ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Thảo luận giáo lý và phương pháp hành trì pháp môn niệm Phật.

Điều hành viên: binh, battinh

Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

TRẦN TOẢN
Ông Trần Toản tự Định Quán , ngườI Giang Nam . Đỗ tiến sĩ triều Minh phong chức Hình Khoa, vì lờI thẳng mà bị cách chức. Ông ở nhà sớm tốI chuyên tâm niệm Phật.
Một hôm có ngườI khách đến nhà quở ông rằng “ Ngài không nghe ĐạI Giám thiền sư luận duy tâm Tịnh-Độ ư?Sao lai nhà uế, thích Tịnh chi vậy?”
Ông đáp “ Duy Tâm Tịnh-Độ phát ra nơi miệng ĐạI Giám, nhưng không phảI bắt đầu từ ĐạI Giám. Tự tâm tác Phật , tự tâm thị Phật. Đức Như Lai vốn đã nói trước lâu rồI. Xét kỹ nơi lờI ĐạI Giám là e rằng ngườI ta dùng tâm bất tịnh mà cầu cõi thanh tịnh chớ chẳng phảI nói thế giớI không có uế cùng Tịnh. Luận về sự vui nơi Cực-Lạc , không riêng đất vàng, cây báu hoa đẹp, đền xinh. Không phảI chỉ là những sự : chim hót pháp màu, gió reo nhạc điệu, mà ta còn được chư đạI Bồ-Tát Thánh Chúng câu hộI, ở trong vô lượng quang minh của Phật , sống lâu vô số kiếp, chứng vô sanh nhẫn ,thành vô thượng Bồ-Đề , tế độ vô biên chúng sanh . Đấy mớI chính thật là đáng vui thích.
Khách dùng môn thiền của khách, thích cõi uế trược. Còn tôi dùng môn thiền của tôi, thích cõi thanh tịnh. Nơi thiền, không khách, không tôi . Noqi thích không uế, không Tịnh . Khách không có lý lẽ gì mà quở tôi đặng”.
Năm Long Khánh ông được phục chức LạI Khoa. Đến năm Vạn Lịch thứ 16, tháng 7, ông nằm bịnh, không ngớt niệm Phật. ThờI ấy có lệ đến tháng nóng nực các quan tam phẩm trở lên, mỗI ngày triều đình có cấp nước đá . Hôm ấy để khốI nước đá bên giường ông nằm. MọI ngườI thấy trong khốI nước đá hiện ra tòa tháp bảy từng , chung quanh có lan can, trên có phan cái , các cửa treo linh ngọc . KhốI nước đá tan lần, tòa tháp cung nhỏ lần theo. Giây lát sau lúc ông tắt hơi thờI bóng tháp cũng biến mất. NgườI Kinh Đô truyền nhau , cho là sự lạ ít có.
Trích bộ: Minh Sủ
Lạc Ban Văn LoạI
Đàm Uế.


NGHIÊM TRỪNG
Ông Nghiêm Trừng tự Đạo Triệt, ngườI Giang Nam, làm tri phủ ở Thiệu Võ. TuổI già hưu trí, ở nhà tu theo pháp môn Tịnh-Độ của Liên Trì đạI sư. Con trai ông là Nghiêm Phát vẫn là ngườI siêng niệm Phật , thích làm lành. Năm 25 tuổI có bịnh sắp chết, ông bảo “ Đừng tạp niệm, phảI nhứt tâm niệm Phật”. Phát đáp “ Vâng” giây lát ông lạI bảo “ Từ nay trở đi cha cũng quyết nhứt tâm niệm Phật”. Phát mừng rỡ nói “ Được như vậy thờI con không lo gì nữa”. Dứt lờI Phát nghiêm nét mặt, chắp tay mà mất.
Ông đem bản Long Thoe Tịnh-Độ của Nghiêm Phát khắc in rồI gởI tặng những ngườI thân thuộc cùng các bạn hữu gần xa và kèm theo bức thơ như vầy: “ Trừng này ngày trước phảI bịnh tưởng chết nào ngờ được sống sót . Dầu hiện tạI mạng còn , biết đâu ở ngày mai ! Nghĩ lạI bao năm ở hoạn trường cùng những thờI gian kinh doanh gia nghiệp , thiệt vô vị đồng như nhai sáp. Đẫy da nhơ nhớp sẽ hư nát nay mai. Lục trần duyên ảnh có gì bền chắc.Chi bằng đổI hẳn tâm phàm mà cầu sanh Tịnh-Độ , niệm một câu A-Di-Đà, tiêu vô biên tộI nghiệp. Kính tặng tập văn Tịnh-Độ này để tỏ chút lòng thành”.
Năm 78 tuổI ông đươc chánh niệm phân minh mà tạ thế.
Trích bộ Thường Thục Chí
Vân Thê Pháp Vị
Tịnh-Độ Văn Bạt


THÁI THỰC THỪA
Thái Thực Thừa tự Quí Đình ngườI Hồ Quảng. Năm hai mươi ngoài, ông trường trai phụng Phật.Ông thường tụng “ Tam Thiên Phật Danh Kinh”., mỗI ngày ghi nhớ ba danh hiệu Phật , trảI 3 năm thờI thuộc lòng trọn bộ, nhẫn đến trọn đờI không quê. Năm Vạn Lịch thư 11, ông đỗ tiến sĩ lãnh chức thái thú ở Thiệu Hưng. MỗI ngày ông tụng kinh Kim Cang . Nơi tư thất , ngoài lư hương, bàn kinh ra, không trần thiết món chi khác. Ông trùng tu chùa Cổ Lăng Nghiêm , cấm dân chúng trong địa phương ông cai trị không được sát sanh tế thần. Sau khi cầu đạo vớI Liên Trì đạI sư, ông chuyên tu niệm Phật Tam-Muội.
Ít lúc sau ông được thăng chức Thái Thường Tự Lhanh, rồI ông từ quan, về nhà cất am tranh lập hộI niệm Phật. Ông dìu dắt những ngườI ruộng rẫy, những kẻ làm thuê đồng tu niệm Phật. Ông có làm bài kệ để tạ từ các quan khách
Kẻ khách nhớ nhà An Dưỡng
Hủ nho tạm ở sông Tương
Chẳng lo việc ngày mai mốt
Chỉ chờ được giấy Tây Phương
An phận một mái tranh nhỏ
Vừa mồm đôi dĩa rau tương
Trong lòng phủI sạch tình thương ghét
Phó mặc cho ai quở vớI hờn.
Năm sắp từ trần , ông tự đặt hiệu là “ Bất Cửu Đạo Nhơn”. Đến khi nhuốm bịnh ông đến chùa thỉnh chư tăng xuống tóc . Về đến nhà thấy Thánh Chúng đem ngân đài tớI rước . ông luôn miệng xưng Quán-Thế- Âm Bồ-Tát mà tạ thế. Ông có trước tác các bộ : Tịnh-Độ Thi, Nhơn Quả Thơ được lưu hành trong đời.
Trích bộ: Kim Cang Tân Dị Lục


PHÙNG TẬP
Ông Phùng Tập tự Tế Xuyên ngườI đất Thục, đỗ tiến sĩ triều Tống. Lúc đầu ông đến học đạo vớI Phật Nhãn thiền sư , sau lạI đến học vớI ĐạI Huệ thiền sư rồI vào núi kết hạ tham thiền, rất được ngộ nhập. Sau khi ngộ đạo, ông tu Tịnh-Độ, soạn nghi thức “Di-Đà Sám Pháp” .Năm Thiệu Hưng, lúc trấn nhậm Lô-Nam ông cổ xướng tăng và tục lập hộI niệm Phật, đồng phát nguyện vãng sanh. Thuở ấy tạng kinh của các tòng lâm phần nhiều bị hư, mất vì giặc giã. Ông xuất tiền lương của mình tạo 48 tạng kinh ĐạI-Thừa, 48 tạng kinh Tiểu Thừa, chia, dâng vào các tòng lâm đồng thờI ông viết bài phát nguyện : Sự thí kinh của tôi, một việc mà đủ cả hai: dùng của tạo kinh gọI là tài thí, dùng kinh truyền Pháp gọI là Pháp thí. Tài thí sẽ được phước đức ở nhân gian và thiên thượng. Pháp thí sẽ được thông minh tài trí. Cả hai báo đó đều là nhơn của sanh tử, gốc của luân hồI. Nay tôi phát nguyện đem hai báo đó hồI hướng trang nghiêm Tịnh-Độ, đến khi lâm chung vãng sanh Tây Phương Cực-Lạc Thế Giới. Hoa nở thấy Phật, nghe Pháp nhiệm mầu, chứng Vô Sanh Nhẫn, trụ bực Bất ThốI, nhập Bồ-Tát vị. RồI tôi sẽ trở lạI cõi trược ở mườI phương hiện Vô Biên Thân mà làm Phật Sự. Nguyện tôi sẽ như Quán Thế-Âm Bồ-Tát đủ ĐạI Từ-Bi, đủ ĐạI Thần Lực phân thân khắp trong các loài chúng sanh , tùy loài hiện hình thuyết pháp ,cho chúng sanh đều được trí tuệ dìu dắt tất cả đều thoát hẳn luân hồI, khắp cùng chúng sanh đều được thành Phật. Đó là chí nguyện thí kinh của tôi vậy”.
Về sau ông bổ nhiệm Mang Châu, mùa thu năm Thiêu Hưng thứ 23 , ông dâng biểu xin nghỉ đồng thờI tin cho các thân bằng Pháp hữu, và các quan liêu, hẹn đến ngày mùng 3 tháng 10 thờI từ trần. Đến kỳ ông truyền thiết tòa cao ở hậu sảnh . BuổI sáng ấy, quan liêu, tân khách đến chật dinh. Ông vân vui vẻ tiếp khách như thường. Gần giờ ngọ, ông sửa mũ áo nghiêm chỉnh, vọng về phía hoàng cung mà bái từ. Ông thỉnh Tào sư tạm nhiếp các việc trong châu. RồI ông thay y phục sư tăng , thăng tòa cao, dặn tất cả tăng và tục gắng tinh tiến tu trì , hoằng Phapsddooj sanh. Dặn xong ông cầm tích trượng để ngang gốI, ngồI yên mà thác.
Tào sứ nói “ Quan lớn đi, ở tự tạI như vậy sao không để lạI một bài kệ, hầu nêu gương cho đờI”. Ông lạI mở mắt ra bảo đem giấy mực lạI ông tự tay cầm bút viết “ Đầu ba mươi mốt, giữa chín dướI bảy, già này nói hết, anh rùa đỏ mắt”. Ông ném bút mà tạ thế.

Trích các bộ : Ngũ Đăng HộI Ngươn
Liên Tông Bửu Giám.


NGÔ BỈNH TÍN
Ngô Bỉnh Tín tự Tử Tài ngườI Minh Châu. Năm Thiệu Hưng đờI Tống làm quan tạI triều, vì gây sự vớI Tần CốI mà bị đuổI. Ông về làng cất am ở , ngày đêm tịnh quán, niệm Phật. Ông sắm một cái hòm, ban đêm vào nằm trong đó, cắt một đồng tử cứ đến đầu canh năm gõ hòm mà xướng to rằng “ Ông Ngô Bỉnh Tín về đi thôi! Tam giớI không an chẳng nên ở, Tây Phương Tịnh-Độ có liên đài. Ông Ngô Bỉnh Tín về đi mau”. Ông nghe tiếng liền chổI dậy tọa thiền, niệm Phật.
Ít lâu sau Tần CốI chết. Triều đình triệu ông về giữ chức Lễ bộ thị lamg, rồI bổ nhiệm Thường Châu, Năm Thiệu Hưng thứ 26 lại triệu về triều . Đi đến dịch quán ở Tiên Sơn ông tịnh tọa. Giấy lát ông gọI những ngườI tùy tùng bảo lóng nghe. MọI ngườI đều nghe tiếng thiên nhạc du dương từ Tây Phương lần đến. Ông nói “ Kim đài đã đến, tôi xin đi”. Dứt lờI ông liền tắt thở.
Trích bộ: Phật Tổ Thống Kỷ.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

HỒ NHƠN
Ông Hồ Nhơn tự Đạt Phu ngườI Tiền Đường , làm quan triều Tống. Sau khi trí sĩ, ông thường thân cận Thanh Chiếu luật sư. Một hôm ông bịnh, con thỉnh Thanh Chiếu đến nhà. Thanh Chiếu bảo ông “Đạt Phu bình sanh thường cùng Huệ Hanh này thân cận nhau, há lạI chẳng rõ đạI sự cuốI cùng ư?” Ông nói “ PhảI chăng là tâm tịnh thờI độ tịnh ?” Thanh Chiếu hỏI “ Trong tất cả thờI trọn hẳn không tạp niệm ô nhiễm chăng?” Ông đáp “ Chưa được”. Thanh Chiếu bảo “ Như thế thờI đâu có thể tâm tịnh, độ tịnh”. Ông hỏI “ Kinh nói xưng A-Di-Đà Phật một câu diệt được tộI sanh tử trong tám mươi ức kiếp là sao vậy?” Thanh Chiếu bảo “ Đức A-Di-Đà Phật có đạI thệ nguyện, đạI phước đức. Quang minh thần lực của Phật không thể nghĩ bàn, rõ như trong kinh đã dậy. Vì thế nên một khi xưng hồng danh của Phật thờI tộI chướng liền tiêu. Như mặt trờI đứng bóng , sương tuyết không còn được!” Nghe lờI giảng giảI, ông tỏ ngộ bèn nhứt tâm niệm Phật và bảo ngườI thỉnh tăng đến nhà trợ niệm cho ông. Cách tháng sau, Thanh Chiếu luật sư lạI đến. Ông vừa thấy liền nói “ Sao ngài đến quá trễ vậy, làm phiền Quán-Thế-Âm, ĐạI-Thế-Chí giáng lâm đợI đã lâu “. Thanh Chiếu và chư tăng đồng thanh niệm Phật , ông vui vẻ chắp tay mà qua đời.

Trích bộ Lạc Ban Văn Loại.


VƯƠNG TRUNG
Ông Vương Trung ngườI Gia Hòa là quan Triều Tán ĐạI Phu nhà Tống. Ông từng đến tham học vớI Tiểu Bổn thiền sư mà chưa được ngộ nhập. Một hôm nghe ông tăng tụng kinh Di-Đà, trong lòng cảm động , ông bèn chuyên tu Tịnh-Độ. MỗI ngày ông tụng bảy biến kinh Di-Đà , niệm Phật một vạn câu, ngót 16 năm không một ngày biếng trễ. Ông lập hộI niệm Phật taijnhaf, không luận kẻ tăng, ngườI tục, kẻ sang hay hèn đều được dự hôi .
Về sau ông vẫn khỏe mạnh như thường, tắm gộI thay y phục, xây mặt về hướng Tây , ngồI kiết già mà tạ thế.
Trích : Phật Tổ Thống Kỷ
Lạc Ban Văn Loại.


HAI THỢ RÈN TRIỀU TỐNG
Ông Lý ngạn Thông ngườI CốI Kê làm thợ rèn, tình cờ đến chơi nơi hộI quán hộI Niệm Phật tạI làng. Ông nghĩ đến thân mạng vô thường bèn phát tâm niệm Phật cầu Cực-Lạc Một hôm phảI bịnh ông bảo ngườI nhà “ Tôi mơ đến Cực-Lạc thấy hai cửa ngõ bằng vàng ngọc đóng kỹ. Sư tăng tự xưng hiệu Tông Lơi mở cửa dắt tôi vào. Thấy đền đài cao lớn sáng đẹp, Phật và Bồ-Tát ngự trong ấy. Tôi sắp sẽ được về Tịnh-Độ”. Ông cho ngườI thỉnh tăng Hy Kinh và Đạo Quả đến bên giường để sách tấn ông. Ông bảo gia quyến đồng thanh niệm Phật Giây lát ông tự chổI dậy ngồI ngay thẳng, xây mặt về hướng Tây mà mất.
Trích : Phật Tổ Thống Kỷ

Ông Huỳnh Sanh ngườI Đàm Châu , sống bằng nghề thợ rèn. Tay đập sắt, miệng niệm Phật. Một ngày nọ ông nhờ ngườI láng giềng chép dùm bài kệ từ trần, rồI ông đọc rằng

Đang, đang,đang,đang
Cửu luyện thành cang.
Thái Bình tương cận
Ngã vãng Tây Phang.

