Kinh Pháp Hoa 262

Tâm nguyện của Phật là tâm nguyện khắp độ chúng sanh đạt thành đạo quả giác ngộ. Bởi thế nên ngay quyển đầu của kinh về Phẩm Phương Tiện đã nói: "Phật ra đời là vì một nhơn duyên lớn duy nhất là khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật". Thế nghĩa là Phật rộng mở phương tiện pháp môn, chỉ bày chơn tâm Phật tánh để chúng sanh tin tưởng khả năng thánh thiện của mình mà tiến tu đến Phật quả.

Phương tiện của Phật là phương tiện huyền diệu được sanh trưởng và dinh dưỡng bởi trí tuệ từ bi hỷ xả lợi tha có khả năng đưa tất cả chúng sanh đồng chứng nhất thừa Phật quả. Ðức Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Ta là Phật đã thành. Chúng sanh là Phật sẽ thành, nếu chúng sanh tinh tấn nỗ lực tu hành thì cũng sẽ thành Phật như ta vậy. Nhưng chúng sanh đắm chìm trong ngũ dục lạc, nên tạo nhiều tội lỗi để rồi hiện thành căn tánh cao thấp, nghiệp duyên nặng nhẹ khác nhau. Ðức Phật lại phải từ đó mà lập ra có muôn ngàn phương tiện để hóa độ. Nghĩa là từ nhứt thượng thừa mà đức Phật đã phải phương tiện huyền khai làm thành ba thừa để rồi sau đó, khi căn tánh chúng sanh thuần thục Ngài lại dần dần đưa lên nhứt thừa Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Hai mươi tám phẩm Kinh Pháp Hoa chan chứa tâm hạnh của Phật và Ðại Bồ Tát, trải dài những con đường phương tiện giáo hóa thênh thang ngõ hầu mang chúng sanh từ phàm đến thánh, từ tam thừa Thinh Văn Duyên Giác và Bồ Tát đến quả vị nhứt thừa vô thượng Phật quả.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập

Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội . PL 2545. DL 2001

(Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập thứ 9, Pháp Hoa bộ, số hiệu 262, bảy quyển, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Diêu Tần Cưu Ma La Thập dịch. Nguyên bản tiếng Việt không có mục lục, chúng tôi thêm phần mục lục. Ngoài ra có rất nhiều bản dịch toàn kinh cũng như dịch từng phẩm riêng rẻ trong tập 9 của CTTĐT.)

Mục Lục:

Nghi Khai Kinh

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Nhất

Gồm 2 phẩm:

1/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tựa” Thứ Nhất

2/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phương Tiện” Thứ Hai

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Hai

Gồm 2 phẩm:

3/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thí Dụ” Thứ Ba

4/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tín Giải” Thứ Tư

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Ba

Gồm 3 phẩm:

4/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Dược Thảo Dụ” Thứ Năm

6/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thọ Ký” Thứ Sáu

7/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Hóa Thành Dụ” Thứ Bảy

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Tư

Gồm 6 phẩm:

8/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ngũ Bá Ðệ Tử Thọ Ký” Thứ Tám

9/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thụ Học Vô Học Nhân Ký” Thứ Chín

10/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Pháp sư” Thứ Mười

11/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Hiện Bửu Tháp” Thứ Mười Một

12/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ðề Bà Ðạt Ða” Thứ Mười Hai

13/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Trì” Thứ Mười Ba

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Năm

Gồm 4 phẩm:

14/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “An Lạc Hạnh” Thứ Mười Bốn

15/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tùng Ðịa Dũng Xuất” Thứ Mười Lăm

16/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Như Lai Thọ Lượng” Thứ Mười Sáu

17/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phân Biệt Công Ðức” Thứ Mười Bảy

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Sáu

Gồm 6 phẩm:

18/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tùy Hỉ Công Ðức” Thứ Mười Tám

19/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Pháp sư Công Ðức” Thứ Mười Chín

20/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thường Bất Khinh Bồ tát” Thứ Hai Mươi

21/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Như Lai Thần Lực” Thứ Hai Mươi Mốt

22/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Chúc Lụy” Thứ Hai Mươi Hai

23/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Dược Vương Bồ tát Bổn Sự” Thứ Hai Mươi Ba

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Bảy

Gồm 5 phẩm:

24/ Phẩm “Diệu Âm” Thứ Hai Mươi Bốn

25/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn” Thứ Hai Mươi Lăm

26/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ðà La Ni” Thứ Hai Mươi Sáu

27/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương bổn sự” Thứ Hai Mươi Bảy

28/ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát” Thứ Hai Mươi Tám

Nghi Hồi Hướng

Nghi Khai Kinh

Nghi Thức Sám hối Trước Khi Tụng Kinh

(Dùng ba nghiệp thân, khẩu, ý thanh tịnh mà tụng kinh, thời phước đức vô lượng, nên trước khi tụng kinh cần phải Sám hối, Sám hối tức là làm cho 3 nghiệp thanh tịnh)

Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Chư Phật. (1 lạy)

Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Tôn Pháp. (1 lạy)

Nam mô thập phương tận hư không giới nhứt thiết Hiền Thánh Tăng (1 lạy)

(Quì, tay cầm hương cúng dường phát nguyện)

Nguyện mây hương mầu này

Khắp cùng mười phương cõi

Cúng dường tất cả Phật.

Tôn Pháp, các Bồ tát,

Vô biên chúng Thanh văn

Và cả thảy Thánh hiền

Duyên khởi đài sáng chói

Trùm đến vô biên cõi,

Khắp xông các chúng sanh

Ðều phát lòng Bồ đề,

Xa lìa những nghiệp vọng

Trọn nên đạo Vô thượng.

(cầm hương lạy 1 lạy)

(Ðứng chắp tay xướng)

Sắc thân Như Lai đẹp

Trong đời không ai bằng

Không sánh, chẳng nghĩ bàn

Nên nay con đảnh lễ.

Sắc thân Phật vô tận

Trí tuệ Phật cũng thế

Tất cả Pháp thường trụ

Cho nên con về nương.

Sức trí lớn nguyện lớn

Khắp độ chúng quần sanh

Khiến bỏ thân nóng khổ

Sanh kia nước mát vui.

Con nay sạch ba nghiệp

Qui y và lễ tán

Nguyện cùng các chúng sanh

Ðồng sanh nước An Lạc.

Án phạ nhựt ra vật. (7 lần)

Chí Tâm Ðảnh Lễ:

(Câu này thông cả 9 câu dưới, đều xướng ở đầu câu)

Thường tịch quang Tịnh độ

A Di Ðà Như Lai

Pháp thân mầu thanh tịnh

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Thật báo trang nghiêm độ

A Di Ðà Như Lai

Thân tướng hải vi trần

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Phương tiện thánh cư độ

A Di Ðà Như Lai

Thân trang nghiêm giải thoát

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

A Di Ðà Như Lai

Thân căn giới Đại thừa

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

A Di Ðà Như Lai

Thân hóa đến mười phương

Khắp pháp giới chư Phật. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Giáo hạnh lý ba kinh

Tột nói bày ý chánh

Khắp pháp giới Tôn Pháp. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Quán thế Âm Bồ tát

Thân tử kim muôn ức

Khắp pháp giới Bồ tát. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Ðại Thế Chí Bồ tát

Thân trí sáng vô biên

Khắp pháp giới Bồ tát. (1 lạy)

Cõi An Lạc phương Tây

Thanh tịnh đại hải chúng

Thân hai nghiêm: Phước, trí

Khắp pháp giới Thánh chúng. (1 lạy)

(Ðứng chắp tay nguyện)

Con nay khắp vì bốn ơn ba cõi cùng chúng sanh trong pháp giới, đều nguyện dứt trừ ba chướng (1) nên qui mạng (2) Sám hối(3)

(1 lạy quỳ chắp tay Sám hối)

Chí Tâm Sám hối:

Ðệ tử... và chúng sanh trong pháp giới, từ đời vô thỉ nhẫn đến ngày nay, bị vô minh che đậy nên điên đảo mê lầm, lại do sáu căn ba nghiệp (4) quen theo pháp chẳng lành, rộng phạm mười điều dữ cùng năm tội vô gián (5) và tất cả các tội khác, nhiều vô lượng vô biên nói không thể hết. Mười phương các đức Phật thường ở trong đời, tiếng pháp không dứt, hương mầu đầy lấp, pháp vị ngập tràn, phóng ánh sáng sạch trong chiếu soi tất cả lý mầu thường trụ đầy dẫy hư không.

Con từ vô thỉ đến nay, sáu căn che mù, ba nghiệp tối tăm, chẳng thấy, chằng nghe, chẳng hay chẳng biết, vì nhân duyên đó trôi mãi trong vòng sanh tử, trải qua các đường dữ (6) trăm nghìn muôn kiếp trọn không lúc nào ra khỏi.

Kinh rằng: “Ðức Tỳ Lô Giá Na thân khắp cả chỗ, chỗ của Phật ở gọi là Thường Tịch Quang, cho nên phải biết cả thảy các pháp đều là Phật pháp, mà con không rõ lại theo giòng vô minh, vì thế trong trí Bồ đề mà thấy không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc. Nay mới tỏ ngộ, nay mới chừa bỏ ăn năn, phụng đối trước các đức Phật và A Di Ðà Thế Tôn mà pháp lồ (7) Sám hối làm cho đệ tử cùng pháp giới chúng sanh, tất cả tội nặng do ba nghiệp sáu căn, gây tạo từ vô thỉ, hoặc hiện tại cùng vị lai, chính mình tự gây tạo hoặc biểu người, hay là thấy nghe người gây tạo mà vui theo, hoặc nhớ hoặc chẳng nhớ, hoặc biết hoặc chẳng biết, hoặc nghi hoặc chẳng nghi, hoặc che giấu hoặc chẳng che giấu, thảy đều được rốt ráo thanh tịnh.

Ðệ tử Sám hối rồi, sáu căn cùng ba nghiệp trong sạch, không lỗi lầm, căn lành tu tập cũng trọn thanh tịnh, thảy đều hồi hướng dùng trang nghiêm Tịnh độ khắp với chúng sinh, đồng sanh về nước An Dưỡng.

Nguyện đức A Di Ðà Phật thường đến hộ trì, làm cho căn lành của đệ tử hiện tiền tăng tấn, chẳng mất nhân duyên Tịnh độ, đến giờ lâm chung, thân an niệm chánh, xem nghe đều rõ ràng, tận mặt thấy đức A Di Ðà cùng các Thánh chúng, tay cầm đài hoa tiếp dẫn đệ tử, trong khoảng sát na sanh ra trước Phật, đủ đạo hạnh Bồ tát, rộng độ khắp chúng sanh đồng thành Phật đạo.

Ðệ tử Sám hối phát nguyện rồi qui mạng đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới, đại từ đại bi, A Di Ðà Như Lai, biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy) (lạy xong tiếp Nghi Thức tụng kinh )

Thích Nghĩa Sám Pháp

(1) Phiền não, nghiệp nhân, quả báo ba món đều hay làm chướng ngại đường giải thoát nên gọi: “Ba món chướng.”

(2) Ðem thân mạng về nương, giao phó cho Phật, Pháp, Tăng chính là nghĩa của hai chữ “Nam mô”.

(3) Nói đủ là Sám ma hối quá. “Sám ma” là tiếng Phạm, nghĩa là “hối quá”, tức là ăn năn tội trước, ngừa giữ lỗi sau.

(4) Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý: sáu căn, và ba nghiệp: thân, khẩu, ý.

(5) Giết cha, giết mẹ, giết thánh nhơn, ác tâm làm thân Phật ra máu, phá hòa hiệp Tăng, gọi là năm tội Nghịch, nếu phạm sẽ bị đọa vào ngục Vô gián nên gọi là tội Vô gián Địa ngục. Vô gián là chỗ thọ khổ không có lúc nào ngừng ngớt.

(6) A tu la, Súc sanh, Ngạ quỉ, Ðịa ngục, các đường đó vui ít khổ nhiều, do nghiệp dữ cảm ra.

(7) Bày lộ tội lỗi ra trước Chúng Nhơn không chút giấu che thời gọi là phát lồ, trái với phú tàng (che giấu). Có phát lồ thời tội mới tiêu, như bịnh cảm mà đặng phát hạn (ra mồ hôi).

Nghi Thức Trì Tụng

Bài Tán Lư Hương:

Lò hương vừa nhen nhúm

Pháp giới đã được xông

Các Phật trong hải hội đều xa hay

Theo chỗ kết mây lành

Lòng thành mới ân cần

Các Phật hiện toàn thân.

Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Chân Ngôn Tịnh Pháp Giới:

Án lam (7 lần)

(Trì chú này thì thân tâm, cảnh vật đều thanh tịnh)

Chân Ngôn Tịnh Khẩu Nghiệp:

Tu rị tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị Ta bà ha. (7 lần)

(Trì chú này thì hơi miệng trong sạch)

Chân Ngôn Tịnh Ba Nghiệp:

Án ta phạ, bà phạ thuật đà ta phạ, đạt mạ ta phạ bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

(Trì chú này thì thân miệng lòng đều trong sạch)

Chân Ngôn Phổ Cúng Dường:

Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

(Trì chú này thì hoa hương cùng tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng dường cả mười phương)

Văn Phát Nguyện:

Nam mô Thập phương Thường trụ Tam bảo. (3 lần)

Cúi lạy đấng Tam giới Tôn,

Qui mạng cùng mười phương Phật

Con nay phát nguyện rộng

Thọ trì kinh Pháp Hoa

Trên đền bốn ơn nặng

Dưới cứu khổ tam đồ (Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục)

Nếu có kẻ thấy nghe

Ðều phát lòng Bồ đề

Hết một báo thân này

Sanh qua cõi Cực Lạc.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần)

Bài Khai Kinh

Pháp vi diệu rất sâu vô lượng

Trăm nghìn muôn ức kiếp khó gặp

Con nay nghe thấy được thọ trì

Nguyện hiểu nghĩa chơn thật của Như Lai.

Bài Khen Ngợi Kinh

Hơn sáu muôn lời, thành bảy cuốn

Rộng chứa đựng vô biên nghĩa mầu

Trong cổ nước cam lộ rịn nhuần

Trong miệng chất đề hồ nhỏ mát

Bên răng ngọc trắng tuôn Xá lợi

Trên lưỡi sen hồng phóng hào quang

Dầu cho tạo tội hơn núi cả

Chẳng nhọc Diệu Pháp vài ba hàng.

Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát. (3 lần)


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Nhất

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tựa” Thứ Nhất

1. Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ đức Phật (2) ở trong núi Kỳ Xà Quật, nơi thành vương xá cùng chúng đại Tỳ kheo một muôn hai nghìn người câu hội. Các vị đó đều là bực A La Hán, các lậu (3) đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong (4) dứt sự ràng rịt trong các cõi (5) tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A Nhã Kiều Trần Như, Ma Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Ðại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Chiên Diên, A Nậu Lâu Ðà, Kiếp Tân Na, Kiều Phạm Ba Ðề, Ly Bà Ða, Tất Lăng Già Bà Ta Bạc Câu La, Ma Ha Câu Hy La, Nan Ðà, Tôn Ðà La Nan Ðà, Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, Tu Bồ Ðề, A Nan, La Hầu La v.v... đó là những vị đại A La Hán hàng tri thức của chúng.

Lại có bực hữu học và vô học (6) hai nghìn người.

Bà Tỳ kheo ni Ma ha Ba Xà Ba Ðề cùng với quyến thuộc sáu nghìn người câu hội. Mẹ của La Hầu La là bà Tỳ kheo ni Gia Du Ðà La cũng cùng với quyến thuộc câu hội.

2. Bực đại Bồ tát tám muôn người đều không thối chuyển ở nơi đạo Vô thượng chính đẳng chính giác (7), đều chứng được pháp Đà la ni (8) nhạo thuyết biện tài (9) chuyển nói pháp luân bất thối chuyển, từng cúng dường vô lượng trăm nghìn chư Phật, ở các nơi đức Phật trồng các cội công đức.

Thường được các Phật ngợi khen, dùng đức từ để tu thân, khéo chứng trí huệ của Phật thông đạt đại trí đến nơi bờ kia (10), danh đồn khắp vô lượng thế giới có thể độ vô số trăm nghìn chúng sanh.

Tên của các vị đó là: Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát, Ðắc Ðại Thế Bồ tát, Thường Tinh Tấn Bồ tát, Bất Hưu Tức Bồ tát, Bửu Chưởng Bồ tát, Dược Vương Bồ tát, Dõng thí Bồ tát, Bửu Nguyệt Bồ tát, Nguyệt Quang Bồ tát, Mãn Nguyệt Bồ tát, Ðại Lực Bồ tát, Vô Lượng Lực Bồ tát, Việt Tam Giới Bồ tát, Bạt Ðà Bà La Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, Bửu Tích Bồ tát, Ðạo Sư Bồ tát v.v... các vị đại Bồ tát như thế tám muôn người câu hội.

3. Lúc bấy giờ, Thích Ðề Hoàn Nhơn (11) cùng quyến thuộc hai muôn vị Thiên tử câu hội.

Lại có Minh Nguyệt Thiên tử, Phổ Hương Thiên tử, Bửu Quang Thiên tử, bốn vị đại Thiên Vương cùng với quyến thuộc một muôn Thiên tử câu hội.

Tự tại thiên tử, Đại tự tại thiên tử cùng với quyến thuộc ba vạn Thiên tử câu hội.

Chủ cõi Ta bà: Phạm Thiên Vương, Thi Khí Ðại Phạm, Quang Minh Ðại Phạm v.v...cùng với quyến thuộc một muôn hai nghìn vị Thiên tử câu hội.

Có tám vị Long Vương: Nan Ðà Long Vương, Bạt Nan Ðà Long Vương, Sa Dà La Long Vương, Hòa Tu Cát Long Vương, Ðức Xoa Ca Long Vương, A Na Bà Ðạt Ða Long Vương, Ma Na Tư Long Vương, Ưu Bát La Long Vương v.v... đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị Khẩn na la vương: Pháp Khẩn na la vương, Diệu Pháp Khẩn na la vương, Ðại Pháp Khẩn na la vương, Trì Pháp Khẩn na la vương đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị Càn thát bà vương: Nhạc Càn thát bà vương, Nhạc âm Càn thát bà vương, Mỹ Càn thát bà vương, Mỹ âm Càn thát bà vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị A tu la vương: Bà Trĩ A tu la vương, Khư La Khiên Ðà A tu la vương, Tỳ Ma Chất Ða La A tu la vương, La Hầu A tu la vương, đều cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

Có bốn vị Ca lâu la vương: Ðại Uy Ðức Ca lâu la vương, Ðại Thân Ca lâu la vương, Ðại Mãn Ca lâu la vương, Như Ý Ca lâu la vương, đều cùng bao nhiêu quyến thuộc câu hội.

Vua A Xà Thế, con bà Vi Ðề Hi, cùng bao nhiêu trăm nghìn quyến thuộc câu hội.

Cả chúng đều lễ chân Phật, lui ngồi một phía.

4. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, hàng tứ chúng vây quanh cúng dường cung kính ngợi khen tôn trọng, vì các vị Bồ tát mà nói kinh Đại thừa tên là: “Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ tát Pháp Phật sở hộ niệm”.

Nói kinh này xong, đức Phật ngồi xếp bằng nhập vào chính định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động.

Khi đó trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa Ma ha Mạn thù sa, để rải trên đức Phật cùng hàng đại chúng; khắp cõi Phật sáu điệu vang động (12).

Lúc bấy giờ, trong chúng hội, các hàng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà (13), A tu la (14), Ca lâu la (15), Khẩn na la (16), Ma hầu la dà (17), Nhân, Phi nhân và các vị Tiểu vương cùng Chuyển luân thánh vương, các đại chúng ấy đều được thấy việc chưa từng có, vui mừng chắp tay một lòng nhìn Phật.

5. Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Ðông, dưới thời chiếu đến Địa ngục A Tỳ, trên suốt thấu trời Sắc Cứu Cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng sanh (18), ở các cõi kia.

Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, những người tu hành đắc đạo.

Lại thấy các vị đại Bồ tát dùng các món nhơn duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ tát. Lại thấy các đức Phật nhập Niết bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết bàn, đem Xá lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.

6. Khi ấy, Ngài Di Lặc Bồ tát nghĩ rằng: “Hôm nay đức Thế Tôn hiện thần biến tướng, vì nhơn duyên gì mà có điềm lành này”.

Nay đức Phật đương nhập chính định, việc biến hiện hi hữu không thể nghĩ bàn này nên hỏi ai, ai đáp được?”

Ngài lại nghĩ: “Ông Pháp Vương tử (19) Văn Thù Sư Lợi này đã từng gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật đời quá khứ chắc đã thấy tướng hi hữu này, ta nay nên hỏi ông”.

Lúc đó, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ (20) và các Trời, Rồng, quỉ, thần v.v... đều nghĩ rằng: “Tướng thần thông sáng chói của đức Phật hiện đây, nay nên hỏi ai?”

7. Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát muốn giải quyết chỗ nghi của mình, Ngài lại xét tâm niệm của bốn chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ và của cả chúng hội trời rồng quỉ thần v.v.. mà hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng: “Vì nhơn duyên gì mà có tướng lành thần thông này, Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một muôn tám nghìn cõi ở phương Ðông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các đức Phật?”

Khi đó, Ngài Di Lặc muốn nói lại nghĩa trên, dùng kệ hỏi rằng:

8. Ngài Văn Thù Sư Lợi!

Ðức Ðạo Sư cớ chi

Lông trắng giữa chặn mày

Phóng ánh sáng khắp soi?

Trời mưa hoa Mạn đà

Cùng hoa Mạn thù sa,

Gió thơm mùi chiên đàn

Vui đẹp lòng đại chúng.

Vì nhơn duyên như vậy

Cõi đất đều nghiêm tịnh

Mà trong thế giới này

Sáu điệu vang động lên.

Bấy giờ bốn bộ chúng

Thảy đều rất vui mừng

Thân cùng ý thơ thới

Ðược việc chưa từng có.

9. Ánh sáng giữa chặn mày

Soi suốt thẳng phương Ðông

Một muôn tám nghìn cõi

Ðều ánh như sắc vàng.

Từ Địa ngục A Tỳ

Trên đến trời hữu đảnh

Trong các thế giới đó

Cả sáu đạo chúng sanh.

Sống chết của kia đến

Nghiệp duyên lành cùng dữ

Thọ báo có tốt xấu

Tại đây đều thấy rõ.

10. Lại thấy các đức Phật

Ðấng Thánh Chúa Sư Tử

Diễn nói các kinh điển

Nhiệm mầu bực thứ nhất.

Tiếng của Ngài thanh tịnh

Giọng nói ra êm dịu

Dạy bảo các Bồ tát

Vô số ức muôn người.

Tiếng phạm âm thâm diệu

Khiến người đều ưa nghe

Các Phật ở cõi mình

Mà giảng nói chính pháp.

Dùng nhiều món nhơn duyên

Cùng vô lượng tỉ dụ

Ðể soi rõ Phật Pháp

Mà khai ngộ chúng sanh.

Nếu có người bị khổ

Nhàm lìa già, bịnh, chết,

Phật vì nói Niết bàn

Ðể dứt các ngằn khổ.

Nếu là người có phước

Ðã từng cúng dường Phật

Chí cầu pháp thù thắng

Vì nói hạnh Duyên giác.

Nếu lại có Phật tử

Tu tập các công hạnh

Ðể cầu huệ Vô thượng

Phật vì nói tịnh đạo.

11. Ngài Văn Thù Sư Lợi!

Tôi ở tại nơi đây

Thấy nghe dường ấy đó

Và nghìn ức việc khác

Thấy rất nhiều như thế

Nay sẽ lược nói ra.

12. Tôi thấy ở cõi kia

Có hằng sa Bồ tát

Dùng các món nhơn duyên

Mà cầu chứng Phật đạo.

Hoặc có vị bố thí

Vàng, bạc, ngọc, san hô,

Trân châu, ngọc như ý,

Ngọc xa cừ mã não,

Kim cương các trân bửu

Cùng tôi tớ, xe cộ

Kiệu, cáng chưng châu báu

Vui vẻ đem bố thí

Hồi hướng về Phật đạo

Nguyện được chứng thừa ấy

Bực nhất của ba cõi

Các Phật hằng khen ngợi.

Hoặc có vị Bồ tát

Xe tứ mã xe báu

Bao lơn che tàng đẹp

Trau tria dùng bố thí.

Lại thấy có Bồ tát

Bố thí cả vợ con

Thân thịt cùng tay chân

Ðể cầu Vô thượng đạo.

Lại thấy có Bồ tát

Ðầu, mắt và thân thể

Ðều ưa vui thí cho

Ðể cầu trí huệ Phật.

13. Ngài Văn Thù Sư Lợi!

Ta thấy các quốc vương

Qua đến chỗ của Phật

Thưa hỏi đạo Vô thượng

Bèn bỏ nước vui vẻ

Cung điện cả thần thiếp

Cạo sạch râu lẫn tóc

Mà mặc y Pháp phục.

Hoặc lại thấy Bồ tát

Mà hiện làm Tỳ kheo

Một mình ở vắng vẻ

Ưa vui tụng kinh điển.

Cũng thấy có Bồ tát

Dõng mãnh và tinh tấn

Vào ở nơi thâm sơn

Suy xét mối Phật đạo.

Và thấy bực ly dục

Thường ở chỗ không nhàn

Sâu tu các thiền định

Ðược năm món thần thông.

Và thấy vị Bồ tát

Chắp tay trụ thiền định

Dùng nghìn muôn bài kệ

Khen ngợi các Pháp Vương.

Lại thấy có Bồ tát

Trí sâu chí bền chắc

Hay hỏi các đức Phật

Nghe rồi đều thọ trì.

Lại thấy hàng Phật tử

Ðịnh huệ trọn đầy đủ

Dùng vô lượng tỉ dụ

Vì chúng mà giảng pháp

Vui ưa nói các pháp

Dạy bảo các Bồ tát

Phá dẹp chúng binh ma

Mà đánh rền trống pháp.

Cùng thấy vị Bồ tát

Vắng bặt yên lặng ngồi

Trời, Rồng đều cung kính

Chẳng lấy đó làm mừng.

Và thấy có Bồ tát

Ở rừng phóng hào quang

Cứu khổ chốn Ðịa ngục

Khiến đều vào Phật đạo.

Lại thấy hàng Phật tử

Chưa từng có ngủ nghỉ

Kinh hành ở trong rừng

Siêng năng cầu Phật đạo.

Cũng thấy đủ giới đức

Uy nghi không thiếu sót

Lòng sạch như bửu châu

Ðể cầu chứng Phật Ðạo.

Và thấy hàng Phật tử

Trụ vào sức nhẫn nhục

Bị kẻ Tăng thượng mạn

Mắng rủa cùng đánh đập

Thảy đều hay nhẫn được

Ðể cầu chứng Phật đạo.

Lại thấy có Bồ tát

Xa rời sự chơi cười

Và quyến thuộc ngu si

Ưa gần gũi người trí

Chuyên tâm trừ loạn động

Nhiếp niệm ở núi rừng

Trải ức nghìn muôn năm

Ðể cầu được Phật đạo.

14. Lại thấy vị Bồ tát

Ðồ ăn uống ngọt ngon

Cùng trăm món thuốc thang

Ðem cúng Phật và Tăng,

Áo tốt đồ thượng phục

Giá đáng đến nghìn muôn

Hoặc là vô giá y

Ðem cúng Phật và Tăng,

Dùng nghìn muôn ức thứ

Nhà báu bằng Chiên đàn

Các giường nằm tốt đẹp

Ðể cúng Phật cùng Tăng.

Rừng vườn rất thanh tịnh

Bông trái đều sum sê

Suối chảy cùng ao tắm

Cúng cho Phật và Tăng.

Cúng thí như thế đó

Các đồ cúng tốt đẹp

Vui vẻ không hề nhàm

Ðể cầu đạo Vô thượng.

15. Lại có vị Bồ tát

Giảng nói pháp tịch diệt

Dùng các lời dạy dỗ

Dạy vô số chúng sanh.

Hoặc thấy vị Bồ tát

Quán sát các pháp tánh

Ðều không có hai tướng

Cũng như khoảng hư không.

Lại thấy hàng Phật tử

Tâm không chỗ mê đắm

Dùng món diệu huệ này

Mà cầu đạo Vô thượng.

16. Ngài Văn Thù Sư Lợi!

Lại có vị Bồ tát

Sau khi Phật diệt độ

Cúng dường Xá Lợi Phật.

Lại thấy hàng Phật tử

Xây dựng các tháp miếu

Nhiều vô số hằng sa

Nghiêm sức khắp cõi nước.

Bửu tháp rất cao đẹp

Ðều năm nghìn do tuần.

Bề ngang rộng xứng nhau

Ðều hai nghìn do tuần.

Trong mỗi mỗi tháp miếu

Ðều có nghìn tràng phan

Màn châu xen thả xuống

Tiếng linh báu hòa reo

Các vị Trời, Rồng, thần,

Người cùng với phi nhơn

Hương, hoa, cùng kỹ nhạc

Thường đem đến cúng dường.

Ngài Văn Thù Sư Lợi!

Các hàng Phật tử kia

Vì cúng dường Xá lợi

Nên trang sức tháp miếu,

Cõi quốc giới tự nhiên

Thù đặc rất tốt đẹp

Như cây Thiên thọ vương

Hoa kia đang xòe nở.

17. Phật phóng một luồng sáng

Ta cùng cả chúng hội

Thấy nơi cõi nước này

Các thứ rất tốt đẹp.

Thần lực của chư Phật

Trí huệ đều hi hữu

Phóng một luồng tịnh quang

Soi khắp vô lượng cõi

Chúng ta thấy việc này

Ðược điều chưa từng có.

18. Xin Phật tử Văn Thù

Giải quyết lòng chúng nghi

Bốn chúng đều mong ngóng

Nhìn Ngài và nhìn ta

Ðức Thế Tôn cớ chi

Phóng ánh quang minh này?

Phật tử phải thời đáp

Quyết nghi cho chúng mừng

Có những lợi ích gì

Ðức Phật phóng quang này?

Khi Phật ngồi đạo tràng

Chứng được pháp thâm diệu

Vì muốn nói Pháp đó

Hay là sẽ thọ ký?

Hiện bày các cõi Phật

Các báu sạch trang nghiêm

Cùng thấy các đức Phật

Ðây không phải cớ nhỏ

Ngài Văn Thù nên biết

Bốn chúng và Long, Thần

Nhìn xem xét Ngài đó

Mong sẽ nói những gì?

19. Lúc bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với Ngài Di Lặc Ðại Bồ tát cùng các vị Ðại Sĩ: “Các Thiện nam tử! Như chỗ ta xét nghĩ thời nay đức Thế Tôn muốn nói Pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, thổi pháp loa lớn, đánh pháp cổ lớn và diễn pháp nghĩa lớn.

Các thiện nam tử! Ta từng ở nơi các đức Phật đời quá khứ thấy điềm lành này, Phật kia phóng hào quang đó rồi liền nói pháp lớn. Cho nên chắc biết rằng hôm nay đức Phật hiện hào quang cũng lại như vậy. Phật vì muốn cho chúng sanh đều được nghe biết pháp mầu mà tất cả trong đời khó tin theo, cho nên hiện điềm lành này.

20. Các thiện nam tử! Như vô lượng vô biên a tăng kỳ (21) kiếp về trước. Bấy giờ có đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, diễn nói chính pháp. Ban đầu, giữa, rốt sau ba chặng đều lành, nghĩa lý rất sâu xa, lời lẽ khéo mầu, thuần một không tạp, đầy đủ cả tướng phạm hạnh thanh bạch.

Phật, vì người cầu đạo Thanh văn, nói pháp tứ đế (22) thoát khỏi sanh, già, bịnh, chết, cứu cánh Niết bàn. Vì hạng cầu quả Duyên giác, nói pháp mười hai nhơn duyên (23). Vì hàng Bồ tát nói sáu pháp Ba la mật (24) làm cho chứng được quả Vô thượng chính đẳng chính giác thành bậc nhất thiết chủng trí.(25)

Kế lại có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh, lại có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh. Như thế đến hai muôn đức Phật đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh, lại cùng đồng một họ, họ Phả La Ðọa.

Di Lặc nên biết! Ðức Phật trước, đức Phật sau đều đồng một tên, hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh, đầy đủ mười hiệu, những pháp được nói ra, đầu, giữa, sau đều lành.

Ðức Phật rốt sau cả, lúc chưa xuất gia có tám vị vương tử: Người thứ nhất tên Hữu Ý, thứ hai tên Thiện Ý, thứ ba tên Vô Lượng Ý, thứ tư tên Bửu Ý, thứ năm tên Tăng Ý, thứ sáu tên Trừ Nghi Ý, thứ bảy Hướng Ý, thứ tám tên Pháp Ý.

Tám vị vương tử đó có uy đức tự tại đều lãnh trị bốn châu thiên hạ (26). Nghe vua cha xuất gia chứng đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác đều bỏ ngôi vua cũng xuất gia theo, phát tâm Đại thừa, thường tu hạnh thanh tịnh, đều làm bậc Pháp sư, thuở trước đã từng ở chỗ nghìn muôn đức Phật vun trồng các cội lành.

21. Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh lúc đó nói kinh Đại thừa tên “Vô Lượng Nghĩa Xứ Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”. Nói kinh đó rồi Phật liền ở trong đại chúng ngồi xếp bằng nhập vào cảnh giới chánh định “Vô Lượng nghĩa xứ”, thân và tâm chẳng động.

22. Khi ấy trời mưa hoa Mạn đà la, hoa Ma ha Mạn đà la, hoa Mạn thù sa cùng hoa Ma ha Mạn thù sa để rải trên đức Phật và hàng đại chúng. Khắp cõi nước Phật sáu điệu vang động.

Lúc đó trong hội, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ, Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhân, Phi nhân cùng các vị Tiểu vương, các vị Chuyển luân thánh vương v.v... các đại chúng đó được điều chưa từng có, mừng rỡ chắp tay một lòng nhìn Phật.

23. Bấy giờ, đức Như Lai từ tướng lông trắng chặn giữa chân mày phóng ra luồng ánh sáng soi khắp cùng cả một muôn tám nghìn cõi nước ở phương Đông, như nay đương thấy ở cõi Phật đây.

Di Lặc nên biết! Khi đó trong hội, có hai mươi ức Bồ tát ưa muốn nghe pháp, các vị Bồ tát ấy thấy ánh sáng chiếu khắp các cõi Phật được điều chưa từng có, đều muốn biết vì duyên cớ gì mà phóng ánh sáng này.

Khi ấy, có vị Bồ tát hiệu Diệu Quang có tám trăm người đệ tử.

24. Bấy giờ, đức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh từ trong chính định mà dậy, vì Diệu Quang Bồ tát nói kinh Đại thừa tên “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”, trải qua sáu mươi tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi.

25. Lúc ấy trong hội, người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến sáu mươi tiểu kiếp thân tâm đều không lay động, nghe đức Phật nói pháp cho là như trong khoảng bữa ăn. Bấy giờ trong chúng không có một người nào hoặc là thân hoặc là tâm mà sanh lười mỏi.

26. Ðức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh trong sáu mươi tiểu kiếp nói kinh đó rồi, liền ở trong chúng ma, phạm, Sa môn, Bà la môn, và trời, người, A tu la mà tuyên rằng: “Hôm nay vào nửa đêm, Như Lai sẽ nhập Vô dư Niết bàn”.

Khi đó có vị Bồ tát, tên Ðức Tạng đức Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh liền thọ ký (27) cho, bảo các Tỳ kheo rằng “Ông Ðức Tạng Bồ tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Tịnh Thân Như Lai Ứng cúng, Chính đẳng Chính giác”.

Ðức Phật thọ ký xong, vào nửa đêm bèn nhập Vô dư Niết bàn.

27. Sau khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ tát trì kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” trải tám mươi tiểu kiếp vì người mà diễn nói.

28. Tám người con của Phật Nhật Nguyệt Ðăng Minh đều học với Ngài Diệu Quang, Ngài Diệu Quang dạy bảo cho đều vững bền ở nơi đạo Vô thượng Chính đẳng Chính giác. Các vị Vương tử đó cúng dường vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật đều thành Phật đạo. Vị thành Phật rốt ráo sau hết, hiệu là Nhiên Ðăng.

29. Trong hàng tám trăm người đệ tử có một người tên: Cầu Danh, người này tham ưa danh lợi, dầu cũng đọc tụng các kinh mà chẳng thuộc rành, phần nhiều quên mất, nên gọi là Cầu Danh. Người này cũng do có trồng các nhân duyên căn lành nên được gặp vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật mà cúng dường cung kính tôn trọng khen ngợi.

30. Di Lặc nên biết! Lúc đó Diệu Quang Bồ tát đâu phải người nào lạ, chính là ta đây. Còn Cầu Danh Bồ tát là Ngài đấy.

Nay thấy điềm lành này, cùng với xưa không khác, cho nên ta xét nghĩ hôm nay đức Phật Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên: “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”.

Bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ở trong đại chúng, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

31. Ta nhớ thuở quá khứ

Vô lượng vô số kiếp

Có Phật Nhơn Trung tôn

Hiệu Nhật Nguyệt Ðăng Minh.

Ðức Thế Tôn nói pháp

Ðộ vô lượng chúng sanh

Vô số ức Bồ tát

Khiến vào trí huệ Phật.

32. Khi Phật chưa xuất gia

Có sanh tám vương tử

Thấy Ðại Thánh xuất gia

Cũng theo tu phạm hạnh.

33. Phật nói kinh Ðại thừa

Tên là “Vô Lượng Nghĩa”

Ở trong hàng đại chúng

Mà vì rộng tỏ bày.

Phật nói kinh ấy rồi

Liền ở trong pháp tòa

Xếp bằng nhập chính định

Tên “Vô Lượng Nghĩa Xứ.”

Trời rưới hoa Mạn đà

Trống trời tự nhiên vang

Các Trời, Rồng, quỉ, thần

Cúng dường đấng Nhơn Tôn,

Tất cả các cõi Phật

Tức thời vang động lớn.

34. Phật phóng sáng giữa mày

Hiện các việc hi hữu

Ánh sáng chiếu phương Đông

Muôn tám nghìn cõi Phật

Bày sanh tử nghiệp báo

Của tất cả chúng sanh.

Lại thấy các cõi Phật

Dùng các báu trang nghiêm

Màu lưu ly pha lê

Ðây bởi Phật quang soi.

35. Lại thấy những Trời, người

Rồng, thần, chúng Dạ xoa

Càn thát, Khẩn na la

Ðều cúng dường Phật mình.

36. Lại thấy các Như Lai

Tự nhiên thành Phật đạo,

Màu thân như núi vàng

Ðoan nghiêm rất đẹp mầu,

Như trong lưu ly sạch

Hiện ra tượng chơn kim

Thế Tôn trong đại chúng

Dạy nói nghĩa thâm diệu.

37. Mỗi mỗi các cõi Phật

Chúng Thanh văn vô số,

Nhơn Phật quang soi sáng

Ðều thấy đại chúng kia.

