| Tổng thống Ấn Độ, Tiến sĩ Dayal Sharma, nói về triết học của Đức Phật |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Triết Học Phật Giáo | |||
| Viết bởi Thích Tâm Tịnh | |||
![]()
Các giá trị do Đức Phật giảng dạy như tình thương không biên giới, phục vụ nhân loại, sự bình đẳng và sự tôn trọng chân giá trị của con người- các giá trị phổ quát và có thể ứng dụng khắp nơi-đã cấu thành nên nền tảng đạo đức và luân lý vững chắc của xã hội của chúng ta, của quốc gia của chúng ta và của những đặc cách của chúng ta. Các giá trị này đã là những nguyên lý hàng đầu cho cuộc đấu tranh giành độc loập của đất nước chúng ta. Các giá trị ấy đã được thể hiện vào quốc hiệu của chúng ta, đầu cột Sư tử của đại đế A-dục, biểu tượng chủ quyền của đất nước Ấn Độ. Bốn con Sư tử hướng mặt về bốn phương tượng trưng cho thông điệp của Ấn Độ, thông điệp của Phật giáo, gởi đến nhân loại xưa và nay. Bánh xe cuộc đời, qui luật và chánh pháp (Dharmachakra) của Phật giáo đã trang hoàng cho quốc kỳ của Ấn Độ. Thông điệp của Như Lai trở nên quan trọng không chỉ cho từng hành vi của từng cá nhân mà hơn thế, là thước đo cho sự tương quan giữa con người với con người. Thông điệp ấy vô cùng quan trọng cho quốc gia và xã hội của chúng ta, cho mối bang giao giữa các quốc gia trên thế giới, và trên thực tế, cho toàn thể nhân loại. Đức Phật Thích Ca đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tâm trong tư duy và hành động của con người. Hành vi chân chánh chỉ có thể có được bằng sự thanh lọc tâm. Suốt cuộc đời hoằng pháp không mệt mỏi của Đức Phật, ngài đã chứng minh bằng chính cuộc sống của ngài rằng con đường giải thoát chính mình, giác ngộ và niết-bàn chỉ có thể đạt được bằng sự thanh lọc tâm. Cặp kệ đầu tiên của Kinh Pháp Cú, bộ Kinh quan trọng như Kinh Thánh của các tôn giáo khác, phản ánh rất rõ điều này: “Tâm dẫn đầu các hiện tượng tâm lý; tâm làm chủ và tâm tác tạo tất cả. Do đó, nếu con người nói năng hay hành động với tâm bất thiện, khổ báo sẽ lê bước theo sau như bánh xe lăn theo dấu chân của bò kéo xe”. Đó là bối cảnh Đức Phật truyền bá triết học hành vi và tư tưởng lý trí. Ngài khuyên tất cả mọi người nên áp dụng các tiêu chuẩn của lý trí và lôgíc vào những hình thái triết học, ý niệm và những phương thức hành trì, ngay cả những giáo huấn của chính ngài. Trong Kinh bộ Tăng chi, đức Phật dạy dân tộc Kalama rằng: Đó là nguyên lý của một đức tin lý trí và khoa học, đặt nền tảng trên phân tích và thể nghiệm. Ngài dạy ngay cả lời dạy của ngài cũng không nên chấp nhận với một thái độ thiếu nhận thức và không đặt vấn đề. Trong Kinh Tương Ưng, ngài dạy rằng: Tinh hoa triết học của Đức Phật được thể hiện trong và tuôn trào từ suối nguồn Trung đạo qua bài Kinh Chuyển pháp luân. Tại đây, trong vườn nai của đất thiêng Sarnath, ngài đã dạy chúng ta: Tương tự Đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của sự kiểm thúc thân tâm qua các kệ pháp Cú thứ 360 và 361: Các nguyên tắc đạo đức của Phật giáo thích ứng không chỉ cho từng cá nhân mong muốn chấm dứt khổ đau và đạt được