Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Nghiên cứu học hỏi tư tưởng Phật giáo bắc tông: Câu xá, thành thật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Du già, pháp tướng tông, trừ hệ bát nhã, thiền và chuyên mục đã có.

Điều hành viên: phuoctuong

Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3) NGOẠI ĐẠO CHUYỂN BIẾN CHẲNG LÌA VỌNG THỨC
Có 2 phần :
a) danh tướng ngoại đạo chuyển biến:
Lại nữa, Đại Huệ ! ngoại đạo có chín thứ chuyển biến luận, mà kiến chấp ngoại đạo chuyển biến sanh là :
- hình xứ chuyển biến
- tướng chuyển biến
- nhơn chuyển biến
- Thành chuyển biến
- Kiến chuyển biến
- Tánh chuyển biến
- Duyên phân minh chuyển biến.
- Sở tác phân minh chuyển biến
- Sự chuyển biến.
Đại Huệ ! Ấy gọi là chín thứ kiến chấp chuyển biến, các ngoại đạo nhơn đó khởi ra có – không, sanh chuyển biến luận.
Thế nào là hình xứ chuyển biến ? Nghĩa là hình xứ thấy khác , thí như vàng biến làm các vật khác thì có các hình xứ hiển hiện, chẳng phải tánh vàng có biến đổi. Tất cả tánh biến cũng lại như thế
Hoặc có ngoại đạo khởi vọng tưởng như thế, cho đến vọng tưởng sự biến, vì vọng tưởng kia chẳng phải như , chẳng phải khác.


Ngoại đạo chín thứ chuyển biến nhơn nơi thân tứ đại, năm uẩn và tất cả pháp hữu vi ở thế gian, nhơn quả hiện thấy trước mắt, tạo thành định luật. Họ chẳng biết rằng do tự tâm hiện ra như vàng làm các món kim khí , kim khí chẳng ngoài vàng, chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải có, chẳng phải không. Vì mê nên thấy rõ ràng, vì giác nên thấy như huyễn.
Duy thức luận nói là “Tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Như Lai nêu ra chỗ này, tuy chỉ cái sở do vọng chấp của ngoại đạo, cũng là vì tất cả chúng sanh trong thiên hạ ở đời sau và người tu hành dẹp trừ cái chướng hý luận ở trước mắt. Do đạt tự tâm hiện ra, thật không có tự tánh.
Hình tức là uẩn thân, thân có lưu chuyển trong sáu đạo, tướng có đẹp xấu không nhất định. Hình tướng có nhơn, nhơn đủ thì quả thành. Thấy già, trẻ nhiều thay đổi, tánh khổ vui chóng đổi thay. Duyên sanh ra rõ ràng, pháp duyên sanh rành rẽ, năng sở đã đủ thì việc sanh sáng tỏ .
Đây là chín thứ chuyển biến, ngoại đạo y theo đó thành có kiến chấp vô nhơn. Lại nêu lên hình sự là toát yếu hết chín thứ, dùng vàng và kim khí làm dụ, lìa vàng nói kim khí, cũng tức kim khí nói vàng, chẳng phải tức, chẳng phải ly, là tức là ly, đồng với hý luận, thảy do vọng tưởng. Đây cũng thuộc về thức.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

b) Chỉ chuyển biến không tánh, đều do vọng thức:
Như thế, tất cả tánh chuyển biến nên biết như sữa, tô lạc, rượu, trái v.v… đã chín. Ngoại đạo chuyển biến vọng tưởng, kia cũng không có chuyển biến. Hoặc có, hoặc không , tự tâm hiện ra tánh, phi tánh.
Đại Huệ ! như thế chúng sinh phàm ngu tự vọng tưởng tu tập sanh.
Đại Huệ ! Không có pháp hoặc sanh hoặc diệt, như thấy sắc huyễn mông sanh
.

