| Khổ Vui Tương Tức |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Học Tổng Quát | |||
| Viết bởi Thích Nhất Hạnh | |||
|
Vào thời Lý - Trần, Thiền tông ở Việt Nam rất vững chãi. Ðời Trần, pháp môn Niệm Bụt đã trở thành quan trọng. Tuệ Trung thượng sĩ và vua Trần Thái Tông đã tu thiền. Nhưng hai người đã bắt đầu thấy được sự quan trọng của pháp môn Tịnh Ðộ. Cho nên Trần Thái Tông đã nói về Tịnh Ðộ và Tuệ Trung thượng sĩ cũng đã nói về đức A Di Ðà. Chúng ta hãy nghe tổ tiên của chúng ta nói về Tịnh Ðộ. Trước hết, vua Trần Thái Tông, trong tác phẩm Khóa Hư Lục - đây là một tác phẩm của vua Trần Thái Tông viết về Thiền - đã viết: Chúng ta hãy nghe vua nói tiếp: “Nay hành giả muốn khởi Chánh niệm để dứt Tam nghiệp thì cũng cần mượn công phu Niệm Phật. Vì sao? Vì niệm Phật là dứt trừ được Tam nghiệp. Khi niệm Phật, thân ngồi ngay thẳng, không hành tà đạo, đó là dứt thân nghiệp. Miệng tụng chân ngôn (tức là danh hiệu Bụt), không nói lời tà ngữ, đó là dứt trừ khẩu nghiệp. ý duy trì tinh tấn mà không khởi tà niệm, đó là dứt trừ ý nghiệp.” Ðây là những giải thích rất đơn giản của vua Trần Thái Tông. Khi niệm Bụt, thân mình ngồi ngay thẳng, không làm những tà nghiệp, miệng mình không nói những lời ác độc, ganh ty thì cái đó cũng gọi là thiện niệm của thân và khẩu nghiệp. ý của mình không nghĩ đến chuyện ganh đua, sợ hãi, tham đắm và vì vậy, ý nghiệp của mình cũng thiện. Thân, khẩu, ý đều hướng về nẻo thiện, đó là kết quả của sự niệm Bụt. Ở đây, vua Trần Thái Tông nói về ba căn trí hay ba trình độ Niệm Bụt. Ðối với bậc thượng trí - bậc cao nhất, thì Bụt không phải là một thực thể ở ngoài, mà nằm ngay trong tâm mình. “Ðối với bậc thượng trí, tâm chính là Bụt, không cần thêm gì vào chủ thể niệm và đối tượng niệm là một không phải là hai thực thể tách rời nhan.” Năng niệm và sở niệm là một, tất cả đều ở trong tâm, và đối với bậc thượng trí, Tịnh Ðộ là Duy tâm Tịnh Ðộ, và A Di Ðà là bản thể vắng lặng, trong suất của tự tâm. Tổ tiên của chúng ta đã thấy được như thế. Nếu niệm Bụt mà niệm theo kiểu thượng thừa đó, thì Bụt không phải là một thực tại bên ngoài nữa mà Bụt ở trong tâm. Năng niệm và sở niệm (chủ thể Niệm Bụt và đối tượng là Bụt) không chia cách. Tuệ Trung thượng sĩ, nên là Trần Quốc Tung, anh ruột của tướng Trần Hưng Ðạo, cũng đã làm một bài kệ bốn câu như sau: Vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung thượng sĩ là hai cây đuốc sáng của Thiền học đời Trần. Cả hai đều có nói về Tịnh Ðộ và cái thấy của họ rất chín chắn. Ðối với những vị này, đức A Di Ðà cũng như cõi Tịnh Ðộ không phải là những thực tại nằm ngoài không gian mà là một thực tại nằm ngay Trăng thu ngự giữa trời cao rộng Trên kia có trăng và dưới này có biển lớn. Ði tới đâu ta cũng thấy bóng trăng chiếu xuống. Ðứng tại nơi này cũng thấy bóng trăng, đi tới một trăm cây số nhìn xuống cũng còn thấy bóng trăng. Bóng trăng ở khắp nơi, nghĩa là ánh sáng của trăng thu này không bị ngăn cách bởi không gian và thời gian, giống như pháp thân A Di Ðà trong ta luôn luôn có mặt không chỉ ở phương Tây mà ở khắp nơi. Trùng dương là biển rộng. Vì biển lặng nên mình thấy trăng thu có mặt khắp nơi. Ðó là hình ảnh mà thi sĩ dùng