Ông lạI dặn “ Sau khi tôi vãng sanh nên đem bài kệ này truyền bá khắp nơi để khuyên ngườI niệm Phật “. Dứt lờI ông đoan tọa mà qua đời.
Trích : Phật Tổ Thống Kỷ.


BA NHÀ NÔNG
Triều Tống, ông Từ Lục , một nhà nông ở Ngô Hưng, ăn chay trường niệm Phật. TạI nhà thờ tượng A-Di-Đà sớm tốI kính lễ, luôn 40 năm tu hành. Ông thường mơ thấy đến Cực-Lạc thế giớI . Ông có sắm một cái khánh (cái hòm).
Một hôm ông tắm rửa sạch sẽ, thay y phục, mang dép rơm vào ngồI ngay thẳng trong khánh niệm Phật . Một lát sau ông nói to “ Đức Phật đã đến rước tôi!”. RồI yên lặng mà mất.
Trích : Phật Tổ Thống Kỷ

Ông Trần Đức Tâm một nhà nông ở Tô Châu. Ngày nóng bức, ông đi hóng mát , tình cờ thấy bản “ Kính Tín Lục” nơi trường làng. Ông nhờ thầy học giảng nghĩa cho. Ông tỏ ngộ lý nhân quả, gắng làm việc phước thiện và thường đi theo đường lượm giấy chữ. Cư sĩ Bành Nhị Lâm thấy thế biết là ngườI có thiện căn, bèn mờI vào Văn Tinh Các, khuyên ông niệm Phật. Ông vốn không biết chữ, nhưng tu trì rất chuyên cần, rồI tự nhiên lần lần biết đọc, biết viết.
Ít lúc sau ông lãnh việc quản đốc các việc phóng sanh, an táng nơi hộI Diệu Tế tạI Tô Quận.MỗI khi thấy thây chết, xương ngườI, ông luôn than thở nhân mạng vô thường, nên công phu niệm Phật của ông càng thêm tinh tiến. Năm ông 69 tuổI, đương khỏe mạnh như thường, ông bỗng đi từ biệt thân thuộc cùng các bằng hữu mà hẹn ngày từ giã cõi đờI. Đến kỳ ông đóng cửa yên lặng ở trong phòng. Các bạn đồng sự xô cửa vào xem, thờI thấy trên bàn cungsmootj tượng Phật , đôi nến đương cháy sáng , hương lạ thơm ngát. Còn ông Đức Tâm đã chết ngồI , mặt day về hướng Tây . Bấy giờ là ngày rằm tháng tám năm Gia Khánh thứ 18 triều Thanh.
Trích bộ: Nhiễm Hương Tập

Ông LạI tường Lân ngườI Giang Tây, tánh chơn chất trọn đờI làm ruộng. Năm sáu mươi ngoài tuổI. Con trai chết, ông phảI làm nuôi dâu góa con côi nhơn đó ông rất nhàm chán đờI ngườI nhiều phiền khổ muốn tìm phương thoát ly.
Một hôm được nghe cư sĩ LạI-Thiền-Dung, cháu họ của ông giảng giảI pháp môn Tịnh-Độ, ông liền ăn chay trường, quyết chí vãng sinh. Chỉ có tật uống rượu vì ghiền đã lâu nên chưa bỏ được. Cư sĩ LạI-Thiền-Dung cắt nghĩa những sự tộI lỗI của ngườI uống rượu . Ông cố gắng chừa. Lúc đầu nghe trong khắp cơ thể mỏI mê, mệt nhọc, nhưng rồI lần lần thân thể càng khỏe, tâm trí lạI càng minh mẫn hơn, và vớI sự niệm Phật lạI sanh quan niệm ưa thích. Được ít lâu sau niệm lực thuần thục dầu cầy cuốc suốt ngày nhưng câu niệm Phật vẫn không rờI tâm. NgườI lân cận gặp ông đều chào rằng “ A-Di-Đà-Phật”. Ông cũng đáp lạI “ A-Di-Đà Phật”.
Năm Dân Quốc thứ 8 chân ông sưng, đi đứng không tiện. Một hôm ông bảo ngườI cháu đặt bàn hương án vọng về phương Tây và nói “ Cảnh giớI Tây Phương Cực-Lạc rất đẹp ! cháu xem biết bao nhiêu là hoa sen báu sáng chói. Ông sẽ về Tịnh-Độ trong ngày nay”. NgườI cháu nói “ Chân ông yếu làm sao đi được?” Ông bảo “Tâm đi chớ không phảI thân máu thịt này đi”. NgườI cháu vâng lờI trần thiết hương án. Và giữa lúc ngườI cháu thắp hương, ông ngồI kiết già, day mặt về hướng Tây chấp tay niệm Phật vài câu mà từ trần, thọ 75 tuổi.
Trích bộ Thánh Hiền Lục Tục Biên


PHÙNG THỊ
Phùng Thị ngườI Quảng Bình, vợ của Trần Tư Cung ở Trấn Giao . Thuở bé Phùng Thị luôn ươn yếu, sau khi về nhà họ Trần , bịnh càng ngày càng nặng hơn Bấy giờ Từ Thọ Thâm thiền sư đang hoằng truyền Phật pháp ở Vương Thành , Phùng Thị đến cầu phương trị bịnh.Thâm thiền sư bảo ăn chay trường,niệm A-Di-Đà Phật. Phùng Thị tín thọ.
Sau khi trở về nhà, Phùng Thị ăn chay, dẹp phấn son, mặc áo thô, siêng tu Tịnh-nghiệp . Tất cả công đức: tụng kinh, niệm Phật, lễ sám, bố thí v v… đều hồI hướng cầu sanh Cực-Lạc . Không bao lâu bịnh lân lành. Phùng Thị quản suất gia nghiệp, vẫn siêng tu Tịnh nghiệp, trọn mườI năm như vậy , mặt thị không chút vẻ trễ lườI, không một nét kiêu hãnh , tâm an, thân khỏe, thần sắc mỗI ngày mỗI thêm khương kiện.
Một hôm Phùng Thị bỗng biên bài kệ rằng :

Tùy duyên theo nghiệp đã nhiều năm
Uổng làm trâu cày thiệt thương tâm
Chất chứa thân tâm sớm thoát ách
Từ nay khỏI hẳn sợ dây giàm.

Gia quyến thấy bài kệ ấy lấy làm lạ, hỏI duyên cớ. Phùng Thị bảo “ Trong cõi tâm thanh tịnh, vì vọng niệm mà đọa luân hồI , nghiệp làm ngườI này nay đã mãn , tôi liền trở gót về Tây, rất toạI ý nguyện của tôi, có gì lạ mà hỏI?”.
Tháng 9 năm ấy, Phùng Thị nhuốm bịnh đến tháng chạp. Một đêm nọ Phùng Thị nói vớI ngườI đang canh bịnh rằng “ Tôi đã được thần du Tịnh-Độ. Được lễ dướI chân của đức A-Di-Đà Phật . Quan Âm, Thế Chí nhìn tôi.Trăm nghìn muôn ức thánh chúng đồng chắp tay mừng tôi sẽ sanh về Cực-Lạc. Đến như cung điện, ao báu, hàng cây xinhddepj sáng chói đúng như trong Quán Kinh đã nói : Ai đến đó tự biết , không thể tả rõ ra được”. NgườI canh bịnh vộI gọI Trần Tư Cung đến , thuật lạI những lờI trên. Tư Cung biết vợ sắp vãng sanh liền hiệp vớI gia quyến đồng niệm Phật vớI Phùng Thị . Đến sáng sớm, Phùng Thị nằm nghiêng qua tay mặt mà mất. được 36 tuổi. Ba ngày sau lúc nhập liệm mọI ngườI đồng nghe mùi thơm lạ. Đến khi đem trà tỳ cậy nắp quan tài ra xem sắc mặt Phùng Thị vẫn tươi như lúc còn sống.
Trích : Lạc Ban Văn LoạI


NGÔ THỊ
Ngô thị vợ của Lữ Hoằng. Hai vợ chồng đều tinh thông Phật pháp và đều có chí thanh tu . Có hai ngườI tớ gái cũng đều trai giới. Một ngườI thích thiền lý, không bao lâu phảI bịnh, vẫn cườI nói vui vẻ, đoan tọa mà mất. Một ngườI giữ giớI khổ hạnh, hoặc có lúc trọn ngày không ăn, chỉ uống một chén nước cúng Phật . Một hôm ngườI tớ gái ấy bỗng thấy hoa sen vàng lớn hiện ra trước mặt. Trên hoa chỉ thấy dạn dạn chơn ngườI ngồI kiết già. Vài ngày sau thấy rõ đến gốI, vài ngày sau thấy rõ đến bụng và ngực. LạI ít hôm sau thấy rõ cả đầu mặt, tướng hảo đều hiện ra đủ. Thì ra vị ngồI giữa là Đức Phật A-Di-Đà, bên tả là Quán Thế Âm Bồ-Tát, bên hữu là ĐạI Thế Chí Bồ-Tát. Không bao lâu cả cung điện, cây ao và Thánh Chúng đều hện ra trước mặt rõ ràng, luôn ba năm như vậy không một giây phút ẩn rời. Có ngườI hỏI: Có nghe được Đức Phật thuyết pháp không? Tớ gái đáp “ Tôi chỉ được thiên nhãn, chưa được thiên nhĩ nên chưa nghe được lờI Phật thuyết pháp “. Không bao lâu cô ấy tự nói trước ngày giờ vãng sanh rồI từ trần.
Ngô Thị thờ Đức Quan-Thế-Âm rất thành khẩn. Trong tịnh thất để vài chục cái bình đựng nước trong, mỗI ngày tụng chú ĐạI-Bi. Bèn thấy Đức Quán-Thế-Âm phóng quang chiếu vào những bình ấy. Ai có bịnh thỉnh nước ấy uống liền đặng lành. Nước ấy dầu để lâu năm mà mùi, sắc vẫn không biến đổi. Đến mùa đông tiết đạI hàn, nước khác bị hơi lạnh đông đặc mà nước ấy vẫn như thường. Vì thế ngườI thờI ấy gọI Ngô Thị là Quán-Âm Huyện Quân.
Trích bộ Tịnh-Độ Văn


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

BỐN NGƯỜI Ở TIỀN ĐƯỜNG

1) Củng Thị , mẹ của ông Tôn Biện, mỗI ngày bà tụng kinh Di-Đà và niệm Phật. Một hôm thị có bịnh, thỉnh luật sư Thanh Chiếu đến nhà giảng cảnh Cực-Lạc thanh tịnh trang nghiêm.Sư chưa dứt lờI, thị đã đoan tọa mà mất.

Mụ tớ già họ Vu cũng ăn chay niệm Phật, nằm mơ thấy Củng Thị về bảo rằng “Tôi đã vãng sanh Tịnh-Độ, bảy ngày sau mụ sẽ được về”.Đúng bảy ngày sau mụ Vu không bịnh mà qua đời.

2) Tôn nữ thường ngày niệm Phật trì chú. Khi có bịnh cô thỉnh Thanh Chiếu luật sư đến mà bạch rằng “ Mamg bịnh lâu ngày tôi rất nhàm chán thân sống thừa này. Chẳng biết làm thế nào mau thoát ly cõi trược khổ này, mà được diệu lạc thanh tịnh?” Sư đem nhân duyên Tịnh-Độ giảng giảI cho. Tôn Nữ rất mừng, chí tâm hồI hướng Cực-Lạc Đêm đó Tôn Nữ mơ thấy sư trao một chén thuốc, cô liền bưng uống. Sau khi thức dậy bịnh như đã mất. Ba ngày sau, Tôn Nữ bảo ngườI nhà rằng “ Thánh chúng đã đến, tòa sen vàng rất đẹp sáng, tôi xin đi”. Dứt lờI Nữ giơ tay kết ấn mà mất.

3) Thi Thị vợ của ông Trầm Thuyên, cùng chồng đồng tu Tịnh Nghiệp. Thỉnh Thanh Chiếu Luật sư y theo Quán Kinh họa bức “ Cửu Phẩm Vãng Sanh” để hằng ngày quán tưởng. Bà thường trai tăng cúng Phật, ấn tống kinh Bát-Nhã, dụng chùa ở Kính Sơn và Thiên Ninh. Bao nhiêu công đức bà đều hồI hướng cầu sanh Tịnh-Độ . Về sau bà cùng chồng trước sau vãng sanh, lúc lâm chung đều thấy hóa Phật đưa tay , ngồI xây mặt về hướng Tây mà tạ thế.

4) Quách Diệu Viên người Nhơn Hòa, em gái của Thanh Chiếu luật sư, trường trai niệm Phật, mỗI ngày cô tụng kinh Di-Đà cùng kinh Pháp Hoa và lễ Phương Đẳng sám. Một hôm cô đương tịnh tọa quán tưởng Tây Phương bỗng nghe trên hư không có tiếng xướng to rằng “ Quách Diệu Viên quyết được vãng sanh Tịnh-Độ”. Khi sắp từ trần , cô thỉnh Thanh Chiếu luật sư đến thuyết pháp , cô ngồI ngay thẳng yên lặng lắng nghe. Sư giảng chưa dứt lờI cô đã theo Phật.

Trích ở bộ Phật Tổ Thống Kỷ.


NIỆM PHẬT THẤY PHẬT
Giao Bà chuyên tu Tịnh-Độ, ngày đêm niệm Phật không hở. Một hôm đương lúc bà hướng về Tây phương niệm Phật, thoạt thấy giữa mặt nhựt hiện đức Phật A-Di-Đà đầy đủ tướng tốt. Bà liền cầu sư Tư Tịnh họa thành bức tượng. Sư Pháp Di đề lờI tán vào bức tượng ấy như vầy:
“Cực-Lạc thế giớI có nơi chỗ,
ở hướng mặt trờI lặn mỗI ngày.
Vì thế Phật dạy Vi Đề Hy ,
Quán kỹ trờI lặn như huyền cổ.
Lành thay Giao Thị một mụ già,
dùng đặng tâm này cầu Tịnh-Độ.
TốI quán, sáng tưởng luôn nhiều năm.
NgồI niệm, đi niệm quên lao khổ
Di-Đà liền từ tâm tưởng sanh
Thoạt tiên trước mặt Kim Nhan lộ
Bấy giờ hư không không chút mây
Tây phương còn đứng mặt trờI nọ
Phật tỏa quang minh phủ Thái Dương
Mắt biếc, bạch hào tuớng tốt lạ.
Mừng vui tràn ngập cả tâm thần
Mụ liền tức tốc cầu Tinh sư
Thuật rõ Phật hiện thật hi hữu
Thỉnh sư cầm bút mau tô họa
Tôi nghe việc ấy hoan hỉ thay
Vì ngườI chưa ngộ biên lờI kệ.
Nên biết cách Phật vốn không xa
Xiển Đề đâu rõ sự lý đó
Dầu quá quốc độ mườI ức muôn
Một niệm vượt qua như nửa bước.
Nếu có ngườI mê hỏI dò đường
Bảo rằng thẳng tớI như thế nọ.
Trích : Lạc Ban Văn Loại.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

MỤ VƯƠNG
Mụ Vương ngườI Minh Châu, mỗI ngày tụng kinh Kim Cang. Mụ mang thai 28 tháng mà chưa sanh, càng ngày càng ốm gầy. Một hôm đứng dựa cửa ngõ tình cờ có một sư tăng đi ngang, mụ vái chào. Sư nhìn mụ rồI bảo “ Mụ có thiện duyên, sao không ấn tống một nghìn quyển kinh Kim Cang?” Y theo lờI sư, mụ ấn tống 1000 quyển kinh Kim Cang. Mụ lạI tặng 1000 vị sư, tụng 1000 biến Kim Cang. Phật sự vừa xong, tốI đến, vào lúc canh ba, mụ mơ thấy thần Kim Cương cầm bảo xử chỉ bụng mụ. Khi mụ thức dậy thờI hai đứa trẻ trai đã lọt lòng từ hồI nào rồi.
Từ đó mụ Vương trường trai, tụng kinh Kim Cang không sót ngày nào. Năm 61 tuổI mụ chết, hai quỉ sứ dắt mụ đến trước Diêm Vương. Mụ tự thuật là từ thủa tuổI trẻ đến nay luôn trì tụng kinh Kim Cang . Vương cho ngồI trên ghế vàng bên cạnh điện . Mụ ngồI xong liền tụng rành rõ một biến kinh. Diêm Vương hỏI sao không tụng chú bổ khuyết? Mụ đáp vì chưa gặp bổn. Vương truyền quỉ sứ vào kho mang bổn có chú ra trao cho mụ và dặn “ Mụ đem bổn này về dương gian lưu thông chớ để lạc mất. Sau này khi tuổI thọ đã mãn mụ sẽ được vãng sanh Cực-Lạc thế giớI, không còn phảI đến chốn này nữa”. Vương sai quỉ sứ đưa mụ về, mụ bàn sống lại. Về sau mụ Vương vẫn khỏe mạnh , ngồI an mà mất, thọ 91 tuổI, bấy giờ nhằm năm Thiệu Hưng triều Tống.
Trích bộ : Kim Cang Chứng Quả.

