| Ba đặc tướng của đời sống |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Căn Bản | |||
| Viết bởi Phạm Kim Khánh | |||
|
A. Khổ Ðức-Phật sanh ra là Thái-tử Siddhattha (Sĩ-Ðạt-Ta hay Tất-Ðạt-Ða), một người như tất cả mọi người. Vào năm 35 tuổi, Ngài khước từ cuộc sống trên nhung lụa của cung vàng điện ngọc và trở thành Ðạo-sĩ Gotama (Cồ-Ðàm). Sau sáu năm theo học với các vị đạo-sư trứ danh thời bấy giờ và thực hành các pháp khổ hạnh đến mức cùng cực mà không thâu đạt được kết quả mong muốn, Ðạo-sĩ Gotama tìm đến một nơi vắng vẻ tại Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa), giữa khu rừng tươi tốt, bên cạnh một giòng sông ngoạn mục, rồi ngày đêm trầm tư mặc niệm, gom tâm quan sát từng yếu tố vật chất và tinh thần của chính bản thân mình Ngài tìm ra Ánh sáng Chân-Lý, trở thành Phật, bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác. Từ đó, trong 45 năm trường Ðức-Phật Gotama đi cùng khắp miền Bắc xứ Ấn-Ðộ, từ làng này đến làng khác, từ tỉnh nọ đến tỉnh kia, đi trên các con đường lớn và các nẻo nhỏ, để mang lại cho nhân loại bức thông điệp hòa bình và an tịnh, bủa rộng vòng hào quang từ-bi và trí tuệ vô-lượng vô-biên của Ngài bao trùm tất cả sanh linh. Tôn giáo do Ngài sáng lập được gọi là Phật-Giáo. Như vậy, Phật-Giáo xuất phát từ nhân sinh, hướng về nhân sinh, nhằm phục vụ nhân sinh. Ðức-Phật không đặt nền tảng giáo lý trên sự sợ sệt một oai lực huyền bí siêu thế nào, cũng không dạy hàng tín đồ phải mong nhờ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, hay trông cậy nơi sự cứu rỗi nào từ trên ban xuống. Ngài dạy chẳng nên vội tin chắc một điều gì là chân lý chỉ vì điều ấy đã được ghi chép trong kinh sách, hay vì điều ấy do một nhân vật quan trọng hoặc có uy quyền truyền dạy, chí đến lời của chính Ngài, cũng không nên vội vã tin càng mà phải luôn luôn dùng lý trí phân tách, quan sát, xét đoán tỷ mỷ, tận tường, phân biệt đâu là lẽ phải rồi mới quyết định tin cùng không. (xem kinh Kalãma Sutta, Anguttara Nikãya, Tăng Nhứt A Hàm, quyển I, trang 189) Ngài dạy muốn tìm chân lý hãy hướng vào bên trong bản thân mình, bởi vì:
Danh từ Loka mà ở đây được phiên dịch là thế-gian hàm xúc ý nghĩa thế-gian đau khổ và đau khổ là kinh nghiệm của thế-gian bên trong ta. Dukkha là danh từ Pãli mà Ðức-Phật đã dùng để chỉ cái thường được phiên dịch là đau khổ. Vậy, để được rõ ràng hơn ta hãy tìm hiểu ý nghĩa bao hàm trong chữ Dukkha. Trong quyển "The Buddha and His Teachings", Ðại-Ðức Nãrada giải thích:
Trong bài thuyết trình vế Tứ-Diệu-Ðế (The Significance of The Four Noble Truths; Wheel Publication No. 123), đạo hữu cư sĩ Gunaratna giải thích danh từ Dukkha như sau:
Trong bài Pháp đầu tiên, gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân, Ðức-Phật mô tả cái khổ như sau:
Một câu chuyện thuật lại như sau:
Ðó là hình ảnh của cuộc sống mà chúng ta đang sống: Người lang thang lạc bước giữa rừng là chúng ta. Khu rừng mênh mông đầy chông gai là kiếp nhân sinh trong vòng luân hồi. Thớt voi tượng trưng cho Tử Thần. Con rắn độc nằm dưới đáy giếng là sự già nua. Sợi dây rừng đầy gai nhọn là sự sinh. Bầy ong là những nỗi khổ đau luôn luôn đe dọa sự an lành của chúng ta. Giọt mật hình dung những thú vui hiếm hoi trong đời sống. Hai con chuột, một trắng, một đen là ngày và đêm. Quả thật vậy, cuộc sống của chúng ta trong vòng luân hồi không giống như một vườn hoa tươi đẹp, lộng lẩy màu sắc và bát ngát hương trầm, mà tựa hồ như một khu rừng mênh mông đầy chông gai và đá nhọn. Trên bước viễn du trong vòng luân hồi, từ vô lượng kiếp, chúng ta vẫn còn đang lặn hụp trong những kiếp sống triền miên tiếp diễn mà không tìm được đường thoát. Hạnh phúc mà phần đông chúng ta mong tìm chỉ là sự thỏa mãn một vài ước vọng. Nhưng vừa khi đạt đến điều mong mỏi ta lại ước mơ điều khác và cứ như thế không ngừng. Chúng ta không bao giờ được thỏa mãn trọn vẹn vì không bao giờ biết là đủ. Lẽ dĩ nhiên, một ước vọng không được toại nguyện làm cho ta đau khổ. Nhưng dầu có được toại nguyện đi nữa, ta lại lo âu, bận tâm suy nghĩ để gìn giữ, sợ nó mất đi. Trong cảnh cơ hàn, ta ước mong được sang trọng giàu có, rồi khi được giàu sang ta lại lo sợ phải nghèo đói cơ cực. Nhưng trong cuộc sống vô thường tạm bợ này có thú vui nào tồn tại mãi mãi, có hạnh phúc nào trường tồn. Mặt trời mọc ở phương Ðông chỉ để lặn ở phương Tây, hoa nở tốt tươi buổi sáng để rồi úa tàn về chiều, mọi cuộc sum hợp vui vầy đều phải chấm dứt trong phân tán chia lìa, vừa lúc sanh ra đời đã phải mang theo mầm mống chết. Chừng ấy nổi sầu muộn càng sâu đậm. Trong thế-gian huyền ảo, tạm bợ, vô-thường, ngã chấp và đầy tham vọng này chúng ta không thể tìm được hạnh phúc thật sự, trường tồn vĩnh cửu. Sanh, già, bệnh, chết là những gì mà trong đời sống không ai có thể tránh khỏi. Và bốn trạng thái đau khổ ấy được tượng trưng trong câu chuyện bằng sợi dây, con rắn, gai nhọn trên sợi dây và thớt voi. Cái sanh mà trong câu chuyện, được tượng trưng bằng sợi dây đầy gai nhọn phải được hiểu là sự sống và sự sống trong một kiếp bắt đầu lúc vừa được thọ thai, không phải lúc lọt lòng mẹ. Vài người tưởng tượng thai bào như một nơi chốn ấm cúng đầy đủ tiện nghi, hay như một tịnh thất đượm nhuần tình thương mà con người ẩn rút vào đó một thời gian để tịnh dưỡng tâm linh. Trong thực tế, được thọ thai vào lòng mẹ không giống như hiện thân vào nằm trong một đóa hoa sen đẹp đẽ, tinh khiết và có mùi thơm dịu dàng. Trái lại, tứ bề là những gì nhơ nhớp, tanh hôi. Không có gì là hấp dẫn cho cả mẹ lẫn con. Sau chín tháng mười ngày chịu đựng mọi đau khổ, nằm trong một cái bọc, em bé thoát lòng mẹ và được kéo lôi ra, tống vào đời. Một lần nữa, mẹ và con vô cùng đau đớn. Mẹ nhăn nhó rên siết, con cất tiếng chào đời bằng giọng la khóc, trong khi mọi người khác hân hoan thỏa thích đón mừng. Khi nói sanh là khổ, không phải chúng ta chỉ nghĩ đến nỗi khổ nhọc hiểm nguy gây nên do cảnh mang nặng đẻ đau mà sâu xa hơn, ta phải nhận thức rằng chính cái sanh là đầu dây mối nhợ, là khởi duyên, tạo cơ hội cho cái khổ bám vào. Nếu không sanh tức không có sự sống và không có sự sống tức là không có khổ. Vì lẽ ấy mục tiêu cứu cánh của người Phật-tử là thoát ra khỏi vòng sanh tử luân hồi, tức thoát ra khỏi mọi khổ đau. Nhưng bản chất tự nhiên của chúng sanh là cố bám vào sự sống, giống như anh chàng bị gai quàu trầy cả mình mẩy mà vẫn đeo chắc lấy sợi dây, vì ái-dục là một năng lực vô cùng hùng mạnh, luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm bên trong tất cả mọi người. Chính ái-dục, thô kịch hay vi tế, thúc đẩy ta đeo níu, cố bám chắc vào sự sống dưới mọi hình thức và do đó, dẫn dắt ta mãi mãi phiêu bạt trong biển trầm luân. Ðã sanh ra tất trưởng thành và đi dần vào cảnh già nua. Trong câu chuyện, con rắn độc nằm dưới đáy giếng tượng trưng cho tuổi già. Danh từ "Jarã" mà Ðức-Phật dùng ở đây không phải chỉ riêng tuổi già mà hàm xúc ý niệm "đi dần đến tuổi già" hay "hư hoại". Như vậy có sự biến đổi từ lúc còn trong bào thai chớ không đợi đến lúc lọt lòng mẹ. Lẽ dĩ nhiên, thân thể hao mòn tiều tụy, răng long, tóc bạc, má cóp da nhăn, mắt mờ tai điếc, tinh thần suy kém, trí não lu mờ, quên trước lộn sau... là cảnh già nua phát lộ ra ngoài và nổi bật một cách hiển nhiên mà tất cả mọi người đều thấy. Nhưng từ khi thọ thai, chúng ta luôn luôn biến đổi, liên tục trưởng thành, không ngừng trở thành một cái gì mới, rồi đi dần đến cảnh già nua, diệt vong và tan rã. Tất cả mọi sự vật được cấu thành đều phải hư hoại và diệt vong. Lẽ dĩ nhiên, thể xác của chúng ta, do nhiều thành phần lớn nhỏ cấu hợp, ắt phải bị hoại diệt. Ðó là đau khổ (Dukkha) đối với những ai hằng bám níu vào cơ thể vật chất của mình, chấp rằng đây là "Tôi", cái này là "của Tôi". Chúng ta có thể nhìn sự hư hoại của thân, tức Dukkha, dưới ba phương diện. Trước là một phần của thân hư hoại, không thể hoạt động như ý ta muốn, như m?t cánh tay hay một cái chân bại xụi, một bộ phận trong mình bị tê liệt... và hằng trăm triệu chứng ương yếu khác. Trường hợp thứ nhì là giác quan hư hỏng, như đui mù, câm điếc chẳng hạn. Và thứ ba là trí não, hư hoại như thần kinh rối loạn, mất trí nhớ, trở nên lãng trí không còn hiểu biết rõ ràng. Tất cả những trạng thái hư hoại ấy đều dẫn đến đau khổ. Nhưng nếu so sánh, hai phương diện hư hoại đầu, dầu rất khó chịu đựng, vẫn không sâu xa bằng phương diện thứ ba. Ta có bị tật nguyền cách nào, trạng thái đau khổ chỉ kéo dài trong một kiếp sống, trong khi người mà tâm linh hư hoại ắt không đủ sáng suốt để đi theo con đường của Giáo-pháp và như vậy phải chịu khổ đau triền miên trong nhiều kiếp sinh tồn. Nhiều bạn trẻ rất hãnh diện với thân hình cường tráng khỏe mạnh của mình, vẫn không thích nghĩ đến tuổi già, để trọn vẹn thọ hưởng những thú vui của thời niên thiếu. Nhưng dầu ta có nghĩ đến nó cùng không, nó vẫn ở đâu đây. Con rắn độc vẫn luôn luôn nằm dưới đáy giếng. Tình trạng già nua đến với ta từng giây, từng phút và thâu ngắn đời sống chúng ta trong từng chập tư tưởng. Bao nhiêu người trong chúng ta, chịu bình tâm suy niệm về hiện tượng chết? Có sanh, có sống là có bệnh. Bệnh hoạn là việc dĩ nhiên trong đời sống và trong câu chuyện, được tượng trưng bằng những gai nhọn trên sợi dây. Dầu già, dầu trẻ hay bất luận ở lứa tuổi nào ta cũng có thể lâm bệnh. Tấm thân ô trược này chỉ là nơi nương tựa của bao nhiêu bệnh hoạn tật nguyền. Ðức-Phật dạy:
Có những bệnh tật của thể xác, cũng có những bệnh tinh thần. Cả hai, bệnh tinh thần hay thể xác, đều là nguyên nhân sanh khổ. Vào thời Ðức-Phật có một cụ già tên Nakulapita, một hôm đến bạch với Ngài:
Một nguyên nhân khác đưa đến đau khổ (Dukkha) mà không ai có thể tránh là cảnh sanh tử biệt-ly, bởi vì chết là nghìn thu vĩnh biệt. Trên bước thênh thang trong vòng luân hồi đã bao lần ta chết và đã bao lần ta khóc cái chết của một người thân. Hãy lắng nghe đạo hữu Huỳnh Thanh Long ngỏ lời nhắn nhủ người khách lữ hành đang lạc lối giữa rừng:
Sanh, Trụ, Diệt là định luật chung của muôn loài vạn-vật. Trong thế-gian hiện tượng này có cái chi luôn luôn tồn tại? Có cuộc sum hợp nào mãi mãi vững bền? Có cuộc sống nào không đi dần đến cái chết? Cứng rắn như sắt đá, to lớn như hành tinh, hung dữ như ác thú, khôn ngoan như loài người, tất cả đều phải hoại diệt. Cũng như từ cành cây có nhiều trái rơi rụng, trái non có, trái già có, trái chín mùi có, cùng thế ấy, từ cành cây của đời sống ta có thể rơi lìa bất luận ở lứa tuổi nào, từ sơ sinh, thiếu sinh, tráng sinh, vv... chí đến khi niên cao tuổi lớn. Già chết, trẻ chết, giàu sang chết, quyền quý chết, bần hàn chết, tối tăm ngu muội chết, thông minh sáng suốt chết... cái chết không dành riêng cho một người, một gia đình, một xóm làng, một quốc gia hay dân tộc nào mà đó là số phần của tất cả mọi chúng sanh trong Tam-Giới, từ Dục-Giới, Sắc-Giới đến Vô-Sắc-Giới, từ hạng ngạ quỷ, cầm thú, đến Chư-Thiên, Chư Phạm-Thiên. Chúng ta bước vào đời và trưởng thành giữa những người thân yêu: nào cha mẹ, ông bà, nào cô bác, cậu dì, nào anh chị em, nào thân bằng quyến thuộc, thầy cô, xóm giềng, vv... Chúng ta thương yên nhau, vui cười với nhau, rồi lần lượt mỗi người ra đi một ngã, tùy theo cái nghiệp của mình. Ðến như thế nào, ra đi đường thế ấy. Chúng ta đến một thân một mình, với hai bàn tay trắng. Cũng một thân một mình chúng ta sẽ ra đi với hai bàn tay không. Ðối với phần đông chúng ta, chết là diễn biến đau khổ trọng đại nhất trên đời vì chúng ta suy tư sai lạc. Trong thực tế cái chết không giống như một chằng tinh hung dữ ẩn núp đâu đây trong lùm bụi, bên đường, chực hờ lúc ta trờ tới là chụp lấy ăn thịt. Cái mà ta gọi là chết chỉ là cái gì đã xảy đến ta vô số lần trong kiếp sống, chỉ khác ở một điểm là lần này hiện tượng chết biểu lộ dưới một hình thức hiển hiện hơn. Sách Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhi Magga) dạy rằng trong ý nghĩa cùng tột, chúng sanh chỉ sống trong thời gian của một chập tư-tưởng (chập tư-tưởng hay sát-na tâm, được giải thích là một phần triệu triệu của khoảng thời gian một cái chớp):
