Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Nghiên cứu học hỏi tư tưởng Phật giáo bắc tông: Câu xá, thành thật, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Du già, pháp tướng tông, trừ hệ bát nhã, thiền và chuyên mục đã có.

Điều hành viên: phuoctuong

Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

NHƯ LAI TÀNG (TÀNG THỨC) VỐN KHÔNG CẤU NHIỄM.
Có 5 phần

1 - THƯA HỎI

Khi ấy Bồ tát Đại Huệ bạch Phật : Thế Tôn ! Cúi xin Thế Tôn lại vì con nói ấm, giới, nhập sanh diệt kia không có ngã thì cái gì sanh, cái gì diệt ? Kẻ ngu phu y nơi sanh diệt chẳng giác khổ tận, chẳng biết Niết bàn.
Phật bảo : Lành thay! Lành thay! Lắng nghe! Lắng nghe! Sẽ vì ông nói.
Đại Huệ bạch Phật : Xin vâng thọ giáo
.

Nhơn đoạn trước nói Như Lai đã được “Vô gián trí thường” , đoạn này lại lấy sanh diệt thưa thỉnh. Bởi vì chúng sanh chẳng đạt chơn trí thường trụ, vọng thấy sanh diệt thật có lý do.
Tánh ấm, giới, nhập vốn không tác giả mà sanh diệt rõ ràng. Bởi do chẳng giác Như Lai tàng tánh toàn thể đổi thành tàng thức, cùng bảy thức thân, chung khởi các căn thức tùy theo ngoại cảnh.
Đã có sanh diệt, tuy không có ngã mà có tàng thức, bảy thức chẳng dứt. Đây là chỗ nhị thừa không thể biết. Như Lai dạy bảo Bồ tát rõ ràng nên phải xét kỹ.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

2 - NHƯ LAI TÀNG THANH TỊNH KHÔNG NHƠ

Phật bảo Đại Huệ ! Như Lai tàng là nhơn thiện - bất thiện, hay khắp khởi tạo tất cả thú (cõi) sanh, thí như con hát biến hiện các thú, lìa ngã - ngã sở. Vì chẳng giác kia nên ba duyên hòa hợp phương tiện mà sanh. Ngoại đạo chẳng giác chấp là tác giả. Vì từ vô thỉ ác tập hư ngụy huân tập nên gọi là tàng thức. Sanh vô minh trụ địa cùng hất thức chung, như thân biển sóng , sanh mãi chẳng dứt. Lìa lỗi vô thường, lìa ngã luận thì tự tánh không nhơ, cứu cánh thanh tịnh
.

Như Lai tàng là nhơn thiện - bất thiện, đây là yếu chỉ bí mật của ba đời Như Lai, chính cùng vọng tưởng không tánh lẫn nhau phát minh. Như Lai tàng đã là nhơn thiện - bất thiện thì Như Lai tàng cũng không có tánh, như con hát đóng các vai trò mà không có ngã và ngã sở.
Nơi đây nếu giác thì tánh của không tánh vì chiếu liễu nên thất thức chẳng sanh, đã có trí dụng thảy đều bình đẳng.
Nơi đây nếu chẳng giác thì Như Lai tàng đổi làm tàng thức, nên nói “trụ địa vô minh”, vì vô minh bất giác nên vọng động thành nghiệp, nghĩa là sanh kiến phần là thất thức thân. Thất thức thân này tất cả phàm ngu, ngoại đạo đều chấp làm ngã thể. Cho nên có thường kiến, do phi thường chấp là thường, thảy rơi vào vô thường. Nếu lìa vô thường ngã kiến thì tự tánh không nhơ, cứu cánh thanh tịnh.
Ba duyên là căn, trần, thức. Thức này gồm chỉ các thức do thất thức dấy khởi đều thuộc kiến phần. Căn trần thuộc tướng phần, cũng chẳng rời kiến phần mà có hiện ra.
Cho nên biết, ba cõi trong ngoài thành nơi thất thức, thảy do bất giác Như Lai tàng.
Bởi tàng tánh không tánh nên mới tùy duyên. Tùy duyên nhiễm tịnh - bất tịnh nên thiện - bất thiện sanh. Chẳng phải thật có chủng tử, mà tất cả chủng tử đều y đó, nên nói từ vô thỉ tập khí hư ngụy.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3 - PHÀM NGU Y THỨC GIẢI THOÁT, CHẲNG THẤY NHƯ LAI TÀNG TÁNH