VƯƠNG THỊ
Vương thị , vợ của Mã Vĩnh Dật. Ông Vĩnh Dật chuyên tu Tịnh-nghiệp , sự tích chép trong truyện ông Mã Vu. Vương Thị cũng y theo pháp thập niệm hồI hướng của Từ Vân mà tu trì. Thị lạI thường tụng bài kệ phá địa ngục , tức bốn câu kệ trong kinh Hoa Nghiêm :

Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giớI tánh
Nhất thiết duy tâm tạo

Một đêm nọ Vuong Thị chiêm bao thấy chủ địa ngục đến tạ rằng “Nhờ công đức tụng kệ của bà nên trong địa ngục có rất nhiều tội nhơn được sanh lên Thiên đạo”.
Về sau trong khi nằm bịnh, Vuong Thịniệm Phật không ngớt tiếng, mãi đến hơi cuốI cùng. Cả quyến thuộc và mấy ngườI tớ gái đồng chiêm bao thấy Thị về mách rằng “ Tôi đã được sanh về Tịnh-Độ”

Trích : Lạc Ban Văn LoạI


LÒNG THÀNH CẢM QUAN ÂM
Vương Bá Nương ngườI Minh Châu. Thuở bé mồ côi, khi vừa mớI có chồng lạI phảI ở góa, bèn sống nhờ nơi ngườI cậu lafoong Trần An Hành. Mùa hạ năm Thiệu Hưng thứ 2 , Bá Nương bboongx mắc bịnh điếc và câm. Khi có muốn việc chi, chỉ viết chữ trên giấy. Ông Hành bảo qui thành nơi Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Bá Nương bèn sớm tốI lễ lạy.
Một hôm Bá Nương ngủ gật, chợt thấy Bồ-Tát hiện thân dạy cho tu hành pháp môn mau tắt. : MỗI ngày hướng về Tây Phương lễ Đức A-Di-Đà Phật. Bồ-Tát lạI truyền cho bài kệ rằng

Tịnh-Độ Châu Sa GiớI
Vân hà đọc lễ Tây?
Đản năng hồI nhứt niệm
Xúc xứ thị Bồ-Đề.

Tịnh-Độ châu sa thế giớI
Sao chỉ lễ phương Tây?
Nếu hay một niệm quay lạI
Đến thế giớI ấy là đến Bồ-Đề.

Bồ-Tát lạI căn dặn nên khuyên mọI ngườI trì tụng bài kệ ấy. Sau đó chưa đầy một tháng , Bá Nuong hết câm điếc mà thêm được niệm lực thuần thục.. Trí tuệ khai phá, đáp ứng như lưu (như nước chẩy).
Vì muốn ngườI đờI phát tâm, ông Trần An Hành bèn khắc việc trên để truyền cho mọI ngườI cùng biết.
Trích tập : Di Kiên Chí




CHÂU THỊ
Châu Thị Như Nhứt , vợ của Tiết Sanh ở Minh Châu. Năm hai mươi tuổI mẹ mất, Thị mặc tang phục trai cư, siêng tu Tịnh nghiệp , thị dùng hàng vàng, thỉnh ngườI viết chữ khéo tả kinh Pháp Hoarooif thị dùng nhung xanh theo lên , lằn chỉ khít sát, nét chữ vừa rõ vừa đẹp . MườI năm mớI xong bảy quyển (trọn bộ). Trong thờI gian thêu kinh, Thị xướng hồng danh của đức A-Di-Đà Phật mà đảnh lễ đủ tám muôn bốn ngàn lạy. Thị lạI thêu tượng A-Di-Đà Phật và Quan-Thế-Âm. Kế đó thị xem các kinh : Hoa Nghiêm, Bát-Nhã, Lăng-Nghiêm, Viên-Giác đều thông hiểu được cả. Thị lạI chạm gỗ in đò công đức, dùng khuyên ngườI niệm A-Di-Đà Phật. Phàm ngườI lãnh đồ niệm đủ số mườI muôn câu thờI thị đứng hồI hướng Tây-Phương Tịnh-Độ ch. Trước sau thị giáo hóa được hai chục vạn ngườI phát tâm niệm Phật . Thị cất nhà ở bên mộ, một cái thất thờ Phật , một cái thất để chép kinh, một cái thất để tĩnh tọa. Giúp việc chỉ có một cô tớ gái, vui khổ cùng chia.
Mùa xuân năm Thiệu Hi thứ tư, thị bán cả đồ tư trang, lập trai hộI ba ngày, cúng dàng cho 1000 vị tỳ kheo. Trong ba ngày ấy, thị hộI tăng và tục một muôn ngườI , ngày đêm cùng nhau niệm A-Di-Đà Phật . RồI thị sắm bảo tràng trang nghiêm bảy pho kinh Pháp Hoa của thị thêu. Và biên tên họ của những nguời dự hộI, đưa cả vào để cúng dường tạI đạo tràng La-Hầu-La.
Tháng chạp năm ấy , thị nhuốm bịnh nhẹ ; khi sắp từ trần, thị ngồI kiết già ngay thẳng. Tiết Sanh nói “ Nhà tôi từ hồI nào tớI giờ không có cách ấy, xin nằm yên”. Thị bèn hướng về Tây Phương, nằm nghiêng bên tay mặt mà vãng sanh, được 37 tuổi.
Trích bộ: Lạc Ban Văn Loại.

trang 4


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

MỤ VƯƠNG
Mụ Vương ngườI Minh Châu, mỗI ngày tụng kinh Kim Cang. Mụ mang thai 28 tháng mà chưa sanh, càng ngày càng ốm gầy. Một hôm đứng dựa cửa ngõ tình cờ có một sư tăng đi ngang, mụ vái chào. Sư nhìn mụ rồI bảo “ Mụ có thiện duyên, sao không ấn tống một nghìn quyển kinh Kim Cang?” Y theo lờI sư, mụ ấn tống 1000 quyển kinh Kim Cang. Mụ lạI tặng 1000 vị sư, tụng 1000 biến Kim Cang. Phật sự vừa xong, tốI đến, vào lúc canh ba, mụ mơ thấy thần Kim Cương cầm bảo xử chỉ bụng mụ. Khi mụ thức dậy thờI hai đứa trẻ trai đã lọt lòng từ hồI nào rồi.
Từ đó mụ Vương trường trai, tụng kinh Kim Cang không sót ngày nào. Năm 61 tuổI mụ chết, hai quỉ sứ dắt mụ đến trước Diêm Vương. Mụ tự thuật là từ thủa tuổI trẻ đến nay luôn trì tụng kinh Kim Cang . Vương cho ngồI trên ghế vàng bên cạnh điện . Mụ ngồI xong liền tụng rành rõ một biến kinh. Diêm Vương hỏI sao không tụng chú bổ khuyết? Mụ đáp vì chưa gặp bổn. Vương truyền quỉ sứ vào kho mang bổn có chú ra trao cho mụ và dặn “ Mụ đem bổn này về dương gian lưu thông chớ để lạc mất. Sau này khi tuổI thọ đã mãn mụ sẽ được vãng sanh Cực-Lạc thế giớI, không còn phảI đến chốn này nữa”. Vương sai quỉ sứ đưa mụ về, mụ bàn sống lại. Về sau mụ Vương vẫn khỏe mạnh , ngồI an mà mất, thọ 91 tuổI, bấy giờ nhằm năm Thiệu Hưng triều Tống.
Trích bộ : Kim Cang Chứng Quả.

VƯƠNG THỊ
Vương thị , vợ của Mã Vĩnh Dật. Ông Vĩnh Dật chuyên tu Tịnh-nghiệp , sự tích chép trong truyện ông Mã Vu. Vương Thị cũng y theo pháp thập niệm hồI hướng của Từ Vân mà tu trì. Thị lạI thường tụng bài kệ phá địa ngục , tức bốn câu kệ trong kinh Hoa Nghiêm :

Nhược nhân dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giớI tánh
Nhất thiết duy tâm tạo

Một đêm nọ Vuong Thị chiêm bao thấy chủ địa ngục đến tạ rằng “Nhờ công đức tụng kệ của bà nên trong địa ngục có rất nhiều tội nhơn được sanh lên Thiên đạo”.
Về sau trong khi nằm bịnh, Vuong Thịniệm Phật không ngớt tiếng, mãi đến hơi cuốI cùng. Cả quyến thuộc và mấy ngườI tớ gái đồng chiêm bao thấy Thị về mách rằng “ Tôi đã được sanh về Tịnh-Độ”

Trích : Lạc Ban Văn LoạI


LÒNG THÀNH CẢM QUAN ÂM
Vương Bá Nương ngườI Minh Châu. Thuở bé mồ côi, khi vừa mớI có chồng lạI phảI ở góa, bèn sống nhờ nơi ngườI cậu lafoong Trần An Hành. Mùa hạ năm Thiệu Hưng thứ 2 , Bá Nương bboongx mắc bịnh điếc và câm. Khi có muốn việc chi, chỉ viết chữ trên giấy. Ông Hành bảo qui thành nơi Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Bá Nương bèn sớm tốI lễ lạy.
Một hôm Bá Nương ngủ gật, chợt thấy Bồ-Tát hiện thân dạy cho tu hành pháp môn mau tắt. : MỗI ngày hướng về Tây Phương lễ Đức A-Di-Đà Phật. Bồ-Tát lạI truyền cho bài kệ rằng

Tịnh-Độ Châu Sa GiớI
Vân hà đọc lễ Tây?
Đản năng hồI nhứt niệm
Xúc xứ thị Bồ-Đề.

Tịnh-Độ châu sa thế giớI
Sao chỉ lễ phương Tây?
Nếu hay một niệm quay lạI
Đến thế giớI ấy là đến Bồ-Đề.

Bồ-Tát lạI căn dặn nên khuyên mọI ngườI trì tụng bài kệ ấy. Sau đó chưa đầy một tháng , Bá Nuong hết câm điếc mà thêm được niệm lực thuần thục.. Trí tuệ khai phá, đáp ứng như lưu (như nước chẩy).
Vì muốn ngườI đờI phát tâm, ông Trần An Hành bèn khắc việc trên để truyền cho mọI ngườI cùng biết.
Trích tập : Di Kiên Chí




CHÂU THỊ
Châu Thị Như Nhứt , vợ của Tiết Sanh ở Minh Châu. Năm hai mươi tuổI mẹ mất, Thị mặc tang phục trai cư, siêng tu Tịnh nghiệp , thị dùng hàng vàng, thỉnh ngườI viết chữ khéo tả kinh Pháp Hoarooif thị dùng nhung xanh theo lên , lằn chỉ khít sát, nét chữ vừa rõ vừa đẹp . MườI năm mớI xong bảy quyển (trọn bộ). Trong thờI gian thêu kinh, Thị xướng hồng danh của đức A-Di-Đà Phật mà đảnh lễ đủ tám muôn bốn ngàn lạy. Thị lạI thêu tượng A-Di-Đà Phật và Quan-Thế-Âm. Kế đó thị xem các kinh : Hoa Nghiêm, Bát-Nhã, Lăng-Nghiêm, Viên-Giác đều thông hiểu được cả. Thị lạI chạm gỗ in đò công đức, dùng khuyên ngườI niệm A-Di-Đà Phật. Phàm ngườI lãnh đồ niệm đủ số mườI muôn câu thờI thị đứng hồI hướng Tây-Phương Tịnh-Độ ch. Trước sau thị giáo hóa được hai chục vạn ngườI phát tâm niệm Phật . Thị cất nhà ở bên mộ, một cái thất thờ Phật , một cái thất để chép kinh, một cái thất để tĩnh tọa. Giúp việc chỉ có một cô tớ gái, vui khổ cùng chia.
Mùa xuân năm Thiệu Hi thứ tư, thị bán cả đồ tư trang, lập trai hộI ba ngày, cúng dàng cho 1000 vị tỳ kheo. Trong ba ngày ấy, thị hộI tăng và tục một muôn ngườI , ngày đêm cùng nhau niệm A-Di-Đà Phật . RồI thị sắm bảo tràng trang nghiêm bảy pho kinh Pháp Hoa của thị thêu. Và biên tên họ của những nguời dự hộI, đưa cả vào để cúng dường tạI đạo tràng La-Hầu-La.
Tháng chạp năm ấy , thị nhuốm bịnh nhẹ ; khi sắp từ trần, thị ngồI kiết già ngay thẳng. Tiết Sanh nói “ Nhà tôi từ hồI nào tớI giờ không có cách ấy, xin nằm yên”. Thị bèn hướng về Tây Phương, nằm nghiêng bên tay mặt mà vãng sanh, được 37 tuổi.
Trích bộ: Lạc Ban Văn Loại.

trang 4


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

NHỊ TRÍ
Hàng thị Diệu Trí ngườI Triết Giang, sau khi chồng chết, thị rất siêng tu hành, suốt ngày niệm Phật. Có hai ngườI con gái thị đều cho xuất gia làm ni sư. Thị sắm sẵn một cái quan tài, khi sắp tạ thế, thị nói vớI hai sư ni rằng “ Tôi muốn ngồI kiết già mà vãng sanh, cái quan tài này mớI để làm chi ?” sư ni nói “ xưa kia đức Phật nhập Niết Bàn vẫn dùng kim quan không hề gì”. Thị bèn tụng chương thượng phẩm vãng sanh trong Quán Kinh rồI xây mặt về hướng Tây, nằm nghiêng về bên hữu , hai tay kiết ấn mỉm cườI mà mất. Bấy giờ là năm Thiệu Định thứ 6 triều Tống.

