điều cần phải biết

Cùng nhau học hỏi những bài giáo lý căn bản và kiến thức Phật học phổ thông.
thichtambinh1985
Bài viết: 295
Ngày: 12/07/07 01:29
Giới tính: Nam
Đến từ: vnn
Nghề nghiệp: Khi niệm hồng danh Ðức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - mà niệm. Ðem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Ðức Quán Thế Âm. Ðó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

điều cần phải biết

Bài viết chưa xem gửi bởi thichtambinh1985 »

Khi nghe một PT đặt câu hỏi về nghiệp tội của 1 người hành nghề lưới cá, ông Chân Quang đă trả lời như sau:



Nhiệm vụ con cá sống để làm ǵ? Nó bơi lội dưới nước để làm ǵ? Hoàn toàn không có mục đích ǵ hết, con cá sống nó không có mục đích, nó không thể học một bài học ǵ hết, nó không biết viết chữ, nó không biết làm phước, không biết Phật pháp. Nó chỉ sống và đẻ theo bầy đàn, hoàn loàn vô nghĩa. Mà dường như cái điều tốt nhất của nó là nó làm thực phẩm cho 1 loài khác mà thôi. Đó là cái phước của nó, Thầy nói thật đó! Trừ những con cá linh, nó có thần thông th́ thầy không nói, c̣n cá b́nh thường th́ nó không có mục đích ǵ trong cuộc sống hết. Mà cái phước duy nhất của nó là nó cho ai ăn cái thân của nó th́ nó sẽ được phước theo người ăn nó. Nếu người ăn nó rồi làm điều tốt th́ con cá hưởng được phần phước, ngày kia nó lên làm người. C̣n người nào ăn nó mà quậy th́ nó bị đọa luôn, nên nó bị lệ thuộc v́ nó chỉ làm thực phẩm thôi, cái nghiệp của nó là như vậy. Cho nên khi ta bắt nó, là ta làm đúng với chức năng của nó, đem nó làm thực phẩm là đúng mục tiêu để cho nó có phước.



Chúng ta nên hiểu những lời trên đây là Ma thuyết, “vật dưỡng nhơn” không là giáo lư Phật. Giáo lư Phật không hề khuyến khích sát hại sinh vật làm thức ăn. Những người đang là đệ tử của ông CQ, chớ vội tin nghe đây là lời Phật dạy để cảm thấy an ổn cho bất cứ ǵ ḿnh làm dù đó là nghiệp sát sanh. Thế nên, người đánh cá cứ tiếp tục đánh cá, người bán cá cứ tiếp tục bán cá , người ăn cá cứ việc tiếp tục ăn cá cho cá được phước. C̣n ông CQ th́ sao, theo lư nhân quả th́ không cần phải suy nghỉ, nhiều đời kiếp sau ông sẽ được sanh làm thân cá, được nhiều người ăn thịt để ông vun trồng phước nghiệp hầu sớm thoát được nghiệp Ma.



Qua những bài giảng và việc làm của ông CQ gần đây cho chúng ta thấy, ông ta không phải là một vị chân tu, ông ta đang bị Ma khiến sử, đúng như lời Phật dạy trong kinh Lăng Nghiêm:



“ Khi thiên ma có cơ hội thuận tiện, chúng liền cho tinh thần nương gá vào thân người khác và dùng miệng người đó giảng nói kinh pháp. Người này không biết ḿnh bị ma gá vào, tự tuyên bố ḿnh đă chứng được Vô thượng Bồ-đề. Nó đến bên những hành giả ưa thích và tham cầu hiểu biết, trải toà ngồi thuyết pháp.

. . . . Ma thích nói rằng: “Từ kiếp trước vào đời nọ, ta đă độ người kia, lúc đó là vợ hay chồng, hoặc là huynh đệ của ta, nên kiếp này ta lại đến để độ nhau. Ta sẽ cùng các ngươi đưa nhau đến cảnh giới tốt đẹp kia để cúng dường đức Phật nọ ..v..v…”

. . . . A-Nan ! Ông nay nên chưa vội Niết-bàn, mặc dù Ông đă đạt quả vị Vô-học. Hăy lưu giữ lời nguyện đi vào cơi đời mạt pháp kia, phát tâm đại từ-bi cứu độ các chúng sanh có ḷng tin chơn chánh, khiến cho họ không dính mắc vào tà ma, giúp họ có được chánh tri kiến.

Nay Như-lai giúp Ông thoát khỏi sanh tử; chỉ có cách là tôn trọng, thật hành chơn chánh lời Phật dạy, đó mới được gọi là báo ơn Phật.

. . . Vào thời mạt pháp, sau khi Như-lai nhập Niết-bàn, các Ông cần phải đem lời dạy của Như-lai ra chỉ bày cho chúng sanh, khiến cho họ được tỏ ngộ ư chỉ này. Đừng để cho các ấm ma, thiên-ma có cơ hội quấy phá . Nên giữ ǵn, che chở cho chúng sanh được thành đạo Vô thượng”.

(Thủ Lăng-Nghiêm Kinh - Phân biệt các Ấm ma - Quyển 9, 10 )



Đây là lời Phật dạy và rất chính xác áp dụng cho ông Chân Quang, qua những lời giảng của ông th́ với người có chút căn trí cũng phát hiện được Ma tâm của ông. Ông ta như một công cụ của Ma, bị Ma khiến sử không c̣n khả năng chủ động, nói một cách máy móc, không dè dặt để phân biệt đúng sai nên không chút xấu hổ cho những lời sai quấy mà ḿnh đă thốt ra. Như số phận những dâm sư đă hoạt động ở Mỹ, khi Ma ĺa bỏ th́ thân mạng họ tàn tạ, cuối cùng phải chết trong cô đơn khi tuổi chưa già. Ông CQ rồi cũng phải đối diện với mệnh số này, chúng tôi thành thật chia buồn sớm cùng ông.



Chúng tôi cũng thành thật khuyên những người đang bị ông CQ mê hoặc. Quư vị nên suy nghiệm đoạn kinh Thủ Lăng Nghiêm trên đây. Qua lời dạy của Phật th́ ông CQ đích thực là Ma rồi, ông dạy phải đem tâm từ ban trải đến mọi người th́ cá nhân ông đang t́m cách bôi bẩn và triệt hạ huynh đệ ḿnh. Nếu thể hiện ḷng từ của một người con Phật th́ làm ǵ có chuyện khuyến khích đệ tử gây tạo nghiệp sát. Hy vọng tấm h́nh trên đây,với ḍng máu tươi ấm của cá đang tuôn chảy sẽ thức tỉnh quư vị, cá đă bị bức tử, đă chết trong tức tưởi v́ bị tước đoạt quyền sống bằng những mỹ từ như ông Chân Quang.



Ngưỡng mong quư ĐH sẽ giúp phổ biến những CD này và bộ CHƯỚNG MA ĐỜI MẠT PHÁP* tại từng trụ xứ, giúp nhiều người thoát được lưới ma như một cách báo đền ân sâu đến chư Phật. Ngọn đèn Chánh Pháp sẽ luôn rực sáng, làm tan đi những bóng đen của Ma pháp đang phủ trùm, bủa vây chúng ta từ vô lượng kiếp.



Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.



· Nếu quư ĐH muốn có toàn bộ Chướng Ma Đời Mạt Pháp (8 Audio CD và 1 MP3 CD) xin email cho chúng tôi: lotus.productions@gmail.com , chúng tôi sẽ gửi tặng đến quư ĐH.



Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
thichtambinh1985
Bài viết: 295
Ngày: 12/07/07 01:29
Giới tính: Nam
Đến từ: vnn
Nghề nghiệp: Khi niệm hồng danh Ðức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - mà niệm. Ðem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Ðức Quán Thế Âm. Ðó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

Re: điều cần phải biết

Bài viết chưa xem gửi bởi thichtambinh1985 »

A – Cõi Phật cũng chỉ là cõi Trời .