Kỳ dư các thức có sanh có diệt. Ý, ý thức v.v… nệm niệm có thất thức, nhơn vọng tưởng chẳng thật chấp các cảnh giới, các thứ hình xứ, chấp trước danh tướng. Chẳng giác sắc tướng tự tâm hiện ra, chẳng giác khổ - lạc, chẳng đến giải thoát, danh tướng các thứ trói buộc, tham sanh rồi sanh tham, hoặc nhơn hoặc phan duyên, các thọ căn kia diệt thứ lớp chẳng sanh. Còn tự tâm vọng tưởng chẳng biết khổ vui, vào diệt thọ tưởng chánh thọ, đệ tử thiền
.

Các thức chỉ cho thất chủng thức. Mê Như Lai tàng chuyển làm thức tàng mà có thất thức thân, một lúc các thức chóng hiện.
Niệm niệm có thất thức là, các thức đều có thất thức chủ trì. Do đó vọng tưởng chẳng thật nhảy vọt chuyển sanh nhiếp thủ cảnh giới, chẳng rõ danh tướng trước mắt do tự tâm hiện. Lại y danh tướng sanh thọ khổ - lạc, tham sanh sanh tham triền miên chẳng dứt. Do thọ làm nhơn, danh tướng làm duyên. Diệt thọ khổ - lạc thì danh tướng chẳng sanh. Tất cả vọng tưởng tạm được dùng nghĩ thành diệt tận định và tứ thiền định. Chẳng biết thọ vốn vô ngã thì sanh thọ, diệt thọ đều là hư vọng.
Đây là phàm phu nhàm lìa sanh tử mà không có quán sát kỹ khởi diệt tận tưởng.

Người khéo tu hành chơn đế giải thoát, khởi tưởng giải thoát, chẳng lìa chẳng chuyển tàng thức thành Như Lai tàng thì thất thức lưu chuyển chẳng diệt.
Vì cớ sao ? Vì nhơn kia phan duyên các thức sanh. Chẳng phải cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác tu hành. Chẳng giác vô ngã thì tự tướng, cộng tướng nhiếp thọ sanh ấm, giới, nhập. Thấy Như Lai tàng thì ngã pháp, ba tự tánh, nhơn pháp vô ngã ắt diệt
.

Nhị thừa được chơn đế giải thoát riêng nơi tứ thiền. Song do chẳng chuyển tàng thức làm Như Lai tàng thì thất thức chẳng diệt. Nghĩa là thất thức cùng tàng thức làm nhơn , lại duyên tàng thức mà được sanh trụ, nên nói “y kia trở lại duyên kia”
Nhị thừa chẳng giác tự tâm hiện ra, chẳng biết cảnh hiện duy tâm, không có pháp tánh. Chỉ nơi ấm, giới, nhập phát minh vô ngã, lìa được nhiếp thủ vẫn còn pháp tự tướng, cộng tướng của ấm, giới, nhập. Thức này cần chuyển tàng thức làm Như Lai tàng mới được danh, tướng, vọng tưởng, đương thể toàn không, chánh trí, như như cũng là nói suông, đến đây mới gọi là nhơn - pháp vô ngã.
Chẳng giác vô ngã, chính là nói chẳng giác pháp vô ngã. Nhị thừa chỉ chứng nhơn không mà chẳng chứng pháp không. Vì chẳng đạt Như Lai tàng tánh thì chẳng lìa tàng thức. Chẳng lìa tàng thức thì thất thức ắt chẳng diệt. Thất thức chẳng diệt mà nói nhơn không, chỉ không cái ngã trong tam giới, mà cái ngã tập khí của bát thức vẫn còn, chẳng giác. Chỉ quán ấm, giới, nhập không chứng được chơn đế, chẳng sanh ái thủ, đoạn được nhơn tam giới, phần ngoại ngã thất thức diệt mà phần nội ngã chẳng diệt, nên nói “Chẳng giác vô ngã”.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

4 - NHƯ LAI TÀNG TỰ GIÁC CHÓNG LÌA SANH DIỆT, CHẲNG PHẢI NHỊ THỪA .