Lại nếu tất cả pháp như sữa, lạc, rượu, trái v.v… hiện thấy chuyển biến , để thấy ngoại đạo y đây mà khởi vọng tưởng chuyển biến . Song tất cả pháp không có tánh chuyển biến. Sữa không có tánh tô lạc, trái không có tánh rượu, do nhơn duyên biến đổi hoặc có hoặc không, đều là tự tâm hiện mà không có tự tánh. Như thấy tất cả sắc tướng mộng huyễn, nó chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải có, chẳng phải không. Phàm ngu không biết cho là tự tu tập sanh, cho là có thật pháp


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ :

Hình, xứ, thời chuyển biến ………………Tứ đại chủng các căn
Trung ấm thứ lớp sanh………………….. Vọng tưởng phi minh trí
Tối thắng đối duyên khởi………………… Chẳng như vọng tưởng kia
Song thế gian duyên khởi……………….. Như thành càn thát bà
.

Thấy tứ đại các căn có hình, xứ, thời tướng của chuyển biến và thân trung ấm thứ lớp sanh trưởng, chẳng phải minh trí.
Thế gian duyên khởi như thành càn thát bà, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải một chẳng phải khác.
Chư Phật Như Lai quyết chẳng ở nơi duyên khởi có – không mà có chút ít phân biệt như kẻ vọng chấp kia.
Hiện sanh là tiền ấm, hậu sanh là hậu ấm. Xả hiện sanh, chưa đến hậu sanh, khoảng giữa có hiện thân gọi là trung ấm


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Y NGỮ THỦ NGHĨA THÀNH CHẤP SÂU KÍN.
Có 5 phần :

1) ĐẠI HUỆ THƯA HỎI
Khi ấy Bồ tát Đại Huệ bạch Phật :
Thế Tôn ! cúi xin vì nói nghĩa tất cả pháp tương tục và nghĩa giải thoát. Nếu khéo phân biệt tướng tất cả pháp tương tục và chẳng tương tục thì con và các Bồ tát hiểu ránh tất cả tương tục phương tiện khéo léo, chẳng rơi vào như nghĩa đã nói, chấp trước tương tục.
Chúng con khéo đối với tướng tất cả pháp tương tục, chẳng tương tục và lìa ngôn thuyết văn tự vọng tưởng, dạo đi tất cả cõi nước chư Phật, vô lượng đại chúng, lực tự tại thông, được ấn tổng trì, các thứ biến hóa, hào quang chiếu sáng, giác huệ khéo nhập mười vô tận cú, không có hạnh phương tiện, ví như nhật - nguyệt, ma ni, tứ đại.
Đối với tất cả địa lìa kiến chấp tướng vọng tưởng của mình, thấy tất cả pháp như mộng huyễn v.v…nhập thân Phật địa.
Đối tất cả chúng sanh giới tùy chỗ họ mong mỏi mà vì nói pháp, dẫn đường cho họ, đều khiến họ an trụ tất cả pháp như mộng huyễn v.v…lìa tất cả các loại có - không và vọng tưởng sanh - diệt, khác với nghĩa ngôn thuyết, thân kia chuyển biến thù thắng
.

Đoạn này duyên ngôn thuyết nghĩa chấp trước, muốn Thế Tôn phát minh, được nhơn ngôn thuyết vào đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ, để tiến đến cứu cánh không rơi vào lối tẻ.
Duyên ngôn thuyết nghĩa chỗ chấp sâu kín giác tưởng chẳng dứt, cho nên tương tục, nhị thừa, nhất thừa đồng có cái chướng này, nên nói chấp pháp.
Nhơn thánh giáo nói “ năm uẩn vô ngã “, nhị thừa duyên vào đấy quán vô ngã, chứng nhơn vô ngã. Cái chướng này đến thất địa, chưa vào bát địa còn không thể khỏi. Nếu pháp vô ngã thì “vi tế sở tri” đến Phật địa mới hết.
Sở tri tức là : “lý không sở chứng”, “trí không năng chứng”. Vừa còn sở liễu thì đối với đệ nhất nghĩa thánh lạc hành xứ còn chưa viên mãn. Đây là tột cùng tướng tương tục. Song nếu Bồ tát hiểu rành phương tiện cũng không rơi vào cảnh giới ngôn thuyết vọng tưởng mà được giải thoát, tổng trì giác huệ, dùng giác huệ này dạo đi tất cả cõi Phật, thần thông biến hóa, chợt hay nương mười nguyện vô tận, như nhật - nguyệt, như châu mani, như tứ đại soi khắp mười phương , không dừng, không mắc, trái tất cả địa , lìa kiến chấp các tướng, đạt pháp như huyễn, được thân cõi cứu cánh của Như Lai. Nhiên hậu vì chúng sanh mà vì dẫn đường, như chỗ mình hiểu, chóng trừ không có sanh diệt, siêu tất cả ngôn thuyết vọng tưởng tương tục.
Cho nên biết ngoại đạo, nhị thừa đều do chẳng rành phương tiện, chấp ngôn thuyết vọng tưởng, không thể phát minh giác huệ giải thoát. Đây là lý do phân ra trí cùng thức, sự xoay chuyển của mê với giác vậy.