để diễn tả cái pháp thân A Di Ðà của ta. Ðó là quan niệm về A Di Ðà và Tịnh Ðộ của bậc thượng trí. “Ðối với bậc trung trí, cần mượn đến phương pháp Niệm Bụt, chuyên tâm tinh cần niệm trước nối tiếp niệm sau không vong thất, gián đoạn, khiến tự tâm thành ra thuần thiện, đưa hành giả trở về với chánh đạo”. Lúc đó hành giả từ nơi niệm trở về với vô niệm nghĩa là không cần phải niệm nữa mà ánh sáng của Bụt A Di Ðà vẫn hiện ra ở nơi tâm mình. “Ðối với bậc hạ trí, miệng phải chuyên niệm lời Bụt, tâm phải mong thấy tướng Bụt và phải nguyện sanh về nước Bụt. Ngày đêm siêng năng tu hành không thối chuyển, sau khi mạng chung, tùy thiện niệm của mình mà sanh về nước Bụt. Sau đó, được nghe chánh pháp do chư Bụt giảng dạy mà cũng chứng được quả vị Bồ đề. Ðây là sự thực hành Tịnh Ðộ của bậc hạ trí.” Hạ trí thì dùng cả thân, khẩu, ý để niệm Bụt nghĩa là phải niệm Bụt bằng miệng và tâm phải mong thấy tướng Bụt. Vì sao? Bậc hạ trí chưa có trí tuệ lớn để có thể thấy được đức A Di Ðà và Tịnh Ðộ chính là pháp thân của mình. Bậc hạ trí nghĩ rằng đức A Di Ðà và cõi Tịnh Ðộ là ở phương Tây và phải xử dụng danh hiệu “Nam mô Bụt A Di Ðà” hoặc “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Ðà Phật”. Họ phải xử dụng âm thanh niệm Bụt, phải nương vào hình ảnh của Bụt để có thể quán tưởng. Tại vì người sơ cơ cần có những hình ảnh và âm thanh làm điều kiện để duy trì chánh niệm. Và đối tượng của chánh niệm là Bụt A di Ðà và cõi Tịnh Ðộ ở phương Tây. Như vậy bậc thượng trí tu theo thượng trí, bậc trrng trí tu theo trung trí, bậc hạ trí tu theo hạ trí, tu tập theo bậc nào thì có lợi ích theo bậc đó. Do đó kinh A Di Ðà đáp ứng được cho cả ba trình độ tu tập, cho nên mình đừng bất buộc người khác phải thực tập Tịnh Ðộ giống hệt như mình. Ðây là điều hết sức tế nhị. Mình không có quyền nói rằng phương pháp thực tập của tôi mới đúng, còn phương pháp thực tập của anh là sai. Ta phải biết rằng mọi phương pháp tu tập chỉ là phương tiện đưa người thực hành đi tới với Tịnh Ðộ, hay đi tới với sự an toàn và hạnh phúc. Và mỗi người đi tới với Tịnh Ðộ tùy theo căn trí của mình. Căn trí đã khác nhau, người thì bắt đầu từ chỗ này, người thì bắt đâu từ chỗ kia. Vì vậy, nhận thức của mình về sự thực tập Tịnh Ðộ phải là một nhận thức rộng rãi mới được. Ðạo Bụt có tám mươi bốn ngàn pháp môn; nếu may mắn thì mình tìm ra được một trong các pháp môn ấy và sự thực tập đem lại cho mình hạnh phúc. (p25) Ta hãy cẩn thận đừng nói chỉ có pháp môn của ta mới đúng còn các pháp môn khác là không đúng. Nói như vậy là không hợp với tinh thần đạo Bụt. Vì vậy giáo lý Tịnh Ðộ có thể nói là một hình thức thực tập của Thiền. Tịnh có thể là Thiền mà Thiền cũng có nghĩa là Tịnh. Ðứng về phương diện Thiền ta có thể thấy rằng Tịnh Ðộ là một thực tại có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Khi mình bước đi những bước chân vững chãi và thảnh thơi, khi hơi thở của mình đưa lại sự vững chãi, thảnh thơi và đem lại an lạc thì Tịnh Ðộ hiện tiền ngay trong giây phút này. Vì vậy, mình không thấy sự khác biệt giữa Thiền và Tịnh. Khi xử dụng âm thanh để niệm Bụt, xử dụng hình ảnh để quán chiếu về Bụt mà ta có được một ít năng lượng Chánh niệm và Tam