Ðáng lẽ tôi không dài dòng về vấn đề này vì trong một bài trước tôi đã đả phá luận điệu của CQ khi CQ nói là không có Tây phương cực lạc. Nay thì CQ lại nói là có các cõi Trời và lần này CQ lại tự mâu thuẫn với chính mình khi nói: "Nên dựng lên cái cõi A-Di-Ðà, mình tưởng là cõi Phật thật sự, nó cũng chỉ là một cõi Trời". Trong một "bài giảng" trước, CQ nói không có Tây phương cực lạc, nay thì CQ lại nhận là có cõi A-Di-Ðà, nhưng vẫn theo CQ, đó không phải là cõi Phật mà cũng chỉ là cõi Trời thôi. Thật ra thì CQ đã dông dài quá, chấp nhất quá, chứ Phật ở đâu thì nơi đó là cõi Phật, cũng như người ở đâu thì nơi đó là cõi người. Cần phải lý luận dài dòng nào là cõi Trời cao bao nhiêu thước v.v…… và v.v……Trong một bài trước tôi đã trình bày Vũ trụ quan của Phật giáo rồi, ở đây, thiết tưởng không nên nhắc lại nữa. Chỉ cần nói thêm rằng: ta chưa được lên cõi đó thì ta chưa có kinh nghiệm gì về cõi đó và khi đã không có kinh nghiệm về một cái gì đó thì chẳng nên phát biểu về cái đó làm gì; chính vì vậy nên có những điều nó bao la quá, thâm sâu quá, con người có nghĩ cũng không hiểu nổi, do đó mà Phật đã gọi những điều đó là "không thể nghĩ bàn". Cũng như khi nói về Niết bàn, có rất nhiều người, kể cả những bậc Ðại Trí, đến nay vẫn hiểu sai về Niết bàn. Người thì cho Niết bàn giống như Thiên đàng bên các tôn giáo khác, kẻ lại cho Niết bàn là Hư Vô, Tịch Diệt. Nhiều bộ sách đã viết ra để trả lời cho câu hỏi khá tự nhiên và đơn giản ấy, nhưng những sách ấy chỉ làm cho vấn đề thêm hoang mang hơn là làm sáng tỏ. Giải đáp hợp lý duy nhất cho câu hỏi ấy là: không thể nào giải đáp đầy đủ và thỏa đáng bằng danh từ vì ngôn ngữ con người quá nghèo nàn để diễn đạt bản chất thực sự của Chân Lý tuyệt đối hay Thực Tại tối hậu là Niết Bàn. Bởi thế không có những từ ngữ để diễn đạt kinh nghiệm này, cũng như trong ngữ vựng của con cá không có từ ngữ để diễn đạt tính chất "cứng" của đất. Con rùa bảo con cá bạn của nó rằng nó mới trở về hồ ao sau khi đi dạo trên đất liền. "Dĩ nhiên là anh muốn nói anh đã bơi lội trên ấy chứ?", con cá hỏi. Con rùa cố giải thích rằng người ta không thể bơi lội trên đất cứng mà người ta đi trên ấy. Nhưng con cá vẫn khăng khăng một mực rằng không thể có chuyện như thế được, đấy phải là chất lỏng như hồ ao của nó, có sóng và người ta phải có thể nhào lộn và bơi lội ở đấy.

Câu chuyện trên, xin được tặng riêng cho "sư" CQ, vì "sư" đang bơi trên cạn đó, khi lý giải về những Tây phương cực lạc, cõi Trời, cõi Phật v.v……, trong khi CQ còn đang sống và phá đạo hại đời ở ngay trong cõi Ta Bà này.

B – Lời Phật không còn chính xác .

Ta hãy nghe CQ "giảng" tiếp:

Khi nghe nói 3 tháng nữa Phật sẽ nhập Niết Bàn, Ngài A Nan chịu không nổi mới thỉnh Phật trụ thế lâu dài ở thế gian thì Ðức Phật có nói nhiều câu lắm trong đó có câu này: những điều gì cần nói, Như Lai đã nói hết. Dù Như Lai có trụ thế thêm nữa thì vẫn không có ích lợi gì cho chúng sinh .

Ðến đây tôi phải khen CQ một câu: đây là lần đầu CQ đã nói có sách, mách có chứng. Câu mà CQ dẫn trên đúng là lời của Ðức Bổn Sư trước khi Ngài tịch diệt.

Ðiều lầm lỗi lớn của CQ là ở câu này: "Bây giờ qua mấy ngàn năm, chúng ta nhìn lại câu nói đó, chúng ta mới thấy câu nói đó không chính xác".

Xin hỏi CQ không chính xác ở chỗ nào ? Có phải không chính xác vì câu đó không do Phật nói, mà người đời sau, hay chính Ngài A Nan "thêm vào" chăng. Hoặc là chính Phật đã nói như thế, nhưng CQ cho là không chính xác thì CQ cũng cần phải giải thích để "các cô" cùng biết chứ. Ðọc trích đoạn trên tôi mới thấy CQ tối dạ. Câu nói của Phật mà CQ cho là không chính xác đó, chính câu ấy đã góp phần làm nên Phật ấy. Ðiều mà CQ chê đó đã chinh phục không biết bao nhiêu người, làm cho họ phải xét lại cả giáo lý cổ truyền của họ và đã làm cho biết bao học giả Tây phương hốt nhiên tỉnh ngộ khi mà trước đây họ chê Phật giáo là yếm thế, tiêu cực.

Tôi xin lý giải tất cả ý nghĩa thâm sâu của câu nói đó như sau:

Trong số những giáo chủ của các tôn giáo Ðức Phật là vị thầy độc nhất đã không tự xưng là gì khác hơn là một con Người, hoàn toàn chỉ là một con người, trong khi các vị giáo chủ khác thì hoặc là Thượng đế, hay Thượng đế nhập thể trong những hình thức khác nhau hay được Thượng đế mặc khải. Ðức Phật không những chỉ là một con người Ngài lại còn là một con người tự nhận là không được một thiên khải nào từ bất cứ một vị thần linh hay một quyền năng nào khác. Ngài tuyên bố tất cả những gì Ngài thực hiện được, đạt đến được và hoàn thành được đều hoàn toàn do nỗ lực và trí tuệ của con người. Con người và chỉ có con người mới có thể thành Phật . Trong khi các vị giáo chủ khác phải dùng đến "Phép lạ" để thu phục tín hữu, thì Ðức Phật mặc dầu thần thông rất quảng đại nhưng chưa bao giờ dùng thần thông để chinh phục ai, dụ dỗ ai. Là con người, Ngài cũng sinh hoạt như con người, cũng lấy vợ, sinh con, cũng đau yếu khi trái gió, trở trời. Ngài đã từng thi thố thần thông khi phải chống lại Ma vương Quỷ dữ đến quấy phá Ngài nhưng đó không phải là phương tiện mà cũng chẳng phải là cứu cánh của đạo Ngài. Giáo lý của Ngài khác hẳn với những triết thuyết khác vì điều mà Ngài chỉ dạy cho người là những điều mà Ngài đã thực chứng và ai cũng có thể kiểm nghiệm được, thực hành được, nếu quyết tâm. Chính Ngài đã dạy: Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ, tử là khổ ……… thì không lẽ cũng là một con người như mọi người, Ngài không chết sao. Rất có thể nếu dùng thần thông, Ngài có thể kéo dài mạng sống thêm một thời gian nữa, nhưng làm như vậy để làm gì, khi mà Ngài đã nói hết cho chúng sinh nghe những điều cần nghe, đã chỉ hết cho chúng sinh thấy con đường Giải Thoát. Vì vậy, nên Ngài mới trả lời ông A Nan là dù Ngài có sống thêm thì điều đó không có lợi gì cho chúng sinh. Câu trả lời của Ngài rất hợp lý, rất "người" ! Ðức Phật khác các giáo chủ khác là ở chỗ đó. Trong khi các vị kia nhất định không chịu chết vì mình là Thượng đế không lẽ cũng chết như con người sao, vì vậy mà nếu không còn sống trên thế gian này nữa thì đã có cõi Trời để sống, Thượng đế làm sao mà chết được!.

Có một số người ngoại đạo khi thấy nói Phật cũng đã từng có vợ, có con thì cho là Ngài cũng phàm tục. Nhưng ta hãy thử hỏi: nếu khi Ngài mới sinh ra đã là Phật rồi thì điều đó còn có giá trị gì nữa. Chính vì Ngài cũng là người như ta nhưng nhờ dày công tu tập mà đạt thành Chánh Quả, đó mới là điều đáng để ta học hỏi, tôn thờ.