Thập vô tận cú trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ Tát được sơ hoan hỷ địa phát nguyện rộng lớn như pháp giới, dùng thập vô tận mà được thành tựu, thập cú này có tận thì nguyện ta có tận, do thập cú này không tận nên nguyện ta không tận :
1) Chúng sinh giới vô tận
2) Thế giới vô tận
3) Hư không vô tận
4) Pháp giới vô tận
5) Niết Bàn giới vô tận
6) Phật xuất hiện giới vô tận
7) Như Lai trí giới vô tận
8) Tâm sở sở duyên vô tận
9) Phật trí sở nhập cảnh giới vô tận
10) Thế gian chuyển, pháp chuyển, trí chuyển vô tận

Như nhật - nguyệt, mani, tứ đại là :
- Nhật - nguyệt đi trong hư không chẳng nương gá
- Ma ni tùy phương tiện hiện sắc, không có tự tánh.
- Tứ đại giáp khắp pháp giới, không có chướng ngại.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

2) 11 THỨ TƯƠNG TỤC SÂU KÍN
Phật bảo Đại Huệ : Lành thay ! Lành thay ! Lắng nghe ! Lắng nghe ! Khéo suy nghĩ đó, sẽ vì ông nói.
Đại Huệ bạch Phật : Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ : Vô lượng tất cả pháp như nghĩa đã nói chấp trước tương tục. Nghĩa là :
- Tướng kế trước tương tục
- Duyên kế trước tương tục
- Tánh - phi tánh kế trước tương tục
- Sanh - bất sanh vọng tưởng kế trước tương tục
- Diệt - bất diệt vọng tưởng kế trước tương tục
- Thừa - phi thừa vọng tưởng kế trước tương tục
- Hữu vi - vô vi vọng tưởng kế trước tương tục
- Địa địa tự tướng vọng tưởng kế trước tương tục
- Tự vọng tưởng vô gián, vọng tưởng kế trước tương tục
- Hữu - vô phẩm ngoại đạo y vọng tưởng kế trước tương tục
- Tam thừa - nhất thừa vô gián vọng tưởng kế trước tương tục
.

* Tướng tức là nhị thừa chấp pháp tướng năm uẩn và trí tướng pháp vô ngã của thập địa đều là tướng.
* Duyên tức là nhơn duyên, cũng là chỗ chấp của nhị thừa và duyên tự giác liễu (duyên giác) vừa có chỗ nương đều là pháp duyên.
* Tánh vẫn là pháp.
Tánh - phi tánh, sanh - bất sanh, diệt - bất diệt, thừa - phi thừa, vi - vô vi đều là chỗ chấp đối đãi của thế gian và xuất thế gian.
• Địa địa tướng là : địa địa đều không thật pháp. Theo kinh Hoa Nghiêm, một địa tức đủ các địa, lại các địa mỗi mỗi vào một địa, như lưới châu của trời Đế Thích, nhiếp nhập lẫn nhau, không có tự tánh. Nếu có địa tướng sở chứng liền có tự tướng năng chứng , nên nói “tự vọng tưởng”
• Hữu - vô phẩm tức là trước nương nơi có và nhận tánh tham, sân, si. Về sau nói không, đều y thánh ngôn thành tăng thượng mạn, phá hoại Phật pháp, đồng với ngoại đạo.
• Tam thừa - nhất thừa cũng là thánh giáo đã nói, không biết phương tiện, nhơn lời nói nhận nghĩa rồi chấp cho là thật pháp, thảy đều thuộc về tương tục.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3) TƯƠNG TỤC SÂU KÍN TỰ HOẠI, HOẠI NGƯỜI