Địa thứ lớp tương tục chuyển tiến, các kiến chấp ngoại đạo không thể làm khuynh động, ấy gọi là trụ Bồ tát Bất động địa(Bát địa), được mười thứ tam muội đạo môn lạc, do tam muội giác gia trì, quán sát Phật pháp bất tư nghì, tự nguyện chẳng thọ tam muội môn lạc và thật tế, hướng đến tự giác thánh thú, chẳng chung chỗ tu hành với tất ca Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo, được mười chủng tánh đạo hiền thánh và thân trý ý sanh, lìa tam muội hạnh. Thế nên Đại Huệ ! Đại Bồ tát muốn cầu thắng tiến phải sạch Như Lai tàng và tên thức tàng
.

Nương trên nói thấy Như Lai tàng, diệt thất thức thân thì hay tùy địa thứ lớp chuyển tiến, chẳng bị ngoại đạo làm diêu động. Đây chính là đệ bát Bất Động địa, nên nói “trước bất động địa vừa xả thức”.
Xả tàng thức thì Chánh thọ hiện tiền , do được Như Lai tự giác làm giác gia trì, phát bi nguyện, nên hay chẳng thọ tam muội môn lạc và trụ thật tế. Thật tế là chơn như thật tế. Trụ nơi chơn như thật tế thì thấy không Phật có thể thành, không chúng sanh để độ, nên chẳng trụ thực tế, y trí khởi dụng. Nên nói “Tự giác thánh thú chẳng chung chỗ tu hành với nhị thừa và ngoại đạo”.
Mười hiền thánh chủng tánh tức là Thập địa chủng tánh. Nghĩa là từ Thập địa đến Phật địa được ba thứ thân, lìa tam muội viên mãn bồ đề. Cho nên người muốn được thắng tiến phải khéo rành nơi Như Lai tàng và tên tàng thức. Bởi vì Như Lai tàng và thức tàng một thể hai tên, mê ngộ khác vậy.
Vì lẽ Như Lai tàng vốn tự không tánh, tánh không tánh ấy rất chơn rất tịch. Tột chỗ chơn tịch liền là vô minh, vô minh vô thủy bất giác vọng kiến, kiến vọng vốn là không, chẳng lìa bản tế. Nếu hay giác chỗ này thì an trụ tâm hải, lại không riêng có.
Thân tức pháp thân,
Trí tức báo thân
Ý sanh tức là hóa thân.
Chuyển bát thức được tên pháp thân, chuyển thất thức được tên báo thân, chuyển đệ lục ý thức được tên hóa thân. Trong khoảng sát na , mê ngộ đã chuyển, nên nói “chỉ chuyển tên kia, không có thực tánh”.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Đại Huệ ! Nếu không thức tàng gọi là Như Lai tàng, ắt không sanh diệt. Đại Huệ ! Song các phàm thánh thảy có sanh diệt. Người tu hành tự giác thánh thú hiện trụ pháp lạc, chẳng bỏ phương tiện.
Đại Huệ ! Như Lai tàng thức tàng này, tất cả Thanh văn, Duyên giác tâm tưởng được thấy, tuy tự tánh thanh tịnh mà bị khách trần che đậy, vẫn thấy chẳng tịnh, chẳng phải chư Như Lai.
Đại Huệ ! Như Lai ấy cảnh giới hiện tiền, như trong lòng bàn tay xem trái “a ma lặc”.


