phật bảo Đại Huệ : Lắng nghe! Lắng nghe ! Khéo suy nghĩ đó, tôi sẽ vì ông nói.
Đại Huệ Bạch Phật : Lành thay! Thế Tôn! Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ : Thế nào là ngữ ? Nghĩa là lời nói do vọng tưởng hòa hợp, y nơi cổ họng, môi, lưỡi, răng, nướu, cằm, má, nhơn đó ta nói vọng tưởng tập khí sanh, ấy gọi là ngữ
.

Ngữ là ngôn giáo Như Lai nói ra tam thừa, nhất thừa. Nghĩa là đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ. Đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ do ngôn thuyết được vào. Vào Đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ thì hay xa lìa tất cả cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng. Nhơn ngũ mà nhập nghĩa, nên nói chiếu liễu, mà chẳng phải y ngữ sanh nghĩa, trở lại rơi vào giác tưởng. Trước biện biệt thể hai thứ ngữ nghĩa , nhiên hâu bảo do ngữ nhập nghĩa, như ngọn đèn soi cảnh sắc, chẳng phải ngọn đèn tức là cảnh sắc. Tông thông này hiển bày tông thú , mượn lời nói mà nhập, không nên y lời nói chấp trước vọng tưởng khác.
Vọng tưởng tập khí hòa hợp với bảy thứ (cổ họng v.v…) thành thể tướng của ngữ. Đây là y thế gian mà nói. Nếu thánh ngôn giáo tức đệ nhất nghĩa diệu tâm khéo vì hiển bày. Cho nên ở sau nói “Có ngữ chẳng khác với nghĩa”. Nhơn ngữ mà hiện nghĩa, do ngữ nhập nghĩa nên nói giáo liễu nghĩa. Phàm vọng tưởng tập khí cùng đệ nhất nghĩa diệu tâm thể một mà tên khác. Thảy do mê giác chuyển ra, nên biết tông thông hiển bày, do lời nói mà vào , chẳng phải cảnh giới tập khí.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

2) CHỈ TƯỚNG NGHĨA
Đại Huệ ! Thế nào là nghĩa ?
Nghĩa là lìa tất cả tướng vọng tưởng, ấy gọi là nghĩa.
Đại Huệ ! Đại Bồ tát đối với nghĩa như thế ở riêng chỗ vắng vẻ văn, tư, tu huệ, duyên giác tự liễu, hướng thành Niết bàn, tập khí thân chuyển biến rồi cảnh giới tự giác xét nghĩa tướng khoảng giữa các địa mà thẳng tiến, ấy gọi là Đại Bồ tát rành nghĩa
.

Đây chỉ thể tướng của nghĩa mà chẳng nói những gì là nghĩa. Chỉ bảo lìa tất cả vọng tưởng ngôn thuyết, ấy gọi là nghĩa.
Bởi vì muốn người lìa chỗ ngôn thuyết vọng tưởng được chỗ tự giác. Duyên chỗ này tự giác mới hay ở riêng chỗ vắng vẻ, chóng rõ văn, tư, tu huệ hồi hướng Niết bàn. Nên nói “chuyển tập khí thân toàn là cảnh giới tự giác. Dùng tự giác diệu huệ chiếu sáng các địa, tiến thẳng lên trên, chẳng do nơi khác”.
Do nghĩa tướng này để thấy đệ nhất nghĩa của diệu tâm Như Lai khéo vì hiển bày, mà hay khiến người nhơn ngữ biện được nghĩa, do ngữ nhập nghĩa, nên nói “ngữ chẳng khác nghĩa”.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3) CHỈ DO NGỮ NHẬP NGHĨA
Lại nữa, Đại Huệ ! Đại Bồ tát rành ngữ nghĩa quán ngữ cùng nghĩa chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Quán nghĩa cùng ngữ cũng lại như thế. Nếu ngữ khác với nghĩa thì chẳng nhơn ngữ mà hiện nghĩa. Song do ngữ nhập nghĩa như đèn soi cảnh sắc
.

Đây chính bày tông hiển thị sở nhập. Có bao nhiêu ngôn cú đều là liễu nghĩa. Cho nên Bồ tát rành ngữ nghĩa thì quán ngữ biết nghĩa là chẳng khác, chẳng phải chẳng khác. Khác thì chẳng nhơn ngữ mà hiện nghĩa, mà hẳn do ngữ nhập nghĩa. Đến chỗ tự chứng, lìa ngôn ngữ mà được, mới biết tất cả ngôn giáo là chiếu liễu nguồn tâm, lìa tất cả cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng.
Chúng sanh tập khí che đậy nên không thể nhơn ngữ mà biết chỗ trở về, trái lại duyên ngôn thuyết theo đó chấp có - không, chẳng phải lỗi tại thánh giáo.