Lại nữa, Đại Huệ ! Đây cùng chúng sanh phàm ngu khác tự vọng tưởng tương tục. Bởi cái tương tục này mà phàm ngu vọng tưởng, như tằm nhả tơ làm kén. Do tơ vọng tưởng tự trói trói người, tưỡng có - không tương tục chấp trước
.

Nương trước suy rộng ra lại có vô lượng thứ chấp trước sâu kín .
Tự trói trói người , đây đều y ngôn thủ nghĩa vọng sanh tướng khác cho là bí mật. Tự hoại lại hoại chánh pháp làm chướng chúng sanh, rất đáng thương xót, đây là lý do Như Lai không ngớt thương xót.

4) CÁC PHÁP TỊCH TÍNH, XA LÌA TƯƠNG TỤC VÀ CHẲNG TƯƠNG TỤC.

Lại nữa, Đại Huệ ! Trong kia không tướng tương tục và chẳng tương tục, vì thấy tất cả pháp tịch tĩnh nên vọng tưởng chẳng sanh. Đại Bồ tát thấy tất cả pháp tịch tĩnh.
Lại nữa, Đại Huệ ! giác ngoại tánh - phi tánh (có - không) tự tâm hiện tướng không thật có, tùy thuận quán sát tự tâm hiện lượng, có - không, tất cả tánh không tướng thì thấy tương tục tịch tĩnh. Cho nên đối tất cả pháp không tướng tương tục và chẳng tương tục.
Lại nữa, Đại Huệ ! Trong kia không có trói hoặc mở, những người rơi vào giác tri không như thật thấy có trói, có mở. Vì cớ sao ? Vì đối tất cả pháp có - không có , không chúng sanh có thể được
.

Cũng không tướng tương tục và chẳng tương tục, lại vì người chấp chẳng tương tục mà nói.
Được tự giác đệ nhất nghĩa thấy tất cả pháp tịch tĩnh thì vọng tưởng chẳng sanh. Tương tục cùng chẳng tương tục thảy thành hý luận. Sở dĩ như thế, vì giác tất cả pháp bên ngoài không có tự tánh, do tự tâm hiện, như huyễn, như mộng đều không thật có.
Quán sát như thật, giác tự tâm lượng thì có - không đều dứt, thuần một tịch tĩnh, không tướng tương tục nên cũng không tướng chẳng tương tục. Nếu có trói mở đều rơi vào không giác tri như thật, chẳng phải pháp tự tướng chơn như. Tất cả pháp tự tướng chơn như thì có - không đều không chủ thể. Đây là tự giác đệ nhất nghĩa trong ngoài tương ưng.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Lại nữa, Đại Huệ ! kẻ ngu có ba thứ tương tục. Nghĩa là tham, sân, si và ái vị lai có ái hỷ chung. Do tương tục này nên có thú tương tục. Tương tục ấy là tiếp nối trong ngũ thú. Đại Huệ ! Tương tục dứt thì không có tướng tương tục cùng chẳng tương tục.
Lại nữa, Đại Huệ ! ba hòa hợp duyên tạo phương tiện chấp trước nên thức tương tục vô gián sanh. Phương tiện chấp trước thì có tương tục. Ba hòa hợp duyên dứt thì thấy ba giải thoát, tất cả tương tục chẳng sanh
.