muội thì lúc đó Thiền đang có mặt trong ta. Như vậy Thiền và Tịnh chỉ khác nhau ở danh từ mà không khác nhau ở bản chất. Ta cần có cái nhìn tương tức như thế khi đi vào kinh văn: Tất cả những tên gọi này chúng ta đều có tiếng Phạn ở trong bản tiếng Anh. Nếu có thể được, thì quý vị hãy tân hiểu về từng người, tại vì trong kinh có ghi chép về từng vị. Chúng ta nghe tên quý vị nhưng chúng ta cũng phải biết sơ lược công hạnh của sự thực tập, cũng như bản tính của từng người. Hiện nay, chúng ta đã có những cuốn sách nói về quý thầy, và khi đọc những cuốn sách đó, chúng ta có một ít nhận thức về tánh tình, sự hành trì và trí tuệ của từng người . Sự hiểu biết như vậy là rất quý ! “Lại cũng có mặt các vị Bồ tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Ða, Càn Ðà Ha Ðề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị Bồ tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Ðề Hoàn Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt.” Tội nghiệp cho thi sĩ quá! Trong khi đó, với sự quán chiếu của tương tức, không thể có cái gọi là vui mà không đi theo cái gọi là khổ. Cũng như vậy, không thể nào có cái rác nào mà lại không thể biến thành hoa, cũng không thể nào có cái hoa nào mà lại không biến thành rác. Cũng như cái bên phải và bên trái. Nếu không có bên phải thì làm gì có bên trái, nếu không có bên trái thì làm gì có bên phải. Cái khổ với cái vui cũng vậy thôi. Mình đi tìm một cõi mà trong đó chỉ có cái vui mà không có khổ, đó có phải là một không tưởng không? ở đây, đức Thế Tôn có muốn hiến tặng cho chúng ta một cái không tưởng hay không? Nếu chúng ta không biết đói là gì, thì khi ăn cơm chúng ta sẽ không có hạnh phúc. Sở dĩ ăn cơm mà có hạnh phúc là vì chúng ta đã biết đói là gì. Hãy tưởng tượng một người chưa bao giờ biết đói. Người đó có ăn cái gì đi nữa, thì cũng không có hạnh phúc. Những người chưa bao giờ bị rét thì không thấy được cái hạnh phúc của người được mặc áo ấm, hoặc những người chưa bao giờ nếm mùi địa ngục thì không thể nào thấy được giá trị của Thiên đường. Rõ ràng là nếu chúng ta không biết khổ là gì thì chúng ta không thể nào biết vui là gì. Vì vậy một cõi không có khổ mà chỉ có vui là một cõi hoàn toàn không tưởng. “Dân chúng trong nước đó không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ an lạc, nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc. “ Câu đó có phải là một câu kinh “liễu nghĩa” hay không, hay là một câu kinh quyền nghĩa? Cho nên câu kinh này là một câu kinh có thể làm cho chúng ta mất ngủ. Sư em Kính Nghiêm có một đứa em gái tên là Ánh mười hai tuổi. Nó tới Làng Mai và tuyên bố một câu động trời: “Con muốn sống ở một nơi mà buổi sáng có hạnh phúc, buổi trưa có hạnh phúc, buổi chiều có hạnh phúc.” Theo ý nó thì chỉ có Làng Mai mới được như vậy thôi. Nếu ở lâu tại Làng Mai chừng ba, bốn tháng thì nó sẽ biết hạnh phúc ở chỗ là tuy mình có đau khổ nhưng nếu mình biết chuyển hóa đau khổ thì hạnh phúc sẽ có mặt. Cái khổ ở bên cạnh nhắc mình nhận diện ra hạnh phúc cũng ở bên cạnh. Nếu không có cái khổ đó thì mình không biết được là hạnh phúc đang có mặt. Do đó cõi Cực Lạc của chúng ta, nếu quả thực là một cõi Cực Lạc đúng theo nghĩa của