4) RIÊNG Y NGỮ CHẤP NGHĨA
Lại nữa, Đại Huệ ! Chẳng sanh chẳng diệt, tự tánh, Niết bàn, tam thừa, nhất thừa, tâm, tự tánh v.v…như duyên lời nói nghĩa rồi chấp trước, rơi vào chấp dựng lập (có) phỉ báng (không) , khác dựng lập, khác vọng tưởng, như huyễn các thứ vọng tưởng hiện. Thí như các thứ huyễn, chúng sanh phàm ngu cho là khác vọng tưởng, chẳng phải thánh hiền
.

Đây nói kẻ ngu không thể nhơn ngữ nhập nghĩa, đối tự thể các pháp trong đệ nhất nghĩa chẳng sanh, chẳng diệt v.v…không có chiếu liễu, trái lại y ngôn thuyết chấp trước cảnh giới giác tưởng sở thuyết, rơi vào có - không. Là khác với tự thể các pháp đệ nhất như nghĩa mà khởi dựng lập. Có các thứ vọng chấp như y nơi huyễn mà khởi các phân biệt. Cho nên biết , tất cả các pháp đều là đệ nhất nghĩa mà thánh, phàm đồng hiện, mê giác vẫn phân. Người giác tự tâm hiện, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng tâm duyên, nhận được pháp thể, mới tin nhật dụng không khác, như chư thiên kia đồng một bát đựng thức ăn, tùy phước dày mỏng mà thấy mỗi phần có khác.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

5) TỤNG CHUNG
Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ :

Ngôn thuyết vọng tưởng kia……………. Dựng lập ra các pháp
Bởi do kia dựng lập …………………….. Chết rơi vào địa ngục
Trong ấm không có ngã…………………. Ấm chẳng tức là ngã
Chẳng như vọng tưởng kia …………….. Cũng lại phi vô ngã
Tất cả thảy có tánh………………………. Như phàm ngu vọng tưởng
Nếu như kia đã thấy………………………Tất cả nên thấy đế (chơn)
Tất cả pháp không tánh…………………. Tịnh uế thảy không có
Chẳng thật như kia thấy…………………. Cũng chẳng phải không có.


Đây nói ngoại đạo y ngôn thuyết vong tưởng dựng lập có - không, đó là tà pháp nhơn chấp nên phải đọa.
Nhị thừa bảo trong ấm vô ngã, tuy chẳng giống vọng tưởng ấm tức là ngã, mà không biết vô ngã cũng chẳng phải đệ nhất nghĩa.
Phàm ngoại chẳng phân mê giác , lầm cho vọng là chơn. Nhị thừa đối trị tà chấp bỏ chơn đồng vọng. Đây đều chẳng đạt tánh sẵn đủ, chẳng lìa vọng tưởng mà có chơn thật. Nếu quyết lìa vọng thì nào khác lẫn vọng, cho nên nói “Nếu như kia đã thấy tất cả nên thấy đế (chơn thật)”. Nghĩa là nhị thừa vô ngã chẳng phải chơn thật. Thế nên biết tất cả pháp chơn thật vốn không tự tánh, đã có tịnh uế đều do kiến chấp mà sanh. Chỉ cần trừ kiến chấp chẳng thật, thì chơn thật hiện tiền. Nên nói đệ nhất nghĩa như thật, bản tế thầm hợp tương ưng, không có thủ - xả. Đây là cảnh giới tự thông, chẳng phải không có, mà không phải chỗ hay nói của ngôn thuyết vọng tưởng. Đó là chỗ bài kệ chót trưng bày.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

D - BIỆN TRÍ THỨC
Có hai phần

1) CHỈ TƯỚNG BA THỨ TRÍ
Lại nữa Đại Huệ ! tướng trí, thức nay sẽ nói, nếu khéo phân biệt tướng trí và thức thì ông và các Bồ tát ắt hay thông đạt tướng trí và thức, chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Đại Huệ ! trí có ba thứ là trí thế gian, xuất thế gian và xuất thế gian thượng thượng.
- Thế nào là trí thế gian ? Là tất cả ngoại đạo, phàm phu chấp trước có - không vậy
- Thế nào là trí xuất thế gian ? là tất cả Thanh văn, Duyên giác rơi vào chấp trước hy vọng tự tướng, cộng tướng.
- Thế nào là trí xuất thế gian thượng thượng ? Là chư Phật và Bồ tát quán pháp không thật có, thấy chẳng sanh, chẳng diệt, lìa các loại có - không. Như Lai địa nhơn pháp vô ngã, duyên tự đắc mà sanh
.