niết-bàn nhưng đồng thời cũng nhằm mang lại sự tiến bộ và thịnh vượng chung cho toàn nhân loại. Đối với một quốc gia, con đường trung đạo là tiến trình chính trị dựa trên đối thoại, hợp tác và hòa giải lẫn nhau. Nó nhằm hướng đến sự thống nhất và vì lợi ích lớn nhất cho số đông. Nó đòi hỏi những tranh luận và thảo luận dân chủ dựa trên tư duy lý trí và lôgíc để nhằm đạt đến sự nhất trí về những vấn đề liên hệ đến xã hội và con người. Trong Kinh Đại bát niết-bàn, thuộc Kinh Trung bộ, Đức Phật dạy về một xã hội dân chủ. Tôi xin được trích dẫn ra đây một đoạn Kinh trong bài Kinh trên để trình bày điều tôi cho là vô cùng quan trọng đối với tất cả chúng ta, những người đang nổ lực để đạt được tiến bộ trên con đường dân chủ. Mỗi tư tưởng trong đoạn Kinh này chứa đựng đầy ý nghiã sâu xa, đáng để phân tích và ứng dụng: Cách thế tiếp cận dân chủ là nhằm bắt cầu và hòa giải những dị biệt về quan điểm, ngay cả đối với những quan điểm sung đột bạo động, thông qua đối thoại. Đây là điều Đức Phật đã khuyên dạy chúng ta trong Kinh pháp Cú: Một trong những giáo nghiã thiêng liêng của con đường sống dân chủ đặt trên nền tảng lý trí và lôgíc do Đức Phật chỉ dạy là Ahimsa, tinh thần bất bạo động và yêu chuộng hòa bình. Và do đó, truyền thống đạo Phật mở rộng và tôn trọng các dòng tư tưởng và triết học khác nhau trên thế giới: Tôi nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta nên tìm kiếm những chất bổ dưởng tinh thần từ những lời dạy vàng son của Đức Phật và ứng dụng chúng vào cuộc sống thường nhật của chúng ta bằng tất cả lòng nhiệt thành, tinh tấn trong hành vi và nếp nghĩ của chúng ta. Gắn liền với phương thức tiếp cận lý trí, trung đạo và hòa hợp này là sự tôn trọng chân giá trị của con người và tình thương yêu rộng lớn đối với tất cả chúng sanh. Theo Đức Phật, tất cả mọi người sanh ra đều bình đẳng. Tất cả chúng sanh trên hành tinh này đều cảm nhận đau khổ và tất cả đều có quyền giải thoát, chứng đắc niết-bàn ngay tại thế. Ngài phản đối hệ thống giai cấp bất công, phi đạo đức và những cấu trúc thế tập bám rễ nhiều đời, những thứ giết chết tính sáng tạo và tiến bộvà làm cho con người chống trái lẫn nhau. Trong Kinh Suttanipata, Đức Phật đã giảng dạy rằng chính hành vi của con người thông qua lời, ý nghĩ, việc làm, làm cho con người trở nên cao thượng hay hèn hạ, chứ không thể do di truyền, gia thế hay giai cấp. Lời dạy tương tự cũng được Đức Phật mô tả trong những vần kệ pháp Cúsau đây: Người lành dù ở xa, Thực ra, Đức Phật đã sử dụng ngôn ngữ và thành ngữ của người thường dân để giải thích những khái niệm sâu xa nhằm giúp cho người nghe có thể dễ dàng lãnh hội được liền những gì ngài giảng dạy. Các dụ ngôn, các phép so sánh và tục ngữ liên hệ đến cuộc sống đời thường của người dân, chẳng hạn như hương thương của các loài hoa, hình ảnh ngọn núi sừng sửng...trong Kinh Pháp Cú, đã giúp cho triết lý của ngài gần gủi với con người hơn. Đức Phật sử dụng biểu tượng bánh xe đơn giản để dụ cho chân lý cao siêu của ngài. Ngài dạy rằng các cây căm của bánh xe được ví như