nó, thì phải có những dấu hiệu của khổ đau để người ta được nhắc nhở rằng: Anh đang được hạnh phúc. Có rất nhiều người đang ở Thiên đường nhưng không biết là họ đang ở Thiên đường, tại vì họ không biết hoặc chưa biết khổ đau là gì. Xin đại chúng hãy tổ chức pháp đàm về câu kinh này. Ðọc câu kinh này, trước hết ta thấy được lòng từ bi của Bụt. Bụt thấy rằng con người yếu đuối, con người đau khổ, con người muốn chạy trốn khổ và Bụt nói rằng có một cõi, nơi ấy chỉ có hạnh phúc thôi, không có đau khổ. Ðây là một Hóa thành (a magic city) - một thành phố do nhà ảo thuật biến hiện ra để cho đoàn người , sau bao nhiêu ngày đi mệt mỏi, có một chỗ để mà nghỉ ngơi. Sau thời gian nghỉ ngơi, đoàn người đó có khả năng lên đường trở lại - đây là một hình ảnh trong kinh Pháp Hoa. Một đoàn người đang đi kiếm châu báu. Sau bao nhiêu tuần lễ trèo non, lặn suối , đoàn người đó mệt nhoài và trong tâm có người muốn thoái lui. Vị Ðạo sư - người dẫn đường - nói rằng: “Các người cố gắng đi, gần đây có một thành phố. Nếu chúng ta đi thêm bốn, năm giờ nữa thì chúng ta sẽ tới thành phố đó thì chúng ta sẽ được nghỉ ngơi, ăn uống, tắm rửa. Khi nghe như vậy, đoàn người có năng lượng thêm và họ đi thêm được bốn, năm giờ. Sau đó, người lãnh đạo dùng phép thần thông của mình biến hiện ra một thành phố gọi là Hóa Thành. Hóa tức là biến hiện. Tất cả những người kia thấy thành phố liền tìm nơi đi rửa chân, rửa mặt, tắm rửa, ăn uống, nằm ngủ. Sáng mai thức dậy, thì thành phố đó biến mất, vì thành phố đó chỉ là một hóa thành. Tôn giáo, nói chung, có mục đích là để an ủi con người, để làm dịu bớt những đan khổ của cuộc sống, hứa hẹn một nếp sống ít đau khổ, nhiều an lạc. Vì vậy tôn giáo hay cống hiến cho chúng ta một cái gọi là Thiên đường và cho chúng ta nuôi một niềm hy vọng. Ðạo Bụt cũng có thể được diễn tả như là một tôn giáo, nhưng sự thật đạo Bụt không phải chỉ là một tôn giáo. Ðạo Bụt còn là một nền đạo đức có nhiệm vụ đáp ứng lại những nhu yếu đích thực của con người. Và bản hoài của đức Thế Tôn là đưa ra những biện pháp cụ thể, giúp con người chuyển hóa khổ đau, đạt được an lạc. Ðó là cái chính. Nhưng con người còn có những nhu yếu khác nhu yếu bám víu vào một niềm tin, nhu yếu chạy trốn khổ đau. Có những người không đủ khả năng tu tập để chuyển hóa khổ đau, họ chỉ muốn chạy trốn khổ đau để tìm tới an lạc thôi. Vì vậy, đạo Bụt cũng phải tạo tác ra những phương tiện và những câu giải đáp cho những người đó. Ðạo Bụt không phải dành riêng cho bất cứ ai. Bậc thượng căn thượng trí không bị bỏ đã đành; bậc trung căn, trung trí không bị bỏ đã đành, mà bậc hạ căn, hạ trí cũng không bị bỏ. Cho nên chúng ta có thể hiểu được câu kinh này. Chúng ta thấy được lòng từ bi bao la của đức Thế Tôn trong câu kinh này. Ban đầu chúng ta nói câu kinh này không phải là một câu kinh liễu nghĩa, tại vì nếu là liễu nghĩa thì nó phải chứa đựng tuệ giác tương tức, nghĩa là không có cái này thì không có cái kia. Nếu chúng ta nhìn sâu hơn nữa vào những nhu yếu của con người, những nhu yếu đa dạng của con người, thì chung ta có thể hiểu được câu kinh này và câu kinh có thể được nhận thức là liễu nghĩa.
HT Thích Nhất Hạnh (thuvienhoasen.org)
|