Hoặc có các Tỳ kheo

Ở tại trong núi rừng

Tinh tấn giữ tịnh giới

Dường như gìn châu sáng.

38. Lại thấy các Bồ tát

Bố thí nhẫn nhục thảy

Số đông như hằng sa (28)

Ðây bởi sáng Phật soi.

Lại thấy hàng Bồ tát

Sâu vào các thiền định

Thân tâm lặng chẳng động

Ðể cầu đạo Vô thượng.

Lại thấy các Bồ tát

Rõ tướng pháp tịch diệt

Ðều ở tại nước mình

Nói pháp cầu Phật đạo.

39. Bấy giờ bốn bộ chúng

Thấy Phật Nhật Nguyệt Ðăng

Hiện sức thần thông lớn

Tâm kia đều vui mừng

Mỗi người tự hỏi nhau

Việc này nhơn duyên gì?

40. Ðấng của Trời người thờ

Vừa từ chính định dậy

Khen Diệu Quang Bồ tát

Ông là mắt của đời,

Mọi người đều tin về

Hay vâng giữ tạng pháp

Như pháp của ta nói

Chỉ ông chứng biết được.

Ðức Phật đã ngợi khen

Cho Diệu Quang vui mừng

Liền nói kinh Pháp Hoa

Trải sáu mươi tiểu kiếp

Chẳng rời chỗ ngồi ấy

Ngài Diệu Quang Pháp sư

Trọn đều hay thọ trì

Pháp thượng diệu của Phật.

41. Phật nói kinh Pháp Hoa

Cho chúng vui mừng rồi

Liền chính trong ngày đó

Bảo hàng chúng trời, người

Các pháp “nghĩa thật tướng”

Ðã vì các ông nói

Nay ta giữa đêm này

Sẽ vào cõi Niết bàn

Phải một lòng tinh tấn

Rời các sự buông lung

Các Phật rất khó gặp

Ức kiếp được một lần.

42. Các con của Phật thảy

Nghe Phật sắp nhập diệt

Thảy đều lòng buồn khổ

Phật sao gấp diệt vậy?

Ðấng Thánh Chúa Pháp Vương

An ủi vô lượng chúng:

Nếu lúc ta diệt độ

Các ông chớ lo sợ

Ðức Tạng Bồ tát đây

Tâm đã được thông thấu

Nơi vô lậu thiệt tướng

Kế đây sẽ thành Phật

Tên hiệu là Tịnh Thân

Cũng độ vô lượng chúng.

43. Ðêm đó Phật diệt độ

Như củi hết, lửa tắt

Chia phân các Xá lợi

Mà xây vô lượng tháp.

Tỳ kheo, Tỳ kheo ni

Số đông như hằng sa

Lại càng thêm tinh tấn

Ðể cầu đạo Vô thượng.

44. Diệu Quang Pháp sư ấy

Vâng giữ Phật pháp tạng

Trong tám mươi tiểu kiếp

Rộng nói kinh Pháp Hoa.

Tám vị vương tử đó

Ðược Diệu Quang dạy bảo

Vững bền đạo Vô thượng

Sẽ thấy vô số Phật

Cúng dường các Phật xong

Thuận theo tu đại đạo

Nối nhau đặng thành Phật

Chuyển thứ thọ ký nhau,

Ðấng Phật rốt sau cả

Hiệu là: Phật Nhiên Ðăng

Ðạo sư (29) của thiên tiên

Ðộ thoát vô lượng chúng.

45. Diệu Quang Pháp sư đó

Có một người đệ tử

Tâm thường cưu biếng trễ

Tham ưa nơi danh lợi

Cầu danh lợi không nhàm

Thường đến nhà sang giàu

Rời bỏ việc tụng học

Bỏ quên không thông thuộc

Vì bởi nhân duyên ấy

Nên gọi là Cầu Danh

Cũng tu các nghiệp lành

Ðược thấy vô số Phật

Thuận tu theo đại đạo

Ðủ sáu Ba la mật

Nay gặp đấng Thích Ca

Sau đây sẽ thành Phật

Hiệu rằng: “Phật Di Lặc“

Rộng độ hàng chúng sanh

Số đông đến vô lượng.

46. Sau Phật kia diệt độ

Lười biếng đó là Ngài

Còn Diệu Quang Pháp sư

Nay thời chính là ta.

Ta thấy Phật Ðăng Minh

Ðiềm sáng trước như thế

Cho nên biết rằng nay

Phật muốn nói “Pháp Hoa”

Tướng nay như điềm xưa.

Là phương tiện của Phật

Nay Phật phóng ánh sáng

Giúp bày nghĩa thiệt tướng

Các người nay nên biết

Chắp tay một lòng chờ

Phật sẽ rưới nước pháp

Ðầy đủ người cầu đạo

Các người cầu ba thừa (30)

Nếu có chỗ nghi hối

Phật sẽ dứt trừ cho

Khiến hết không còn thừa.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phương Tiện” (31) Thứ Hai

1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ chính định an lành mà dậy, bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Trí huệ của các đức Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả hàng Thanh văn cùng Bích Chi Phật đều không biết được. Vì sao?

Phật đã từng gần gũi trăm nghìn muôn ức, vô số các đức Phật, trọn tu vô lượng đạo pháp của các đức Phật, dõng mãnh tinh tấn, danh tốt đồn khắp, trọn nên pháp rất sâu chưa từng có, theo thời nghi mà nói pháp ý thú khó hiểu.

Xá Lợi Phất! Từ ta thành Phật đến nay, các món nhơn duyên, các món thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dìu dắt chúng sanh, làm cho xa lìa lòng chấp. Vì sao? Ðức Như Lai đã đầy đủ phương tiện, tri kiến và Ba la mật.

Xá Lợi Phất! Tri kiến của Như Lai rộng lớn sâu xa, đức vô lượng vô ngại lực, vô sở úy, thiền định, giải thoát tam muội, đều sâu vào không ngằn mé, trọn nên tất cả pháp chưa từng có.

Xá Lợi Phất! Như Lai hay các món phân biệt, khéo nói các pháp lời lẽ êm dịu vui đẹp lòng chúng.

Xá Lợi Phất! Tóm yếu mà nói đó, vô lượng vô biên pháp vị tằng hữu, đức Phật thảy đều trọn nên.

2. Thôi Xá Lợi Phất! Chẳng cần nói nữa. Vì sao? Vì pháp khó hiểu ít có thứ nhất mà Phật trọn nên đó, chỉ có Phật cùng Phật mới có thể thấu tột tướng chơn thật của các pháp, nghĩa là các pháp: tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhơn như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, trước sau rốt ráo như vậy.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:

3. Ðấng Thế Hùng khó lường

Các trời cùng người đời

Tất cả loài chúng sanh

Không ai hiểu được Phật.

Trí lực, vô sở úy

Giải thoát các tam muội

Các pháp khác của Phật

Không ai so lường được.

Vốn từ vô số Phật

Ðầy đủ tu các đạo

Pháp nhiệm mầu rất sâu

Khó thấy khó rõ được.

Trong vô lượng ức kiếp

Tu các đạo đó rồi

Ðạo tràng được chứng quả

Ta đều đã thấy biết.

Quả báo lớn như vậy

Các món tánh tướng nghĩa

Ta cùng mười phương Phật

Mới biết được việc đó.

4. Pháp đó không chỉ được

Vắng bặt tướng nói năng

Các loài chúng sinh khác

Không có ai hiểu được.

Trừ các chúng Bồ tát

Người sức tin bền chặt,

Các hàng đệ tử Phật

Từng cúng dường các Phật,

Tất cả lậu đã hết

Trụ thân rốt sau này

Các hạng người vậy thảy

Sức họ không kham được.

Giả sử đầy thế gian

Ðều như Xá Lợi Phất

Cùng suy chung so lường

Chẳng lường được Phật trí.

Chính sử khắp mười phương

Ðều như Xá Lợi Phất

Và các đệ tử khác

Cũng đầy mười phương cõi

Cùng suy chung so lường

Cũng lại chẳng biết được.

Bậc Duyên giác trí lanh

Vô lậu thân rốt sau

Cũng đầy mười phương cõi

Số đông như rừng tre,

Hạng này chung một lòng

Trong vô lượng ức kiếp

Muốn xét Phật thật trí

Chẳng biết được chút phần.

Bồ tát mới phát tâm

Cúng dường vô số Phật

Rõ thấu các nghĩa thú

Lại hay khéo nói pháp

Ðông đầy mười phương cõi

Như lúa, mè, tre, lau

Một lòng dùng trí mầu

Trải số kiếp hằng sa

Thảy đều chung suy lường

Chẳng biết được trí Phật.

Hàng Bất thối Bồ tát

Số đông như hằng sa

Một lòng chung suy cầu

Cũng lại chẳng hiểu được.

5. Lại bảo Xá Lợi Phất

Pháp nhiệm mầu rất sâu

Vô lậu khó nghĩ bàn

Nay ta đã được đủ

Chỉ ta biết tướng đó.

Mười phương Phật cũng vậy

Xá Lợi Phất phải biết

Lời Phật nói không khác

Với Pháp của Phật nói

Nên sinh sức tin chắc

Pháp của Phật lâu sau

Cần phải nói chơn thật.

Bảo các chúng Thanh văn

Cùng người cầu Duyên giác

Ta khiến cho thoát khổ

Ðến chứng được Niết bàn.

Phật dùng sức phương tiện

Dạy cho ba thừa giáo

Chúng sinh nơi nơi chấp

Dắt đó khiến ra khỏi.

6. Khi đó trong đại chúng có hàng Thanh văn lậu tận A la hán, Ngài A Nhã Kiều Trần Như v.v... một nghìn hai trăm người và các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam cùng Cận sự nữ, hạng người phát tâm Thanh văn, Duyên giác đều nghĩ rằng: “Hôm nay đức Phật cớ chi lại ân cần ngợi khen phương tiện mà nói thế này: “Pháp của Phật chứng rất sâu khó hiểu, tất cả hàng Thanh văn cùng Duyên giác không thể đến được.”

Ðức Phật nói một nghĩa giải thoát, chúng ta cũng chứng được pháp đó đến nơi Niết bàn, mà nay chẳng rõ nghĩa đó về đâu?

7. Lúc ấy, Ngài Xá Lợi Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa rõ, liền bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Nhơn gì duyên gì mà Phật ân cần khen ngợi pháp phương tiện thứ nhất nhiệm mầu rất sâu khó hiểu của các đức Phật?

Con từ trước đến nay chưa từng nghe Phật nói điều đó, hôm nay bốn chúng thảy đều có lòng nghi. Cúi xin đức Thế Tôn bày nói việc đó. Cớ gì mà đức Thế Tôn ân cần khen ngợi pháp nhiệm mầu rất sâu khó hiểu?

Khi đó Ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8. Ðấng Huệ Nhật Ðại Thánh

Lâu mới nói pháp này,

Tự nói pháp mình chứng

Lực, vô úy, tam muội,

Thiền định, giải thoát thảy

Ðều chẳng nghĩ bàn được.

Pháp chứng nơi đạo tràng

Không ai hỏi đến được

Ý con khó lường được

Cũng không ai hay hỏi.

Không hỏi mà tự nói

Khen ngợi đạo mình làm

Các đức Phật chứng được

Trí huệ rất nhiệm mầu.

Hàng vô lậu La Hán

Cùng người cầu Niết bàn

Nay đều sa lưới nghi

Phật cớ chi nói thế?

Hạng người cầu Duyên giác

Tỳ kheo, Tỳ kheo ni,

Các Trời, Rồng, quỉ, thần

Và Càn thát bà thảy

Ngó nhau cưu lòng nghi

Nhìn trông đấng Túc Tôn

Việc đó là thế nào

Xin Phật vì dạy cho?

Trong các chúng Thanh văn

Phật nói con hạng nhất

Nay con nơi trí mình

Nghi lầm không rõ được.

Vì là pháp rốt ráo

Vì là đạo Phật làm

Con từ miệng Phật sanh

Chắp tay nhìn trông chờ,

Xin ban tiếng nhiệm mầu

Liền vì nói như thực

Các Trời, Rồng, thần thảy

Số đông như hằng sa

Bồ tát cầu thành Phật

Số nhiều có tám muôn

Lại những muôn ức nước

Vua Chuyển Luân Vương đến

Ðều lòng kính chắp tay

Muốn nghe đạo đầy đủ.

9. Khi đó đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Thôi thôi! Chẳng nên nói nữa, nếu nói việc đó tất cả trong đời các trời và người đều sẽ kinh sợ nghi ngờ.”

10. Ngài Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Vì sao?

Trong hội đây có vô số trăm nghìn muôn ức A tăng kỳ chúng sinh đã từng gặp các đức Phật, các căn mạnh lẹ, trí huệ sáng suốt, được nghe Phật dạy chắc có thể kính tin”.

Lúc ấy, Ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

Ðấng Pháp Vương Vô thượng

Xin nói chuyện đừng lo

Vô lượng chúng hội đây

Có người hay kính tin.

11. Ðức Phật lại ngăn Xá Lợi Phất: “Nếu nói việc đó thì tất cả trong đời, trời, người, A tu la đều sẽ kinh nghi Tỳ kheo tăng thượng mạn sẽ phải sa vào hầm lớn.”

Khi đó đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:

Thôi thôi! Chẳng nên nói

Pháp ta diệu khó nghĩ

Những kẻ tăng thượng mạn

Nghe ắt không kính tin.

12. Lúc ấy Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Cúi xin nói đó, cúi xin nói đó. Nay trong hội này hạng người sánh bằng con có trăm nghìn muôn ức. Ðời đời đã từng theo Phật học hỏi, những người như thế chắc hay kính tin lâu dài an ổn nhiều điều lợi ích.

Khi đó Ngài Xá Lợi Phất, muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Ðấng Vô thượng lưỡng túc

Xin nói pháp đệ nhất

Con là trưởng tử Phật

Xin thương phân biệt nói.

Vô lượng chúng hội đây

Hay kính tin pháp này

Ðời đời Phật đã từng

Giáo hóa chúng như thế

Ðều một lòng chắp tay

Muốn muốn nghe lãnh lời Phật.

Chúng con nghìn hai trăm

Cùng hạng cầu Phật nọ

Nguyện Phật vì chúng này

Cúi xin phân biệt nói

Chúng đây nghe pháp ấy

Thời sinh lòng vui mừng.

13. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Ông đã ân cần ba phen thưa thỉnh đâu được chẳng nói. Ông nay lóng nghe khéo suy nghĩ nhớ đó, ta sẽ vì ông phân biệt giải nói.”

14. Khi đức Phật nói lời đó, trong hội có các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ, cả thảy năm nghìn người, liền từ chỗ ngồi đứng dậy lễ Phật mà lui về. Vì sao? Vì bọn người này cội tội sâu nặng cùng tăng thượng mạn, chưa được mà nói đã được, chưa chứng mà đã cho chứng, có lỗi dường ấy, cho nên không ở lại. Ðức Thế Tôn yên lặng không ngăn cản.

15. Bấy giờ, Ðức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Trong chúng ta đây không còn cành lá, rặt có hạt chắc. Xá Lợi Phất! Những gã tăng thượng mạn như vậy lui về cũng là tốt. Ông nay nên khéo nghe, ta sẽ vì ông mà nói.”

Ngài Xá Lợi Phất bạch rằng: “Vâng thưa Thế Tôn con nguyện ưa muốn nghe”.

16. Ðức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Pháp mầu như thế, các đức Phật Như Lai đến khi đúng thời mới nói đó như hoa linh thoại đến thời tiết mới hiện một lần. Xá Lợi Phất! Các ông nên tin lời của Phật nói không hề hư vọng.

17. Xá Lợi Phất! Các đức Phật theo thời nghi nói pháp ý thú khó hiểu. Vì sao? Ta dùng vô số phương tiện các món nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp.

Pháp đó không phải là suy lường phân biệt mà có thể hiểu, chỉ có các đức Phật mới biết được đó. Vì sao? Các đức Phật Thế Tôn, chỉ do một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra nơi đời.

Xá Lợi Phất! Sao nói rằng các đức Phật Thế Tôn chỉ do một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra đời? Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sinh khai tri kiến Phật để được thanh tịnh mà hiện ra nơi đời; vì muốn chỉ tri kiến Phật cho chúng sinh mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh tỏ ngộ tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời; vì muốn cho chúng sinh chứng vào đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời.

Xá Lợi Phất! Ðó là các đức Phật do vì một sự nhơn duyên lớn mà hiện ra nơi đời”.

18. Ðức Phật bảo Xá Lợi Phất: “Các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ tát, những điều làm ra thường vì một việc: chỉ đem tri kiến Phật chỉ cho chúng sinh tỏ ngộ thôi.”

Xá Lợi Phất! Ðức Như Lai chỉ dùng một Phật Thừa mà vì chúng sinh nói pháp không có các thừa hoặc hai hoặc ba khác.

Xá Lợi Phất! Pháp của tất cả các đức Phật ở mười phương cũng như thế.

Xá Lợi Phất! Thuở quá khứ các đức Phật dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp. Vì pháp đó đều là một Phật thừa, nên các chúng sinh đó theo chư Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhất thiết chủng trí.”

Xá Lợi Phất! Thuở vị lai, các đức Phật sẽ ra đời cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp, vì pháp ấy đều là một Phật thừa nên các chúng sinh đó theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhất thiết chủng trí”.

Xá Lợi Phất! Hiện tại nay, trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi Phật ở mười phương, các đức Phật Thế Tôn nhiều điều lợi ích an vui cho chúng sinh. Các đức Phật đó cũng dùng vô lượng vô số phương tiện các món nhân duyên lời lẽ thí dụ mà vì chúng sinh diễn nói các pháp, vì pháp đó đều là một Phật thừa, các chúng sinh ấy theo Phật nghe pháp rốt ráo đều được chứng “nhất thiết chủng trí”.

Xá Lợi Phất! Các đức Phật đó chỉ giáo hóa Bồ tát, vì muốn đem tri kiến Phật mà chỉ cho chúng sinh, vì muốn đem tri kiến Phật cho chúng sinh tỏ ngộ, vì muốn làm cho chúng sinh chứng vào tri kiến Phật vậy.

Xá Lợi Phất! Nay ta cũng lại như thế, rõ biết các chúng sinh có những điều ưa muốn, thân tâm mê chấp, ta tùy theo bản tính kia dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ cùng sức phương tiện mà vì đó nói pháp.

Xá Lợi Phất! Như thế đều vì để chứng được một Phật thừa “nhất thiết chủng trí.”

20. Xá Lợi Phất! Trong cõi nước ở mười phương còn không có hai thừa hà huống có ba!

Xá Lợi Phất! Các đức Phật hiện ra trong đời ác năm trược, nghĩa là: kiếp trược, phiền não trược, chúng sinh trược, kiến trược, mệnh trược. Như thế, Xá Lợi Phất, lúc kiếp loạn trược chúng sinh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các đức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba.

21. Xá Lợi Phất! Nếu đệ tử ta tự cho mình là A la hán cùng Duyên giác mà không nghe không biết việc của các đức Phật Như Lai chỉ giáo hóa Bồ tát, người này chẳng phải là đệ tử Phật, chẳng phải A la hán, chẳng phải Duyên giác.

Lại nữa, Xá Lợi Phất! Các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đó tự cho mình đã được A la hán, là thân rốt sau rốt ráo Niết bàn, bèn chẳng lại chí quyết cầu đạo Vô thượng chính đẳng chính giác. Nên biết bọn đó là kẻ tăng thượng mạn. Vì sao? Nếu có Tỳ kheo thực chứng quả A la hán mà không tin pháp này, quyết không có lẽ ấy, trừ sau khi Phật diệt độ hiện tiền không Phật. Vì sao? Sau khi Phật diệt độ, những kinh như thế, người hay thọ trì đọc tụng hiểu nghĩa rất khó có được, nếu gặp đức Phật khác, ở trong pháp này bèn được hiểu rõ.

Xá Lợi Phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Phật Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.

Khi ấy đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

22. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni

Cưu lòng tăng thượng mạn

Cận sự nam ngã mạn

Cận sự nữ chẳng tin,

Hàng bốn chúng như thế

Số kia có năm nghìn

Chẳng tự thấy lỗi mình

Nơi giới có thiếu sót

Tiếc giữ tội quấy mình

Trí nhỏ đó đã ra,

Bọn cám tấm trong chúng

Uy đức Phật phải đi,

Gã đó kém phước đức

Chẳng kham lãnh pháp này,

Chúng nay không cành lá

Chỉ có những hột chắc.

23. Xá Lợi Phất khéo nghe!

Pháp của các Phật được

Vô lượng sức phương tiện

Mà vì chúng sinh nói.

Tâm của chúng sinh nghĩ

Các món đạo ra làm

Bao nhiêu những tánh dục

Nghiệp lành dữ đời trước

Phật biết hết thế rồi

Dùng các duyên thí dụ

Lời lẽ sức phương tiện

Khiến tất cả vui mừng.

Hoặc là nói Khế kinh

Cô khởi cùng Bổn sự.

Bổn sinh, Vị tằng hữu

Cũng nói những Nhân duyên

Thí dụ và Trùng tụng

Luận nghị cộng chín kinh.

Căn độn ưa pháp nhỏ

Tham chấp nơi sinh tử

Nơi vô lượng đức Phật

Chẳng tu đạo sâu mầu

Bị các khổ não loạn

Vì đó nói Niết bàn.

Ta bày phương tiện đó

Khiến đều vào huệ Phật,

Chưa từng nói các ông

Sẽ được thành Phật đạo

Sở dĩ chưa từng nói

Vì giờ nói chưa đến,

Nay chính là đến giờ

Quyết định nói Đại thừa.

24. Chín bộ pháp của ta

Thuận theo chúng sanh nói

Vào Đại thừa làm cội

Nên mới nói kinh này.

Có Phật tử tâm tịnh

Êm dịu cũng căn lợi,

Nơi vô lượng các Phật

Mà tu đạo sâu mầu,

Vì hàng Phật tử này

Nói kinh Đại thừa đây.

Ta ghi cho người đó

Ðời sau thành Phật đạo

Bởi thâm tâm niệm Phật

Tu trì tịnh giới vậy.

Hạng này nghe thành Phật

Rất mừng đầy khắp mình,

Phật biết tâm của kia

Nên vì nói Đại thừa.

Thanh văn hoặc Bồ tát,

Nghe ta nói pháp ra

Nhẫn đến một bài kệ

Ðều thành Phật không nghi.

25. Trong cõi Phật mười phương

Chỉ có một thừa pháp

Không hai cũng không ba

Trừ Phật phương tiện nói

Chỉ dùng danh tự giả

Dẫn dắt các chúng sanh

Vì nói trí huệ Phật.

Các Phật ra nơi đời

Chỉ một việc này thực

Hai thứ chẳng phải chơn

Trọn chẳng đem Tiểu thừa

Mà tế độ chúng sinh.

Phật tự trụ Đại thừa

Như pháp của mình được

Ðịnh, huệ, lực trang nghiêm

Dùng đây độ chúng sanh.

Tự chứng đạo Vô thượng

Pháp bình đẳng Đại thừa

Nếu dùng Tiểu thừa độ

Nhẫn đến nơi một người

Thời ta đọa sân tham

Việc ấy tất không được,

Nếu người tin về Phật

Như Lai chẳng dối gạt

Cũng không lòng tham ganh

Dứt ác trong các pháp

Nên Phật ở mười phương

Mà riêng không chỗ sợ.

Ta dùng tướng trang nghiêm

Ánh sáng soi trong đời

Ðấng vô lượng chúng trọng

Vì nói thực tướng ấn

26. Xá Lợi Phất! nên biết

Ta vốn lập thệ nguyện

Muốn cho tất cả chúng

Bằng như ta không khác,

Như ta xưa đã nguyện

Nay đã đầy đủ rồi

Ðộ tất cả chúng sanh

Ðều khiến vào Phật đạo

Nếu ta gặp chúng sanh

Dùng Phật đạo dạy cả

Kẻ vô trí rối sai

Mê lầm không nhận lời.

Ta rõ chúng sanh đó

Chưa từng tu cội lành

Chấp chặt nơi ngũ dục

Vì si ái sinh khổ,

Bởi nhân duyên các dục

Sanh vào ba đường dữ

Xoay lăn trong sáu nẻo

Chịu đủ những khổ độc

Thân mọn thọ bào thai

Ðời đời tăng trưởng luôn.

Người đức mỏng ít phước

Các sự khổ bức ngặt

Vào rừng rậm tà kiến

Hoặc chấp có, chấp không

Nương gá các chấp này

Ðầy đủ sáu mươi hai

Chấp chặt pháp hư vọng

Bền nhận không bỏ được

Ngã mạn tự khoe cao

Dua nịnh lòng không thực

Trong nghìn muôn ức kiếp

Chẳng nghe danh tự Phật

Cũng chẳng nghe chính pháp

Người như thế khó độ.

27. Cho nên Xá Lợi Phất!

Ta vì bày phương tiện

Nói các đạo dứt khổ

Chỉ cho đó Niết bàn

Ta dầu nói Niết bàn

Cũng chẳng phải thực diệt,

Các pháp từ bản lai

Tướng thường tự vắng lặng

Phật tử hành đạo rồi

Ðời sau được thành Phật.

Ta có sức phương tiện

Mở bày khắp ba thừa

Tất cả các Thế Tôn

Ðều nói đạo nhất thừa.

Nay trong đại chúng này

Ðều nên trừ nghi lầm

Lời Phật nói không khác

Chỉ một, không hai thừa.

28. Vô số kiếp đã qua

Vô lượng Phật diệt độ

Trăm nghìn muôn ức Phật

Số nhiều không lường được.

Các Thế Tôn như thế

Các món duyên thí dụ

Vô số ức phương tiện

Diễn nói các pháp tướng,

Các đức Thế Tôn đó

Ðều nói pháp nhất thừa

Ðộ vô lượng chúng sanh

Khiến vào nơi Phật đạo

Lại các đại thánh chúa

Biết tất cả thế gian

Trời người loài quần sanh

Thâm tâm chỗ ưa muốn

Bèn dùng phương tiện khác

Giúp bày nghĩa đệ nhất.

29. Nếu có loài chúng sinh

Gặp các Phật quá khứ

Hoặc nghe pháp bố thí

Hoặc trì giới nhẫn nhục

Tinh tấn, thiền, trí thảy

Các món tu phước huệ,

Những người như thế đó

Ðều đã thành Phật đạo.

Sau các Phật diệt độ

Nếu người lòng lành dịu

Các chúng sinh như thế

Ðều đã thành Phật đạo.

30. Các Phật diệt độ rồi

Người cúng dường Xá lợi

Dựng muôn ức thứ tháp

Vàng, bạc và pha lê

Xà cừ cùng mã não

Ngọc mai khôi, lưu ly

Thanh tịnh rộng nghiêm sức,

Trau giồi nơi các tháp,

Hoặc có dựng miếu đá

Chiên đàn và trầm thủy

Gỗ mật cùng gỗ khác

Gạch ngói bùn đất thảy,

Hoặc ở trong đồng trống

Chứa đất thành miếu Phật

Nhẫn đến đồng tử giỡn

Nhóm cát thành tháp Phật,

Những hạng người như thế

Ðều đã thành Phật đạo.

31. Nếu như người vì Phật

Xây dựng các hình tượng

Chạm trổ thành các tướng

Ðều đã thành Phật đạo.

Hoặc dùng bảy báu làm

Thau, đồng bạch, đồng đỏ

Chất nhôm cùng chì kẽm

Sắt, gỗ cùng với bùn

Hoặc dùng keo, sơn, vải

Nghiêm sức làm tượng Phật

Những người như thế đó

Ðều đã thành Phật đạo

Vẽ vời làm tượng Phật

Trăm tướng phước trang nghiêm

Tự làm hoặc bảo người

Ðều đã thành Phật đạo.

Nhẫn đến đồng tử giỡn

Hoặc cỏ cây và bút

Hoặc lấy móng tay mình

Mà vẽ làm tượng Phật

Những hạng người như thế

Lần lần chứa công đức

Ðầy đủ tâm đại bi

Ðều đã thành Phật đạo

Chỉ dạy các Bồ tát

Ðộ thoát vô lượng chúng.

32. Nếu người nơi tháp miếu

Tượng báu và tượng vẽ

Dùng hoa, hương, phan, lọng

Lồng kính mà cúng dường

Hoặc khiến người trổi nhạc

Ðánh trống, thổi sừng ốc

Tiêu địch, cầm, không hầu

Tỳ bà, chụp chả đồng

Các tiếng hay như thế

Ðem dùng cúng dường hết

Hoặc người lòng vui mừng

Ca ngâm khen đức Phật

Nhẫn đến một tiếng nhỏ

Ðều đã thành Phật đạo.

33. Nếu người lòng tán loạn

Nhẫn đến dùng một hoa

Cúng dường nơi tượng vẽ

Lần thấy các đức Phật

Hoặc có người lễ lạy

Hoặc lại chỉ chắp tay

Nhẫn đến giơ một tay

Hoặc lại hơi cúi đầu

Dùng đây cúng dường tượng

Lần thấy vô lượng Phật

Tự thành đạo Vô thượng

Rộng độ chúng vô số

Vào vô dư Niết bàn

Như củi hết lửa tắt.

Nếu lòng người tán loạn

Vào nơi trong tháp miếu

Một xưng Nam mô Phật

Ðều đã thành Phật đạo.

Nơi các Phật quá khứ

Tại thế, hoặc diệt độ,

Có người nghe pháp này

Ðều đã thành Phật đạo.

34. Các Thế Tôn vị lai

Số nhiều không thể lường

Các đức Như Lai đó

Cùng phương tiện nói pháp.

Tất cả các Như Lai

Dùng vô lượng phương tiện

Ðộ thoát các chúng sinh

Vào trí vô lậu Phật,

Nếu có người nghe pháp

Không ai chẳng thành Phật.

Các Phật vốn thệ nguyện

Ta tu hành Phật đạo

Khắp muốn cho chúng sinh

Cũng đồng được đạo này.

Các Phật đời vị lai

Dầu nói trăm nghìn ức

Vô số các pháp môn

Kỳ thực vì nhất thừa.

Các Phật lưỡng túc tôn

Biết pháp thường không tính

Giống Phật theo duyên sinh

Cho nên nói nhất thừa.

Pháp đó trụ ngôi pháp

Tướng thế gian thường còn

Nơi đạo tràng biết rồi

Ðức Phật phương tiện nói.

Hiện tại mười phương Phật

Của trời người cúng dường

Số nhiều như hằng sa

Hiện ra nơi thế gian

Vì an ổn chúng sanh

Cũng nói pháp như thế.

Biết vắng bặt thứ nhất

Bởi dùng sức phương tiện

Dầu bày các món đạo

Kỳ thực vì Phật thừa

Biết các hạnh chúng sinh

Thâm tâm nó nghĩ nhớ

Nghiệp quen từ quá khứ

Tính dục, sức tinh tấn

Và các căn lợi độn

Dùng các món nhân duyên

Thí dụ cùng lời lẽ

Tùy cơ phương tiện nói.

Ta nay cũng như vậy

Vì an ổn chúng sinh

Dùng các món pháp môn

Rao bày nơi Phật đạo.

Ta dùng sức trí huệ

Rõ tính dục chúng sinh

Phương tiện nói các pháp

Ðều khiến được vui mừng.

Xá Lợi Phất nên biết!

Ta dùng mắt Phật xem

Thấy sáu đường chúng sinh

Nghèo cùng không phước huệ

Vào đường hiểm sinh tử

Khổ nối luôn không dứt

Sâu tham nơi ngũ dục

Như trâu “mao” mến đuôi

Do tham ái tự che

Ðui mù không thấy biết

Chẳng cầu Phật thế lớn

Cùng pháp dứt sự khổ

Sâu vào các tà kiến

Lấy khổ muốn bỏ khổ

Phật vì chúng sinh này

Mà sinh lòng đại bi.

36. Xưa, ta ngồi đạo tràng

Xem cây cũng kinh hành

Trong hai mươi mốt ngày

Suy nghĩ việc như vầy:

Trí huệ của ta được

Vi diệu rất thứ nhất

Chúng sinh các căn chậm

Tham vui si làm mù

Các hạng người như thế

Làm sao mà độ được?

Bấy giờ các Phạm Vương

Cùng các Trời Ðế Thích

Bốn Thiên Vương hộ đời

Và trời Ðại tự tại

Cùng các thiên chúng khác

Trăm nghìn ức quyến thuộc

Chắp tay cung kính lễ

Thỉnh ta chuyển pháp luân.

Ta liền tự suy nghĩ

Nếu chỉ khen Phật thừa

Chúng sanh chìm nơi khổ

Không thể tin pháp đó

Do phá pháp không tin

Rớt trong ba đường dữ

Ta thà không nói pháp

Mau vào cõi Niết bàn.

Liền nhớ Phật quá khứ

Thực hành sức phương tiện

Ta nay chứng được đạo

Cũng nên nói ba thừa.

37. Lúc ta nghĩ thế đó

Mười phương Phật đều hiện

Tiếng phạm an ủi ta

Hay thay! đức Thích Ca

Bậc Ðạo sư thứ nhất

Ðược pháp Vô thượng ấy

Tùy theo tất cả Phật

Mà dùng sức phương tiện

Chúng ta cũng đều được

Pháp tối diệu thứ nhất

Vì các loại chúng sinh

Phân biệt nói ba thừa.

Trí kém ưa pháp nhỏ

Chẳng tự tin thành Phật

Cho nên dùng phương tiện

Phân biệt nói các quả

Dầu lại nói ba thừa

Chỉ vì dạy Bồ tát.

38. Xá Lợi Phất nên biết!

Ta nghe các đức Phật

Tiếng nhiệm mầu rất sạch

Xưng: “Nam mô chư Phật!”

Ta lại nghĩ thế này

Ta ra đời trược ác

Như các Phật đã nói

Ta cũng thuận làm theo

Suy nghĩ việc đó rồi

Liền đến thành Ba Nại.

Các pháp tướng tịch diệt

Không thể dùng lời bày

Bèn dùng sức phương tiện

Vì năm Tỳ kheo nói.

Ðó gọi chuyển pháp luân

Bèn có tiếng Niết bàn

Cùng với A La Hán

Tên pháp, tăng sai khác.

Từ kiếp xa nhẫn lại

Khen bày Pháp Niết bàn

Dứt hẳn khổ sống chết

Ta thường nói như thế.

39. Xá Lợi Phất phải biết

Ta thấy các Phật tử

Chí quyết cầu Phật đạo

Vô lượng nghìn muôn ức

Ðều dùng lòng cung kính

Ðồng đi đến chỗ Phật

Từng đã theo các Phật

Nghe nói pháp phương tiện

Ta liền nghĩ thế này

Sở dĩ Phật ra đời

Ðể vì nói Phật huệ

Nay chính đã đúng giờ.

40. Xá Lợi Phất phải biết!

Người căn chậm trí nhỏ

Kẻ chấp tướng kiêu mạn

Chẳng thể tin pháp này

Nay ta vui vô úy

Ở trong hàng Bồ tát

Chính bỏ ngay phương tiện

Chỉ nói đạo Vô thượng.

Bồ tát nghe pháp đó

Ðều đã trừ lưới nghi

Nghìn hai trăm La hán

Cũng đều sẽ thành Phật.

Như nghi thức nói pháp

Của các Phật ba đời

Ta nay cũng như vậy

Nói pháp không phân biệt.

Các đức Phật ra đời

Lâu xa khó gặp gỡ

Chính sử hiện ra đời

Nói pháp này khó hơn.

Vô lượng vô số kiếp

Nghe pháp này cũng khó

Hay nghe được pháp này

Người đó cũng lại khó.

Thí như hoa linh thoại

Tất cả đều ưa mến

Ít có trong trời, người

Lâu lâu một lần trổ.

41. Người nghe pháp mừng khen

Nhẫn đến nói một lời

Thời là đã cúng dường

Tất cả Phật ba đời

Người đó rất ít có

Hơn cả hoa Ưu đàm.

Các ông chớ có nghi

Ta là vua các pháp

Khắp bảo các đại chúng

Chỉ dùng đạo nhất thừa

Dạy bảo các Bồ tát

Không Thanh văn đệ tử.

42. Xá Lợi Phất các ông!

Thanh văn và Bồ tát

Phải biết pháp mầu này

Bí yếu của các Phật.

Bởi đời ác năm trược

Chỉ tham ưa các dục

Những chúng sinh như thế

Trọn không cầu Phật đạo.

Người ác đời sẽ tới

Nghe Phật nói nhất thừa

Mê lầm không tin nhận

Phá pháp đọa đường dữ.

Người tàm quí trong sạch

Quyết chí cầu Phật đạo

Nên vì bọn người ấy

Rộng khen đạo nhất thừa.

Xá Lợi Phất nên biết

Pháp các Phật như thế

Dùng muôn ức phương tiện

Tùy thời nghi nói pháp.

Người chẳng học tập tu

Không hiểu được pháp này

Các ông đã biết rõ

Phật là Thầy trong đời

Việc phương tiện tùy nghi

Không còn lại nghi lầm

Lòng sinh rất vui mừng

Tự biết sẽ thành Phật.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ NHẤT

Một sáng chiếu phương Đông, thể diệu toàn bày, chẳng phải chỗ suy lường mà suy lường được, thầm hiểu ở trong lòng, phương tiện truyền bày, một đạo nhã hương trời.

Nam mô Pháp hoa Hội Thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

Thế Tôn hiện điềm tốt, Di Lặc nghi tướng lành, Văn Thù vì chúng rộng phô bày: Phật xưa phóng hào quang. Ba phen mời đấng Pháp Vương, vì nói hương Diệu Liên.

Nam mô quá khứ Nhật Nguyệt Ðăng Minh Phật. (3 lần)

THÍCH NGHĨA

(1) KINH: Pháp thường, mười phương ba đời các đức Phật đều nói như vậy. Nói đủ là “Khế Kinh” nghĩa là “pháp thường khế hiệp chân lý cùng khế hiệp căn cơ chúng sinh”. DIỆU PHÁP LIÊN HOA: Pháp mầu khó nghĩ lường, thắng hơn tất cả các pháp. Kinh pháp này là bậc nhất trong các kinh pháp khác của Phật nói, dụ như hoa sen, vì hoa sen sánh với các hoa khác có 5 điều đặc biệt:

1. Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời.

2. Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho.

3. Cọng hoa từ cội tách riêng nhưng không chung cành với lá.

4. Ong và bướm không bu đậu.

5. Không bị người dùng làm trang điểm (Xưa đàn bà Ấn Ðộ quen dùng hoa kết thành tràng để đeo đội v.v...)

(2) Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.

(3) Các điều vọng lầm hay làm lọt mất công đức lành.

(4) Tự mình đã được thoát khỏi khổ sinh tử luân hồi.

(5) Ba cõi: Cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc.

(6) Từ quả A na hàm trở xuống chưa được giải thoát còn phải học tập nên gọi “Hữu học”. Quả A la hán đã được giải thoát, về trong Tiểu thừa pháp, thời không còn phải học nữa nên gọi Vô học.

(7) Quả chứng của Phật.