Đây nói thấy Như Lai tàng là trừ sạch hiện lưu, tuy cũng chẳng bỏ phương tiện mà chẳng đồng với nhị thừa. Mê Như Lai tàng mà làm thức tàng thì toàn thể sanh diệt. Như thật biết thức tàng tức Như Lai tàng thì sanh diệt chóng lìa. Mà các phàm thánh thảy có sanh diệt, nên người tu hành thấy tự giác trí vẫn chẳng bỏ pháp lạc phương tiện. Nên nói “biết rõ sanh là tánh chẳng sanh, làm sao bị sanh diệt lưu chuyển ?”. Như Lai do kia sức chưa đầy đủ nên có phương tiện. Phương tiện này chẳng phải nói Như Lai tự tánh vẫn có bất tịnh. Như nhị thừa tâm tưởng thấy được, tuy biết tự tánh thanh tịnh mà do khách trần che đậy, vẫn thấy bất tịnh, có được tam muội pháp lạc đều thành thật pháp. Chẳng bằng người tự giác tu hành thấy rõ tự tánh, chỉ dùng phương tiện chóng trừ hiện lưu. Cho nên biết , thấy tánh không thể chẳng rõ. Nên Như Lai chính thấy cảnh giới hiện tiền chẳng phải một - chẳng phải khác, như xem trái “a ma lặc” trong lòng bàn tay, lại không còn nghi ngại.

Đại Huệ ! Ta nơi nghĩa này dùng thần lực dựng lập khiến phu nhơn Thắng Mang và chư Bồ tát trí sáng đầy đủ v.v… tuyên dương diễn nói Như Lai tàng và tên thức tàng, thất thức chung sanh. Thanh văn chấp trước thấy nhơn pháp vô ngã, cho nên phu nhơn Thắng Mang nương oai thần của Phật, nói cảnh giới Như Lai chẳng phải cảnh giới Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo.
Như Lai tàng và thức tàng chỉ là cảnh giới Phật và những Bồ tát trí huệ sắc bén y nơi nghĩa. Thế nên , ông và các vị đại Bồ tát đối với Như Lai tàng thức tàng phải siêng tu học, chớ có chỉ nghe hiểu, khởi tưởng biết đủ
.

Như Lai tàng tên thức tàng cùng thất thức chung, đây chẳng phải cảnh giới nhị thừa. Bởi vì nhị thừa chẳng tin thứ thứ tám tức Như Lai tàng. Cho nên đối với ngã thấy vô ngã, thường thấy vô thường, ấy là tưởng đảo. Vì trừ cái tưởng này nên nói thức tàng tức Như Lai tàng, khiến biết tâm, ý, ý thức đều không tự tánh, thấy pháp vô ngã, được cái chơn ngã, đây là cảnh giới chư Phật. Trừ phu nhơn Thắng Mang và các vị Bồ tát trí bén, không có người hay biết được, cho nên Phật răn Bồ tát chớ khởi tưởng biết đủ.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

5 - TỔNG TỤNG

Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ :

Như Lai tàng sâu kín……………………. Mà cùng thất thức chung
Hai thứ nhiếp thọ sanh………………….. Người trí ắt xa lìa.
Như gương tượng hiện tâm……………. Tập khí vô thủy huân
Người như thật quán sát………………… Các sự thảy vô sự
Như ngu thấy chỉ trăng………………….. Xem tay chẳng thấy trăng
Người chấp trước văn tự ……………….. Chẳng thấy ta chơn thật.
Tâm là con hát giỏi………………………. Ý như đánh đàn hay
Năm thức là bè bạn……………………… Vọng tưởng chúng xem hát.


Kệ nói Như Lai tàng sâu kín mà lược nói thức tàng. Nghĩa là tức thức tức tánh, chơn như vô minh an trụ sâu kín. Tuy có thất thức ngã vọng thấy tự - tha, như Gương không tâm mà hiện các hình tượng, dụ vô minh vọng tập tùy duyên chóng hiện, như thật mà quán trọn không việc ấy.
Người trí liễu đạt đương thể xa lìa, kẻ ngu xem các ngón tay, chẳng thấy chơn thật, đây là lý do phân mê - giác vậy.
Bát thức không tánh, thọ huân tùy duyên biến hiện, nên như con hát , thất ý nhơn trong duyên ngoài, nên như người đánh đàn, năm thức góp trần nên như bạn bè, lục thức phân biệt như chúng xem hát. Thảy do vọng hiện chẳng phải có sự thật.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

TÁM THỨC - NĂM PHÁP - BA TỰ TÁNH - HAI VÔ NGÃ, CỨU CÁNH ĐẠI THỪA THÀNH ĐỆ NHẤT NGHĨA.

