| Phật hoàng Trần Nhân Tông viết về Thầy |
|
|
|
| Lịch Sử Phật Giáo - Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam | |||||
| Viết bởi Đỗ Văn Hỷ, Huệ Chi | |||||
Thượng sĩ là con trai đầu lòng của Khâm minh từ thiện thái vương (1) và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu (2). Khi Thái vương mất, Hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng sĩ tước Hưng ninh vương.
Thủa nhỏ, Thượng sĩ bẩm tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu. Được cử trấn giữ quân dân ở lộ Hồng (3). Hai lần giặc Bắc xâm lăng (4), có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ vùng biển tại trại Thái - Bình (5). Ngày ngày chỉ lấy việc hứng thú với Thiền học làm vui, không hề bận tâm tới công danh sự nghiệp. Rồi người lui về sống ở phong ấp Tịnh - Bang và đổi tên lại là Hương Vạn - Niên. Người nào tìm đến hỏi han, người cũng chỉ bảo cho biết điều cương yêu khiến họ trụ được cái tâm, mặc tính hành tàng, không rơi vào danh hay thực. Vua Dụ lăng (8) mộ tiếng người từ lâu nên sai sứ vời vào cửa khuyết. Phàm những lời hầu chuyện nhà vua đều là lời siêu tục, do đó vua suy tôn người là sư huynh mà ban cho tên hiệu hiện nay. Thượng sĩ cười đáp: "Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh. Cô chẳng nghe các bậc cổ đức nói "Văn Thù (9) là Văn Thù, giải thoát (10) là giải thoát" đó sao?" Nhưng kết quả bài nào cũng "ngầu bùn sũng nước", chưa tỏ ngộ được. Dụ lăng bèn đem giấy đến cho Thượng sĩ. Thượng sĩ bèn viết một hơi bài tụng tự thuật như sau: Người hầu hạ và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng sĩ mở mắt ngồi dậy, gọi người lấy nước rửa tay súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng: "Sống chết là lẽ thường, làm gì phải xót thương quyến luyến làm rối chân tính của ta?". Dứt lời người êm thấm mà tịch. Bấy giờ là ngày mồng một tháng Tư năm Tân Mão, niên hiệu Trùng Hưng năm thứ bảy, hưởng thọ 62 tuổi. Chú thích: (2) Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu: con gái Trần Liễu, em Trần Tung và là chị hoặc em Trần Quốc Tuấn. Bà lấy Trần Thánh Tông. (3) Lộ Hồng: là phần đất trấn Hải - Dương về sau. (4) Hai lần giặc Bắc xâm lăng, ở đây tức là lần thứ hai (1281 - 1285) và thứ ba (1287 - 1288). (5) Trại Thái - Bình: có lẽ là một phần của tỉnh Thái - Bình ngày nay. (6) Để chỏm: Dịch thoát chữ bôi huề, tức là mang cái dùi bằng sừng. Xuất xứ từ câu thơ trong bài Hoàn lan, Vệ phong, Kinh thi "Đồng tử bội huề", nghĩa là con trẻ mang cái dùi bằng sừng. (7) Cửa không: thuật ngữ đạo Phật; không nghĩa là không có gì. Theo Triết học Phật giáo, thế giới là hư huyễn, không có thật, chỉ có cái bản thể mới là thật. Tuy nhiên, cái bản thể ấy cũng là không, có nghĩa là không phải một sự vật cụ thể nào. Không là một phạm trù đối lập với hữu. (8) Dụ lăng: tên lăng của vua Trần Thành Tông. Trong cách xưng hô đời xưa, để tỏ ý tôn kính đối với một vị vua đã