Như vậy, trong từng khoảnh khắc của kiếp sống chúng ta đang chết và đang tái sanh. Vì mê muội, không phân biệt được bản chất của cái chết tạm thời trong mỗi khoảnh khắc nên chúng ta lo sợ một cái chết đặc biệt, xảy đến vào phút cuối cùng của kiếp sống, mà không thấy rằng đó chỉ là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Trong câu chuyện kể trên, cái chết được hình dung như thớt voi luôn luôn theo bén gót người đi lang thang bất định giữa khu rừng bát ngát mênh mông của đời sống". Sanh, già, bệnh, chết là những cái khổ mà mặc dầu không ai tránh khỏi, chỉ đến với ta vào giai đoạn nào. Ta chỉ sanh ra và chết một lần, chỉ trở nên già nua vào lúc xế chiều của cuộc sống và trừ phi phải bị một chứng bệnh kinh niên bất khả trị, ta chỉ lâm bệnh từng lúc. Nhưng còn những đau khổ khác có tánh cách thường xuyên hơn, được Ðức-Phật mô tả trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân như sau:
Ðó là những phiền phức và đau khổ khác không ngớt ve vãn để phá tan tình trạng an-lạc của ta. Trong câu chuyện là bầy ong không ngừng bay vù vù bao phủ khách lữ hành đang lạc lối trên cõi thế. Phải sống chung với người mình không ưa thích là một điều khổ. Chung sống với một người điên, với kẻ sát nhân hung bạo tàn ác, với một tên trộm luôn luôn chực hờ để đánh cắp một vật gì của mình, với người có tánh lăng loàn lang chạ, người gian dối, thô lổ cộc cằn, người có tính đâm thọc, đem chuyện đầu kia về dèm pha ở đầu này, sống với người say sưa, hư hèn mất nết, vv... đều là khổ. Vã lại "người mình không ưa thích" ở đây có thể là một con thú, hay một vật làm cho mình khó chịu, cũng có thể là thời tiết quá lạnh hay quá nóng, hoặc nữa là một công việc làm để sinh sống mà mình không thích. Tất cả những hoàn cảnh ấy đều là nguyên nhân đưa đến đau khổ". Cùng một thế ấy, phải xa lìa người thân kẻ yêu là nguyên nhân gây đau khổ khác không thể tránh. Con xa cha mẹ, cha mẹ xa con, chồng lìa vợ, vợ lìa chồng, bạn bè xa cách, quyến thuộc chia lìa đều là khổ. Nhưng có hợp là có tan, đó là lẽ tự nhiên. Cảnh sum hợp trên thế-gian là tạm bợ. Và đời sống của chúng ta, gặp gỡ nhau trên thế-gian cũng chỉ là tạm thời. Tất cả những mối liên hệ trong gia đình, trong xã-hội, như cha mẹ, anh em, chồng vợ, bạn bè quyến thuộc, vv... tất cả đều tạm bợ. Nếu trong trường hợp trên: sống với người không ưa thích, chúng ta bị thương tích vì mũi tên có tẩm thuốc độc "Sân hận" thì ở trường hợp này, xa lìa người thân yêu mũi tên bắn vào mình ta lại tẩm thuốc độc "Tham ái". Chúng ta mến yêu, muốn mãi mãi sống một bên những người, những sinh vật, hay những vật dụng mà ta thương mến hay ưa thích, nhưng rồi tham vọng ấy không được thỏa mãn trọn vẹn và chúng ta thất vọng và đau khổ. Trong một thế-gian mà tính khát khao tham muốn và gắn bó luyến ái luôn luôn ngự trị và cảnh phân tán chia lìa là điều không thể tránh thì làm thế nào chúng ta có thể vượt thoát ra khỏi được hai hình thức đau khổ này? Chúng ta hằng ngày lặn hụp bơi lội trong biển vô-thường và trong lúc ấy, chính chúng ta cũng không ngừng biến đổi, thì chắc chắn là chúng ta phải chịu hai loại đau khổ thường xuyên này. Như vậy, bằng cách này hay cách khác, chúng ta không thể tránh khỏi cảnh "mong muốn mà không được". Ðiều mong ước mà không thành tựu làm cho ta đau khổ. Trái lại, những cảnh ngộ nghịch lòng hay những điều mà ta ít mong mỏi nhất lắm khi đến với ta một cách đột ngột. Những trường hợp nghịch cảnh tương tợ trở thành không thể chịu đựng nổi và đau khổ đến đổi vài người yếu tánh và kém hiểu biết phải nghĩ đến việc quyên sinh, tưởng chừng như chết là giải quyết mọi vấn đề đau khổ. Về điểm này Ðức-Phật dạy rằng chúng sanh phải chịu cảnh già, bệnh, chết, phiền muộn, ta thán, đau đớn, âu sầu và tuyệt vọng và mong muốn: phải chi ta khỏi bị cảnh già, bệnh, chết, phiền muộn, ta thán, đau đớn, âu sầu và tuyệt vọng! Phải chi những hoàn cảnh bất hạnh kia đừng bao giờ đến với ta! Nhưng, không phải chỉ bằng cách mong muốn suông mà ta có thể chận đứng, làm cho những hoàn cảnh bất hạnh ấy không đến với ta. Và điều ước muốn mà không thành tựu là nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðức-Phật nhiều lần nhấn mạnh rằng mong ước suông không thể bảo vệ chúng ta. Ðường lối duy nhất để thoát khỏi đau khổ là thực hành Giáo-pháp và phát triển tuệ minh-sát. Giờ đây, để chấm dứt đoạn mô tả đau khổ (Dukkha) Ðức-Phật dạy:
Ngũ-uẩn thủ ở đây là sự bám níu (thủ:Upãdãna) vào ngũ-uẩn (Pancãkkhandhã), hay năm nhóm bám níu. Như vậy, bám níu vào ngũ-uẩn là khổ. Ðây là sắc thái tế nhị nhất của khổ (Dukkha) và cũng là sắc thái bền bỉ dính liền và gần gủi với chúng ta nhất. Năm nhóm bám níu này tức: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức... là những thành phần cấu hợp nên chúng sanh. Do nghiệp tạo trong tiền kiếp, chúng ta đã bám níu vào ngũ-uẩn từ thủa bắt đầu kiếp sống hiện tại. Và trong kiếp sống hiện tại ta tiếp tục tạo nghiệp bằng cách luôn luôn ham muốn, khát khao hoặc ghét bỏ, xua đuổi điều này vật nọ. Cả hai trường hợp đều là hình thức bám níu khác nhau, vì ghét bỏ, xua đuổi là ham muốn khát khao, tức bám níu, cái ngược lại. Nhưng bản chất của cái mà ta bám níu, ngũ-uẩn, là bất ổn định, không ngừng sanh rồi diệt và như vậy bám níu vào nó không khác nào dơ tay nắm lấy một nắm nước và mong rằng nước sẽ ở lại mãi mãi trong tay. Chắc chắn là ta phải thất vọng. Ðiểm này sẽ được đề cập đến ở đoạn hành-khổ (Sankhãra Dukkhatã). Trên đây là phần đen tối của cuộc sống mà chúng ta đang sống. Tuy nhiên, trong khu rừng của đời sống không phải chỉ có chông gai và đá nhọn. Thỉnh thoảng ta cũng gặp một vài bông hoa tươi đẹp, một vài kỳ hoa dị thảo, hay một vài giọt mật ngọt ngào. Chính những giọt mật hiếm hoi ấy làm cho ta say đắm, quên hẳn mọi sầu khổ và hiểm nguy. Và trong khi chúng ta mãi mê thọ hưởng giọt mật thì hai con chuột, một trắng, một đen, tượng trưng ngày và đêm, không ngừng gặm nhấm sợi dây. Mỗi ngày qua đưa ta đến gần cái chết hơn một ngày. Mỗi đêm qua đưa chúng ta đến gần cái chết hơn một đêm. Giáo-lý của Ðức-Phật đặt trọng tâm vào sự đau khổ (Dukkha) và nhằm chấm dứt đau khổ. Trong khi dạy rằng đau khổ (Dukkha) là đặc tánh nổi bật nhất của đời sống Phật-giáo nhìn Dukkha dưới ba sắc thái:
a) Khổ-Khổ (DUKKHA-DUKKHATÃ ) Trong quyển "The Buddha's Ancient Path", Ðại-Ðức Piyadassi viết:
Ðối với đạo hữu Gunaratna, chỉ cần nhìn quanh ta với cặp mắt quan-sát và tâm suy tư là ta sẽ thấy hiển nhiên nổi bật đặc tánh đau khổ của đời sống. Trong một bài thuyết trình về Tứ-Diệu-Ðế, ông nói:
Ðó là sắc thái đau khổ hiển nhiên của đời sống mà mọi người suy tư đều có thể nhận thấy. b) Vô-Thường Khổ (Viparinãma Dukkhatã ) Ðau khổ vì đời sống là vô-thường, là sắc thái thứ nhì của Dukkha. Khi mà tất cả mọi sự vật đều biến đổi, không có gì ổn định, không có gì bền vững, không có gì tồn tại giống hệt nhau trong hai khoảnh khắc thì hậu quả dĩ nhiên là trạng thái vô-thường, bất ổn, bất định, bất điều hòa, những khía cạnh khác nhau của đau khổ (Dukkha). Chính sự biến đổi là dấu hiệu của Dukkha. Ðau khổ là một cảm giác, danh từ Phật-giáo là Thọ (Vedanã). Theo Vi-Diệu-Pháp (Abhidhamma) có năm loại Thọ, tức năm loại cảm giác:
Trong thực tế, khi tinh thần được hạnh phúc thì vật chất cũng được vui thích và trái lại, khi thể xác được thích thú thì tinh thần cũng được khoan khoái. Vậy, ta có thể gom hai cảm giác vui thích tinh thần và vật chất làm một, gọi chung là Sukkha. Cùng một thế ấy, ta gom hai cảm giác đau khổ, tinh thần và vật chất, làm một và gọi chung là Dukkha. Ðến đây Thọ hay cảm giác, còn ba:
Trong ba cảm giác này Upekkhã rất yếu ớt, hầu như không có. Ta có thể xem như không có cảm giác vô ký. Còn lại hai cảm giác, vui thích và đau khổ, tinh thần cũng như vật chất. Nhưng trong trạng thái luôn luôn biến đổi của mọi sự vật bên trong và bên ngoài, ta không thể có hạnh-phúc vững chắc, tức không có hạnh-phúc thật sự. Trong khi hoàn cảnh biến đổi và tất cả đều phải biến đổi, chính cái hương vị ngọt bùi của hạnh-phúc cũng trở thành vị đắng cay của Dukkha. Vậy, rốt cùng chỉ còn sự đau khổ, tinh thần và vật chất. Thú vui được có tài sản sự nghiệp, thú vui được lợi lộc, thú vui được danh thơm tiếng tốt, được vinh quang phú quý, thú vui gia đình, thú vui với thân bằng quyến thuộc... thật là dễ chịu, thích thú. Nhưng tất cả đều biến đổi và cuối cùng cái chết có thể chia rẽ tất cả. Ðến chừng ấy nỗi sầu muộn cũng sẽ sâu đậm, tương đương với thú vui trước kia. Ông Gunaratna viết:
Chẳng những sự vật tạo thú vui phải biến đổi mà chính người thọ hưởng thú vui ấy cũng luôn luôn biến đổi. Như vậy, chúng ta đang mục kích cảnh tượng buồn cười, những chúng sanh luôn luôn biến đổi cố gắng rượt theo và bám lấy những vật cũng luôn luôn biến đổi, hình ảnh một cái bóng chạy theo và cố chụp cho được một cái bóng khác. Về điểm này Ðại- Ðức Piyadassi giải thích:
Trong quyển The Buddha and His Teachings (Ðức Phật và Phật Pháp), Ðại-Ðức Nãrada viết:
c) Hành Khổ (Sankhãra Dukkhatã ) Sắc thái thứ ba của đau khổ là Hành-khổ (Sankhãra Dukkhatã). Hành (Sankhãra) là một danh từ có rất nhiều ý nghĩa. Ở đây, danh từ này bao hàm tất cả những gì được cấu tạo do nhiều nguyên nhân cùng hợp lại, một cấu hợp, một nhóm, một khối. Theo Phật-giáo con người là sự cấu hợp của hai thành phần: Danh và Sắc, phần tâm linh và phần vật chất. Về phần vật chất như đã thảo luận rộng rãi trong bài Vô-thường, với khoa học hiện đại ta biết rằng thể xác của chúng ta là sự cấu hợp của nhiều tế bào, tế bào là sự cấu hợp của nhiều nguyên tử và nguyên tử bao gồm âm điện tử, dương điện tử, trung hòa điện tử, những thành phần luôn luôn biến đổi, luôn luôn di động, từng giây, từng khoảnh khắc. Như vậy, con người, sự cấu hợp của vô số những thành phần luôn luôn biến đổi, tức cũng không ngừng biến đổi. Hơn 2500 năm về trước, Ðức-Phật dạy rằng: "Hai thành phần Danh và Sắc, tâm và vật chất, ở trong trạng thái luôn luôn di động". Dựa theo Tạng-Luận (Abhidhamma Pitaka) Ðại-Ðức Nãrada giải thích sự biến đổi của vật chất như sau: "Từ ngàn xưa những nhà hiền triết Ấn-Ðộ cũng tin có một nguyên tử bất khả phân tán gọi là "Paramanu". Một hột bụi nhỏ mà ta thấy vỡn vơ trong làn ánh sáng được gọi là "Ratharenu". Một Ratharenu chia làm 36 "Tajjaris", một Tajjari chia làm 36 "Anus" và một Anus chia làm 36 "Paramanus". Vậy nếu ta chia hột bụi nhỏ kia làm 46656 phần thì một phần nhỏ bé ấy là Paramanu. Theo quan niệm thời bấy giờ thì Paramanu là đơn vị vi tế nhất của vật chất, không thể còn phân tách được nữa. Với nhãn quan siêu phàm, Ðức-Phật phân tách Paramanu và tuyên bố rằng Paramanu gồm có những năng lực tương quan gọi là Paramattha hay thành phần chánh yếu của vật chất. Những Paramattha ấy là Ðất (Pathãvi), nước (ãpo), Lửa (Tejo) và Gió (Vãyo), được gọi là tứ đại chánh yếu hay tứ đại. Tứ đại: Ðất, Nước, Lửa, Gió là những đơn vị căn bản của vật chất, luôn luôn pha lẫn với bốn chuyển hóa là màu Sắc (Vanna), Hương (Gandha), Vị (Rasa) và bản chất dinh dưỡng (Ojã)... Tứ đại và bốn chuyển hóa luôn luôn dính liền nhau và liên quan với nhau rất mật thiết. Nhưng trong một loại vật chất thành phần này có thể trội hơn thành phần khác. Thí dụ như trong đất thành phần Ðất (Pathãvi) trội hơn ba thành phần kia. Trong nước thì thành phần Nước (ãpo) trội hơn. Trong lửa thì thành phần Lửa (Tejo) trội hơn và trong không khí thì thành phần Gió (Vãyo) trội hơn. Như vậy, vật chất gồm có những năng lực và những đặc tính trong trạng thái liên tục biến đổi, luôn luôn trôi chảy như một giòng suối". Về phần tâm linh, Ðại-Ðức Nãrada viết:
Bốn loại hiện tượng tâm lý: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, hợp với hiện tượng vật chất, sắc, tạo nên ngũ-uẩn hay năm nhóm, năm khối, năm thành phần cấu tạo một chúng sanh. Mỗi cá nhân là sự cấu tạo của năm nhóm ấy. Như vậy, thể xác con người không phải là một thực thể đơn thuần, nguyên vẹn, không biến đổi, mà là một tiến trình luôn luôn tiếp diễn. Tâm cũng luôn luôn biến đổi như một sự tiếp nối liên tục, một giòng sông luôn luôn trôi chảy và không bao giờ tồn tại giống hệt nhau trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Mỗi giây, mỗi khoảnh khắc trôi qua thì ở một điểm nước cũng trôi đi, nhường chỗ cho nước từ một điểm khác trôi đến. Ðiều này đưa ta đến kết luận: danh-sắc hay sự cấu thành của tâm và thể xác, cấu thành chúng sanh phức tạp mà ta gọi là con người không phải là một thực thể tự mình có khả năng tồn tại vĩnh cửu mà chỉ là một tiến trình liên tục diễn tiến. Ðã là một tiến trình thì nó là cái gì luôn luôn biến đổi, không tồn tại lâu dài. Chính vì lẽ ấy mà nó là đau khổ (Dukkha). Vậy sự đau khổ dính liền với con người trong sự cấu thành con người. Chính bản chất của khối ngũ-uẩn là đau khổ (Dukkha). Ðó là sắc thái hành-khổ (Sankhãra Dukkhatã). Từ ngàn xưa, không phải chỉ con người mà tất cả chúng sanh trong ba giới bốn loài, đều mưu tìm hạnh-phúc và cố tránh đau khổ. Ðến nay, ta có thể nhìn quanh và xác nhận rằng sự kiện này vẫn còn. Và trong tương lai, có ai còn hoài nghi chăng rằng chúng ta sẽ còn tiếp tục theo đuổi mục tiêu huyền ảo ấy? Chúng ta tận lực làm đủ mọi việc và ước mong sẽ chứng nghiệm Thọ lạc, tránh khỏi Thọ khổ, tinh thần cũng như vật chất. Phần lớn chúng ta hướng ra ngoài và cố gắng đổi thay hoàn cảnh bên ngoài để thỏa mãn những sở thích của mình. Lẽ dĩ nhiên, đó chỉ là củ cải mà người ta treo lủng lẳng trước đầu con lừa. Lừa nỗ lực bước tới để táp lấy cải nhưng không bao giờ được. Khi đề cập đến vấn đề đau khổ của kiếp nhân sinh Ðại Ðức Nãrada viết: "Hạnh-phúc thật sự nằm bên trong chúng ta và không thể định nghĩa bằng những danh từ như tài sản, sự nghiệp, quyền thế, danh vọng hay chinh phục, xâm lăng, chiếm đoạt. Nếu sự nghiệp vật chất ấy được thâu đoạt bằng bạo lực, cường quyền hay bằng một phương tiện bất công nào khác, hoặc giả, nếu sự nghiệp vật chất ấy được hướng theo một chiều hướng lầm lạc hay nếu ta đem lòng luyến ái, dính mắc, trìu mến nó thì đó chính là nguồn đau khổ, lo âu và phiền muộn, cho người làm chủ nó. Ðối với người thường, Thọ hưởng dục lạc của ngũ-trần là hạnh-phúc tốt đẹp duy nhất. Chắc chắn là có thích thú nhất thời trong khi ta mơ ước, lúc Thọ hưởng và khi hồi nhớ lại những khoái lạc vật chất tương tợ. Nhưng hạnh-phúc ấy quả thật là huyền ảo và tạm bợ. Theo Ðức-Phật, không luyến ái, tức vượt lên trên mọi dục lạc là hạnh-phúc tối thượng". Hình như tất cả mọi người đều nhận thức rằng trong đời sống hạnh-phúc quả thật hiếm hoi mà đau khổ thì rất nhiều. Nhưng, trước cái khổ mỗi người, mỗi giới có một thái độ riêng. Có hạng người lý trí hóa sự khổ, dùng lý trí phân tách, suy luận, giải thích cái khổ. Có hạng người khác thần thánh hóa sự khổ, cho rằng khổ là điều kiện tất yếu để con người vươn lên như những đóa hoa sen, từ bùn nhơ nước đục vượt đến chỗ thanh khí an lành và rực rỡ nở tung trong ánh nắng ban mai. Có người, tuy cũng nhận định rằng đời là khổ nhưng cố tình lãng quên để yên tâm tận hưởng chút ít lạc thú nào của đời sống. Cũng có người nhận thấy cái khổ rồi ủ dột âu sầu, sanh ra yếm thế bi quan. Chúng ta không nên tự lường gạt mình, cố tình hiểu rằng không bao giờ có hoàn cảnh khổ đau trên thế-gian. Ðó là phương cách của chim đà điểu, khi thấy có hiểm nguy sắp đến thì vội vã cắm mỏ lùi trong cát để không thấy nữa, một phương cách lánh nguy không mang lại hiệu quả. Chúng ta phải mở rộng mắt nhìn thẳng vào vấn đề đau khổ. Khi ta chấp nhận rằng đã từ lâu mình mãi cặm cụi vát trên vai bao nhiêu ưu phiền và đau khổ thì chừng đó ta sẵn sàng buông xuống gánh nặng để khoan thai rảo bước trên con đường đưa đến tự do và hạnh-phúc thật sự trường cửu. Phật-giáo nhận cái khổ như một sự kiện sẵn có và dính liền với đời sống. Nhưng Ðức-Phật không dừng bước tại đây để buồn rầu hay để cầu nguyện cho chúng sanh. Như vị lương y, khi nhận thấy và xác nhận rằng thật sự có bệnh thì tìm phăng lên nguyên nhân của chứng bệnh và sau khi xác nhận rằng chứng bệnh có thể chữa trị, kê toa và chỉ dạy bệnh nhân phương thức trị liệu thích hợp. Cùng thế ấy, Ðức-Phật xác nhận đau khổ là chứng bệnh trầm kha của chúng sanh, ái dục là nguồn gốc của đau khổ, ái dục có thể tận diệt và phương thức diệt trừ ái dục, chấm dứt đau khổ, là Bát Chánh Ðạo gồm Giới - Ðịnh - Tuệ. Như vậy, Phật-giáo không bi quan, cũng không lạc quan, mà chỉ thực tiễn. Người Phật-tử không tự dối mình mà cho rằng thế-gian này quả thật là cảnh giới mong mỏi và hạnh-phúc vẫn phảng phất đâu đây. Phật-giáo không hề khuyên bảo chúng ta phải tin rằng mọi việc đều tốt đẹp trong kiếp sống này hay trong kiếp tới. Phật-giáo không mê hoặc con người bằng những liều thuốc ngủ: "Con hãy uống viên thuốc này, khi Tử-thần đến, liều thuốc sẽ cứu con tỉnh dậy và con sẽ sống vĩnh cửu, mãi mãi đẹp đẽ và vinh quang". Người Phật-tử có thái độ của người thấy con rắn bò dưới chân, tự nhủ rằng đây là một sinh vật nguy hiểm, phải tìm cách lánh xa nó, chớ không âu sầu, ngồi yên một chỗ để than khóc vái van, hay tự đối mình, mãi mê vui chơi việc khác và lờ hẳn thực tế. Hành động như vậy cũng không phải là đào tẩu, vì đào tẩu là lẫn trốn, sợ bỏ chạy, không dám ứng phó với những bất hạnh của đời sống. Người đào tẩu khác hẳn với người biết suy luận đang nỗ lực chạy thoát, hoặc tìm đường chạy thoát ra khỏi cảnh hiểm nguy. Hằng ngày ta có thể nhận định tánh cách vô-thường của vạn pháp. Hoa nở rồi tàn. Con người sanh ra, trưởng thành rồi chết. Mọi sự vật đều luôn luôn biến đổi. Không có cái chi tồn tại vừng bền trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Do lý vô-thường có đau khổ. Ðau khổ là sự kiện dĩ nhiên, một thực tế của đời sống. Phật-giáo dạy chúng ta tận dụng khả năng để quan sát, suy luận và đối phó với thực tế. Trong bộ Samyutta Nikãya, Tạp A Hàm, có tích chuyện như sau: Một lần nọ, Ðức-Phật ngự tại Kosambi (Câu Ðàm Di) trong khu rừng cây Simsapa. Lúc ấy, nắm trong tay một nắm lá, Ngài ngỏ lời cùng các vị Tỳ-Khưu như sau: "Các con nghĩ thế nào, này chư Tỳ-Khưu, số lá nằm trong tay Như-Lai và số lá trên cây, trong toàn thể khu rừng này, số nào lớn hơn? - Bạch Hóa Ðức Thế-Tôn, số lá nằm trong tay Ngài hẳn thật không bao nhiêu nhưng lá trên cây, trong toàn thể khu rừng thì rất nhiều" "Cùng thế ấy, này chư Tỳ-Khưu, những gì Như-Lai chứng ngộ mà không truyền dạy thật là nhiều, như lá trên cây. Chỉ một ít những gì Như-Lai truyền dạy. Tại sao? Này chư Tỳ-Khưu, tại sao Như-Lai không truyền dạy tất cả? Này chư Tỳ-Khưu, là bởi vì những điều ấy quả thật vô-ích, không thiết yếu để có một đời sống trong sạch, tinh khiết. Những điều ấy không dẫn đến nhàm chán, dứt bỏ, chấm dứt, an tịnh, thấu đạt trọn vẹn, giác ngộ, Niết-Bàn. Vì vậy, này chư Tỳ-Khưu, Như-Lai không công bố những điều ấy. Và, này chư Tỳ-Khưu, Như-Lai công bố những gì? - Ðây là đau khổ, điều này Như-Lai công bố. - Ðây là sự khởi phát của đau khổ, điều này Như-Lai công bố. - Ðây là sự chấm dứt đau khổ, điều này Như-Lai công bố. - Ðây là con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ, điều này Như-Lai công bố. Và tại sao, này chư Tỳ-Khưu, Như-Lai công bố những chân lý ấy? Bởi vì các chân lý ấy hữu ích, thiết yếu để có một đời sống trong sạch, tinh khiết, dẫn đến nhàm chán, dứt bỏ, chấm dứt, an tịnh, thấu đạt trọn vẹn, giác ngộ và Niết-Bàn. Vì vậy, này chư Tỳ-Khưu, Như-Lai công bố các chân-lý ấy". B. Vô thường
Vào một buổi hoàng-hôn quang đãng, khách ngồi trên bãi biển ngắm cảnh mặt trời đang lặn. Cả một vùng trời vàng ửng óng ánh soi mình trong những ngọn sóng đua nhau bỏ vòi trên mặt đại dương. Thỉnh thoảng, vài chiếc thuyền buồm lặng-lẽ lướt qua, đàn chim nhịp-nhàng bay lả bay la về ổ, gió thoảng hiu hiu... Khách mãi mê thưởng ngoạn phong cảnh trong khi bầu trời màu vàng dần dần sẩm xuống, trở nên đỏ và đi vào đêm tối. Mỗi lượn sóng nhô lên, vượt đến tận đỉnh, uốn mình hạ xuống rồi tan biến và trong khi tan, chuyển hết năng lực mình cho lượn sóng kế. Và như thế những lượn sóng liên tục nối tiếp hầu như vô cùng tận. Ðó là hình ảnh của đời sống: luôn luôn biến chuyển và mãi mãi triền miên diễn tiến. Lời di huấn tối hậu của Ðức Thế-Tôn là: "Tất cả các pháp hữu-vi đều vô-thường. Hãy tận lực kiên trì tinh-tấn". Vừa sau khi Ngài nhập diệt, Ðức Phạm Thiên Sahampati than:
Vua trời Sakka (Ðế-Thích) tiếp lời:
Cho đến ngày nay, trong các quốc-gia Phật-Giáo theo truyền thống Nguyên-Thủy, lấy Tam Tạng Pãli làm căn bản, mỗi khi có đám tang chay, để nhắc nhở người nghe về bản chất sớm nở tối tàn của đời sống, Chư-Tăng tụng kinh Cầu-Siêu đều có đọc những câu bằng tiếng Phạn có nghĩa như sau:
Hoặc câu:
Danh từ Phật-Giáo gọi các "Pháp Hữu-Vi" (Sankhãra) là tất cả những gì được cấu thành do nhân và duyên, tất cả những gì do những nhân đã có trước đó tạo duyên để hiện hữu. Nói rộng ra, các pháp hữu-vi bao gồm toàn thể thế-gian hiện-tượng, toàn thể những gì tinh thần hay vật chất trong vũ trụ. Vô-thường là không thường còn, mà luôn luôn thay đổi, không ngừng trở thành một cái gì mới. Tiếng Pãli gọi vô-thường là "ANICCA". "A" là không, "NICCA" là vĩnh-viễn trường tồn. Các Bản Chú giải Vissudhi Magga (Thanh Tịnh Ðạo) và Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) giải thích rằng bởi vì trong các pháp hữu-vi không có gì có tánh cách vĩnh-viễn trường tồn nên nói rằng nó không thường còn. Vì nó không thường còn nên là vô-thường. Tất cả các pháp hữu-vi tức mọi sự vật trong thế gian hiện tượng này đều ở trong trạng thái phù du, tạm bợ và bất ổn định: phát sanh rồi hoại diệt và từ sanh đến diệt không ngừng biến đổi. Từ vật lớn đến vật nhỏ, từ ngoài đến bên trong chúng ta, từ vật chất hữu hình đến những tư-tưởng hay những hiện-tượng vô-hình nào khác, đều phải trải qua ba giai đoạn sanh, trụ, diệt. Từ những ngọn núi to lớn, những thiên thể khổng-lồ đến hột cát nhỏ bé, những vi khuẩn tí ti, tất cả đều không ngừng biến chuyển. Bao nhiêu thung lũng ngày nay, trước kia là ao hồ rộng lớn. Bao nhiêu đ?ng ruộng mênh mông, trong một quá khứ xa xôi nào, đã là vùng biển cả. Chính quả địa cầu mà trên đó chúng đang sống cũng mất dần nhiệt độ và khoa học tiên đoán rằng một ngày nào trong tương lai trái đất sẽ trở thành một hành tinh chết, một nguyệt cầu. Sanh rồi diệt, hợp rồi tan, đó hẳn là bản chất của đời sống. Vào thời Ðức-Phật có một ni cô rất đẹp tên Janapada Kalyãni Rũpanandã và rất hãnh diện với sắc đẹp của mình. Bà không chịu đến nghe Ðức-Phật thuyết giảng Giáo-pháp vì Ngài luôn luôn nhắc nhở đến tánh cách vô-thường của thế-gian và không hề tán dương vẻ đẹp của thể xác. Ngày nọ, duyên lành đưa đẩy bà vào thính-đường, nhưng lòng vẫn bảo lòng, hãy lẫn lộn trong đám đông các vị Tỳ-Khưu ni, không để cho Ðức-Phật trông thấy. Ðức Thế-Tôn biết như vậy. Vì lợi ích của bà, Ngài tạo ra hình ảnh một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần đứng sau lưng, cầm quạt quạt Ngài và chỉ có bà Rũpanandã thấy thôi. Bà mãi mê nhìn say đắm vẻ đẹp của thiếu nữ và hết lòng ước muốn cũng được như vậy. Khi ấy, Ðức-Phật làm cho bà thấy thiếu nữ xinh đẹp kia trưởng thành dần đến cỡ trung niên, rồi già cỗi. Bà Rũpanandã theo dõi từng giai đoạn của tiến trình biến đổi, thấy hết vẻ đẹp này rồi đến vẻ đẹp khác của thiếu nữ nối tiếp nhau tàn tạ. Bấy giờ, thiếu nữ xinh đẹp lúc này chỉ còn là một bà lão lụm cụm, tóc bạc, răng long, xương nhô, gầy yếu, lưng còm gối mỏi, tay chân rung rẩy lập-cập. Rồi Ðức-Phật cho bà thấy lão bà bị một cơn bệnh đau siết, rên la thê thảm và té ngã lăn xuống đất. Rồi bà lão chết, thi thể sình lên, nước vàng tuông ra từ cửu khiếu, rồi vòi, tửa trào ra loi nhoi lúc nhúc, vv ... Cảnh tượng ghê tởm ấy gợi cho bà Rũpanandã ý nghĩ: "Tại nơi đây thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần đã trở nên đứng tuổi, già nua và hoại diệt, thì chính thân mình mỹ-miều của ta cũng sẽ không thể tránh khỏi con đường đau khổ, đáng chán, đáng ghê