Trần thị Diệu Trí ngườI Tứ Khê, dâu nhà họ Trương. Thủa bé thị đã trường trai, mỗI ngày hai thờI niệm Phật. Khi về nhà chồng thị vẫn không đổI chí, vẫn ăn chay, niệm Phật như xưa. Tánh thị hay thương xót ngườI và vật không ngớt làm việc phóng sanh và bố thí.
Một hôm nhuốm bịnh sơ sài thị càng chuyên thiết niệm Phật , bỗng thấy đức A-Di-Đà Phật hiện thân vàng trên hư không , Bồ-Tát và thánh chúng đứng hầu hai bên , Từ Bạch hào giữa chặng mày của Phật phóng ánh sáng chiếu đến thị giống như một cái mống dài. Sáng chói như cả ngàn ngọn đền lớn, một lát sau thị nằm kiết tường mà từ trần. Bấy giờ nhằm năm Đoan Bình thứ hai triều Tống.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ.





MỤ THÔI
MỤ Thôi ngườI Tuy Châu ở vú cho nhà họ Lương tạI Đông Bình. Mụ thì tính tình ngay thật, ăn chay trường. Bà chủ tin Phật, tham cứu thiền học. còn mụ chỉ mỗI ngày siêng niệm Phật. Năm 72 tuổI đau kiết, mụ càng cố gắng niệm Phật hơn. Một hôm mụ bỗng xướng đọc bài kệ rằng

Đường Tây rất tốt, dễ tu hành
Trên không non núi, dướI không hầm
Khi đi khỏI mang giầy dép
MỗI bước hoa sen mọc đỡ chân

Có ngườI hỏI “ Chừng nào bà đi ?” Mụ đáp “ Giờ thân chiều nay “ Quả thật đến giờ thân thì mụ Thôi vãng sanh. Khi trà tỳ cái lưỡI không cháy, đỏ tươi như cánh sen hồng.
Trích Vãng Sanh Tập.

HIẾU TÂM CHƠN THẬT
Vương Nữ ngườI Kiết An, thuở nhỏ cô ham mộ pháp môn Tịnh-Độ mỗI ngày tụng các kinh : Di-Đà, Quán-Âm, Kim-Cang . Bà mẹ cô mang bịnh rồI mất. Khi sắp liệm, máu ứ chảy lan. Cô thệ rằng “ Nếu lòng hiếu thảo của tôi chơn thật, nguyện cho thi hài của mẹ tôi không hôi dơ”. Co nguyện dứt lờI, máu liền ngừng chẩy, đến khi liệm hẳn, không hơi hôi.
Ít lúc sau cha chấp nốI , cô cùng bà kế mẫu đồng chí tu Tịnh nghiệp.
Một hôm Nữ phảI bịnh, thỉnh chư tăng đến nhà giảng pháp quán Tịnh-Độ. Giây lát Nữ chổI dậy, đòi thay áo rồI nằm kiết tường, tay nắm chót lá phan trước tượng Quán-Thế-Âm mà đi. Lúc sắp niệm bà kế mấu rảI tro trên đất. Sáng hôm sau chỗ rỏI tro mọc lên vài đóa hoa sen.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ.

HAI BÀ TRÌ KINH DI – ĐÀ
Đào Thị ngườI Thường Thực , ở góa tu hành, mỗI ngày trì phẩm Phổ Môn , chiêm bao thấy đức Quán –Thế-Âm trao cho một hoa se. Ít lúc sau thị lạI mơ thấy một sư tăng trao cho một quyển kinh, Thị lật xem thờI là kinh Di-Đà. Sau khi thức giấc, thị lấy kinh Di-Đà ra tụng thờI làu làu như đã quen tụng từ lâu, và bắt đầu từ ngày ấy, Thị thường tụng kinh Di-Đà. Một đêm nọ trong nhà phát sáng như ban ngày , đức A-Di-Đà Phật hiện thân đứng trên hộp đựng kinh. Cảm sự linh ứng ấy thị càng tinh tấn tụng kinh. Thỉnh thoảng xá lợI nổI ra trên quyển kinh. Thị lượm cất dần đến hơn trăm hột.

Lý Thị sau khi chông chết, mỗI ngày niệm Phật và tụng kinh Di-Đà từ đầu hôm suốt đến sáng, tiếng vang cả trong ngoài. Mãi như vậy đến hơn mườI năm. Một hôm thị đương ngồI ngay thẳng niệm Phật, thoạt có một vị tăng hiện ra trước mặt, trên đầu sư tăng che lọng bằng lụa đỏ. Sư bảo thị “ Đến giờ tý ngày rằm này thị sẽ được vãng sanh “. Thị thưa “ Sư là ai ?” Sư đáp “ Là ngườI mà thị đang niệm đó ”. Dứt lờI liền biến mất. Đến kỳ cả nhà ngào ngạt mùi hương lạ , đương giữa đêm mà sáng như ban ngày. Lý Thị đoan tọa mà từ trần. Qua bảy ngày sau làm lễ trà tỳ , răng, lưỡI, tròng mắt đều không cháy, xá lợI nhiều vô số. Qua ngày kế chõ đất trà tỳ mọc lên một đóa hoa sắc trắng, vòng tròn hơn hai tấc, không ai biết là hoa gì.
Trích bộ : Phật Tổ Thống Kỷ.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

ĐOẠN ÁI DỤC

Trần thị Tịnh Kiên ngườI Tòng Giang, ham mộ Phật pháp, ghét thân phụ nữ . Thị xin phép chồng ở riêng, đoạn tuyệt tình dục, nghiêm trì giớI luật. MỗI ngày sớm tốI, tu nghi thức sám hốI Tịnh-Độ, lễ Phật một nghìn lạy. Giờ rảnh thị xem các kinh đạI thừa như : Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Pháp Hoa, Quang Minh v v…không ngày nào để luống qua. Một hôm thị đương ngồI trong nhà niệm Phật, bỗng có quang minh chiếu sáng lấn hơn ánh mặt trời. Thị liền xoay mặt về hướng Tây, chắp tay mà từ trần.
Trích : Phật Tổ Thống Kỷ.

Bà vợ ông Dương Tuyển Nhứt ở Nam Kinh , năm 30 tuổI, sau khi sanh một đứa con trai , bà ở riêng, cho chồng cướI vợ bé. Từ đó bà ăn chay trường niệm Phật. Cách 15 năm sau , vào tháng tám, nhọt mọc nơi lưng, đau nhức thấu xương. Thị tự thấy một con quỉ dữ tay cầm đao xoi khoét lưng mình. Thoạt có một vị thần cao lớn hiện ra đánh đuổI con quỉ ấy. Mụt nhọt liền êm không đau nhức nữa. Vài ngày sau bà bảo ông Tuyển Nhứt rằng “ Tôi sắp đi. Có 4 Đồng Tử đến rước. Nên rót 4 chén trà thơm cúng họ”. Tuyển Nhứt hỏI “ Bà sắp đi đâu?” bà đáp “ Tôi đi Tây Phương Cục-Lạc thế giớI”. Dứt lờI bà liền chắp tay lên tiếng niệm Phật mà qua đời.
Trích : Tịnh-Độ Thần Chung




LỄ PHẬT TƯỚNG HẢO

Hồ thị Tịnh An ngườI CốI Kê, chuyên tu Tịnh- nghiệp. Hàng ngày lễ tám muôn bốn ngàn tướng hảo của Đức Phật A-Di-Đà., cứ mỗI tướng hảo lễ một lạy. Thị vừa lễ giáp bốn bận , xẩy nhuốm bịnh nhẹ, thấy Phật hiện thân đến rước. Thị ngồI qua đờI một cách an lành. Lúc đó những ngườI ở gần và những ngườI qua đường đều nghe tiếng thiên nhạc trên không văng vẳng đi lần về hướng Tây.

Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ.


ĐOẠN DỤC

Bà vợ ông Tưởng Thập Bát ngườI HảI Diêm. Năm 30 tuổI cùng chồng đồng chí tu hành, đoạn trừ ái dục, mỗI ngày niệm Phạt tụng kinh ĐạI Thừa. Luôn như thế đến hơn 40 năm.
Một ngày nọ hai ngườI đều tự tắm rửa , thay đổI y phục , đông thắp hương xướng hồng danh của Phật. RồI mỗI ngườI tự biên bài kệ để lạI mà tạ thế.
Bài kệ của ông Thập Bát
Cài thân huyễn này, tứ đạI hợp thành,
Ngày nay phân tán, gốc đâu về đó.
Cái huyễn đã diệt, tro bay khói tắt.
Như gió ở hư không, như trăng trên trờI trong.
Đã không chướng ngạI, lạI hay sáng suốt.
Tất cả dứt hẳn, tuyệt đường ngôn thuyết
Bốn mươi năm nay thoát ly ái dục
Xiển dương ĐạI Thừa, sớm đọc tốI tụng
Ngày nay thả tay thẳng về Tây.
Tự có hiện thành, sẵn đạo quả.
Bài kệ của bà Tưởng
Đọc Pháp Hoa kinh mườI bốn ngàn
Bình sanh tu niệm có nhơn lành .
Tây phương Tịnh-Độ nhà ta đó
Tự tạI ngồI an Bát-Nhã thoàn.

Trích Nhàn Song Hoát Dị Chí






THOẠI TƯỚNG HIỆN TIỀN

1) Châu Thị ngườI Gia Hòa , dâu nhà họ Tôn, cha mẹ chồng đồng tu Tịnh-Độ rất chuyên cần, cảm tượng Phật thờ trong nhà phóng quang minh. Hương hoa tự nhiên hiện đầy cả trên bàn thờ, có lúc trên hư không Phật và Bồ-Tát hiện thân, có lúc nghe tiếng tụng giữa chừng hư không.
Trích Phật Tổ Thống Kỷ

2) Trịnh Thị ngườI Tiền Đường , mỗI ngày chuyên niệm hồng danh của Phật. Một hôm phảI bịnh , thoạt nghe trên không có tiếng bảo rằng “ Mụ sắp được về Tịnh-Độ, chớ có giảI đãi”. Kế lạI thấy Phật hiện ở trước mặt , thân Phật màu vàng ròng. Thị liền trổI dậy, day về phương Tây ngồI ngay thẳng. Thị có một ngườI con trai đã xuất gia, pháp danh Nghĩa Tu, liền cho ngườI gọI về. Thị bảo tụng kinh A-Di-Đà. Tiếng kinh chưa dứt, thị đã an lành mà đi. TốI đến con gái của thị mơ thấy thị về mách rằng “Mẹ đã đặng vãng sanh Cực-Lạc “.
Trích Phật Tổ Thống Kỷ

3) Châu Bà ngườI Huyện-Cần hằng ngày chuyên tu Tịnh-Độ. Cứ đến đầu năm , bà trì hạnh bất ngữ (không nói chuyện), ngày đêm ngồI ngay thẳng tưởng Phật, mãn tháng giêng mớI thôi. Những tháng nóng nực thờI bà thí nước trà cho khách lữ hành năm nào cũng như năm nấy. Một đêm nọ bà mơ thấy lá sen lớn trùm khắp cả đường phố , còn bà thì tay lần chuỗI, đi kinh hành trên lá. Không bao lâu bà nhuốm bịnh sơ sài. TốI hôm ấy, những ngườI lân cận thấy tràng phan, bảo cái từ trên không giáng xuống, thẳng vào nhà bà. Rạng đông, bà chấp tay xướng hồng danh của Phật mà mất.
Trích Vãng Sanh Tập

4) Mụ Trương năm trên năm mươi tuổI, ăn trường trai, niệm Phật. Năm 79 tuổI , một đêm nọ mụ tắt đèn tĩnh tọa, bốn phía vách bỗng phóng quang minh, hiện các thứ anh lạc. Giờ mụ lâm chung, khói hương trên bàn cuộn lên uyển chuyển kết thành tượng Phật, giây lát tượng ấy thành màu vàng ròng , mặt, mắt rõ, đẹp như vẽ một tay thòng xuống hình như tiếp dẫn. MọI ngườI kinh lạ đồng chấp tay chăm chú nhìn. Khói hương tan, tượng mất , mụ cũng đồng thờI an tịch.
Trích Tịnh Độ Tiết Yếu

5) Tiết Thị ngườI Võ Đường, dâu nhà họ Châu, sau khi sanh được con trai thờI ở góa. Từ đó thị chuyên tâm tu Tịnh-Độ . Tánh thị ưa bố thí không biết mỏI nhàm. Trong nhà thờ tượng Quan-Thế-Âm , khói hương trên bàn thường kết thành hoa sen , mọI ngườI đều được thấy. Mùa hạ năm Vạn Lịch thứ 15 thị nhuốm bịnh, không uống thuốc, không ăn, chỉ uống nước trong. Đến ngày mồng 6 tháng 9 thị cho ngườI thỉnh tăng về nhà lễ sám. Thị nói “ Mãn bốn ngày thờI công việc của tôi xong xuôi”. Bảo thiết tượng Phật A-Di-Đà để cho thị ngày đêm chuyên niệm. Thị bảo năm ngườI con trai đòng thanh xướng hồng danh Phật. Cấm hẳn phụ nữ không được vào. Đến ngày thứ năm, sáng sớm Thị đòi nước rửa tay, miệng tụng chú cam lộ, thay y phục mớI sạch sẽ, đầu độI mũ Chí-Công rồI quì thẳng trước tượng Phật xướng bài kệ “ Nhiên hương tán” và tam tự qui, lễ ba lạy, niệm Phật 108 câu. Niệm xong thị ngồI kiết già, tay bắt ấn mà tạ thế . Sắc mặt thị lộ vẻ vui tươi . MọI ngườI đồng nghe mùi hương sen thơm ngát cả nhà. . Thị có để lờI dặn “ Đóng khánh, không dùng hòm, không được đốt giấy tiền, không được sát sanh cúng tế”. Mấy ngườI con trai của thị đều tuân hành.
Trích Vãng Sanh Tập.

Mã Minh Bồ Tát

(Theo bộ Truyền Ðăng Lục, khi Bồ Tát sanh ra, cảm động đến bầy ngựa đều bi thương kêu la. Bồ Tát lại khéo thuyết pháp, có thể khiến cho bầy ngựa nghe rồi rơi lệ kêu thương. Sau khi đức Thích Ca diệt độ 600 năm, 96 thứ ngoại đạo ở Tây Vực đều phục hưng, phá hủy Phật Pháp; Bồ Tát bèn thị hiện sanh ở miền Ðông Ấn Ðộ, nước Tang Kỳ Đa, làm nhiều bộ luận hiển chánh phá tà. Trong bộ luận Khởi Tín, Bồ Tát khuyên người niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Khi lâm chung, ngài vào phép Long Phấn Tấn Tam Muội, đưa mình lên hư không, tỏa ra ánh sáng rực rỡ như mặt trời, kế đó lại trở về bản vị mà nhập Niết Bàn).

* Luận Đại Thừa Khởi Tín nói: "Nên mạnh mẽ tinh tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật; thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng về quả Bồ Ðề. Tu tập như thế không thôi nghỉ thì sẽ được khỏi các chướng, căn lành thêm lớn". Lại nói: "Như Lai có thẳng phương tiện để nhiếp hộ kẻ tín tâm. Ấy là dùng nhân duyên chuyên nhớ niệm Phật tùy nguyện cầu sanh về Tịnh Ðộ ở phương khác, do được thường thấy Phật nên vĩnh viễn xa lìa ác đạo. Như trong Tu Đa La nói: "Nếu người chuyên niệm Phật A Di Đà ở phương Tây, đem những căn lành mình tu hồi hướng về cõi kia, thì được vãng sanh. Do thường thấy Phật nên không còn lo thối chuyển”.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

(trich bài trả lời của Thánh Tri)

Long Thọ Bồ Tát

(Nhân vì ngài sanh dưới cội cây có rồng ở, lại đắc đạo ở Long Cung, nên gọi là Long Thọ. Bồ Tát dòng Phạm Chí, người xứ Nam Thiên Trúc, rộng hiểu các môn học thế gian, mới xuất gia ba tháng đã thông suốt tam tạng. Bấy giờ Long Vương rước ngài xuống Long Cung; trong chín tuần ngài xem Long Tạng chưa đầy muôn một, liền ngộ vô sanh nhẫn. Khi trở về nhân gian, Bồ Tát hoằng truyền Phật Giáo, tạo ra bộ Bà Sa Luận, trong ấy có khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây phương. Sau ngài vào Nguyện Luân định mà tịch. Trong kinh Lăng Già, đức Phật đã huyền ký: “Sau xứ Nam Thiên Trúc. Có Long Thọ tỳ khưu. Hay hiển nghĩa trung đạo. Chứng Sơ Hoan Hỷ địa. Sanh về cõi Cực Lạc”).