(8) Tổng trì: Gồm nhiếp các Pháp.

(9) Tài biện luận ưa giảng nói pháp.

(10) Chỗ rốt ráo, trọn vẹn, nên xong hoàn toàn.

(11) Tên của vị vua 33 nước trời Ðao lỵ ở trên đỉnh núi Tu Di.

(12) Ba thứ tiếng vang dội và 3 thứ rung động của hình sắc.

(13) (16) Các loài thần hầu hạ cõi Ðao lỵ.

(14) Thần phi thiên: có phúc như trời mà đức kém hơn trời.

(15) Chim cánh vàng (kim sí điểu)

(17) Thần rắn.

(18) 1) Trời, 2) Người, 3) A tu la, 4) Thú, 5) Quỉ, 6) Ðịa ngục.

(19) Phật là vua pháp (pháp vương). Bồ tát cũng như con của Phật nên là: Pháp vương tử.

(20) Người thọ tam qui ngũ giới tu tại gia gần gũi hộ thờ Tam bảo nên gọi cận sự, đàn ông là Nam, đàn bà là nữ, ta quen gọi là “Cư sĩ”.

(21) Vô số (một số lớn). Kiếp có: tiểu kiếp, trung kiếp, đại kiếp. Một tiểu kiếp có 16.798.000 năm. Một trung kiếp có 20 tiểu kiếp. Một đại kiếp có 4 trung kiếp: Thành, Trụ, Hoại, Không.

(22) 1. Khổ đế, 2. Tập đế, 3. Diệt đế, 4. Ðạo đế.

(23) 1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thọ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu, 11. Sinh, 12. Lão tử.

12 món này làm nhân duyên lẫn nhau.

(24) Cũng gọi là 6 độ: 1. Bố thí độ, 2. Trì giới độ, 3. Nhẫn nhục độ, 4. Tinh tấn độ, 5. Thiền định độ, 6. Trí huệ độ.

(25) Trí của Phật.

(26) 1. Ðông thắng thần châu. 2. Nam Thiệm bộ châu (quả địa cầu), 3. Tây ngưu hóa châu, 4. Bắc câu lô châu.

(27) (THỌ KÝ): Trao cho lời ghi chắc về sau, bao nhiêu năm cõi nào sẽ thành Phật hiệu là v.v...

(28) Sông Hằng một con sông lớn xứ Ấn Ðộ, trong sông và hai bờ có cát rất mịn, trong kinh thường dùng số cát ấy để chỉ một một số đông nhiều.

(29) Ông Thầy dắt dẫn.

(30) Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Phật thừa.

(31) Phương chước hay phương pháp tiện lợi dễ dàng.

SỰ TÍCH TẢ KINH PHÁP HOA ÔNG NGHIÊM CUNG

Nước Tàu, triều nhà Trần niên hiệu Ðại Kiến năm đầu, ở xứ Dương Châu có ông Nghiêm Cung tả kinh Pháp Hoa để phân phát cho người trì tụng.

Lúc đó có thần ở miếu Cung Ðình Hồ mách mộng cho khách buôn đem hết của trong miếu đưa sang trao cho ông Cung để chi phí về việc tả kinh.

Lại một hôm ông Cung mang tiền ra phố mua giấy viết lỡ thiếu 3.000 đồng điếu, bỗng thấy từ trong chợ đi ra một người cầm 3.000 đồng điếu trao cho ông Cung mà nói: “Giúp ông mua giấy”. Nói xong biến mất.

Rốt đời Tùy, giặc cướp đến Giang Ðô đều dặn nhau không nên phạm đến xóm của ông Nghiêm Pháp Hoa (Nghiêm Cung). Nhờ đó mà cả xóm an lành.

Ðến cuối đời Ðường, nhà họ Nghiêm vẫn nối nhau tả kinh không thôi.

“Vậy thời tả kinh, hay in kinh công đức lớn biết dường nào, không nói đến phước báu tốt đẹp ở nhiều đời sau, mà ngay trong hiện tại cũng không thể lường được, chẳng những là mình khỏi khổ nguy mà mọi người ở gần cũng được nhờ, cả thần thánh cũng thường theo hộ trợ như truyện ông Nghiêm Cung đây vậy.”


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Hai

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thí Dụ” Thứ Ba

1. Lúc bấy giờ Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng: “Nay con theo đức Thế Tôn nghe đặng tiếng pháp này, trong lòng hớn hở đặng điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ tát được thọ ký thành Phật mà chúng con chẳng được dự việc đó tự rất cảm thương mất vô lượng tri kiến của Như Lai.

Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vậy: Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu thừa mà tế độ cho?

Ðó là lỗi của chúng con chớ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân Thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời chắc do pháp Đại thừa mà đặng độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy.

Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là Phật tử, từ miệng Phật sinh ra, từ pháp hóa sinh, được pháp phần của Phật.

Khi ấy, Ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Con nghe tiếng pháp này

Ðược điều chưa từng có

Lòng rất đổi vui mừng

Lưới nghi đều đã trừ,

Xưa nay nhờ Phật dạy

Chẳng mất nơi Đại thừa.

Tiếng Phật rất ít có

Hay trừ khổ chúng sinh

Con đã được lậu tận (1)

Nghe cũng trừ lo khổ.

Con ở nơi hang núi

Hoặc dưới cụm cây rừng

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Thường suy nghĩ việc này,

Thôi ôi! Rất tự trách

Sao lại tự khi mình

Chúng ta cũng Phật tử

Ðồng vào pháp vô lậu

Chẳng được ở vị lai

Nói pháp Vô thượng đạo,

Sắc vàng, băm hai tướng (2)

Mười lực (3) các giải thoát.

Ðồng chung trong một pháp

Mà chẳng được việc đây

Tám mươi tướng tốt đẹp

Mười tám pháp bất cộng (4)

Các công đức như thế

Mà ta đều đã mất.

3. Lúc con kinh hành riêng

Thấy Phật ở trong chúng

Danh đồn khắp mười phương

Rộng lợi ích chúng sinh

Tự nghĩ mất lợi này

Chính con tự khi dối

Con thường trong ngày đêm

Hằng suy nghĩ việc đó

Muốn đem hỏi Thế Tôn?

Là mất hay không mất?

Con thường thấy Thế Tôn

Khen ngợi các Bồ tát (5)

Vì thế nên ngày đêm

Suy lường việc như vậy.

4. Nay nghe tiếng Phật nói

Theo cơ nghi dạy Pháp

Vô lậu khó nghĩ bàn

Khiến chúng đến đạo tràng.

Con xưa chấp tà kiến

Làm Thầy các Phạm Chí (6)

Thế Tôn rõ tâm con

Trừ tà nói Niết bàn.

Con trừ hết tà kiến

Ðược chứng nơi pháp không

Bấy giờ lòng tự bảo

Ðược đến nơi diệt độ

Mà nay mới tự biết

Chẳng phải thực diệt độ.

Nếu lúc được thành Phật

Ðủ ba mươi hai tướng

Trời, người, chúng, Dạ xoa

Rồng, thần đều cung kính

Bấy giờ mới được nói

Dứt hẳn hết không thừa

Phật ở trong đại chúng

Nói con sẽ thành Phật

Nghe tiếng pháp như vậy

Lòng nghi hối đã trừ.

5. Khi mới nghe Phật nói

Trong lòng rất sợ nghi

Phải chăng ma giả Phật

Não loạn lòng ta ư?

Phật dùng các món duyên

Thí dụ khéo nói phô,

Lòng kia an như biển

Con nghe, lưới nghi dứt.

Phật nói thuở quá khứ

Vô lượng Phật diệt độ

An trụ trong phương tiện

Cũng đều nói pháp đó.

Phật hiện tại, vị lai.

Số nhiều cũng vô lượng

Cũng dùng các phương tiện

Diễn nói pháp như thế.

Như Thế Tôn ngày nay

Từ sinh đến xuất gia

Ðược đạo chuyển pháp luân

Cũng dùng phương tiện nói

Thế Tôn nói đạo thực

Ba tuần (7) không nói được

Vì thế con định biết

Không phải ma giả Phật

Con sa vào lưới nghi

Cho là ma làm ra.

Nghe tiếng Phật êm dịu

Sâu xa rất nhiệm mầu

Nói suốt pháp thanh tịnh

Tâm con rất vui mừng.

Nghi hối đã hết hẳn

An trụ trong thực trí

Con quyết sẽ thành Phật

Ðược trời, người cung kính

Chuyển pháp luân Vô thượng

Giáo hóa các Bồ tát.

6. Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Ta nay ở trong hàng Trời, người, Sa môn, Bà la môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo Vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sinh vào trong pháp ta”.

Xá Lợi Phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là: “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”.

7. Xá Lợi Phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn.

Nước tên: Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng thanh tịnh đẹp đẽ an ổn giàu vui, trời người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có hoa trái. Ðức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sinh.

Xá Lợi Phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải là đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là “Ðại Bửu Trang Nghiêm”. Vì sao gọi là “Ðại Bửu Trang Nghiêm”? Vì trong cõi đó dùng Bồ tát làm “Ðại Bửu” vậy.

Các Bồ tát đó số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghì, tính kể hay thí dụ đều không kịp đến được, chẳng phải sức trí huệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa đỡ chân.

Các vị Bồ tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội đức từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh hằng được các Phật ngợi khen. Thường tu trí huệ của Phật đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững bậc Bồ tát như thế, khắp đầy nước đó.

Xá Lợi Phất! Ðức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ lúc còn làm Vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Ðức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ tát mà bảo các Tỳ kheo: Ông Kiên mãn Bồ tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến Tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây.

Xá Lợi Phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp.

Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8. Xá Lợi Phất đời sau

Thành đấng Phật trí khắp

Hiệu rằng: Phật Hoa Quang

Sẽ độ vô lượng chúng.

Cúng dường vô số Phật

Ðầy đủ hạnh Bồ tát

Các công đức thập lực

Chứng được đạo Vô thượng

Quá vô lượng kiếp rồi

Kiếp tên Ðại Bửu Nghiêm

Cõi nước tên Ly Cấu

Trong sạch không vết nhơ

Dùng lưu ly làm đất

Dây vàng giăng đường sá

Cây bảy báu sắc đẹp

Thường có hoa cùng trái

Bồ tát trong cõi đó

Chí niệm thường bền vững

Thần thông Ba la mật

Ðều đã trọn đầy đủ

Nơi vô số đức Phật

Khéo học đạo Bồ tát

Những Ðại Sĩ như thế

Phật Hoa Quang hóa độ.

Lúc Phật làm Vương tử

Rời nước bỏ vinh hoa

Nơi thân cuối rốt sau

Xuất gia thành Phật đạo

Phật Hoa Quang trụ thế

Thọ mười hai tiểu kiếp

Chúng nhân dân nước đó

Sống lâu tám tiểu kiếp

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp trụ ở đời

Ba mươi hai tiểu kiếp

Rộng độ các chúng sanh

Chánh pháp diệt hết rồi

Tượng pháp cũng băm hai

Xá lợi rộng truyền khắp

Trời, người, khắp cúng dường

Phật Hoa Quang chỗ làm

Việc đó đều như thế.

Ðấng lưỡng Túc Tôn kia

Rất hơn không ai bằng

Phật tức là thân ông

Nên phải tự vui mừng.

9. Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Cận sự nam, Cận sự nữ và cả đại chúng: Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, v.v... thấy Xá Lợi Phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật.

Thích Ðề Hoàn Nhân cùng Phạm Thiên Vương v.v... và vô số thiên tử cũng đem y đẹp của trời, hoa trời Mạn đà la, Ma ha Mạn đà la v.v... cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trổi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng: “Ðức Phật xưa ở thành Ba La Nại, ban đầu chuyển pháp luân đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn Vô thượng”.

Lúc đó các thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10. Xưa ở thành Ba Nại

Chuyển pháp luân bốn đế

Phân biệt nói các pháp

Sanh diệt của năm nhóm. (8)

Nay lại chuyển pháp luân

Rất lớn diệu Vô thượng,

Pháp đó rất sâu mầu

Ít có người tin được.

Chúng ta từ xưa lại

Thường nghe Thế Tôn nói

Chưa từng nghe thượng pháp

Thâm diệu như thế này,

Thế Tôn nói pháp đó

Chúng ta đều tùy hỉ,

Ðại trí Xá Lợi Phất

Nay được lãnh Phật ký

Chúng ta cũng như vậy

Quyết sẽ được thành Phật,

Trong tất cả thế gian

Rất tôn không còn trên

Phật đạo chẳng thể bàn

Phương tiện tùy nghi nói

Ta bao nhiêu nghiệp phước

Ðời nay hoặc quá khứ

Và công đức thấy Phật

Trọn hồi hướng Phật đạo.

11. Bấy giờ, Xá Lợi Phất bạch rằng: “Thế Tôn! con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: “Pháp của ta hay lìa sinh, già, bịnh, chết rốt ráo Niết bàn”. Các vị hữu học vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v... nói là được Niết bàn, mà nay ở trước đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối.”

12. Khi ấy, Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Ta trước đâu không nói rằng: “Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư? Các điều nói đó đều vì dạy Bồ tát vậy. Nhưng Xá Lợi Phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà được hiểu.”

13. Xá Lợi Phất! Như trong quốc ấp, tụ lạc có vị Ðại Trưởng giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông; hoặc một trăm, hai trăm cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chân cột hư nát, trính xiêng xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa.

Các người con của Trưởng giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó.

14. Trưởng giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này, ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi.

Xá Lợi Phất! Ông Trưởng giả đó lại nghĩ: thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế đẳng từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ.

Nhà này đã bị cháy phải liền mau ra, chớ để bị lửa đốt hại. Nghĩ như thế theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa? gì là nhà? thế nào là hại? Chỉ cứ đông tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi.

15. Bấy giờ, Trưởng giả liền nghĩ nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không ra liền chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này.

Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có, chắc chúng nó ưa đắm, mà bảo các con rằng: “Ðây này là những món ít có khó được mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa nên mau ra đây tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con”.

Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau cùng đua nhau ruổi chạy tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng giả thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đều ở trong đường ngã tư nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở.

Bấy giờ, các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu xin liền ban cho.”

16. Xá Lợi Phất! Khi đó Trưởng giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau dồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rủ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó.

Vì cớ sao? Vì ông Trưởng giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cực, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác.”

Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho người cả một nước hãy còn không thiếu huống gì các con. Lúc ấy các người con đều ngồi xe lớn được điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông.

17. Xá Lợi Phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông Trưởng giả đó đồng đem xe trân báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng? Xá Lợi Phất thưa: “Thưa Thế Tôn! Không, ông Trưởng giả chỉ làm cho các con được khỏi nạn lửa, toàn thân mệnh chúng nó chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mệnh bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa.

Thế Tôn! Dầu ông Trưởng giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông Trưởng giả đó trước có nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông Trưởng giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích các con mà đồng cho xe lớn!”

18. Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: “Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói, Xá Lợi Phất! Như Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri kiến, trí lực, vô sở úy; có sức đại thần thông cùng sức trí huệ đầy đủ các món phương tiện. Trí huệ Ba la mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loại mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sinh ra khỏi nạn lửa; sanh, già, bịnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sinh được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

19. Ta thấy, các chúng sinh bị những sự sanh, già, bịnh, chết, lo buồn khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục (9) tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ Địa ngục, Súc sanh, Ngạ quỉ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sinh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này đông tây rảo chạy dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo.

20. Xá Lợi Phất! Ðức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí huệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi.

Xá Lợi Phất! Ðức Như Lai lại nghĩ: Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí huệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sanh khen ngợi các món tri kiến, trí lực, vô sở úy của Như Lai, ắt chúng sinh chẳng có thể do đó mà đặng độ thoát.

Vì sao? Vì các chúng sinh đó chưa khỏi sự sanh, già, bịnh, chết, lo buồn, đau khổ, đương bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí huệ của Phật.

21. Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, rồi sau đều cho xe trân báu lớn.

Ðức Như Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy (10) mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí huệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sinh, vì chúng sinh nói ba thừa Thanh văn, Duyên giác cùng Phật thừa mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thanh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham mê ắt sinh ái nhiễm thời sẽ bị nó đốt; các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ được chứng ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa.

Nay ta vì các người mà bảo nhiệm việc đó quyết không dối vậy. Các người chỉ nên siêng năng tinh tấn tu hành”. Ðức Như Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sinh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng Thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác chi, thánh đạo (11), thiền định vô lậu cùng giải thoát tam muội v.v... để tự vui sướng, được vô lượng sự an ổn khoái lạc.

22. Xá Lợi Phất! Nếu có chúng sanh nào bề trong có trí tánh, theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết bàn, gọi đó là Thanh văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa.

Nếu có chúng sanh nào theo đức Thế Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí huệ tự nhiên ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhơn duyên của các pháp, gọi đó là Duyên giác thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa.

Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn cầu nhất thiết trí, Phật trí, tự nhiên trí, vô sư trí, các món tri kiến lực, vô úy của Như Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Ðại thừa, Bồ tát vì cầu được thừa này thời gọi là Ma ha tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.

23. Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Ðức Như Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sinh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sinh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi được sự vui Niết bàn.

Bấy giờ, đức Như Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí huệ, lực vô úy v.v... tạng pháp của các đức Phật, các chúng sinh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như Lai mà cho chúng sinh nó diệt độ.

Những chúng sinh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui thiền định, giải thoát v.v... của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng Thánh khen ngợi, hay sanh ra sự vui sạch mầu bậc nhất.

24. Xá Lợi Phất! Như ông Trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông Trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Ðức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng Đại thừa mà độ giải thoát đó.

Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ, lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết.

Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba.

Ðức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

25. Thí như ông Trưởng giả

Có căn nhà rất lớn

Nhà đó đã lâu cũ

Mà lại rất xấu xa.

Phòng nhà vừa cao nguy

Cội cột lại gẫy mục

Trính xiêng đều xiêu vẹo

Nền móng đã nát rã.

Vách phên đều sụp đổ

Ðất bùn rơi rớt xuống

Tranh lợp sa tán loạn

Kèo đòn sai rời khớp.

Bốn bề đều cong vạy

Khắp đầy những tạp nhơ

Có đến năm trăm người

Ở đỗ nơi trong đó.

Chim xi, hiêu, điêu, thứu,

Quạ chim thước, cưu, cáp

Loài ngoan xà, phúc yết,

Giống ngô công, do diên,

Loài thủ cung, bá túc

Dứu, ly cùng hề thử

Các giống độc trùng dữ

Ngang dọc xen ruổi chạy,

Chỗ phẩn giải hôi thối

Ðồ bất tịnh chảy tràn

Các loài trùng khương lương

Bu nhóm ở trên đó,

Cáo, sói cùng dã can

Liếm nhai và dày đạp

Cắn xé những thây chết

Xương thịt bừa bãi ra,

Do đây mà bầy chó

Ðua nhau đến ngoạm lấy,

Ốm đói và sợ sệt

Nơi nơi tìm món ăn

Giành giựt cấu xé nhau

Gầm gừ gào sủa rân,

Nhà đó sự đáng sợ

Những biến trạng đường ấy.

Khắp chỗ đều có những

Quỉ, lỵ, mị, vọng, lượng

Quỉ Dạ xoa quỉ dữ

Nuốt ăn cả thịt người,

Các loài trùng độc dữ

Những cầm thú hung ác

Ấp, cho bú sản sanh

Ðều tự giấu gìn giữ

Quỉ Dạ xoa đua đến

Giành bắt mà ăn đó,

Ăn đó no nê rồi

Lòng hung dữ thêm hăng

Tiếng chúng đánh cãi nhau

Thật rất đáng lo sợ.

Những quỉ Cưu bàn trà

Ngồi xổm trên đống đất

Hoặc có lúc hỏng đất

Một thước hay hai thước

Qua rồi lại, dạo đi

Buông lung chơi cùng giỡn

Nắm hai chân của chó

Ðánh cho la thất thanh

Lấy chân đạp trên cổ

Khủng bố chó để vui.

Lại có các giống quỉ

Thân nó rất cao lớn

Trần truồng thân đen xấu

Thường ở luôn trong đó

Rền tiếng hung ác lớn

Kêu la tìm món ăn

Lại có các giống quỉ

Cổ nó nhỏ bằng kim,

Lại có các giống quỉ

Ðầu nó như đầu trâu

Hoặc là ăn thịt người

Hoặc là ăn thịt chó,

Ðầu tóc rối tung lên

Rất ác lại hung hiểm,

Bị đói khát bức ngặt

Kêu la vừa rong chạy

Dạ xoa cùng quỉ đói

Các chim muông ác độc

Ðói gấp rảo bốn bề

Rình xem nơi cửa sổ

Các nạn dường thế đấy

Vô lượng việc ghê sợ. (12)

26. Nhà cũ mục trên đó

Thuộc ở nơi một người

Người ấy vừa mới ra

Thời gian chưa bao lâu

Rồi sau nhà cửa đó

Bỗng nhiên lửa cháy đỏ

Ðồng một lúc bốn bề

Ngọn lửa đều hừng hực,

Rường cột và trính xiêng

Tiếng tách nổ vang động

Nát gãy rơi rớt xuống

Vách phên đều lở ngã,

Các loại quỉ thần thảy

Ðồng cất tiếng kêu to,

Các giống chim điêu, thứu

Quỉ Cưu bàn trà thảy

Kinh sợ chạy sảng sốt

Vẫn không tự ra được,

Thú dữ loài trùng độc

Chui núp trong lỗ hang

Các quỉ Tỳ xá xà

Cũng ở trong hang đó

Vì phước đức kém vậy

Bị lửa đến đốt bức

Lại tàn hại lẫn nhau

Uống máu ăn thịt nhau.

Những loài thú dã can

Thời đều đã chết trước

Các giống thú dữ lớn

Giành đua đến ăn nuốt.

Khói tanh bay phùn phụt

Phủ khắp bít bốn bề,

Loài ngô công, do diên

Cùng với rắn hung độc

Bị lửa lòn đốt cháy

Tranh nhau chạy khỏi hang

Quỉ Bàn trà rình chờ

Liền bắt lấy mà ăn.

Lại có các Ngạ quỉ

Trên đầu lửa bực cháy

Ðói khát rất nóng khổ

Sảng sốt chạy quàng lên,

Nhà lửa đó dường ấy

Rất đáng nên ghê sợ

Ðộc hại cùng tai lửa

Các nạn chẳng phải một.

27. Lúc bấy giờ chủ nhà

Ðứng ở nơi ngoài cửa

Nghe có người mách rằng:

Các người con của ông

Trước đây vì dạo chơi

Mà đến vào nhà này

Thơ bé không hiểu biết

Chỉ vui ham ưa đắm.

Trưởng giả vừa nghe xong

Kinh sợ vào nhà lửa

Tìm phương nghi cứu tế

Cho con khỏi thiêu hại

Mà dụ bảo các con

Nói rõ các hoạn nạn:

Nào ác quỉ độc trùng

Hỏa tai lan tràn cháy

Các sự khổ thứ lớp

Nối luôn không hề dứt

Loài độc xà, ngươn phúc

Và các quỉ Dạ xoa

Cùng quỉ Cưu bàn trà

Những dã can, chồn, chó

Chim điêu, thứu, xi, hiêu

Lại giống bá túc thảy

Ðều đói khát khổ gấp

Rất đáng phải ghê sợ

Chỗ khổ nạn như thế

Huống lại là lửa lớn.

Các con nhỏ không hiểu

Dầu có nghe cha dạy

Cứ vẫn còn ham ưa

Vui chơi mãi không thôi.

28. Bấy giờ Trưởng giả kia

Mới bèn nghĩ thế này:

Các con như thế đó

Làm ta thêm sầu não.

Nay trong nhà lửa này

Không một việc đáng vui

Mà các con ngây dại

Vẫn ham mê vui chơi

Chẳng chịu nghe lời ta

Toan sẽ bị lửa hại.

Ông bèn lại suy nghĩ

Nên bày các phương tiện

Bảo với các con rằng:

Cha có rất nhiều thứ

Các đồ chơi trân kỳ

Những xe báu tốt đẹp

Nào xe dê, xe hươu

Cùng với xe trâu lớn

Hiện để ở ngoài cửa

Các con mau ra đây

Cha chính vì các con

Mà sắm những xe này

Tùy ý các con thích

Có thể để dạo chơi.

Các con nghe cha nói

Các thứ xe như vậy

Tức thời cùng giành đua

Rảo chạy ra khỏi nhà

Ðến nơi khoảng đất trống

Rời những sự khổ nạn

Trưởng giả thấy các con

Ðược ra khỏi nhà lửa

Ở nơi ngã tư đường

Ðều ngồi tòa sư tử

Ông bèn tự mừng rằng

Ta nay rất mừng vui

Những đứa con ta đây

Ðẻ nuôi rất khó lắm

Chúng nhỏ dại không hiểu

Mới lầm vào nhà hiểm

Có nhiều loài trùng độc

Quỉ lỵ mị đáng sợ

Lửa lớn cháy hừng hực

Bốn phía đều phựt lên

Mà các trẻ con này

Lại ham ưa vui chơi

Nay ta đã cứu chúng

Khiến đều được thoát nạn

Vì thế các người ơi!

Ta nay rất vui mừng.

Khi ấy các người con

Biết cha đã ngồi an

Ðều đến bên chỗ cha

Mà thưa cùng cha rằng:

Xin cha cho chúng con

Ba thứ xe báu lạ

Như vừa rồi cha hứa

Các con mau ra đây

Sẽ cho ba thứ xe

Tùy ý các con muốn

Bây giờ chính phải lúc

Xin cha thương cấp cho.

29. Trưởng giả giàu có lớn

Kho đụn rất nhiều đầy

Vàng bạc cùng lưu ly

Xa cừ ngọc mã não,

Dùng những món vật báu

Tạo thành các xe lớn

Chưng dọn trang nghiêm đẹp

Khắp vòng có bao lơn

Bốn mặt đều treo linh

Dây vàng xen thắt tụi

Lưới mành kết chân châu

Giăng bày phủ phía trên

Hoa vàng các chuỗi ngọc

Lòng thòng rủ khắp chỗ

Các màu trang sức đẹp

Khắp vòng vây quanh xe

Dùng nhiễu hàng mềm mại

Ðể làm nệm lót ngồi

Vải quí mịn rất tốt

Giá trị đến nghìn muôn

Bóng láng trắng sạch sẽ

Dùng trải trùm trên nệm

Có trâu trắng to lớn

Mập khỏe nhiều sức mạnh

Thân hình rất tươi tốt

Ðể kéo xe báu đó

Ðông những tôi và tớ

Mà chực hầu giữ gìn

Ðem xe đẹp như thế

Ðồng ban cho các con

Các con lúc bấy giờ

Rất vui mừng hớn hở

Ngồi trên xe báu đó

Dạo đi khắp bốn phương

Vui chơi nhiều khoái lạc

Tự tại không ngăn ngại.

30. Bảo Xá Lợi Phất này

Ðức Phật cũng như vậy

Tôn cả trong hàng Thánh

Cha lành của trong đời.

Tất cả các chúng sanh

Ðều là con của ta

Say mê theo thế lạc

Không có chút huệ tâm.

Ba cõi hiểm không an

Dường như nhà lửa cháy

Các nạn khổ dẫy đầy

Rất đáng nên ghê sợ.

Thường có những sanh, già

Bịnh, chết và rầu lo

Các thứ lửa như thế

Cháy hừng chẳng tắt dứt.

Ðức Như Lai đã lìa

Nhà lửa ba cõi đó

Vắng lặng ở thong thả

An ổn trong rừng nội.

Hiện nay ba cõi này

Ðều là của ta cả

Những chúng sanh trong đó

Cũng là con của ta.

Mà nay trong ba cõi

Có nhiều thứ hoạn nạn

Chỉ riêng một mình ta

Có thể cứu hộ chúng.

Dầu lại đã dạy bảo

Mà vẫn không tin nhận

Vì nơi các dục nhiễm

Rất sanh lòng tham mê.

Bởi thế nên phương tiện

Vì chúng nói ba thừa

Khiến cho các chúng sanh

Rõ ba cõi là khổ.

Mở bày cùng diễn nói

Những đạo pháp xuất thế

Các người con đó thảy

Nếu nơi tâm quyết định

Ðầy đủ ba món minh (13)

Và sáu món thần thông (14)

Có người được Duyên giác

Hoặc bất thối Bồ tát.

Xá Lợi Phất phải biết

Ta vì các chúng sanh

Dùng món thí dụ này

Ðể nói một Phật thừa

Các ông nếu có thể

Tin nhận lời nói đây

Tất cả người đều sẽ

Chứng thành quả Phật đạo.

31. Phật thừa đây vi diệu

Rất thanh tịnh thứ nhất

Ở trong các thế gian

Không còn pháp nào trên

Của các Phật vui ưa,

Tất cả hàng chúng sanh

Ðều phải nên khen ngợi

Và cúng dường lễ bái

Ðủ vô lượng nghìn ức

Các trí lực, giải thoát

Thiền định và trí huệ

Cùng pháp khác của Phật

Chứng được thừa như thế

Khắp cho các con thảy

Ngày đêm cùng kiếp số

Thường được ngồi dạo chơi

Cho các hàng Bồ tát

Cùng với chúng Thanh văn

Nương nơi thừa báu này

Mà thẳng đến đạo tràng.

Vì bởi nhân duyên đó

Tìm kỹ khắp mười phương

Lại không thừa nào khác

Trừ Phật dùng phương tiện

Bảo với Xá Lợi Phất!

Bọn ông các người thảy

Ðều là con của ta

Ta thời là cha lành.

Các ông trải nhiều kiếp

Bị các sự khổ đốt

Ta đều đã cứu vớt

Cho ra khỏi ba cõi

Ta dầu ngày trước nói

Các ông được diệt độ

Nhưng chỉ hết sanh tử

Mà thực thời chẳng diệt.

Nay việc nên phải làm

Chỉ có trí huệ Phật.

Nếu có Bồ tát nào

Ở trong hàng chúng này

Có thể một lòng nghe

Pháp thực của các Phật,

Các đức Phật Thế Tôn

Dầu dùng chước phương tiện

Mà chúng sanh đặng độ

Ðều là Bồ tát cả.

32. Nếu có người trí nhỏ

Quá mê nơi ái dục

Phật bèn vì bọn này

Mà nói lý khổ đế,

Chúng sanh nghe lòng mừng

Ðược điều chưa từng có

Ðức Phật nói khổ đế

Chân thực không sai khác

Nếu lại có chúng sanh

Không rõ biết cội khổ

Quá say nơi khổ nhân

Chẳng tạm rời bỏ được

Phật vì hạng người này

Dùng phương tiện nói dạy

Nguyên nhơn có các khổ

Tham dục là cội cội

Nếu dứt được tham dục

Khổ không chỗ nương đỗ

Dứt hết hẳn các khổ

Gọi là đế thứ ba

Vì chứng diệt đế vậy

Mà tu hành đạo đế

Lìa hết các khổ phược

Gọi đó là giải thoát

Người đó nơi pháp gì

Mà nói được giải thoát?

Chỉ xa rời hy vọng

Gọi đó là giải thoát

Kỳ thực chưa phải được

Giải thoát hẳn tất cả

Ðức Phật nói người đó

Chưa phải thật diệt độ

Vì người đó chưa được

Ðạo quả Vô thượng vậy.

Ý của ta không muốn

Cho đó đến diệt độ,

Ta là đấng Pháp Vương

Tự tại nơi các Pháp

Vì an ổn chúng sinh

Nên hiện ra nơi đời.

Xá Lợi Phất phải biết

Pháp ấn của ta đây

Vì muốn làm lợi ích

Cho thế gian nên nói

Tại chỗ ông đi qua

Chớ có vọng tuyên truyền.

Nếu có người nghe đến

Tùy hỷ kính nhận lấy

Phải biết rằng người ấy

Là bậc bất thối chuyển

Nếu có người tin nhận

Kinh pháp Vô thượng này.

Thời người đó đã từng

Thấy các Phật quá khứ

Cung kính và cúng dường

Cũng được nghe pháp này.

Nếu người nào có thể

Tin chịu lời ông nói

Thời chánh là thấy Ta

Cũng là thấy nơi ông

Cùng các chúng Tỳ kheo

Và các hàng Bồ tát.

33. Phật vì người trí sâu

Nói kinh Pháp Hoa này

Kẻ thức cạn nghe đến

Mê lầm không hiểu được.

Tất cả hàng Thanh văn

Cùng với Bích Chi Phật

Ở trong kinh pháp này

Sức kia không hiểu được.

Chính ông Xá Lợi Phất

Hãy còn nơi kinh này

Dùng lòng tin được vào

Huống là Thanh văn khác.

Bao nhiêu Thanh văn khác

Do tin theo lời Phật

Mà tùy thuận kinh này

Chẳng phải trí của mình.

34. Lại này Xá Lợi Phất!

Kẻ kiêu mạn biếng lười

Vọng so chấp lấy ngã

Chớ vì nói kinh này,

Hạng phàm phu biết cạn

Quá mê năm món dục

Nghe pháp không hiểu được

Cũng chẳng nên vì nói.

Nếu có người không tin

Khinh hủy chê kinh này

Thời là dứt tất cả

Giống Phật ở thế gian.

Nếu có người sịu mặt

Mà cưu lòng nghi hoặc

Ông nên lóng nghe nói

Tội báo của người đó.

Hoặc Phật còn tại thế

Hoặc sau khi diệt độ

Nếu có người chê bai

Kinh điển như thế này

Thấy có người đọc tụng

Biên chép thọ trì kinh

Rồi khinh tiện ghét ghen

Mà cưu lòng kết hờn

Tội báo của người đó

Ông nay lại lóng nghe.

Người đó khi mệnh chung

Sa vào ngục A tỳ

Ðầy đủ một kiếp chẵn

Kiếp mãn hết lại sinh

Cứ xoay vần như thế

Nhẫn đến vô số kiếp.

Từ trong Địa ngục ra

Sẽ đọa vào Súc sanh,

Hoặc làm chó, dã can

Thân thể nó ốm gầy

Ðen điu thêm ghẻ lác

Bị người thường chọc ghẹo

Lại còn phải bị người

Gớm nhờm và ghét rẻ

Thường ngày đói khát khổ

Xương thịt đều khô khan,

Lúc sống chịu khổ sở

Chết bị ném ngói đá

Vì đoạn mất giống Phật

Nên thọ tội báo đó.

Hoặc sinh làm lạc đà

Hoặc sinh vào loài lừa

Thân thường mang kéo nặng

Lại thêm bị đánh đập

Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ

Ngoài ra không biết gì

Vì khinh chê kinh này

Mà mắc tội như vậy.

Có khi làm dã can

Ði vào trong xóm làng

Thân thể đầy ghẻ lác

Lại chột hết một mắt

Bị bọn trẻ nhỏ vây

Theo đánh đập liệng ném

Chịu nhiều các đau khổ

Hoặc có lúc phải chết.

Ở đây vừa chết rồi

Liền lại thọ thân rắn

Thân thể nó dài lớn

Ðến năm trăm do tuần

Ðiếc ngây và không chân

Lăn lóc đi bằng bụng

Bị các loài trùng nhỏ

Cắn rúc ăn thịt máu

Bị khổ cả ngày đêm

Không tạm có ngừng nghỉ

Vì khinh chê kinh này

Mà mắc tội như vậy.

Nếu được sinh làm người

Các căn đều ám độn

Lùn xấu lại lệch què

Ðui điếc thêm lưng gù

Có nói ra lời gì

Mọi người không tin nhận

Hơi miệng thường hôi thối

Bị quỉ mỵ dựa nhập

Nghèo cùng rất hèn hạ

Bị người sai khiến luôn,

Nhiều bịnh thân ốm gầy

Không có chỗ cậy nhờ

Dù nương gần với người

Mà người chẳng để ý

Nếu có được điều chi

Thời liền lại quên mất,

Nếu học qua nghề thuốc

Theo đúng phép trị bịnh

Mà bịnh người nặng thêm

Hoặc có khi đến chết,

Nếu tự mình có bịnh

Không người chữa lành được

Dù có uống thuốc hay

Mà bịnh càng thêm nặng,

Hoặc người khác phản nghịch

Cướp giật trộm lấy của

Các tội dường thế đó

Lại tự mang vạ lây.

Những người tội như đây

Trọn không thấy được Phật

Là vua trong hàng Thánh

Thường nói pháp giáo hóa

Những người tội như đây

Thường sinh chỗ hoạn nạn

Tâm cuồng loạn, tai điếc

Trọn không nghe pháp được,

Trải qua vô số kiếp

Như số cát sông Hằng

Sinh ra liền điếc câm

Các căn chẳng đầy đủ

Thường ở trong Địa ngục

Như dạo chơi vườn nhà,

Ở tại ác đạo khác

Như ở nhà của mình.

Lạc đà, lừa, heo, chó

Là chỗ kia thường đi

Vì khinh chê kinh này

Mắc tội dường thế đó.

Nếu được sinh làm người

Ðiếc, đui lại câm, ngọng

Nghèo cùng các tướng suy

Dùng đó tự trang nghiêm.

Sưng bủng bịnh khô khát

Ghẻ, lác, cùng ung thư

Các bịnh như trên đó

Dùng làm y phục mặc.

Thân thể thường hôi hám

Nhơ nhớp không hề sạch

Lòng chấp ngã sâu chặt

Thêm nhiều tánh giận hờn

Tình dâm dục hẫy hừng

Ðến chẳng chừa cầm thú,

Vì khinh chê kinh này

Mắc tội dường thế đó.

35. Bảo cho Xá Lợi Phất!

Người khinh chê kinh này

Nếu kể nói tội kia

Cùng kiếp cũng chẳng hết

Vì bởi nhân duyên đó

Ta vẫn bảo các ông

Trong nhóm người vô trí

Chớ nên nói kinh này

Nếu có người lợi căn

Sức trí huệ sáng láng

Học rộng và nhớ dai

Lòng mong cầu Phật đạo

Những hạng người như thế

Mới nên vì đó nói

Nếu có người đã từng

Thấy trăm nghìn ức Phật

Trồng các cội đức lành

Thâm tâm rất bền vững

Hạng người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Nếu có người tinh tấn

Thường tu tập lòng từ

Chẳng hề tiếc thân mệnh

Mới nên vì đó nói.

Nếu có người cung kính

Không có sinh lòng khác

Lìa xa các phàm phu

Ở riêng trong núi chầm

Những hạng người như thế

Mới nên vì đó nói.

Lại Xá Lợi Phất này!

Nếu thấy có người nào

Rời bỏ ác tri thức

Gần gũi bạn hiền lành

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Nếu thấy hàng Phật tử

Giữ giới hạnh trong sạch

Như minh châu sáng sạch

Ham cầu kinh Đại thừa

Những người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Nếu người không lòng giận

Chắc thực ý dịu hòa

Thường thương xót mọi loài

Cung kính các đức Phật

Hạng người tốt như thế

Mới nên vì đó nói.