Vậy thì vì việc Ngài tịch diệt là một việc "rất đời thường", điều đó không mang một tính chất thần linh và chính đó đã làm cho Phật trở thành một con người tuyệt luân. Ngài quá toàn thiện trong "Nhân tính" của Ngài đến nỗi về sau trong tôn giáo của đại chúng, Ngài được xem như một "SIÊU NHÂN".

C - Giáo pháp mới từ thế giới vô hình .

Thì ra từ những "bài giảng " đầu đến đây, CQ mới lòi cái đuôi chồn cáo của y ra . Thì ra CQ không muốn là "Sư" nữa, mà muốn lên làm "Giáo chủ" .

Ở trên, tôi đã nói là sẽ không trích dẫn toàn văn những đoạn băng giảng của CQ, nhưng ở đây, tôi lại phải xin phép quý ÐH, trích nguyên văn một đoạn, vì đoạn này nói "quan trọng"lắm, quan trọng vì là "Giáo pháp" của "Giáo chủ" CQ . Trích đoạn đó như sau :

"…Trong kiếp này thầy tu với Phật pháp, mà những điều mà Thầy giảng hay thầy mở ra khá mới mẻ, khá mới mẻ, quý Phật tử có công nhận là những điều mà thầy nói là khá mới , có không đó ?

Có nhiều điều khác nếu mà thầy do học từ kiếp trước thì nó không có cái mới như vậy, vì cái hệ thống, cái truyền thống của đạo Phật để lại từ bao nhiêu đời với những kinh điển như vậy, rồi đời này cứ nối tiếp đời kia là như vậy, mà nếu những kiếp trước thầy cũng tu, thầy cũng nhiều đời thầy tu hành, mà thầy học theo những cái điều đó như vậy, thì đời này thầy không có điều gì mới hơn cái truyền thống, nhưng mà bây giờ cái đời này, thì chính ra thầy, cái giáo pháp cuả thầy khá mới mà cái mới này không phải là do thầy học trong những kiếp trước mà lúc thầy sống, mà thầy học được lúc thầy ở trong cái thế giới vô hình cũng vậy, mà chính ở trong thế giới vô hình thầy đã hiểu được nhiều điều và thầy mang cái tâm nguyện đó trở lại để đem những điều hiểu biết đến cho mọi người nên trong cái thế giới đó có nhiều điều và chân lý sáng tỏ hơn là cái thế giới của cõi người mình . Ví dụ như trong thế giới cõi người mình nhiều tôn giáo cạnh tranh, tranh giành quyết liệt với nhau, nhưng mà ở trong cái thế giới của vô hình thì họ nhìn biết đúng sai hết, họ thấy những điều người ta làm như vậy là sai lầm; vì ở trong cái cõi đó nó có cái tôn ti trật tự và ổn định lắm, nhưng mà con người ta lúc sống đã hiểu lầm rồi giành giật hơn thua với nhau không thành cái gì hết, rồi ngay cả những người mệnh danh là người của tôn giáo, và cả người là tu sĩ của đạo này đạo kia nhưng mà sống không xứng đáng, thì lúc sống chẳng ai phê phán cũng không ai biết cái gì, nhưng mà trong cái thế giới vô hình thì mọi chuyện nó bày tỏ rõ ràng không giấu được ai hết, và mỗi cái tâm niệm của con người cũng vậy, lúc mình sống, mình tu, những lời mình nói, những việc mình làm nó đều được quan sát bởi cái thế giới của những người vô hình, chứ không phải là mình làm mà chỉ có mình biết hay là ít người biết không có đâu . Tất cả đều được hiện bày rõ ràng, chỉ có một điều là cái thế giới của thần thánh thì họ xét cái tội phước của mình nó độ lượng hơn và nghiêm khắc hơn mình . Có những trường hợp mình cho là tội thì họ lại không thấy có tội lắm . Có những trường hợp mình cảm thấy không có tội nhưng với họ lại là cái tội nặng, cho nên cái xét về tội phước, cái thế giới của mình với các vị thần thánh khác nhau nhiều …"

Theo như đoạn trích dẫn trên, thì CQ đã "vượt Phật" rồi, vì CQ "đã mở ra những điều khá mới mẻ" .

Mà những điều mới mẻ đó ở đâu ra ? sau khi đã chê đạo Phật mà CQ đã tu nhiều kiếp là không có gì mới mẻ, nay nhờ CQ đã từng ở trong cái thế giới vô hình nên CQ mới học được nhiều cái mới mẻ mới khai sinh ra một "Giáo pháp của thầy khá mới" . Vậy cái "giáo pháp" của CQ nó mới ở chỗ nào? Theo CQ thì nó mới là ở chỗ này : Ở cái cõi vô hình mà CQ đã sống, mọi điều đều sáng tỏ hơn là ở cái thế giới này . Ở cái thế giới vô hình, người ta sống có tôn ty trật tự lắmv.v…

Tưởng "giáo pháp" của "Ngài Giáo chủ" CQ nó mầu nhiệm như thế nào, chứ ai có ngờ rằng nó chỉ vỏn vẹn trong có một câu :"Ở cõi vô hình mọi sự đều rõ ràng, sáng sủa". Nếu ở cõi vô hình nó tốt đẹp như thế, sao "Giáo chủ" CQ không ở là nơi đó, có hơn là đầu thai vào cái cõi Ta bà này . Hay là CQ phải trở lại cõi Ta bà này để dẫn dắt chúng sinh vào cõi vô hình . Thế thì CQ lại giống mấy ông bà "Giáo chủ" ở Nhật, Thụy sĩ, Canada , và mới đây ở một nước Phi Châu, , là những nơi mà các "đấng giáo chủ" đã xúi con người ta là sắp đến ngày Tận thế rồi, hãy bán hết tài sản đi, rồi tập trung tại nơi thờ phụng, theo lời dạy của "Giáo chủ", mà tự tẩm dầu vào người rồi tự thiêu để lên nơi Thiên đàng hay lên cõi Vô hình, và đã có cả trăm, cả ngàn người theo lời Giáo chủ huỷ hoại thân mình, chỉ có Giáo chủ là vẫn sống nhăn .

Giáo chủ CQ cũng giống như các vị Giáo chủ trên chỉ khác là ở chỗ tại các nước trên, người ta đã đem tín đồ ra thực hành, còn ở VN, "Giáo chủ" CQ vẫn luẩn quẩn trong vòng lý thuyết, nên chưa có tín đồ nào được "Giáo chủ" đưa về cõi Vô hình .

Ðến đây, tôi lại phải "khai tuệ" cho "Giáo chủ" CQ ít điều .

Tôn giáo nào, khi ra đời, cũng phải rạch ròi 2 điều :

-Vũ trụ quan
-Nhân sinh quan

Bây giờ, nếu như CQ muốn "lập đạo" thì cũng không thoát khỏi cái thông lệ ấy được. Không chỉ nói vu vơ rằng ở cõi Vô hình, nó thế này, nó thế kia, mà lập đạo được. Nếu dốt quá, không biết thế nào là vũ trụ quan và nhân sinh quan thì nên thuê một người nào đó viết ra cho, cóvậy thì mới mong có người nghe theo, chứ nói vu vơ vậy, ai biết đạo của CQ là gì. Còn như bảo Ðạo Phật qua kiếp này đến kiếp khác, tới nay, đã lạc hậu, lỗi thời rồi là nói càn, nói bướng. Trong khi người Tây phương, những con người trí thức nhất thế giới, càng ngày càng tìm thấy ở Ðạo Phật những ánh sáng lạ làm cho họ bừng tỉnh khỏi cảnh tăm tối, bưng bít của Tôn giáo cổ truyền mà họ đang theo, thì làm sao ta có thể bảo Phật Giáo đã lỗi thời được. Ngược lại, Phật Giáo luôn sống mãi và sống sát với thời gian, vì Phật Giáo chính là chân lý thì không bao giờ thay đổi.
Ðó cũng là điều mà tôi muốn nhắn gởi đến CQ.


Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
thichtambinh1985
Bài viết: 295
Ngày: 12/07/07 01:29
Giới tính: Nam
Đến từ: vnn
Nghề nghiệp: Khi niệm hồng danh Ðức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - mà niệm. Ðem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Ðức Quán Thế Âm. Ðó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

Re: điều cần phải biết

Bài viết chưa xem gửi bởi thichtambinh1985 »









Ông Hồ Chí Minh là một thiền sư
NÊN HẠN CHẾ TỰ DO TÍN NGƯỠNG . . .
Phủ nhận kinh Ðại Thừa
Ðọc hai năm hết tạng kinh Nikaya
Kinh A Di Ðà và cõi Tịnh độ không có thật
Mật tông Tây Tạng là đạo dâm đảng
Cõi Phật cũng chỉ là cõi Trời
Lời Phật không còn chính xác
Giáo pháp mới từ thế giới vô hình
Chỉ trích Phật giáo Hòa Hảo
Chỉ có chùa Phật Quang giảng Triết Lý Âm Dương
Luận giải tình dục trong kinh Pháp Hoa
Chỉ trích Nam tông
Quy y Pháp, quy y chân lý?
Nguyên nhân phát khởi tình dục
Bác bỏ pháp quán bất tịnh trong kinh Phật
Phủ nhận lời của Lục Tổ Huệ Năng




--------------------------------------------------------------------------------


Trang Quan Ðiểm
Trang chính


Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
thichtambinh1985
Bài viết: 295
Ngày: 12/07/07 01:29
Giới tính: Nam
Đến từ: vnn
Nghề nghiệp: Khi niệm hồng danh Ðức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - mà niệm. Ðem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Ðức Quán Thế Âm. Ðó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

Re: điều cần phải biết

Bài viết chưa xem gửi bởi thichtambinh1985 »



CHƠN QUANG, Một Tiểu Yêu của Cộng Sản – HT Thích Huyền Tôn

Phê bình bài viết "Âm mưu chống thầy Chơn Quang" - Bài 1 Như Pháp

Phê bình bài viết "Âm mưu chống thầy Chơn Quang" - Bài 2 Như Pháp
Phê bình bài viết "Âm mưu chống thầy Chơn Quang" - Bài 3 Như Pháp
Phê bình bài viết "Âm mưu chống thầy Chơn Quang" - Bài 4 Như Pháp
Phê bình bài viết "Âm mưu chống thầy Chơn Quang" - Bài 5 Như Pháp

Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 9, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 8, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 7, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 6, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 5, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 4, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 3, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 2, Cư sĩ Chơn Chánh
Chướng Ma Ðời Mạt Pháp - Bài 1, Cư sĩ Chơn Chánh
CHƠN QUANG, Một Tiểu Yêu của Cộng Sản , HT Thích Huyền Tôn
Quy Y Chân Lý - Chơn Quang Pháp Chánh phê bình
Phật Giáo và Khoa Học Không Hóa Phạm Văn Giáo
Bản năng tình dục trong Ðạo Phật - Chơn Quang Pháp Chánh phê bình
Cõi Phật chỉ là cõi Trời – Chơn Quang , Pháp Chánh phê bình
Mật tông Tây Tạng là đạo dâm đảng – Chơn Quang, Pháp Chánh phê bình
Ðọc 2 năm hết tạng kinh Nikaya - Chơn Quang, Pháp Chánh phê bình
PHỦ NHẬN KINH ÐẠI THỪA - Chơn Quang, Pháp Chánh phê bình
Một Quái Thai Xuất Hiện: Giáo Phái Chơn Quang, Hoài Quốc
Cái Nhìn Về Phương Hướng của Cõi Tịnh Ðộ, Thích Phổ Huân
BẤT LẬP VĂN TỰ , Cư sĩ Nhuận Bảo
Nỗi Lòng của Một Tín Ðồ Phật Giáo Hòa Hảo, Như Huyễn


Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
thichtambinh1985
Bài viết: 295
Ngày: 12/07/07 01:29
Giới tính: Nam
Đến từ: vnn
Nghề nghiệp: Khi niệm hồng danh Ðức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - mà niệm. Ðem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Ðức Quán Thế Âm. Ðó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

làm sao để không cỏn phièn não

Bài viết chưa xem gửi bởi thichtambinh1985 »

http://www.lotuspro.net/
LÀM SAO ÐỂ CHÚNG TA KHÔNG CÒN
BỊ PHIỀN NÃO TRONG CUỘC SỐNG?

Tất cả mọi người đều muốn sống một cách an lạc và hạnh phúc. Tuy nhiên, ai cũng có lúc bị phiền não, bực dọc; và những khi ấy, chẳng những bản thân mình đã bị bực bội, khổ sở mà cả những người chung quanh cũng có thể bị ảnh hưởng lây do những cử chỉ, lời nói thiếu hòa nhã của mình. Dĩ nhiên, không ai muốn vậy cả. Thế nhưng tại sao chúng ta cứ tiếp tục bị bực bội, khó chịu, khổ sở…? Vì người nào đó làm trái ý với ta, vì một sự việc nào đó xảy ra không như ý muốn, hay một sự việc mình muốn lại không xảy đến cho mình. Mấy ai trên thế gian này hoàn toàn tránh được những tình huống ấy?! Vậy, vấn đề đặt ra là CÓ CÁCH NÀO ÐỂ GIÚP CHO TA KHỎI BỊ PHIỀN NÃO HAY KHÔNG? LÀM SAO CHÚNG TA LUÔN GIỮ ÐƯỢC SỰ AN LẠC, TỰ TẠI VÀ HẠNH PHÚC?
Ngay từ thuở xa xưa, ở nhiều quốc gia trên thế giới, những bậc trí thức, hiền giả đã nghiên cứu về vấn đề trên, và theo họ, giải pháp là: khi có một điều trái ý xảy ra và cơn phiền não bắt đầu nổi lên, lập tức ta phải chuyển tâm trí ta qua một chuyện khác, chẳng hạn như rót một ly nước ra uống, niệm một câu kinh trong đầu, nghỉ về một chuyện khác tươi vui hơn… v.v, tức là đánh lạc hướng tâm trí của mình ra khỏi điều đang gây phiền não. Cách giải quyết này có hiệu quả, nhưng xét cho kỹ, nó chỉ là tạm bợ, chỉ là trốn tránh, chỉ ở mức độ ý thức (conscious) mà thôi. Thật ra, mỗi khi làm như vậy, ta đã đè nén những sự phiền não ấy vào trong tiềm thức (subconscious) của mình, và chúng vẫn cứ ở đó, tiếp tục tăng trưởng theo thời gian. Bề ngoài thì có vẻ như ta đang an lạc, tự tại, nhưng về mặt vi tế, thâm sâu hơn của tiềm thức thì một ngọn núi lửa đầy những tâm niệm khổ sở, bực dọc, thèm khát…v.v. đang bị đè nén trong ta, chỉ chờ chực cơ hội được bùng nổ; và sớm hay muộn gì chúng cũng sẽ bộc phát mãnh liệt qua hành động, lời nói hay ý nghĩ của mình. Bất cứ điều gì, càng bị đè nén, nó chẵng những không mất đi đâu hết mà càng trở nên mãnh liệt hơn!

Một số các vị hiền giả, thánh nhân khác đã đi xa hơn nữa trong sự tư duy của họ và nhận thấy rằng: đánh lạc hướng tâm trí như trên chỉ là trốn tránh vấn đề trước mắt, và trốn tránh không phải là một giải pháp vẹn toàn. Họ đã đưa ra cách giải quyết thứ hai: “Ta phải trực diện đối mặt với chính cái phiền não của mình, bằng cách là theo dõi, quán sát nó một cách liên tục và khách quan, không để cho nó khống chế tâm trí ta. Tức là, ta phải luôn giữ vững sự quân bình và tỉnh thức trong suốt quá trình quán sát ấy. Khi quán sát được cái phiền não như thế, ta sẽ thấy rằng nó từ từ yếu đi dần và cuối cùng mất hẳn. Nó đâu có thể kéo dài vô tận được! Qui luật vô thường (impermanence) áp dụng cho tất cả mọi thứ trên thế gian. Dĩ nhiên, một lúc khác, cái phiền não ấy lại nổi lên nữa, nhưng dù cho nó có nổi lên bao nhiêu lần, mỗi lần kéo dài đến đâu, nó cũng không thể nào chế ngự được ta, miễn là ta luôn luôn quán sát được nó với một tâm trí tỉnh thức và quân bình (aware and equanimous), giống như một nhân chứng khách quan và trầm lặng ở bên ngoài đang nhìn vào trong tâm trí ta, nhận diện, theo dõi liên tục những gì đang xảy ra ở nơi ấy mà không hề có phản ứng nào hết. Và như thế, sự “phiền não” xảy đến rồi chỉ để mất đi, như những người khách qua đường vô thưởng vô phạt, không thể nào trói buộc được tâm trí ta; sự an lạc, tự tại vẫn luôn được hiện hữu!”