những điều lệ của hành vi trong sáng, công lý là sự hợp nhất của các cây căm đơn lẻ ấy, trí tuệ là sự nhẫn nại và khiêm cung, và chánh niệm là trục quay của cả bánh xe. Sự bênh vực quyền lợi cho những giai cấp bị chà đạp và tình thương yêu bao la đối với tất cả chúnh sanh của đạo Phật cũng còn được phản ảnh qua sự hảo tâm và bố thí. Một tặng phẩm không chỉ đơn thuần là một từ thiện mà còn là nơi thể hiện cả một tấm lòng. Tặng phẩm không chỉ là vật chất mà còn là giáo pháp. Chúng ta cần phải phát huy tinh thần trách nhiệm giúp đỡ người khác, nhất là người lâm vào cảnh đau khổ và đang cần sự giúp đỡ.. Có thể nói người học trò năng động và nổi tiếng nhất của những lời dạy của Đức Phật, đại đế A-dục, đã làm nhiều công trình phúc lợi cho đa số trong suốt những năm tháng trị vì của mình. Ông đã đào đê dẫn nước vào ruộng đồng, xây dựng bệnh viện, cất nhà tình thương, xây dựng cầu đường như là một phần trách nhiệm và Dharma của mình. Phục vụ nhân bản đã trở thành yếu tố trọng tâm của quốc tuý chúng ta. Chúng ta nên làm sống dậy và phát huy truyền thống này bằng cách truyền bá rộng rã lời dạy của Đức Phật. Bởi lẽ, nói cho cùng, chúng ta chỉ có thể phát triển một quốc gia khi chúng ta thay đổi được cuộc sống khốn khó của những người cùng đinh, người bị áp bức và bị chà đạp. Phật giáo, trong Ấn Độ cận đại, đã khải bản hợp âm sâu xa, và dưới sự lãnh đạo tài tình của Bồ-tát sống Babasaheb Ambedkar đã trở thành lực lượng nồng cốt trong tiến trình giải phóng và tiến bộ xã hội Ấn Độ. Những lời dạy của Đức Phật về hòa bình và bất bạo động, bình đẳng và tôn trọng chân giá trị con ngừơi đã ảnh hưởng sâu xa đến những bậc lãnh tụ chính trị đại tài của thế kỷ 20 này. Mahatma Gandhi đã chuyển triết học bất bạo động của Đức Phật thành năng lực đạo đức và luân lý hùng mạnh và đem lại độc lập tự do cho dân tộc Ấn. Pandit Nehru đã ứng dụng triết lý này trong lãnh vực quốc tế và đem lại sự tôn quý của quốc tế đối với quốc gia và quốc tuý củaa chúng ta. Ông còn ứng dụng triết lý này qua mối tương giao quốc tế trên nến tảng của các nguyên lý cùng tồn tại hòa bình, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không xăm lăng và không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nhau. Khái niệm bình đẳng chủ quyền của các quốc gia và sự tương tác trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau cho các hệ thống xã hội, ý thức hệ vàvăn hóa khác nhau đã được đưa vào Hiến chương của Liên hợp quốc. Sự ứng dụng các chuẩn mực của lý trí và giá trị của những vấn đề liên hệ quốc tế đã trở thành tiêu chuẩn đo lường chất lượng cho chính sách không liên minh của chúng ta. Trong thời cận đại, khi sự tương thuộc lẫn nhau phát triển và thế giới được thu nhỏ thành ngôi làng quốc tế với những phương tiện thông tin đại chúng tốc độ, chúng ta cần phải giữ gìn gốc rễ quốc tuý của chúng ta và kiên định trong việc duy trì, bảo vệ và nâng cao sự an ninh và lợi ích quốc gia chúng ta. Trong khi chủ chương mở rộng những phát triển mới về khoa học, kỹ thuật và các lãnh vực khác nhằm đóng góp