Có hai phần

I - NĂM PHÁP CHUYỂN BIẾN
Có 3 phần

1) BÀY TƯỚNG NĂM PHÁP
Khi ấy Bồ tát Đại Huệ bạch Phật :
Thế Tôn ! Cúi xin vì nói tướng năm pháp, tự tánh thức, hai thứ vô ngã, phân biệt cùng tột, con và các đại Bồ tát khác đối tất cả địa thứ lớp tương tục, phân biệt pháp này vào tất cả Phật pháp cho đến Như Lai tự giác địa ?
Phật bảo Đại Huệ :
Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo suy nghĩ đó.
Đại Huệ bạch Phật :
Xin vâng thọ giáo.
Phật bảo Đại Huệ :
Năm pháp, tự tánh thức, hai thứ vô ngã phân biệt rõ tướng, nghĩa là : Danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như. Nếu người tu hành tu vào Như Lai tự giác thánh thú, lìa kiến chấp đoạn thường, có không v.v… Hiện pháp lạc chánh thọ trụ hiện ở trước.
Đại Huệ! Chẳng giác năm pháp, tự tánh thức, hai vô ngã, tự tâm hiện ngoại tánh, là phàm phu vọng tưởng chẳng phải chư thánh hiền
.

Đây hỏi năm pháp tự tánh thức, hai vô ngã cứu cánh sai biệt. Hỏi chung bốn thứ, đáp riêng bày năm pháp , trên tuy năm pháp rõ ràng, mà ý thì ba thứ đều vào năm pháp.
Giác danh, tướng, vọng tưởng không có tự tánh, liền hay phát minh chánh trí, chứng được như như.
Người tu hành này bởi vào tự giác thánh thú, chẳng thấy ngoài tâm có pháp, liền khi ấy xa lìa các kiến chấp đoạn thường, có không, hiện pháp lạc trụ, là cảnh giới thánh hiền, chẳng phải phàm phu có phần. Nghĩa là phàm phu không tự giác thánh thú, cho nên chẳng giác năm pháp, tự tánh thức, hai vô ngã thảy duy tâm lượng, mà ở ngoài tâm riêng thấy pháp tướng, tuychanhs trí, như như đều là vọng hiện.

GHI CHÚ :
5 pháp là : Tướng, danh, vọng tưởng, chánh trí, như như.
3 tự tánh là : vọng tưởng tự tánh, duyên khởi tự tánh, Viên thành thật tánh.
2 vô ngã là : nhơn vô ngã, pháp vô ngã.
8 thức là : (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý) thức, mạt na thức, Alaya thức.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

2 - DANH, TƯỚNG THẢY DO VỌNG TƯỞNG.

Đại Huệ bạch Phật :
Thế Tôn! Thế nào là ngu phu vọng tưởng sanh, chẳng phải như thánh hiền ?
Phật bảo Đại Huệ :
Ngu phu chấp trước tục số danh tướng, tùy tâm trôi dạt. Trôi dạt rồi các thức tướng mạo, rơi vào kiến chấp ngã - ngã sở hy vọng. Chấp trước sắc đẹp, chấp trước rồi không biết che ngại nên sanh nhiễm trước. Nhiễm trước rồi tham sân si sanh nghiệp chứa nhóm. Chứa nhóm rồi vọng tưởng tự trói như tằm làm kén, rơi trong biển sanh tử, đồng hoang các cõi, như bánh xe nước. Bởi vì ngu si không thể biết tự tánh như huyễn, như ngựa nắng, như trăng đáy nước, lìa ngã - ngã sở, khởi tất cả vọng tưởng chẳng thật, lìa năng tướng, sở tướng và sanh trụ diệt, từ tự tâm vọng tưởng sanh, chẳng phải tự tại, thời tiết, vi trần, thắng diệu sanh. Phàm ngu si theo danh, tướng trôi.