* Luận Đại Trí Độ nói: "Niệm Phật Tam Muội có thể trừ các thứ phiền não và tội đời trước. Lại nữa, Niệm Phật Tam Muội có phước đức lớn hay độ chúng sanh. Cho nên các Bồ Tát muốn độ sanh, nếu tu các pháp tam muội khác, tất không bằng môn Niệm Phật Tam Muội, vì môn này có phước đức lớn, mau diệt các tội. Phật là pháp vương, Bồ Tát là pháp tướng, chỗ Bồ Tát tôn trọng duy có Phật, Thế Tôn. Bồ Tát thường khéo tu nhân duyên niệm Phật, nên thường gặp chư Phật, như kinh Bát Chu có nói: "Bồ Tát vào tam muội này, liền hiện sanh về cõi Phật A Di Đà".

* Luận Bà Sa nói: "Đức A Di Đà có bản nguyện như thế này: "Nếu người xưng niệm danh hiệu và quy y nơi ta, kẻ ấy quyết được quả vô thượng Bồ Đề". Cho nên, phải thương nhớ niệm Phật. Lại dùng kệ khen ngợi Phật rằng:

Trí huệ sáng vô lượng.
Thân như tòa kim sơn.
Con dùng thân, miệng ý,
Chắp tay cúi đầu lạy.
Chân Phật ngàn bức luân,
Sắc hoa sen mềm dịu,
Kẻ thấy đều vui mừng,
Cúi đầu lễ chân Phật.
Tướng bạch hào sáng đẹp,
Trong sạch như trăng Thu,
Ánh tỏa khắp mặt vàng,
Nên con cúi đầu lạy,
Nếu người muốn thành Phật.
Tâm niệm A Di Đà,
Theo thời vì hiện thân,
Cho nên con quy mạng.
Người xưng niệm nơi Phật,
Sức công đức không lường,
Thì liền được vào định.
Cho nên con thường niệm.
Nếu người trồng căn lành,
Nghi thì hoa không nở,
Kẻ lòng tin trong sạch,
Hoa nở liền thấy Phật
Do nhân duyên phước này,
Tất được đức thắng diệu,
Nguyện các loài chúng sanh,
Cũng đều được như vậy.



Thiên Thân Bồ Tát

(Bồ Tát người xứ Thiên Trúc, khi mới xuất gia học theo pháp Tiểu Thừa, hủy báng kinh điển Đại Thừa. Sau ngài nhờ anh là Vô Trước nhiều phen chỉ dẫn, mới hối ngộ sự lỗi lầm, muốn tự cắt lưỡi. Vô Trước bồ tát bảo: "Xưa em dùng lưỡi hủy báng Đại Thừa, nay phải dùng lưỡi mà tán dương pháp ấy để chuộc tội. Việc sửa lỗi hãy còn chưa muộn, nếu cắt lưỡi đi, nào có ích gì?" Vâng lời anh, Ngài Thiên Thân từ đó đem hết tâm tư, tạo ra hơn 100 bộ luận Đại Thừa. Trong ấy có luận Vãng Sanh, phát huy rõ ràng sự trang nghiêm lợi ích của cõi Tịnh Ðộ. Người niệm Phật nên chú ý đến luận này).

* Vô Lượng Thọ Kinh Luận nói: "Nếu tu ngũ niệm môn thành tựu, kết quả sẽ được vãng sanh về Cực Lạc, thấy Phật A Di Đà. Ngũ niệm môn là gì?

Lễ bái môn
Tán thán môn
Phát nguyện môn
Quán sát môn
Hồi hướng môn.

Lễ bái là thế nào? Ấy là dùng thân lễ Đức Phật A Di Đà, tỏ ý cung kính, cầu Phật nhiếp thọ.

Tán thán môn là thế nào? Đây là dùng miệng khen ngợi sắc thân, danh nghĩa, ánh sáng, trí huệ của Đức Như Lai kia, muốn tu hành như thật cho được tương ưng.

Phát Nguyện môn? Ấy là một lòng chuyên niệm vào nơi chánh định, nguyện sanh về Cực Lạc.

Quán sát là thế nào? Đây là dùng chánh niệm quán sát công đức trang nghiêm của cõi Cực Lạc, công đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, và công đức trang nghiêm của chư Bồ Tát, và Thánh Chúng.

Hồi hướng là thế nào? Ấy là tâm từ bi không bỏ những chúng sanh khổ não, nguyện đem căn lành công đức của mình, hồi hướng cầu cho tất cả loài hữu tình đều được sanh về Cực Lạc.


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

TRI LỄ
Tri Lễ đạI sư họ Kim, tự Ước Ngôn , ngườI Minh Châu. Phụ mẫu lễ Phật cầu tự mơ thấy Thần Tăng trao cho một đồng tử và nói “ Đây là Phật tử vậy”.Không bao lâu thì sanh đạI sư. Năm lên 7 mẹ mất. ĐạI sư ngày đêm kêu khóc , thưa vớI cha xin xuất gia. Thế độ nơi Hồng Tuyển đạI sư tạI chùa Hưng Quốc ở Thái Bình. TuổI trưởng thành, đạI sư đến học Thiên Thai Giáo Quán vớI Nghĩa Thông pháp sư ở chùa Bửu Vân . Tông chỉ viên đốn một phen truyền dậy là đạI sư liễu đạt cả. Ít lâu sau đạI sư trụ Bảo Ân viện, giảng Thiên Thai Giáo Quán, Tăng chúng theo học rất đông. . Minh Châu bị hạn, đạI sư hiệp cùng Từ Vân sám chủ tu Quang Minh sám. ĐạI sư ước ba ngày mà không mưa sẽ tự đốt một cánh tay. Đến ngày thứ ba trờI mưa to. Năm Tường Phù thứ ba triều Tống, đạI sư trùng kiến Ân Bảo viện . Triều đình phụng hiệu “Diên Khánh Tự”. Năm thứ sáu đạI sư lập đạo niệm Phật, truyền giớI. ĐạI sư có làm bài văn để khuyến tấn đạI chúng
“ Nguyên về một niệm bổn dung , chư pháp vô ngạI, bị huân tập đã khác tất thọ báo không đồng. Cho nên hễ thuận tánh mà tu thờI hiển chư Phật Tịnh-Độ còn theo tình tạo nghiệp thờI chịu khổ trong luân hồi. Vì thế ở Ta-Bà mà tu giảI thoát rất khó, đọa lạc phần nhiều. Kinh nói : Được thân ngườI như đất dính móng tay, đọa tam đồ nhuwcoix đạI địa. Chờ đến Thánh Hạnh đầy đủ mớI khỏI thọ sanh nơi ác đạo. Đó là do ở cõi uế trược này trần cảnh thô cường, phiền não lẫy lừng nên tự lực cầu giảI thoát khó có ngườI được. Nếu ngườI sanh về Tịnh-Độ Cực-Lạc thờI cảnh giớI trang nghiêm, thân tâm thanh tịnh, thẳng một mực lên quả Phật chẳng còn sa đọa. . Như kinh dậy ở đó “ Còn không có danh từ ác đạo, huống là có thật”. Kinh lạI nói “ Chúng sanh sanh về Cực-Lạc đều là bực A=Bệ-Bạt-Trí”. Nếu ai muốn sanh về cõi tịnh đó thờI phảI xưng niệm hồng danh của Phật A-Di-Đà, tu hạnh từ của Phật A-Di-Đà tất được nguyện lực của Phật nhiếp thủ . Khi xả thân này quyết định vãng sanh. Rõ như trong kinh đã dậy thiệt chẳng phảI tôi tự đặt điều . Nay kết muôn ngườI để làm một hộI , tâm tâm chuyên niệm ngày ngày nguyện sanh.


MỗI năm đến tiết Trọng Xuân, đồng hợp một chỗ, đồng cúng Phật, đồng nghe pháp âm. Hợp cả vạn tâm làm thành nhứt chí, cho Tịnh –nghiệp chóng thành , thệ được vãng sanh. Huống lạI thân mạng ngũ trược khác nào ngọn đèn trước gió. Một hơi thở chẳng lạI thờI ác đạo hiện tiền, đâu đặng chần chờ mà nghĩ đến quả báo ngày mai ! PhảI thể theo lờI Phật dạy chớ nên tùy tục tình,kíp dứt bặt phan duyên, siêng gắng niệm Phật “ .
Từ đó trở đi cứ đến rằm tháng hai là ngày đạI hộI thường năm.
ĐạI sư cùng từng mườI sư tăng tu Pháp Hoa Sám ba năm, kỳ hạn mãn sẽ đốt thân cúng dường kinh Pháp Hoa để cầu sanh Tịnh-Độ. Sau vì đạI chúng cực lực ngăn trở nên thôi. ĐạI sư lạI cùng mườI sư tăng tu ĐạI Bi Sám ba năm, đốt ba ngón tay cúng Phật. Nhà vua biết hạnh đức của đạI sư bèn phụng hiệu là “ Pháp Chí “, và có lờI khuyên nên trụ thế để truyền đạo.
ĐạI sư thấy chư tổ xiển dương Tịnh-Độ phần nhiều bàn về sự tướng , ít dạy đến quán môn nên đạI sư y cứ nơi bộ “ Quán Vô-Lượng-Thọ Phật Kinh Sở” của tổ Trí Giả mà soạn thành bộ “Diệu Tông Sao “ DướI đây là lược đoạn thích đề của bộ ấy:
“ _ Quán , là mườI sáu quán thuộc năng quán trí , Vô-Lượng-Thọ Phật là cương yếu của sở quán cảnh, nhiếp cả mườI lăm cảnh. Năng quán đều là nhứt tâm tam quán, sở quán đều là nhứt cảnh tam đế, Tỳ Lo Giá Na khắp tất cả chỗ , tất cả pháp đều là Phật pháp. Phật tánh đức của chúng sanh, phi tự, phi tha, phi nhơn, phi quả, chính là thể viên thường đạI giác nên trong luận KhởI Tín nói “ Giác, nghĩa là nói tâm thể ly niệm. Ly niệm tướng thờI khắp hư không giớI không đâu chẳng khắp., Pháp giớI nhứt tướng chính là Như Lai thường trụ Pháp thân. Y cư Pháp thân này mà gọI là bổn giác. Cho nên biết rằng thể của Phật quả viên minh là tánh đức bổn cụ của phàm phu chúng ta . Vì thế nên tát cả kinh giáo luận về hành pháp (hành pháp là công hạnh tu trì bốn môn tam muộI) đều là hiển bầy giác thể này. Cho nên bốn môn tam muôi (gồm Nhứt hạnh tam muộI, Pháp Hoa tam muộI, Bát Chu tam muộI, Tùy tự ý tam muộI) đồng gọI là niệm Phật. Dầu là đồng niệm Phật , mà chính là hiển Phật thể.



Riêng về mườI sáu quán môn này cùng Bát Chu tam muộI thờI gá nơi cảnh y báo và chánh báo của Cực-Lạc Thế GiớI , dùng quán trí vi diệu chuyên ở nơi Đức Phật A-Di-Đà mà hiển thể chân thật. Dầu gá vào cảnh Tịnh-Độ mà nên biết rằng y bao9s và chánh báo ấy đồng ở nơi nhứt tâm. Tâm tánh trùm khắp , không pháp nào không tạo, không pháp gì là không đủ. Nếu có một mảy ở ngoài tâm , thờI chẳng gọI là đạI thừa quán vậy. Ở đoạn trước nói tâm tánh đủ tất cả pháp, tạo khắp tất cả, thiệt ra thờI vốn không năng, sở, tức tâm là pháp, tức pháp là tâm, nhơn duyên năng tạo cùng pháp sở tạo , mỗI mỗI thẩy đều là tâm tánh .Cho nên hay quán tưởng hoặc y báo Cực-Lạc hay chánh báo Di-Đà, bèn là pháp giớI tâm quán lấy pháp giớI cảnh sanh nơi pháp giớI y báo sắc tâm. Đây thờI gọI là : Duy y, duy chánh, duy sắc, duy tâm, duy quán, duy cảnh. Cho nên giảI chữ quán thờI dùng nhất tâm tam quán , giảI Vô-Lượng-Thọ thờI dùng nhất thể tam thân. Thể tông lực dung về nghĩa đều là viên , phán giáo thuộc đốn. Xin nói vớI ngườI tu hành , quán pháp , dầu là thâm diệu nhưng vốn là để lợI ích cho hàng sơ tâm .Nếu có thể tấn công lo gì không thành. Túng sử chưa được nhập phẩm ( trong 9 phẩm) , nhưng để làm nhơn cũng mạnh. Sanh về Tịnh-Độ đặng dự đạI hộI, bèn thấy y báo, cùng chánh báo vi diệu bất tư nghị mau chứng thánh quả, độ sanh rất rộng. Huống chi hiên tạI đây trần cảnh thô cường, thật là chốn nguy hiểm. Vậy nên phảI : ngoài thờI tu sự-sám, trong thờI chuyên lý quán , đồng thờI thực hành cả chánh hạnh và trợ hạnh, lạI thêm phát nguyện tha thiết, lập điều ước để tự kiềm chế. Quyết định ở nơi Tịnh-Độ mau chứng quả vô sanh. Nay giảI quán môn ý nghĩa như thế.
Ngoài ra các bộ luận sớ khác của đạI sư chỉ thuật đều chỉ qui Tịnh-Độ cả.
Nhơn ngày lễ Phật Đản , sư lập hộI phóng sanh, nhóm chúng tác pháp , thả những chim cá. Nhà đương cuộc tâu việc ấy lên vua . Triều đình truyền chỉ cho quan Khu Mật Lưu Quân soạn bài văn khắc vào bia đá dựng trong chùa.
Năm Thiên Khánh thứ 6, đạI sư sắp tịch bèn lập đàn Quang Minh Sám 7 ngày. Sám đến ngày thứ 5 , đạI sư ngồI kiết già họp chúng thuyết pháp , xong vụt tự xướng to A-Di-Đà Phật vài trăm câu rồI yên lặng mà viên tịch, thọ 69 tuổi. Để khánh trần 7 ngày, móng và tóc dài ra thêm . Lúc trà tỳ , cái lưỡI không cháy, đỏ hồng như cánh sen.
Trích bộ Tứ Minh Giáo Hạnh Lực



HUỆ MẠNG

Huệ Mạng pháp sư họ Quách , ngườI Thái Nguyên .Sau khi xuất gia ngài chuyên tu Phương Đẳng Sám và Phổ Hiền Sám. Ngài theo thọ giáo vớI Ân Quang Thiền sư và Tiên Lộ thiền sư. Về sau ngài đến Tiên Thành Sơn > Núi này trước đây có đạo sĩ Mạnh Thọ kính mộ Phật Giáo muốn cúng quán viện của mình để sửa làm chùa tháp. Khi Huệ Mạng pháp sư sắp đến núi , ông Mạnh Thọ nằm mơ thấy chư thần nghiêm vệ bên cạnh viên , ông chợt tỉnh thì pháp sư đến cửa, ông liền cúng quán viện ấy sửa làm chùa Thiện-Quang , đạI chúng lần lượt hộI về. Không bao lâu pháp sư trở lạI Cố-Lâm rồI cùng bạn đồng chí là Pháp Âm thiền sư đồng đến chùa Quả-Nguyện ở Trường Sa, chỗ cũ của Huệ Năng thiền sư , mà tu học thiền định , ít lúc sau lạI dắt nhau trở về Tiên Thành Sơn.
Năm năm sau hai ngườI tự biết trước ngày giờ, dắt tay nhau cùng đi đến rừng tòng . Ngó nhau cườI rằng “ Có thể chọn ở nơi đây”. Thị giả nghe nói thế nhưng chưa hiểu. Không đầy tuần nhật, hai ngườI đồng nhuốm bịnh . Năm Thiên Hòa thứ 3 nhà chu, ngày 5 tháng 11 , Huệ Mạng pháp sư ngồI kiết già xây mặt về hướng Tây mà niệm Phật . ĐạI chúng đồng thấy Phật A-Di-Đà hiện đến , pháp sư liền chắp tay mà tịch. Có tiếng xướng “Thiện tai” Hương thơm ngào ngạt cả chùa, tiếng thiên nhạc vang dậy cả hư không.
Ngày 17 tháng ấy , Pháp Âm thiền sư cũng đoan tọa xây mặt về hướng Tây niệm Phật mà tịch. Phật hiện, hương thơm, thiên nhạc v v… đồng như lúc Huệ Mạng pháp sư viên tịch , và đồng 38 tuổi.
ĐạI chúng xây tháp hai ngài ở rừng tòng.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện





TĂNG TẠNG

Tăng Tạng hòa thượng ngườI Tây Hà , xuất gia từ thuở bé. Ngài hạ mình thờ ngườI, cung kính tất cả, không từ lao khổ : Thấy y cũ của các sư ngài lén đem giặt và nhíp vá dùm. Thương cổI áo ngồI trong cỏ thí máu cho muỗI mòng. MỗI ngày niệm Phật vô số , tinh tấn không bê trễ. Đến lúc lâm chung , chư thiên từ cõi thấp đến cõi cao , trước sau đến rước, hòa thượng đều khước từ. Yên lặng giây lát, hòa thượng bảo đạI chúng rằng “ Vừa rồI tôi qua Tịnh-Độ thấy chư Thượng Thiện Nhơn rảI hoa trên hư không”. Dứt lờI hòa thượng chắp tay, niệm Phật mà tịch.