vào tiến trình tiến bộ quốc gia, đất nước chúng ta đã phục hồi thật nhanh đủ để chống lại các áp lực làm yếu chúng ta. Trong mỗi việc làm của chúng ta, chúng ta cần phải duy trì hòa bình, bất bạo động, giải trừ quân bị và phát triển toàn thế giới. Một trong những khía cạnh quan trọng của Phật giáo thích ứng với sinh viên của các Đại học và các viện nghiên cứu là đặt nặng vào sự theo đuổi cái toàn thiện. Thiết chế của tăng-già đã truyền sức sống và năng lực vào đời sống giai điệu của tu viện và Đại học. Và điều này đã ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống thế tục. Hệ thống giáo dục đã thúc đẩy các tiêu chuẩn thành tựu cao không chỉ đơn thuần ở mặt tinh thầnvà tri thức nhưng cũng còn ở các phương diện khác nhau của nghệ thuật, họa, điêu khắc, văn học, y học, công nghệ, thiết kế và kiến trúc, như Đức Phật đã dạy trong Kinh Pháp Cú: Nét đẹp của kiến trúc hang động và tranh vẽ của Ajanta và sự lộng lẫy của các tháp tại đây và ở Sanchi hoặc sự trang nghiêm của cung điện Potala ở Lhasa, chứng minh cho sự nỗ lực vì sự hoàn thiện này. Hệ thống giáo dục của các Phật học viện Phật giáo đã khai sanh các trường đại học vĩ đại và nổi tiếng khắp thế giới như Nalanda, Vallabhi và Vikramshila. Các học giả Trung quốc như Huyền Trang, Pháp Hiền đã ghi lại một ảnh hưởng rộng rải của các trường đại học này. Chủ tịch của trường đại học Vikramshila, tôn giả Dipankar Srijnana hay Atisa, đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc truyền bá Phật giáo ở Tây Tạng và tài trợ cho việc phiên dịch các tác phẩm Phật học ra tiếng Tây Tạng. Nhiều quyển trong số các tác phẩm đó đã không còn nguyên bản nhưng lại còn được duy trì tốt trong bản Tây Tạng. Có một vấn đề tôi muốn khuyên các bạn đó là chúng ta hãy nổ lực tìm hiểu cả hai phương ngoại lai và bí truyền của Phật giáo. Đó chính là các phương diện huyền thoại của lời Phật dạy, nhiều trong số đó đã hình thành nên khối tổng thể của Phật giáo Tây Tạng, điều cần phải được phân tích, phiên dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau và cần được trình bày qua ngôn ngữ giản dị cho quần chúng. Sự đầu tư sớ giải về các phương diện khác nhau của triết học Phật giáo sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn nội dung, sự hành trì và nhận chân đúng nguyên lý giảng dạy của Đức Phật ở các nước khác nhau. Trước khi kết buổi nói chuyện này, tôi xin nhấn mạnh ở đây rằng chính Mahatma Gandhi, vị lãnh tụ đại tài của dân tộc Ấn Độ, cũng đã nói về thông điệp của Đức Phật trong bài viết của mình “ Young India” vào ngày 24/10/1927 như sau: Như các vị đại đệ tử của Đức Phật, như các sứ giả của đại đế A dục và như các tiếng rống sư tử của Sarnath, tôi chân thành chúc các bạn thành công trong việc truyền bá thông điệp vì hạnh phúc cho đa số vì an lạc cho đa số của Đức Phật, thông điệp hòa bình, hòa hợp và tình huynh đệ giữa con người với con người, quốc gia với quốc gia và giữa các dân tộc trên thế giới.
Thích Tâm Tịnh dịch từ University News, a Weekly journal of Higher Education, October 7,1996, pp20-26
|