Lại có hàng Phật tử

Ở tại trong đại chúng

Thuần dùng lòng thanh tịnh

Các món nhân cùng duyên

Thí dụ và lời lẽ

Nói pháp không chướng ngại

Những người như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Nếu có vị Tỳ kheo

Vì cầu nhất thiết trí

Khắp bốn phương cầu pháp

Chắp tay cung kính thọ

Chỉ ưa muốn thọ trì

Kinh điển về Đại thừa

Nhẫn đến không hề thọ

Một bài kệ kinh khác

Hạng người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Như có người chí tâm

Cầu Xá Lợi của Phật

Cầu kinh cũng như thế

Ðược rồi đỉnh lễ thọ

Người đó chẳng còn lại

Có lòng cầu Kinh khác

Cũng chưa từng nghĩ tưởng

Ðến sách vở ngoại đạo

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Bảo cùng Xá Lợi Phất!

Ta nói các sự tướng

Của người cầu Phật đạo

Cùng kiếp cũng chẳng hết

Những người như thế đó

Thời có thể tin hiểu

Ông nên vì họ nói

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tín Giải” Thứ Tư

1. Lúc bấy giờ, các Ngài Huệ Mạng Tu Bồ Ðề, Ðại Ca Chiên Diên, Ðại Ca Diếp, Ðại Mục Kiền Liên, từ nơi Phật được nghe pháp chưa từng có. Ðức Thế Tôn dự ghi cho Ngài Xá Lợi Phất sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, sinh lòng hi hữu hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa y phục trịch bày vai hữu, gối hữu chấm đất, một lòng chấp tay cúi mình cung kính chiêm ngưỡng dung nhan Phật mà bạch cùng Phật rằng: “Chúng con ở đầu trong hàng Tăng, tuổi đều già lụn, tự cho đã được Niết bàn không kham nhiệm gì nữa, chẳng còn thẳng cầu thêm đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”

Ðức Thế Tôn thuở trước nói pháp đã lâu, lúc đó chúng con ngồi nơi toà thân thể mỏi mệt, chỉ nhớ nghĩ ba pháp: không, vô tướng, vô tác, đối với các pháp du hí thần thông, tịnh cõi nước Phật, độ thoát chúng sinh của Bồ tát, lòng chúng con không ưa thích.

Vì sao? Ðức Thế Tôn khiến chúng con ra khỏi ba cõi được chứng Niết bàn, lại nay đây chúng con tuổi đã già nua ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Phật dạy Bồ tát không hề sinh một niệm ưa thích.

Chúng con hôm nay ở trước Phật nghe thọ ký cho Thanh văn sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng được pháp chưa từng có, chẳng ngờ hôm nay bỗng nhiên được pháp hi hữu, tự rất mừng may được lợi lành lớn, vô lượng trân báu chẳng tìm cầu mà tự được.

2. Thế Tôn! chúng con hôm nay xin nói thí dụ để chỉ rõ nghĩa đó.

Thí như có người tuổi thơ bé, bỏ cha trốn đi qua ở lâu nơi nước khác, hoặc mười, hai mươi đến năm mươi năm; người đó tuổi đã lớn lại thêm nghèo cùng khốn khổ, dong ruổi bốn phương để cầu đồ mặc vật ăn, dạo đi lần lần tình cờ về bổn quốc.

Người cha từ trước đến nay, tìm con không được bèn ở lại tại một thành trong nước đó. Nhà ông giàu lớn của báu vô lượng, các kho đụn, vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, pha lê, châu v.v... thảy đều đầy tràn; tôi tớ, thần tá, lại dân rất đông, voi, ngựa, xe cộ bò dê nhiều vô số. Cho vay thâu vào lời lãi khắp đến nước khác, khách thương buôn bán cũng rất đông nhiều.

Bấy giờ, gã nghèo cùng kia dạo đến các tụ lạc, trải qua xóm làng, lần hồi đến nơi thành của người cha ở.

Người cha hằng nhớ con, cùng con biệt ly hơn năm mươi năm mà ông vẫn chưa từng đối với người nói việc như thế, chỉ tự suy nghĩ lòng rất ăb năn. Ông tự nghĩ: già nua và có nhiều của cải, vàng bạc, trân báu, kho đụn tràn đầy, không có con cái, một mai mà chết mất thời của cải tản thất không người giao phó. Cho nên ân cần nhớ luôn đến con. Ông lại nghĩ: Nếu ta gặp được con ủy phó của cải, thản nhiên khoái lạc không còn sầu lo.

3. Thưa Thế Tôn! Bấy giờ gã cùng tử làm thuê làm mướn lần hồi tình cờ đến nhà người cha bèn đứng lại bên cửa, xa thấy cha ngồi giường sư tử, ghế báu đỡ chân, các hàng Bà la môn, Sát đế lợi, Cư sĩ đều cung kính bao quanh. Trên thân ông đó dùng chuổi ngọc chân châu giá trị nghìn vạn để trang nghiêm, kẻ lại dân tôi tớ tay cầm phất trần trắng đứng hầu hai bên. Màn báu che trên, những phan đẹp thòng xuống, nước thơm rưới đất, rải các thứ danh hoa, các vật báu chưng bày, phát ra, thâu vào, lấy, cho v.v... có các sự nghiêm sức dường ấy, uy đức rất tôn trọng.

Gã cùng tử thấy cha có thế lực lớn liền sanh lòng lo sợ, hối hận về việc đến nhà này, nó thầm nghĩ rằng: “Ông này chắc là vua, hoặc là bậc đồng vua, chẳng phải là chỗ của ta làm thuê mướn được tiền vật.

Chẳng bằng ta qua đến xóm nghèo có chỗ cho ta ra sức dễ được đồ mặc vật ăn, nếu như ta đứng lâu ở đây hoặc rồi họ sẽ bức ngặt ép sai ta làm”. Gã nghĩ như thế rồi liền chạy mau đi thẳng.

4. Khi đó, ông Trưởng giả ngồi nơi tòa sư tử thấy con bèn nhớ biết, lòng rất vui mừng mà tự nghĩ rằng: “Của cải kho tàng của ta nay đã có người giao phó rồi, ta thường nghĩ nhớ đứa con này làm sao gặp được, nay bỗng nó tự đến rất vừa chỗ muốn của ta, ta dầu tuổi già vẫn còn tham tiếc”. Ông liền sai người hầu cận đuổi gấp theo bắt lại.

Lúc ấy, kẻ sứ giả chạy mau qua bắt, gã cùng tử kinh ngạc lớn tiếng kêu oan: “Tôi không hề xúc phạm, nhân sao lại bị bắt?” Kẻ sứ giả bắt đó càng gấp cưỡng dắt đem về. Khi đó gã cùng tử tự nghĩ: không tội chi mà bị bắt bớ đây chắc định phải chết, lại càng sợ sệt mê ngất ngã xuống đất.

Người cha xa thấy vậy bèn nói với kẻ sứ giả rằng: “Không cần người đó, chớ cưỡng đem đến, lấy nước lạnh rưới trên mặt cho nó tỉnh lại đừng nói chi với nó”.

Vì sao? Cha biết con mình chí ý hạ liệt, tự biết mình giàu sang làm khiếp sợ cho con. Biết chắc là con rồi mà dùng phương tiện chẳng nói với người khác biết là con mình. Kẻ sứ giả nói với cùng tử: “Nay ta thả ngươi đi đâu tùy ý”.

Gã cùng tử vui mừng được điều chưa từng có, từ dưới đất đứng dậy, qua đến xóm nghèo để tìm cầu sự ăn mặc.

5. Bấy giờ ông Trưởng giả toan muốn dụ dẫn người con mà bày chước phương tiện, mật sai hai người, hình sắc tiều tụy không có uy đức: “Hai người nên qua xóm kia từ từ nói với gã cùng tử, nơi đây có chỗ làm trả giá gấp bội. Gã cùng tử nếu chịu thời dắt về đây khiến làm. Nếu nó có hỏi muốn sai làm gì? Thời nên nói với nó rằng: “Thuê người hốt phân, chúng ta hai người cũng cùng ngươi chung nhau làm.” Khi đó hai người sứ liền tìm gã cùng tử, rồi thuật đủ việc như trên.

5. Bấy giờ gã cùng tử trước hỏi lấy giá cả liền đến hốt phân. Người cha thấy con, thương xót và quái lạ. Lại một ngày khác ông ở trong cửa sổ xa thấy con ốm o tiều tụy, phân đất bụi bặm dơ dáy không sạch. Ông liền cởi chuỗi ngọc, áo tốt mịn màng cùng đồ trang sức, lại mặc áo thô rách trỉn dơ, bụi đất lấm thân, tay mặt cầm đồ hốt phân, bộ dạng đáng nể sợ, bảo những người làm rằng: “Các ngươi phải siêng làm việc chớ nên lười nghỉ!” Dùng phương tiện đó được đến gần người con.

Lúc sau lại bảo con rằng: “Gã nam tử này! Ngươi thường làm ở đây đừng lại đi nơi khác, ta sẽ trả thêm giá cho ngươi; những đồ cần dùng như loại bồn, chậu, gạo, bột, muối, dấm, ngươi chớ tự nghi ngại. Cũng có kẻ tớ già hèn hạ, nếu cần ta cấp cho, nên phải an lòng, ta như cha của ngươi chớ có sầu lo”.

Vì sao? Vì ta tuổi tác già lớn mà ngươi thì trẻ mạnh, ngươi thường trong lúc làm việc không lòng dối khi trễ nải giận hờn nói lời thán oán, đều không thấy ngươi có các điều xấu đó như các người làm công khác. Từ ngày nay nhẫn sau như con đẻ của ta. Tức thời Trưởng giả lại đặt tên cho cùng tử gọi đó là “con”.

Khi đó gã cùng tử, dầu mừng việc tình cờ đó song vẫn còn tự cho mình là khách, là người làm công hèn, vì cớ đó mà trong hai mươi năm thường sai hốt phân, sau đó lòng gã mới lần thể tin ra vào không ngại sợ, nhưng chỗ gã ở cũng vẫn nguyên chỗ cũ.

7. Thế Tôn! Bấy giờ Trưởng giả có bịnh, tự biết mình không bao lâu sẽ chết mới bảo cùng tử rằng: “Ta nay rất nhiều vàng bạc, trân, báu, kho đụn tràn đầy, trong đó nhiều ít chỗ đáng xài dùng ngươi phải biết hết đó. Lòng ta như thế, ngươi nên thể theo ý ta.

Vì sao? Nay ta cùng ngươi bèn là không khác, nên gắng dụng tâm chớ để sót mất”.

Khi ấy cùng tử liền nhận lời bảo lãnh biết các của vật, vàng, bạc, trân, báu và các kho tàng, mà trọn không có ý mong lấy của đáng chừng bữa ăn, chỗ của gã ở vẫn tại chỗ cũ, tâm chí hạ liệt cũng chưa bỏ được.

8. Lại trải qua ít lâu sau, cha biết ý chí con lần đã thông thái trọn nên chí lớn, tự chê tâm ngày trước. Ðến giờ sắp chết, ông gọi người con đến và hội cả thân tộc, quốc vương, quan đại thần, dòng Sát lợi, hàng Cư sĩ, khi đã nhóm xong, ông liền tự tuyên rằng: “Các Ngài nên rõ, người này là con ta, của ta sinh ra, ngày trước trong thành nọ, bỏ ta trốn đi, nổi trôi khổ sở, hơn năm mươi năm, nó vốn tên ấy, còn ta tên ấy. Xưa ta ở tại thành này lòng lo lắng tìm kiếm, bỗng ở nơi đây gặp được nó. Nó thực là con ta, ta thực là cha nó. Nay ta có tất cả bao nhiêu của cải, đều là của con ta có, trước đây của cải cho ra thâu vào, con ta đây coi biết.”

Thế Tôn! Khi đó gả cùng tử nghe cha nói như thế, liền rất vui mừng được điều chưa từng có, mà nghĩ rằng: “Ta vốn không có lòng mong cầu, nay kho tàng báu này tự nhiên mà đến”.

9. Thế Tôn! Ông phú Trưởng giả đó là đức Như Lai, còn chúng con đều giống như con của Phật. Ðức Như Lai thường nói chúng con là con.

Thưa Thế Tôn! Chúng con vì ba món khổ (16) nên ở trong sinh tử chịu các sự đau đớn mê lầm không hiểu biết, ưa thích các pháp Tiểu thừa. Ngày nay đức Thế Tôn khiến chúng con suy nghĩ dọn trừ những phân dơ các pháp hí luận (17). Chúng con ở trong đó siêng gắng tinh tấn được đến Niết bàn, cái giá một ngày. Ðã được đây rồi lòng rất vui mừng tự cho là đủ, mà tự nói rằng: Ở trong pháp của Phật; do siêng năng tinh tấn nên chỗ được rộng nhiều.

Nhưng đức Thế Tôn trước biết chúng con lòng ưa muốn sự hèn tệ, ham nơi pháp Tiểu thừa, chúng con bèn bị Phật buông bỏ chẳng vì phân biệt rằng: Các ông sẽ có phần bảo tàng tri kiến của Như Lai.

Ðức Thế Tôn dùng sức phương tiện nói bày trí huệ của Như Lai. Chúng con theo Phật được giá Niết bàn một ngày, cho là nhiều rồi, đối với pháp Đại thừa này không có chí cầu. Chúng con lại nhân trí huệ của Phật, vì các vị Bồ tát mà chỉ bày diễn nói, nhưng chánh tự mình lại không có chí muốn nơi pháp đó.

Vì sao? Ðức Phật biết chúng con ưa nơi pháp Tiểu thừa, nên dùng sức phương tiện thuận theo chúng con mà nói pháp, chúng con không tự biết thực là Phật tử. Ngày nay chúng con mới biết đức Thế Tôn ở nơi trí huệ của Phật không có lẫn tiếc.

Vì sao? Chúng con từ xưa đến nay thực là Phật tử mà chỉ ưa nơi pháp Tiểu thừa, nếu chúng con có tâm ham Đại thừa, thời Phật vì chúng con mà nói pháp Đại thừa. Ở trong kinh này chỉ nói pháp nhất thừa. Lúc xưa đức Phật ở trước Bồ tát chê trách Thanh văn ham pháp Tiểu thừa.

Nhưng đức Phật thực dùng Đại thừa để giáo hóa, vì thế nên chúng con nói vốn không có lòng mong cầu mà nay báu lớn của đấng Pháp vương tự nhiên đến, như chỗ nên được của Phật tử đều đã được có.

Bấy giờ Ngài Ma ha Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10. Chúng con ngày hôm nay

Nghe âm giáo của Phật

Lòng hớn hở mừng rỡ

Ðược pháp chưa từng có.

Phật nói hàng Thanh văn

Sẽ được thành quả Phật

Ðống châu báu Vô thượng

Chẳng cầu tự nhiên được.

Ví như gã đồng tử

Thơ bé không hiểu biết

Bỏ cha trốn chạy đi

Ðến cõi nước xa khác

Nổi trôi khắp nước ngoài

Hơn năm mươi năm dài

Cha gã lòng buồn nhớ

Kiếm tìm khắp bốn phương

Kiếm tìm đó đã mỏi

Liền ở lại một thành

Xây dựng nên nhà cửa

Năm món dục tự vui.

Nhà ông giàu có lớn

Nhiều những kho vàng, bạc

Xa cừ, ngọc mã não

Chân châu, ngọc lưu ly

Voi ngựa cùng trâu dê

Kiệu, cáng đủ xe cộ

Ruộng đất và tôi tớ

Nhân dân rất đông nhiều

Xuất nhập thâu lời lãi

Bèn khắp đến nước khác

Khách thương người buôn bán

Không xứ nào không có,

Nghìn muôn ức chúng hội

Vây quanh cung kính ông,

Thường được bậc vua chúa

Mến yêu nhớ tưởng đến,

Các quan, hạng hào tộc

Ðều cũng đồng tôn trọng

Vì có các sự duyên

Người tới lui rất đông,

Giàu mạnh như thế đó

Có thế lực rất lớn

Mà tuổi đã già nua

Lại càng buồn nhớ con

Ngày đêm luống suy nghĩ

Giờ chết toan sắp đến

Con thơ dại bỏ ta

Hơn năm mươi năm tròn,

Các của vật kho tàng

Sẽ phải làm thế nào?

11. Bấy giờ gã cùng tử

Ði tìm cầu ăn mặc

Ấp này đến ấp khác

Nước này sang nước nọ,

Hoặc có khi được của

Hoặc có lúc không được,

Ðói thiếu hình gầy gò

Thân thể sanh ghẻ lác.

Lần lựa đi trải qua

Ðến thành cha gã ở

Xoay vần làm thuê mướn

Bèn đến trước nhà cha.

Lúc ấy ông Trưởng giả

Ðang ở trong nhà ông

Giăng màn châu báu lớn

Ngồi tòa sư tử cao

Hàng quyến thuộc vây quanh

Ðông người đứng hầu hạ,

Hoặc có người tính toán

Vàng, bạc, cùng vật báu

Của cải ra hoặc vào

Biên chép ghi giấy tờ.

Gã cùng tử thấy cha

Quá mạnh giàu tôn nghiêm

Cho là vị quốc vương

Hoặc là đồng bậc vua,

Kinh sợ tự trách thầm

Tại sao lại đến đây?

Lại thầm tự nghĩ rằng:

Nếu ta đứng đây lâu

Hoặc sẽ bị bức ngặt

Ép buộc sai khiến làm.

Suy nghĩ thế đó rồi

Rảo chạy mà đi thẳng

Hỏi thăm xóm nghèo nàn

Muốn qua làm thuê mướn.

12. Lúc bấy giờ Trưởng giả

Ngồi trên tòa sư tử

Xa trông thấy con mình

Thầm lặng mà ghi nhớ,

Ông liền bảo kẻ sứ

Ðuổi theo bắt đem về.

Gã cùng tử sợ kêu

Mê ngất ngã trên đất

Người này theo bắt tôi

Chắc sẽ bị giết chết

Cần gì đồ ăn mặc

Khiến tôi đến thế này!

Trưởng giả biết con mình

Ngu dại lòng hẹp hèn

Chẳng chịu tin lời ta

Chẳng tin ta là cha

Ông liền dùng phương tiện

Lại sai hai người khác

Mắt chột, thân lùn xấu

Hạng không có uy đức!

Các người nên bảo nó

Rằng ta sẽ thuê nó

Hốt dọn các phân nhơ

Trả giá bội cho nó.

Gã cùng tử nghe rồi

Vui mừng theo sứ về

Vì dọn các phân nhơ

Sạch sẽ các phòng nhà

Trưởng giả trong cửa sổ

Thường ngó thấy con mình

Nghĩ con mình ngu dại

Ưa thích làm việc hèn.

Lúc đó ông Trưởng giả

Mặc y phục cũ rách

Tay cầm đồ hốt phân

Qua đến chỗ con làm

Phương tiện lần gần gũi

Bảo rằng: ráng siêng làm!

Ðã thêm giá cho ngươi

Và cho dầu thoa chân

Ðồ ăn uống đầy đủ

Thêm đệm chiếu đầy ấm

Cặn kẽ nói thế này:

Ngươi nên siêng làm việc!

Rồi lại dịu dàng bảo

Như con thiệt của ta.

13. Ông Trưởng giả có trí

Lần lần cho ra vào

Trải qua hai mươi năm

Coi sóc việc trong nhà,

Chỉ cho biết vàng, bạc,

Ngọc trân châu, pha lê

Các vật ra hoặc vào

Ðều khiến gã biết rõ.

Gã vẫn ở ngoài cửa

Nương náu nơi am tranh

Tự nghĩ phận nghèo nàn

Ta không có vật đó.

Cha biết lòng con mình

Lần lần đã rộng lớn

Muốn giao tài vật cho

Liền nhóm cả thân tộc

Quốc vương các đại thần

Hàng Sát Lợi, Cư sĩ

Rồi ở trong chúng này

Tuyên nói chính con ta

Bỏ ta đi nước khác

Trải hơn năm mươi năm,

Từ gặp con đến nay

Ðã hai mươi năm rồi

Ngày trước ở thành kia

Mà mất đứa con này

Ta đi tìm khắp nơi

Bèn đến ngụ nơi đây

Phàm của cải ta có

Nhà cửa cùng nhân dân

Thảy đều phó cho nó

Mặc tình nó tiêu dùng.

Người con nhớ xưa nghèo

Chí ý rất kém hèn

Nay ở nơi cha mình

Ðược quá nhiều châu báu

Và cùng với nhà cửa

Gồm tất cả tài vật,

Lòng rất đỗi vui mừng

Ðược điều chưa từng có.

14. Ðức Phật cũng như thế

Biết con ưa Tiểu thừa

Nên chưa từng nói rằng

Các ngươi sẽ thành Phật

Mà chỉ nói chúng con

Ðược có đức vô lậu

Trọn nên quả Tiểu thừa

Hàng Thanh văn đệ tử

Ðức Phật bảo chúng con

Nói đạo pháp tối thượng

Người tu tập pháp này

Sẽ được thành Phật quả

Chúng con vâng lời Phật

Vì các Bồ tát lớn

Dùng các món nhân duyên

Cùng các món thí dụ

Bao nhiêu lời lẽ hay

Ðể nói đạo Vô thượng.

Các hàng Phật tử thảy

Từ nơi con nghe pháp

Ngày đêm thường suy gẫm

Tinh tấn siêng tu tập.

Bấy giờ các đức Phật

Liền thọ ký cho kia:

Các ông ở đời sau

Sẽ được thành Phật đạo.

Pháp mầu rất bí tàng

Của tất cả các Phật

Chỉ để vì Bồ tát

Mà dạy việc thực đó,

Nhưng chẳng vì chúng con

Nói pháp chân yếu này

Như gã cùng tử kia

Ðược gần bên người cha

Dầu lãnh biết các vật

Nhưng lòng chẳng mong cầu,

Chúng con dầu diễn nói

Tạng pháp báu của Phật

Tự mình không chí nguyện

Cũng lại như thế đó.

15. Chúng con diệt bề trong (18)

Tự cho là đã đủ

Chỉ xong được việc này

Lại không biết việc khác.

Chúng con dầu có nghe

Pháp tịnh cõi nước Phật

Cùng giáo hóa chúng sinh

Ðều không lòng ưa vui.

Như thế là vì sao?

Vì tất cả các pháp

Thảy đều là không lặng

Không sinh cũng không diệt

Không lớn cũng không nhỏ

Vô lậu và vô vi,

Suy nghĩ thế đó rồi

Chẳng sinh lòng ưa muốn.

Chúng con đã từ lâu

Ðối với trí huệ Phật

Không tham không ưa thích

Không lại có chí nguyện,

Mà đối với pháp mình

Cho đó là rốt ráo.

Chúng con từ lâu nay

Chuyên tu tập pháp không

Ðược thoát khỏi hoạn nạn

Khổ não của ba cõi

Trụ trong thân rốt sau

Hữu dư y Niết bàn (19)

Ðức Phật dạy bảo ra

Chứng được đạo chẳng luống

Thời là đã có thể

Báo được ơn của Phật.

Chúng con dầu lại vì

Các hàng Phật tử thảy

Tuyên nói pháp Bồ tát

Ðể cầu chứng Phật đạo

Mà mình đối pháp đó

Trọn không lòng ham muốn

Ðấng Ðạo sư buông bỏ

Vì xem biết lòng con

Ban đầu không khuyên gắng

Nói những lợi có thực

Như ông Trưởng giả giàu

Biết con chí kém hèn

Bèn dùng sức phương tiện

Ðể hòa phục tâm con

Vậy sau mới giao phó

Tất cả tài vật báu

Ðức Phật cũng thế đó

Hiện ra việc ít có

Biết con ưa Tiểu thừa

Bèn dùng sức phương tiện

Ðiều phục tâm của con

Rồi mới dạy trí lớn.

Chúng con ngày hôm nay

Ðược pháp chưa từng có

Chẳng phải chỗ trước mong

Mà nay tự nhiên được

Như gã cùng tử kia

Ðược vô lượng của báu

16. Thế Tôn! Chúng con nay

Ðược đạo và chứng quả

Ở nơi pháp vô lậu

Ðược huệ nhãn thanh tịnh

Chúng con từ lâu nay

Gìn tịnh giới Phật chế

Mới ở ngày hôm nay

Ðược hưởng quả báo đó,

Trong pháp của Pháp Vương

Lâu tu hành phạm hạnh

Ngày nay được vô lậu

Quả báo lớn Vô thượng

Chúng con ngày hôm nay

Mới thực là Thanh văn

Ðem tiếng đạo của Phật

Cho tất cả đều nghe

Chúng con ngày hôm nay

Thực là A La Hán

Ở nơi các thế gian

Trời, người và ma, phạm,

Khắp ở trong chúng đó

Ðáng lãnh của cúng dường

Ơn lớn của Thế Tôn

Ðem việc ít có này

Thương xót dạy bảo cho

Làm lợi ích chúng con

Trải vô lượng ức kiếp

Ai có thể đền được.

Tay lẫn chân cung cấp

Ðầu đỉnh lễ cung kính

Tất cả đều cúng dường

Ðều không thể đền được.

Hoặc dùng đầu đội Phật

Hai vai cùng cõng vác

Trong kiếp số hằng sa

Tận tâm mà cung kính,

Lại đem dâng đồ ngon

Y phục báu vô lượng

Và các thứ đồ nằm

Cùng các món thuốc thang

Gỗ ngưu đầu chiên đàn

Và các vật trân báu

Ðể dựng xây tháp miếu

Y báu lót trên đất

Như các việc trên đây

Ðem dùng cúng dường Phật

Trải kiếp số hằng sa

Cũng không đền đáp được.

Các Phật thật ít có

Ðấng vô lượng vô biên

Ðến bất khả tư nghì

Ðủ sức thần thông lớn,

Bậc vô lậu vô vi

Là vua của các Pháp

Hay vì kẻ hạ liệt

Nhẫn việc cao thượng đó,

Hiện lấy tướng phàm phu

Tùy cơ nghi dạy nói

Các Phật ở nơi pháp

Ðược sức rất tự tại

Biết các hàng chúng sinh

Có những điều ưa muốn

Và chí lực của nó

Theo sức nó kham nhiệm

Dùng vô lượng thí dụ

Mà vì chúng nói pháp

Tùy theo các chúng sinh

Trồng căn lành đời trước

Lại biết đã thuần thục

Hay là chưa thuần thục

Suy lường những điều đó

Phân biệt biết rõ rồi

Ở nơi đạo nhất thừa

Tùy cơ nghi nói ba.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ HAI

Bậc thượng căn lãnh ngộ, hàng trung hạ nổi nghi, mở quyền bày thật hội ba kỳ. Pháp mầu tuyệt sự nói suy, của báu không riêng tư, toàn giao phó cho con nhà.

Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

Ðức Như Lai dụ nói ba cõi làm nhà, ngoài cửa ba cõi bày ba thứ xe, các con đua giành ồn ào, Trưởng giả mừng khoe, thọ ký quả Phật không sai.

Nam mô Vị Lai Hoa Quang Phật. (3 lần)

THÍCH NGHĨA

(1) LẬU TẬN: Nhiễm tâm phiền não đã hết sạch, đồng nghĩa với: “vô lậu”.

(2) Thân Phật sắc vàng tử kim có đủ 32 tướng tốt.

(3) Trí của Phật có 10 lực dụng:

1. Thị xứ phi xứ trí lực,

2. Nghiệp trí lực,

3. Thiền định trí lực,

4. Căn tánh trí lực,

5. Nguyện dục trí lực,

6. Giới trí lực,

7. Ðạo chí xứ trí lực,

8. Túc mệnh trí lực,

9. Thiên nhãn trí lực,

10. Lậu tận trí lực.

(4) BẤT CỘNG: Bồ tát cùng Thanh văn Duyên giác đều không có, riêng Phật là có 18 pháp này.

(5) BỒ TÁT: “Bồ đề”: Giác; “tát đỏa”: Hữu tình; nói tắt là Bồ tát, tức là bậc đã tự hay giác ngộ và có thể cứu độ giác ngộ loài hữu tình.

(6) Tức là Bà la môn.

(7) Tên của Ma Vương ở đầu cõi dục.

(8) NGŨ UẨN: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Cũng gọi là ngũ ấm.

(9) NGŨ DỤC:

1. Tài (sắc), sắc, danh, thực (sự ăn), thùy (ngủ nghỉ).

2. Sắc, thanh, hương, vị, xúc.

(10) Bốn đức vô sở úy của Phật:

1. Nhất thiết trí vô úy,

2. Lậu tận vô úy,

3. Thuyết đạo vô úy,

4. Thuyết khổ tận đạo vô úy.

(11) NĂM CĂN: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, huệ căn.

NĂM LỰC: tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực, huệ lực.

BẢY GIÁC CHI: Trạch pháp, niệm, tinh tấn, hỉ, khinh an, định, xả.

TÁM CHÁNH ÐẠO: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh niệm, chánh tinh tấn, chánh định.

(12) Súy: Cú tai mèo; Hiêu, Ðiêu, Thứu: Loài chim dữ, tiếng xấu.

THƯỚC: Chim khách.

CƯU: Tu hú.

CÁP: Bồ câu.

NGOAN XÀ: Rắn độc.

PHÚC YẾT: Bò cạp.

NGÔ CÔNG: Rít.

DO DIÊN: Trùng, rận ở trong áo tơi.

DỨU LY: Chồn, cáo.

HỀ THỬ: Giống chuột.

KHƯƠNG LƯƠNG: Bọ hung.

(13) Thiên nhãn minh, Túc mệnh minh, Lậu tận minh.

(14) Thiên nhãn thông, thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mệnh thông, lậu tận thông.

(15) TÍN: lòng tin.

(16) Khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.

(17) HÍ LUẬN: Lời luận nói suông không sự thực, đồng nghĩa với Hư vọng.

(18) Diệt lòng phiền não: 1. Kiến sở đoạn 2. Tư sở đoạn.

(19) NIẾT BÀN: Tịch tịnh; viên tịch, nghĩa là vắng bặt. Còn vọng động phiền não là còn tạo nghiệp thọ báo sanh tử. Dứt hẳn vọng động phiền não khỏi báo sanh tử yên lặng nhàn vui nên gọi Niết bàn.

HỮU DƯ Y: Thân người hiện còn thừa lại rốt sau cả.

SỰ TÍCH TẢ KINH THOÁT KHỔ

Nhà Ðường, niên hiệu Long sóc năm thứ ba, xứ Trường An, mẹ vợ ông Lưu Công Tín chết.

Không bao lâu cô họ Trần, vợ ông Tín, cũng bỗng chết, thần hồn đi đến một ngục đá, thấy mẹ mình ở trong cửa đá thọ nhiều sự khổ.

Khóc bảo con gái rằng: “Mau vì mẹ tả một bộ kinh Pháp Hoa ngõ hầu thoát khỏi tội này”. Nói vừa xong cửa đá liền khép lại.

Cô họ Trần sống lại, thuật chuyện gặp mẹ với chồng. Ông Tín nhờ ông Triệu Sư Tử tả kinh, ông Triệu bèn đem một bộ kinh Pháp Hoa hiện đã thành tả rất tốt giao cho ông Tín sửa sang, mà bộ kinh đó vốn là của một người họ Phạm ra tiền mướn tả, mà ông Tín thực chưa biết cũng tin là ông Triệu tả cho mình.

Không bao lâu, cô họ Trần lại nằm chiêm bao thấy mẹ đòi kinh, cô nói rằng đã tả xong rồi. Mẹ liền khóc rằng: “Mẹ chính vì bộ kinh đó mà càng bị khổ thêm. Bộ kinh đó vốn là nhà của họ Phạm tu phước, sao lại cướp làm công của mình?” “Sau khi thức dậy, cô Trần và ông Tín đi hỏi thăm lại, thời quả thực họ Phạm bỏ ra tiền hai trăm tả kinh mà chính là bộ trên đó.

Vợ chồng liền thuê người tả một bộ khác để cúng dường hồi hướng công đức cho mẹ.

Than ôi! Công đức tả kinh hay ấn tống lớn biết là dường nào? Tội nặng bị khổ ở Địa ngục nhờ người tả một bộ kinh Pháp Hoa mà còn có đủ phước để thoát khổ huống nữa là mình tự ra công ra tiền ư!


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Ba

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Dược Thảo Dụ” Thứ Năm

1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ngài Ma Ha Ca Diếp các vị đại đệ tử: "Hay thay! Hay thay! Ca Diếp. Khéo nói đặng công đức chơn thật của đức Như Lai. Ðúng như lời các ông vừa nói; đức Như Lai lại còn có vô lượng vô biên a tăng kỳ công đức, các ông dầu trải qua vô lượng ức kiếp nói cũng không hết được".

Ca Diếp nên biết! Ðức Như Lai là vua của các pháp nếu có nói ra lời chi đều không hư dối vậy. Phật ở nơi tất cả pháp dùng sức trí huệ phuơng tiện mà diễn nói, pháp của Phật nói thảy đều đến bực nhứt thiết trí (1). Ðức Như Lai xem biết chỗ quy thú (2) của tất cả pháp; cũng rõ biết chỗ tâm sở hành (3) của tất cả chúng sanh không thấu không ngại. Phật lại ở nơi các pháp rốt ráo rõ biết hết, chỉ bày tất cả trí huệ cho các chúng sanh.

2. Ca Diếp! Thí như trong cõi Tam thiên đại thiên nơi núi, sông, khe, hang, ruộng, đất sanh ra cây cối, lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi tam thiên đại thiên (4) đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thấm, cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ cội nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ, hoặc thứ cội bực vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc có thứ cội lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn.

Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng trung hạ mà hấp thụ khác nhau. Một cụm mây tuôn mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ đặng sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dầu rằng một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.

3. Ca Diếp nên biết! Ðức Như Lai cũng lại như thế, hiện ra nơi đời như là vừng mây lớn nổi lên, dùng giọng tiếng lớn vang khắp thế giới cả trời, người, A tu la, như mây lớn kia trùm khắp cõi nước tam thiên đại thiên. Phật ở trong đại chúng mà xướng lời này:

"Ta là đấng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Người chưa đặng độ thời làm cho đặng độ, người chưa tỏ ngộ thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an thời làm cho được an, người chưa chứng Niết bàn thời làm cho chứng Niết bàn, đời nay và đời sau Phật đều biết đúng như thật. Ta là bực nhứt thiết trí, bực nhứt thiết kiến, là bực tri đạo, bực khai đạo, bực thuyết đạo. Các ngươi, hàng trời, người, A tu la đều nên đến đây vì để nghe pháp vậy."

Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chúng sanh đi đến chỗ đức Như Lai xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay giải đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói pháp, chủng loại nhiều vô lượng, Phật đều khiến vui mừng đặng nhiều lợi lành. Các chúng sanh này nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào đạo.

Như mây lớn kia mưa rưới khắp tất cả cỏ cây lùm rừng và các cỏ thuốc, theo giống của mỗi thứ đều được đượm nhuần đầy đủ, đều được sanh trưởng.

Ðức Như Lai nói pháp một tướng một vị, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, rốt ráo đến bực "nhứt thiết chủng trí". Có chúng sanh nào nghe pháp của Như Lai hoặc thọ trì đọc tụng, đúng như lời mà tu hành, được công đức tự mình không hay biết.

Vì sao? Vì chỉ có Như Lai là biết chủng tướng thể tánh của chúng sanh đó: Nhớ việc gì? Nghĩ việc gì? Tu việc gì? Nhớ thế nào? Nghĩ thế nào? Tu thế nào? Dùng pháp gì để nhớ? Dùng pháp gì để nghĩ? Dùng pháp gì để tu? Dùng pháp gì đặng pháp gì?

Chúng sanh ở nơi các bực, chỉ có Ðức Như Lai thấy đó đúng như thật, rõ ràng không bị ngại. Như cây cối lùm rừng các cỏ thuốc kia không tự biết tánh thượng trung hạ của nó.

Ðức Như Lai biết pháp một tướng một vị ấy, nghĩa là: tướng giải thoát, tướng xa lìa, tướng diệt, tướng rốt ráo Niết bàn thường tịch diệt, trọn về nơi không, Phật biết như thế rồi xem xét tâm ưa muốn của chúng sanh mà dắt dìu nó, cho nên chẳng liền vì chúng vội nói "nhứt thiết chủng trí."

Ca Diếp! Các ông rất là hi hữu, có thể biết rõ đức Như Lai tùy cơ nghi nói pháp, hay tin hay nhận. Vì sao? Vì các đức Phật Thế Tôn tùy cơ nghi nói pháp khó hiểu khó biết.

Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

4. Pháp Vương phá các cõi

Hiện ra trong thế gian

Theo tánh của chúng sanh

Dùng các cách nói pháp

Ðức Như Lai tôn trọng

Trí huệ rất sâu xa

Lâu giữ pháp yếu này

Chẳng vội liền nói ra

Người trí nếu được nghe

Thời có thể tin hiểu,

Kẻ không trí nghi hối

Thời bèn là mất hẳn.

Ca Diếp! Vì cớ đó

Theo sức chúng nói pháp

Dùng các món nhơn duyên

Cho chúng đặng Chánh Kiến

Ca Diếp ông nên biết

Thí như vừng mây lớn

Nổi lên trong thế gian

Che trùm khắp tất cả

Mây trí huệ chứa nhuần

Chớp nhoáng sáng chói lòa

Tiếng sấm xa vang động

Khiến mọi loài vui đẹp

Nhựt quang bị che khuất

Trên mặt đất mát mẻ

Mây mù sa bủa gần

Dường có thể nắm tới.

Trận mưa đó khắp cùng

Bốn phương đều xối xuống

Dòng nước tuôn vô lượng

Cõi đất đều rút đầy

Nơi núi sông hang hiểm

Chỗ rậm rợp sanh ra

Những cây cối cỏ thuốc

Các thứ cây lớn nhỏ

Trăm giống lúa mộng mạ

Các thứ mía cùng nho

Nhờ nước mưa đượm nhuần

Thảy đều tươi tốt cả.

Ðất khô khắp được rưới

Thuốc cây đều sum sê

Vừng mây kia mưa xuống

Nước mưa thuần một vị

Mà cỏ cây lùm rừng

Tất cả các giống cây

Hạng thượng trung cùng hạ

Xứng theo tánh lớn nhỏ

Ðều đặng sanh trưởng cả.

Cội thân nhánh và lá

Trổ bông trái sắc vàng

Một trận mưa rưới đến

Cây cỏ đều thấm mướt

Theo thể tướng của nó

Tánh loại chia lớn nhỏ

Nước đượm nhuần vẫn một

Mà đều được sum sê.

5. Ðức Phật cũng như thế

Hiện ra nơi trong đời

Ví như vầng mây lớn

Che trùm khắp tất cả

Ðã hiện ra trong đời

Bèn vì các chúng sanh

Phân biệt diễn nói bày

Nghĩa thật của các pháp

Ðấng Ðại Thánh Thế Tôn

Ở trong hàng trời người

Nơi tất cả chúng hội

Mà tuyên nói lời này:

Ta là bậc Như Lai

Là Ðấng lưỡng Túc Tôn (5)

Hiện ra nơi trong đời

Dường như vừng mây lớn

Thấm nhuần khắp tất cả

Những chúng sanh khô khao

Ðều làm cho lìa khổ

Ðặng an ổn vui sướng

Hưởng sự vui thế gian

Cùng sự vui Niết bàn.

Các chúng trời người này

Một lòng khéo lóng nghe

Ðều nên đến cả đây

Ra mắt đấng Vô thượng.

Ta là đấng Thế Tôn

Không có ai bằng được

Muốn an ổn chúng sanh

Nên hiện ra trong đời

Vì các đại chúng nói

Pháp cam lồ trong sạch

Pháp đó thuần một vị

Giải thoát Niết bàn thôi.

Dùng một giọng tiếng mầu

Diễn xướng nghĩa nhiệm này

Ðều thường vì Ðại thừa

Mà kết làm nhơn duyên.

Ta xem tất cả chúng

Khắp đều bình đẳng cả

Không có lòng bỉ thử

Cũng không có hạn ngại

Hằng vì tất cả chúng

Mà bình đẳng nói pháp

Như khi vì một người

Lúc chúng đông cũng vậy.

Thường diễn nói pháp luôn

Từng không việc gì khác

Ngồi, đứng, hoặc đến, đi

Trọn không hề nhàm mỏi

Ðầy đủ cho thế gian

Như mưa khắp thấm nhuần

Sang hèn cùng thượng hạ

Giữ giới hay phá giới

Oai nghi được đầy đủ

Và chẳng được đầy đủ

Người chánh kiến tà kiến

Kẻ độn căn lợi căn

Khắp rưới cho mưa pháp

Mà không chút nhàm mỏi.

Tất cả hàng chúng sanh

Ðược nghe pháp của ta

Tùy sức mình lãnh lấy

Trụ ở nơi các bực

Hoặc là ở trời, người

Làm Chuyển Luân Thánh Vương

Trời Thích, Phạm, các vua

Ðó là cỏ thuốc nhỏ.

Hoặc rõ pháp vô lậu

Hay chứng đặng Niết bàn

Khởi sáu pháp thần thông

Và đặng ba món minh

Ở riêng trong núi rừng

Thường hành môn thiền định

Chứng đặng bực Duyên giác

Là cỏ thuốc bực trung.

Hoặc cầu bực Thế Tôn

Ta sẽ đặng thành Phật

Tu hành tinh tấn, định

Là cỏ thuốc bực thượng.

Lại có hàng Phật tử

Chuyên tâm nơi Phật đạo

Thường thật hành từ bi

Tự biết mình làm Phật

Quyết định không còn nghi

Gọi đó là cây nhỏ.

Hoặc an trụ thần thông

Chuyển bất thối pháp luân

Ðộ vô lượng muôn ức

Trăm nghìn loài chúng sanh

Bồ tát hạng như thế

Gọi đó là cây lớn.

Phật chỉ bình đẳng nói

Như nước mưa một vị

Theo căn tánh chúng sanh

Mà hưởng thọ không đồng

Như những cỏ cây kia

Ðược đượm nhuần đều khác.

6. Phật dùng món dụ này

Ðể phương tiện chỉ bày

Các thứ lời lẽ hay

Ðều diễn nói một pháp

Ở nơi trí huệ Phật

Như một giọt trong biển.

Ta rưới trận mưa pháp

Ðầy đủ khắp thế gian

Pháp mầu thuần một vị

Tùy sức riêng tu hành,

Như thể lùm rừng kia

Và cỏ thuốc những cây

Tùy giống lớn hay nhỏ

Lần lần thêm sum sê

Pháp của các đức Phật

Thường dùng thuần một vị

Khiến cho các thế gian

Ðều khắp đặng đầy đủ

Lần lựa siêng tu hành

Rồi đều đặng đạo quả.

Hàng Thanh văn, Duyên giác,

Ở nơi chốn núi rừng,

Trụ thân hình rốt sau

Nghe Phật pháp đặng quả.

Ðó gọi là cỏ thuốc

Đều đặng thêm lớn tốt.

Nếu các vị Bồ tát

Trí huệ rất vững bền

Rõ suốt cả ba cõi

Cầu đặng thừa tối thượng

Ðó gọi là cây nhỏ

Mà đặng thêm lớn tốt.

Lại có vị trụ thiền

Ðặng sức thần thông lớn

Nghe nói các pháp không

Lòng rất sanh vui mừng

Phóng vô số hào quang

Ðộ các loài chúng sanh

Ðó gọi là cây lớn

Mà đặng thêm lớn tốt.

Như thế, Ca Diếp này!

Ðức Phật nói pháp ra

Thí như vừng mây lớn

Dùng nước mưa một vị

Ðượm nhuần nơi hoa người

Ðều đặng kết trái cả.

Ca Diếp ông phải biết

Ta dùng các nhơn duyên

Các món thí dụ thảy

Ðể chỉ bày đạo Phật

Ðó là ta phương tiện

Các đức Phật cũng thế

Nay ta vì các ông

Nói việc rất chơn thiệt

Các chúng thuộc Thanh văn

Ðều chẳng phải diệt độ

Chỗ các ông tu hành

Là đạo của Bồ tát

Lần lần tu học xong

Thảy đều sẽ thành Phật.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thọ Ký” Thứ Sáu

1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế này: Ông Ma Ha Ca Diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đức Phật Thế Tôn, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau đặng thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Nước tên Quang Ðức, kiếp tên là Ðại Trang Nghiêm Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp hầm hố gò nổng, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ.

Bồ tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật Pháp.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Bảo các Tỳ kheo rằng:

Ta dùng mắt của Phật

Thấy ông Ca Diếp này

Ở nơi đời vị lai

Quá vô số kiếp sau

Sẽ đặng thành quả Phật,

Mà ở đời vị lai

Cúng dường và kính thờ

Ðủ ba trăm muôn ức

Các đức Phật Thế Tôn.

Vì cầu trí huệ Phật

Mà tịnh tu phạm hạnh

Cúng dường đấng Tối thượng

Nhị Túc Tôn xong rồi

Tu tập trọn tất cả

Trí huệ bực Vô thượng

Ở nơi thân rốt sau

Ðặng chứng thành làm Phật.

Cõi đó rất thanh tịnh

Chất lưu ly làm đất

Nhiều thứ cây bằng báu

Thẳng hàng ở bên đường

Dây vàng giăng ngăn đường

Người ngó thấy vui mừng

Thường thoảng ra hương thơm

Rải các thứ hoa đẹp

Các món báu kỳ diệu

Dùng để làm trang nghiêm

Cõi đó đất bằng thẳng

Không có những gò hầm.

Các hàng chúng Bồ tát

Ðông không thể xưng kể

Tâm các vị hòa dịu

Ðến đặng thần thông lớn

Phụng trì các kinh điển

Ðại thừa của các Phật.

Các hàng chúng Thanh văn

Bực vô lậu thân rốt sau

Là con của Pháp Vương

Cũng chẳng thể kể hết

Nhẫn đến dùng thiên nhãn

Cũng chẳng thể đếm biết.

Phật đó sẽ sống lâu

Tuổi mười hai tiểu kiếp

Chánh pháp trụ ở đời

Đủ hai mươi tiểu kiếp

Tượng pháp trụ ở đời

Cũng hai mươi tiểu kiếp

Ðức Quang Minh Thế Tôn

Việc của Ngài như thế.

3. Lúc bấy giờ, Ngài Ðại Mục Kiền Liên, Ngài Tu Bồ Ðề, Ngài Ðại Ca Chiên Diên v.v... thảy đều run sợ một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền đồng tiếng nhau nói kệ rằng:

Thế Tôn rất hùng mãnh

Pháp vương trong dòng Thích

Vì thương xót chúng con

Mà ban giọng tiếng Phật.

Nếu rõ thâm tâm con

Ðược Phật thọ ký cho

Như dùng cam lộ rưới

Từ nóng đặng mát mẻ.

Như từ nước đói đến

Bỗng gặp cỗ tiệc vua

Còn ôm lòng nghi sợ

Chưa dám tự ăn liền.

Nếu lại đặng vua bảo

Vậy sau mới dám ăn,

Chúng con cũng như vậy

Hằng nghĩ lỗi Tiểu thừa

Chẳng biết làm thế nào

Ðặng huệ Vô thượng Phật.

Dầu nghe giọng tiếng Phật

Nói chúng con thành Phật

Còn ôm lòng lo sợ

Như chưa dám tự ăn.

Nếu được Phật thọ ký

Mới là khoái an vui

Thế Tôn rất hùng mãnh

Thường muốn an thế gian

Xin thọ ký chúng con

Như đói cần bảo ăn.

4. Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn bảo các Thầy Tỳ kheo rằng: Ông Tu Bồ Ðề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm muôn ức na do tha (6) đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ tát, ở thân rốt sau đặng thành Phật hiệu: Danh tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Kiếp đó tên Hữu Bửu, nước đó tên là Bửu Sanh. Cõi đó bằng thẳng, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai chông cùng đồ lợi tiện dơ dáy; hoa báu trải đất khắp nơi sạch sẽ, nhơn dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quí đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vô biên, tính kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ tát đông vô số nghìn muôn ức na do tha.

Ðức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, Ðức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát đặng vô lượng Bồ tát cùng chúng Thanh văn.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

5. Các chúng Tỳ kheo này!

Nay ta bảo các ông

Ðều nên phải một lòng

Lóng nghe lời ta nói.

Ðệ tử lớn của ta

Là ông Tu Bồ Ðề

Rồi sẽ đặng làm Phật

Hiệu gọi là Danh Tướng

Sẽ phải cúng vô số

Muôn ức các đức Phật

Theo hạnh của Phật làm

Lần lần đủ đạo lớn.

Thân rốt sau sẽ đặng

Ba mươi hai tướng tốt

Xinh lịch đẹp đẽ lắm

Dường như núi báu lớn

Cõi nước của Phật đó

Trang nghiêm sạch thứ nhất

Chúng sanh nào được thấy

Không ai chẳng ưa mến

Phật ở trong cõi đó

Ðộ thoát vô lượng chúng.

Trong pháp hội của Phật

Các Bồ tát đông nhiều

Thảy đều bực lợi căn

Chuyển pháp luân bất thối.

Cõi nước đó thường dùng

Bồ tát để trang nghiêm

Các chúng Thanh văn lớn

Chẳng có thể đếm kể

Ðều đặng ba món minh

Ðủ sáu thứ thần thông

Trụ tám pháp giải thoát

Có oai đức rất lớn.

Ðức Phật đó nói pháp

Hiện ra vô lượng món

Pháp thần thông biến hóa

Chẳng thể nghĩ bàn được.

Các hàng trời, nhơn dân

Số đông như hằng sa

Ðều cùng nhau chắp tay

Lóng nghe lãnh lời Phật.

Ðức Phật đó sẽ thọ

Tuổi mười hai tiểu kiếp

Chánh pháp trụ lại đời

Ðủ hai mươi tiểu kiếp

Tượng pháp trụ ở đời

Cũng hai mươi tiểu kiếp.

6. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ kheo: Ta nay nói với các ông, ông Ðại Ca Chiên Diên này ở đời sẽ tới, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn đức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành, cúng dường tháp miếu bằng các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phang...

Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai mươi muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ tát sẽ đặng làm Phật hiệu: Diêm Phù Na Ðề Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh và A tu la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Ðức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp.

Lúc đó Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

7. Các chúng Tỳ kheo này!

Ðều nên một lòng nghe

Như lời của ta nói

Chơn thiệt không khác lạ.

Ông Ca Chiên Diên này

Sau sẽ dùng các món

Ðồ cúng dường tốt đẹp

Mà cúng dường các Phật

Các đức Phật diệt rồi

Dựng tháp bằng bảy báu

Cũng dùng hoa và hương

Ðể cúng dường Xá lợi.

Thân rốt sau của ông

Ðặng trí huệ của Phật

Thành bực Ðẳng Chánh giác

Cõi nước rất thanh tịnh

Ðộ thoát đặng vô lượng

Muôn ức hàng chúng sanh

Ðều được mười phương khác

Thường đến kính cúng dường,

Ánh sáng của Phật đó

Không ai có thể hơn

Ðức Phật đó hiệu là:

Diêm Phù Kim Quang Phật

Bồ tát và Thanh văn

Dứt tất cả hữu lậu

Ðông vô lượng vô số

Trang nghiêm cõi nước đó.

8. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo trong đại chúng: "Ta nay nói với các ông, ông Ðại Mục Kiền Liên đây sẽ dùng các món đồ cúng, cúng dường tám nghìn các đức Phật, cung kính tôn trọng. Sau khi các đức Phật diệt độ đều dựng tháp miếu cao một nghìn do tuần, ngang rộng thẳng bằng năm trăm do tuần, dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành. Ðem các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu và tràng phang để cúng dường tháp.

Sau lúc ấy lại sẽ cúng dường, hai trăm muôn ức các đức Phật cũng như trước, rồi sẽ đặng thành Phật hiệu: Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Kiếp đó tên là Hỷ Mãn, nước tên là Ý Lạc, cõi đó bằng thẳng, chất pha lê làm đất, cây báu trang nghiêm, rải hoa trân châu khắp nơi sạch sẽ, người được thấy đều vui mừng. Các hàng trời người rất đông, Bồ tát và Thanh văn số nhiều vô lượng, đức Phật đó thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ bốn mươi hai tiểu kiếp.

Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

9. Ðệ tử của ta đây

Là Ðại Mục Kiền Liên

Bỏ thân người này rồi

Sẽ đặng gặp tám nghìn

Hai trăm muôn ức vị

Các đức Phật Thế Tôn

Ông vì cầu Phật đạo

Nên cúng dường cung kính

Ở nơi các đức Phật

Thường tu trì phạm hạnh

Ở trong vô lượng kiếp

Phụng trì pháp của Phật.

Các đức Phật diệt rồi

Xây tháp bằng bảy báu

Tháp vàng rất cao rộng

Dùng hoa hương kỹ nhạc

Ðể dùng dâng cúng dường

Tháp miếu các đức Phật.

Lần lần đặng đầy đủ

Ðạo hạnh Bồ tát rồi

Ở nơi nước Ý Lạc

Mà đặng thành quả Phật

Hiệu là Ða Ma La

Bạt Chiên Ðàn Hương Phật.

Ðức Phật đó thọ mạng

Hai mươi bốn tiểu kiếp

Thường vì hàng trời người

Mà diễn nói đạo Phật

Chúng Thanh văn vô lượng

Như số cát sông Hằng

Ðủ ba minh, sáu thông

Ðều có oai đức lớn.

Bồ tát đông vô số

Chí bền lòng tinh tấn

Ở nơi trí huệ Phật

Ðều không hề thối chuyển.

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp sẽ trụ đời

Ðủ bốn mươi tiểu kiếp

Tượng pháp cũng như thế.

10. Các đệ tử của ta

Bực oai đức đầy đủ

Số đó năm trăm người

Ta đều sẽ thọ ký

Ở nơi đời vị lai

Ðều đặng chứng thành Phật

Ta cùng với các ông

Ðời trước kết nhơn duyên

Ta nay sẽ thuật nói

Các ông khéo lóng nghe.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Hóa Thành Dụ” (6) Thứ Bảy

1. Ðức Phật bảo các Thầy Tỳ kheo: "Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp đã qua, lúc bấy giờ có đức Phật hiệu Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô thượng Sĩ, Ðiều Ngự Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.

Nước đó tên là Hảo Thành, kiếp tên Ðại tướng. Các Tỳ kheo! Từ khi đức Phật đó diệt độ nhẫn đến nay rất là lâu xa, thí như địa chủng trong cõi tam thiên đại thiên, giả sử có người đem mài làm mực rồi đi khỏi một nghìn cõi nước ở phương Đông bèn chấm một điểm chừng bằng bụi nhỏ, lại qua một nghìn cõi nước nữa cũng chấm một điểm, cứ như thế lần lựa chấm hết mực mài bằng địa chủng ở trên. Ý các ông nghĩ sao? Các cõi nước đó hoặc Thầy toán hoặc đệ tử của Thầy toán có thể biết đặng ngằn mé số đó chăng? "

Thưa Thế Tôn! Không thể biết!

Các Tỳ kheo! Những cõi nước của người đó đi qua hoặc có chấm mực hoặc không chấm mực đều nghiền nát cả ra làm bụi, một hột bụi là một kiếp, từ đức Phật đó diệt độ đến nay lại lâu hơn số đó vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như Lai xem thuở lâu xa đó dường như hiện ngày nay.

Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Ta nhớ đời quá khứ

Vô lượng vô biên kiếp

Có Phật Lưỡng Túc Tôn

Hiệu Ðại Thông Trí Thắng

Như người dùng sức mài

Cõi tam thiên đại thiên

Hết tất cả địa chủng

Thảy đều làm thành mực

Quá hơn nghìn cõi nước

Bèn chấm mỗi điểm trần

Như thế lần lựa chấm

Hết các mực trần này.

Bao nhiêu cõi nước đó

Ðiểm cùng chẳng điểm thảy

Lại đều nghiền làm bụi

Một bụi làm một kiếp

Kiếp số lâu xa kia

Lại nhiều hơn số bụi

Phật đó diệt đến nay

Vô lượng kiếp như thế

Trí vô ngại của Phật

Biết Phật đó diệt độ

Và Thanh văn Bồ tát

Như hiện nay thấy diệt.

Các Tỳ kheo nên biết

Trí Phật tịnh vi diệu

Vô lậu và vô ngại

Suốt thấu vô lượng kiếp.

3. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo: "Ðức Ðại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức na do tha kiếp, đức Phật đó khi trước lúc ngồi đạo tràng phá quân ma rồi, sắp đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác mà Phật pháp chẳng hiện ra trước, như thế một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng thân và tâm đều không lay động mà các Phật pháp còn chẳng hiện ra trước.

Thuở đó, các vị trời Ðao Lợi ở dưới cội cây Bồ đề đã trước vì đức Phật đó mà trải tòa Sư tử cao một do tuần (7), Phật ngồi nơi tòa này sẽ đặng đạo Vô thượng, Chánh đẳng, Chánh giác. Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó các trời Phạm Thiên Vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi dẹp hoa héo rồi rưới hoa mới mãi như thế không ngớt mãn mười tiểu kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa này. Các trời Tứ Thiên Vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trỗi kỹ nhạc trời, mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế.

Các Tỳ kheo! Ðức Ðại Thông Trí Thắng Phật quá mười tiểu kiếp các Phật pháp hiện ra trước Thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lúc Phật chưa xuất gia có mười sáu người con trai, người con cả tên Trí Tích. Các người con đó đều có các món đồ chơi tốt đẹp báu lạ, nghe cha chứng đặng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều bỏ đồ báu của mình đi đến chỗ Phật. Các người mẹ khóc lóc theo đưa.

Ông nội là vua Chuyển Luân Thánh Vương, cùng một trăm vị đại thần và trăm nghìn muôn ức nhơn dân khác đều vây quanh nhau đi theo đến đạo tràng, mỗi người đều đến gần gũi đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Khi đã đến nơi tất cả đem đầu mặt mình lạy chơn Phật, đi vòng quanh đức Phật xong, đều chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, rồi nói kệ khen Phật:

4. Thế Tôn oai đức lớn

Vì muốn độ chúng sanh

Trong vô lượng ức năm

Bèn mới đặng thành Phật

Các nguyện đã đầy đủ.

Hay thay lành Vô thượng

Thế Tôn rất ít có

Một phen ngồi mười kiếp

Thân thể và tay chơn

Yên tịnh không hề động

Tâm Phật thường lặng lẽ

Chưa từng có tán loạn

Trọn rốt ráo vắng bặt

An trụ pháp vô lậu

Ngày nay thấy Thế Tôn

An ổn thành Phật đạo

Chúng con được lợi lành

Mừng rỡ rất vui đẹp.

Chúng sanh thường đau khổ

Ðui mù không Ðạo sư

Chẳng biết đạo dứt khổ

Chẳng biết cầu giải thoát

Lâu ngày thêm nẻo ác

Giảm tổn các chúng trời

Từ tối vào nơi tối

Trọn chẳng nghe danh Phật.

Nay Phật đặng Vô thượng

Ðạo an ổn vô lậu

Chúng con và trời người

Vì đặng lợi lớn tột

Cho nên đều cúi đầu

Quy mạng (8) đấng Vô thượng.

5. Bấy giờ mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi liền khuyến thỉnh đức Thế Tôn chuyển pháp luân, đều thưa rằng: "Ðức Thế Tôn nói pháp được an ổn, thương xót làm lợi ích cho các trời và nhơn dân". Lại nói kệ rằng:

Ðức Phật không ai bằng

Trăm phước tự trang nghiêm

Ðặng trí huệ Vô thượng

Nguyện vì đời nói pháp

Ðộ thoát cho chúng con

Và các loài chúng sanh

Xin phân biệt chỉ bày

Cho đặng trí huệ Phật.

Nếu chúng con cũng thành Phật

Chúng sanh cũng được thế

Thế Tôn biết chúng sanh

Thâm tâm nghĩ tưởng gì

Cũng biết đạo chúng làm

Lại biết sức trí huệ

Muốn ưa và tu phước

Nghiệp gây tạo đời trước

Thế Tôn biết cả rồi

Nên chuyển pháp Vô thượng.

6. Phật bảo các Tỳ kheo: Lúc Ðức Ðại Thông Trí Thắng Phật đặng quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong mười phương, mỗi phương đều năm trăm muôn ức các cõi nước Phật sáu điệu vang động. Trong các cõi nước đó chỗ tối tăm ánh sáng của nhựt nguyệt không soi tới đặng mà đều sáng rỡ, trong đó chúng sanh đều đặng thấy nhau, đồng nói rằng: "Trong đây tại sao bỗng sanh ra chúng sanh?"

Lại trong các cõi đó cung điện của chư Thiên cho đến Phạm Cung sáu điệu vang động, hào quang lớn soi cùng khắp đầy cõi nước, sáng hơn ánh sáng của trời.

7. Bấy giờ, phương Ðông, năm trăm muôn ức các cõi nước, cung điện của trời Phạm Thiên (9) ánh sáng soi chói gấp bội hơn ánh sáng thường ngày, các Phạm Thiên Vương đều tự nghĩ rằng: "Hôm nay cung điện sáng suốt từ xưa chưa từng có, vì nhơn duyên gì mà hiện điềm tốt này?" Lúc đó các vị Phạm Thiên Vương liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Trong chúng có một vị Phạm Thiên Vương lớn tên Cứu Nhứt Thiết vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng:

Các cung điện chúng ta

Sáng suốt xưa chưa có

Ðây là nhơn duyên gì

Phải nên chung nhau tìm

Là trời đại đức sanh

Hay là Phật ra đời

Mà ánh sáng lớn này

Khắp soi cả mười phương.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước, các vị Phạm Thiên Vương cùng chung với cung điện (10) mỗi vị đều lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đi đến phương Tây suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử ở nơi đạo tràng dưới cội Bồ đề, hàng chư Thiên, Long Vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn và phi nhơn v.v... cung kính vây quanh đức Phật chuyển pháp luân; tức thời các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lạy chơn Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật.

Hoa của mấy ông rải nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây Bồ đề của Phật, cây Bồ đề đó cao mười do tuần. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: "Xin đức Phật đoái thương lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây xin nạp ở."

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:

Thế Tôn rất ít có

Khó thể gặp gỡ đặng

Ðủ vô lượng công đức

Hay cứu hộ tất cả

Thầy lớn của trời người

Thương xót ở trong đời

Mười phương các chúng sanh

Khắp đều nhờ lợi ích.

Chúng con từng theo đến

Năm trăm muôn ức nước

Bỏ vui thiền định sâu

Vì để cúng dường Phật

Chúng con phước đời trước

Cung điện rất tốt đẹp

Nay đem dâng Thế Tôn

Cúi xin, thương nạp thọ.

Bấy giờ, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi đều thưa rằng: "Cúi xin Thế Tôn chuyển pháp luân, độ thoát chúng sanh mở đường Niết bàn."

Khi ấy, các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ rằng:

Thế Hùng Lưỡng Túc Tôn

Cúi xin diễn nói pháp

Dùng sức từ bi lớn

Ðộ chúng sanh khổ não.

Lúc đó đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai lắng yên nhận lời đó. (11)

8. Lại nữa các Tỳ kheo! Phương Đông Nam năm trăm muôn ức cõi nước các vị Phạm Thiên Vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hi hữu, liền cùng đến nhau chung bàn việc đó. Lúc ấy trong chúng đó có một vị Phạm Thiên Vương tên là Ðại Bi, vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng:

Việc đó nhơn duyên gì

Mà hiện tướng như thế?

Các cung điện chúng ta

Sáng suốt xưa chưa từng có

Là trời đại đức sanh

Hay là Phật ra đời?

Chưa từng thấy tướng này

Nên chung một lòng cầu

Quá nghìn muôn ức cõi

Theo luồng sáng tìm đến

Phần nhiều Phật ra đời

Ðộ thoát khổ chúng sanh.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên Vương cùng chung với cung điện, lấy đãy đựng các thứ hoa trời, đồng đến phương Tây Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội Bồ đề, các hàng chư Thiên, Long Vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Khi ấy các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lạy chơn Phật, đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao, cùng để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: "Xin Phật thương xót lợi ích cho chúng con, những cung điện dâng đây cúi xin nhận ở".

Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng:

Thánh Chúa vua trong trời

Tiếng Ca Lăng Tần Già

Thương xót hàng chúng sanh

Chúng con nay kính lễ.

Thế Tôn rất ít có

Lâu xa một lần hiện

Một trăm tám mươi kiếp

Luống qua không có Phật

Ba đường dữ dẫy đầy

Các chúng trời giảm ít.

Nay Phật hiện ra đời

Làm mắt cho chúng sanh

Chỗ quy thú của đời

Cứu hộ cho tất cả

Là cha của chúng sanh

Thương xót làm lợi ích

Nhờ phước lành đời trước

Nay đặng gặp Thế Tôn.

Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen Phật xong đều thưa rằng: "Cúi xin đức Thế Tôn thương xót tất cả chuyển pháp luân cho, để độ thoát chúng sanh".

Lúc ấy, các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng tiếng mà nói kệ khen rằng:

Ðại thánh chuyển pháp luân

Chỉ bày các pháp tướng

Ðộ chúng sanh đau khổ

Khiến đặng rất vui mừng

Chúng sanh nghe pháp này

Ðặng đạo hoặc sanh thiên

Các đường dữ giảm ít

Bực nhẫn thiện thêm nhiều.

Khi đó, đức Ðại Thông Trí Thắng Phật lặng yên nhận lời.

9. Lại nữa các Tỳ kheo! năm trăm muôn ức cõi nước ở phương Nam các vị Ðại Phạm Vương đều tự thấy cung điện mình ánh sáng chói lòa từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hi hữu liền đến cùng nhau chung bàn việc đó. Vì nhơn duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng chói này?

Trong chúng đó có một vị Phạm Thiên Vương lớn tên là Diệu pháp, vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

Các cung điện chúng ta

Quang minh rất oai diệu

Ðây không phải không nhơn

Tướng này phải tìm đó

Quá hơn trăm nghìn kiếp

Chưa từng thấy tướng này

Là trời đại đức sanh

Hay đức Phật ra đời?

Bấy giờ, năm trăm muôn ức Phạm Thiên Vương cùng cung điện chung, mỗi vị dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương Bắc suy tìm tướng đó. Thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội cây Bồ đề, hàng chư Thiên, Long Vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu La Già, nhơn và phi nhơn v.v..., cung kính vây quanh, cùng thấy mười sáu vị vương tử thỉnh Phật chuyển pháp luân.

Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương đầu mặt lễ Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời mà rải trên đức Phật. Hoa rải đó nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, mỗi vị đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà thưa rằng: "Xin đức Phật đoái thương lợi ích chúng con, cung điện của chúng con dâng đây cúi xin nạp xử". Bấy giờ, các vị Ðại Phạm Thiên Vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng nói kệ khen rằng:

Thế Tôn rất khó thấy

Bực phá các phiền não

Hơn trăm ba mươi kiếp

Nay mới thấy một lần

Hàng chúng sanh đói khát

Nhờ mưa pháp đầy đủ

Xưa chỗ chưa từng thấy

Ðấng vô lượng trí huệ

Như hoa Ưu đàm bát

Ngày nay mới gặp gỡ

Cung điện của chúng con

Nhờ hào quang được đẹp

Thế Tôn đại từ mẫn

Cúi xin thương nhận ở.

Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi đều bạch rằng: "cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân làm cho tất cả thế gian các hàng Trời, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn đều được an ổn mà đặng độ thoát". Lúc ấy các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng tiếng nói kệ rằng:

Cúi mong Thiên Nhơn Tôn

Chuyển pháp luân Vô thượng

Ðánh vang pháp cổ lớn

Khắp rưới pháp vũ lớn

Ðộ vô lượng chúng sanh

Chúng con đều qui thỉnh

Nên nói tiếng sâu xa.

Khi đó, đức Ðại Thông Trí Thắng lặng yên nhận lời đó.

10. Phương Tây Nam nhẫn đến phương dưới cũng lại như thế.

Bấy giờ, năm trăm muôn ức cõi nước ở thượng phương, các vị Ðại Phạm Thiên Vương thảy đều tự thấy cung điện của mình ở ánh sáng chói rực từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở sanh lòng hi hữu, liền đi đến nhau để chung bàn việc đó. Vì nhơn duyên gì cung điện của chúng ta có ánh sáng này? Lúc đó trong chúng có một vị Ðại Phạm Thiên Vương tên là Thi Khí vì hàng Phạm chúng mà nói kệ rằng:

Nay vì nhân duyên gì?

Cung điện của chúng ta

Ánh sáng oai đức chói

Đẹp đẽ chưa từng có?

Tướng tốt như thế đó

Xưa chưa từng nghe thấy

Là trời đại đức sanh

Hay là Phật ra đời?

Bấy giờ, năm trăm muôn ức các vị Phạm Thiên Vương cùng cung điện chung, mỗi vị đều dùng đãy đựng các thứ hoa trời đồng đến phương dưới suy tìm tướng sáng đó. Thấy đức Ðại Thông Trí Như Lai ngồi tòa sư tử nơi đạo tràng dưới cội Bồ đề, hàng chư Thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhơn và phi nhơn v.v... cung kính vây quanh và thấy mười sáu vị vương tử thỉnh đức Phật chuyển pháp luân.

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương đầu mặt lạy chân Phật đi quanh trăm nghìn vòng, liền lấy hoa trời rải trên đức Phật. Hoa rải nhóm như núi Diệu Cao và để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường hoa xong, đều đem cung điện dâng lên đức Phật mà bạch rằng: "Xin đoái thương lợi ích chúng con. Cung điện dâng đây cúi mong Phật nạp ở".

Lúc đó, các vị Phạm thiên vương liền ở trước Phật một lòng đồng tiếng dùng kệ khen rằng:

Hay thay! thấy các Phật

Ðấng Thánh Tôn cứu Thế

Hay ở ngục tam giới

Cứu khổ các chúng sanh

Thiên Nhơn Tôn trí khắp

Thương xót loài quần manh

Hay khai môn cam lộ

Rộng độ cho tất cả.

Lúc xưa vô lượng kiếp

Luống qua không có Phật

Khi Phật chưa ra đời

Mười phương thường mờ tối

Ba đường dữ thêm đông

A tu la cũng thạnh

Các chúng trời càng bớt

Chết nhiều đọa ác đạo

Chẳng theo Phật nghe pháp

Thường làm việc chẳng lành

Sắc, lực, cùng trí huệ

Các việc đều giảm ít

Vì tội nghiệp nhơn duyên

Mất vui cùng tưởng vui

Trụ trong pháp tà kiến

Chẳng biết nghi tắc lành

Chẳng nhờ Phật hóa độ

Thường đọa trong ác đạo.

Phật là mắt của đời

Lâu xa mới hiện ra

Vì thương các chúng sanh

Nên hiện ở trong đời

Siêu việt thành Chánh giác

Chúng con rất mừng vui

Và tất cả chúng khác

Mừng khen chưa từng có

Cung điện của chúng con

Nhờ hào quang nên đẹp

Nay đem dâng Thế Tôn

Cúi mong thương nhận ở.

Nguyện đem công đức này

Khắp đến cho tất cả

Chúng con cùng chúng sanh

Ðều đồng thành Phật đạo.

Khi đó, năm trăm muôn ức các vị Phạm thiên vương nói kệ khen đức Phật rồi, đều bạch Phật rằng: "Cúi mong đức Thế Tôn chuyển pháp luân, nhiều chỗ an ổn, nhiều chỗ độ thoát". Lúc ấy các vị Phạm thiên vương đồng nói kệ rằng:

Thế Tôn chuyển pháp luân

Ðánh trống pháp cam lộ

Ðộ chúng sanh khổ não

Mở bày đường Niết bàn

Cúi mong nhận lời con

Dùng tiếng vi diệu lớn

Thương xót mà nói bày

Pháp tu vô lượng kiếp.

11. Lúc bấy giờ, Ðại Thông Trí Thắng Như Lai nhận lời thỉnh của các Phạm thiên vương và mười sáu vị vương tử tức thời ba phen chuyển pháp luân mười hai hành (12) hoặc là Sa môn, Bà la môn, hoặc là Trời, Ma, Phạm và các thế gian khác đều không thể chuyển được, nói: đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là đạo diệt khổ.

Và rộng nói pháp mười hai nhơn duyên: Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lão, tử, ưu bi, khổ não.

Vô minh diệt thời hành diệt, hành diệt thời thức diệt, thức diệt thời danh sắc diệt, danh sắc diệt thời lục nhập diệt, lục nhập diệt thời xúc diệt, xúc diệt thời thọ diệt, thọ diệt thời ái diệt, ái diệt thời thủ diệt, thủ diệt thời hữu diệt, hữu diệt thời sanh diệt, sanh diệt thời lão, tử, ưu bi, khổ não diệt.

Ðức Phật ở trong đại chúng trời, người khi nói pháp đó có sáu trăm muôn ức na do tha người do vì không thọ tất cả pháp mà ở các lậu tâm được giải thoát, đều đặng thiền định sâu mầu, ba món minh, sáu món thông, đủ tám giải thoát.

Lúc nói pháp lần thứ hai, lần thứ ba, lần thứ tư, có nghìn muôn ức hằng hà sa na do tha chúng sanh cũng bởi không thọ tất cả pháp mà nơi các lậu tâm được giải thoát. Từ đây nhẫn sau các chúng Thanh văn nhiều vô lượng vô biên, không thể tính kể được.

12. Bấy giờ mười sáu vị vương tử đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa di, các căn thông lanh, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức các đức Phật, tịnh tu hạnh thanh tịnh, cầu đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều bạch cùng Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Các vị đại đức Thanh văn vô lượng nghìn muôn ức đây đã thành tựu xong, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chúng con nghe xong đều đồng tu học. Thế Tôn! Chúng con có chí mong được tri kiến của Như Lai chỗ nghĩ tưởng trong thâm tâm, đức Phật tự chứng biết cho.

Lúc đó, tám muôn ức người trong chúng của Chuyển Luân Thánh Vương dắt đến thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng tự cầu xuất gia, vua liền thuận cho.

Bấy giờ, đức Phật nhận lời thỉnh của Sa di, qua hai muôn kiếp sau mới ở trong hàng bốn chúng nói kinh Đại thừa tên là: "Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm". Ðức Phật nói kinh đó xong, mười sáu vị Sa di vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đồng thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc nói kinh đó, mười sáu vị Sa di Bồ tát thảy đều tin thọ trong chúng Thanh văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra nghìn muôn ức loại chúng sanh đều sanh lòng nghi lầm. Phật nói kinh đó suốt tám nghìn kiếp chưa từng thôi bỏ. Phật nói kinh đó xong liền vào tịnh thất trụ trong thiền định tám muôn bốn nghìn kiếp.

13. Bấy giờ, mười sáu vị Bồ tát Sa di biết Phật nhập thất trụ trong thiền định vắng bặt, mỗi vị đều lên Pháp tòa cũng trong tám muôn bốn nghìn kiếp vì bốn bộ chúng rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

Mỗi vị đều độ sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh, chỉ dạy cho được lợi mừng, khiến phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

14. Ðức Ðại Thông Trí Thắng Phật qua tám muôn bốn nghìn kiếp sau từ tam muội dậy, qua đến pháp tòa mà ngồi an lành, khắp bảo trong hàng đại chúng: "Mười sáu vị Bồ tát Sa di này rất là ít có, các căn thông lẹ, trí huệ sáng láng, đã từng cúng dường vô lượng nghìn muôn ức số đức Phật, ở chỗ các đức Phật thường tu hạnh thanh tịnh, thọ trì trí của Phật để chỉ dạy chúng sanh làm cho vào trong đó. Các ông phải luôn luôn gần gũi mà cúng dường các vị ấy.

Vì sao? Nếu hàng Thanh văn, Duyên giác cùng các Bồ tát có thể tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ tát Sa di đó nói mà thọ trì không mất, thời người đó sẽ đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trí huệ của Như Lai".

15. Phật bảo các Tỳ kheo: "Mười sáu vị Bồ tát đó thường ưa nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này. Sáu trăm muôn ức na tho hằng hà sa chúng sanh của mỗi vị Bồ tát hóa độ đó đời đời sanh ra đều cùng Bồ tát ở chung, theo nghe pháp với Bồ tát thảy đều tin hiểu. Nhờ nhơn duyên đó mà đặng gặp bốn muôn ức các đức Phật Thế Tôn đến nay vẫn chẳng ngớt.

Các Tỳ kheo! Ta nói với các ông mười sáu vị Sa di đệ tử của đức Phật kia nay đều chứng đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiện đương thuyết pháp trong cõi nước ở mười phương có vô lượng trăm nghìn muôn ức Bồ tát Thanh văn để làm quyến thuộc.

Hai vị Sa di làm Phật ở phương Ðông: Vị thứ nhất tên là A Súc ở nước Hoan Hỷ, vị thứ hai tên là Tu Di Ðảnh. Hai vị làm Phật ở phương Ðông Nam: Vị thứ nhứt tên là Sư Tử Âm, vị thứ hai tên là Sư Tử Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Nam: Vị thứ nhứt tên là Hư Không Trụ, vị thứ hai tên là Thường Diệt. Hai vị làm Phật ở phương Tây Nam: Vị thứ nhứt tên là Ðế Tướng, vị thứ hai tên là Phạm Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Tây: Vị thứ nhứt tên là A Di Ðà, vị thứ hai tên là Ðộ Nhứt Thiết Thế Gian Khổ Não. Hai vị làm Phật ở phương Tây Bắc: Vị thứ nhứt tên là Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Thần Thông, vị thứ hai tên là Tu Di Tướng. Hai vị làm Phật ở phương Bắc: Vị thứ nhứt tên là Vân Tự Tại, vị thứ hai tên là Vân Tự Tại Vương. Một vị làm Phật ở phương Ðông Bắc hiệu Hoại Nhứt Thiết Thế Gian Bố Úy. Vị thứ mười sáu, chính Ta là Thích Ca Mâu Ni Phật ở cõi nước Ta bà thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Các Tỳ kheo! Lúc chúng ta làm Sa di mỗi người giáo hóa vô lượng trăm nghìn muôn ức hằng hà sa chúng sanh vì đạo Vô thượng Chánh đẳng, Chánh giác theo ta nghe pháp. Những chúng sanh đó đến nay có người trụ bực Thanh văn, ta thường giáo hóa pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những bọn người này đáng dùng pháp đó mà lần vào Phật đạo.

Vì sao? Vì trí huệ của Như Lai khó tin khó hiểu, vô lượng hằng hà sa chúng sanh bị hóa độ trong thuở đó chính là bọn ông, các Tỳ kheo, và sau khi ta diệt độ các đệ tử Thanh văn trong đời vị lai. Sau khi ta diệt độ, lại có đệ tử không nghe kinh này, không biết không hay hạnh của Bồ tát, tự ở nơi công đức của mình được tưởng cho là diệt độ sẽ nhập Niết bàn.

Ta ở nơi nước khác làm Phật lại có tên khác. Người đó dầu sanh lòng tưởng là diệt độ nhập Niết bàn, nhưng ở nơi cõi kia cầu trí huệ của Phật, được nghe kinh này, chỉ do Phật thừa mà được diệt độ lại không có thừa nào khác, trừ các đức Như Lai phương tiện nói pháp.

Các Tỳ kheo! Nếu đức Như Lai tự biết giờ Niết bàn sắp đến, chúng lại thanh tịnh lòng tin hiểu bền chắc, rõ thấu pháp không, sâu vào thiền định, bèn nhóm các Bồ tát và chúng Thanh văn mà vì nói kinh này. Trong đời không có hai thừa mà đặng diệt độ, chỉ có một Phật thừa đặng diệt độ thôi.

Các Tỳ kheo nên rõ! Ðức Như Lai phương tiện sâu vào tánh chúng sanh, biết chí nó ưa pháp nhỏ, rất ham nơi năm món dục vì hạng người này mà nói Niết bàn, người đó nếu nghe thời liền tin nhận.

16. Thí dụ đường hiểm nhiều nạn dữ, dài năm trăm do tuần. Chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu chúng nhơn muốn đi qua con đường này đến chỗ trân bửu, có một vị đạo sư thông minh sáng suốt khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm, dắt chúng nhơn muốn vượt qua nạn đó. Chúng nhơn được dắt đi giữa đường lười mỏi bạch đạo sư rằng: "Chúng con mệt nhọc lại thêm sợ sệt chẳng có thể đi nữa, đường trước còn xa nay muốn lui về".

Vị đạo sư nhiều sức phương tiện mà tự nghĩ rằng: Bọn này đáng thương, làm sao cam bỏ trân bửu lớn mà muốn lui về. Nghĩ thế rồi dùng sức phương tiện ở giữa đường hiểm quá ba trăm do tuần, hóa làm một cái thành mà bảo chúng nhơn rằng: "Các người chớ sợ, đừng lui về, nay thành lớn này có thể dừng ở trong đó tùy ý muốn làm gì thì làm, nếu vào thành này sẽ rất được an ổn, nếu có thể lại thẳng đến chỗ châu báu đi cũng đặng".

Bấy giờ, chúng mỏi mệt rất vui mừng khen chưa từng có, chúng ta hôm nay khỏi được đường dữ rất được an ổn. Ðó rồi chúng nhơn thẳng vào hóa thành sanh lòng tưởng cho rằng đã đặng độ rất an ổn.

Lúc ấy đạo sư biết chúng nhơn đó đã được nghỉ ngơi không còn mỏi mệt, liền diệt hóa thành bảo chúng nhơn rằng: "Các người nên đi tới, chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn trước đó là của ta biến hóa ra để nghỉ ngơi thôi".

Các Tỳ kheo! Ðức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông mà làm vị Ðại Ðạo Sư, biết các đường dữ sanh tử phiền não hiểm nạn dài xa nên bỏ nên vượt qua. Nếu như chúng sanh chỉ nghe một Phật thừa thời chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, mà nghĩ thế này: "Ðạo Phật dài xa lâu ngày chịu cần khổ mới có thể đặng thành". Phật biết tâm chúng đó khiếp nhược hạ liệt dùng sức phương tiện mà ở giữa đường vì để ngơi nghỉ nên nói hai món Niết bàn. (13)

Nếu chúng sanh trụ nơi hai bực, đức Như Lai bấy giờ liền bèn vì nói:

"Chỗ tu của các ông chưa xong bực của các ông ở gần với huệ của Phật. Phải quan sát suy lường Niết bàn đã đặng đó chẳng phải chơn thật vậy. Chỉ là sức phương tiện của Như Lai, ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba. Như hai vị đạo sư kia vì cho mọi người ngơi nghỉ mà hóa thành lớn, đã biết nghỉ xong mà bảo rằng: "Chỗ châu báu ở gần, thành này không phải thiệt, của ta biến hóa làm ra đó thôi".

Lúc đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

17. Ðại Thông Trí Thắng Phật

Mười kiếp ngồi đạo tràng

Phật pháp chẳng hiện tiền

Chẳng đặng thành Phật đạo

Các trời, thần, Long Vương

Chúng A tu la thảy

Thường rưới các hoa trời

Ðể cúng dường Phật đó

Chư thiên đánh trống trời

Và trổi các kỹ nhạc

Gió thơm thổi hoa héo

Lại mưa bông tốt mới

Quá mười tiểu kiếp rồi

Mới đặng thành Phật đạo

Các trời cùng người đời

Lòng đều sanh hớn hở.

Mười sáu người con Phật

Ðều cùng quyến thuộc mình

Nghìn muôn ức vây quanh

Chung đi đến chỗ Phật

Ðầu mặt lạy chơn Phật

Thỉnh Phật chuyển Pháp Luân

"Ðấng Thánh Sư mưa pháp

Lợi con và tất cả

Thế Tôn rất khó gặp

Lâu xa một lần hiện

Vì giác ngộ quần sanh

Mà chấn động tất cả".

Các thế giới phương Đông

Năm trăm muôn ức cõi

Phạm cung điện sáng chói

Từ xưa chưa từng có

Phạm Vương thấy tướng này

Liền đến chỗ Phật ở

Rải hoa để cúng dường

Và dâng cung điện lên

Thỉnh Phật chuyển pháp luân

Nói kệ ngợi khen Phật

Phật biết chưa đến giờ

Nhận thỉnh yên lặng ngồi

Ba phương cùng bốn phía

Trên, dưới cũng như thế

Rưới hoa dâng cung điện

Thỉnh Phật chuyển Pháp Luân:

"Thế Tôn rất khó gặp

Nguyện vì bổn từ bi

Rộng mở cửa cam lộ

Chuyển pháp luân Vô thượng."

18. Thế Tôn huệ Vô thượng

Nhân chúng nhơn kia thỉnh

Vì nói các món pháp

Bốn đế, mười hai duyên

Vô minh đến lão tử

Ðều từ sanh duyên hữu

Những quá hoạn như thế

Các ông phải nên biết.

Tuyên nói pháp đó rồi

Sáu trăm muôn ức cai (14)

Ðặng hết các ngằn khổ

Ðều thành A la hán.

Thời nói pháp thứ hai

Nghìn muôn hằng sa chúng

Ở các pháp chẳng thọ

Cũng đặng A la hán,

Từ sau đây đặng đạo

Số đông đến vô lượng

Muôn ức kiếp tính kể

Không thể đặng ngằn mé

19. Bấy giờ mười sáu vị

Xuất gia làm Sa di

Ðều đồng thỉnh Phật kia

Diễn nói pháp Đại thừa:

"Chúng con cùng quyến thuộc

Ðều sẽ thành Phật đạo

Nguyện đặng như Thế Tôn

Huệ nhãn sạch thứ nhứt."

Phật biết lòng đồng tử

Chỗ làm của đời trước

Dùng vô lượng nhơn duyên

Cùng các món thí dụ

Nói sáu Ba la mật

Và các việc thần thông,

Phân biệt pháp chơn thiệt

Ðạo của Bồ tát làm

Nói kinh Pháp Hoa này

Kệ nhiều như hằng sa.

Phật kia nói kinh rồi

Vào tịnh thất nhập định

Tám muôn bốn nghìn kiếp

Một lòng ngồi một chỗ.

Các vị Sa di đó

Biết Phật chưa xuất thiền

Vì vô lượng chúng nói

Huệ Vô thượng của Phật

Mỗi vị ngồi pháp tòa

Nói kinh Đại thừa này

Sau khi Phật yên lặng

Tuyên bày giúp giáo hóa.

Mỗi vị Sa di thảy

Số chúng sanh mình độ

Có sáu trăm muôn ức

Hằng hà sa các chúng.

Sau khi Phật diệt độ

Các người nghe pháp đó

Ở các nơi cõi Phật

Thường cùng Thầy sanh chung.

Mười sáu Sa di đó

Ðầy đủ tu Phật đạo

Nay hiện ở mười phương

Ðều đặng thành Chánh giác

Người nghe pháp thuở đó

Ðều ở chỗ các Phật

Có người trụ Thanh văn

Lần dạy cho Phật đạo.

Ta ở số mười sáu

Từng vì các ngươi nói

Cho nên dùng phương tiện

Dẫn dắt đến huệ Phật

Do bổn nhơn duyên đó

Nay nói kinh Pháp Hoa

Khiến ngươi vào Phật Ðạo

Dè dặt chớ kinh sợ.

20. Thí như đường hiểm dữ

Xa vắng nhiều thú độc

Và lại không cỏ nước

Chốn mọi người ghê sợ.

Vô số nghìn muôn chúng

Muốn qua đường hiểm này

Ðường đó rất xa vời

Trải năm trăm do tuần.

Bấy giờ một đạo sư

Nhớ dai có trí tuệ

Sáng suốt lòng quyết định

Ðường hiểm cứu các nạn

Mọi người đều mệt mỏi

Mà bạch đạo sư rằng:

“Chúng con nay mỏi mệt

Nơi đây muốn trở về”

Đạo sư nghĩ thế này

Bọn này rất đáng thương

Làm sao muốn lui về

Cam mất trân bửu lớn?

Liền lại nghĩ phương tiện

Nên bày sức thần thông

Hóa làm thành quách lớn

Các nhà cửa trang nghiêm

Bốn về có vườn rừng

Sông ngòi có ao tắm

Cửa lớn lầu gác cao

Trai, gái đều đông vầy.

Hóa ra thành đó rồi

An ủi chúng: “Chớ sợ

Các ngươi vào thành này

Đều được vừa chỗ muốn”

Mọi người đã vào thành

Lòng đều rất vui mừng

Đều sanh tưởng an ổn

Tự nói đã được độ.

Đạo sư biết nghỉ xong

Nhóm chúng mà bảo rằng:

"Các ngươi nên đi nữa

Ðây là hóa thành thôi

Thấy các ngươi mỏi mệt

Giữa đường muốn lui về

Nên dùng sức phương tiện

Ta hóa làm thành này

Các ngươi gắng tinh tấn

Nên đồng đến chỗ báu

21. Ta cũng lại như vậy

Ðạo sư của tất cả

Thấy những người cầu đạo

Giữa đường mà lười bỏ

Không thể vượt đường dữ

Sanh tử đầy phiền não

Nên dùng sức phương tiện

Vì nghỉ nói Niết bàn.

Rằng các ngươi khổ diệt

Chỗ làm đều đã xong

Ðã biết đến Niết bàn

Ðều chứng A la hán

Giờ mới nhóm đại chúng

Vì nói pháp chơn thật

Sức phương tiện các Phật

Phân biệt nói ba thừa

Chỉ có một Phật thừa

Vì nghỉ nên nói hai (15)

Vì các ngươi nói thiệt

Các ngươi chưa phải diệt,

Vì nhứt thiết trí Phật

Nên phát tinh tấn mạnh

Ngươi chứng nhứt thiết trí

Mười lực các Phật Pháp

Ðủ băm hai tướng tốt

Mới là chơn thiệt diệt,

Các Phật là đạo sư

Vì nghỉ nói Niết bàn

Ðã biết ngơi nghỉ rồi

Dẫn vào nơi huệ Phật.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ BA

Một tiếng kín bày, thần thông giáo hóa thầm gia hộ, khắp rưới mưa pháp nhuần các mầm, quả báo nhà rộng lớn, chốn châu báu không xa, quyền biến hóa đồng hoa đốm hư không.

Nam Mô Pháp Hoa Hộ Thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

Ba căn khắp nhuần, đệ tử nhờ ơn, thành biến hóa dối bày chớ cho là chơn, lại xem nhơn duyên đức Trí Thắng, mười sáu vị Vương tôn, tám phương chứng thân vàng.

Nam Mô Đại Thông Trí Thắng Phật. (3 lần)

THÍCH NGHĨA

(1) Đây tức là “nhứt thiết trí“ trí của Phật, rõ thấu rành suốt ba đời mười phương tất cả pháp thế gian và xuất thế.

(2) Chỗ về đến, tức là cội nguồn.

(3) Lòng tưởng móng, suy nghĩ,mong cầu v.v...

(4) Một thái dương hệ là một tiểu thế giới, 1.000 tiểu thế giới là 1 "tiểu thiên thế giới, 1.000 tiểu thiên thế giới là 1 trung thiên thế giới, 1.000 trung thiên là đại thiên thế giới. Vậy đại thiên thế giới, là ba lần nhân ngàn (1TG x 1000 x 1000 x 1000) nên gọi là Tam thiên đại thiên thế giới, gồm có 1.000.000.000 thế giới, là số thế giới của cõi Ta bà thuộc quyền giáo hóa của Đức Thích Ca.

(5) LƯỠNG: Phước đức và trí tuệ 2 món. Túc đầy đủ.

(6) Thành trì do thần thông biến hóa ra, để dụ huyền giáo của Phật.

(7) Có 3 hạng do tuần: 1) 40 dặm Tàu, 2) 60 dặm, 3) 80 dặm.

(8) Đem thân mệnh về nương, là nghĩa của chữ "Nam Mô" tiếng Phạm.

(9) Cõi dục trên người có 6 cõi trời: 1. Trời Tứ Thiên Vương, 2. Trời Đao Lợi (Vua Đế thích hay Thích Hoàn Nhân). 3. Trời Dạ Ma, 4. Trời Đâu xuất, 5. Trời Hóa Lạc, 6. Trời Tha Hóa Tự Tại.

Trên cõi Dục có cõi Sắc, Cõi Sắc có 4 thiền (Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền), 18 cõi trời. Trong Sơ Thiền có 3 cõi: 1. Trời Phạm chúng. 2. Phạm phụ. 3. Phạm Vương, Phạm Thiên Vương là vua Trời Sơ Thiền, Đại Phạm Thiên Vương là vua trời Tứ Thiền.

(10) Có phước lành lớn nên cảm báo có cung điện tùy thân nhỏ lớn như ý.

(11) Theo nghi biểu của Phật, ai thưa thỉnh việc chi nếu nín thinh là đã chịu.

(12) Ba lần Tứ Đế thành 12

1. Đây là Khổ, đây là Tập, đây là Diệt, đây là Đạo.

2. Khổ nên biết, Tập nên dứt, Diệt nên chứng, đạo nên tu.

3. Khổ biết rồi, Tập dứt rồi, Diệt chứng rồi, Đạo tu rồi.

(13) 1. Thanh văn Niết bàn 2. Duyên giác Niết bàn.

(14) Một trăm triệu (100.000.000) gọi là "cai"

(15) Thanh văn thừa, Duyên giác thừa.

Các danh từ: vô lượng, vô biên, a tăng kỳ, vô số, na do tha, hằng hà sa, bất khả tư nghị, bất khả xưng, bất khả thuyết, v.v... đều là những số lớn trên số muôn ức.

SỰ TÍCH ĐỌC KINH THOÁT KHỔ (TRÍCH TRONG PHÁP UYỂN)

Đời Đường, ở Ung Châu, huyện Trường an có ông Cao Pháp Nhãn là cháu huyền tôn của ông Cao Tần, quan bộc xạ đời Tùy. Đến niên hiệu Long Sóc năm thứ ba, ngày 25 tháng giêng đến Trung đài dự thi, trưa cỡi ngựa về nhà. Nhà ông ở góc phía Nam phường Nghĩa Ninh, phía Đông chùa Hóa Độ. Giữa đường gặp bọn người cỡi ngựa rượt bắt, chạy về gần đến nhà té ngựa mê ngất rồi chết, mọi người tri hô, người nhà vội đến khiêng về đến sáng ngày sau mới sống lại. Ông Nhãn bảo người nhà rằng: "Ta bị quỉ bắt đến Địa ngục thấy vua Diêm La lên ngồi tòa cao, giận mắng ta rằng: Ngươi tại sao đến chùa Hóa Độ trong phòng Thầy Minh Tạng ăn trái của thường trụ Tăng? Nói xong bắt ta nuốt 400 hòn sắt nóng, đương lúc nuốt thời cổ họng nghẹn rút thân thể đỏ khô co lại biến làm màu đỏ, nuốt hết mới sống lại.

Ngày 26 là ngày ông ấy mới sống lại, lại bảo có bọn quỉ hiện đến bắt dẫn về cho vua Diêm Vương. Vua quở: "Tại sao ngươi không kính Tam bảo dám nói chuyện lỗi xấu của Tăng? Ngươi nuốt sắt xong sẽ bị cày lưỡi". Đến ngày 29 tháng đó sau khi nuốt sắt nóng xong sống lại qua đến ngày 30 sáng sớm lại chết đến Địa ngục chịu cày sắt cày lưỡi tự thấy lưỡi mình dài đến vài dặm, người ở bên xem thấy ông Nhãn le lưỡi ra hơn thước (thước Tàu). Vua lại bảo ngục tốt: "Người này nói việc hay dở của Tam bảo đem búa lớn lại chặt bỏ lưỡi nó". Ngục tốt chặt mãi không đứt. Vua bảo lấy búa thẻo nhỏ bỏ vào vạc nước sôi nấu, nấu mãi không rã. Vua lấy làm lạ hỏi thì ông Nhãn thưa: "Tôi từng đọc kinh Pháp Hoa một lượt". Vua không tin tra sổ công đức, thấy trong án có ghi: "Đọc một bộ kinh Pháp Hoa" Vua liền truyền thả cho về.

Ông Nhãn hiện còn, người đến thăm xem như đi chợ, người nghe thấy phát tâm tu hành rất đông. Cả nhà ông Nhãn từ đó rất mực kính tin Tam bảo, gắng chí tinh tấn tu hành, hằng răn nhắc nhau không hề nhàm mỏi.

Tam bảo là con thuyền từ báu đưa chúng sinh ra khỏi biển sinh tử khổ. Kính thời phước vô lượng. Khinh thời họa không nhỏ. Phật là đấng Chí Tôn, Pháp là thánh dược, Tăng là biểu hiệu của Phật và Pháp. Ông Nhãn khinh Tăng mà phải tội, lại nhờ đọc Pháp mà khỏi tai ương. Chỉ đọc có một bộ kinh Pháp Hoa mà lưỡi chặt không đứt, nấu không rã, làm đến nỗi Vua Diêm Vương phải kinh sợ mà mau đưa về. Huống là người đọc tụng 2 bộ, 3 bộ đến trăm nghìn bộ ư. Nếu người nào chí thành tụng niệm kinh Pháp Hoa thời công đức vô lượng vô biên. Tội nghiệp đều tiêu. Phước lành đầy đủ. Sau khi xả báo thân hiện tại, quyết chắc sẽ cảm thành thân vàng Kim Cang ở vị lai vậy.


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Tư

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ngũ Bá Ðệ Tử Thọ Ký” Thứ Tám

1. Lúc bấy giờ, Ngài Mãn Từ Tử từ nơi đức Phật nghe trí huệ phương tiện tùy cơ nghi nói pháp như thế, lại nghe thọ ký cho các vị đệ tử lớn sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lại nghe việc nhân duyên đời trước, lại nghe các đức Phật có sức tự tại thần thông lớn, được điều chưa từng có, lòng thanh tịnh hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng qua một bên chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt không tạm rời, mà nghĩ thế này:

“Thế Tôn rất riêng lạ, việc làm ít có, thuận theo bao nhiêu chủng tánh ở trong đời, dùng sức phương tiện tri kiến mà vì đó nói pháp, vớt chúng sinh ra khỏi chỗ tham trước, chúng con ở nơi công đức của Phật không thể dùng lời nói mà tuyên bày được, chỉ có đức Phật Thế Tôn hay biết bản nguyện trong thâm tâm của chúng con”.

2. Bấy giờ Phật bảo các Tỳ kheo: “Các ông thấy Mãn Từ Tử đây chăng? Ta thường khen ông là bậc nhất trong hàng người nói pháp, cũng thường khen các món công đức của ông, ròng rặc siêng năng hộ trì giúp tuyên bày pháp của ta, có thể chỉ dạy lợi mừng cho hàng bốn chúng (1) giải thích trọn vẹn chánh pháp của Phật, mà làm nhiều lợi ích cho những người cùng đồng hạnh thanh tịnh. Ngoài đức Như Lai, không ai có thể cùng tận chỗ biện bác ngôn luận của ông. Các ông chớ tưởng Mãn Từ Tử chỉ hay hộ trì trợ tuyên pháp của ta thôi, ông cũng đã ở nơi chín mươi ức đức Phật thuở quá khứ mà hộ trì trợ tuyên chánh pháp của Phật, ở trong nhóm người nói pháp thuở đó cũng là bậc nhất.

Ông lại ở pháp không của chư Phật nói, thông suốt rành rẽ, được bốn món trí vô ngại, thường hay suy gẫm chắc chắn nói pháp thanh tịnh không có nghi lầm đầy đủ sức thần thông của Bồ tát tùy số thọ mạng mà thường tu hạnh thanh tịnh.

Người đời thuở đức Phật kia đều gọi ông thực là Thanh văn. Nhưng ông Mãn Từ Tử dùng phương tiện đó làm lợi ích cho vô lượng trăm nghìn chúng sinh, lại giáo hóa vô lượng vô số người khiến đứng nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông vì muốn tịnh cõi Phật mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sinh.

Các Tỳ kheo! Ông Mãn Từ Tử cũng được bậc nhất ở trong hàng người nói pháp thuở bảy đức Phật, nay ở chỗ ta trong hàng người nói pháp cũng là bậc nhất.

Trong hàng người nói Pháp thuở các đức Phật trong Hiền kiếp về đương lai cũng lại là bậc nhất, mà đều hộ trì giúp tuyên bày pháp của Phật. Ông cũng sẽ ở trong đời vị lai hộ trì trợ tuyên chánh pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh khiến an lập nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì tịnh cõi Phật mà thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sinh, lần lần đầy đủ đạo Bồ tát.

Qua vô lượng vô số kiếp sau, ông sẽ ở nơi cõi này thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hiệu là: Pháp Minh Như Lai, Ứng cúng Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Ðức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật. Ðất bằng bảy thứ báu, thẳng bằng như bàn tay không có núi gò, khe suối, rạch ngòi. Nhà, đài bằng bảy thứ báu đầy dẫy trong đó, cung điện của các trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp nhau, hai bên đều thấy được nhau, không có đường dữ cũng không có người nữ.

Tất cả chúng sinh đều do biến hóa sinh, không có dâm dục, được pháp thần thông lớn, thân chói ánh sáng, bay đi tự tại, chí niệm bền chắc có đức tinh tấn trí huệ, tất cả đều thân sắc vàng đủ ba mươi hai tướng tốt để tự trang nghiêm.

Nhân dân nước đó thường dùng hai thức ăn: một là Pháp hỷ thực, hai là Thuyền duyệt thực (2). Có vô lượng vô số nghìn muôn ức na do tha các chúng Bồ tát được sức thần thông lớn, bốn trí vô ngại (3), khéo hay giáo hóa loài chúng sinh. Chúng Thanh văn trong nước đó tính kể số đếm đều không thể biết được, đều được đầy đủ ba món minh, sáu pháp thần thông và tám món giải thoát. (4)

Cõi nước của đức Phật đó có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên Bửu Minh, nước tên Thiện Tịnh. Phật đó sống lâu vô lượng vô số kiếp, pháp trụ đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, dựng tháp bằng bảy thứ báu khắp cả nước đó.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói bài kệ rằng:

3. Các Tỳ kheo lóng nghe

Ðạo của Phật tử làm

Vì khéo học phương tiện

Chẳng thể nghĩ bàn được

Biết chúng ưa pháp nhỏ

Mà sợ nơi trí lớn

Cho nên các Bồ tát

Làm Thanh văn Duyên giác

Dùng vô số phương tiện

Ðộ các loài chúng sinh,

Tự nói là Thanh văn

Cách Phật đạo rất xa

Ðộ thoát vô lượng chúng

Thảy đều được thành tựu

Dầu ưa nhỏ, biếng lười

Sẽ khiến lần thành Phật.

Trong ẩn hạnh Bồ tát

Ngoài hiện là Thanh văn

Ít muốn, nhàm sinh tử

Thực tự tịnh cõi Phật

Bày ba độc cho người (5)

Lại hiện tướng tà kiến,

Ðệ tử ta như vậy

Phương tiện độ chúng sinh

Nếu ta nói đủ cả

Các món việc hiện hóa

Chúng sinh nghe đó rồi

Thời lòng sinh nghi lầm.

4. Nay Phú Lâu Na đây

Ở xưa nghìn đức Phật

Siêng tu đạo mình làm

Tuyên hộ các Phật pháp

Vì cầu huệ Vô thượng

Mà ở chỗ chư Phật

Hiện ở trên đệ tử

Học rộng có trí huệ

Nói pháp không sợ sệt

Hay khiến chúng vui mừng

Chưa từng có mỏi mệt

Ðể giúp nên việc Phật.

Ðã được thần thông lớn

Ðủ bốn trí vô ngại

Biết các căn lợi độn

Thường nói pháp thanh tịnh

Diễn xướng nghĩa như thế

Ðể dạy nghìn ức chúng

Khiến trụ pháp Đại thừa

Mà tự tịnh cõi Phật.

Ðời sau cũng cúng dường

Vô lượng vô số Phật

Hộ trợ tuyên chánh pháp

Cũng tự tịnh cõi Phật

Thường dùng các phương tiện

Nói pháp không e sợ

Ðộ chúng không kể được

Ðều thành nhất thiết trí

Cúng dường các Như Lai

Hộ trì tạng pháp bảo,

Sau đó được thành Phật

Hiệu gọi là Pháp Minh

Nước đó tên Thiện Tịnh

Bảy thứ báu hợp thành

Kiếp tên là Bửu Minh

Chúng Bồ tát rất đông

Số nhiều vô lượng ức

Ðều được thần thông lớn

Sức uy đức đầy đủ

Khắp đầy cả nước đó,

Thanh văn cũng vô số

Ba minh tám giải thoát

Ðược bốn trí vô ngại

Dùng hạng này làm Tăng.

Chúng sinh trong cõi đó

Dâm dục đều đã dứt

Thuần một biến hóa sinh

Thân trang nghiêm đủ tướng

Pháp hỷ, thuyền duyệt thực

Không tưởng món ăn khác,

Không có hàng nữ nhân

Cũng không các đường dữ.

Phú Lâu Na Tỳ kheo

Khi công đức trọn đầy

Sẽ được Tịnh độ này

Chúng hiền thánh rất đông

Vô lượng việc như thế

Nay ta chỉ nói lược.

5. Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A la hán, bậc tâm tự tại, nghĩ như vầy: “Chúng ta vui mừng được điều chưa từng có, nếu đức Thế Tôn đều thọ ký cho như các đệ tử lớn khác thời sung sướng lắm”.

Ðức Phật biết tâm niệm của các vị đó nên nói với Ngài Ðại Ca Diếp: “Một nghìn hai trăm vị A la hán đó, nay ta sẽ hiện tiền thứ tự mà thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Trong chúng đó, đệ tử lớn của ta là Kiều Trần Như Tỳ kheo, sẽ cúng dường sáu muôn hai nghìn ức đức Phật, vậy sau được thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư Phật Thế Tôn.

Năm trăm vị A la hán: Ông Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, ông Dà Gia Ca Diếp, ông Na Đề Ca Diếp, ông Ca Lưu Ðà Di, ông Ưu Ðà Di, ông A Nâu Lâu Ðà, ông Ly bà Ða, ông Kiếp Tân Na, ông Bạc câu La, ông Châu Ðà Tá, ông Dà Ðà, v.v... đều sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đều đồng một hiệu là Phổ Minh.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Kiều trần Như Tỳ kheo

Sẽ gặp vô lượng Phật

Mới được thành Chánh giác

Thường phóng quang minh lớn

Ðầy đủ các thần thông

Danh đồn khắp mười phương

Tất cả đều tôn kính

Thường nói pháp Vô thượng

Nên hiệu là Phổ Minh

Cõi nước đó thanh tịnh

Bồ tát đều dũng mãnh

Ðều lên lầu gác đẹp

Dạo các nước mười phương

Ðem đồ cúng Vô thượng

Hiến dâng các đức Phật

Làm việc cúng đó xong

Sinh lòng rất vui mừng

Giây lát về bổn quốc

Có sức thần như thế.

Phật thọ sáu muôn kiếp

Chánh pháp trụ bội thọ

Tượng pháp lại hơn chánh

Pháp diệt trời người lo

7. Năm trăm Tỳ kheo kia

Thứ tự sẽ làm Phật

Ðồng hiệu là Phổ Minh

Theo thứ thọ ký nhau:

Sau khi ta diệt độ

Ông đó sẽ làm Phật

Thế gian của ông độ

Cũng như ta ngày nay

Cõi nước đó nghiêm sạch

Và các sức thần thông

Chúng Thanh văn Bồ tát

Chánh pháp cùng tượng pháp

Thọ mạng kiếp nhiều ít

Ðều như trên đã nói

Ca Diếp! Ông đã biết

Năm trăm vị tự tại

Các chúng Thanh văn khác

Cũng sẽ làm như thế

Vị nào vắng mặt đây

Ông nên vì tuyên nói.

8. Bấy giờ, năm trăm vị A la hán ở trước Phật được thọ ký xong, vui mừng hớn hở liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật ăn năn lỗi của mình mà tự trách: Thế Tôn, chúng con thường nghĩ như vầy, tự cho mình đã được rốt ráo diệt độ, nay mới biết đó là như người vô trí. Vì sao? Chúng con đáng được trí huệ của Như Lai mà bèn tự lấy trí nhỏ cho là đủ.

Thế Tôn! Thí như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó người bạn thân có việc quan phải đi, lấy châu báu vô giá cột trong áo của gã say, cho nó rồi đi. Gã đó say nằm đều không hay biết, sau khi dậy bèn dạo đi đến nước khác, vì việc ăn mặc mà phải gắng sức cầu tìm rất là khổ nhọc, nếu có được chút ít bèn cho là đủ.

Lúc sau người bạn thân gặp gỡ thấy gã bèn bảo rằng: “Lạ thay! Anh này sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này. Ta lúc trước muốn cho anh được an vui tha hồ thọ năm món dục, ở ngày tháng năm đó, đem châu báu vô giá cột vào trong áo anh nay vẫn còn đó mà anh không biết, lại đi nhọc nhằn sầu khổ để cầu tự nuôi sống thực là khờ lắm; nay anh nên đem ngọc báu đó đổi chác lấy đồ cần dùng thời thường được vừa ý không chỗ thiếu thốn.

Ðức Phật cũng lại như vậy, lúc làm Bồ tát giáo hóa chúng con, khiến phát lòng cầu nhất thiết trí, mà chúng con liền bỏ quên không hay không biết. Ðã được đạo A la hán tự nói là diệt độ, khổ nhọc nuôi sống được chút ít cho là đủ, tất cả trí nguyện vẫn còn chẳng mất. Ngày nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con mà nói rằng: “Các Tỳ kheo! Ðạo của các ông không phải rốt ráo diệt. Ta từ lâu đã khiến các ông gieo căn lành của Phật, dùng sức phương tiện chỉ tướng Niết bàn mà các ông cho là thực diệt độ”.

Thế Tôn! Chúng con nay mới biết mình thực là Bồ tát được thọ ký sẽ Thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.

Bấy giờ, ông A Nhã Kiều Trần Như muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

9. Chúng con nghe Vô thượng

Tiếng thọ ký an ổn

Vui mừng chưa từng có

Lạy Phật trí vô lượng.

Nay ở trước Thế Tôn

Tự hối các lỗi quấy

Trong Phật báu vô lượng

Ðược chút phần Niết bàn

Như người ngu vô trí

Bèn tự cho là đủ.

Thí như người nghèo cùng

Qua đến nhà thân hữu

Nhà đó rất giàu lớn

Bày đủ các tiệc ngon

Ðem châu báu vô giá

Cột dính trong vạt áo

Thầm cho rồi bỏ đi

Gã say nằm không hay

Sau khi gã đã dậy

Dạo đi đến nước khác

Cầu ăn mặc tự sống

Nuôi sống rất khốn khổ

Ðược ít cho là đủ

Chẳng lại muốn đồ tốt

Chẳng biết trong vạt áo

Có châu báu vô giá

Người thân hữu cho châu

Sau gặp gã nghèo này

Khổ thiết trách gã rồi

Chỉ cho châu trong áo.

Gã nghèo thấy châu đó

Lòng gã rất vui mừng

Giàu có các của cải

Tha hồ hưởng ngũ dục.

Chúng con cũng như vậy

Thế Tôn từ lâu xưa

Thường thường giáo hóa cho

Khiến gieo nguyện Vô thượng

Chúng con vì vô trí

Chẳng hay cũng chẳng biết

Ðược chút phần Niết bàn

Cho đủ chẳng cầu nữa.

Nay Phật giác ngộ con

Nói chẳng phải thực diệt.

Ðược Phật huệ Vô thượng

Ðó mới là thực diệt

Con nay từ Phật nghe

Thọ ký việc trang nghiêm

Cùng tuần tự thọ ký

Thân tâm khắp mừng vui.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thụ Học Vô Học Nhân Ký” Thứ Chín

1. Bấy giờ, Ngài A Nan và Ngài La Hầu La nghĩ như vầy: "Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm". Liền từ nơi chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có đức Như Lai, là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời người A tu la trong đời. A Nan thường làm vị thị giả hộ trì tạng pháp, La Hầu La là con của Phật, nếu Phật thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho, thời lòng nguyện cầu của con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ".

Lúc đó, hàng đệ tử Thanh văn, bậc học cùng vô học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu đến trước Phật chắp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn như chỗ nguyện cầu của A Nan và La Hầu La rồi đứng qua một phía.

2. Bấy giờ, đức Phật bảo A Nan: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn; ông sẽ cúng dường sáu mươi hai ức đức Phật, hộ trì tạng pháp vậy sau chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa các chúng Bồ tát vv... làm cho Thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Nước tên là Thường Lập Thắng Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất Lưu Ly, kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn. Ðức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ kiếp, nếu có người ở trong ngàn muôn ức vô lượng a tăng kỳ kiếp tính đếm số kể chẳng có thể biết được, chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội chánh pháp.

A Nan! Ðức Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng hà sa các đức Phật Như Lai ở mười phương đồng ngợi khen công đức của Ngài.

Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

3. Nay Ta nói trong Tăng

A Nan, người trì pháp

Sẽ cúng dường các Phật

Vậy sau thành Chánh giác

Hiệu rằng: Sơn Hải Huệ

Tự Tại Thông Vương Phật

Cõi nước kia thanh tịnh

Tên Thường Lập Thắng Phan

Giáo hóa các Bồ tát

Số đông như hằng sa

Phật có uy đức lớn

Tiếng đồn khắp mười phương

Vì bởi thương chúng sinh

Nên sống lâu vô lượng

Chánh pháp bội thọ mạng

Tượng pháp lại bội chính

Vô số hàng chúng sinh

Ðông như cát sông Hằng

Ở trong pháp Phật đó

Gieo nhân duyên Phật đạo.

4. Bấy giờ, trong hội hàng Bồ tát mới phát tâm, tám nghìn người, đều nghĩ thế này: "Chúng ta còn chưa nghe các vị Bồ tát lớn được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh văn được thọ ký như thế."

Lúc ấy, đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Bồ tát mà bảo rằng: "Các Thiện nam tử! Ta cùng bọn ông A Nan ở chỗ đức Phật Không Vương đồng thời phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A Nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà A Nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các đức Phật tương lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ tát. Bản nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy."

Ngài A Nan tận mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ, lòng rất vui mừng được đều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng pháp của vô lượng nghìn muôn ức các đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bản nguyện.

Khi đó, Ngài A Nan nói kệ rằng:

Thế Tôn rất ít có

Khiến con nhớ quá khứ

Vô lượng các Phật pháp

Như chỗ nghe ngày nay

Con nay không còn nghi

An trụ trong Phật đạo

Phương tiện làm thị giả

Hộ trì các Phật pháp.

5. Bấy giờ, Phật bảo ông La Hầu La: Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu: Ðạo Thất Bảo Hoa, Như Lai Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong mười phương thế giới. Thường vì các đức Phật mà làm trưởng tử, cũng như hiện nay.

Ðức Phật Ðạo Thất Bảo Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, chánh pháp và tượng pháp cũng đồng như đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây rồi sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lúc đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Lúc ta làm Thái tử

La Hầu làm trưởng tử.

Ta nay thành Phật đạo

Thọ pháp làm pháp tử.

Ở trong đời vị lai

Gặp vô lượng ức Phật

Làm trưởng tử cho kia

Một lòng cầu Phật đạo.

Hạnh kín của La Hầu

Chỉ ta biết được thôi

Hiện làm con cả ta

Ðể chỉ các chúng sinh

Vô lượng ức nghìn muôn

Công đức không thể đếm

An trụ trong Phật pháp

Ðể cầu đạo Vô thượng.

6. Bấy giờ, đức Thế Tôn thấy bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật, Phật bảo A Nan: "Ông thấy bực hữu học vô học hai nghìn người đây chăng?"

Vâng! Con đã thấy.

A Nan! Các người sẽ cúng dường các đức Như Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới, cung kính tôn trọng hộ trì pháp tạng. Rốt sau đồng thời ở cõi nước trong mười phương đều được thành Phật, đều đồng một hiệu là Bảo Tướng Như Lai Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn, sống lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm, Thanh văn, Bồ tát, chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau.

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Hai nghìn Thanh văn đây

Nay đứng ở trước ta

Thảy đều thọ ký cho

Ðời sau sẽ thành Phật

Cúng dường các đức Phật

Như số trần nói trên.

Hộ trì tạng pháp Phật

Sau sẽ thành Chánh giác

Ðều ở nơi mười phương

Thảy đồng một danh hiệu

Ðồng thời ngồi đạo tràng

Ðể chứng huệ Vô thượng

Ðều hiệu là Bửu Tướng

Cõi nước cùng đệ tử

Chánh pháp và tượng pháp

Thảy đều không có khác.

Ðều dùng các thần thông

Ðộ mười phương chúng sinh

Tiếng đồn vang khắp cùng

Lần nhập vào Niết bàn.

Lúc đó, bậc hữu học cùng vô học hai nghìn người nghe đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng:

Thế Tôn đèn huệ sáng

Con nghe tiếng thọ ký

Lòng vui mừng đầy đủ

Như được nước cam lộ.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Pháp sư” Thứ Mười

1. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nhân nói với Dược Vương Bồ tát để bảo tám muôn đại sĩ rằng: "Dược Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư thiên, Long Vương, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân cùng phi nhân, và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng cầu Thanh văn, hạng cầu Bích Chi Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bài kệ một câu nhẫn đến một niệm tùy hỷ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác."

Phật bảo Dược Vương: "Lại sau khi đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một câu một niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho.

Nếu lại có người thọ trì đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường, hoa, hương, chuỗi ngọc hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chắp tay cung kính. Dược Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sinh mà sinh vào nhân gian.

Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sinh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật. Vì sao? Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào ở nơi kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc chắp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như lai mà cúng đó. Phải biết người đó là Bồ tát lớn thành xong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thương xót chúng sinh mà nguyện sinh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống lại là người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường.

Dược Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh sau khi ta diệt độ vì thương chúng sinh mà sinh nơi đời ác, rộng nói kinh này. Nếu người thiện nam, người thiện nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người đó là sứ của Như Lai, đức Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói.

Dược Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng.

Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phang, y phục, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm hoa báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dâng cho đó.

Vì sao? Người đó hoan hỷ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Nếu muốn trụ Phật đạo

Thành tựu trí tự nhiên

Thường phải siêng cúng dường

Người thọ trì Pháp Hoa.

Có ai muốn mau được

Nhất thiết chủng trí huệ

Nên thọ trì kinh này

Và cúng dường người trì.

Nếu người hay thọ trì

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Nên biết là sứ Phật

Thương nhớ các chúng sinh

Những người hay thọ trì

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Xa bỏ cõi thanh tịnh

Thương chúng nên sinh đây

Phải biết người như thế

Chỗ muốn sinh tự tại

Ở nơi đời ác này

Rộng nói pháp Vô thượng,

Nên đem hoa, hương trời

Và y phục, báu trời

Ðống báu tốt trên trời

Cúng dường người nói pháp.

Ðời ác, sau Ta diệt

Người hay trì kinh này

Phải chắp tay lễ kính

Như cúng dường Thế Tôn,

Ðồ ngon ngọt bậc thượng

Và các món y phục

Cúng dường Phật tử đó

Mong được giây lát nghe.

Nếu người ở đời sau

Hay thọ trì kinh này

Ta khiến ở trong người

Làm việc của Như Lai.

Nếu ở trong một kiếp

Thường ôm lòng chẳng lành

Ðỏ mặt mà mắng Phật

Mắc vô lượng tội nặng

Có người đọc tụng trì

Kinh Diệu Pháp Hoa này

Giây lát dùng lời mắng

Tội đây còn hơn kia.

Có người cầu Phật đạo

Mà ở trong một kiếp

Chắp tay ở trước ta

Dùng vô số kệ khen

Do vì khen Phật vậy

Ðược vô lượng công đức.

Khen ngợi người trì kinh

Phước đây lại hơn kia.

Trong tám mươi ức kiếp

Dùng sắc thanh tối diệu

Và cùng hương, vị, xúc

Cúng dường người trì kinh

Cúng dường như thế rồi

Mà được chốc lát nghe

Thời nên tự mừng vui

Nay ta được lợi lớn

Dược Vương! Nay bảo ông

Các kinh của ta nói

Mà ở trong kinh đó

Pháp Hoa tột thứ nhất.

3. Lúc bấy giờ, Phật lại bảo Ngài Dược Vương Ðại Bồ tát: "Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp Hoa rất là khó tin khó hiểu.

Dược Vương kinh này là tạng bí yếu của các đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính kinh này khi Như Lai đương hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ.

Dược Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm đó, lại được các căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được đức Như Lai lấy tay xoa đầu.

4. Dược Vương! Nơi nơi, chỗ chỗ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để Xá lợi.

Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của đức Như Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, lọng lụa, tràng phan, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Nếu có người thấy được Tháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia làm đạo Bồ tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép thọ trì, cúng dường được kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ tát. Nếu có người được nghe kinh điển này, mới là hay khéo tu đạo Bồ tát. Có chúng sinh nào cầu Phật đạo hoặc thấy hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Dược Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia xoi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi lần đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần.

Bồ tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn xa. Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập kinh này, thời chắc biết được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Vì sao? Vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Bồ tát đều thuộc kinh này, kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thực. Tạng kinh Pháp Hoa này, xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ tát mà chỉ bày cho.

Dược Vương! Nếu có Bồ tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hàng tăng thượng mạn. (7)

5. Dược Vương! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, sau khi đức Như Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này.

Nhà Như Lai chính là tâm từ bi rộng lớn đối với trong tất cả chúng sinh, y Như Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như Lai chính là nhất thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp Hoa này.

Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác sai hàng hóa nhân làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, ta cũng sai hóa Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chỗ vắng vẻ, ta liền sai nhiều Trời, Rồng, quỉ, thần, Càn thát bà, A tu la v.v... nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân ta. Nếu ở trong kinh này quên mất câu lối, ta lại vì nói cho đó được đầy đủ.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Muốn bỏ tính biếng lười

Nên phải nghe kinh này

Kinh này khó được nghe

Người tin nhận cũng khó.

Như người khát cần nước

Xoi đào nơi gò cao

Vẫn thấy đất khô ráo

Biết cách nước còn xa

Lần thấy đất ướt bùn

Quyết chắc biết gần nước

Dược Vương! Ông nên biết

Các người như thế đó

Chẳng nghe kinh Pháp Hoa

Cách trí Phật rất xa,

Nếu nghe kinh sâu này

Quyết rõ pháp Thanh văn

Ðây là vua các kinh

Nghe xong suy gẫm kỹ

Phải biết rằng người đó

Gần nơi trí huệ Phật

Nếu người nói kinh này

Nên vào nhà Như Lai

Mà ngồi tòa Như Lai

Ở trong chúng không sợ

Rộng vì người giải nói,

Từ bi lớn làm nhà

Y nhu hòa nhẫn nhục

Các pháp không làm tòa

Ở đó vì người nói.

Nếu lúc nói kinh này

Có người lời ác mắng

Dao, gậy, ngói, đá đánh

Nhớ Phật nên phải nhịn

Ta trong muôn ức cõi

Hiện thân sạch bền chắc

Trải vô lượng ức kiếp

Vì chúng sinh nói Pháp.

Sau khi ta diệt độ

Nếu hay nói kinh này

Ta sai hóa tứ chúng

Tỳ kheo, Tỳ kheo ni

Và nam, nữ thanh tịnh

Cúng dường nơi Pháp sư

Dẫn dắt các chúng sinh

Nhóm đó khiến nghe pháp.

Nếu người muốn làm hại

Dao gậy cùng ngói đá

Thời khiến người biến hóa

Giữ gìn cho người đó

Nếu người nói Pháp Hoa

Ở riêng nơi vắng vẻ

Lặng lẽ không tiếng người

Ðọc tụng kinh điển này

Bấy giờ ta vì hiện

Thân thanh tịnh sáng suốt

Nếu quên mất chương cú

Vì nói khiến thông thuộc.

Nếu người đủ đức này

Hoặc vì bốn chúng nói

Chỗ vắng đọc tụng kinh

Ðều được thấy thân ta

Nếu người ở chỗ vắng

Ta sai Trời, Long Vương

Dạ xoa, quỉ, thần thảy

Vì làm chúng nghe pháp.

Người đó ưa nói pháp

Phân giải không trở ngại

Nhờ các Phật hộ niệm

Hay khiến đại chúng mừng

Nếu ai gần Pháp sư

Mau được đạo Bồ tát

Thuận theo Thầy đó học

Ðược thấy hằng sa Phật.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Hiện Bửu Tháp” Thứ Mười Một

Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau giồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rủ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly cấu chiên đàn khắp cùng cả cõi nước.

Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, chân châu và mai khôi hợp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ thiên vương, trời Ðao Lợi rưới hoa mạn đà la cúng dường tháp báu.

Các trời khác và Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhân, Phi nhân v.v... nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen.

Bấy giờ trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh giáo Bồ tát Pháp Phật sở Hộ niệm Diệu pháp Liên Hoa. Ðúng thế! Ðúng thế! Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! Như lời Phật nói đó, đều là chân thực."

2. Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra đều được pháp hỷ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay rồi đứng một bên.

Lúc đó, có vị đại Bồ tát tên Ðại Nhạo Thuyết biết lòng nghi của tất cả trời, người, A tu la, v.v... trong thế gian mà bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế?"

Lúc đó, Phật bảo Ngài Ðại Nhạo Thuyết Bồ tát: "Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương Đông có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Ða Bảo, đức Phật đó tu hành đạo Bồ tát phát lời thệ nguyện lớn rằng: "Nếu ta được thành Phật sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: "Hay thay!" Ðức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng trời, người bảo các Tỳ kheo rằng: "Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thời nên dựng một tháp lớn."

Ðức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: "Hay thay! Hay thay!"

Ðại Nhạo Thuyết! Nay tháp của Ða Bảo Như Lai vì nghe nói kinh Pháp Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: "Hay thay! Hay thay!"

3. Bấy giờ, Ngài Ðại Nhạo Thuyết Bồ tát do sức thần của đức Như Lai mà bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của đức Phật đó". Phật bảo Ngài Ðại Nhạo Thuyết Bồ tát Ma ha tát: Phật Ða Bảo đó có nguyện sâu nặng: "Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các đức Phật, có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của ta mới hiện ra".

Ðại Nhạo Thuyết! Các vị Phật của ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại". Ngài Ðại Nhạo Thuyết bạch Phật rằng: "Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường."

4. Bấy giờ, Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn mày, liền thấy năm trăm muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước ở phương Ðông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sinh mà nói pháp. Phương Nam, Tây, Bắc, bốn phía, trên dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế.

Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Ta nay phải qua thế giới Ta bà, chỗ của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Ða Bảo Như Lai."

5. Lúc bấy giờ, cõi Ta bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng bụi. Ðốt hương báu lớn, hoa mạn đà la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác.

Lúc đó các đức Phật đều đem theo một vị Bồ tát lớn để làm thị giả qua cõi Ta bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa sư tử cao năm do tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau giồi đó.

Khi ấy, các đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lượt đến khắp đầy cả cõi tam thiên đại thiên mà ở nơi thân của đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết.

Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh cùng A tu la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác.

Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư tử cao năm do tuần, dùng các thứ báu để trau giồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục chân lân đà, núi Thiết vi, núi Ðại Thiết vi, núi Tu di v.v... thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng thẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất.

Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh và A tu la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do tuần nhánh lá hoa trái thứ tự bằng báu cao năm do tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau giồi đó.

Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi: núi Mục chân lân đà, núi Ðại Mục chân lân đà, núi Thiết vi, núi Ðại Thiết vi, núi Tu di v.v..., thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng thẳng, các báu đương xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất.

Bấy giờ, ở phương Ðông, các đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước của đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến nhóm, mỗi mỗi phương các đức Như Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na do tha cõi nước.

6. Lúc đó, các đức Phật đều ngồi tòa sư tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả qua thăm viếng đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị giả rằng: Thiện nam tử! Ngươi qua đến núi Kỳ Xà Quật, chỗ của đức Thích Ca Mâu Ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này: "Như Lai có được ít bịnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ tát cùng Thanh văn đều an ổn chăng?" Rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: "Ðức Phật kia cũng muốn mở tháp báu này." Các đức Phật sai người đến cũng như vậy.

Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đến ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chắp tay một lòng nhìn Phật.

Khi ấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn.

Tức thời tất cả chúng trong hội đều thấy đức Ða Bửu Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền định lại nghe Phật đó nói: "Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó, ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này."

Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên đức Phật Ða Bửu và Phật Thích Ca Mâu Ni.

Lúc đó đức Ða Bửu Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói rằng: "Thích Ca Mâu Ni có thể đến ngồi trên tòa này." Tức thời đức Thích Ca Mâu Ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó.

Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai đức Như Lai xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thời đều nghĩ rằng: "Ðức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không".

Tức thời đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng: "Ai có thể ở trong cõi Ta bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người".

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

7. Ðấng Thánh Chúa Thế Tôn.

Dù diệt độ đã lâu

Ở trong tháp báu này

Còn vì pháp mà đến

Các ông lại thế nào

Há chẳng siêng vì pháp?

Phật Ða Bửu diệt độ

Ðã vô lượng số kiếp

Nơi nơi đến nghe pháp

Vì khó gặp được vậy.

Phật kia bổn nguyện rằng:

Sau khi ta diệt độ

Nơi nơi tháp ta qua

Thường vì nghe Pháp Hoa.

Lại vô lượng các Phật

Số nhiều như hằng sa

Của ta phân thân ra

Vì muốn đến nghe pháp

Và cùng để ra mắt

Phật diệt độ Ða Bửu.

Nên đều bỏ cõi đẹp

Cùng với chúng đệ tử

Trời, người, rồng thần thảy

Và các việc cúng dường

Muốn pháp lâu ở đời

Cho nên đến cõi này.

Ta vì các Phật ngồi

Dùng sức thần thông lớn

Dời vô lượng trời người

Làm cho nước thanh tịnh.

Các đức Phật mỗi mỗi

Ðều đến dưới cây báu

Như hoa sen trang nghiêm

Nơi ao báu trong sạch

Dưới mỗi cây báu đó

Có tòa báu sư tử (8)

Phật xếp bằng ngồi trên

Sáng suốt rất đẹp đẽ

Như giữa đêm tối tăm

Ðốt đuốc lớn lửa sáng.

Thân Phật thoảng hương thơm

Bay khắp mười phương cõi

Chúng sinh được hương xông

Vui mừng không kể xiết

Thí như luồng gió lớn

Thổi lay nhánh cây nhỏ

Dùng cách phương tiện đó

Làm cho Pháp ở lâu.

8. Nói cùng hàng đại chúng

Sau khi ta diệt độ

Ai có thể hộ trì

Ðọc nói kinh Pháp này

Thời nay ở trước Phật

Nên tự phát lời thệ.

Coi Phật Ða Bửu kia

Dầu đã diệt từ lâu

Do bản thệ nguyện rộng

Mà còn rền tiếng lớn.

Ðức Ða Bửu Như Lai

Và cùng với thân ta

Nhóm họp các hóa Phật

Phải nên biết ý này.

Các hàng Phật tử thảy

Ai có thể hộ pháp

Nay nên phát nguyện lớn

Khiến pháp ở đời lâu

Có ai hay hộ được

Kinh Diệu Pháp Hoa này

Thời là đã cúng dường

Thích Ca cùng Ða Bửu.

Ðức Ða Bửu Phật đây

Ở trong tháp báu lớn

Thường dạo qua mười phương

Vì để nghe kinh này.

Cũng là để cúng dường

Các hóa Phật đến nhóm

Trang nghiêm rất sáng đẹp

Các thế giới vô lượng.

Nếu người nói kinh này

Thời là đã thấy ta

Cùng Ða Bửu Như Lai

Và các vị hóa Phật.

9. Các thiện nam tử này

Ðều nên suy nghĩ kỹ

Ðây là việc rất khó

Phải phát nguyện rộng lớn

Bao nhiêu kinh điển khác

Số nhiều như hằng sa

Dầu nói hết kinh đó

Cũng chưa đủ làm khó,

Hoặc đem núi Diệu Cao

Ném để ở phương khác

Cách vô số cõi Phật

Cũng chưa lấy làm khó.

Nếu người dùng ngón chân

Ðộng cõi nước Ðại thiên

Ném xa qua cõi khác

Cũng chưa lấy làm khó,

Hoặc đứng trên hữu đảnh

Nói vô lượng kinh khác

Vì để dạy bảo người

Cũng chưa lấy làm khó.

Nếu sau lúc Phật diệt

Người ở trong đời ác

Có thể nói kinh này

Ðây thời rất là khó,

Giả sử lại có người

Dùng tay nắm hư không

Ðể mà khắp dạo đi

Cũng chưa lấy làm khó.

Sau khi ta diệt độ

Nếu người tự thơ trì (9)

Hoặc bảo người thơ trì

Ðây thời là rất khó,

Hoặc đem cả cõi đất

Ðể trên móng ngón chân

Bay lên đến Phạm thiên

Cũng chưa lấy làm khó,

Sau khi Phật diệt độ

Người ở trong đời ác

Tạm đọc kinh pháp này

Ðây thời mới là khó.

Giả sử gặp kiếp thiêu (10)

Gánh mang những cỏ khô

Vào lửa không bị cháy

Cũng chưa lấy làm khó,

Sau khi ta diệt độ

Nếu người trì kinh này

Vì một người mà nói

Ðây thời mới là khó

Hoặc người trì tám muôn

Bốn nghìn các tạng pháp

Ðủ mười hai bộ kinh

Vì người mà diễn nói

Khiến các người nghe pháp

Ðều được sáu thần thông

Dù được như thế đó

Cũng chưa lấy làm khó

Sau khi ta diệt độ

Nghe lãnh kinh điển này

Hỏi nghĩa thú trong kinh

Ðây thời mới là khó.

Hoặc có người nói pháp

Làm cho nghìn muôn ức

Ðến vô lượng vô số

Hằng hà sa chúng sinh

Chứng được A la hán

Ðủ sáu phép thần thông

Dầu có lợi ích đó

Cũng chưa phải là khó,

Sau khi ta diệt độ

Nếu người hay phụng trì

Những kinh điển như đây

Ðây thời là rất khó.

10. Ta vì hộ Phật đạo

Ở trong vô lượng cõi

Từ thuở trước đến nay

Rộng nói nhiều các kinh

Mà ở trong kinh đó

Kinh này là bậc nhất

Nếu có người trì được

Thời là trì thân Phật,

Các Thiện nam tử này

Sau khi ta diệt độ

Ai có thể thọ trì

Và đọc tụng kinh này

Thời nay ở trước Phật

Nên tự nói lời thệ.

Kinh pháp đây khó trì

Nếu người tạm trì đó

Thời ta rất vui mừng

Các đức Phật cũng thế

Người nào được như vậy

Các đức Phật thường khen

Ðó là rất dũng mãnh

Ðó là rất tinh tấn

Gọi là người trì giới

Bậc tu hạnh Ðầu đà (11)

Thời chắc sẽ mau được

Quả Vô thượng Phật đạo.

Có thể ở đời sau

Ðọc trì kinh pháp này

Là chân thực Phật tử

Trụ ở bậc thuần thiện,

Sau khi Phật diệt độ

Có thể hiểu nghĩa này

Thời là mắt sáng suốt

Của trời người trong đời

Ở trong đời kinh sợ

Hay nói trong chốc lát

Tất cả hàng trời người

Ðều nên cúng dường đó.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ðề Bà Ðạt Ða” Thứ Mười Hai

1. Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các vị Bồ tát và hàng trời, người, bốn chúng: "Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ đề, lòng không thối chuyển. Vì muốn đầy đủ sáu pháp Ba la mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng.

Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho Thái tử. Ðánh trống rao lệnh cầu pháp khắp bốn phương: "Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, thời ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ."

Khi ấy có vị tiên nhân đến thưa cùng vua rằng: "Ta có pháp Đại thừa tên là kinh "Diệu Pháp Liên Hoa", nếu đại vương không trái ý ta, ta sẽ vì đại vương mà tuyên nói."

Vua nghe lời vị tiên nhân nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị tiên nhân để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị tiên nhân trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhân không thiếu thốn.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Ta nhớ kiếp quá khứ

Vì cầu pháp Đại thừa

Dầu làm vị quốc vương

Chẳng ham vui ngũ dục

Ðánh chuông rao bốn phương

Ai có pháp Đại thừa

Nếu vì ta giải nói

Thân sẽ làm tôi tớ.

Giờ có tiên Trường thọ

Ðến thưa cùng Ðại vương

Ta có pháp nhiệm mầu

Trong đời ít có được

Nếu có thể tu hành

Ta sẽ vì ông nói.

Khi vua nghe tiên nói

Sinh lòng rất vui đẹp

Liền đi theo tiên nhân

Cung cấp đồ cần dùng

Lượm củi và rau trái

Theo lời cung kính dâng

Lòng ham pháp Đại thừa

Thân tâm không lười mỏi,

Khắp vì các chúng sinh

Siêng cầu pháp mầu lớn

Cũng không vì thân mình

Cùng với vui ngũ dục

Nên dầu làm vua lớn

Siêng cầu được pháp này

Do đó được thành Phật

Nay vẫn vì ông nói.

3. Phật bảo các Tỳ kheo rằng: "Thuở ấy, vua đó thời chính thân ta, còn tiên nhân đó nay chính là ông Ðề Bà Ðạt Ða. Do nhờ ông thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða làm cho ta đầy đủ sáu pháp Ba la mật, từ bi hỷ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô sở úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc đẳng Chánh giác rộng độ chúng sinh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða cả.

4. Phật bảo hàng tứ chúng: "Qua vô lượng kiếp về sau, ông Ðề Bà Ðạt Ða sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sinh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sinh được quả A la hán, vô lượng chúng sinh phát tâm Duyên giác, hằng hà sa chúng sinh phát tâm Vô thượng đạo, được vô sinh nhẫn đến bậc bất thối chuyển.

Sau khi đức Thiên Vương Phật nhập Niết bàn, chánh pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân Xá lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần. Các hàng trời nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc, ca tụng để lễ lạy cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sinh được quả A la hán, vô lượng chúng sinh ngộ Bích Chi Phật, bất khả tư nghì chúng sinh phát tâm Bồ đề đến bậc bất thối chuyển".

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo: "Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nghe kinh Diệu Pháp Liên hoa phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, sinh lòng trong sạch kính tin chẳng sinh nghi lầm, thời chẳng đọa Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh, được sinh ở trước các đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sinh ra thường được nghe kinh này. Nếu sinh vào cõi nhân thiên thời hưởng sự vui thù thắng vi diệu, nếu sinh ở trước Phật thờì từ hoa sen hóa sinh".

5. Bấy giờ, ở hạ phương vị Bồ tát theo hầu đức Ða Bửu Như Lai tên là Trí Tích bạch với đức Ða Bửu Phật nên trở về bổn quốc. Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Trí Tích rằng: "Thiện nam tử! Chờ giây lát, cõi đây có Bồ tát tên Văn Thù Sư Lợi có thể cùng ra mắt nhau luận nói pháp mầu rồi sẽ về bổn độ".

Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta Kiệt La trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía.

Ngài Trí Tích Bồ tát hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: "Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sinh số được bao nhiêu?"

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: "Số đó vô lượng không thể tính kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết".

Ngài Văn Thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ tát này đều là của Ngài Văn Thù Sư Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ tát đều chung luận nói sáu pháp Ba la mật. Những vị mà trước kia là Thanh văn ở giữa hư không nói hạnh Thanh văn nay đều tu hành "nghĩa không" của Đại thừa.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với Ngài Trí Tích rằng: "Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế".

Lúc ấy, Ngài Trí Tích Bồ tát nói kệ khen rằng:

Ðại trí đức mạnh mẽ

Hóa độ vô lượng chúng

Nay trong hội lớn này

Và tôi đều đã thấy

Diễn nói nghĩa thực tướng

Mở bày pháp nhất thừa

Rộng độ các chúng sinh

Khiến mau thành Bồ Ðề.

6. Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: "Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa".

Ngài Trí Tích hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: "kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có, vậy có chúng sinh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: có con gái của vua rồng Ta Kiệt La mới tám tuổi mà căn tính lanh lẹ, có trí huệ, khéo biết các căn tính hành nghiệp của chúng sinh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát na phát tâm Bồ Ðề được bậc bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sinh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ Ðề".

Trí Tích Bồ tát nói rằng: "Tôi thấy đức Thích Ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ Ðề chưa từng có lúc thôi dứt: tôi xem trong cõi tam thiên đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải, mà không phải là chỗ của Bồ tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sinh, vậy sau mới được Thành đạo Bồ Ðề, chẳng tin Long nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc Chánh giác".

Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long Vương bỗng hiện ra nơi trước, đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng:

Thấu rõ tướng tội phước

Khắp soi cả mười phương

Pháp thân tịnh vi diệu

Ðủ ba mươi hai tướng

Dùng tám mươi món tốt

Ðể trang nghiêm pháp thân

Trời, người đều kính ngưỡng

Long thần thảy cung kính

Tất cả loài chúng sinh

Không ai chẳng tôn phụng

Lại nghe thành Bồ đề

Chỉ Phật nên chứng biết

Tôi nói pháp Đại thừa

Ðộ thoát khổ chúng sinh.

7. Bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất nói với Long nữ rằng: "Người nói không bao lâu chứng được đạo Vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành Vô thượng Chánh giác? Ðạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: một, chẳng được làm Phạm Thiên Vương; hai, chẳng được làm Ðế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển luân Thánh vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?"

Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên đem dâng lên đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ tát cùng Tôn giả Xá Lợi Phất rằng: "Tôi hiến châu báu, đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?".

Ðáp: "Rất mau".

Long nữ nói: "Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó".

Ðang lúc đó cả chúng hội đều thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô Cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc Ðẳng Chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sinh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu.

Khi ấy trong cõi Ta bà hàng Bồ tát, Thanh văn, Trời, Rồng, Bát bộ, nhân cùng phi nhân đều xa thấy Long nữ kia thành Phật khắp vì hàng nhân thiên trong hội đó mà nói pháp, sinh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sinh nghe pháp tỏ ngộ được bậc Bất thối chuyển, vô lượng chúng sinh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô Cấu sáu điệu vang động, cõi Ta bà ba nghìn chúng sinh phát lòng Bồ đề mà được lãnh lời thọ ký.

Trí Tích Bồ tát và Ngài Xá Lợi Phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Trì” Thứ Mười Ba

1. Lúc bấy giờ, Ngài Dược Vương đại Bồ tát và Ngài Ðại Nhạo Thuyết Bồ tát Ma ha tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng: "Cúi mong đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này, đời ác sau, chúng sinh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn tham lợi dưỡng cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thọ trì giải nói biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng".

2. Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A la hán đã được thọ ký đồng bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này".

Lại có bậc học và vô học tám nghìn người đã được thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng: "Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này. Vì sao! Vì người trong nước Ta bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, dua vạy tâm không chân thật".

3. Khi đó, dì của Phật là Ðại Ái Ðạo Tỳ kheo ni cùng chung với bậc "học" và "vô học" Tỳ kheo ni sáu nghìn người đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt chẳng tạm rời.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Kiều Ðàm Di: "Cớ chi có sắc buồn mà nhìn Như Lai, tâm ngươi toan không cho rằng ta chẳng nói đến tên ngươi, để thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư?

Kiều Ðàm Di! Ta trước tổng nói tất cả Thanh văn đều đã được thọ ký đó, đời tương lai sau ngươi sẽ ở trong Pháp Hội của sáu muôn tám nghìn ức đức Phật làm vị đại Pháp sư và sáu nghìn vị "học" "vô học" Tỳ kheo ni đều làm Pháp sư. Ngươi lần lần đủ đạo hạnh Bồ tát như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhất thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện Thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn.

Kiều Ðàm Di! Đức Nhất thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ tát tuần tự thọ ký được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là bà Gia Du Ðà La Tỳ kheo ni nghĩ rằng: "Thế Tôn ở nơi trong hội thọ ký riêng chẳng nói đến tên tôi".

Phật bảo bà Gia Du Ðà La: "Ngươi ở đời sau trong pháp hội của trăm nghìn muôn ức đức Phật, tu hạnh Bồ tát, làm vị đại Pháp sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện Quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp.

Lúc đó bà Ðại Ái Ðạo Tỳ kheo ni và bà Gia Du Ðà La Tỳ kheo ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:

Ðấng Thế Tôn Ðạo Sư

Làm an ổn trời người

Chúng con nghe thọ ký

Lòng an vui đầy đủ.

Các vị Tỳ kheo ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: "Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này".

4. Bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn tám mươi muôn ức na do tha vị đại Bồ tát, các vị Bồ tát đó đều là bậc bất thối chuyển, chuyển pháp luân bất thối được các pháp tổng trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chắp tay mà nghĩ rằng: "Nếu đức Thế Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như lời Phật dạy rộng tuyên nói pháp này".

Các vị đó lại nghĩ: Nay đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?"

Lúc đó, các vị Bồ tát kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bổn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng: "Thế Tôn, sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sinh biên chép kinh này thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa đó, nghĩ nhớ chân chính, đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức uy thần của Phật. Cúi mong đức Thế Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho".

Tức thời các vị Bồ tát đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:

5. Cúi mong Phật chớ lo

Sau khi Phật diệt độ

Trong đời ác ghê sợ

Chúng con sẽ rộng nói.

Có những người vô trí

Lời ác mắng rủa thảy

Và dao gậy đánh đập

Chúng con đều phải nhẫn.

Tỳ kheo trong đời ác

Trí tà lòng dua vạy

Chưa được nói đã được

Lòng ngã mạn dẫy đầy,

Hoặc người mặc áo nạp

Lặng lẽ ở chỗ vắng

Tự nói tu chân đạo

Khinh rẻ trong nhân gian

Vì ham ưa danh lợi

Nói pháp cho bạch y

Ðược người đời cung kính

Như lục thông La Hán

Người đó ôm lòng ác

Thường nghĩ việc thế tục

Giả danh "A luyện nhã"

Ưa nói lỗi chúng con

Mà nói như thế này

Các bọn Tỳ kheo này

Vì lòng tham lợi dưỡng

Nói luận nghĩa ngoại đạo

Tự làm kinh điển đó

Dối lầm người trong đời

Vì muốn cầu danh tiếng

Mà giải nói kinh đó

Thường ở trong đại chúng

Vì muốn phá chúng con

Ðến Quốc vương, quan lớn

Bà la môn, Cư sĩ

Và chúng Tỳ kheo khác

Chê bai nói xấu con

Ðó là người tà kiến

Nói luận nghĩa ngoại đạo

Chúng con vì kính Phật

Ðều nhẫn các ác đó

Bị người đó khinh rằng

Các người đều là Phật

Lời khinh mạn dường ấy

Ðều sẽ nhẫn thọ đó.

Trong đời ác kiếp trược

Nhiều các sự sợ sệt

Quỉ dữ nhập thân kia

Mắng rủa hủy nhục con

Chúng con kính tin Phật

Sẽ mặc giáp nhẫn nhục

Vì để nói kinh này

Nên nhẫn các việc khó,

Con chẳng mến thân mạng

Chỉ tiếc đạo Vô thượng.

Chúng con ở đời sau

Hộ trì lời Phật dặn

Thế Tôn tự nên biết

Tỳ kheo ác đời trược

Chẳng biết Phật phương tiện

Tùy cơ nghi nói pháp

Chau mày nói lời ác

Luôn luôn bị xua đuổi

Xa rời nơi chùa tháp

Các điều ác như thế

Nhớ lời Phật dặn bảo

Ðều sẽ nhẫn việc đó

Các thành ấp xóm làng

Kia có người cầu pháp

Con đều đến chỗ đó

Nói pháp của Phật dặn.

Con là sứ của Phật

Ở trong chúng không sợ

Con sẽ khéo nói pháp

Xin Phật an lòng ở

Con ở trước Thế Tôn

Mười phương Phật đến nhóm

Phát lời thệ như thế

Phật tự rõ lòng con.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ TƯ

Ôm châu đi làm thuê mướn, được chút ít cho là đủ. Nơi Cao nguyên đào giếng, chí cầu suối sâu. Tháp báu vọt lên giáo hóa tròn khắp. Nhân cùng quả đồng nói. Pháp mầu ý khẩn cầu.

Nam mô Pháp Hoa Hội thượng Phật Bồ tát. (3 lần)

Năm trăm đệ tử thọ ký chứng quả Phật Ða Bửu vọt ra trước, Ngài Nhạo Thuyết hỏi căn nguyên. Vì pháp cầu Thầy hiền, nghe diễn kinh Diệu Liên.

Nam mô Quá khứ Ða Bửu Phật. (3 lần)

THÍCH NGHĨA

(1) 1. Tỳ kheo, 2. Tỳ kheo ni, 3. Ưu bà tắc, 4. Ưu bà di.

(2) Lãnh hội pháp mầu, lòng vui mừng, thân khoan khoái gọi là "pháp hỷ thực". Trụ trong thiền định, tâm an, thân khoẻ gọi là "Thuyền duyệt thực".

(3) 1. Pháp vô ngại (có trí nói pháp suốt thông). 2. Từ vô ngại (lời tiếng đầy đủ không trệ). 3. Nghĩa vô ngại (nghĩa ý thấu đáo) 4. Nhạo thuyết vô ngại (thường ưa thích nói pháp).

(4) 1. Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát 2. Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát 3. Tịnh bội xả thân tác chứng giải thoát 4. Hư không xứ giải thoát 5. Thức vô biên xứ giải thoát 6. Vô sở hữu xứ giải thoát 7. Phi hữu tưởng phi vô tưởng giải thoát 8. Diệt thụ tưởng giải thoát.

(5) Tham, sân, si.

(6) Sau khi Phật diệt độ, thời kỳ đầu giáo pháp cùng người tu, chứng quả v.v., cũng như khi Phật còn tại thế thời gọi là "thời kỳ chánh pháp". Lần lần người tu và chứng quả không được như trước thời gọi là "thời kỳ tượng pháp" (tương tự).

(7) Ðược ít mà lầm tự cho là được nhiều, chứng bậc thấp mà lầm cho là chứng bậc cao.

(8) Sư tử làm chúa loài muông thú, ở trong hàng thú tự tại vô úy. Tòa Sư tử chính là lấy nghĩa tự tại vô úy đó.

(9) Biên chép và thọ trì.

(10) Một đại kiếp có 4 kỳ trung kiếp; 1. Trung kiếp thành. 2. Trung kiếp trụ 3. Trung kiếp hoại 4. Trung kiếp không Thành là kết cấu hiện thành thế giới. Trụ là thời kỳ toàn vẹn thế giới hữu tình đều đầy đủ như hiện nay đây vậy. Hoại là hư rã, thế giới hư rã do 3 nguyên nhân: A Lửa, B Nước, C Gió. Trong đây kiếp thiêu chính là thời kỳ lửa cháy tan thế giới. Tan hết là không.

(11) Tiếng Phạn, nghĩa là giũ sạch bụi nhơ (đầu tẩu) có 12 hạnh: 1. Mặc phấn tảo y. 2. Chỉ ba y không được dư 3. Thường khất thực 4. Ngày một bữa ăn chính 5. Ngày một lần ngồi ăn. 6. Ăn có tiết lượng. 7. Ở chỗ vắng vẻ 8. Ngồi trong gò mã 9. Ngồi dưới bóng cây 10. Ngồi chỗ trống 11. Tùy hạp ngồi 12. Ngồi luôn không nằm.

Sự tích TỤNG ÐỀ KINH MÌNH VÀ NGƯỜI ÐỀU THOÁT KHỔ

Quận Phùng Dược, ông Lý sơn Long làm chức Tả giám môn Hiệu úy trong niên hiệu Võ Ðức bạo chết, mà trên ngực khoảng bằng bàn tay không lạnh, người nhà chưa nỡ tẩn liệm. Ðến ngày thứ bảy ông sống lại thuật rằng: "Ðang lúc chết bị người bắt dẫn đến một dinh quan rất hùng tráng rộng lớn. Trong sân có bọn tù vài nghìn người, hoặc mang gông, hoặc xiềng xích đều đứng xây mặt về hướng Bắc, chật cả sân.

Quân hầu dắt Sơn Long đến dưới dinh. Có một vị Thiên Quan ngồi giường cao kẻ hầu hạ nghi vệ như hàng vua chúa. Sơn Long hỏi quân hầu: "Quan nào đó?" Quân hầu đáp: "Vua đấy". Sơn Long đến dưới thềm Vua hỏi: "Người thuở sanh bình làm phước nghiệp gì?" Sơn Long thưa: "Tôi tụng thuộc kinh Pháp Hoa hai quyển" Vua nói: "Rất hay! Ðược lên thềm". Ông Long đã lên trên nhà thấy phía Ðông Bắc có một tòa cao giống như tòa diễn giảng. Vua chỉ tòa nói với Sơn Long rằng: "Nên lên tòa này tụng kinh". Sơn Long vâng lệnh đến bên tòa. Vua liền đứng dậy nói: "Thỉnh Ngài Pháp sư lên tòa". Sơn Long lên tòa xong. Vua liền xoay về phía tòa mà ngồi. Sơn Long khai kinh tụng rằng: "Diệu Pháp Liên Hoa kinh, tự phẩm đệ nhứt". Vua nói "Thỉnh Pháp sư thôi" Sơn Long liền thôi xuống tòa lại đứng dưới thềm đoái xem trong sân, bọn tù nhân vừa rồi không còn một người. Vua bảo Sơn Long rằng: "Phước đức tụng kinh của ông chẳng những là tự lợi, nhẫn đến làm cho bọn tù trong sân nhân nghe đề kinh Pháp Hoa mà đều được thoát khổ, há chẳng hay lắm thay! Nay tha ngươi trở về".

Sơn Long lạy từ. Ði được vài mươi bước, vua kêu trở lại rồi bảo quân hầu: "Nên dắt người này đi xem các ngục".

Quân hầu liền dắt Sơn Long đi qua phía Ðông hơn trăm bước thấy một thành bằng sắt rất rộng lớn, trên có mái trùm kín". Quanh thành cỏ nhiều lỗ nhỏ, thấy các nam nữ từ dưới đất bay vào trong lỗ liền chẳng trở ra. Sơn Long lấy làm lạ hỏi quân hầu. Ðáp: "Ðây là đại Địa ngục, trong đó nhiều lớp phân cách theo tội riêng khác. Các người đó đều theo nghiệp dữ của mình đã tạo. Vào ngục chịu khổ". Sơn Long nghe xong buồn sợ xưng "Nam mô Phật" xin quân hầu dắt ra. Ðến cửa viện thấy một vạc lớn lửa mạnh nước sôi,, bên vạc có hai người ngồi ngủ. Sơn Long hỏi đó. Hai người đáp: "Tôi bị tội báo vào vạc nước sôi này. Nhờ Hiền giả xưng Nam mô Phật cho nên các người tội trong ngục đều được một ngày nghỉ mệt nên chúng tôi ngủ". Sơn Long lại xưng "Nam mô Phật".

Quân hầu đưa Sơn Long về nhà, thấy hàng thân thuộc đương khóc, sắm sửa những đồ tẩn liệm. Sơn Long vào đến bên thây thời liền sống lại.

Chuyện trên đây là chính ông Lý Sơn Long nói với chủ chùa Tổng Trì. Chủ chùa thuật lại với tôi.