Trích Tống Cao Tăng Truyện

ĐẠO KIỆT

Đạo Kiệt pháp sư họ Dương ngườI Hà Đông, năm 20 tuổI xuất gia thọ cụ túc , kế qua Thanh Châu nghe Hà Ký Luận sư giảng Thành-Thật-Luận. Sau khi luận sư tịch, ngài đi các nơi tham học tạng Luận và từng khai giảng ở nhiều nơi.
Một hôm ngài tự xét : Luống theo ngôn thuyết, tâm tánh mê mờ, đến như chánh huệ, nếu không nhờ chánh định thờI không phát!). Ngài bèn thôi giảng, qua học thiền vớI Chơn Huệ thiền sư ở Ma Cốc . Ngài thâm nhập duyên khởI, thiền sư khen là lợI căn.
Ngài bản tánh ít nói, thiểu dục, không quan tâm đến cảnh khổ cũng như cảnh vui.
Ngài có làm tăng chủ chùa Thê Nham.
Năm Trinh Quán nguyên niên ngày 28 tháng 7 ngài nhuốm bịnh nhẹ, đình giảng mà tịch. Cả chùa đồng nghe mùi hương lạ và thiên nhạc. Cũng chính ngày này , hai ngườI con gái của ông Phàn Xước , một cư sĩ, bạn của pháp sư đồng mơ thấy ông Xước ngồI tòa sen trên hư không bảo rằng : “ Cha Đã vãng sinh Tây-Phương Cực-Lạc thế giớI, nay đến rước Đạo Kiệt pháp sư.”. RồI ông bay thẳng về phía chùa Thê Nham. Lúc Pháp sư tịch , đạI chúng thấy ông Xước hiện thân đứng trên không.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện.


(trg 13)


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

ĐẠO KIỆT

Đạo Kiệt pháp sư họ Dương ngườI Hà Đông, năm 20 tuổI xuất gia thọ cụ túc , kế qua Thanh Châu nghe Hà Ký Luận sư giảng Thành-Thật-Luận. Sau khi luận sư tịch, ngài đi các nơi tham học tạng Luận và từng khai giảng ở nhiều nơi.
Một hôm ngài tự xét : Luống theo ngôn thuyết, tâm tánh mê mờ, đến như chánh huệ, nếu không nhờ chánh định thờI không phát!). Ngài bèn thôi giảng, qua học thiền vớI Chơn Huệ thiền sư ở Ma Cốc . Ngài thâm nhập duyên khởI, thiền sư khen là lợI căn.
Ngài bản tánh ít nói, thiểu dục, không quan tâm đến cảnh khổ cũng như cảnh vui.
Ngài có làm tăng chủ chùa Thê Nham.
Năm Trinh Quán nguyên niên ngày 28 tháng 7 ngài nhuốm bịnh nhẹ, đình giảng mà tịch. Cả chùa đồng nghe mùi hương lạ và thiên nhạc. Cũng chính ngày này , hai ngườI con gái của ông Phàn Xước , một cư sĩ, bạn của pháp sư đồng mơ thấy ông Xước ngồI tòa sen trên hư không bảo rằng : “ Cha Đã vãng sinh Tây-Phương Cực-Lạc thế giớI, nay đến rước Đạo Kiệt pháp sư.”. RồI ông bay thẳng về phía chùa Thê Nham. Lúc Pháp sư tịch , đạI chúng thấy ông Xước hiện thân đứng trên không.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện.


THẦN TỐ
Thần Tố luận sư họ Vương , ngườI Hà Đông, pháp hữu của Đạo Kiệt pháp sư. Lúc Đạo Kiệt pháp sư đình giảng đi học thiền, thì luật sư giảng thế. Năm Trinh Quán thứ 2 , Luật Sư làm tăng chủ ở Thê Nham. Tất cả công hạnh tự hành và hóa tha, Luận sư đều hồI hướng trang nghiêm Cực-Lạc Tịnh-Độ.
Năm Trinh Quán thứ 17 , ngày 23 tháng 2 Luận sư họp đạI chúng để từ biệt , rồI đoan tọa, bảo đạI chúng đọc kinh Quan Âm hai biến. Luận sư chắp tay chăm chỉ nghe , rồI tự niệm sáu câu “Nam mô A-Di-Đà Phật” Luận sư lạI bảo trong chúng một ngườI xướng còn bao nhiêu thờI hòa theo. Như vậy mãi đến tốI Luận sư vẫn nghiễm nhiên ngồI ngay thẳng. Chúng đến gần xem kỹ thì ra ngài đã ra đi từ lúc nào.
Đêm ấy Trí Khoan pháp sư ở chùa Nhơn Thọ đương lúc tịnh tọa , thấy Luận sư đến cáo biệt , căn dặn gắng hộ trì chánh pháp để báo ơn Phật. Sáng ngày pháp sư mớI được tin Thần Tố luận sư đã viên tịch hồI chiều hôm qua.
Trích Tục Cao Tăng truyện
Chủ đề này chưa được bình chọn, bấm vào đây để bình chọn chủ đề



KHẮC CẦN
Sư Khắc Cần họ Trưởng , ngườI Hồ Nam . từ bé tánh khờ khạo. Năm ngoài hai mươi tuổI , xuất gia tạI am Hồng Thế ở Thiện Hóa, rồI thọ cụ túc giớI ở Lộc Sơn . Sư không biết chữ , học mấy thờI khóa tụng ngót 5 năm mớI thuộc. Sau đó trọn 10 năm, sư đi khắp ngũ nhạc tứ sơn và các đạI tòng lâm để tham học, nhưng rốt cuộc không thông hiểu một mảy gì, vẫn khờ khạo như cũ. Đến năm 60 tuổI sư nghe Minh Quả pháp sư giảng về công đức của pháp môn trì danh niệm Phật quý nhất tạI “ Nhất tâm bất loạn “. Nếu tâm tạp loạn, chăm chú nghe kỹ tiếng niệm thờI tạp niệm sẽ tự trừ, vọng tưởng sẽ tự diệt , tâm sẽ đặng thanh tịnh v v… Từ đó sư mớI được biết pháp môn niệm Phật , bèn chuyên tu.
Sau năm năm thờI tánh cũ của sư đều mất, tâm hằng tự tạI minh mẫn. Lúc rảnh sư thường bảo ngườI rằng “ Tu hành quí tạI Nhứt tâm bất loạn, nghiệp chướng của tôi do niệm Phật mà tiêu sạch. Mấy năm gần đây chẳng những không phiền não, mà thân tâm đều được khinh an”.
Một hôm sư cho ngườI đi mờI sư huynh Hàm An. Qua ngày kế Hàm An đến , sư vừa thấy liền nói “Khắc Cần này xin cáo từ sư huynh!”. Hàm An hỏI “ Tính đi đâu?”sư đáp “ Đi Tây Phương Cực-Lạc thế giớI”. Hàm An bảo “Nói khùng phảI không?” Sư nói “ Từ sáu năm gần đây, tâm tôi không loạn động niệm A-Di-Đà câu câu rõ ràng , mục kích Tịnh-Độ , tự biết ngày giờ quyết định vãng sanh. Chẳng phảI khi dốI vậy!”. Sư liền đem tất cả công việc trong am giao phó cho Hàm An rồI lạI bảo “Giờ ngọ ngày mai tôi sẽ từ biệt sư huynh. Anh em già vớI nhau tất phảI lo cho nhau. Sư huynh nên gắng công tu pháp môn niệm Phật để chẩn bị tư lương Tịnh-Độ”. Chiều hôm ấy, sư ngồI một mình niệm Phật, không nói chuyện.
Sáng hôm sau sư tắm gộI thay y phục, thắp hương lễ Phật , tạ tổ xong sư vẫn vào tịnh thất ngồI niệm Phật. Đến giờ ngọ sư mớI chậm rãi đi vào ngồI kiết già trong khánh , tay cầm chuỗI yên lặng niệm Phật . Mãi hai giờ sau Hàm An thấy lâu mà không thấy sư động tịnh , bèn lạI gần xem , thì ra sư đã tịch rồi. Chừng đó mớI cả kinh tin thật và đồng thờI vớI sư Phổ Ấm v v…đều nghe mùi hương lạ . Lúc đó là giờ ngọ ngày mùng 5 tháng 7 năm Tân Sửu. Triều vua Quang Tự nhà Thanh. Bấy giờ nhằm tiết khí trờI nóng nực , đình khánh 7 ngày, thi hài vẫn không sình nứt . Những ngườI mục kích đều khen là lạ ít có.
Trích Cận ĐạI Vãng Sinh Truyện.




MINH CHIÊM
Minh Chiêm đạI sư họ Đỗ , ngườI Hằng Châu . Thuở trẻ ngài có chí xuất thế , bỏ khoa cử , xuất gia tạI chùa Ứng Giác ở Phi Long Sơn. Triều Tùy ngài ở kinh sư thường chủ nhiều pháp tòa. Có của thí riêng, ngài cúng dường cho chư tăng và thơ tả các kinh luận đạI thừa . Ít lúc sau ngài vào ẩn tạI chùa Trí Cự trong núi Thái Ất . TuổI già ngài khắc chí Cực-Lạc . Có ngườI chê ngài là muộn . Ngài bảo “Thập niệm công thành còn được thấy Phật thay , tôi nào có lo gì muộn!”.
Đầu niên hiệu Trinh Quán , ngài vâng chiếu vào nộI điện, ngồI ngự sàng. Sau khi thọ trai xong, đạI sư giảng rộng về thuật trị nước của bậc minh quân, dùng lòng từ, hộ sanh làm gốc. Nhà vua bằng lòng lắm, liền hạ chiếu truyền khắp cả nước : MỗI năm trong ba tháng lớn, mỗI tháng trong sáu ngày trai, nghiêm cấm giết thịt, và truyền dựng lập nhiều chùa ở các nơi .
Tháng 10 năm Trinh Quán thứ 2., nhuốm bịnh, đạI sư tự biết trước ngày giờ, bèn đến chùa Hưng Thiện ở kinh, thiết trai để từ biệt đạI chúng, lúc đó các quan phụ tướng như Phòng Huyền Linh . Đỗ Như HốI đều có dự trai. Liền trong ngày đó, đạI sư trở về chùa Trí Cự , ngày đêm tưởng niệm Tây Phương chuyên cần chẳng hở. Ngày 27 tháng 10 đạI sư bỗng gọI thị giả mà bảo “ Phật đã đến”. Giây lát lạI nói “ hai vị Bồ-Tát cũng đến ! Tôi ở nơi Quán Kinh thành tựu quán pháp thứ 12 . Nay Phật và Bồ-Tát đến rước tôi về Tịnh-Độ. Nói xong đạI sư chấp tay vui vẻ mà tịch. Thọ 70 tuổI
Trích Phật Tổ Thống Kỷ
Tục Cao Tăng Truyện




TRI HUYỀN
Tri Huyền đạI sư họ Trần, tự Hậu Giác, ngườI My Châu. Năm lên bảy đạI sư nghe giảng kinh ĐạI Niết Bàn tạI chùa Ninh Di, liền thông thuộc như đã từng học nhuần từ trước. Đêm aaysddaij sư mơ thấy Phật xoa đầu mình. Năm 11 tuổI xuất gia , phàm được học đến bộ kinh sớ nào đạI sư đều thông đạt cả. Năm 13 tuổI ĐạI sư ban pháp tòa diễn giảng , các hàng tăng tục đều kính phục.
Triều vua H Tông nhà Đường phụng hiệu Ngộ Đạt quốc sư , ban tòa trầm hương. Không bao lâu trên đầu gốI đạI sư mọc lên một mụt ghẻ hình mặt ngườI, đau nhức lắm, không thuốc gì trị được. Trước đó mấy năm đạI sư từng tận tâm chăn sóc một ông tăng có bịnh nặng. Lúc từ giã đi nơi khác, Ông tăng ấy dặn đạI sư nếu sau này có khổ nạn nơi thân thờI nên đến tìm ông tạI núi Cửu Long đất Thục. Bấy giờ đạI sư nhớ lờI dặn ấy, và đi tìm gặp ông tăng tạI núi Cửu Long. . Ông tăng cho một đồng tử dắt đạI sư đến một lạch suốI để rửa ghẻ. Khi sắp rửa, mụn ghẻ mặt ngườI bỗng lên tiếng bảo khoan rửa và nói rằng “ Ông từng đọc khắp các kinh sử, chắc ông biết việc Viên Ưởng giết Triệu Thố đờI nhà Hán chứ? Ông chính là Viên Ưởng, còn ta là Triệu Thố. Ta đờI đờI theo sát bên ông để báo oán. Song vì ông luôn mườI đờI làm cao tăng , giớI hạnh tinh nghiêm nên không hạI được. Mấy lúc gần đây ông được nhà vua và mọI ngườI quí trọng thái quá nên ta mớI có dịp báo thù. Hôm nay nhờ Ca Nhã Ca Tôn Giả dùng nước Tam MuộI rửa ta, , ta không theo làm hạI ông nữa “. ĐạI sư khoát nước rửa ghẻ, ghẻ liền lành.
Từ ngày ấy ĐạI sư tự răn trách tâm niệm danh vị của mình , làm văn Thủy Sám trừ tộI chướng , tinh nghiêm giớI luật , thiểu dục tri túc . ĐạI sư tự xét ở Ta Bà khó thành nhẫn lực nên ngày đêm sáu thờI tinh tiến hành đạo cầu vãng sanh Cực-Lạc. Một hôm bỗng nghe trên không có tiếng xướng to rằng “ Chắc đặng vãng sanh Tịnh-Độ “. ĐạI sư liền hỏI là tiếng ainois. Trên không đáp “ Phật đấy!” Một bữa khác, ĐạI sư lạI thấy một vị Bồ-Tát giáng lâm cặn kẽ khuyên nhắc . Giờ lâm chung ĐạI sư dặn đem thây mình bỏ nơi bãi biển để thí cho chim cá. ĐạI sư bảo mọI ngườI “ Từ lâu tôi mong được về Tây Phương Tịnh-Độ , bây giờ chính là lúc được mãn nguyện!”. Dứt lờI ĐạI sư day mặt về hướng Tây mà tịch. Thọ 73 tuổi.
Trích Tống Cao Tăng Truyện
Thần Tăng Truyện