Trên lý thuyết, phương cách thứ hai này hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, trong thực tế có thể thực hành được hay không? Một người bình thường có thể quán sát được cái phiền não của mình như đã trình bày hay không? Ðó là điều vô cùng khó khăn! Sở dĩ như vậy là vì có hai lý do:

1.Chúng ta không cảm nhận được sự phát sinh của cái phiền não ngay từ lúc đầu. Nó phát xuất từ thẳm sâu trong tiềm thức – lúc ta chưa hay biết gì cả; và khi ta cảm nhận được, nó đã trở nên quá mãnh liệt; nó lấn áp, chiếm hữu, điều khiển tâm trí ta, khiến cho ta không thể nào theo dõi, quán sát được nó như đã trình bày.

2.Khi có một phiền não nổi lên, tâm trí ta liền tập trung ngay vào cái đối tượng đã gây ra sự phiền não. Ðây là một thực tế không thể phủ nhận, là một phản xạ tự nhiên mà hầu hết chúng ta ai cũng có. Thành ra, thay vì chỉ nên tập trung quán sát cái phiền não của mình, tâm trí ta lại đi “chỉa mủi dùi” vào cái nguyên do bên ngoài, vô tình làm tăng trưởng thêm chính cái phiền não ấy! Lý do mà ta phản xạ một cách bất lợi như vậy thật ra rất dễ hiểu. Sự phiền não luôn luôn đi đôi với nguyên nhân của nó. Trong “cặp bài trùng” này, một cái là trừu tượng - sự phiền não (giận dữ, khổ sở, thèm khát…v.v.); một cái là cụ thể, rõ ràng – nguyên nhân của sự phiền não (bị mất việc làm, bị vu oan, bị mất của…v.v.). Do đó, đối với một người bình thường, tâm trí người ấy tất nhiên chỉ có khuynh hướng tập trung vào cái cụ thể, rõ ràng mà thôi, vì nó rành rành ngay trước mắt!

Như vậy, cả hai cách giải quyết trên đều có chổ bế tắc. May thay, một vị cứu nhân với trí tuệ siêu việt và lòng thương yêu nhân loại vô bờ bến, sống ở Ấn Ðộ trên 2500 năm về trước, đã tìm ra một phương cách đầy hiệu dụng và đem chỉ dạy, hướng dẫn cho biết bao nhiêu người lúc bấy giờ. Tên Ngài là Siddhattha Gotama, người đời thường gọi Ngài là “Ðức Phật” hay là “Người Giác Ngộ” (The Enlightened One). Ngài cũng dạy là phải trực diện đối mặt với sự phiền não giống như phương cách thứ hai ở trên, nhưng Ngài không dừng lại ở đó, mà đã chỉ dẫn thêm cái “bí quyết” để thực hành được điều này. Ngài đã khám phá ra rằng: giữa cái nguyên nhân gây ra phiền não và sự phiền não luôn luôn có thêm một yếu tố nữa, cực kỳ quan trọng mà các vị hiền giả, thánh nhân khác đã bỏ sót (the missing link). Ðó là những CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể -- physical sensations in the body.

Trước khi đọc tiếp, xin quý vị độc giả hãy phân biệt cho thật rõ ràng giữa cảm giác SINH LÝ (ví dụ: ngứa ngáy, nhột nhạt, tê buốt, nóng nực, rạo rực, lâng lâng, nhẹ nhõm…v.v.) và cảm giác TÂM LÝ (ví dụ: tức giận, thương yêu, ghét bỏ, thèm khát, nhớ nhung…v.v). Mấu chốt của vấn đề chính là ở những cảm giác SINH LÝ, cho nên đừng lẩn lộn với cảm giác tâm lý .

Bây giờ ta hãy phân tích cặn kẽ về những CẢM GIÁC SINH LÝ này để hiểu rõ cái chức năng độc đáo của chúng. Trước hết, ta nên biết rằng: CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể luôn luôn đi đôi với sự phiền não. Hai khía cạnh này không bao giờ tách rời nhau, giống như hai mặt của một đồng tiền! Hãy lấy một ví dụ để minh họa: Khi ta lo sợ (phiền não) thì bắt buộc tim ta phải đập mạnh hơn bình thường (cảm giác sinh lý); và khi nhịp tim trở lại bình thường thì ta cũng không còn lo sợ nữa. Như vậy, nếu ta quán sát được những CẢM GIÁC SINH LÝ tương ứng với một sự phiền não nào đó, thì rõ ràng là ta cũng đang quán sát chính cái phiền não ấy một cách “gián tiếp”. Thật là tuyệt vời! Ta không còn phải đối mặt trực tiếp với khía cạnh TÂM LÝ mà thôi; ta đã có một đối tượng trung gian - CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể - để sử dụng như một phương tiện rất hiệu quả. Ðặc điểm của đối tượng trung gian này là chúng hoàn toàn cụ thể, rõ ràng, không có một chút gì là trừu tượng; cho nên một người bình thường dễ có khả năng tập trung quán sát được nó hơn.

Hơn nữa, CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể còn có thêm một vai trò khác, quan trọng hơn gấp bội lần, mà chính Ðức Phật đã khám phá ra và chỉ dạy lại rất cặn kẽ. Vai trò ấy được diễn tả một cách cô đọng, rốt ráo qua cái nguyên lý bất di bất dịch sau đây:

“Cái yếu tố kích thích trực tiếp nhất, cho nên cũng là cốt lõi nhất để gây ra sự phiền não trong chúng ta chính là những CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể, chứ không phải là những tác động bên ngoài hay ý niệm trong đầu.”

Hãy lấy ví dụ cho dể hiểu: khi một người bị nghiện rượu, cái yếu tố kích thích để gây ra sự nghiện rượu này chính là những CẢM GIÁC SINH LÝ mang tính cách khoái lạc trong cơ thể của anh ta do chất rượu gây nên; tức là anh ta nghiện những cảm giác sinh lý khoái lạc này, chứ không phải là nghiện cái “rượu”! Tương tự như thế, khi một điều trái ý xảy ra và ta nổi cơn bực dọc, thật ra ta đang bực dọc với chính những CẢM GIÁC SINH LÝ khó chịu trong cơ thể do điều trái ý gây ra, chứ không phải là bực dọc với điều trái ý ấy! Nhận thức ra điều này, ta sẽ thấu hiểu rất tường tận, chính xác tại sao cùng một sự việc mà mổi người lại có mổi phản ứng khác nhau, ví dụ: cùng bị mắc kẹt trong một cầu thang máy nhưng người thì sợ hãi, người thì bực bội, người thì bàng quan phớt tỉnh...v.v. Ta có thể đưa ra nhiều giải thích, chẵng hạn như: vì người này nhát gan, người kia đang vội công việc, người nọ thì bất cần đời…v.v., nhưng đó chỉ là những yếu tố gián tiếp! Cái mà trực tiếp nhất, cho nên cũng là cốt lõi nhất chính là những CẢM GIÁC SINH LÝ khác nhau đang nổi lên trong cơ thể của những người này, và chúng kích thích họ, khiến cho họ có những trạng thái tâm lý khác nhau.