Tất cả chúng sanh chẳng được duyên tự giác liễu đều do không đạt hai tướng trí và thức. Cho là trí mà thực là thức, thành tăng thượng mạn. Đó là lý do Như Lai lập đi lập lại để hển bày vậy.
Trong ba thứ trí,
Thế gian trí chỉ cho ngoại đạo, bởi vì ngoại đạo tự cho là người trí.
Nhị thừa đạt các ấm vô ngã, vẫn còn chấp pháp ấm, không biết đều là tự tâm hiện, nên nói “Theo tự tướng, cộng tướng hy vọng”.
Chư Phật, Bồ tát giác tự tâm hiện, đạt tất cả pháp đều không thật có, lìa có - không, sanh - diệt, tự tánh như như. Bởi vì Như Lai địa nhơn - pháp đều quên, duyen tự đắc sanh, chẳng cùng ngoại đạo, nhị thừa chấp có - không, hy vọng tự- cộng mà so sánh được.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

2) CHỈ THỨC, TRÍ SAI BIỆT
Đại Huệ ! Cái sanh diệt kia là thức, cái chẳng sanh diệt là trí. Lại nữa, rơi vào tướng vô tướng và các thứ nhơn tướng có - không là thức. Siêu việt tướng có - không là trí. Lại nữa, tướng trưởng dưỡng là thức, chẳng phải tướng trưởng dưỡng là trí
.

Bất giác tự tâm hiện, vọng thấy tất cả pháp sanh, vọng thấy tất cả pháp diệt.
Giác tự tâm hiện, chỗ hiện là duy tâm, không có sanh diệt. Đây là chỗ mà trí cùng thức phân biệt vậy.
Y cái sanh diệt này chấp tướng có - không, cùng nhơn có - không là thức. Hay siêu việt cái này là trí.
Trưởng dưỡng là nghĩa sanh. Đối với tất cả pháp mà tạo sanh nhơn là thức. Đối với tất cả pháp mà làm liễu nhơn là trí.
Như Lai đã có 37 pháp trợ Bồ Đề và 6 Ba La Mật. Tất cả vô lượng Ba La Mật đều là liễu nhơn mà chẳng phải sanh nhơn


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Lại nữa, có ba thứ trí : Trí sanh diệt, trí tự tướng - cộng tướng, trí bất sanh bất diệt.
Lại nữa, tướng vô ngại là trí, cảnh giới các thứ tướng ngại là thức.
Lại nữa tướng ba việc hòa hợp phương tiện sanh là thức, tướng vô sự phương tiện tự tánh là trí.
Lại nữa, tướng đắc là thức, tướng chẳng đắc là trí.
Cảnh giới tự đắc thánh trí chẳng ra chẳng vào, cho nên như trăng trong nước
.

Sanh diệt là mê chơn, duyên tập. Nghĩa là các phàm phu ngoại đạo mê chơn tánh của mình, khởi ra tất cả nhơn duyên sanh diệt.
Tự tướng - cộng tướng là kẹt nơi chơn, duyên tập. Nghĩa là nhị thừa kẹt nơi pháp chấp, chẳng đạt chơn tánh, khởi ra tất cả nhơn duyên nhàm chán tự tướng - cộng tướng.
Chẳng sanh chẳng diệt là tự chơn duyên tập. Nghĩa là Bồ tát thủy giáo thấy chơn tánh mình chẳng lìa chơn tế, khởi ra tất cả pháp nhơn Bồ đề chẳng sanh diệt.
Biết ba thứ này mới gọi là trí. Hay biết ba thứ mà chẳng phải ba thứ, nên nói “Nhất thiết trí trí thanh tịnh”.
Vô ngại là nghĩa tứ vô ngại trong kinh Hoa Nghiêm. Nghĩa là lý vô ngại, sự vô ngại, sự lý vô ngại, sự sự vô ngại. Chơn thuyên vô ngại vừa có thiên trọng liền rơi vào thức tâm.
Ba việc là căn, trần, thức. Rõ biết căn, trần, thức đều do nội thức biến dường như có, mà không có căn trần có thể được.
Tất cả phân biệt tức vô phân biệt trí, nên nói “Tùy thuận phân biệt tướng các pháp, mà nơi đệ nhất nghĩa chẳng động”.
Tướng tức là tất cả tướng sắc, tâm v.v… Giác tự tâm hiện không có các tướng có thể được , gọi là tướng chẳng đắc.
Đây đều là cảnh giới tự giác thánh trí, như trăng trong nước, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải ra, chẳng phải vào, không thể hiển bày, chỉ chứng tương ưng.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ :

Gom nhóm nghiệp là thức……………… Chẳng gom nhóm là trí
Quán sát tất cả pháp …………………… Thông đạt không thật có
Liền được sức tự tại ……………………. Ấy tức tên là Huệ.
Buộc cảnh giới là tâm ………………….. Giác tưởng sanh là trí.
Không thật có và thắng…………………. Huệ ắt từ ấy sanh
.

Đây phân biệt trí huệ. Trí là nhằm giác liễu tự tâm, chẳng theo thức tâm phân biệt nhiếp thọ, là chỉ căn bản trí.
Huệ là nhằm sai biệt, được tất cả chỗ vô sai biệt trí, vào pháp hạnh Phổ Hiền, nhậm vận trang nghiêm.
Buộc cảnh giới là bị tất cả pháp sanh diệt buộc, tâm giác cảnh buộc này vốn tự viên tịnh. Chỉ do vọng tưởng thảy không thể được, cũng nhiếp thuộc căn bản trí.
Giác thì hay liễu, liễu mà không có sở liễu, đến chỗ vô tướng, lần lượt tăng thắng cũng nhiếp thuộc sai biệt.
Vô tướng là cảnh giới bát địa.
Thắng địa tức Như Lai địa.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Tâm ý cùng với thức ……………………. Xa lìa tưởng suy nghĩ
Được pháp không tưởng nghĩ …………. Phật tử phi Thanh văn
Nhẫn tịnh tĩnh thẳng tiến ……………….. Như Lai trí thanh tịnh
Sanh ra nghĩa thiện thắng………………. Đã làm thảy xa lìa
.

Đây tức là từ nơi tâm, ý, ý thức mà được trí thanh tịnh Như Lai, chẳng phải nhị thừa đến được.
Tâm, ý, ý thức đương thể toàn không, chỉ hay lìa các phân biệt thì được pháp thể vô phân biệt , liền khéo vào nhẫn tịch diệt đến trí địa thanh tịnh Như Lai. Do trí Như Lai đều từ pháp vô phân biệt mà sanh.
Pháp vô phân biệt tức là nghĩa thiện thắng. Pháp thiện thắng vô phân biệt này tức là thể của suy nghĩ phân biệt.
Vì mê nên y thể khởi vọng, vì giác nên hợp thể, dừng tưởng, bản trụ hiện tiền, tâm hành chóng hết.
Đó là nghĩa vô phân biệt tối thắng vậy.
Nhẫn có 5 : Phục, tín, thuận, vô sanh, tịch diệt. Từ tam hiền cho đến Phật địa, chỗ chứng có cạn sâu.
Về tịch diệt nhẫn, đến địa thứ mười là Pháp vân mới chứng, bậc Đẳng giác, Diệu giác, Phật địa, các hoặc đoạn hết cũng thuộc nhẫn này.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Ta có ba thứ trí ……………………………Thánh vạch, mở chơn thật
Nơi kia suy nghĩ tưởng ………………….. Đều nhiếp thọ các tánh
Nhị thừa chẳng tương ưng ………………Trí lìa các sở hữu
Chấp trước nơi tự tánh …………………..Từ các Thanh văn sanh
Vượt qua các tâm lượng …………………Như Lai trí thanh tịnh
.

Ba thức tức trong chánh văn biết ba thứ sanh diệt v.v…Ba thứ hay biết này tức là trí thể thanh tịnh chơn thật của Như Lai.
Bởi vọng suy nghĩ khởi các nhiếp thọ, liền nhiếp thọ các pháp.
Cùng nhiếp thọ không tương ưng tức thuộc nhị thừa.
Nếu đạt pháp tánh không tự có thì nhiếp thọ chóng lìa, liền đồng thánh trí. Cho nên biết :
Nhị thừa chỉ đối với không thật có mà vọng sanh chấp trước, bèn thành tâm lượng.
Siêu vượt nơi đây liền đó thanh tịnh chẳng phải lại riêng có “Như Lai Trí”.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách