| Giảng giải kinh Kính Diện Vương (phần cuối) |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Biên Khảo | |||
| Viết bởi Thích Nhất Hạnh | |||
|
Bài kệ 6 Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội: Không kẹt vào cái nhìn lưỡng nguyên, không kẹt vào ý niệm đời này và đời sau, bậc trí giả đi vào con đường trung đạo, quán chiếu các pháp để đạt tới thiền định chân chính. Tất vô nguyện ư lưỡng diện: Lưỡng diện là hai mặt như ý niệm có-không (being-non being). Kẹt vào một trong hai ý niệm thì mình không thấy được sự thật. Nói sự vật “có“ thì kẹt vào một bên , nói sư vật “không“ thì kẹt vào bên khác. Cái nhìn của mình phải vượt lên khỏi hai thái cực “có và không“. Nó phải nằm ở chỗ trung đạo, không có, không không, không tới, không đi, không còn, không mất, không sinh, không diệt, không một, không nhiều. Cái nhìn của mình thường là cái nhìn lưỡng nguyên, mình phải thực tập quán chiếu để đừng bị kẹt vào trong cái nhìn nhị nguyên đó. Sau này, trong Kinh Pháp Hoa có nói, thọ mạng của chư Bụt là vô lượng. Nếu thọ mạng của chư Bụt là vô lượng thì thọ mạng của mình cũng là vô lượng, thọ mạng của chiếc lá, của đám mây cũng vô lượng. Vượt được ý niệm thọ mạng thì vượt được ý niệm về có và không, sinh và diệt. Đứng về phương diện tư tưởng thì ý này sẽ phát sinh thành tư tưởng trung đạo của Đại Thừa. Đương thời, người ta có khuynh hướng cho rằng cuộc đời này có nhiều hệ lụy, khổ đau, vì vậy mình phải cầu sinh lên một cõi khác sung sướng hơn. Theo tư tuởng Bà La môn giáo, người ta mong sau khi chết mình được sanh lên cõi Phạm Thiên, ở chung với Đức Phạm Thiên tức Thượng Đế. Còn Cơ Đốc giáo nói, sau khi chết đi mình sẽ được sanh lên nước Chúa tức Thiên quốc và được ngồi dưới chân của Chúa. Tịnh Độ Tông nói, cuộc đời ta bà có nhiều đau khổ, mình phải phát tâm chán ghét cõi ta bà này để sau này được sanh sang cõi Cực Lạc, làm đệ tử của Đức A Di Đà và ở đó luôn cho tới khi thành Bụt. Đó là ý niệm đời này đời kia, người ta có khuynh hướng chọn một cái và bỏ một cái. Người ta nói, kiếp này mình phải tạo phước đức để kiếp sau được sinh ra trong hàng chư thiên (hi vọng là kiếp sau sẽ khá hơn). Đó gọi là thai diệc thai, là ý niệm kiếp này và kiếp khác. Đây là những cái kẹt. Một người giải thoát, một bậc mâu ni phải vượt thoát những cái kẹt đó. Không chán ghét đời này, cũng không mơ tưởng đến đời sau, không chán ghét cõi này, không cầu mong cõi khác. Khi có giải thoát rồi thì cõi này và cõi khác chỉ là một. Thai diệc thai hợp viễn ly là buông bỏ hết ý niệm đời này và đời khác. Chữ hợp đúng hơn chữ xả. Diệc lưỡng xứ vô sở trú: Bậc trí giả đi vào con đường trung đạo. Lưỡng xứ cũng như lưỡng diện là những cặp đối nghịch nhau như có - không, tới - đi, còn - mất, sinh - diệt, một - khác, do cái nhìn lưỡng nguyên mà có. Thoát khỏi cái nhìn lưỡng nguyên thì mình đi vào trung đạo. Vô sở trú là không bị kẹt vào một trong những ý niệm. Bài kệ 7 Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội: Phải quán chiếu về những gì thấy, nghe và cảm nhận, đừng để khởi lên tà niệm và bị kẹt vào tri giác sai lầm. Dùng trí tuệ để quán chiếu tâm ý và đối tượng tâm ý để buông bỏ được tất cả, không còn bị vướng vào một pháp nào trong thế gian. Ý thọ hành sở kiến văn: Những đối tượng của tâm ý như một tư tưởng, một cảm thọ, một cái thấy, một cái nghe. Bài kệ 8 Trong Lục Độ Tập Kinh của thầy Tăng Hội: Nếu các pháp không thật sự hiện hữu, thì còn pháp nào nữa để cho ta bị kẹt vào? Phải tìm trong pháp hành trì của mình cái đệ nhất nghĩa đế, cái sự thật đích thực. Không bị kẹt vào nghi lễ và giới cấm, không cho đó là chân lý, nhờ đó mà vượt qua được bờ bên kia, không bao giờ còn trở lại chốn tử sinh. Tự vô hữu hà pháp hành: Trong bản của thầy Tăng Hội là Tự vô hữu hà sở đắc. Các pháp tự nó là không. Nếu nói các pháp đều hư giả, trống rỗng thì còn có pháp nào để mình hành trì? Chấp vào một pháp hành trì, cho đó là tuyệt đối thì mình bị kẹt. Đọc đoạn này chúng ta nhớ một câu trong Tứ Thập Nhị Chương: Ngã pháp hành vô hành hành. Pháp của tôi là hành cái không hành, hành nhưng không thấy hành. Cũng như mình ăn chay nhưng mình không thấy mình ăn chay, mình không tự hào tự phụ. Mình ăn chay rất tự nhiên, mình không nói: “Tôi ăn chay còn họ ăn mặn.” Khi đi thiền hành thì mình chỉ đi thiền hành thôi mà