TỰ GIÁC
Tự Giác đạI sư ngườI Bác Lăng , thuở nhỏ xuất gia tạI chùa Khai Ngươn . Về sau đạI sư qua học kinh, luật, luận ở chùa Thiên Pháp. Cần Mẫn trọn 9 năm , thông suốt cả tam tạng. ĐạI sư qua ở núi Trùng Lâm tu khổ hạnh , mỗI ngày chỉ ăn một bữa rau trái sơ sài.
Gặp năm đạI hạn , quan Tiết Đạt Sứ ở Hằng Dương nghe đạo hạnh của đạI sư bèn đích thân vào núi thỉnh đạI sư cầu mưa. ĐạI sư chí thành cầu Long thần, mưa liền xốI xuống. Từ lâu đạI sư có ý muốn đúc tượng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát. Sau ngày cầu mưa, thí chủ các nơi họp công của đến đúc tượng Quán-Thế-Âm Bồ-Tát bằng đồng cao bốn mươi chín thước, tướng hảo uy nghiêm . Qua năm sau chùa, điện cũng hoàn thành.
ĐạI sư bèn ở trước bửu điện lập thệ . Nguyện sớm vãng sanh Cực-Lạc. Canh ba đêm ấy thoạt có hai luồng kim quang chiếu đến . Đức A-Di-Đà Phật từ trong ánh sáng vàng bước xuống , Quan-Thế-Âm Bồ-Tát theo hầu bên tả ĐạI Thế Chí Bồ-Tát theo hầu bên hữu. Đức Phật đưa cánh tay vàng xoa đầu đạI sư mà bảo rằng “Gìn chí nguyện, chớ có đổI , độ ngườI làm trước. Đài sen nơi ao báu, ông sẽ được thác sanh”.
Năm Trinh Ngươn thứ 11 nhà Đường , đêm rằm tháng hai , Thiên Thần hiện nửa mình trên không cúi xuống nói vớI đạI sư rằng” Ngài đã gần đến kỳ về Tịnh-Độ!”. ĐạI sư đưa tay lên tạ thần. Đến ngày 14 tháng 6 đạI sư ngồI kiết già trước tượng Quán-Thế-Âm mà tịch. Từ khi đạI sư viên tịch về sau, tượng Quán –Thế-Âm ấy thường hiện nhiều việc linh ứng.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ
Tống Cao Tăng Truyện


THIỆN ĐIỆU
Thiện Điệu đạI sư ngườI Lâm Tuy, từng vào trước ĐạI Tạng Kinh, chí thành rút lấy một quyển, nhằm quyển “Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh”. Từ đó trở đi đạI sư chuyên tâm niệm Phật , tu thập lục diệu quán . Đến khi qua Lô Sơn, được thấy di tích của ngài Huệ Viễn đạI sư, chí nguyện của ngài càng thêm tha thiết. Ít lúc sau đạI sư vào ẩn ở núi Chung Nam tu Bát Chu Tam MuộI vài năm, cảm được bửu lâu, bửu trì luôn hiện ở trước mặt. RồI đạI sư qua Tấn Dương học Vô Lượng Thọ Kinh nơi Đạo Xước thiền sư. Thường khi đạI sư nhập định bảy ngày mớI xuất. Xước thiền sư thỉnh xem chỗ sanh của mình. ĐạI sư bảo “ Thiền sư phảI sám hốI ba tộI mớI được vãng sanh. Thiền sư từng để tượng Phật bên cửa sổ, còn mình thì ở giữa nhà, đây là tộI thú nhứt, phảI đốI Phật mà sám hối. Sư lạI thường sai khiến ngườI xuất gia, đây là tộI thứ hai, phảI đốI chư tăng mà sám hối. LạI vì xây dựng nhà cửa làm tổn hạI nhiều côn trùng, phảI đốI chúng sanh mà sám hối. Xước thiền sư nghe xong bèn tự xét, nhớ kỹ lạI những lỗI của mình, rồI chí tâm sám hối. Ít lâu sau, một hôm xuất định, ĐạI sư bảo Xước thiền sư rằng “ Sư đã sạch tộI, Ngày sau , bao giờ có bạch quang chiếu tớI là triệu chứng vãng sanh !”.
ĐạI sư đến kinh sư giáo hóa , ngườI qui hướng rất đông. Một ngày nọ nhuốm bịnh nhẹ , đạI sư kiết thất chuyên ròng hành đạo , rồI vui vẻ niệm Phật mà tịch. MọI ngườI đồng nghe thiên nhạc, dị hương từ thất của đạI sư lần đi thẳng về hướng Tây.
Trích bộ : Phật Tổ Thống Kỷ.



ĐẠI HẠNH
ĐạI Hạnh pháp sư ngườI Tế Châu , học Thiên Thai giáo quán , rồI vào ở núi Thái Sơn , bện cỏ che thân , lượm trái đỡ dạ , tu Pháp Hoa Tam MuộI cảm đức Phổ Hiền hiện thân. Một hôm ngài tự than rằng “ Mạng ngườI vô thường, giờ chết không lâu, ta sẽ đi về đâu?” . Pháp sư vào trước ĐạI Tạng Kinh, chí thành cầu nguyện , rút nhằm bổn kinh Di Đà . Bắt đầu từ ngày ấy pháp sư liền chuyên tâm niệm Phật. 21 ngày sau, đương lúc giữa đêm bỗng tâm nhãn rỗng sáng, thấy cõi đất lưu ly , lạI thấy Đức A-Di-Đà Phật và hai vị đạI Bồ-Tát hiện thân đứng trên không Từ đó đạo hạnh pháp sư mỗI ngày mỗI truyền rộng. Vua Hy Tông phụng hiệu là “ Thường Tinh Tấn Bồ-Tát”.
Qua năm sau cõi lưu ly lạI hiện . Pháp sư bảo đạI chúng rằng “ Hôm nay bửu địa lạI hiện. Đã tớI ngày tôi về Cực-Lạc !”. Trong ngày ấy pháp sư xây mặt về hướng Tây, chắp tay mà tịch.
Trích Phật Tổ Thống Kỷ
Tống Cao Tăng Truyện.




CHÍ THÔNG
Chí Thông đạI sư ngườI Phụng Tường. Khi mớI xuất gia ngài gặp Tam Tạng pháp sư Phạ-Nhựt-Ra truyền mật tông, bèn theo thọ giáo. Về sau ngài đến Thiên Thai , khi xem xong tập “ Tịnh-Độ Linh ThoạI” ngài phát nguyện cầu sanh về Cực-Lạc .
Từ ngày đó trở đi, không bao giờ ngài khạc nhổ về hướng Tây.
Một hôm ngài leo lên mỏm đá “ Chiêu Thủ”, tụng 48 điều nguyện cầu mau được vãng sanh Cực-Lạc thế giớI, rồI gieo mình xuống. Thân ngài rơi nhằm lùm cây lá rậm, nhánh mềm nên không hề gì. Ngài sửa y áo leo lên mỏm đá mà thệ rằng “ Đã phát đạI nguyện, thân sống thừa này đáng nhàm. Cúi mong thánh chúng đến tiếp dẫn tôi”. RồI ngài lạI nhẩy xuống. Rớt trên cỏ, giấy lát tỉnh lạI . Tăng chungstimf gặp dìu về chùa. Không bao lâu ngài qua núi Pháp Hoa chuyên tu Tịnh-Độ . Về sau , một ngày nọ thấy bạch hạc, khổng tước đáp xuống cả đàn, lạI thấy hoa sen búp nở trước mặt , ngài nói “ Bạch Hạc, Khổng Tước là cảnh Tịnh-Độ, hoa sen báu là chỗ thác sanh . Giờ đã đến”. ĐạI sư nghiêm chỉnh, oai nghi lễ Phaatjmaf tịch. Khi trà tỳ mây tốt năm màu che trùm trên ngọn lửa, và xá lợI hiện đầy thân.
Trích bộ Phật Tổ Thống kỷ
Tống Cao Tăng Truyện



ĐOAN PHỦ
Đoan Phủ đạI sư ngườI Thiên Thủy, xuất gia nơi Đạo Ngộ thiền sư ở chùa Sùng Phước. Sau khi thọ Cụ Túc giớI đạI sư đi cầu học Luận tạng khắp nơi , đồng thờI nghiên cứu cả kinh và luật. Một đêm nọ đạI sư mơ thấy Thánh Tăng trao cho một bình lưu ly đựng đầy xá lợI bảo nuốt. ĐạI sư vâng lờI nuốt hết xá lợI . Thánh Tăng nói “ Tam tạng đạI giáo chứa cả trong bụng ông”. Từ đó trở đi đạI sư được biện tài vô ngạI. Giảng kinh ở Thái Nguyên, thính giả hộI đến như chợ. Cả ba triều vua nhà Đường Đức Tông, Thuận Tông và Hiến Tông đều tôn ngài làm bực thầy. Trước sau đạI sư giảng kinh Niết Bàn và kinh Duy Thức Luận hơn một trăm sáu mươi hộI . MỗI ngày, giờ rảnh đạI sư đọc tụng kinh ĐạI Thừa cầu sanh Tịnh-Độ. ĐạI sư được cúng thí rất nhiều, kể hơn mấy mươi triệu lạng bạc ĐạI sư đều chuyển cúng vào các công vụ sử dựng chùa tháp, còn mình thờI vẫn vừa lòng vớI một cái phòng nhỏ đơn sơ cùng một chiếc giường hẹp thấp mà thôi.
Năm Khai Thành nguyên niên. Ngày mồng một tháng sáu, ĐạI sư nằm nghiêng về tay hữu, day mặt về hướng Tây mà tịch. Giờ đó mùi hương lạ thơm ngát cả gần xa. Sau khi trà tỳ được hơn ba trăm hột xá lợi.
Trích bộ Tục Cao Tăng Truyện

(trg 18)


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

HÙNG TUẤN
Hùng Tuấn pháp sư họ Châu, ngườI Thành Đô , giảng diễn giỏI , nhưng không giớI hạnh . Pháp sư từng thôi tu, đi lính , rồI xuất gia làm tăng lại. Tự xét biết lỗI, nên pháp sư thường niệm A-Di-Đà Phật cầu tiêu tộI, vãng sanh.
Năm ĐạI Lịch nhà Đường, một hôm bỗng ngã ra chết, bị bắt dẫn đến Diêm Vương. Vương kể tộI phá trai, phạm giớI v v… rồI truyền quỉ sứ giảI vào địa ngục. Pháp sư liền to tiếng kêu rằng “ Trong Quán Kinh có nói : NgườI phàm tất cả điều ác, nhẫn đến tộI ngũ nghịch , đến lúc lâm chung chí thành niệm Phật trong mườI niệm , mỗI niệm diệt vô lượng tộI, liền được vãng sinh. Hùng Tuấn này dầu có tộI, nhưng chưa phạm đến ngũ nghịch , mà lạI có lòng ăn năn niệm Phật vô số. Tôi dầu có bị đọa vào địa ngục cũng không ân hận gì, nhưng có lẽ nào lờI Phật thành vọng ngữ?” Diêm Vương bảo cho về, nhơn đó sư sống lạI , bèn vào ở Tây Sơn , ngày đêm chuyên chí niệm Phật .
Bốn năm sau , một hôm Pháp sư họp đại chúng lạI để từ biệt và dặn rằng “ Xin nói vớI những thân hữu của tôi ở dướI thành rằng Hùng Tuấn nhờ chuyên tâm niệm Phật mà được vãng sanh, chớ không phảI là kẻ có tộI lọt lướI”. Dặn xong pháp sư đoan tọa, vui vẻ mà tịch.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ
Tục Cao Tăng Truyện


DUY CUNG

Sư Duy Cung ngườI Kinh Châu , thân xuất gia mà thích rượu thịt, bài bạc . Lúc rảnh thờI sư tụng kinh niệm Phật cầu sanh Cực-Lạc. Sư Linh Qui, một vị tăng ở cùng chùa vớI sư Duy Cung là bạn đồng chí, đồng hạnh . Vì thế có ngườI tặng hai sư một bài kệ để khuyên răn
Linh Qui phạm giớI hạnh
Duy Cung noi dấu bạn
Địa ngục ngàn muôn từng
Chớ trách xô đầu vào.
Sư Duy Cung nói “ Tôi thiệt có tộI đành vậy nhưng mong nhờ Phật lực , thập niệm vãng sanh, đâu có lẽ lạI bị đọa vào ác đạo ư?”
Một hôm sư Duy Cung nằm bịnh, sư Linh Qui có công vụ phảI đi, dọc đường gặp hai ngườI trai trẻ tướng tốt, tay cầm nhạc khí. Sư Linh Qui hỏI là đi đâu . Hai ngườI đáp là từ Phương Tây đi rước Cung Thượng Nhơn, một ngườI thò tay vào bọc lấy ra một hoa sen búp bằng nắm tay , cánh hoa tỏa ánh sáng đẹp lạ, rồI hai ngườI đi thẳng về phía chùa. Qua ngày sau Linh Qui về chùa thì mớI hay Duy Cung đã từ trần vào giờ gặp hai ngườI trai trẻ hôm qua. Từ đó Linh Qui ăn năn chừa lỗI, giớI hạnh tinh nghiêm, ít lúc sau nổI tiếng là một vị tăng chơn tu, thiệt đức.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ.


LÃO NI

Hồ Thượng Lão Ni tinh nghiêm giớI luật , hằng ngày niệm Phật, tụng kinh rất thành khẩn. Có một đạo nhơn mỗI năm đến viếng am một lần, khi đến cùng lão ni luận việc đạo hạnh , tu hành suốt ngày mớI từ đi.

Một hôm Lão Ni hẹn trước vớI đạo nhơn. Đến ngày không thấy đạo nhơn tớI , Lão Ni nói “ Tôi sắp về Tịnh-Độ, muốn từ biệt ông bạn ấy”. Chờ thêm vài ngày, đạo nhơn vẫn không đến . Lão Ni bảo ngườI khiêng cái khánh đã đóng sẵn để trên cây cầu gẫy gần am . Lão Ni tay cầm một cây nhang nhỏ , ung dung vào ngồI trong khánh , lên tiếng niệm Phật. Giây lát lửa vụt phát cháy nơi thân Lão Ni , ngườI tựu đến xem đông như hộI chợ. Mãi đến lúc cả mình cháy đen mà tiếng niệm Phật của Lão Ni vẫn chưa dứt.