Trước đây, ta chỉ biết nhìn ra ngoài, luôn luôn đổ lỗi, quy tội cho các yếu tố ngoại cảnh đã gây ra khổ đau, phiền não cho mình; và loay hoay, bôn ba tìm cách sửa đổi chúng cho vừa ý; sửa không được thì lại càng thêm phiền não! Hoàn toàn u mê, mù mịt về cái thực tại nội tâm, ta chưa bao giờ hiểu rằng nguyên do thật sự của khổ đau, phiền não nằm ở ngay trong ta, ở ngay cái sự vướng mắc của tâm trí với những CẢM GIÁC SINH LÝ mang tính cách khoái lạc (pleasant) hoặc khó chịu (unpleasant) trong cơ thể. Tức là, nếu khoái lạc thì tâm trí ta say đắm vào nó (craving); nếu khó chịu thì chê ghét, bực tức, khổ sở … (aversion). Sự vướng mắc ấy cứ lập đi lập lại, chồng chất mãi lên nhau suốt cả cuộc đời! Ta chỉ là nô lệ cho những CẢM GIÁC SINH LÝ ấy, làm sao mà thoát được phiền não, khổ đau?! Ðọc đến đây, quý vị có thể sẽ nảy ra một nghi vấn: “Ðồng ý rằng nếu không có cái vướng mắc này, ta sẽ khỏi bị phiền não, nhưng đồng thời, có thể nào ta cũng trở nên thụ động, yếm thế, mất đi cái tinh thần năng nổ, cầu tiến trong cuộc sống?” Thật ra, chẳng những ta không hề bị thụ động như thế mà ngược lại còn trở nên tích cực, linh hoạt hơn. Thay vì chỉ phản ứng theo cảm xúc (reacting emotionally), một tâm trí không bị vướng mắc luôn luôn suy xét, quyết định, hành xử mọi sự việc trong sự trầm tỉnh, nhạy bén, sáng suốt và khôn ngoan (being pro-active is always better than re-active).

Hiểu được như trên, lẽ dĩ nhiên là ta phải tìm cách ngăn chận triệt để cái vướng mắc (craving/aversion) tai hại ấy; và phương cách hiệu quả nhất chính là: theo dõi, quán sát những CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể của ta một cách liên tục, sâu sắc và khách quan với một tâm trí đầy sự tỉnh thức (awareness) và quân bình (equanimity). Làm như vậy, chắc chắn ta sẽ đạt được những hiệu quả sau đây:

1.Thực chứng được cái bản chất VÔ THƯỜNG (impermanence) của tất cả mọi CẢM GIÁC SINH LÝ. Càng thực hành bao nhiêu, sự thực chứng này càng sâu sắc bấy nhiêu; và tâm trí ta tự nhiên càng giảm bớt đi cái vướng mắc tai hại kia bấy nhiêu. Cứ thế, đến một thời điểm chín mùi, sự vướng mắc đó sẽ hoàn toàn hết hẳn; và phiền não vĩnh viễn không bao giờ tái hiện! Lúc ấy, tâm trí ta cũng hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh. Một tâm trí như thế luôn luôn tràn đầy sự tinh anh, sáng suốt; tràn đầy sự từ bi (compassion) đối với những khổ đau hay thất bại của kẻ khác; tràn đầy niềm hoan hỷ với sự thành công hay hạnh phúc của họ; và tràn đầy sự bình thản, tự tại, khinh an trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.

2.Bồi đắp, phát triển một kiến thức vô cùng thâm sâu, gọi là TU TUỆ - tức là trí tuệ mà chỉ có thể đạt được từ những kinh nghiệm trực tiếp của bản thân trong quá trình thực hành. Lời nói, ngôn từ không thể diễn tả hết cái lãnh vực TU TUỆ này. Cho dù có diễn tả được đi nữa, thì chỉ là để “thưởng ngoạn” trên phương diện tư duy, lý thuyết mà thôi, không thể nào ứng dụng được cả! Chỉ có thực chứng thì mới thật sự thấu hiểu và ứng dụng được trong thực tế; cho nên phải thực hành, thực hành, thực hành (get down to the real practice)!

Dĩ nhiên, phải có một phương pháp thực hành cụ thể, rõ ràng, đúng đắn ta mới làm được như trên. Phương pháp thực hành ấy có tên tiếng Anh là Vipassana Meditation - thiền Vipassana, do chính Ðức Phật tìm ra, đích thân mình thực hành theo nó để đạt đến quả vị giác ngộ viên mãn, và sau đó đem chỉ dạy lại rất cặn kẽ cho mọi người. Mang tính cách “phản quan tự kỷ - soi sáng lại chính mình”, thiền Vipassana giúp cho ta thấu hiểu một cách vô cùng thâm sâu cái thực chất của bản thân ta và của cả toàn thể thế giới, vũ trụ chung quanh. Ai cũng có thể thực tập phương pháp này. Thiền Vipassana không phải là một chủ thuyết xa vời, viển vông hay dị đoan mê tín; nó hoàn toàn mang tính cách khoa học, thực tế và hiệu quả. Nó cũng không bị ràng buộc bởi bất kỳ ranh giới chủng tộc, tôn giáo, đoàn thể…v.v. nào hết. Phiền não trong cuộc sống là một sự thật không thể phủ nhận, là một chứng bệnh chung của toàn thể nhân loại, cho nên thuốc chữa của nó cũng phải thích hợp, hiệu dụng cho tất cả mọi người. Thiền Vipassana chính là phương thuốc chữa đó!

Sau đây, người viết xin mô tả một cách tổng quát về phương pháp thiền này để quý vị có thể tham khảo, đánh giá thêm. Thực tập thiền Vipassana gồm có ba bước, theo trình tự như sau:

GIỚI LUẬT:
Ta phải giữ năm điều cấm kỵ: không giết hại, không trộm cướp, không tà dâm, không dối trá, không dùng chất nghiện ngập. Ðây là bước cơ bản đầu tiên, cho nên nó chỉ áp dụng trên phương diện HÀNH ÐỘNG mà thôi, chưa liên quan gì đến lãnh vực ý tưởng, tâm niệm; quý vị đừng bị thối chí vì cho là quá khó. Nếu không có 5 giới luật này, tâm trí ta sẽ luôn bị loạn động, không thể nào thực tập được Vipassana.

ÐỊNH TĨNH:
Ðịnh tĩnh có nghĩa là vừa có tập trung (concentration), vừa có tỉnh thức (awareness). Ở bước này, ta luyện tập cho tâm trí bớt nghĩ ngợi lung tung và được sáng suốt, nhạy bén hơn, bằng cách tập trung nó toàn bộ vào hơi thở ra vô ở lỗ mũi. Ðây không phải là phương pháp điều hòa hơi thở, mà là quán sát, theo dõi một cách liên tục và sâu sắc cái hơi thở bình thường, tự nhiên của ta, được gọi là phương pháp Anapana (quán niệm hơi thở).

TRÍ TUỆ:
Hai bước đầu trên là nền tảng không thể thiếu được và đã mang lại nhiều lợi ích, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì tiềm năng phát triển của ta sẽ bị ngăn chận (self-repression). Cho nên mới có bước thứ ba, và đây chính là tinh hoa của phương pháp Vipassana - sử dụng cái ÐỊNH TĨNH ở bước 2 để theo dõi, quán sát những CẢM GIÁC SINH LÝ trong cơ thể một cách liên tục, sâu sắc và khách quan. Thực hành như thế, ta sẽ đạt được những hiệu quả như đã trình bày ở đoạn trước. Sự quán sát ấy được thực hiện theo một trình tự, hệ thống rất rõ ràng, khoa học và thực tế; khuôn khổ của bài viết này không thể đi sâu vào chi tiết.

Hiện nay, phương pháp thiền Vipassana đang được chỉ dạy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới. Nó được duy trì một cách trọn vẹn, đúng đắn với tinh thần nguyên thủy qua hơn 2500 năm nay do bao nhiêu vị thiền sư ở nước Miến Ðiện từ đời này đến đời khác liên tục, không gián đoạn. Các trung tâm thiền Vipassana và những chi nhánh nhỏ hơn (non-centers) đã được thành lập ở khắp năm châu, thường xuyên tổ chức các khóa thiền mười ngày -- khóa cơ bản, đầu tiên cho người mới học, và những khóa lâu hơn cho những người muốn thực tập nhiều. Ngôn ngữ hướng dẫn là tiếng Anh. Quý vị không phải đóng bất kỳ một chi phí nào hết khi theo học những khóa thiền này, ngay cả thức ăn, chỗ ở trong suốt thời gian thực tập cũng miễn phí. Toàn bộ ngân sách tài trợ của các chương trình này là do sự đóng góp tùy hỷ, hảo tâm (donations) từ các cựu thiền sinh đã từng theo học, gặt hái được lợi ích thiết thực và muốn góp phần tạo điều kiện cho người khác cũng được lợi ích theo. Khóa cơ bản 10 ngày chỉ hướng dẫn được cho quý vị tất cả những cách thức căn bản, thiết yếu; và quý vị về nhà nên tiếp tục thực tập thêm hằng ngày. Thực tập bao nhiêu thì lợi ích bấy nhiêu. Cho nên hãy kiên trì, tinh tấn, tránh giải đãi!