mất, người ta không gọi thẳng tên mà dùng tên lăng để thay thế. (9) Văn thù: cũng gọi là Văn thù sư lỵ, mạn thù thất lỵ, phiên âm tiếng Phạn Mânjuri, có nghĩa là đức tốt lành, điều tốt lành, là vị Bồ Tát đứng đầu các Bồ Tát, có đến 108 cái tên, và tiêu biểu cho trí tuệ nên còn gọi là Đại Giác. Theo Phật thoại thì Văn thù là một vị cổ phật, nhưng luôn tùy cơ ứng hóa mà cứu độ chúng sinh. Trong tông Đại thừa, người ta thường vẽ Văn thù ngồi trên lưng sư tử xanh. (10) Giải thoát: thuật ngữ đạo Phật, phiên âm từ tiếng Phạn mộc đề, mộc xoa (moksha). Giải thoát của nghĩa là dứt bỏ được sự trói buộc của mọi sai lầm, phiền não, nhờ vậy sẽ được tự tại, giải thoát khỏi hoặc nghiệp, vượt ra ngoài tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) đạt đến Niết bàn. Giải thoát có hai tính: tính tịnh giải thoát (bản tính của chúng sinh vốn không tró buộc, ô nhiễm) và chướng tận giải thoát (bản tính của chúng sinh vốn thanh tịnh nhưng vì mọi phiền não mê hoặc nên bị che lấp đi; dứt bỏ được các chướng nghiệp ấy thì được giải thoát). (11) (12) Đò Nam Tử Đoàn Trọng Thuật dịch (13) Quần mẹ sinh ra ta: xem Cht 2 bài Giới định tuệ luận, số 9 của Trần Hoảng (14) Tuyết Đậu: Thiền sư Trung Quốc đời Tống, thuộc phái Vân Môn, tên thật là Trùng Hiển, thầy của Thiền sư Thảo Đường đời Lý. Dã Hiên: chưa rõ là người nào. (15) Ba-la-mật: ngoài 6 phương châm như ở lạc độ, còn có thêm 4 điểm: a) Phương tiện; b) Nguyện; c) Lực; d) Tri (16) Trang Dưỡng -Chân: chưa rõ ở đâu (17) Bốn điều ân nặng: nguyên văn là từ trọng, có thể là tứ trọng, có thể là tứ trọng ân, hoặc tứ trọng cấm. Theo ý nghĩa đoạn văn, chúng tôi cho đây là tứ trọng ân, là bốn điều ân nặng: 1. Ơn cha mẹ; 2. Ơn chúng sinh; 3. Ơn vu; 4. Ơn Tam bảo. Người tu Phật lúc nào cũng phải lo đền đáp bốn ơn trọng ấy bằng sự cung kính, cúng dường, phụng sự. (18) Sữa phép: thuật ngữ nhà Phật: đem cái tư vị của chính pháp để nuôi dưỡng cái pháp thân của người học đạo, như người mẹ dùng sữa nuôi con. (19) Cổ chùy: cái dùi xưa, thể hiện cho các bậc cao tăng đại đức. (20) Lương Hoàng: tức Lương Vũ Đế, tác giả cuốn Lương hoàng sám (21) Thái đế: tức Thái hoàng, tác giả phải đổi chữ đế vì âm vận câu thơ. Theo Sử ký, Tần Thủy Hoàng kỷ thì đời xưa có Thiên hoàng, Địa hoàng, và Thái hoàng. Vậy Thái hoàng là Nhân hoàng. (22) Một ngươi: nguyên văn độc nhỡn, đúng ra là "nhất chích nhỡn": một con mắt. Một con mắt nhìn sự vật một cách đúng đắn. Theo Bích nhan bát tắc, nếu có đầy đủ một con mắt (tức nhỡn tri minh giác) thì có thể chỉ ngồi một chỗ mà đoán định được mười phương. Ở đây Trần Nhân Tông ca trụng Tuệ Trung Thượng sĩ là một bậc đại trí tuệ của Thiền. (23) Tam giác: tức ngọn núi Côn Luân. Theo Thập châu ký: núi Côn Luân rộng hàng muộn dặm hình như cái lọng đặt ngửa, đưới hẹp trên rộng có ba góc (tam giác). Tác giả dùng điển này để nói Thượng sĩ cũng là một quả núi lớn trong rừng Thiền.
|