sợ ấy". Bà nhận chân tánh cách vô-thường của vạn pháp. Và sau khi nghe lời dạy của Ðức Bổn-Sư: "Hãy quán xét tánh cách rỗng không của những yếu tố hợp thành thể xác này. Hãy quẵng đi, vứt bỏ lòng tham muốn đeo níu theo kiếp sinh tồn, con sẽ vững bước trong sự vắng lặng", bà chú tâm chỉ quán theo chìu hướng của lời dạy và đắc quả Tu-Ðà-Hườn. Người đi chùa thường mang theo bông hoa hay nhang đèn để cúng Phật. Khi thành kính quỳ lạy trước pho tượng Phật, người Phật-tử hiểu biết chiêm ngưỡng và suy niệm về những lời dạy của Ðức Tôn-Sư. Những tai hoa đang héo, những cây nhang đang tàn, những ngọn đèn đang lụn, đã nói lên và nhắc nhở họ bản chất vô-thường của kiếp sinh tồn. Ðó là lối nhìn vào đời sống theo mức độ thông thường. Người suy tư nào cũng trông thấy hiển nhiên và hiểu biết rõ ràng rằng vạn pháp không ngừng biến đổi. Nhưng người Phật-tử được dạy nên nhìn sâu vào tiến trình biến đổi không ngừng ấy. Một em bé sơ-sinh có bỗng nhiên trở thành thiếu nhi, rồi bỗng nhiên trở thành thiếu niên, vv... chăng? Một tai hoa đẹp đẽ vào buổi sáng về chiều có bỗng nhiên tàn rụi chăng? Hẳn là không có sự biến đổi bỗng nhiên mà có sự liên tục diễn tiến, có những biến đổi vi tế mà người thường, với giác quan phàm tục, khó nhận thức. Mặc dầu với mắt thường ta không thể nhận thấy nhưng trong thực tế vẫn có sự biến đổi diễn tiến từng giây, từng khoảnh khắc. Và tất cả đều biến đổi, Anicca Vatã Sankhãra, tất cả các pháp hữu-vi đều vô-thường: thân vô-thường, tâm vô-thường, hoàn cảnh vô-thường, quốc độ vô-thường. Câu này có nghĩa là chúng sanh (thân-tâm) là vô-thường, mọi sự vật (hoàn-cảnh) là vô-thường và thế-gian (danh từ quốc độ ở đây được giải thích là thế-giới sa bà) là vô-thường. Trong bài này ta chỉ đặt trọng tâm vào con người, xem như một chúng sanh. Ðể tìm hiểu thế-gian rộng lớn bên ngoài người Phật-tử được dạy hãy nhìn trở lại vào bên trong, tự quán chiếu chính mình. Và khi làm như vậy ta thấy rằng cái được gọi là chúng sanh, hay riêng cái mà ta vẫn chấp là chính "Ta" thật sự chỉ là sự cấu hợp của hai phần, vật chất (Sắc: Rũpa) và tâm linh (Danh: Nãma). Phần tâm linh hay danh, được chia chẻ thành Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Năm thành phần Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức được gọi chung là ngũ-uẩn hay ngũ-ấm. Ði sâu vào công trình quan sát ta nhận thấy sắc, hay cơ-thể vật chất là sự kết hợp của những tế bào, rồi tế bào là sự kết hợp của những nguyên tử và ta đi lần xuống đến âm điện tử, dương điện tử, trung hòa điện tử. Ba loại điện tử này kết hợp với nhau cấu thành nguyên tử. Và tùy theo thứ tự kết hợp và tỷ lệ về số lượng khác nhau những hạt điện tử ấy tạo thành những loại nguyên tử khác nhau. Theo các nhà khoa học hiện đại thì có 104 hoặc 106 loại nguyên tử. Và những loại nguyên tử này kết hợp lại với nhau để tạo thành tất cả các loại vật chất mà ta có thể tìm thấy trên quả địa cầu và nhiều hành tinh khác trong đó có cả cơ thể vật chất của chúng ta. Ðặc tính cá biệt của mỗi loại vật chất không tùy thuộc vào khối lượng của những hạt điện tử mà phần lớn do những năng lực hay năng lượng giữa những hạt điện tử ấy tạo nên, như hấp dẫn lực giữa hai loại điện tử khác tính nhau, xung khắc lực vô cùng mạnh-mẽ giữa hai loại điện tử cùng tính nhau, trao đổi lực, vv... Như vậy, vật chất là sự cấu hợp tạm thời của những thành phần tạm thời trong trạng thái không ngừng biến đổi. Phật-Giáo, khi phân tách hình thể, vật chất hay "Sắc", đến mức cùng tột thì thấy có bốn thành phần chánh là Ðất, Nước, Lửa, Gió gọi là Tứ Ðại Chánh Yếu (Cattãri Mahãbhutãni), hay Tứ Ðại cùng với những chuyển hóa và những đặc tính của nó. Ðất: Nguyên tố căn bản đầu tiên, ở thể rắn, có đặc tính cứng hay mềm (vì mềm cũng là một hình thức cứng. Khi một vật ít "cứng" hơn vật kia thì ta nói là nó "mềm" hơn vật kia). Chính do nguyên tố này mà một vật có trọng lượng nặng hay nhẹ, sần sù hay trơn tru và chiếm không gian. Nước: Nguyên tố căn bản thứ nhì là Nước, ở thể lỏng, có đặc tính làm kết hợp lại những thành phần khác. Chính nhờ nguyên tố Nước mà các thành phần khác của vật chất không phân tán rã rời. Nên hiểu rằng lạnh không phải là đặc tính của nguyên tố Nước. Lửa: Nguyên tố căn bản thứ ba là Lửa, có ảnh hưởng rất mạnh-mẽ đối với các thành phần kia. Lửa có đặc tính nóng hay lạnh (vì lạnh là một hình thức nóng), làm thay đổi trạng thái vật thể như biến đổi một vật từ thể rắn sang thể lỏng hay sang thể khí. Chính nhờ thành phần Lửa này tạo hơi ấm cho cơ-thể và tiêu hóa thức ăn hay làm cho một trái cây non trở thành già và chín mùi... Gió: Nguyên tố căn bản cuối cùng là Gió, có đặc tính di động. Tất cả mọi vật đều phải mang đủ bốn "nguyên tố" căn bản trên, chung nhau và cùng một lúc, không thể thiếu một. Ba nguyên tố không thể hiện hữu hay tồn tại nếu không có nguyên tố thứ tư hiện hữu và tồn tại cùng lúc. Như vậy, theo Phật-Giáo, một vật chất chỉ là sự cấu hợp của bốn nguyên tố căn bản, hay Tứ Ðại. Tứ Ðại luôn luôn pha lẫn với bốn chuyển hóa của nó là màu, hương, vị và bản chất dinh dưỡng. Tứ Ðại và bốn chuyển hóa luôn luôn dính liền nhau và liên quan với nhau rất mật thiết, đến đổi ta chỉ thấy là một. Vật thể này khác với vật thể kia là do sự cấu hợp khác nhau của Tứ Ðại và bốn chuyển hóa. Còn phần tâm linh thì sao? Phần tâm linh, tức Danh gồm bốn uẩn là: 'Thọ, Tưởng, Hành, Thức'. Cảm giác, Tri giác, Sinh hoạt Tâm linh và Thức. Ba uẩn đầu là những tâm sở đồng phát sanh và đồng hoại diệt với tâm vương, có đối tượng đồng nhất với đối tượng của tâm vương và cùng chung một căn với tâm vương. Thức (Vinnãna) ở đây đồng nghĩa với tâm hay tâm vương (Citta). Có tất cả 52 loại tâm sở. Thọ và Tưởng là hai loại tâm sở phổ thông (cũng được gọi là tâm sở biến hành), luôn luôn nằm trong tất cả các loại tâm. 50 Tâm sở còn lại gọi chung là Hành. Thọ, cảm giác hay thọ cảm là đặc tính chính yếu của tất cả các loại tâm vương. Ðại khái có 3 loại Thọ là:
Tưởng hay tri giác là nhận thức. Ðặc điểm chánh của Tưởng là nhận thức một vật do dấu hiệu trên vật ấy như màu, mùi, vv... Chính do tâm sở Tưởng này ta nhận ra một vật mà trước kia có lần ta đã tri giác, xuyên qua giác quan. Như trạng thái tâm của người thợ mộc khi ông ta nhận ra khúc gỗ này là cột trước, hay cột sau, vv... nhờ những dấu hiệu mà ông đã ghi trên gỗ. Hoặc nữa, giống như người giữ kho, nhận ra món đồ nhờ cái nhãn cột theo trên đó. Trong mỗi loại Thức, hay tâm vương, luôn luôn có 2 tâm sở Thọ và Tưởng cùng với một số tâm sở khác trong 50 tâm sở của Hành, nhiều hay ít tùy loại tâm. Thọ, Tưởng, Hành cũng như Thức, luôn luôn biến đổi. Theo tâm lý học Phật-Giáo phần tâm linh, hay danh, biến đổi 17 lần nhanh hơn phần vật chất, sắc. Cũng như cơ-thể vật chất, sắc, phần tâm linh không phải là một thực thể đơn thuần, nguyên vẹn mà là sự phối hợp của nhiều chập tư-tưởng. Cái tâm chỉ là chuỗi dài những tư-tưởng liên tục nối tiếp nhau hầu như vô cùng tận. Như trên biển cả mỗi lượn sóng nhô lên rồi rơi trở xuống và tan biến trong một lượn sóng kế đó, mỗi lượn trở thành một lượn khác. Cùng thế ấy, mỗi chập tư-tưởng phát sanh, tồn tại, rồi hoại diệt, nhường chỗ cho một chập khác. Những chập tư-tưởng liên tục nối tiếp nhau, chập này đến chập kia, vô cùng nhanh chóng, đến đổi ta cảm tưởng như có một thực thể đơn thuần. Trong thực tế chỉ có sự trôi chảy của những chập tư-tưởng kế tiếp nối đuôi nhau, tựa hồ như sự chảy trôi của một giòng sông. Nhìn một giòng sông ta cảm tưởng như có một thực thể đơn thuần gọi là con sông. Nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Cái được gọi là "con sông" không phải là cái gì nguyên vẹn mà chỉ là những giọt nước kế tiếp nối đuôi nhau và trôi chảy nhanh chóng. Heraclitus, triết gia trứ danh thời cổ Hy-Lạp, khi truyền dạy chủ thuyết "Panta Rhei" nói như sau:
Và ông tiếp: "Bạn không thể bước chân hai lần xuống cùng một giòng suối; bởi vì luôn luôn có nước mới chảy tới bạn". Ðúng vậy, giòng suối luôn luôn trôi chảy và không ngừng đổi mới. Ðã thấm nhuần Giáo-Pháp của Ðức-Phật, ta có thể tiến thêm một bước và nói rằng: "Cùng một người không thể bước chân hai lần xuống cùng một giòng suối", bởi vì cái được gọi là "con người" cũng chỉ là một sự trôi chảy vật chất và tinh thần, không bao giờ ngừng lại trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Khi quan sát rốt ráo như vậy người Phật-tử thấy rằng cái gọi là "Ta" là "Tự-Ngã", chỉ là sự cấu hợp tạm thời của những thành phần rất vi-tế luôn luôn biến động, không bao giờ tịnh và không ngừng trở thành một cái gì mới. Không có cái gì, dầu vật chất hay tinh thần mà tồn tại như một thực thể đơn thuần, nguyên vẹn, trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Tất cả đều vô-thường. Một thực thể trường tồn bất biến chỉ là một khái niệm một danh từ, một cái tên mà không hiện hữu trong thực tế. Trong câu chuyện Vua Milinda vấn đạo, Ðức Nãgasena hỏi Vua đến bằng gì, đi bộ hay đi xe. Vua trả lời rằng đến bằng xe. "Tâu Ðại-Vương, nếu Ngài đến bằng xe xin Ðại-Vương vui lòng nói rõ, phải cái gọng là xe không? - Bạch Ðại-Ðức, quả thật không phải. Có phải cái ví là xe không? - Quả thật không phải. Có phải cái thùng là xe không? - Quả thật không phải. Có phải cái ách là xe không? - Quả thật không phải. Có phải dây cương là xe không? - Quả thật không phải. Có phải cây roi là xe không? - Quả thật không phải. Tâu Ðại-Vương, Ðại-Vương nói rằng Ðại-Vương đến bằng xe, vậy cái xe đưa Ðại-Vương đến ở đâu? Ngài là vị Vua hùng mạnh nhất trong cùng khắp toàn cõi Ấn-Ðộ mà còn nói dối hay sao, khi Ngài bảo rằng đến bằng xe? - Kính Bạch Ðại-Ðức, Trẫm không nói dối. Danh từ "cái xe" chỉ là một hình ảnh ngôn ngữ, một tiếng nói, một chữ, một tiếng gọi, một lối chỉ định có tánh cách quy ước để nói cái ví, cái gọng, cái thùng xe, bánh xe, vv... khi các thành phần này được ráp lại với nhau". Không có cái gì đơn thuần gọi là xe mà chỉ có những thành phần ráp nối lại với nhau. Cùng thế ấy, "chúng sanh", "con người", "Tôi", "Anh" hay "Ông A", "Ông B", vv... chỉ là những danh từ, những chữ, không tương ứng chính xác với một cái gì đơn thuần, thật sự hiện hữu. Có lời phê bình cho rằng Phật-Giáo cứ mãi nhắc đến vô-thường và luôn luôn đề cập đến cái chết, như vậy là bi quan, yếm thế. Phật-Giáo không bi quan. Phật-Giáo cũng không lạc quan. Phật-Giáo chỉ thực tiễn. Trong một ngôi nhà đang bừng cháy người lạc quan nghĩ rằng rồi đây lửa sẽ dịu dần và tắt hẳn. Mọi việc sẽ được an bài tốt đẹp. Nghĩ vậy, người ấy ăn uống no say rồi yên giấc, vững bụng rằng ngày mai trời lại sáng và đâu sẽ vào đó một cách an toàn, không có gì phải bận tâm lo nghĩ. Người bi qua trái lại, vừa thấy lửa bốc cháy đã hốt hoảng lo sợ, rồi tuyệt vọng nghĩ rằng tất cả đã sắp trở thành tro bụi, mọi người đã bị hỏa thiêu, đời sống đã trở nên đen tối và đâm ra âu sầu ủ dột, chán nản, mà không làm gì tích cực để thoát nạn, cho đến khi ngọn lửa thật sự thiêu đốt tất cả. Cùng trong một cảnh ngộ người thực tiễn nhận định rõ ràng rằng thật sự có hiễm nguy và tận dụng khả năng để đối phó với hoàn cảnh một cách thích nghi. Ðó là thái độ của người Phật-tử. Khi nói đến vô-thường và nói về cái chết, Phật-Giáo chỉ đề cập đến thực tại của đời sống:
Chính nhờ biết ý nghĩa của cái chết mà ta hiểu được mục tiêu của sự sống. Chính nhờ am tường bản chất vô-thường của vạn pháp mà ta có thể đương đầu với mọi thử thách của kiếp nhân sinh một cách thích nghi. Vào thời Ðức-Phật có một thiếu phụ tên Kisã Gotami. Bà sanh được một trai. Nhưng bất hạnh thay, khi vừa chập chững biết đi thì đứa trẻ lâm trọng bệnh rồi qua đời. Thương con quá, bà không đành để cho ai đem đi hỏa tán mà cứ nghĩ rằng sẽ có phương cách nào đó giúp con bà sống lại. Ðây là lần đầu tiên bà kinh nghiệm nổi buồn sâu xa của một bà mẹ mất con. Bà ôm đứa bé vào lòng, đi từ nhà này đến nhà khác, khóc than thảm thiết, kêu gọi mọi người mở tâm từ thiện tìm phương cứu sống đứa con yêu quý nhất đời. Ai nghe cũng động lòng, nhưng không một người nào có thể giúp bà làm được việc ấy. Bà vẫn không nản lòng vừa đi vừa tiếp tục kêu gào tìm người chữa trị cho con. Nhờ người mách bảo bà đến gặp Ðức-Phật. Bà quỳ xuống kính cẩn đảnh lễ Ngài và bạch rằng: "Bạch Hóa Ðức Thế-Tôn, con nghe rằng Ngài là người có thể cứu sống đứa con của con, xin Ngài mở lòng từ-bi chỉ dạy cho con cách thức phải làm thế nào". Ðức-Phật dạy: "Con hãy đi tìm cho Như-Lai một ít hột cải trắng. Nhưng hột cải ấy phải lấy ở trong gia-đình nào mà xưa nay chưa bao giờ có người chết". Bà Kisã Gotami hối-hả chạy đi tìm cái mà bà tin là thuốc cứu mạng cho con, bụng nghĩ rằng hột cải trắng ắt không khó tìm. Bà đến trước ngôi nhà đầu tiên trong làng và hỏi: "Xin thưa, ở đây có hột cải trắng không? Nếu có, xin cho tôi một vài hột để cứu sống con tôi". Trong nhà liền có người chạy ra trao cho bà hột cải. Nhưng khi bà hỏi thêm: "Xưa nay trong nhà có ai quá vãng chưa?" thì người nhà ngạc nhiên trả lời: "Sao bà hỏi lạ vậy? Gia-đình nào mà chẳng có người chết. Riêng tại nhà tôi đây số người đã chết còn nhiều hơn là số người đang còn sống nữa". Bà Gotami nghe vậy bèn trả lại hột cải và tiếp tục đến ngôi nhà thứ hai, bên cạnh ... rồi nhà thứ ba, thứ tư, vv... Ở mọi nơi bà đến hỏi như vậy thì nhà nào cũng có hột cải trắng, nhưng không có gia-đình nào mà lại không có người đã qua đời. Bà Gotami đi hỏi như vậy cùng khắp xóm làng cho đến chiều tối mà chẳng tìm được điều bà muốn. Cuối cùng bà đứng lại than rằng: "Ôi! quả thật là một việc khó làm. Không ở đâu mà chẳng có người quá vãng. Rồi bà lại nghĩ: "À! như vậy đâu phải chỉ có một mình ta phải chịu cảnh chia lìa, phân tán. Ðâu đâu người chết cũng nhiều hơn người sống". Nghĩ vậy bà trở nên sáng suốt hơn và trở lại khu rừng nơi Ðức-Phật ngự. Sau khi đảnh lễ Ðức-Phật xong, bà bạch rằng: "Bạch Hóa Ðức Thế-Tôn, con không tìm được hột cải trắng như Ngài dạy vì cùng khắp xóm làng đâu đâu người chết cũng nhiều hơn người sống". Ðức-Phật dạy: "Vậy con đã hiểu biết rằng không phải chỉ có con mới chịu cảnh chết chóc ly tán như vậy, mà đó là định luật chung cho tất cả mọi chúng-sanh. Ðịnh luật ấy là: "Tựa hồ như giòng nước lũ cuồng loạn, Tử-thần lôi cuốn tất cả chúng-sanh vào biển cả của hoại vong...". Sau khi nghe Ðức Tôn-Sư thuyết giảng một thời pháp về bản chất vô-thường của đời sống, bà Kisã Gotami đắc quả Tu-Ðà-Hườn. Ngày nọ, bà có nhiệm vụ trông coi nhang đèn ở Chánh-Ðiện. Sau khi thắp xong các ngọn đèn lưu ly trên bàn thờ, bà ngồi lại quan-sát. Vài ngọn bực sáng lên, vài ngọn khác chập chờn rồi tắt hẳn. Bà lấy hiện tượng đó làm đề mục hành thiền và suy niệm như sau:" Ðời sống của chúng-sanh trên thế-gian cũng tựa hồ như các ngọn đèn này. Vài người chợt sáng lên, trong khi ấy vài người khác chập chờn rồi tắt hẳn. Chỉ có những người đã thành đạt Niết-Bàn thì không còn ai thấy nữa". Như vậy, khi nhấn mạnh vào bẩm chất phù du tạm bợ của các pháp hữu-vi Phật-Giáo chỉ trình bày một quan điểm thực tiễn. Dạy rằng bản chất của đời sống là vô-thường không phải để chúng ta yếm thế, van vái nguyện cầu cho hạnh phúc trần gian được trường tồn vĩnh cửu mà để chúng ta suy niệm chân chánh và nương theo bản chất đổi thay của thế-gian pháp để tiến hóa. Do định luật vô-thường, cành hoa tươi tốt vừa nở tung một cách huy-hoàng buổi sáng đã héo xào vào buổi chiều, người tráng niên khỏe mạnh hôm nay sẽ trở nên già nua bệnh hoạn trong một ngày mai; gia-đình đông con nhiều cháu, sum hợp vui vầy hạnh-phúc trong hiện tại sẽ ly tán chia lìa, người đi cảnh này kẻ cảnh khác. Tuy nhiên, cũng do định luật vô-thường mà sự vật tăng trưởng và tiến hóa. Hột trở thành cây, cây con trở thành to lớn, cành lá sum sê, nụ trổ thành hoa. Do định luật vô-thường, người tốt có thể trở nên xấu nhưng cũng nhờ có định luật vô-thường mà người xấu có thể trở thành tốt. Nếu không có luật vô-thường, không có biến đổi, người như thế nào mãi mãi vẫn như thế nấy thì làm thế nào một Vua Asoka (A-Dục), có tiếng là hung ác bạo tàn, có thể trở thành đấng minh quân, đổi những trận giặc xâm lăng khốc liệt ra những chiến dịch truyền bá đạo lý cao siêu và pháp từ-bi của Phật-Giáo, để mưu cầu hạnh-phúc cho một phần nhân loại. "Giữa oai danh của trăm ngàn Vua chúa trong lịch sử nhân loại, danh thơm cao quý vừa hùng vỹ vừa dịu dàng, vừa trong sáng vừa trầm lặng của Ðại-Ðế Asoka (A-Dục) chói ngời rực rỡ như một ngôi sao sáng". (H.G. Wells, Outline of History) Suy niệm chân chánh về lý vô-thường còn là con đường dẫn đến mục tiêu tối hậu của người tu Phật. Ðức-Phật dạy:
Và cũng trong Uẩn Phẩm này (Khandha Vagga), bài kinh 102 ghi như sau:
Trong hai bài kinh trên Ðức-Phật dạy rằng vì không ý thức được thực tướng của vạn hữu là vô-thường nên con người mê muội chấp thể xác này, cùng với những cảm giác, tri giác, sinh hoạt tâm linh và những tư-tưởng là chính mình. Vì bị màn vô-minh che lấp mà chúng ta khư khư tự đồng hóa với ngũ-uẩn, chấp rằng ngu-uẩn là ta, ta là ngũ-uẩn. Vì bị si mê bao phủ như lớp mây mù dầy đặt mà ta thấy hư tưởng thực, thấy giả tạo cho là vững bền, thấy tạm bợ nhất thời ngỡ là trường tồn vĩnh cửu. Vì lẽ ấy, chúng ta cố chấp đây là "Ta", cái này là "của Ta". Do đó: "Khi cái đư?c gọi là "Ta" duyên vào vật ưa thích, tất có sự triều mến. Khi cái "Ta" bất mãn với vật không ưa thích, tất có ghét bỏ, giận dũi hay thù hận. Khi cái "Ta" thất bại, tất có sự đau khổ, âu sầu, phiền muộn, hối hận và tuyệt vọng sâu xa, có thể đưa đến quyên sinh hay gây án mạng cho người khác. Khi cái "Ta" lâm nạn, tất có sợ sệt. Khi cái "Ta" bị giới hạn trong ích kỷ hẹp hòi, tất có chia rẽ, ganh tỵ, thèm muốn, tham vọng. Khi cái "Ta" được thổi phồng, tự cao, tự đại, tất có ngã-mạn kiêu căng". Cũng trong bài kinh trên, đoạn "Vị Tỳ-Khưu phát triển" có nghĩa là phát triển công trình hành thiền và đoạn "thường xuyên thực hành" là kiên trì thực hành pháp Tứ-Niệm-Xứ. Người chuyên cần niệm thân, niệm thọ, niệm tâm và niệm pháp sẽ thấu đạt thực chất của cái được gọi là "Ta" tức Thân, Thọ, Tâm và thế-gian rộng lớn bao quanh cái "Ta" tức Pháp. Người ấy sẽ thấy rằng không thể nói đến bất luận cái gì trên thế-gian này rằng cái này "tồn tại", bởi vì chính trong khi nói nó tồn tại thì nó đã đổi thay, đã trở thành một cái gì khác. Người suy niệm như thế sẽ nhận thức rằng tất cả sự vật trên thế-gian huyền ảo và tạm bợ nhất thời này tựa hồ như: "Giọt sương buổi sáng, lóng lánh trên đầu, ngọn cỏ và sớm tan biến khi những tia nắng bình minh bắt đầu rọi xuống, như bong bóng nước, như cái lằng gạch trên mặt nước, như hột cải để trên đầu mũi kim, như cái chớp trong đêm tối, như một khối bọt, như ảo cảnh, như giấc mơ ..." Lúc bấy giờ hành giả đã phá chấp, không còn chấp vào cái "Ngã" nữa, đã vượt ra khỏi nó, không luyến ái, không Phật lòng, không tham cũng không sân, mà phổ cập hòa đồng với toàn thể, từ-bi vô-lượng, hỷ xả vô-biên. Lúc bấy giờ hành giả đã thoát ra khỏi mọi hình thức ái dục, dầu ái dục đeo níu theo Dục-Giới, Sắc-Giới hay Vô-Sắc-Giới, tiến đến những Ðạo và Quả của các tầng Thánh và cuối cùng đến sự giải thoát toàn vẹn ra khỏi mọi khổ đau, khỏi vòng luân hồi, không còn tái sanh trở lại nữa. Vô-thường là thực tướng của tất cả các pháp hữu-vi, là bản chất của vạn pháp và như thế dính liền với mọi kiếp sinh tồn. Nếu không có vô-thường ắt không có cải tiến. Nhưng nếu để định luật vô-thường biến đổi mình từ tốt ra xấu, từ trong sạch đến nhiễm ô, từ sáng suốt đến mê lầm thì rõ thật là tệ hại vô cùng. Giáo-pháp dạy ta tinh tấn, kiên trì tinh tấn, tận lực tinh tấn, không ngừng nỗ lực lợi dụng bản chất vô-thường để gội rửa bợn nhơ trong tâm, làm cho nó trở nên thanh khiết, để chuyển lần từ ác đến thiện, từ bóng tối của vô-minh đến Ánh Sáng Chân-lý, từ mê lầm đến giác ngộ. Giáo-pháp dạy ta hãy chăm chú chân-chánh và thường xuyên suy niệm về bản chất không ngừng đổi thay của vạn hữu. Ðó là cái chìa khóa sẽ giúp ta mở tung cánh cửa trần gian để thoát ra khỏi vòng quanh lẩn quẩn của mọi kiếp sinh tồn và vinh quang rực-rỡ vượt đến Châu Toàn, Tịch Tịnh Trường Cửu - Niết-Bàn. C. Vô ngã Cái gì là gánh nặng? - Năm uẩn (Khandha) là gánh nặng. Ai chấp nhận gánh nặng? - Ái-dục (Tanhã) chấp nhận gánh nặng. Thế nào là vứt gánh xuống? - Tận-diệt Ái-dục là vứt gánh xuống. Ngũ-uẩn (Panca Khandha) quả thật là cái gánh nặng trỉu. Chấp nhận gánh nặng là đau khổ; vứt đi quẳng gánh xuống bên đàng là tiến đến hạnh phúc. Khi ái-dục bị diệt trừ tận gốc rễ, tham ái khát khao không còn phát sanh trở lại. Gánh nặng cũ đã được đặt xuống bên đàng, không còn gánh nặng mới cần phải đặt trên vai. Ðó là thành đạt Niết-Bàn, trạng thái tịch tịnh trường cửu. Người đã có đức tin nơi Giáo-pháp và đã thâu thập một vài kiến thức căn bản về Danh (Nãma), Sắc (Rũpa), Vô-thường (Anicca), Khổ (Dukkha) và Vô-ngã (Anattã) hãy cố gắng hành thiền minh sát. Ðây là pháp hành nhằm ghi nhận danh và sắc, luôn luôn trong trạng thái chảy trôi như một giòng suối trường lưu bất tức, nơi sáu cửa (Lục nhập hay Lục căn), đúng như được chỉ dạy trong pháp Tứ-Niệm-Xứ. Ghi nhận những gì mắt thấy, ghi nhận những gì tai nghe, ghi nhận những gì mũi hưởi, ghi nhận những gì lưỡi nếm, ghi nhận những gì thân xúc chạm, ghi nhận những gì tâm suy tư, chừng đó hành giả sẽ nhận thức tất cả những gì cần phải được nhận thức tương xứng với trình độ mà mình đạt đến. Khi chuyên cần chú niệm như vậy, định lực của hành giả trở nên vững chắc mạnh mẽ, tâm trong sạch. Chừng đó hành giả có thể phân biệt rõ ràng Danh (Nãma), cái tâm hay biết, và Sắc (Rũpa), cơ thể vật chất, cái được hay biết. Hành giả sẽ nhận chân rằng không có cái gì có thể gọi là bản ngã (Attã) hay "Ta". Sự ghi nhận thường xuyên lập đi lập lại sẽ dẫn hành giả đến trạng thái thông suốt nhân và quả trong danh sắc. Cuối cùng mọi ý niệm về một bản ngã trường tồn sẽ tan biến một cách rõ rệt. Trước khi thực hành chú niệm hành giả có thể còn nghi ngờ không biết cái ta đã có hiện hữu không trong quá khứ, có vẫn còn đang hiện hữu không trong hiện tại và sẽ còn hiện hữu không trong tương lai. Sau khi thực hành minh sát tất cả mọi nghi hoặc đều chấm dứt vì hành giả đã thấu triệt tận tường bản chất thật sự của mọi hiện tượng. Tiếp tục ghi nhận thêm hành giả sẽ thấy rằng trần cảnh (Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp) cùng với những thức liên hệ (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức và Ý thức) cũng đều tan biến. Tất cả đều vô thường. Tất cả đều phát sanh và tự nhiên hoại diệt. Những gì vô-thường ắt không thể làm thỏa mãn một cách trọn vẹn. Không có chi thật sự có thể chất vững bền. Như vậy thì có cái chi để bám níu vào mà gọi là "Ta" hay "của Ta". Tất cả mọi hiện tượng đều ở trong trạng thái di động, chảy trôi, vừa sanh đã diệt. Quán xét rốt ráo như vậy ta có thể xác quyết tin chắc và loại bỏ ý niệm một bản ngã trường tồn. (Hai đoạn trên đây được trích dịch từ bài giảng về kinh BHARA SUTTA của ngài thiền sư Mahãsi Sayadaw) Vào thủa ấy Ðức Thế-Tôn ngự tại Benarès (Ba-La-Nại). Sau khi truyền dạy và gửi sáu mươi vị đệ tử A-La-Hán đầu tiên đi các nơi với lời kêu gọi:"...vì lòng từ-bi, hãy đem lại sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh-phúc cho Chư-thiên và nhân loại. Mỗi người hãy ra đi một ngã. Này hỡi các Tỳ-Khưu, hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng (Brahma Cariya, lối sống phạm hạnh), vừa toàn thiện, vừa trong sạch..." Chính Ngài cũng ra đi, về hướng Uruvelã (Ưu Tần Ðà Loa) để hoằng dương Giáo-pháp. Trên đường đi, một hôm Ðức-Phật dừng chân và tách vào rừng, tĩnh tọa dưới một cội cây. Lúc bấy giờ trong làng có ba mươi thanh niên cũng dắt vợ vào cụm rừng ấy để ăn uống vui chơi. Trong nhóm trai trẻ này có một chàng không có vợ, dẫn theo người bạn gái. Trong khi ai nấy vui đùa với nhau, không để ý, cô bạn gái lén bỏ đi, đem theo nhiều món đồ quý giá. Lúc hay ra cả ba mươi thanh niên cùng nhau chạy đi tìm khắp rừng. Khi đôn đáo quanh quẩn thì họ thấy Ðức-Phật ngồi dưới gốc cây bèn đến gần hỏi thăm: "Bạch Ðức