Tất cả danh, tướng từ vọng tưởng sanh chẳng phải có nhơn khác, để rõ ngoại đạo chấp nhơn khác đều do chẳng đạt danh tướng không có tự tánh, chính nơi ấy vô sanh. Tất cả thế gian nhơn danh sanh tướng, tướng sanh vọng tưởng, vọng tưởng không biết theo tướng nhiễm trước, khởi tham sân si, kết các nghiệp, như tằm làm kén, lưu chuyển sanh tử như bánh xe nước. Chẳng biết tất cả danh tướng đều không tự tánh như ngựa nắng, như trăng đáy nước, không có ngã - ngã sở, chỉ do vọng tưởng chẳng thật lập bày, chẳng phải có nhơn khác. Nói có nhơn khác như Tự Tại, thời tiết v.v…Thảy do phàm phu ngu si chẳng đạt danh tướng, theo danh tướng mà lưu chuyển.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3 - CHUYỂN VỌNG TƯỞNG TỨC TRÍ, NHƯ.

Đại Huệ! Tướng kia là : chỗ soi của nhãn thức, gọi là sắc. Chỗ soi của nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý gọi là thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là tướng.
Đại Huệ! Vọng tưởng kia lập bày các danh, hiển hiện các tướng. Như đây chẳng khác tên voi, ngựa, xe, bộ hành, nam, nữ v.v… ấy gọi là vọng tưởng.
Đại Huệ! Chánh trí là biết danh tướng kia không thể được, ví như khách đi qua, các thứ chẳng sanh, chẳng đoạn, chẳng thường, chẳng rơi vào chỗ ngoại đạo, Thanh văn, Duyên giác
.

Đây chỉ rõ vọng tưởng lập bày, khiến đạt danh - tướng chẳng thật, liền chuyển vọng tưởng mà làm chánh trí.
Do chỗ sai của căn thức khởi ra các tướng : sắc, thanh v.v…Lại do vọng tưởng phân biệt lập bày các danh, các tướng càng bày hiện. Nếu chính các thức chiếu soi chưa dấy phân biệt thì không có chỗ hiển bày. Nơi đây tỏ ngộ mới biết tất cả danh tướng trọn không thể được. Vả lại chính hiển bày vọng tưởng nơi danh - tướng, mà chánh trí liễu đạt danh - tướng, không có thể khác mà có dụng khác, nên nói “có phiền não thì không có trí huệ, có trí huệ tức không phiền não”.
Chánh trí hiện tiền thì phân biệt chẳng sanh, chẳng phải thường, chẳng phải đoạn. Đây không phải cảnh giới nhị thừa huống là ngoại đạo ?


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

Lại nữa Đại Huệ! Đại Bồ tát do chánh trí này chẳng lập danh tướng, chẳng phải không lập danh tướng, lìa bỏ hai bên kiến chấp dựng lập (có) và phỉ báng (không), biết danh tướng chẳng sanh, ấy gọi là như như.
Đại Huệ! Đại Bồ tát trụ như như ấy được cảnh giới không thật có, nên được “Bồ tát Hoan hỷ địa”. Được Bồ tát Hoan hỷ địa rồi , hằng lìa tất cả cõi ác ngoại đạo, chính trụ chỗ xuất thế gian, pháp tướng thành thục, phân biệt tất cả pháp huyễn v.v… tự giác pháp tướng rành rõ, lìa các vọng tưởng, thấy tánh tướng khác, thứ lớp đến Pháp vân địa (thập địa). Ở trong khoảng giữa đó do sức tam muội tự tại, thần thông mở tròn, được Như Lai địa rồi , các thứ biến hóa tròn chiếu thị hiện thành thục chúng sanh, như trăng đáy nước , khéo cùng tột đầy đủ mười câu vô tận, vì các thứ ý hiểu của chúng sinh phân biệt nói pháp, pháp thân lìa ý làm ra, ấy gọi là Bồ tát nhập như như mà được
.

Đây tức danh tướng mà được như như. Chẳng lập danh tướng, chẳng phải không lập danh tướng, lìa kiến chấp có - không, chính được pháp thể. Cho nên tức nơi danh tướng mà được như như. Pháp vị như như tức là cảnh giới không thực có Hoan hỷ địa. Đến địa này rồi hằng lìa tất cả ác kiến gọi là xuất thế gian. Do đó chơn như pháp tướng thứ lớp thành thục. Tức là hay thuận pháp như huyễn dùng trí tự giác khởi các pháp hạnh. Lìa vọng tưởng đã thấy các pháp tướng khác, nghĩa là tất cả pháp chơn như thực tướng, không có một - khác. Thấy một - khác là vọng vậy.
Bồ tát tức vọng tức chơn nên hay dùng tướng không tướng dựng lập các địa, tùy sức tam muội, thần thông tự tại, cứu cánh Phật địa, biến hóa chiếu diệu, đối hiện sắc thân như trăng đáy nước, đầy đủ mười câu vô tận, vì các chúng sanh phân biệt diễn nói, đây gọi là pháp thân lìa ý tạo ra, nhậm vận như như.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

TẤT CẢ PHÁP THẢY VÀO NĂM PHÁP
Có 4 phần

1 - BA TỰ TÁNH VÀO NĂM PHÁP

Bồ tát Đại Huệ bạch Phật :
Thế Tôn! Tại sao Thế Tôn nói ba thứ tự tánh vào năm pháp, là mỗi cái có tự tánh riêng ?
Phật bảo Đại Huệ :
Ba thứ tự tánh, tám thức, hai thứ vô ngã, thảy vào năm pháp.
Đại Huệ! Danh và tướng kia là vọng tưởng tự tánh.
Đại Huệ! Nếu y vọng tưởng kia sanh tâm và tâm pháp (tâm sở), gọi là đồng thời sanh, như mặt nhật và ánh sáng đồng, các thứ tướng mõi thứ riêng phân biệt giữ gìn, ấy gọi là duyên khởi tự tánh.
Đại Huệ! Chánh trí như như không thể hoại nên gọi là Viên Thành tự tánh
.

Đây nói ba thứ tự tánh, tám thức, hai thứ vô ngã thảy vào năm pháp. Trước tiên nói ba tự tánh vào năm pháp.
Danh tướng không tánh, vọng chấp mà thành, cho nên nhiếp danh tướng thảy là Biến kế chấp.
Y danh tướng vọng chấp mà khởi phân biệt, tâm tâm số pháp một lúc chóng hiện không có trước sau, như mặt nhật và ánh sáng gọi là duyên khởi tự tánh.
Nếu đạt vọng chấp danh tướng vốn không tự tánh, tâm tâm số pháp liền đó tiêu sạch, tiêu sạch tâm theo tướng thì trí chiếu sáng ngời, liễu đạt tướng không tánh, chơn như hiển bày, nên gọi là Viên Thành Thật tánh

2 - TÁM THỨC, HAI VÔ NGÃ VÀO NĂM PHÁP.

Lại nữa, Đại Huệ! Tự tâm hiện vọng tưởng có tám thứ phân biệt. Nghĩa là tướng thức : Tàng, ý, ý thức, và năm thức thân. Tướng chẳng thật vì vọng tưởng.
Ngã và ngã sở hai cái nhiếp thọ diệt thì hai vô ngã sanh.
Thế nên, Đại Huệ! Nam pháp này Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Như Lai tự giác thánh trí, các địa tương ục thứ lớp, tất cả Phật pháp thảy vào trong ấy.


Đây nói tám thức, hai vô ngã vào năm pháp. Chẳng giác tự tâm hiện ra, tám thứ thức tướng một lúc chóng sanh, mỗi cái có tự loại, lập bày vọng tưởng, năng vọng, sở vọng, nhơn pháp rõ ràng. Nếu giác tự tâm hiện ra thì kiến phần, tướng phần như băng tiêu dung, liền chuyển tâm, ý, ý thức làm tứ trí, năng thủ - sở thủ không, trí và tịch lẫn nhau hiển hiện. Cho nên nhị thừa, Bồ tát, Như Lai đã có trí địa tự giác thảy vào năm pháp.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: Một bài kệ trong kinh Lăng Già

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

3 - TẤT CẢ PHẬT PHÁP VÀO NĂM PHÁP.