Kẻ ngu có ba thứ tương tục. Nhị thừa nương tương tục này chứng chẳng tương tục, thành kiến chấp chẳng tương tục. Cho nên Như Lai đặc biệt gọi đó là “tương tục dứt thì không có tướng tương tục chẳng tương tục”.
Tham, sân, si là nhơn tương tục. Nhơn này từ vô minh, bất giác liền sanh kiến - tướng nên nhơn pháp rõ ràng, phiền não y đó mà khởi. Do cái ái ấy đến sanh đời sau cùng tham hỷ chung. Bởi cái tương tục này bèn thành ngũ thú (thiên, nhơn, địa ngục, ngã quỉ, súc sinh). Nhị thừa tuy đoạn nhơn tương tục, mà chẳng biết vô minh bất giác thảy đồng huyễn hóa, làm cho là có tướng nên đoạn, nên nói “chấp pháp”.
Ba hòa hợp duyên phương tiện chấp trước thức sanh là : Căn, trần, thức. Thức này tuy gồm có tám thức, song thủ nghĩa này thì chỉ thức chấp ngã thứ bảy. Thức này nhị thừa chỉ đoạn nhơn chấp ngoại ngã. Ngoại ngã này đoạn, không có người nhiếp thọ thì nhơn sanh trong tam giới tự đoạn. Bởi vô minh chưa đoạn nên kiến phần nội ngã vẫn còn.
Nội ngã tức là pháp ngã. Do có pháp ngã nên khi nhơn sanhđoạn, khởi tưởng chẳng tương tục, chẳng phải chơn giải thoát . Nếu thức thứ bảy, nội ngã, ngoại ngã đều đoạn thì thấy ba môn giải thoát của đại thừa, là tất cả tương tục chẳng sanh.
Nhị thừa khởi tưởng chẳng tương tục vẫn là nhơn nói thủ nghĩa. Cái tương tục này lại sâu kín, đến chứng giải thoát mới hay hằng đoạn.
Ba giải thoát là : Không, vô tướng, vô nguyện. Vô nguyện mới đặc biệt nhị ngã (nhơn ngã, pháp ngã) chơn lạc. Thế nên vào môn này thì tất cả pháp tịch tĩnh.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

5) TỔNG TỤNG
Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ rằng :

Chẳng chơn thật vọng tưởng ………….. Là nói tướng tương tục.
Nếu biết chơn thật kia ………………….. Lưới tương tục ắt đoạn.
Đối các tánh không biết…………………. Tùy ngôn thuyết nhiếp thọ
Thí như con tằm kia……………………… Nhả tơ mà tự trói
Kẻ ngu vọng tưởng trói………………….. Tương tục chẳng quan sát
.

Ý bài kệ nói chỉ nhập chơn thật đệ nhất nghĩa thì tương tục tự đoạn, không có tương tương tục cùng chẳng tương tục. Kẻ ngu hiện tại bị trói trong tương tục, bởi không khéo quán sát, y nơi ngôn thuyết thủ nghĩa vọng sanh tưởng khác. Muốn giải thoát trơi lại tự trói buộc, đều do chẳng được đệ nhất nghĩa tự giác vậy.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

CHỈ THÁNH ĐẾ KHÔNG SỰ, ĐỂ PHÁ VỌNG CHẤP
(có 6 phần)

1) ĐẠI HUỆ VẤN NẠN CÁC PHÁP ĐOẠN DIỆT
Đại Huệ bạch Phật : Như Thế Tôn đã nói “ Do các vọng tưởng kia vọng tưởng các pháp kia, chẳng phải các pháp có tự tánh, chỉ là tự tánh vọng tưởng thôi”. Thế Tôn ! Nếu chỉ là tự tánh vọng tưởng, chẳng phải tự tánh đối đãi, Thế tôn nói như thế đâu không mắc cái lỗi : Phiền não, thanh tịnh đều không có chăng ? Vì tất cả pháp do tự tánh vọng tưởng thảy đều không có ?