Sa-Môn, Ngài có thấy chăng một thiếu phụ vừa đi ngang qua đây?" -" Này các con, tại sao các con tìm một người phụ nữ để làm gì?" Họ bạch lại tự sự. Ðức-Phật hỏi: "Các con nghĩ thế nào, tìm một phụ nữ và tự tìm ra mình, đàng nào hơn? (Ở đây, "tự mình tìm ra mình" có nghĩa là nhìn vào bên trong mình để tìm hiểu thực tướng của chính mình) - "Bạch Ngài, tự tìm ra mình hẳn là hơn". "Vậy, các con hãy ngồi lại đây. Như-Lai sẽ giảng giải Giáo-pháp cho các con". Và tất cả đều quỳ xuống đảnh lễ Ðức Thế-Tôn rồi ngồi lại một bên chăm chú lắng nghe. I. Tự tìm ra mình Thông thường, để tìm chân-lý, người ta được dạy nên hướng mắt nhìn ra ngoài, hoặc nhìn lên trên. Ðể tìm chân-lý về kiếp nhân sinh người Phật-tử được dạy nên nhìn trở vào bên trong mình. Thay vì hướng ngoại hay hướng thượng, Phật-giáo dạy ta hướng nội bởi vì Ðức-Phật dạy tất cả chân-lý đều nằm vỏn vẹn trong tấm thân nhỏ bé này. Xưa kia cũng nhờ ngày đêm trầm tư mặc tưởng, gom tâm quán xét từng yếu tố vật chất và tinh thần của bản thân mình mà Ðạo-sĩ Gotama (Cồ-Ðàm) tìm ra chân-lý và trở thành Ðức-Phật Gotama (Cồ-Ðàm), bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác, Chánh Biến Tri. Khi người Phật-tử quán trạch bản thân mình một cách sâu sắc thì nhận thức rằng con người là sự cấu hợp của hai thành phần, vật chất và tâm linh hay sắc và danh. Phần vật chất, cơ thể vật chất hay sắc, không phải là một thực thể đơn thuần, nguyên vẹn, không biến đổi mà là một tiến trình luôn luôn tiếp diễn, luôn luôn trở thành một cái gì khác. Phần tâm linh, tâm hay danh, cũng luôn luôn biến đổi như một sự tiếp nối liên tục. Như vậy, sự kết hợp của tâm và thể xác hay danh và sắc, cấu thành chúng sanh phức tạp mà ta gọi là con người, không phải là một thực thể tự mình phát sanh và tự mình có khả năng tồn tại mà chỉ là một tiến trình liên tục diễn tiến. Ngoài "Danh" và "Sắc" là hai thành phần cấu tạo chúng sanh Phật-giáo không thừa nhận có một linh hồn, xem như một thực thể đơn thuần không biến đổi, hay một bản ngã trường tồn mà con người thọ lãnh một cách bí ẩn, từ một nguồn gốc cũng bí ẩn không kém. Vô-ngã (Anattã) có nghĩa là không có một thực thể vĩnh cửu trường tồn, không biến đổi, trong bất luận vật gì hay chúng sanh nào. Nên hiểu rằng Phật-giáo không phủ nhận sự hiện hữu của một cá nhân, theo ý nghĩa thông thường. Phật-giáo chỉ phủ nhận trong định nghĩa cùng tột, một chúng sanh bất biến, một thực thể đơn thuần nguyên vẹn, vĩnh tồn, chớ không phủ nhận có sự liên tục trong tiến trình biến đổi. II. Tục đế và Nghĩa đế Theo Phật-giáo có hai loại thực tế: - Thực tế biểu hiện ra bề ngoài là chân-lý mặc ước, thông thường (Sammuti Sacca, Tục Ðế hay Thế Ðế). - Thực tế cùng tột là chân-lý trừu tượng, tuyệt đối (Paramattha Sacca Nghĩa Ðế hay Chân Ðế). Khi nhìn trên mặt bàn với mắt thường, ta thấy rằng mặt bàn bằng phẳng, bóng láng. Cũng mặt bàn ấy, nhìn xuyên qua ống kính hiển vi, ta sẽ thấy rằng nó không còn trơn tru nữa mà gồ ghề, có chỗ lồi cao có hủng thấp. Bây giờ, nếu ta dùng một loại kính điện tử có khả năng phóng đại cực mạnh, thì dưới mắt ta mặt bàn bằng phẳng nhẳn nhịu trước kia chỉ còn giống như núi cao chập chờn và thung lũng sâu thẩm, có khi còn có cả sinh vật sống trên đó nữa. Và nếu ta phân tích sâu thêm nữa, đến mức cùng tột cái mặt bàn chỉ là những năng lực và tính chất, hay nói cách khác chỉ là những rung động. Vậy, nên tin những gì mà mắt thường vẫn thấy, tai thường vẫn nghe hay chỉ tin vào những gì sự phân tích sâu sắc đến mức cùng tột cho thấy? Cả hai đều là thực tế và Phật-giáo phân biệt có hai thực tế. Trong đời sống thông thường nhà khoa học gọi nước là nước, nhưng ở phòng thí nghiệm ông ta sẽ gọi là H2O. Cùng một thế ấy, Phật-giáo không phủ nhận thực tế trong đời sống hằng ngày và trong Tạng Kinh (Sutta Pitaka) Ðức-Phật dùng những danh từ mặc ước, thông thường như người, thú, đàn ông, đàn bà hay ông A, ông B, vv... để dạy một lối sống đạo đức, một nếp sống hằng ngày khả dĩ đưa đến tiến bộ tinh thần. Tuy nhiên, ta cũng không thể phủ nhận những gì thật sự có, đúng như sự vật là vậy, mà mắt thường không thể trông thấy. Vì lẽ ấy trong Tạng-Luận (Abhidhamma Pitaka), phần triết lý cao siêu của Phật-giáo, Ðức-Phật truyền dạy giáo lý cùng tột và dùng những danh từ trừu tượng, có tánh cách chuyên môn, như ngũ-uẩn, tứ đại, lục-căn, vv... Phạn ngữ "Paramattha Sacca" được phiên dịch ở đây là chân-lý cùng tột hay chân đế, hoặc nghĩa đế. Parama được giải thích là không thể còn biến chất nữa (Aviparĩta), trừu tượng (Nibbattita); Attha là vật, Sacca là chân-lý hay đế. Vậy Paramattha Sacca là chân-lý trừu tượng không còn phân tích được nữa. Một cái lọ bằng đồng không phải là thực tế cùng tột (Paramattha) bởi vì bên trong cái lọ, trong chất đồng, có sự thay đổi từng giây, từng phút, từng khoảnh khắc. Lại nữa, ta có thể uốn nắn hay nấu cái lọ để lấy đồng làm ra một món đồ khác, như cái tô chẳng hạn, tức là biến cái lọ thành cái tô. Bây giờ, nếu ta phân tích cả hai món đồ đồng ấy đến mức cùng tột, cuối cùng ta sẽ đi đến những năng lực và những tính chất căn bản mà Vi-Diệu-Pháp (Abhidhamma) gọi là Sắc nghĩa đế (Rũpa Paramattha). Những tính chất và năng lực ấy vẫn còn có thể biến đổi, nhưng đặc tính riêng biệt của những "Sắc" (Rũpa) ấy vẫn là nền tảng căn bản của hai món đồ. Và nếu ta nấu đồng ấy ra trở lại nữa để làm món đồ khác, thì thể chất của nó hay "Sắc" ấy vẫn còn giữ nguyên vẹn đặc tính. Như vậy, những tính chất và năng lực của đồng là thực tế cùng tột. III. Tôi là ai? Công trình phân tích rốt ráo cho thấy rằng con người là sự cấu hợp của 5 thành phần hay 5 nhóm gọi là ngũ-uẩn hay ngũ-ấm: Sắc-uẩn, Thọ-uẩn, Tưởng-uẩn, Hành-uẩn và Thức-uẩn (xin xem lại phần Vô-thường, và phần Khổ, đoạn Hành Khổ - Sankhãra Dukkhatã). Sắc là phần vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức là phần tinh thần. Danh từ triết học Phật-giáo gọi một cá nhân là Santati, có nghĩa là một triều lưu, một sự liên tục chảy trôi không ngừng của những hiện tượng "Tâm-vật lý". 3.1 Sắc (Rũpa) Hay cơ thể vật chất là thành phần của con người biểu lộ hiển nhiên ra ngoài mà ai ai cũng có thể cảm nhận. Danh từ "Rũpa" phát nguyên từ căn "Rup" có nghĩa là đổi thay. Theo Phật-giáo, Sắc gồm 28 loại, trong đó có 4 là thành phần căn bản gọi là Tứ Ðại Chánh Yếu (Cattãri Mahã Bhũtãni), mà ta thường gọi tắt là Tứ Ðại. Tứ Ðại bao gồm: Ðất, Nước, Lửa, Gió.
Tứ Ðại Chánh Yếu: Ðất, Nước, Lửa, Gió là những đơn vị căn bản của vật chất (Sắc: Rũpa). Tứ Ðại luôn luôn pha lẫn với 24 chuyển hóa của nó và luôn luôn dính liền nhau, liên quan với nhau rất mật thiết. Trong một loại vật chất thành phần này có thể trội hơn thành phần khác, như trong Ðất, thành phần Ðất (Pathavi) trội hơn ba thành phần kia; trong Nước, thành phần Nước (ãpo) trội hơn; trong Lửa, thành phần Lửa (Tejo) và trong không khí thì thành phần kia. Trong mỗi thể chất vật lý, từ vật nhỏ nhất đến những vật to lớn khổng lồ, đều có đủ bốn thành phần chính yếu ấy, không thể thiếu một. Ba thành phần không thể tồn tại nếu không có thành phần thứ tư. Như vậy, Sắc hay cơ thể vật chất của con người bao gồm những đặc tính và những năng lực trong trạng thái liên tục biến đổi, luôn luôn trôi chảy như một giòng suối. Ta không thể chỉ một phần nào trong thân và nói rằng cái này tồn tại. Vì khi ta nói đến chữ "tại" thì nó đã biến đổi và trở thành cái gì khác rồi. Còn phần tâm linh thì sao? Trong guồng máy phức tạp của con người, cùng phối hợp với phần vật chất còn có phần tinh thần vô cùng quan trọng được gọi là Danh (Nãma). Danh gồm: Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Thọ, Tưởng và Hành là ba Tâm Sở (Cetasika). Thức là Tâm Vương (Citta). 3.2 Thọ (Vedãna) Hay cảm giác là một loại tâm sở phổ thông, cũng được gọi là tâm sở biến thành, nằm trong tất cả các loại tâm. Thọ là một cảm giác, chỉ cảm nhận suông mà không bao hàm sự nhận diện hay hình dung đối tượng. Thọ phát sanh do sự tiếp xúc giữa:
Thí dụ: Như tay tôi sờ vào một ly nước tức có sự tiếp xúc giữa thân căn (tay tôi) và thân trần (ly nước). Khi tay chạm vào cái ly tôi hay biết có vật trơn tru, cứng, tròn... Ðó là Thọ, có sự cảm kích xuyên qua giác quan mà chưa nhận diện ra đó là gì, cũng không hình dung đó là cái ly. Cùng thế ấy, khi nhìn cái hoa tức có sự tiếp xúc giữa nhãn căn (thành phần nhạy của mắt) và nhãn trần (đối tượng của sự thấy, ở đây là cái hoa) tức tôi hay biết có hình thể, màu sắc... như thế ấy, nhưng chưa nhận diện, chưa hình dung là cái hoa. Ðó là Thọ, chỉ thâu nhận cảm kích xuyên qua giác quan mà chưa biết đó là gì. Thọ (Vedanã) có một vai trò rất trọng yếu trong cuộc sống của con người. Thọ biến đổi luồng tâm và tác hành như một năng lực có khả năng nâng đỡ hoặc hoại diệt đời sống. Thí dụ: Như Thọ-hỷ, Thọ-lạc thì nâng đỡ, giúp cuộc sống được thoải mái, dễ chịu còn Thọ-ưu, Thọ-khổ thì gây trở ngại. Nói rằng Thọ phát sanh do sự tiếp xúc giữa căn và trần có nghĩa rằng Thọ là một pháp hữu-vi, chỉ hiện hữu do nhân và duyên tạo điều kiện. Trước kia, ở phần Vô-thường ta thấy rằng: "Các pháp Hữu-vi đều vô-thường", "Chúng được sanh ra, kết hợp lại, rồi tan rã". Như vậy, Thọ chỉ tồn tại tạm thời, vừa phát sanh liền trụ và diệt trong khoảnh khắc. 3.3 Tưởng (Sannã) Là uẩn thứ ba trong ngũ-uẩn. Danh từ "Sannã" do "San" và căn "nã" kết hợp, có nghĩa là biết nhận thức (so với "Cognoscere" trong chữ La-Tinh). Tưởng (Sannã) cũng là một tâm sở phổ thông hay biến hành, nằm trong tất cả các loại tâm vương. Ðặc điểm chánh của Tưởng (Sannã) hay tri giác là nhận thức một vật do dấu hiệu trên vật ấy hay nhận ra một vật do những cảm giác phát sanh giống như những cảm giác đã có trước kia. Như người thợ mộc cưa, bào, đụt, đẽo những cây cột, cây kèo, đòn vong... rồi làm dấu trên đó. Lúc dựng nhà ông ta nhận ra dấu hiệu này thì biết là đầu trên cây cột, gặp dấu kia thì biết nó là cây đòn vong... Sự nhận diện ra nhờ dấu hiệu ấy là Tưởng (Sannã). Trong thí dụ tay sờ ly nước kể trên, Thọ chỉ thâu nhận cảm giác cứng, trơn tru, tròn, lạnh... mà không nhận diện hay hình dung ra nó là gì. Lúc bấy giờ tôi nhớ lại đã có những cảm giác tương tợ và nhận ra đó là cái ly. Sự hồi nhớ và nhận ra là Tưởng (Sannã). Tưởng phát sanh do thọ tạo điều kiện và như vậy Tưởng là pháp hữu-vi, luôn luôn biến đổi theo định luật vô-thường. Trong Phật-giáo có ba danh từ có ý nghĩa tương-tự: Tưởng (Sannã), Thức (Vinnãna) và Tuệ (Pannã). Cả ba đều có nghĩa hiểu biết, nhưng ở mức độ khác nhau, cần phải được phân biệt rõ ràng. Một em bé hai ba tuổi thấy đồng tiền, nhận ra đó là đồng tiền, nhưng không hiểu giá trị nó. Một người đứng tuổi thấy đồng tiền thì biết giá trị của nó là thế nào nhưng không biết thể chất của đồng tiền ra sao, làm bằng gì... Một khoa học gia thấu triệt từng chi tiết các hóa chất và đặc tính của mỗi loại kim khí dùng để đút đồng tiền. Tưởng (Sannã) hay tri giác, như em bé, thấy vật gì tròn, nhỏ, dẹp, màu vàng... nhận ra đó là đồng tiền nhưng rõ ràng không biết giá trị của nó. Thức (Vinnãna) như người đứng tuổi biết giá trị và lợi ích của đồng tiền mà không hiểu bản chất hay các thành phần cấu hợp đồng tiền. Trí tuệ (Pannã) là tri kiến phân giải của chuyên viên, thấu triệt mỗi thành phần hợp thành đồng tiền. 3.4 Hành (Sankhãra) Là uẩn thứ tư trong ngũ-uẩn. Có tất cả 52 tâm sở. Thọ là một, Tưởng là một tâm sở khác. 50 Tâm sở còn lại được gọi chung là Hành (Sankhãra). Trong 50 tâm sở này có tâm sở "Tác ý" (Cetanã: ý muốn làm, ý nghĩ đưa đến hành động) là quan trọng hơn hết. Cetanã là tâm sở phối hợp các tâm sở đồng phát sanh với nó trên đối tượng của tâm. Giống như vị Tăng Trưởng hay người thợ chánh, vừa làm công việc của mình vừa điều hành công việc của những người khác, tâm sở Tác ý (Cetanã) vừa tác hành nhiệm vụ của mình vừa phối trí sinh hoạt của các tâm sở khác, cũng đồng phát sanh với mình. Ðứng về phương diện tâm lý Tác ý (Cetanã), quyết định các hoạt động của những tâm sở đồng phát sanh cùng với nó. Về phương