Trích tập Âm Chất Văn Chú Thích



NI TOẠI KHÂM
Sư ni ToạI Khâm ngườI Vô Tích , xuất gia thủa mớI lên chín. Khi tuổI trưởng thành, gặp một sư ni khuyến khích chuyên trì hồng danh của Phật, cô liền phát tâm tinh tấn niệm Phật. Ít lâu sau cô trụ trì am Bạch Y ở Tô Châu, công phu niệm Phật càng chí thiết. Đến 50 tuổI cô mớI thọ cụ túc giới.
Tháng 3 cô được 55 tuổI, một đêm nọ gà vừa gáy hiệp đầu , cô kêu các đệ tử đến mà nói rằng “ Tôi sắp về Phật!”. Các đệ tử đều khóc thưa “ Thầy không bịnh hoạn chi sao lạI nỡ nói thế?”. Cô bảo “ Sao ngu si thế, khóc lóc có ích lợI gì? Nên nhận chơn tinh tiến niệm Phật mà thôi”. RồI co ngồI kiết già, xây mặt về hướng Tây , cùng các đệ tử đồng thanh niệm Phật . Khi tàn một cây nhang thì cô tịch . Bấy giờ nhằm năm Càng Long thứ 53.
Trích Tây Phương Công Cứ Tập Nghiệm

NI LUẬT TÔN
Sư ni Luật Tôn ngườI Gia Định, ba tuổI mẹ mất, bà nộI dắt cô đến am Viên Thông lễ Phật, cô dòi quyết ở lạI đó. Lúc bé cô thích lễ Phật, lớn lên chuyên tụng kinh Pháp Hoa , nhưng khổ nỗI không rõ nghĩa. Cô bèn đến Kim Sơn và Sùng Phước tham cứu mấy năm. Sau khi trở về am Viên Thông , cô chuyên tâm niệm Phật. MỗI năm cô thường đến các tòng lâm cúng Phật, trai tăng.
Năm 53 tuổI mang bịnh ho , cô cấm túc chuyên tu, lấy vãng sanh làm hẹn.
Rằm tháng giêng năm 64 tuổI , cô họp chúng đồng thanh niệm Phật, đến mặt trờI chính bóng , cô ngó chúng tha thiết khuyên bảo dũng mãnh tu hành. RồI co chắp tay ba lần xướng “ Nam Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-GiớI ĐạI-Từ ĐạI-Bi A-Di-Đà Phật”. Xướng xong cô đoan tọa mà tịch. Lúc đó hương sen thơm ngát cả am. Bấy giờ nhằm năm Càn-long thứ 55
Trích Tây-Phương Công Cứ Tập Nghiệm

PHẬT KỲ VÀ LIÊN HƯƠNG
Sư ni Phật Kỳ ngườI Trường Châu . Từ nhỏ cô chẳng chịu lấy chồng . Lớn lên mẹ cô đưa đến am Vũ Hoa xuống tóc ròi thọ cụ túc giới. Về sau cô trụ trì am Sùng Phật ở trong thành. Cô quyên tiền trổ tượng Phật Tây Phương Tam Thánh bằng gỗ chiên đàn cao 8 thước . MỗI năm cô thỉnh chư sư tăng giớI đức thanh tịnh đến am kiết thất kỳ, làm hộI niệm Phật. Cô thường đi đến các tòng lâm cúng Phật và trai tăng. Cô tậu 30 mẫu ruộng để làm của thường trụ cho chùa Thiên Ninh ở Thường Châu.Về sau cô cấm túc nơi am chuyên tu tịnh nghiệp.
Trước khi tịch ba ngày , cô thấy Quán-Thế-Âm Bồ-Tát hiện thân vớI hai vị đồng tử theo hầu . Trong khi đó có ngườI nói là nghe mùi hoa cúc. Cô bảo đó là hương của hoa sen xanh. Ngày 30 tháng 8 năm Càn Long thứ 56, có Ưu bà di đến thăm, cô bảo đỡ cô ngồI dậy rồI họp ni chúng niệm Phật được chừng hai nghìn câu thời cô tịch
Trích Tây –Phương Công Cứ Tập Nghiệm.

Mục kích cô Phật Kỳ chánh niệm vãng sanh , sư ni Liên Hương phát tâm tinh tấn niệm Phật.
Năm cô ngoài 30 tuổI , dầu mang bịnh , nhưng sức niệm Phật của cô càng bền. Một ngày nọ co xây mặt về hướng Tây đoan tọa chấp tay niệm Phật mà tạ thế. Bấy giờ nhằm năm Gia Khánh thứ 13.
Trích Nhiễm Hương Tập.

NI LÃNG NHIÊN
Sư ni Lãng Nhiên ngườI Gia Thiện năm 18 tuổI cô thấy sự khổ của ngườI chị dâu bị sản nạn , cô tự thệ không lấy chồng, rồI cô xin vớI cha mẹ cho xuất gia ở am Tịnh Trì. Sau khi thọ giớI , cô chuyên chí tu Tịnh-Độ. Tinh tấn niệm Phật trong nhiều năm, được niệm lực tương tục, lúc rảnh, lúc bận nơi tâm cô câu niệm Phật đều không gián đoạn.
Năm Gia Khánh thứ 13, cô bảo đệ tử là sư ni Phước Duyên rằng “ Trong ba tháng gần đây, tôi ba phen mơ thấy mình ngồI kiết già trong hoa sen nơi Bảo Trì . Tôi sắp vãng sanh! Con phảI dóc chí niệm Phật. Nhơn thiệt thờI quả chắc , ccoong phu không luống uổng. Gắng nhớ chớ quên”. Ngày 25 tháng 3 cô không bịnh, đoan tọa mà tịch, thọ 73 tuổi.

Trích Nhiễm Hương Tập.

(trang 19)


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Hình đại diện của người dùng
binh
Điều Hành Viên
Bài viết: 8304
Ngày: 21/11/07 20:32
Giới tính: Nam

Re: ĐƯỜNG VỀ CỰC LẠC

Bài viết chưa xem gửi bởi binh »

VƯƠNG CỔ
Ông Vương Cổ tự Mẫn Trung, ngườI Đông Đo , là chắt của tướng quốc Vương Văn Đán. Nhà ông Cổ trì giớI bất sát đã được 7 đờI. Ông Cổ lạI phát tâm phóng sanh đến một trăm vạn sinh mạng. Ông đến Giang Tây tham cứu thiền lý vớI HốI Đường và Vương Kỳ, hai vị ĐạI thiền sư. Sau khi trở về ông trước tác bộ “ Tịnh-Độ Quyết Nghi Tập” để hoằng dương pháp môn Tịnh-Độ. Lúc rảnh , xâu chuỗI không rờI tay. Trong lúc đi đứng nằm ngồI chuyên tâm niệm Phật không để xen hở. Và dướI đây là bài tựa bộ “Tịnh-Độ Bửu Châu Tập” của ông viết:
“ Tâm chúng sanh thanh tịnh thờI Phật độ tịnh. Pháp tánh vốn vô sanh mà vẫn luôn sanh. Có đức Phật Thế Tôn hiện tạI đương thuyết pháp tạI Cực-Lạc thế giớI hiệu là A-Di-Đà. Cõi ấy cảnh duyên sâu thắng, nhơn dân thọ mạng vô biên . A-Di-Đà Phật bi tâm rất sâu, nguyện lực rất lớn. Phật thường phóng quang minh chiếu khắp thập phương nhiếp thọ mọI loài. Cực-Lạc thế giớI tịnh diệu trang nghiêm bất khả tư nghị : LướI ngọc sáng đẹp giữa chừng không , cây vàng ngay hàng trên bảo địa , trong ao đầy đủ nước bát công đức , hoa sen đủ màu tủa đủ sắc quang minh. Thiên nhạc trảI ca cả ngày đêm , thiên hoa cúng dường khắp ức cõi. Chư Phật đồng tiếng ca tụng. Thánh phàm đua nhau cùng về. Chúng sanh trong tâm A-Di-Đà luôn luôn được nhiếp thọ , Tịnh-Độ trong tâm chúng sanh niệm niệm được vãng sanh. Thân gá hoa sen không rờI vuong tấc , thần du cõi Tịnh há ngoài bổn tâm. Như gương sáng thâu hình vạn vật mà vẫn không có tớI lui, dường trăng tròn in bóng nghìn sông, nhưng vốn không lên xuống. ĐốI thượng cơ viên đốn thờI đều là bực “nhất sanh bổ xứ”, khai phương tiện quyền môn thờI chia ra có chín phẩm thấp cao. Niệm lấy tự tánh A-Di-Đà bổn lai vô niệm, sanh duy tâm Cực-Lạc chơn thiệt vô sanh. GiảI thoát sinh tử, mườI niệm cũng được đến Bảo Địa. HộI về thật –tướng, nhị thừa rồI cũng chứng Bồ-Đề. Như thuyền lớn chở đá, dầu nặng nhưng cũng được khỏI chìm. Dường xuôi gió, trương buồm lướt sóng mà mau qua đến bến. Hễ tỏ ngộ thờI Tịnh Độ không phảI xa, không phảI gần , còn mê mờ thờI chính gần mà thành xa.

Than ôi! Những kẻ ít học, chướng nhiều nghĩ nông, trí cạn, chê pháp môn Tịnh-Độ là quyền, tiểu đó là chê cả Mã Minh, Long Thọ là chưa phảI, báng Thiên Thai và Trí Giả là chẳng thông. Cũng là chẳng chịu tự tin mình sẽ được thọ ký vô–thượng Bồ-Đề, chẳng bằng lòng sanh liền vào nhà của Phật. Ôi chim trong lồng, cá trong chậu mà vẫn ung dung nhẩy , lộI vui chơi. Mạng ngườI như ngựa chạy qua cửa sổ, như đèn để trước gió mà vẫn tưởng là lâu dài ! Khi còn thờI sống uổng, lúc chết phảI sa đọa. Đâu ngờ rằng Tịnh-Độ chính là miệng đức ĐạI Hùng tán thán , lờI vàng cặn kẽ dậy khuyên. Y theo mà hành thờI trong giây phút đã làm bạn vớI thánh hiền , nộI chốc lát đã đầy đủ tướng hảo . Dứt hẳn ngũ trược ác báo, hưỡng mãi quả đẹp, thuần vui.Nếu là ngườI bi, nguyện nặng lòng thờI tự tựI vào tam đồ mà độ chúng. Pháp môn siêu thắng dường ấy mà không biết, không tu , thật là kẻ đáng thương, đáng xót.
Triều vua Huy Tông nhà Tống , ông lãnh chức Hộ Bộ Thị Lang, không bao lâu ông an lành, vui vẻ mà tạ thế.
Có một cao tăng nhập định, thần du Tịnh-Độ thấy Vương Cổ và Các Phiền ngồI trên tòa sen báu.
Ông Phiền ngườI Trừng Giang, quan Triều Tán ĐạI Phu . Nơi công thự cũng như ở tư gia ông đều dọn Tịnh thất thờ Phật. Một hôm đương lúc ông lễ niệm , xá lợI sáng chói từ trên không rớt xuống giữa bàn Phật . Về sau ông nhuốm bịnh, đoan tọa xây mặt về hướng Tây mà mất.

Trích bộ Tống Sử
Lạc Ban Văn LoạI
Pháp Lữ Chí




CHUNG LY CẨN

Ông Chung Ly Cẩn ngườI Côi Kê, thân mẫu là Nhiệm phu nhân chuyên tu Tịnh-Độ, đến lúc lâm chung kêu ông mà dặn phảI siêng niệm Phật. Từ ngày ấy ông Cần hăng hái tu trì , mỗI ngày thực hành 20 điều thiện. Ít lúc sau ông bổ nhiệm Triết Tây , gặp Từ Vân sám chủ luận giảng về yếu chỉ vãng sanh, công phu tu hành của ông càng thêm chuyên cần.
Thuở sanh tiền, Nhiệm phu nhân có trổ cốt tượng Phật bằng gỗ chiên đàn , hàng ngày bà thường bưng, độI trên đầu mà hành lễ. Sau khi bà vãng sanh, ông Cẩn chí thiết thờ tượng ấy. Một hôm đương lúc ông kính lễ , giữa chặng mày của tượng Phật ấy bỗng trồI ra hai hột xá lợI .
Không bao lâu ông bổ nhiệm Khai Phong Phủ. Một ngày nọ , đương lúc nửa đêm ông cho gọI ngườI nhà bảo rằng “ Thái phu nhơn về cho tôi hay rằng giờ vãng sanh đã đến “ Nói xong ông ngồI kiết già mà qua đờI. Trước đấy một ngày, cả nhà đồng chiêm bao thấy ông Cẩn ngồI trên tòa sen xanh, thiên nhạc du dương , bay trên hư không mà đi về hướng Tây.
Ông Cảnh Dung , con trai ông Cẩn , làm quan, chức Triều Thỉnh ĐạI Phu, thường ngày tụng Quán Vô Lượng Thọ Phật kinh và tu niệm Phật tam muộI. Ông từ quan, cất am tranh bên vườn để làm chỗ tịnh tu. Ông từng nói “ Đặng biết A-Di-Đà thờI A-Di-Đà ! A-Di-Đà ! Chẳng biết A-Di-Đà thờI biết làm sao? Biết làm sao? Chẳng biết Di-Đà thờI Di-Đà ở ngoài phương Tây. Còn biết đặng Di-Đà thờI Di-Đà chỉ tạI trong nhà ta”. Một hôm ông thỉnh sa môn Diệu Ứng tụng Phổ Hiền Hạnh Nguyện phẩm, ông thắp hương chăm chỉ nghe. Nghe kinh xong, ông bái từ rồI hai tay kiết ấn mà đi.
Ông Tòng cháu ông Cẩn cư ngụ Tô Châu, cùng chư danh đức Cao Tăng lập hộI Niệm Phật. Về sau ông không bịnh , đoan tọa, chắp tay hướng về Tây Phương , niệm Phật mà mất.
Trích bộ Phật Tổ Thống Kỷ.


MÃ VU
Ông Mã Vu tự Trọng Ngọc , ngườI Hiệp Phi, thân phụ là Trung Túc Công Mã Lượng, Lúc ông làm thái thú Hàng Châu được Từ Vân sám chủ truyền cho pháp môn Tịnh-Độ nên toàn thể gia quyến đều phụng Phật.
Năm Ngươn Phong, ông Mã Vu gặp sa môn Quảng Sơ tặng cho tập “ Thập Nghi Luận” ông mừng lắm nói “ Nay tôi biết chỗ về”. Từ đó ông theo pháp thập niệm hồI hướng của Từ Vân sám chủ mà thực hành hơn 20 năm. Về sau ông cùng ông Vương Cổ qua lạI vớI nhau, công phu niệm Phật của ông càng thêm phần tinh tiến. Ông thích lấy việc phóng sanh làm Phật sự. Khi làm quan ở Tuy Xuyên cùng Tân Đinh , ông đều dùng ân đức mà cai trị dân. MỗI ngày ông định thờI khóa tụng kinh niệm Phaatjcungf quán tưởng Tây Phương.
Thuở ấy Kinh Vương phu nhân thần du Liên Trì thấy hai ngườI ngồI trên tòa sen lớn , ngườI dẫn đạo bảo là ông Vương Kiệt vớI ông Mã Vu. Lúc đó Vương Kiệt đã vãng sanh, Mã Vu còn tạI thế.
Năm Sùng Ninh nguyên niên , ông Vu nhuốm bịnh , tự biết trước ngày giờ , ong tắm rửa, thay y phục , ngồI kiết già hướng về Tây Phương niệm Phật mà đi. Giờ ông Vu mất, khói thơm kết lạI như cây lọng xanh , từ phòng ông bay bổng lên cao. Sau đó vài ngày, trong nhà có hơn mườI ngườI cùng chiêm bao thấy ông Vu về mách rằng “ Tôi đã được vãng sanh bậc thượng phẩm”.
Mùa thu năm ấy, đứa tớ gái của ông niệm Phật mà mất.
Ông Vĩnh Dật con trai ông Vu chuyên chú tu thập niệm và thập lục quán hơn 30 năm . Ngày có bịnh ông Dật thấy Phật Di-Đà và Quan-Âm Thế-Chí cùng Thánh Chúng đến tiếp dẫn, ông liền đoan tọa, kiết ấn, niệm Phật mà qua đời. Lúc đó hương thơm lạ khắp nhà. Khi đã liệm , trên linh cửu mọc hoa dẹp ngũ sắc và chói sáng.
Trích bộ Lạc Ban Văn Loại.

(trang 22)


Rồi tôi lại đứng lên và tiếp tục chiến đấu.
Tổ Ngẫu Ích đã nói :“Được vãng sanh hay chăng toàn là do có Tín - Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi được lời phán định chắc như sắt này. Hễ Tin cho tới, dám chắc Tây Phương ông phải có phần
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.6 khách