Bài viết có lẽ đã quá dông dài; mong rằng nó đã trình bày được tất cả những khái niệm, ý tưởng một cách rõ ràng, dể hiểu. Nếu quý vị muốn biết thêm bất kỳ chi tiết nào về Vipassana, chẳng hạn như cách thức ghi danh, lịch trình tu học, địa chỉ các trung tâm thiền…v.v. thì hãy vào website: http://www.dhamma.org. Tất cả tài liệu của bài viết này đều nằm trong ấy. Trước khi ngừng bút, người viết xin hết lòng khuyến khích tất cả quý vị hãy theo học một khóa thiền này, nếu có khả năng Anh Ngữ căn bản. Chỉ có 10 ngày thôi mà nó sẽ mang lại nhiều lợi ích cụ thể, thiết thực trong đời sống hằng ngày. Bản thân người viết đã thực tập qua một khóa như thế và cũng gặt hái được rất nhiều bổ ích.

Xin kính chúc tất cả quý vị thân tâm thường an lạc!

V.D., 11/2002
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------
Nguồn : http://thuvienhoasen.org/thienvipassana
.htm


Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
thichtambinh1985
Bài viết: 295
Ngày: 12/07/07 01:29
Giới tính: Nam
Đến từ: vnn
Nghề nghiệp: Khi niệm hồng danh Ðức Quán Thế Âm, chẳng những miệng niệm phải rõ ràng mà tâm mình cần phải nhớ giữ cho sáng tỏ. Phải dùng tất cả sáu căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - mà niệm. Ðem toàn thân toàn ý chuyên chú mà niệm Ðức Quán Thế Âm. Ðó gọi là thâu nhiếp sáu căn, chuyên tâm thâm nhập.

Re: điều cần phải biết

Bài viết chưa xem gửi bởi thichtambinh1985 »

Trong Kinh tạng Phật thuyết có giải trình về sự hình thành các pháp, tiến trình hình của các pháp, kể cả mọi hành động của mọi loại chúng sanh, bao gồm cả con người đều nằm trong quy luật nhân-duyên-quả.

Vì “theo lời Phật dạy tâm là chủ thể tinh thần của ta. Xưa nay theo giáo nghĩa của đạo Phật thì cái gọi là vũ trụ bao gồm vật chất trong thế gian: hoàn cảnh của ta và vạn vật sinh sống, cùng với nhân sinh tức là các loài có tình thức, có sinh mạng như con người, con vật,…chẳng phải do thần Phạm Thiên hay Thượng Đế sáng tạo, cũng chẳng phải không có nguyên nhân mà thành. Tất cả đều do nhân duyên (điều kiện) hòa hợp mà sinh ra và tồn tại.”

Chúng ta thấy rằng: chân lý nhân quả là một sự thật không cần chứng minh, mọi vật sinh khởi hay diệt vong, không có pháp nào là không có nguyên nhân của nó. Và khi chúng ta đã chấp nhận nhân quả là một sự thật, là lẽ tất yếu thì tất nhiên sự hình thành của con người và thế giới cũng nằm trong quy luật này.
Nếu chúng ta chấp nhận rằng ta là quả thì chắc chắn phải có nhân để hình thành ra ta, còn nếu chúng ta xem mình là nhân thì chắc chắn sẽ có một quả từ cái nhân này. Nhưng theo thuyết nhân-quả thì một nhân không thể biến thành quả được, mà nó cần dựa vào rất nhiều yếu tố phụ thuộc, và các điều kiện hỗ tương. Các thứ này thuật ngữ Duy Thức gọi là Duyên. Vậy, ta có thể khẳng định rằng tất cả vạn pháp trong vũ trụ được hình thành, sinh khởi và diệt vong đều nằm trên qui trình:
Nhân  Duyên  Quả (Nhân)
Một vật được gọi là nhân, là duyên, hay là quả là tùy theo góc độ quan sát của mỗi con người. Chân lý Nhân-quả là một tên gọi khác, cách phát biểu khác về sự thật duyên khởi.
Ở đây, vấn đề lại phải trải qua một vấn nạn khác, liệu có người lại hỏi rằng: nhân-duyên-quả thì quá đúng rồi, nhưng thế thì nguyên nhân đầu tiên cho lộ trình này là gì?. Ở đây, “Theo kinh nhiệm chung trong chuỗi dài nhân và quả, nhân sanh quả, quả trở thành nhân, mãi mãi liên tục như thế ta không thể quan niệm một khởi điểm.” Còn theo Bertrand Russell thì cho rằng: “không có lý do nào để giả định rằng thế gian có một khởi điểm. Ý niệm chủ trương sự vật phải có một khởi điểm phát sinh do nghèo nàn tưởng tượng”
Để hiểu rõ hơn về tiến trình Nhân-Duyên-Quả, ta cần lướt qua xem xét các yếu tính của Nhân, Duyên, Quả để thấy được sự vận hành của pháp giới, cái mà con người gọi là ta và thế giới xung quanh ta.

a. Mười Đặc Tính Của Nhân

Đặc tính của nhân thì có rất nhiều. Ở đây, y theo tánh chất sai khác của nó, tóm lược lại, chia thành 10 đặc tính sau.

(1) Tính Tương Đối ( tùy thuyết nhân): một đối tượng đóng vai trò nguyên nhân bao giờ cũng có nhiều cách nhìn nhận khác nhau, tùy theo góc độ và hệ quy chiếu quan sát mà nó đươc đánh giá khác nhau.

(2) Tính Tạo Tác (quán đãi nhân): một đối tượng được xem là nguyên nhân thì bao giờ cũng tạo ra một năng lực tác động đến các nhân tố khác. Nên trên quá trình hình thành từ nhân đến quả, con người có thể quan sát và đoán định được kết quả của nó trong một mức tương đối.

(3) Tính Định Hướng (khiên dẫn nhân): nhân luôn có năng lực dẫn dắt, định hướng cho quả hình thành dù trước hay sau.

(4) Tính Tiếp Nhận (nhiếp thụ nhân): đối tượng đóng vai trò nguyên nhân có khả năng tiếp nhận các nhân tố tác động khác để nó có cơ hội phát khởi mạnh lên và hình thành quả.

(5) Tính Phát Khởi ( sinh khởi nhân): đã gọi là nhân thì phải có đặc tính phát khởi để đóng vai trò chủ yếu trong quá trình hình thành quả.

(6) Tính Dẫn Truyền (dẫn phát nhân): nhân đóng vai trò quyết định diễn biến trong suốt quá trình sinh khởi và hình thành của quả.

(7) Tính Đặc Thù (định biệt nhân): mỗi nhân đều có đều những tính đặc thù riêng của mình, không thể lẫn lộn với các nhân khác. Đây là nguyên nhân tạo ra sự đa thù của thế giới.

( Tính Đồng Bộ (đồng sự nhân): mọi đối tượng đóng vai trò làm nguyên nhân thì khi nào cũng đủ những đặc tính như tạo tác, định hướng, tiếp nhận, phát khởi, dẫn truyền và đặc thù. Nên đặc tính này gọi là Đồng sự nhân.

(9) Tính Tương Phản (tương vi nhân): đối tượng đóng vai trò làm nguyên nhân có tính tương phản đối với một số nhân khác. Nó làm chướng ngại các nhân khác phát sinh trong quá trình hình thành quả.