diện đạo đức, nó quyết định hậu quả dĩ nhiên phải đến. Một cách chính xác, chính Cetanã là nghiệp. Do đó, nếu không có Tác ý (Cetanã) tức nhiên không có nghiệp (Kamma). Một em bé cầm dàn thung nhắm bắn trái xoài. Em bắn trật trái xoài và viên đá bay lệch một bên trúng nhằm con chim đậu phía sau. Chim chết. Nhưng em bé không tạo nghiệp sát sinh vì hành động của em không tác ý, em không cố tình bắn chết con chim. Trong các loại tâm tại thế, Tác ý (Cetanã) là tâm sở có ý nghĩa quan trọng nhất, còn trong các loại tâm siêu thế thì có tâm sở Trí tuệ (Pannã). Tâm tại thế có khuynh hướng tích trử nghiệp, tâm siêu thế có chiều hướng tận diệt nghiệp. Trong Thập Nhị Duyên Khởi chính tâm sở Tác ý (Cetanã), bao hàm trong danh từ "Hành" và Hữu". Trong một loại tâm luôn luôn có 7 tâm sở phổ thông và một số nhiều hay ít các tâm sở khác. Trở về thí dụ ly nước, do tưởng, tôi nhận ra là ly nước rồi thì có một số tâm sở phát sanh như sự chú tâm, ý muốn uống ... phát sanh cùng một lúc. Ðó là hành-uẩn. 3.5 Thức (Vinnãna) Là uẩn thứ năm. Thức (Vinnãna) đồng nghĩa với Tâm (Citta) và Danh (Nãma). Khi chia chẻ chúng sanh làm hai phần, vật chất và tâm linh, thì danh từ Danh (Nãma) được dùng để chỉ phần tâm linh. Khi đề cập đến ngũ-uẩn thì thức-uẩn được gõi là Thức (Vinnãna). Còn danh từ Citta lúc nào cũng được dùng để chỉ các loại tâm khác nhau và trong vài trường hợp lẻ tẻ, hai danh từ Citta và Nãma đều có nghĩa là tâm, thường được dùng lẫn lộn. Tất cả ba uẩn Thọ, Tưởng, Hành, đồng phát sanh và đồng hoại diệt cùng một lúc với thức-uẩn. Tất cả bốn đều phát sanh từ một căn nguyên và cùng có chung một đối tượng. Theo triết học Phật-giáo không có khoảnh khắc nào mà tâm có thể trống rỗng, nghĩa là luôn luôn phải có một loại tâm duyên theo một đối tượng, vật chất hay tinh thần. Thời gian tồn tại của một loại tâm như vậy gọi là chập tư-tưởng hay một sát-na tâm. Các bản chú giải ghi nhận rằng trong thời gian một cái nhoáng, hằng tỷ chập tư-tưởng có thể phát sanh và hoại diệt. Khi một chập tư-tưởng diệt tức khắc có một chập mới phát sanh. Như vậy, những chập tư tưởng liên tục nối tiếp và thời gian tồn tại của một chập tư-tưởng thật ngắn, khó mà quan niệm được. IV. Ảo kiến Bốn loại hiện tượng tâm linh: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, hợp với một hiện tượng vật lý (Sắc) là sự kết hợp vô cùng phức tạp của năm thành phần cấu tạo một chúng sanh. Mỗi cá nhân đều do năm uẩn ấy cấu thành. Trong khi những thành phần của năm uẩn luôn luôn biến đổi thì có cách nào mà sự tổng hợp của năm uẩn ấy, tức con người lại có thể không biến đổi từng khoảnh khắc. Trong hai khoảnh khắc kế tiếp không thể có một người nguyên vẹn, không đổi thay bởi vì trong người ấy cả thành phần vật chất lẫn thành phần tâm linh đều không ngừng biến đổi. Khi tôi viết trên giấy hai chữ "tôi viết" thì người viết chữ "viết" đã không còn là người viết chữ "tôi", vì trong khoảng thời gian giữa lúc tôi viết chữ đầu và chữ thứ nhì thì bao nhiêu đổi thay, cả vật chất lẫn tinh thần, đã xảy diễn bên trong tôi. Ðức-Phật dạy: "Na ca so, Na ca anno", không tuyệt đối là một người, cũng không hẳn là hai người hoàn toàn khác biệt. Không là một người vì sự biến đổi bên trong tôi. Nhưng không là hai người hoàn toàn khác biệt vì cả hai đều nằm trong một tiến trình sống, một giòng sinh tồn. Chỉ có một luồng sống, một diễn tiến của đời sống hay một sự liên tục. Tuy nhiên, sự liên tục đổi thay này đã xảy ra nhanh chóng đến độ ta không thể phân biệt một cách hiển nhiên. Chính hai yếu tố, liên tục và nhanh chóng, đã làm cho ta lầm tưởng có một thực thể đơn thuần không biến đổi. Một cây nhang cháy trong đêm tối chỉ là một đớm sáng. Khi cây nhang được quây thật nhanh theo một vòng tròn thì ta thấy một vòng ánh sáng. Trong thực tế, không có vòng tròn ánh sáng mà chỉ có một điểm sáng di chuyển liên tục và nhanh chóng theo vòng tròn. Xem chớp bóng, ta thấy cảnh vật di động trên màn ảnh. Nhưng thực ra chỉ có những bức ảnh riêng biệt, liên tục tiếp diễn theo một tốc độ nào và cho ta cảm giác đang nhìn một loại hoạt cảnh liên tục. Cùng thế ấy, vì sự biến đổi liên tục của những thành phần của ngũ-uẩn quá nhanh chóng nên ta có cảm tưởng như có những thực thể đơn thuần, nguyên vẹn, không biến đổi gọi là người, anh, tôi, thú... Thực ra, toàn thể tiến trình của những hiện tượng tâm-vật lý ấy luôn luôn trở thành rồi tan rã, sanh rồi diệt. Không thể gọi là "Ta" hay "Của ta", hay một linh hồn trường cửu, một bản ngã vĩnh tồn của ta. Ðức-Phật dạy:
Trong bộ Trung A Hàm (Majjhima Nikãya) bài số 62 có ghi lại tích chuyện như sau: - Ngày nọ thầy Sa-di Rãhula (La Hầu La tức con của Thái-tử Tất-Ðạt-Ða) đi theo Ðức-Phật trì bình. Phong độ oai nghiêm quý trọng của hai vị tu-sĩ xem tựa hồ như thớt ngự tượng dõng dạc cùng đi với tượng con quý phái, như thiên nga của Ðức vua dắt con bơi lội trên mặt hồ trong hoàng cung, như hổ chúa oai phong và hùm con lẩm liệt. Cả hai Ngài đều có thân hình vô cùng đẹp đẽ, cả hai Ngài đều thuộc dòng mã thượng vương tôn, cả hai Ngài đều từ ngai vàng cất bước ra đi. Trong lúc chiêm ngưỡng dung nhan Ðức Thế-Tôn thầy Sa-di Rãhula, nghĩ rằng: "Ta cũng đẹp đẽ như Ðức Thế-Tôn, cha ta. Thân hình của Ðức-Phật vô cùng đẹp đẽ và thân hình của ta cũng vậy". Ðức-Phật đọc ngay tư-tưởng ô nhiễm ấy. Ðang đi, Ngài dừng chân ngay lại dạy như sau: "Bất luận hình dáng đẹp đẽ hay xấu xí, hay thế nào đi nữa, cũng phải được quan sát như vầy: cái này không phải của ta (N'etam mama); cái này không phải là ta (N'eso hamasmi): cái này không phải là linh hồn của ta (Na me so attã). V. Kinh Vô-Ngã tướng Sau khi Ðức Thế-Tôn vận chuyển bánh xa Pháp-Bảo, thuyết giảng thời Pháp đầu tiên có tên là Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhamma Cakka Sutta) cho năm vị đạo-sĩ Kondanna, Bhaddiya, Vappa, Mahãnãma và Assaji (thường được gọi là năm thầy Kiều Trần Như) tại vườn Lộc Uyển thì Ngài Kondanna (Kiều Trần Như) đắc qủa Tu-Ðà-Hườn. Trong mấy ngày kế đó, khi nghe Ðức-Phật giảng thêm, Pháp nhãn (Dhammacakkhu) của bốn vị kia cũng không còn vướng bụi. Cả bốn vị đều thành đạt tri kiến vô-nhiễm và chứng ngộ rằng " cái gì đã có sanh tức phải hoại diệt " (có nghĩa đã đắc quả Tu-Ðà-Hườn). Thấy tất cả năm vị đã sẵn sàng lãnh hội Ðức Thế-Tôn giảng bài Pháp thứ nhì, được biết là Anatta Lakkhana Sutta, Kinh Vô-Ngã Tướng. Nghe xong thời Pháp cả năm vị đều chứng đạo quả A-La-Hán. Thời Pháp này được ghi trọn vẹn trong bộ Digha Nikãya (Trường A Hàm), tập Mahã Vagga và trong bộ Samyutta Nikãya (Tạp A Hàm), tập Khandha Vagga. Bài kinh quan trọng này có thể được phân giải như sau: 5.1. Phần Vô Ðề: "Tôi có nghe như vầy. Một thời nọ, lúc Ðức Thế-Tôn ngự tại vườn Lộc-Uyển, Isipatana (Chư Thiên Ðọa Xứ), gần Benarès (Ba-La-Nại). Ngài dạy nhóm năm vị đạo-sĩ như sau: ..." Trên đây là phần tuyên ngôn của vị Ðại-Ðức A-La-Hán Ànanda (A Nan) trong kỳ kết tập Tam-Tạng đầu tiên, trước năm trăm vị A-La-Hán đệ tử Phật. 5.2. Phần Thứ Nhất: "Này hỡi các Tỳ-Khưu , Sắc (Rũpa, chỉ cơ thể vật chất này) là Vô-ngã (Anattã, không có một linh hồn trường cửu). Này hỡi các Tỳ-Khưu, nếu trong sắc này có một bản-ngã (xem như một thực thể không biến đổi do Thần-Linh tạo nên hay phát xuất từ một Ðại Hồn, Paramatma, tinh hoa của Thần-Linh) thì sắc này ắt không phải chịu đau khổ. "Sắc này phải như vầy", "sắc này không nên như thế này", trường hợp tương-tợ có thể xảy ra. Nhưng vì sắc này không có bản-ngã nên nó còn phải chịu khổ đau và không thể có trường hợp ra lệnh, "cái này phải như thế này, cái này không được như thế kia". Cùng một cách ấy Ðức-Phật giảng giải từng điểm một, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, giống như Ngài giải về đoạn sắc ở trên và chỉ rõ rằng không có một bản-ngã hay một linh hồn vĩnh cửu trong uẩn nào. Nếu vật gì là của tôi, tôi phải có thể biến đổi nó ra thế nào hay sai khiến nó phải như thế nào, tùy theo ý tôi. Nếu "Sắc", hay cơ thể vật chất này là tôi thì tức nhiên tôi phải có khả năng làm cho nó phải như thế nào, mập hay ốm, to hay nhỏ, cao hay lùn... như ý tôi muốn. Nếu "Sắc" là của tôi, tức nhiên tôi phải có quyền năng sai khiến, truyền lệnh cho nó phải như thế nào, tùy theo ý muốn của tôi. Trên thực tế, có như vậy không? Ðược thọ thai là một tế bào vô cùng vi tế, "Sắc" nở nang dần đến lúc lọt lòng mẹ và từ đó, trưởng thành, khỏe mạnh lên, rồi bắt đầu suy yếu, tàn tạ đến già, đến ch?t và cuối cùng tan rã. Ðó là tiến trình biến đổi tự nhiên của sắc-uẩn, hay cơ thể vật chất này, mà dầu muốn dầu không tôi không thể làm cách nào khác. Với trí thông minh của con người đôi khi ta có thể sửa đổi một phần ít oi nào trong tiến trình biến đổi này. Nhưng dầu ta có uy quyền đến đâu, cũng không thể ra lệnh cho "Sắc", hay thân này, hãy dừng lại, đừng tiến triển nữa, hãy cưỡng lại định luật vô-thường, hãy đừng bệnh hoạn, đừng yếu đuối, đừng già nua, đừng chết, đừng tan rã. Một vua Tần-Thủy-Hoàng, có đầy đủ quyền uy của một quốc vương hùng cường, độc đoán cai trị một dân tộc lớn mạnh và văn minh nhất thời bấy giờ, vẫn không tìm đâu ra phương thuốc trường sinh bất tử. Chí đến Ðức-Phật và chư vị A-La-Hán, khi nào còn mang thân ngũ-uẩn, còn sống trong thế-gian hữu-vi, thì còn phải chịu định luật vô-thường chi phối. Ðức-Phật vẫn có một lương y tên Jĩvaka. Vậy ta không thể nói chính thân này là ta, ta là thân này, hay thân này là của ta. Kế đó là Thọ-uẩn. Thọ có ba: Thọ-lạc, Thọ-khổ và Thọ vô-ký. Khi Thọ-khổ phát sanh ắt ta không vui mà khát khao mong muốn cho nó chấm dứt. Ngược lại, khi Thọ-lạc đến, ta cố gắng bám níu, giữ chặt nó lại làm của riêng cho mình đời đời, giống như nắm lấy một nắm nước và đồng thời muốn giữ nước vĩnh-viễn nằm trong tay. Tại sao "Thọ' không thể tồn tại lâu dài? Bởi vì "Thọ" phát sanh do điều kiện: Sự tiếp xúc giữa căn và trần, như đã thấy ở phần trên, mà cả hai đều là pháp hữu-vi, luôn luôn biến đổi. Như vậy, nếu cố chấp Thọ là ta, ta là Thọ và mong muốn cho Thọ-lạc được trường tồn thì chắc chắn là ta phải thất vọng, đau khổ. Rồi đến Tưởng-uẩn, tri giác. Cũng như Thọ "Tưởng" là pháp hữu-vi, phát sanh do những gì trước đó tạo duyên. Tôi nghe một tiếng động, nhận ra là cánh cửa đập. Cái gì là nền tảng cho sự nhận ra, hay "Tưởng" ấy? Trước tiên tôi phải có lổ tai (Nhĩ-Căn), rồi phải có tiếng động (Nhĩ-Trần), chạm vào phần nhạy của lổ tai. Từ xúc chạm ấy phát sanh sự nhận ra là tiếng cánh cửa đập. Như vậy "Tưởng" không phải tự mình hiện hữu. Khi tiếng động chấm dứt, chập "Tưởng" ấy cũng chấm dứt. Như vậy, "Tưởng" không có khả năng tự mình tồn tại, mà luôn luôn tùy thế đổi biến. Ðến đây ta thấy rằng trong sắc cũng như trong Thọ, Tưởng, Hành, không có gì tồn tại vững bền, có thực chất hay chứa đựng gì có thể gọi là "Ta" hay "Bản-ngã" của ta. Còn uẩn thứ năm, Thức thì sao? Thức là tâm vương. Thọ, Tưởng, Hành là tâm sở. Theo định nghĩa: "Năm mươi hai trạng thái tâm đồng liên hợp với tâm vương, đồng sanh, đồng diệt với tâm vương, cùng có chung một đối tượng và cùng xuất nguyên từ một căn với tâm vương, được gọi là tâm sở (Cetasika)", thì Thức, tâm vương, không thể tồn tại riêng rẽ, không có Thọ, Tưởng và Hành mà tất cả đồng sanh, đồng diệt cùng một lúc. Do đó, Thức cũng phù-du, chỉ tồn tại trong một Sát-na tâm. 5.3. Phần Thứ Nhì: "Vậy chư Tỳ-Khưu nghĩ như thế nào, thân này thường còn hay Vô-thường? - Bạch Ðức Thế-Tôn, là Vô-thường (Anicca). Cái gì Vô-thường là Khổ đau hay hạnh-phúc? - Bạch Ðức Thế-Tôn, là Khổ. Vậy, có hợp lý chăng, nếu nghĩ đến cái gì Vô-thường, Khổ và tạm bợ phù du với ý tưởng, "cái này của tôi, đây là tôi, đây là linh hồn của tôi"? - Bạch Ðức Thế-Tôn, chắc chắn là không hợp lý". Trong phần trên ta thấy rằng từng uẩn một cũng như toàn thể năm uẩn đều không phải là "Ta" hay "của Ta". Ta không thể muốn nó phải như thế nào, cũng không thể sai khiến, cưỡng bách nó phải như thế nào. Ta không thể sửa đổi tính cách biến đổi không ngừng của nó. Nó không thể tồn tại y hệt trong hai khoảnh khắc kế tiếp. Ðoạn này Ðức-Phật nêu lên những câu hỏi để chính năm thầy Tỳ-Khưu khẳng định đặc tướng vô-thường của ngũ-uẩn. Rồi Ðức-Phật hỏi tiếp để năm thầy quả quyết rằng vô-thường là biến đổi, bất ổn định, không bền vững, không thể đưa đến hạnh-phúc thật sự, vững bền, ổn cố, lâu dài, mà chỉ có thể đưa đến bất toại nguyện, tức đau khổ. Cuối cùng Ngài đưa năm thầy đến kết luận rằng cái gì vô-thường, bất toại nguyện và phù du tạm bợ không thể có thực chất vững bền, không thể thật sự là "ai" hay "của ai". 5.4. Phần Thứ Ba: "Như vậy, này hỡi các Tỳ-Khưu, tất cả các sắc, dầu ở quá khứ, hiện tại hay vị lai, ở bên trong hay ở ngoài, thô kịch hay vi tế, thấp hèn hay cao thượng, xa hay gần, phải được nhận thức với tri kiến chân chánh theo thực tướng của nó, "cái này không phải của tôi, đây không phải là của tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". "Tất cả Thọ, Tưởng, Hành, Thức, dầu ở quá khứ... không phải là tự ngã của tôi". Ba đặc tướng liên quan với nhau rất mật thiết của đời sống là Vô-thường, Khổ, Vô-ngã. Bất luận đâu đâu, bất luận ở vào thời đại nào, ba đặc tướng này vẫn nổi bật một cách hiển nhiên trong thế-gian. Riêng phần đặc tướng Vô-ngã, Ngài dạy rằng dầu trong Tam Giới (Tại thế) hay ngoài (Siêu thế), không nơi nào có thể tìm ra một linh hồn, hay một bản-ngã, trường tồn bất biến. Kinh Dhammapada, Pháp Cú, có ghi ba câu kệ liên tiếp như sau:
Ta có thể thận trọng ghi nhận rằng trong hai câu đầu, Ðức-Phật dùng danh từ "Sankhãrã" có nghĩa là "pháp hữu-vi", hay vật hữu lậu, vật tùy thế, những gì được cấu thành do nhân và duyên. Trong thực tế "pháp hữu-vi" bao hàm tất cả những gì trong thế-gian hiện tượng này. Ðến câu thứ ba, Ðức-Phật dùng chữ "Dhamma", dịch là "pháp" mà ý nghĩa bao trùm cả hai: những pháp tại thế và những pháp siêu thế. Ðiều này có nghĩa rằng bất luận ở đâu, dầu ở trạng thái Niết-Bàn cũng không có một linh hồn trường tồn không biến đổi. Chẳng những không có cái "Ta" (Atmam) trong năm uẩn mà cũng không có trong bất cứ nơi nào khác. 5.5. Phần Thứ Tư: "Bậc Thánh đệ tử đã được giáo truyền đầy đủ thấy vậy thì nhờm chán Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; dứt bỏ, không luyến ái những gì không đáng được ưa thích và do sự dứt bỏ ấy, đã giải thoát. Rồi tri kiến trở nên sáng tỏ, "Ta đã được giải thoát". Vị ấy thấu hiểu rằng giòng sanh tử đã chấm dứt, đời sống phạm hạnh đã được thành tựu, những gì phải làm đã được hoàn tất viên mãn, không còn trở lại trạng thái này nữa". Vị đệ tử của Ðức-Phật đã được thọ huấn đầy đủ và thành đạt các từng Thánh, đã thấy rõ ba đặc tướng vô-thường, khổ, vô-ngã của đời sống nên nhờm chán, ghê sợ những kiếp sinh tồn, sinh tử, tử sinh, triền miên tiếp diễn trong vòng luân hồi. Sự ghê sợ và nhờm chán đã thúc đẩy Ngài quyết tâm dứt bỏ, không bám níu vào những gì huyền ảo, không thực, không đáng được ưa thích. Ngài không chấp ngã cho rằng "người làm điều này là tôi, cái gì làm việc kia là tôi, vì Ngài đã thấu triệt rằng không có người hành động mà chỉ có hành động, không có người tư-tưởng mà chỉ có sự tư-tưởng, chỉ có một luồng tâm-vật lý trôi chảy mà không có một thực thể đơn thuần nguyên vẹn. Hiểu biết như vậy Ngài không chấp ngũ-uẩn là mình, mình là ngũ-uẩn và do tri kiến sáng tỏ, giải thoát ra khỏi cảnh vô-thường và đau khổ. Ngài đã thành đạt Niết-Bàn, chấm dứt giòng sinh tử, tử sinh, từ phàm trở nên Thánh. Ðến đây, ta có thể thắc mắc: "Như vậy thì cái "Ta" nào mà sẽ gặt hái hậu quả của những hành động do cái "không phải là ta" ấy làm ra?" Hiểu theo nghĩa cùng tột và một cách chính xác, chính tâm sở Tác ý (Cetanã) tạo nghiệp, và Thọ (Vedanã) gặt quả. Ngoài ra không có "người" tạo nghiệp và "người" gặt quả. 5.6. Phần Thứ Năm: "Ðức Thế-Tôn giảng giải như vậy và các vị Tỳ-Khưu lấy làm hoan-hỷ, tán dương và thọ lãnh giáo huấn". VI. Tháo gỡ Thằng thúc Có mười thằng thúc (Samyojana, dây trói buộc, kiết sử) cột chặt chúng sanh vào vòng sinh tử luân hồi. Khi chứng ngộ Niết-Bàn lần đầu tiên hành giả được gọi là Tu-Ðà-Hườn (Nhập Lưu, Sotãpanna), người bước vào giòng suối chảy đến Niết-Bàn lần đầu tiên. Ngài đã dứt bỏ ba dây trói buộc là thân kiến (Sakkãya Ditthi ), ảo kiến về tự ngã của mình), hoài nghi (Vicikicchã, không quyết định, không dứt khoát tin tưởng nơi Phật, Pháp, Tăng) và giới cấm thủ (Sĩlabbata Parãmãsa, lầm lạc, tin tưởng những nghi thức tế lễ thần linh). Trong ba thằng thúc này thân kiến là dây trói buộc quan trọng nhất. Với vị hành giả đã dứt bỏ thân kiến, hay ngã kiến, mọi khái niệm có tính cách trí thức về một cái "Ta" đã tan biến. Ðặc tính của vị Tu-Ðà-Hườn là: Niềm tin nơi Tam-Bảo luôn luôn tiềm tàng vững chắc; không bao giờ phạm giới nào trong ngũ giới; không bao giờ còn tái sanh vào bốn khổ cảnh vì đã vững bước trên con đường giác ngộ. Ngài còn phải tái sanh trở lại vào cảnh người tối đa là bảy lần. Vị Tư-Ðà-Hàm (Sakadãgãmi, Nhất-Lai chỉ còn tái sanh trở lại một lần nữa mà thôi) làm giảm suy, chưa hoàn toàn dứt bỏ, hai thằng thúc Kãmarãga, lòng tham duyên theo Dục-giới và Patigha, bất toại nguyện, bất mãn, sân-hận). Vị A-Na-Hàm (Anãgãmĩ, Bất-Lai, trạng thái không bao giờ trở lại) tận diệt hai thằng thúc mà vị Tư-Ðà-Hàm chỉ làm giảm suy chớ chưa hoàn toàn tận diệt. Từ đây vị Thánh Bất-Lai không còn tái sanh trở lại vào cảnh người hay cảnh trời Dục-giới vì đã hoàn mãn tận diệt mọi tham ái duyên theo Dục-giới. Vị A-La-Hán tận diệt năm thằng thúc còn lại là Ái Sắc (Rũparãga, ham muốn duyên theo cảnh Sắc-Giới), Ái Vô-Sắc (Arũparãga, ham muốn duyên theo cảnh Vô-Sắc-Giới), Ngã-Mạn (Mãna), Phóng Dật (Uddhacca) và Vô-Minh (Avijjã). Nên ghi nhận rằng tất cả mười thằng thúc đều có liên quan đến cái "Ta". Tất cả là những khía cạnh khác nhau của cái "Ta" biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Trên con đường giải thoát, mười dây trói buộc (thằng thúc) phải được tháo gỡ và diệt trừ dần dần làm bốn giai đoạn. VII. Con đường thoát khổ Người kia nhà nghèo, có một con nhỏ và một túp lều ở vùng ngoại ô. Hôm nọ, anh đi làm để con ở nhà. Có tên gian manh, thừa lúc không ai, vào nhà định vơ vét tài vật. Nhưng khi lục soát cùng khắp mà không thấy gì đáng giá thì anh ta tức giận nổi lửa đốt nhà và dắt luôn đứa nhỏ đi theo. Ðến khi đi làm về người cha nghèo thấy nhà cửa chỉ còn là một đóng tro mà con thì đâu mất. Tin chắc rằng đứa nhỏ đã bị chết thiêu trong đám hỏa hoạn, anh moi đóng tro tàn để tìm những gì còn lại của đứa con yêu quý và bỏ vào bị. Kể từ đó anh luôn luôn mang theo mình cái bị và trum trủm giữ gìn như một bảo vật, ngủ cũng để bên mình và thiết tha trìu mến. Ngày tháng trôi qua, đứa bé lớn lên, tìm cách trốn tên gian manh tìm về với cha. Người cha đang ở trong nhà thấy có người đến tự giới thiệu là con mình thì lấy làm ngạc nhiên, quả quyết phủ nhận. Em nào phải là con tôi. Tôi chỉ có một con và chỉ vào bị anh khẳng định: đây là con tôi. Anh nhất quyết như vậy. Không làm sao giải thích cho anh biết rằng anh chỉ tưởng tượng là như vậy chớ kỳ thực tro kia không phải là con anh. Nghe qua câu chuyện có thể ta nghĩ rằng anh kia quá dại dột, quả thật là mê lầm. Ðúng vậy. Nhưng bất hạnh thay! Hầu hết chúng ta là như vậy và vì thế chúng ta còn ở đây. Chúng ta mãi mãi sống trong ảo mộng và cho đó là thực tế. Chúng ta sống với những khái niệm và quả quyết rằng đây là "Ta", kia là cha "của Ta", mẹ "của Ta", anh, chị, cô, bác, họ hàng "của Ta", nhà "của Ta", xe "của Ta"....trong khi "chính thân này còn không phải là ta thì con cái nào của ta? Sự nghiệp nào là của ta? Chắc mỗi người chúng ta còn nhớ rằng lúc thiếu thời, vào một buổi chiều nào đó, chúng ta nhìn lên trời thấy một cái móng (cầu vòng) màu sắc rực rỡ, đóng trên một vừng mây. Lúc ấy chúng ta rất cảm kích, tưởng chừng như mình có thể đến gần và sờ, nắm được cái móng, vì nó rành rạnh còn hơn rạn cây mờ mờ trong đám khói ở phía sau. Trên thực tế, nó không có gì thực chất mà chỉ là những làn ánh sáng chiếu xuyên qua triệu tỷ giọt nước ly ty, vởn vơ trong không gian. Từ thủa ấy đến nay còn biết bao lần khác, trong bao nhiêu trường hợp khác nhau, ta đã lầm tưởng cái giả là thực. Hằng ngày vào buổi sáng ta thấy mặt trời lú lên từ chân trời ở hướng Ðông và buổi chiều, sụp xuống ở hướng Tây. Một cách quy ước, ta đồng ý với nhau, nói là mặt trời mọc buổi sáng và lặn buổi chiều. Thực ra không có mặt trời mọc và mặt trời lặn mà chỉ có quả địa cầu vừa quây theo một trục, vừa vận chuyển chung quanh mặt trời. Chính giác quan hạn hẹp của chúng ta đã đưa chúng ta đến chỗ sai lầm. Ta có cảm tưởng là vậy nhưng thực tế không phải là như vậy. Hiểu một cách giản dị, đó là Vô-Minh (Avijjã, không minh mẫn, không sáng suốt), hay Si Mê (Moha, ảo kiến, thấy sai lầm). Trạng thái Si Mê bao phủ tâm như đám mây mù mịt làm cho tâm không thể thấy đúng thực tướng của sự vật là như vậy mà thấy bóng tưởng hình, thấy ảo tưởng thực, thấy những giọt nước kế tiếp trôi chảy tưởng là con sông, thấy những hột cát chồng chất trải dài tưởng là bãi biển, thấy những yếu tố luôn luôn biến đổi của ngũ-uẩn tưởng là "Ta", chấp ngũ-uẩn là "Ta", "Ta" là ngũ-uẩn. Và đó là nguồn gốc của tất cả những điều phiền phức, những mối lo âu, những quấy nhiễu, những điều bất hạnh, những trường hợp đau khổ. Tại sao? Khi cái được gọi là "Ta" bám níu, duyên vào người hay vật mà nó ưa thích tất có sự thân yêu, sự luyến ái hay trìu mến. Có phải chăng
Khi cái "Ta" bất mãn với người hay vật không ưa thích tất có sự ghét bỏ, giận dữ hay thù hận. Ðức-Phật dạy:
Và ở một trường hợp khác Ngài dạy:
Khi cái "Ta" thất bại tất có sự đau khổ, âu sầu, phiền muộn, hối hận và tuyệt vọng sâu xa, có thể đưa đến cảnh quyên sinh hay gây án mạng cho người khác. Khi cái "Ta" lâm nạn, tất có sự lo âu sợ sệt. Tại sao ta lo sợ? Phân tích đến mức cùng tột chỉ có một câu trả lời: chúng ta lo sợ vì mang nặng trong lòng những tư-tưởng "Ta" và "của Ta". Chúng ta trong mong chờ đợi, bồn chồn muốn cho ta và những gì ta yêu quý được chu toàn trong một thế-gian biến đổi. Kẽ nào dùng cát để cất nhà trên bãi biển phải nơm nớp lo sợ sóng biển. Kẻ nào lấy tiền của làm vật bảo đảm phải luôn luôn làm nô lệ cho tiền của. Kẻ nào tìm lẽ sống trong công cuộc làm ăn và để hết tâm trí vào đấy như một việc nhất quyết phải thành tựu cho kỳ được, kẻ ấy không thể yên ổn trong lòng. Vậy là ta lo sợ cho "Ta", cho tiền của "của Ta", cho con cái ta, bạn bè ta, cho những cái gọi là "của Ta". Khi cái "Ta" bị giới hạn trong ích kỷ hẹp hòi, tất có sự chia rẽ, ganh tỵ, thèm muốn, tham vọng. Khi cái "Ta" được thổi phòng, tự cao, tự đại, tất có ngã-mạn kiêu căng. Người thực hành Bát-Chánh-Ðạo, trang nghiêm trì giới, chuyên cần nhiếp tâm an trụ và phát triển trí tuệ minh sát sẽ thấu đạt thực tướng của vạn pháp và sẽ có quan điểm chân chính về kiếp sinh tồn. Người ấy nhận thức rằng tất cả sự vật trên thế-gian huyền-ảo và tạm bợ nhất thời này tựa hồ như "giọt sương buổi sáng, lóng lánh trên lá cây ngọn cỏ và sớm tan biến khi những tia nắng bình minh bắt đầu rọi xuống, như bong bóng nước, như lằng gạch trên mặt nước, như cái chớp trong đêm tối, như một khối bọt, như ảo cảnh, như giấc mơ..." Lúc bấy giờ người ấy đã vượt ra khỏi cái "Ta". Cái được gọi là "Ta" đã chan hòa và đồng nhất với tất cả, tất có lòng vị tha bất cầu lợi, có tình huynh đệ tương thân tương ái với tất cả chúng sanh, có tâm từ vô-lượng vô-biên, có lòng bi-mẫn dồi dào và có sự thuận hòa điều hợp với tất cả. Ánh Sáng, Trí-Tuệ dần dần đánh tan đêm tối của si mê, không còn tham ái, sân hận, người ấy đã thoát ra khỏi mọi hình thức ái dục, tiến đến đạo quả Thánh và cuối cùng, đến sự giải thoát toàn vẹn ra khỏi vòng luân hồi, khỏi mọi hình thức đau khổ, như lời Phật dạy:
Cũng vì lẽ ấy mà khi vị Bồ-Tát có danh hiệu là Quán Tự Tại thực hành sâu vào trí-tuệ Ba-La-Mật và soi thấy năm uẩn đều không thì tất cả khổ nạn đều qua: "Quán Tự Tại Bồ-Tát hành thâm Bát-Nhã Ba-La-Mật-Ða thời chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách".
Phạm Kim Khánh
|