Tất cả các pháp do tự tâm hiện, chẳng phải có, chẳng phải không. Bởi mê tự tâm vọng khởi chấp trước có tự tánh các pháp. Như Lai Thế Tôn thường nói “Các pháp khong tự tánh, chỉ có tánh vọng tưởng”. Cho nên Đại Huệ nạn rằng “Nếu chỉ có tánh vọng tưởng mà không có tự tánh các pháp, thì các pháp nhiễm, tịnh đâu không hoàn toàn hoại”. Đây là nghi các pháp đoạn diệt. Chẳng biết các pháp do tự tâm hiện ra không có tự tánh. Kẻ ngu không biết, vọng tưởng thấy có. Vì khiến họ lìa vọng chấp nên nói thánh trí tự tánh không sự. Không, chẳng rơi vào có, mà có thánh trí sở tri , lại chẳng phải pháp hoại.

2) CHỈ CÁC PHÁP KHÔNG TÁNH, CHẲNG PHẢI KHÔNG TRI KIẾN THÁNH TRÍ.
Phật bảo Đại Huệ : Như thế, như thế, như ông đã nói. Đại Huệ ! Chẳng phải như kẻ ngu tánh tự tánh vọng tưởng chơn thực, tự tánh vọng tưởng này chẳng có tướng tánh, tự tánh. Song Đại Huệ ! Như thánh trí có tánh tự tánh, thánh tri thánh kiến, thánh huệ nhãn. Như thế , tánh tự tánh biết
.

Chấp nhận lời của Đại Huệ, chỉ có tánh vọng tưởng, không có tánh các pháp, mà chẳng phải đoạn diệt. Nghĩa là tất cả các pháp không có tánh nhất định là phiền não hay thanh tịnh. Cho nên nói “như thánh trí có tánh tự tánh, thánh tri thánh kiến, thánh huệ nhãn, như thế tánh tự tánh biết”. Sở dĩ thánh trí có tánh tự tánh là vì thánh tri thánh kiến, thánh huệ nhãn, nhất như thực tướng các pháp, trong ngoài tương ưng, không có cảnh giới riêng. Chẳng như kẻ ngu vọng sanh phân biệt, vọng có chỗ chấp.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3) VẤN NẠN: CÁC PHÁP CHẲNG THÔNG, THÁNH TRÍ RƠI VÀO CÓ
Có hai phần :

A) NGHI CHỖ BIẾT CỦA THÁNH TRÍ ĐỒNG VỌNG TƯỞNG HIỆN
Đại Huệ bạch Phật : Nếu như thánh dùng thánh tri, thánh kiến, thánh huệ nhãn, chẳng phải thiên nhãn, chẳng phải nhục nhãn, tánh tự tánh như thế biết, chẳng phải như vọng tưởng của ngu phu.
Thế Tôn ! Làm sao ngu phu lìa vọng tưởng ấy, vì chẳng giác việc thánh tánh? Thế Tôn ! Họ cũng chẳng phải điên đảo, chẳng phải không điên đảo. Vì cớ sao ? Vì họ chẳng giác thánh sự tánh tự tánh, vì chẳng thấy lìa tướng có - không
.