(10) Tính Tương Hợp ( bất tương vi nhân): đối tượng đóng vai trò làm nguyên nhân có tính tương hợp đối với một số nhân khác. Nó thúc đẩy quá trình hình thành quả một cách thuận lợi.

b. Bốn Đặc Tính Của Duyên

(1) Tính Phụ Trợ Cho Nhân (nhân duyên): trong quá trình hình thành từ nhân đến quả phải cần rất nhiều điều kiện phụ cho nhân. Điều kiện phụ này được gọi là nhân duyên (s: nidāna, p: hetupaccaya). Nhân duyên tức là các duyên phụ cho nhân, ở đây, cũng tùy theo góc độ quan sát và tính chất, mức độ ảnh hưởng của nó mà có thể gọi là Nhân hay là Nhân duyên. Như cất một ngôi nhà, vật liệu cố nhiên là nhân duyên nhưng nhân công cũng là nhân duyên của ngôi nhà ấy. Nên đối trước một sự kiện, một đối tượng ta rất khó xác nhận ra đâu là nhân, đâu là nhân duyên.

(2) Tính Hấp Thụ (sở duyên duyên ): mỗi điều kiện (duyên) phụ cho nhân đều có những điều kiện phụ khác trợ giúp cho nó. Duyên chính hấp thụ thêm những duyên phụ để trở thành mạnh hơn. Sở duyên duyên (s: ālambana pratyaya) là những duyên phụ.

(3) Tính Liên Tục (Đẳng vô gián duyên): các điều kiện diễn ra trong tính liên tục tự nội, từ hiện tượng trước đến hiện tượng sau. Nên “vạn không thể tự sinh ra cũng không thể tự mất đi, nó chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác”. Như động tác đi của mỗi con người, chân trái bước tới thì chân phải cũng nhấc lên bước tới, nếu hành động bước tới chỉ thực hiện ở một chân thì việc “đi” không tồn tại, pháp giới cũng vậy vạn pháp liên tục trôi chảy phụ trợ cho nhau sinh thành và hoại diệt. Nên gọi là Đẳng vô gián duyên (p: samanatarapaccaya).

(4) Tính Tổng Hợp (Tăng thượng duyên): các điều kiện phụ trợ từ phía ngoài, được tổng hợp theo hai hướng thuận và nghịch. Thuận là tổng hợp các duyên theo chiều thuận của quá trình phát triển từ nhân đến quả. Nghịch là tổng hợp các duyên ngược lại, chống lại quá trình phát triển từ nhân đến quả. Nên gọi là Tăng thượng duyên (p: adhipaticcaya).

c. Năm Đặc Tính Của Quả

(1) Tính Biến Đổi (dị thục quả): quả được hình thành từ nhân nhưng không phải khi nào cũng giống nhân hoàn toàn mà có sự biến đổi tùy theo mức độ tác động của các nhân tố khác (duyên) về cường độ cũng như tính chất, nên gọi là dị thục quả (s: vipākaphala).

(2) Tính Bảo Lưu (đẳng lưu quả): một quả được hình thành từ nhân thì quả này cũng phải có cùng tính chất của nhân ấy về cả định tính và định lượng, nếu đủ các điều kiện thuận. Như trồng một cây cam ngọt thì sẽ được một trái cam, không thể trồng cam ngọt mà được một trái tranh chua, nên gọi là đẳng lưu quả (p: nissandaphala).

(3) Tính Tạo Tác (sĩ dụng quả): có những loại quả chỉ được hình thành từ sự tạo tác, hay do sức lực của trí tuệ hoặc cơ bắp của con người tạo ra, nên gọi là sĩ dụng quả (s: puruṣakāra phala).

(4) Tính Tổng Hợp (tăng thượng quả): hết thảy các pháp sinh ra, không một pháp nào được thành lập một cách vô điều kiện, mà ngược lại, về mặt tiêu cực hay tích cực thì một quả hình thành phải có vô số điều kiện, tổng hợp từ vô số nhân phụ và các yếu tính (duyên) khác. Đặc tính này của quả bao quát cả ba đặc tính trên, nên gọi là tăng thượng quả (p: adhipatiphala).

(5) Tính Tuyệt Đối (ly hệ quả): đây chính là Niết-bàn . Một cái quả như là điểm kết thúc cho quá trình nhân-quả-quả-nhân, vì quả này không còn trở thành tác nhân để sinh khởi ra những quả khác. Nó xa rời mọi sự ràng buộc, giải thoát nên gọi là ly hệ. Trong luận Câu-xá gọi quả này là Bất sinh quả . Thật ra, Niết-bàn không phải là kết quả của một quá trình tu tập, mà Niết-bàn là giải thoát nhân quả, chấm dứt mọi khái niệm, im lặng.

Tóm lại, cứ theo đúng luật tắc nhân-quả với các đặc tính trên của nhân, duyên, quả, vũ trụ và con người sinh khởi “như một mạng lưới nhân duyên sinh vĩ đại, tất cả khởi lên đồng thời, nương tựa lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của hữu khác. Mạng lưới ấy còn gọi là pháp giới,... Nếu xét về toàn thể tiến trình sinh khởi của vũ trụ, thời bản tính của hiện hữu là vũ trụ nói theo nhân, là tánh không, là pháp giới. Pháp giới duyên khởi là lý thuyết cho rằng vũ trụ nói theo quả là cộng đồng tạo tác của tất cả mọi loại, tương quan liên hệ trên đại thể, và hiện khởi trong hỗ tương giao thiệp. Hết thảy mọi sự vật cá biệt giao thiệp với nhau nhưng mỗi sự vật duy trì trọn vẹn cá biệt tính trong tự thân, mỗi sự vật hiện hữu là hiện hữu cùng với và hỗ tương giao thiệp với mỗi sự vật khác, có bao nhiêu sự vật thời sự vật ấy có bấy nhiêu mối quan hệ” . Cái này có vì cái kia có, thứ này biểu hiện vì thứ kia biểu hiện.
Nhân-duyên-quả tạo thành một chu trình sinh hóa của vạn hữu. Theo Duy Thức Học, nhân là chủng tử, duyên là các điều kiện, quả là khi chủng tử đã phát khởi thành hiện hành. Quá trình sinh khởi này, Duy Thức miêu tả như sau: mỗi hữu tình đều có một A-lại-da riêng và một A-lại-da chung. A-lại-da riêng là tất cả những gì mà chúng sanh ấy tạo ra, hoặc đã thành hình hoặc chỉ tồn tại dưới dạng năng lượng, rồi khởi lên hành động của chính mình và tạo nên hiện tượng giới cho chính mình. Những hành động này lại tạo thành một chủng tử mới được tích lũy trong A-lại-da, nó tạo động lực cho chu trình mới trong tương lai. Quá trình này tuần hoàn, xoay quanh mãi không giới hạn, nên liên tục các thế giới riêng biệt được tạo nên. Tổng hợp hết tất cả thế giới riêng biệt này là thế giới tổng thể, cái thế giới mà mọi chúng sanh cùng loài có chung những nhận định tương tự như nhau. Ví dụ như loài người cùng thấy một gò đất cao, có cây, có đá, v.v. thì ai cũng gọi đó là núi, mọi vật khác cũng hình thành trong nghĩa này.
Mặc khác, Ý thức và A-lại-da thức, luôn tạo nên và thâu vào hai loại chủng tử khác nhau, chủng tử trong sạch và chủng tử nhiễm ô. Hai loại chủng tử này đã tạo nên cái tâm sáng tạo thành luân hồi và giải thoát, tức là thế giới hiện thực và thế giới lý tưởng. Vì thế, con người là sự thể hiện của chân tâm thông qua ý thức hiện khởi, “vũ trụ và pháp giới, là hình ảnh tích cực của tánh không, là biểu hiện động của chân như”.
Như vậy, các vấn nạn về nhân-quả đã được trả lời.
_________________
"Sen búp xin tặng người
Một vị Phật tương lai"


Nếu tâm bạn còn tham muốn, ham thích, vương vấn chuyện gì, thì khi lâm chung việc đó sẽ hiện ra. Bấy giờ, nếu bạn thấy cảnh đó rồi nảy lòng yêu thích, sanh tâm truy đuổi nó, thì kết quả là bạn sẽ lọt thẳng vào vòng luân hồi! http://www.dharmasite.net/
Trả lời

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào trực tuyến.3 khách