không mong đợi người khác khen ngợi, không cố ý cho người khác thấy là mình đang đi thiền hành: “Tôi đang đi thiền hành đây, mọi người có thấy không” Mình hành mà không bị kẹt vào hình thức gọi là hành vô hành hành hay hành vô tướng. Ngã pháp hành vô hành hành, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng, đó là một câu trong Tứ Thập Nhị Chương. Vì vậy câu “Tự vô hữu hà pháp hành” cũng đúng. Nhưng trong bản của thầy Tăng Hội là “Tự vô hữu hà sở đắc”. Chúng ta tin bản dịch của thầy Tăng Hội đúng hơn vì nó có nghĩa và nó gần với nguyên văn hơn. Trong Kinh A Nậu La Độ viết: Hồi tôi còn được điều trị tại Massachusetts General Hospital hội đồng bác sĩ nói, có thể tôi bị một trong hai con vi khuẩn xâm nhập vào phổi. Con thứ nhất là một con Pseudomonas và con thứ hai là một con Microbacteria. Các bác sĩ đến họp với tôi trong phòng và nói: Trong chuyện Winnie the Pooh có đoạn kể: “Một buổi sáng Pooh đi chơi trên tuyết. Nó đi được một vòng thì hốt hoảng thấy có dấu chân của một con vật lạ trên tuyết. Nó sợ hãi: Trời ơi! Có một con vật nào đó có thể rất nguy hiểm đã tới đây! Nó nói với Piglet: “Nguy hiểm lắm!” Đi một vòng nữa nó thấy không phải là một dấu chân mà là hai dấu chân. Nỗi lo sợ của nó càng tăng lên: “Nguy quá, có có tới hai con vật lạ xuất hiện ở đây.” Sau đó, Christopher Robin nói với nó: “Đây chính là dấu chân của bạn chứ không có con vật nào khác!” Nhà khoa học cũng vậy, cứ tưởng cái thế giới bên ngoài đó không phải là tâm của mình, kỳ thực cái thế giới bên ngoài đó cũng là tâm của mình. Arthur Eddington, một nhà thiên văn học bên Anh đã nói: Trên một bến bờ xa lạ, mình đã khám phá ra dấu chân của một người lạ. Mình ngạc nhiên quá! Ai đến đây trước mình? Tìm cách đến gần dấu chân đó để quan sát thì mình khám phá ra một điều rất ngạc nhiên, đó là dấu chân của chính mình!” Cái mình gọi là ngoài kia, là đối tượng, nó cũng là một với chủ thể. Cái thấy lưỡng nguyên là một trở ngại không cho mình thấy được sự thật. Mình không để mình kẹt vào trong sự hành trì của mình và mình sử dụng phép hành trì đó để đi tìm sự thật đích thực, hay chân đế, đệ nhất nghĩa đế. Sự thật đích thực vượt thoát ý niệm chủ thể và ý niệm đối tượng, trong và ngoài. Kinh này tiếng Pali gọi là Paramattha sutta (Kinh Đệ Nhất Nghĩa Đế). Nếu các pháp, không có pháp nào thật sự có, thì làm sao mình có thể nắm bắt được? Trong khi sử dụng một pháp môn để hành trì, mình phải khéo léo, đừng để bị kẹt vào nó. Mình phải sử dụng nó cho thông minh để tìm cho được sự thật tuyệt đối, sự thật vượt khỏi cái nhìn nhị nguyên, lúc đó mình mới thật sự có giải thoát. Nếu triết học và khoa học vẫn loanh hoanh trong cái nhìn nhị nguyên thì vẫn không đi tới đâu. Kinh này có thể soi sáng cho cả triết học và khoa học. Theo Kinh, sự giải thoát không do cái thấy nhị nguyên đem lại. Mình có một chủ trương, một học thuyết, một triết lý, nhưng nếu không vượt thoát được cái nhìn nhị nguyên thì dù chủ thuyết có hay cách mấy cũng không giải phóng cho mình được. Kẹt vào sự hành trì nghi lễ và cấm giới, nghĩ rằng nhờ nghi lễ và giới cấm mà mình đạt tới sự giải thoát là sai lầm. Ở nhà thờ, khi làm lễ bí tích thánh thể, vị cha nâng bánh lên, đọc một câu trong Thánh Kinh: Bánh này là hình hài của Chúa. Rồi ông bẻ bánh ra và phân phát vào miệng mọi người. Nếu vị cha hay vị mục sư trong khi làm lễ mà có niệm, có định, thì nhìn vào miếng bánh ông thấy rất rõ đây là thân thể của vũ trụ, và lời nói của ông tạo ra chánh niệm và chánh định. Nếu trong nhà thờ, mọi người có niệm và định, tự nhiên miếng bánh trở thành hình hài của Chúa thật và khi bỏ bánh vào trong miệng, mình tiếp xúc được với sự sống. Nhưng nếu vị cha hay vị linh mục mà không có niệm, không có định, không có tuệ mà chỉ làm những cử chỉ bề ngoài thôi thì đó là kẹt vào nghi lễ và cấm giới. Mình nghĩ rằng, đọc được những câu thần chú, làm được những ấn quyết thì sẽ đưa tới một sự thay đổi, một sự tịnh hóa nào đó. Nhưng nếu không có niệm, định, tuệ thì mình bị kẹt vào giới cấm và nghi lễ. Điều đó rất kiêng trong đạo Bụt. Không bị kẹt vào giới cấm và nghi lễ cũng chưa có thể đạt tới trí tuệ về chân lý, phải có niệm và có định và phải quán chiếu mới có thể vượt qua bờ bên kia và không bao giờ trở lại luân hồi sinh tử nữa.
phiên tả: Chân Giác Lưu (Langmai.org)
|