Chỗ biết của thánh trí chẳng phải như vọng tưởng. Nghĩa là chỗ biết của thánh trí chẳng như cảnh giới vọng tưởng. Đây nêu ra ngu phu chẳng lìa vọng tưởng. chẳng giác thánh tánh. Tuy cảnh giới chẳng đồng mà đồng một năng kiến, đồng một sở kiến, là năng sở của vọng tưởng muốn lìa, tức căn trần của thánh trí rành rõ. Đây là lý do của Đại Huệ vấn nạn vậy. Ý nói phàm phu ngu si hiện có vọng tưởng phân biệt, làm sao được lìa. Hiện có cảnh giới thánh trí mà không biết như thật thì không thể nói là giác. Song chỗ biết của thánh trí, tướng tánh tự tánh đồng với vọng tưởng hiện. Nên nói : Thế gian nói trâu, thánh nhơn cũng nói là trâu, thế gian nói ngựa, thánh nhơn cũng nói là ngựa, chỗ chấp tưởng chẳng đồng mà đồng một phổ thông (tên gọi). Cho nên nói “Họ chẳng phải điên đảo, chẳng phải không điên đảo”. Chẳng thấy lìa tướng có - không, đây tức là chẳng giác thánh sự. Nên nói “chẳng phải không điên đảo”.
Tướng tánh tự tánh này, một bên thấy lìa có - không, một bên chẳng thấy lìa có - không. Trọn không có hai pháp mà cảnh giới mỗi bên có khác. Do đây mà khởi nạn, cũng do đây mà rõ tông chỉ. Phật và Bồ tát cơ cảm hợp nhau, thật không có ý chỉ riêng.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Thế Tôn ! Thánh cũng chẳng như thế, thấy như việc vọng tưởng, vì chẳng lấy cảnh giới tự tướng làm cảnh giới.
Thế Tôn ! Kia cũng tướng tánh tự tánh vọng tưởng tự tánh như thế hiện, vì chẳng nói nhơn không nhơn, vì rơi vào cái thấy tánh tướng. Cảnh giới khác chẳng phải như kia v.v…như thế mắc cái lỗi vô cùng.
Thế Tôn ! Vì chẳng giác tướng tánh tự tánh.
Thế Tôn ! cũng chẳng phải tự tánh vọng tưởng nhơn tướng tánh tự tánh. Kia tại sao vọng tưởng chẳng phải vọng tưởng, như thật biết vọng tưởng ?


Lại nói thánh trí tuy chẳng cùng vọng tưởng đồng thấy, mà các pháp chưa từng chẳng cùng vọng tưởng đồng hiện.
Chẳng cùng vọng tưởng đồng thấy thì cảnh giới ấy chẳng lìa các pháp mà khác. Mà cùng vọng tưởng đồng hiện thì các pháp chẳng nhơn thánh trí mà không. Đồng một các pháp mà tại vọng tưởng chỉ muốn nói không, tại thánh trí chẳng rơi vào có.
Câu “Thánh trí cũng chẳng như thế thấy như việc vọng tưởng , vì chẳng lấy cảnh giới tự tướng làm cảnh giới”. Nghĩa là thánh trí giác tự tâm hiện, nên chẳng lấy tướng tự tâm hiện mà cho là cảnh giới thật. Song chẳng phải không tướng tánh tự tánh hiện ra đồng với tự tánh vọng tưởng hiện.
Chỉ thánh trí chẳng nói nhơn cùng không nhơn, rơi vào cái thấy tánh tướng. Chẳng phải như cảnh giới riêng khác của ngu phu, tự sanh cái lỗi vô cùng. Bởi ngu phu chẳng giác tướng tánh tự tánh do tự tâm hiện ra. Nên biết tướng tánh tự tánh này, chỗ biết của thánh trí đồng với vọng tưởng hiện, mà không nên bảo nhơn vọng tưởng mà có. Cho nên nói “cũng chẳng phải vọng tưởng nhơn tướng tánh tự tánh mà có”.
Tướng tánh tự tánh đã chẳng nhơn vọng tưởng mà có thì chỗ chấp của vọng tưởng tức chẳng phải vọng tưởng chấp, cũng như vọng tưởng chấp.
Tóm lại, đồng một các pháp mà chỗ biết của thánh trí là chỗ chấp của vọng tưởng. (Phần sau ngăn vọng nói không mà chỗ hành của thánh trí lại rơi vào thấy có)


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
battinh
Điều Hành Viên
Bài viết: 6106
Ngày: 14/11/11 07:58
Giới tính: Nam
Phật tử: Tại gia
Đến từ: Tứ Đại
Được cảm ơn: 3 time

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi battinh »

Xin lỗi đạo hữu binh.

Cho phép tôi được hỏi một câu, trong kinh Lăng già có đoạn nào nói và giải thích về bốn hay năm loại thiền không. Topic này có 24 trang, tôi không có thì giờ đọc hết, nên mạo muội nhờ đạo hữu chỉ cho biết nó nằm ở trang nào trong nầy (nếu có).

Kính.


Hình ảnh

Làm, mà không thấy mình làm, tạm gọi tùy duyên mà làm (vô tác, Kinh Kim Cang)
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Bing [Bot]3 khách