Lại nữa , Đại Huệ! Năm pháp là danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, như như.
Đại Huệ! Nếu ở chỗ hình tướng, sắc tượng v.v…hiện, gọi là tướng. Nếu kia có tướng như thế gọi là cái bình, cái chai v.v… tức cái này không phải cái khác, ấy nói là danh. Lập bày các danh , hiển hiện các tướng bình, lọ v.v… Nơi tâm pháp ấy gọi là vọng tưởng. Danh kia, tướng kia cứu cánh không thể được, trước sau giác không, nơi các pháp không triển chuyển, lìa vọng tưởng chẳng thật, ấy gọi là như như. Chơn thật quyết định cứu cánh tự tánh không thể được, kia là như tướng, ta tức chư Phật tùy thuận nhập xứ, khắp vì chúng sanh như thật diễn nói, lập bày, hiển hiện, nơi kia tùy nhập chánh giác chẳng đoạn chẳng thường, vọng tưởng chẳng khởi, tùy thuận tướng tự giác thánh thú, mà tất cả ngoại đạo , Thanh văn, Duyên giác không đạt được, ấy gọi là chánh trí.
Đại Huệ! Ấy gọi là năm pháp, ba tự tánh, tám thức, hai vô ngã, tất cả Phật pháp thảy vào trong ấy. Thế nên Đại Huệ! Phải tự phương tiện học, cũng dạy người khác, chớ theo nơi nào
.

Đây nói tất cả Phật pháp đều vào năm pháp. Giải thích lại năm pháp, chỉ người tùy thuận chánh trí, như như. Thứ lớp chứng được nên gọi là phương tiện. Xét nơi, nhơn tướng được danh, theo danh hiển tướng, lập bày vọng tưởng, thảy hiển tất cả danh tướng đều không thể được.
Trước sau không giác, đối trong các pháp không có triển chuyển, chỉ lìa vọng tưởng tức là như như. Đây là tất cả pháp tự tướng chơn như, thập địa Bồ tát chỗ chứng có cạn sâu, chẳng phải hàng nhị thừa, nên nói “Ta và chư Phật tùy thuận nhập xứ”.
Vô phân biệt trí duyên chơn như cảnh, nếu duyên các duyên khác thuộc về hậu đắc trí. Song hai trí : thể một mà dụng khác, liễu tục cũng do chứng chơn, nên hai trí đều do chơn như bày hiện. Tùy thuận hai trí chứng đã chơn như được vào chánh giác, đến chỗ cứu cánh phi thường - phi đoạn, hiện tha thọ dụng thân độ và biến hóa thân độ, như thật diễn nói, phá các lưới nghi, nên nói “tất cả Phật pháp thảy vào năm pháp, do tự chứng biết, chẳng từ nơi khác được”.

4 - TỔNG TỤNG

Khi ấy Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói kệ :

Năm pháp ba tự tánh……………………. Và cùng với tám thức
Hai thứ không có ngã……………………. Thảy nhiếp thuộc Đại thừa
Danh tướng hư vọng tưởng…………….. Tự tánh hai thứ tướng
Chánh trí và như như …………………… Ấy tức là thành tướng
.

Kệ tụng năm pháp, tự tánh, tám thức, vô ngã thảy nhiếp thuộc đại thừa. Đại thừa là tự tâm hiện lượng. Mê tự tâm lượng thì danh tướng lăng xăng, trí như lẫn hiển, y tha cho là riêng có, kế chấp ắt đợi viên thành.
Muốn phá vô minh của tám thức thì sở tri của hai ngã phải tiêu dung, đến nơi giác còn khởi quán gì ? Mộng qua sông nhớ lại lặng câm, phải tự dứt bặt vậy.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.1 khách