(Rút trong bộ "Minh báo ký")

"Nhiệm mầu thay kinh Pháp Hoa! Người tụng trì được công đức, ngoài Phật ra không ai có thể nghĩ lường được. Ðọa Địa ngục, vì tội nghiệp nặng, lên tòa vừa khai tụng đề kinh mà cả mấy ngàn tù nhân dưới sân đều thoát khổ. Thoát khổ là bởi tội nghiệp tiêu. Tội nghiệp nặng mà tức khắc tiêu tan, nếu không phải công đức rộng lớn quyết không thể được nghe đề kinh Pháp Hoa mà công đức còn lớn dường ấy, huống là người trì tụng đề kinh, huống là người trì tụng một phẩm, một quyển đến toàn bộ, nhẫn đến người giải nói, biên chép ấn tống. Ông Sơn Long được thoát ngục, được vua trọng, được quân hầu kính, phải chăng là do uy lực của kinh Pháp Hoa. Ta đối với kinh Pháp Hoa, thật nên chí thành đảnh lễ, thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, ấn tống, nếu ta có chí tự thoát khổ và thoát khổ cho người.


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Năm

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “An Lạc Hạnh” Thứ Mười Bốn

1. Lúc bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Ðại Bồ tát bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Các vị Bồ tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn: ở nơi đời ác sau, hộ trì đọc nói kinh Pháp Hoa này".

Thế Tôn! Các vị đại Bồ tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?".

Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: "Nếu vị Bồ tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an trụ trong bốn pháp:

2. Một, an trụ nơi "hành xứ" và nơi "thân cận xứ" của Bồ tát, thời có thể vì chúng sinh mà diễn nói kinh này. Văn Thù Sư Lợi! Thế nào gọi là chỗ "Hành xứ" của đại Bồ tát? Nếu vị đại Bồ tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu khéo thuận mà không vụt chạc lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tướng như thực của các pháp (1) cũng chẳng vịn theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ "hành xứ" của Bồ tát.

Thế nào gọi là chỗ "thân cận" của đại Bồ tát? Vị đại Bồ tát chẳng gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, chẳng gần gũi các ngoại đạo phạm chí, ni kiền tử (2), v.v... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại đạo cùng với phái "lộ già da đà" phái "nghịch lộ già da đà" (3), cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung hiểm đâm nhau, đánh nhau, và bọn na la (4) v.v... bày các cuộc chơi biến hiện.

Lại chẳng gần gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời Bồ tát vì nói pháp không có lòng mong cầu.

Lại chẳng gần gũi những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng người cầu quả Thanh văn, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh hành, hoặc ở trong giảng đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ tát theo cơ nghi nói pháp không lòng mong cầu.

Văn Thù Sư Lợi! Lại vị đại Bồ tát chẳng nên ở nơi thân người nữ có niệm tưởng rằng hay sanh dục nhiễm mà vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa, v.v... chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất nam (5) để làm thân hậu.

Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân duyên cần riêng mình vào thời chuyên một lòng niệm Phật.

Nếu vì người nữ nói pháp thời chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân hậu, huống lại là việc khác.

Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một Thầy. Thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình.

Văn Thù Sư Lợi! Ðó gọi là "chỗ thân cận" ban đầu.

3. Lại nữa, vị đại Bồ tát quán sát "Nhất thiết pháp không như thật tướng" chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không, không có thật tính, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sinh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sinh cho nên nói, thường ưa quán sát pháp tướng như thế đó gọi là "chỗ thân cận" thứ hai của vị Ðại Bồ tát.

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

4. Nếu có vị Bồ tát

Ở trong đời ác sau

Lòng không hề sợ sệt

Muốn nói kinh pháp này

Nên trụ vào "hành xứ"

Và trụ "thân cận xứ".

Thường xa rời quốc vương

Và con của quốc vương

Quan đại thần, quan lớn

Kẻ chơi việc hung hiểm

Cùng bọn chiên đà la (6)

Hàng ngoại đạo phạm chí

Cùng chẳng ưa gần gũi

Hạng người Tăng thượng mạn

Hàng học giả tham chấp

Kinh, luật, luận Tiểu thừa

Những Tỳ kheo phá giới

Danh tự A la hán

Và những Tỳ kheo ni

Ưa thích chơi giỡn cười

Các vị Ưu bà di

Tham mê năm món dục

Cầu hiện tại diệt độ

Ðều chớ có gần gũi.

Nếu những hạng người đó

Dùng tâm tốt mà đến

Tại chỗ của Bồ tát

Ðể vì nghe Phật đạo

Bồ tát thời nên dùng

Lòng không chút sợ sệt

Chẳng có niệm mong cầu

Mà vì chúng nói pháp.

Những gái góa, gái trinh

Và các kẻ bất nam

Ðều chớ có gần gũi

Ðể cùng làm thân hậu.

Cũng chớ nên gần gũi

Kẻ đồ tể cắt thái

Săn bắn và chài lưới

Vì lợi mà giết hại

Bán thịt để tự sống

Buôn bán sắc gái đẹp

Những người như thế đó

Ðều chớ có gần gũi.

Các cuộc chơi giỡn dữ

Hung hiểm đâm đánh nhau

Và nhưng dâm nữ thảy

Trọn chớ có gần gũi.

Chớ nên riêng chỗ khuất

Vì người nữ nói pháp

Nếu lúc vì nói pháp

Chẳng được chơi giỡn cười

Khi vào xóm khất thực

Phải dắt một Tỳ kheo

Nếu không có Tỳ kheo

Phải một lòng niệm Phật

Ðây thời gọi tên là

"Hành xứ" "thân cận xứ".

Dùng hai xứ trên đây

Có thể an lạc nói.

Lại cũng chẳng vịn theo

Pháp thượng, trung và hạ

Hữu vi hay vô vi

Thực cùng pháp chẳng thực

Cũng chẳng có phân biệt

Là nam là nữ thảy

Lại chẳng được các pháp

Chẳng biết cũng chẳng thấy

Ðây thời gọi tên là

"Hành xứ" của Bồ tát.

Tất cả các món pháp

Ðều không, chẳng chỗ có

Không có chút thường trụ

Vẫn cũng không khởi diệt

Ðây gọi là "thân cận"

Chỗ người trí hằng nương.

Chớ đảo điên phân biệt

Các pháp có hoặc không

Là thực, chẳng phải thực

Là sinh chẳng phải sinh,

Ở an nơi vắng vẻ

Sửa trau nhiếp tâm mình

An trụ chẳng lay động

Như thể núi Tu di

Quán sát tất cả pháp

Thảy đều không thực có

Dường như khoảng hư không

Không có chút bền chắc.

Chẳng sinh cũng chẳng xuất

Chẳng động cũng chẳng thối

Thường trụ một tướng thể

Ðó gọi là "cận xứ".

Nếu có vị Tỳ kheo

Sau khi ta diệt độ

Vào được "hành xứ" này

Và “thân cận xứ” đó

Thời lúc nói kinh này

Không có lòng e sợ

Vị Bồ tát có lúc

Vào nơi nhà tịnh thất

Lòng nghĩ nhớ chân chính

Theo đúng nghĩa quán pháp.

Từ trong thiền định dậy

Vì các bậc Quốc vương

Vương tử và quan, dân

Hàng Bà la môn thảy

Mà khai hóa diễn bày

Rộng nói kinh điển này

Tâm vị đó an ổn

Không có chút khiếp nhược.

Văn Thù Sư Lợi này!

Ðó gọi là Bồ tát

An trụ trong sơ pháp

Có thể ở đời sau

Diễn nói kinh Pháp Hoa.

5. Lại Văn Thù Sư Lợi! Sau khi đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó.

Lại cũng chẳng sinh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an lạc như thế, nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp Đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc "Nhất thiết chủng trí."

Khi ấy, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Vị Bồ tát thường ưa

An ổn nói kinh pháp

Ở nơi chỗ thanh tịnh

Mà sắp đặt sàng tòa

Dùng hương dầu xoa thân

Tắm gội các bụi dơ

Mặc y mới sạch sẽ

Trong ngoài đều sạch thơm

Ngồi an nơi pháp tòa

Theo chỗ hỏi vì nói.

Nếu có vị Tỳ kheo

Cùng với Tỳ kheo ni

Các hàng Ưu bà tắc

Và hàng Ưu bà di

Quốc vương và vương tử,

Các quan cùng sĩ dân

Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu

Vui vẻ vì họ nói.

Nếu có người gạn hỏi

Theo đúng nghĩa mà đáp

Nhân duyên hoặc thí dụ

Giải bày phân biệt nói

Dùng trí phương tiện này

Ðều khiến kia phát tâm

Lần lần thêm đông nhiều

Vào ở trong Phật đạo.

Trừ lòng lười biếng trễ

Cùng với tướng giải đãi

Xa rời các ưu não

Tâm từ lành nói pháp

Ngày đêm thường tuyên nói

Giáo pháp Vô thượng đạo

Dùng các việc nhân duyên

Vô lượng món thí dụ

Mở bày dạy chúng sinh

Ðều khiến chúng vui mừng

Y phục cùng đồ nằm

Ðồ ăn uống thuốc thang

Mà ở nơi trong đó

Không có chỗ mong cầu

Chỉ chuyên một lòng nhớ

Nhân duyên nói kinh pháp

Nguyện ta thành Phật đạo

Khiến mọi người cũng vậy

Ðó là lợi lành lớn

Là an vui cúng dường

Sau khi ta diệt độ

Nếu có vị Tỳ kheo

Có thể diễn nói được

Kinh Diệu Pháp Hoa này

Lòng không chút ghen hờn

Không các não chướng ngại

Cũng lại không ưu sầu

Và cùng mắng nhiếc thảy

Lại cũng không sợ sệt

Không dao gậy đánh đập

Cũng không bị tẩn xuất

Vì an trụ nhẫn vậy

Người trí khéo tu tập

Tâm mình được dường ấy

Thời hay trụ an lạc

Như ta nói ở trên

Công đức của người đó

Trong nghìn muôn ức kiếp

Tính kể hay thí dụ

Nói chẳng thể hết được.

7. Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thọ trì đọc tụng kinh điển này, chớ ôm lòng ghen ghét dua dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc cầu Thanh văn, hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ tát đạo, đều không được làm não đó, khiến cho kia sinh lòng nghi hối mà nói với người rằng: "Các người cách đạo rất xa, trọn không thể được bậc nhất thiết chủng trí. Vì sao? "Vì các người là kẻ buông lung, biếng trễ đối với đạo".

Lại cũng chẳng nên hí luận các pháp có chỗ giành cãi. Phải ở nơi tất cả chúng sinh, khởi tưởng đại bi, đối với các đức Như Lai sinh tưởng như cha lành, đối với các Bồ tát, tưởng là bậc đại sư, với các Ðại Bồ tát ở mười phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sinh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều.

Văn Thù Sư Lợi! Vị đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây, thời lúc nói pháp này không ai có thể não loạn được bạn đồng học tốt chung cùng đọc tụng kinh này, cũng được đại chúng thường đến nghe thọ. Nghe rồi hay nhớ, nhớ rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay chép, hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển cung kính tôn trọng ngợi khen.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8. Nếu muốn nói kinh này

Phải bỏ lòng ghen hờn

Ngạo dua dối tà ngụy

Thường tu hạnh chất trực

Chẳng nên khinh miệt người

Cũng chẳng hí luận pháp

Chẳng khiến kia nghi hối

Rằng ngươi chẳng thành Phật,

Phật tử đó nói pháp

Thường nhu hòa hay nhẫn

Từ bi với tất cả

Chẳng sinh lòng biếng trễ

Bồ tát lớn mười phương

Thương chúng nên hành đạo

Phải sinh lòng cung kính

Ðó là Ðại sư ta,

Với các Phật Thế Tôn

Tưởng là cha Vô thượng,

Phá nơi lòng kiêu mạn

Nói pháp không chướng ngại

Pháp thứ ba như thế

Người trí phải giữ gìn

Một lòng an lạc hạnh

Vô lượng chúng cung kính.

9. Lại Văn Thù Sư Lợi! Các vị đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt có vị nào trì kinh Pháp Hoa này ở trong hàng người tại gia, xuất gia sinh lòng từ lớn, ở trong hạng người chẳng phải Bồ tát sinh lòng bi lớn, phải nghĩ thế này: những người như thế thời là mất lợi lớn. Ðức Như Lai phương tiện tùy nghi nói pháp chẳng nghe, chẳng biết, chẳng hay, chẳng hiểu, chẳng tin, chẳng hỏi. Người đó dầu chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng hiểu kinh này, lúc ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, người đó tùy ở chỗ nào, ta dùng sức thần thông, sức trí huệ dẫn dắt đó khiến được trụ trong pháp này.

Văn Thù Sư Lợi! Vị đại Bồ tát đó ở sau lúc Như Lai diệt độ nếu thành tựu được pháp thứ tư này thời lúc nói pháp này không có lầm lỗi, thường được hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, đại thần nhân dân Bà la môn, Cư sĩ thảy đều cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, hàng chư thiên ở trên hư không vì nghe pháp cũng thường theo hầu. Nếu ở trong xóm làng thành ấp, rừng cây vắng vẻ, có người đến muốn gạn hỏi, hàng chư thiên ngày đêm thường vì pháp mà vệ hộ đó, có thể khiến người nghe đều được vui mừng.

Vì sao? Vì kinh này được sức thần của tất cả các đức Phật thuở quá khứ, vị lai, hiện tại giữ gìn vậy. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này ở trong vô lượng cõi nước, nhẫn đến danh tự còn chẳng nghe được, hà huống là được thấy thọ trì đọc tụng.

Văn Thù Sư Lợi! Thí như vua Chuyển luân thánh vương (10) sức lực mạnh mẽ muốn dùng uy thế hàng phục các nước, mà các vua nhỏ chẳng thuận mệnh lệnh, bấy giờ Chuyển luân thánh vương đem các đạo binh ra đánh dẹp, vua thấy binh chúng những người đánh giặc có công, liền rất vui mừng theo công mà thưởng ban. Hoặc ban cho ruộng, nhà, xóm, làng, thành, ấp, hoặc ban cho đồ y phục trang nghiêm nơi thân, hoặc cho các món trân bảo, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, voi, ngựa, xe, cộ, tôi tớ, nhân dân, chỉ viên minh châu trong búi tóc chẳng đem cho đó.

Vì sao? Vì riêng trên đỉnh vua có một viên châu này, nếu đem cho đó thời các quyến thuộc của vua ắt rất kinh lạ.

Văn Thù Sư Lợi! Như Lai cũng lại như thế, dùng sức thiền định trí huệ được cõi nước pháp, giáo hóa trong ba cõi mà ma vương chẳng khứng thuận phục, các tướng hiền thánh của Như Lai cùng ma đánh nhau. Những người có công lòng cũng vui mừng, ở trong hàng chúng vì nói các kinh khiến tâm kia vui thích, ban cho các pháp thiền định, giải thoát, vô lậu căn lực. Và lại ban cho thành Niết bàn, bảo rằng được diệt độ để dẫn dắt lòng chúng làm cho đều được vui mừng, mà chẳng vì đó nói kinh Pháp Hoa này.

Văn Thù Sư Lợi! Như vua Chuyển Luân thấy các binh chúng những người có công lớn, đem viên minh châu khó tin từ lâu ở trong buối tóc chẳng vọng cho người, mà nay cho đó.

Ðức Như Lai cũng lại như thế, làm vị đại Pháp vương trong ba cõi, đem pháp mầu giáo hóa tất cả chúng sinh. Thấy quân tướng hiền thánh cùng ma ngũ ấm, ma phiền não (7), ma chết đánh nhau có công lao lớn, diệt ba độc, khỏi ba cõi, phá lưới ma. Lúc ấy Như Lai cũng rất vui mừng, kinh Pháp Hoa này có thể khiến chúng sinh đến bậc "nhất thiết trí" là pháp mà tất cả thế gian nhiều oán ghét, khó tin, trước chưa từng nói mà nay nói đó.

Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là lời nói bậc nhất của Như Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như vua sức mạnh kia lâu gìn viên minh châu mà nay mới cho đó.

Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của các đức Phật Như Lai, ở trong các kinh thời là bậc trên hết, lâu ngày giữ gìn chẳng vọng tuyên nói, mới ở ngày nay cùng với các ông mà bày nói đó.

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10. Thường tu hành nhẫn nhục

Thương xót tất cả chúng

Mới có thể diễn nói

Kinh của Phật khen ngợi.

Ðời mạt thế về sau

Người thọ trì kinh này

Với tại gia, xuất gia

Và chẳng phải Bồ tát,

Nên sinh lòng từ bi

Những người đó chẳng nghe

Chẳng tin kinh pháp này

Thời là mất lợi lớn

Khi ta chứng Phật đạo

Dùng các sức phương tiện

Vì nói kinh pháp này

Làm cho trụ trong đó.

Thí như vua Chuyển Luân

Thánh vương có sức mạnh

Binh tướng đánh có công

Thưởng ban những đồ vật

Voi, ngựa và xe cộ

Ðồ trang nghiêm nơi thân,

Và những ruộng cùng nhà

Xóm làng thành ấp thảy

Hoặc ban cho y phục

Các món trân báu lạ

Tôi tớ cùng của cải

Ðều vui mừng ban cho,

Nếu có người mạnh mẽ

Hay làm được việc khó

Vua mới mở búi tóc

Lấy minh châu cho đó.

Ðức Như Lai cũng thế

Là vua trong các pháp

Nhẫn nhục sức rất lớn

Tạng báu trí huệ sáng

Dùng lòng từ bi lớn

Ðúng như pháp độ đời

Thấy tất cả mọi người

Chịu các điều khổ não

Muốn cầu được giải thoát

Cùng các ma đánh nhau

Phật vì chúng sinh đó

Nói các món kinh pháp

Dùng sức phương tiện lớn

Nói các kinh điển đó,

Ðã biết loài chúng sinh

Ðược sức mạnh kia rồi

Rốt sau mới vì chúng

Nói kinh Pháp Hoa này

Như vua thánh mở tóc

Lấy minh châu cho đó.

Kinh này là bậc tôn

Trên hết trong các kinh

Ta thường giữ gìn luôn

Chẳng vọng vì mở bày

Nay chính đã phải lúc

Vì các ông mà nói.

Sau khi ta diệt độ

Người mong cầu Phật đạo

Muốn được trụ an ổn

Diễn nói kinh pháp này

Phải nên thường gần gũi

Bốn pháp trên như thế.

Người đọc tụng kinh này

Thường không bị ưu não

Lại không có bịnh đau

Nhan sắc được trắng sạch

Chẳng sinh nhà bần cùng

Dòng ti tiện xấu xa

Chúng sinh thường ưa thấy.

Như ham mộ hiền thánh

Các đồng tử cõi trời

Dùng làm kẻ sai khiến

Dao gậy chẳng đến được

Ðộc dữ chẳng hại được

Nếu người muốn mắng nhiếc

Miệng thời liền ngậm bít

Dạo đi không sợ sệt

Dường như sư tử vương

Trí huệ rất sáng suốt

Như mặt trời chói sáng.

Nếu ở trong chiêm bao

Chỉ thấy những việc tốt

Thấy các đức Như Lai

Ngồi trên tòa sư tử

Các hàng chúng Tỳ kheo

Vây quanh nghe nói pháp.

Lại thấy các long thần

Cùng A tu la thảy

Số như cát sông Hằng

Ðều cung kính chắp tay

Tự ngó thấy thân mình

Mà vì chúng nói pháp.

Lại thấy các đức Phật

Thân tướng thuần sắc vàng

Phóng vô lượng hào quang

Soi khắp đến tất cả

Dùng giọng tiếng phạm âm

Mà diễn nói các pháp

Phật vì hàng tứ chúng

Nói kinh pháp Vô thượng

Thấy thân mình ở trong

Chắp tay khen ngợi Phật

Nghe pháp lòng vui mừng

Mà vì cúng dường Phật

Ðược pháp Ðà la ni

Chứng bậc bất thối trí,

Phật biết tâm người đó

Ðã sâu vào Phật đạo

Liền vì thọ ký cho

Sẽ thành tối Chánh giác.

Thiện nam tử người này!

Sẽ ở đời vị lai

Chứng được vô lượng trí

Nên đạo lớn của Phật,

Cõi nước rất nghiêm tịnh

Rộng lớn không đâu bằng

Cũng có hàng tứ chúng

Chắp tay nghe nói pháp.

Lại thấy thân của mình

Ở trong rừng núi vắng

Tu tập các pháp lành

Chứng thực tướng các pháp

Sâu vào trong thiền định

Thấy các Phật mười phương

Các Phật thân sắc vàng

Trăm phước tướng trang nghiêm

Nghe pháp vì người nói

Thường có mộng tốt đó.

Lại mộng làm quốc vương

Bỏ cung điện quyến thuộc

Và ngũ dục thượng diệu

Ði đến nơi đạo tràng

Ở dưới cội Bồ Ðề

Mà ngồi tòa sư tử

Cầu đạo quả bảy ngày

Ðược trí của các Phật

Thành đạo Vô thượng rồi

Dậy mà chuyển pháp luân

Vì bốn chúng nói pháp

Trải nghìn muôn ức kiếp

Nói pháp mầu vô lậu

Ðộ vô lượng chúng sinh

Sau sẽ vào Niết bàn

Như khói hết đèn tắt.

Nếu trong đời ác sau

Nói pháp bậc nhất này

Người đó được lợi lớn

Các công đức như trên.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tùng Ðịa Dũng Xuất” Thứ Mười Lăm

1. Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám sông Hằng, ở trong đại chúng đứng dậy chắp tay làm lễ mà bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Nếu bằng lòng cho chúng con lúc sau khi Phật diệt độ ở tại cõi Ta bà này siêng tu tinh tấn, giữ gìn đọc tụng, biên chép cúng dường kinh điển này, thời chúng con sẽ ở trong cõi đây mà rộng nói đó".

Khi đó Phật bảo các chúng đại Bồ tát: "Thiện nam tử! Thôi đi chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta bà của ta tự có chúng đại Bồ tát số đông bằng số cát của muôn sông Hằng. Mỗi vị Bồ tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những người đó có thể sau khi ta diệt độ hộ trì đọc tụng rộng nói kinh này".

2. Lúc Phật nói lời đó, cõi Ta bà trong tam thiên đại thiên cõi nước đất đều rúng nứt, mà ở trong đó có vô lượng nghìn muôn ức vị đại Bồ tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ tát đó thân đều sắc vàng, đủ ba mươi hai tướng tốt cùng vô lượng ánh sáng, trước đây đều ở dưới cõi Ta bà này, cõi đó trụ giữa hư không. Các vị Bồ tát đó nghe tiếng nói của đức Thích Ca Mâu Ni Phật nên từ dưới mà đến. Mỗi vị Bồ tát đều là bậc đạo thủ trong đại chúng, đều đem theo sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, huống là những vị đem năm muôn, bốn muôn, ba muôn, hai muôn, một muôn hằng hà sa quyến thuộc. Huống là nhẫn đến những vị đem một hằng hà sa, nửa hằng hà sa, một phần hằng hà sa, nhẫn đến một phần trong nghìn muôn ức na do tha phần hằng hà sa quyến thuộc. Huống là những vị đem nghìn muôn ức na do tha quyến thuộc, huống là đem muôn ức quyến thuộc, huống là đem nghìn trăm muôn nhẫn đến một muôn, huống là đem một nghìn, một trăm nhẫn đến mười quyến thuộc, huống là đem năm, bốn, ba, hai, một người đệ tử. Huống lại là những vị riêng một mình ưa hạnh viễn ly, số đông vô lượng vô biên dường ấy, tính đếm thí dụ chẳng có thể biết được.

3. Các vị Bồ tát đó từ dưới đất lên, đều đến nơi tháp đẹp bảy báu, chỗ của đức Ða Bửu Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, đến nơi rồi hướng về hai vị Thế Tôn mà đầu mặt lạy chân Phật, và đến chỗ các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu, cũng đều làm lễ. Ði quanh bên mặt ba vòng, chắp tay cung kính dùng các cách ngợi khen của Bồ tát mà ngợi khen Phật, rồi đứng qua một phía, ưa vui chiêm ngưỡng hai đấng Thế Tôn.

Từ lúc các vị Bồ tát do từ dưới đất vọt lên dùng các cách ngợi khen của Bồ tát mà khen ngợi Phật, thời gian đó trải qua năm mươi tiểu kiếp.

Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật nín lặng ngồi yên, cùng hàng tứ chúng cũng đều nín lặng, năm mươi tiểu kiếp, vì do sức thần của Phật, khiến hàng đại chúng cho là như nửa ngày.

Bấy giờ, hàng tứ chúng cũng nhờ sức thần của Phật, thấy các Bồ tát đầy khắp vô lượng nghìn muôn ức cõi nước hư không.

4. Trong chúng Bồ tát đó có bốn vị đạo sư: 1. Thượng Hạnh. 2. Vô biên Hạnh. 3. Tịnh Hạnh. 4. An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ tát này là bậc thượng thủ xướng đạo sư trong chúng đó, ở trước đại chúng, bốn vị đồng chắp tay nhìn đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà hỏi thăm rằng: "Thưa Thế Tôn! Có được ít bịnh, ít não, an vui luôn chăng, những người đáng độ thọ giáo dễ chăng, chẳng làm cho đức Thế Tôn sinh mỏi nhọc chăng?"

Khi đó, bốn vị Bồ tát nói kệ rằng:

Thế Tôn được an vui

Ít bịnh cùng ít não,

Giáo hóa các chúng sinh,

Ðặng không mỏi nhọc ư?

Lại các hàng chúng sinh

Thọ hóa có dễ chăng?

Chẳng làm cho Thế Tôn

Sinh nhọc mệt đó ư?

5. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ở trong đại chúng Bồ tát mà nói rằng: "Ðúng thế! Ðúng thế! Các thiện nam tử! Ðức Như Lai an vui, ít bịnh, ít não, các hàng chúng sinh hóa độ được dễ, không có nhọc mệt.

Vì sao? Vì các chúng sinh đó, từ nhiều đời nhẫn lại, thường được ta dạy bảo, mà cũng từng ở nơi các Phật quá khứ, cung kính, tôn trọng, trồng các cội lành. Các chúng sinh đó vừa mới thấy thân ta, nghe ta nói pháp, liền đều tín nhận, vào được trong huệ của Như Lai, trừ người trước đã tu tập học hành Tiểu thừa; những người như thế ta cũng khiến được nghe kinh này, vào trong huệ của Phật".

Lúc ấy các vị đại Bồ tát nói kệ rằng:

Hay thay! Hay thay!

Ðức đại hùng Thế Tôn

Các hàng chúng sinh thảy

Ðều hóa độ được dễ

Hay hỏi các đức Phật

Về trí huệ rất sâu

Nghe pháp rồi tin làm

Chúng con đều tùy hỷ.

Khi đó, đức Thế Tôn khen ngợi các vị đại Bồ tát thượng thủ: "Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Các ông có thể đối với đức Như Lai mà phát lòng tùy hỷ".

6. Bấy giờ Ngài Di Lặc Bồ tát cùng tám nghìn hằng hà sa các chúng Bồ tát đều nghĩ rằng: "Chúng ta từ xưa nhẫn lại chẳng thấy, chẳng nghe các chúng đại Bồ tát như thế, từ dưới đất vọt lên, đứng trước đức Thế Tôn, chắp tay cúng dường thăm hỏi Như Lai".

Lúc đó, Ngài Di Lặc Bồ tát biết tâm niệm của tám nghìn hằng hà sa chúng Bồ tát, cùng muốn tự giải quyết chỗ nghi của mình, bèn chắp tay hướng về phía Phật, nói kệ hỏi rằng:

Vô lượng nghìn muôn ức

Các Bồ tát đại chúng

Từ xưa chưa từng thấy

Nguyện đấng Lưỡng Túc nói

Là từ chốn nào đến

Do nhân duyên gì nhóm

Thân lớn đại thần thông

Trí huệ chẳng nghĩ bàn

Chí niệm kia bền vững

Có sức nhẫn nhục lớn

Chúng sinh chỗ ưa thấy

Là từ chốn nào đến?

Mỗi mỗi hàng Bồ tát

Ðem theo các quyến thuộc

Số đông không thể lường

Như số hằng hà sa

Hoặc có đại Bồ tát

Ðem sáu muôn hằng sa

Các đại chúng như thế

Một lòng cầu Phật đạo,

Những đại sư đó thảy

Sáu muôn hằng hà sa

Ðều đến cúng dường Phật

Cùng hộ trì kinh này.

Ðem năm muôn hằng sa

Số này hơn số trên

Bốn muôn và ba muôn

Hai muôn đến một muôn

Một nghìn một trăm thảy

Nhẫn đến một hằng sa

Nửa và ba bốn phần

Một phần trong ức muôn

Nghìn muôn na do tha

Muôn ức các đệ tử

Nhẫn đến đem nửa ức

Số đông lại hơn trên.

Trăm muôn đến một muôn

Một nghìn và một trăm

Năm mươi cùng một mươi

Nhẫn đến ba, hai, một

Riêng mình không quyến thuộc

Ưa thích ở riêng vắng

Ðều đi đến chỗ Phật

Số đây càng hơn trên.

Các đại chúng như thế

Nếu người phát thẻ đếm

Quá nơi kiếp hằng sa

Còn chẳng thể biết hết.

Các vị uy đức lớn

Chúng Bồ tát tinh tấn

Ai vì đó nói pháp

Giáo hóa cho thành tựu

Từ ai, đầu phát tâm?

Xưng dương Phật pháp nào?

Thọ trì tu kinh gì?

Tu tập Phật đạo nào?

Các Bồ tát như thế

Thần thông sức trí lớn

Ðất bốn phương rúng nứt

Ðều từ đất vọt lên

Thế Tôn! Con từ xưa

Chưa từng thấy việc đó

Xin Phật nói danh hiệu

Cõi nước của kia ở.

Con thường qua các nước

Chưa từng thấy chúng này

Con ở trong chúng đây

Bèn chẳng quen một người

Thoạt vậy từ đất lên

Mong nói nhân duyên đó.

Nay trong đại hội này

Vô lượng trăm nghìn ức

Các chúng Bồ tát đây

Ðều muốn biết việc này

Hằng Bồ tát chúng kia

Cội ngọn nhân duyên đó

Thế Tôn đức vô lượng

Cúi mong quyết lòng nghi.

7. Khi ấy các vị Phật của đức Thích Ca Mâu Ni phân thân, từ vô lượng nghìn muôn ức cõi nước ở phương khác đến, ngồi xếp bằng trên tòa sư tử, dưới các cội cây báu nơi trong tám phương. Hàng thị giả của Phật đó, đều thấy đại chúng Bồ tát ở bốn phương cõi tam thiên đại thiên, từ đất vọt lên trụ trên hư không, đều bạch với Phật mình rằng: "Thế Tôn! Các đại chúng vô lượng vô biên a tăng kỳ Bồ tát đó, từ chốn nào mà đến?"

Lúc ấy các đức Phật đều bảo thị giả: "Các Thiện nam tử! Hãy chờ giây lát, hiện có vị đại Bồ tát tên là Di Lặc, là vị mà đức Thích Ca Mâu Ni Phật thọ ký kế đây sẽ làm Phật đã hỏi việc đó, đức Phật sẽ đáp, các ông tự đương, nhân đây mà được nghe."

8. Bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát: "Hay thay! Hay thay! A Dật Ða (9), bèn có thể hỏi Phật việc lớn như thế, các ông phải chung một lòng, mặc giáp tinh tấn, phát ý bền vững. Nay đức Như Lai muốn hiển phát tuyên bày trí huệ của các đức Phật, sức thần thông tự tại của các đức Phật, sức sư tử mạnh nhanh của các đức Phật, sức uy thế mạnh lớn của các đức Phật".

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

Phải một lòng tinh tấn

Ta muốn nói việc này

Chớ nên có nghi hối

Trí Phật chẳng nghĩ bàn

Ông nay gắng sức tin

Trụ nơi trong nhẫn thiện

Chỗ pháp xưa chưa nghe

Nay đều sẽ được nghe

Nay ta an ủi ông

Chớ ôm lòng nghi sợ

Phật không lời chẳng thực

Trí huệ chẳng nghĩ bàn

Phật được pháp bậc nhất

Rất sâu khó phân biệt

Như thế nay sẽ nói

Các ông một lòng nghe.

9. Khi đức Thế Tôn nói kệ đó, bảo Ngài Di Lặc Bồ tát: "Nay ta ở trong đại chúng này, tuyên bảo các ông. A Dật Ða! Các hàng đại Bồ tát vô lượng vô số a tăng kỳ, từ dưới đất vọt ra mà các ông từ xưa chưa từng thấy đó, chính ta ở cõi Ta bà lúc được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rồi, giáo hóa chỉ dẫn các Bồ tát đó, điều phục tâm kia khiến phát đạo tâm.

Các vị Bồ tát đó, ở phía dưới cõi Ta bà, cõi đó trụ giữa hư không, ở trong các kinh điển đọc tụng thông lẹ, suy ngẫm rõ hiểu, nghĩ tưởng chân chính. A Dật Ða! Các Thiện nam tử đó chẳng thích ở trong chúng nhiều nói bàn, thường ưa ở chỗ vắng, siêng tu tinh tấn chưa từng thôi dứt. Cũng chẳng nương tựa người trời mà ở, thường ham trí huệ sâu không có chướng ngại, cũng thường ham nơi pháp của đức Phật, chuyên lòng tinh tấn cầu huệ Vô thượng.

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

A Dật ông nên biết!

Các Bồ tát lớn này

Từ vô số kiếp lại

Tu tập trí huệ Phật

Ðều là ta hóa độ

Khiến phát đại đạo tâm

Chúng đó là con ta

Y chỉ thế giới này

Thường tu hạnh đầu đà

Chỉ thích ở chỗ vắng

Bỏ đại chúng ồn náo

Chẳng ưa nói bàn nhiều,

Các vị đó như thế

Học tập đạo pháp ta

Ngày đêm thường tinh tấn

Vì để cầu Phật đạo

Ở phương dưới Ta bà

Trụ giữa khoảng hư không

Sức chí niệm bền vững

Thường siêng cầu trí huệ

Nói các món pháp mầu

Tâm kia không sợ sệt.

Ta ở thành Già Da

Ngồi dưới cội Bồ Ðề

Thành bậc tối Chánh giác

Chuyển pháp luân Vô thượng

Rồi mới giáo hóa đó

Khiến đều phát đạo tâm

Nay đều trụ bất thối

Ðều sẽ được thành Phật.

Nay ta nói lời thực

Các ông một lòng tin

Ta từ lâu xa lại

Giáo hóa các chúng đó.

10. Lúc bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát cùng vô số chúng Bồ tát, lòng sinh nghi hoặc, lấy làm lạ chưa từng có mà nghĩ rằng: "Thế nào đức Thế Tôn ở trong thời gian rất ngắn mà có thể giáo hóa vô lượng vô biên a tăng kỳ các đại Bồ tát đó, làm cho trụ nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".

Liền bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Ðức Như Lai lúc làm Thái tử rời khỏi cung dòng Thích, ngồi nơi đạo tràng cách thành Già Da chẳng bao xa, được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Từ đó đến nay mới hơn bốn mươi năm, đức Thế Tôn thế nào ở trong thời gian ngắn đó làm nên Phật sự lớn! Do thế lực của Phật, do công đức của Phật, giáo hóa vô lượng chúng Bồ tát lớn như thế sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?

Thế Tôn! Chúng đại Bồ tát này giả sử có người trong nghìn muôn ức kiếp đếm không thể hết, chẳng được ngằn mé, chúng đó từ lâu nhẫn lại, ở nơi vô lượng vô biên các đức Phật, trồng các cội lành, thành tựu đạo Bồ tát thường tu phạm hạnh.

Thế Tôn! Việc như thế đời rất khó tin. Thí như có người sắc đẹp tóc đen, tuổi hai mươi lăm, chỉ người trăm tuổi, nói đó là con của ta. Người trăm tuổi nọ cũng chỉ gã tuổi nhỏ nói là cha ta, đẻ nuôi ta thảy, việc đó khó tin. Ðức Phật cũng như thế.

Từ lúc Thành đạo nhẫn đến nay, kỳ thực chưa bao lâu, mà các đại chúng Bồ tát đó, đã ở nơi vô lượng nghìn muôn ức kiếp, vì Phật đạo nên siêng tu tinh tấn, khéo nhập xuất trụ nơi vô lượng nghìn muôn ức tam muội (11) được thần thông lớn, tu hạnh thanh tịnh đã lâu, khéo hay thứ đệ tập các pháp lành, giỏi nơi vấn đáp, là báu quý trong loài người, tất cả thế gian rất là ít có.

Ngày nay đức Thế Tôn mới nói, lúc được Phật đạo, bắt đầu khiến kia phát tâm, giáo hóa chỉ dạy dìu dắt, làm cho kia hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ðức Thế Tôn thành Phật chưa bao lâu mà bèn có thể làm được việc công đức lớn này.

Chúng con dầu lại tin Phật tùy cơ nghi nói pháp, lời Phật nói ra chưa từng hư vọng, chỗ Phật biết thảy đều thông suốt, như các Bồ tát mới phát tâm, sau khi Phật diệt độ nếu nghe lời này hoặc chẳng tin nhận, sinh nhân duyên tội nghiệp phá chính pháp.

Kính thưa Thế Tôn! Mong vì chúng giải nói trừ lòng nghi của chúng con, và các thiện nam tử đời vị lai nghe việc này rồi cũng chẳng sinh nghi.

Lúc đó Ngài Di Lặc muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

11. Phật xưa từ dòng Thích

Xuất gia gần Già da

Ngồi dưới cây Bồ đề

Ðến nay còn chưa xa.

Các hàng Phật tử này

Số đông không thể lường

Lâu đã tu Phật Ðạo

Trụ nơi sức thần thông

Khéo học đạo Bồ tát

Chẳng nhiễm pháp thế gian

Như hoa sen trong nước

Từ đất mà vọt ra

Ðều sinh lòng cung kính

Ðứng nơi trước Thế Tôn,

Việc đó khó nghĩ bàn

Thế nào mà tin được

Phật được đạo rất gần

Chỗ thành tựu rất nhiều

Mong vì trừ lòng nghi

Như thực phân biệt nói

Thí như người trẻ mạnh

Tuổi mới hai mươi lăm

Chỉ người trăm tuổi già

Tóc bạc và mặt nhăn:

Bọn này của ta sinh

Con cũng nói là cha

Cha trẻ mà con già

Mọi người đều chẳng tin.

Thế Tôn cũng như thế

Ðược đạo đến nay gần

Các chúng Bồ tát này

Chí vững không khiếp nhược

Từ vô lượng kiếp lại

Mà tu đạo Bồ tát

Giỏi nơi gạn hỏi đáp

Tâm kia không sợ sệt

Nhẫn nhục lòng quyết định

Ðoan chính có uy đức

Mười phương Phật khen ngợi

Khéo hay phân biệt nói

Chẳng thích ở trong chúng

Thường ưa ở thiền định

Vì cầu Phật đạo vậy

Trụ hư không phương dưới.

Chúng con từ Phật nghe

Nơi việc này không nghi

Nguyện Phật vì người sau

Diễn nói khiến rõ hiểu,

Nếu người ở kinh này

Sinh nghi lòng chẳng tin

Liền phải đọa đường dữ

Mong nay vì giải nói:

Vô lượng Bồ tát đó

Thế nào thời gian ngắn

Giáo hóa khiến phát tâm

Mà trụ bậc bất thối.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Như Lai Thọ Lượng” Thứ Mười Sáu

1. Lúc bấy giờ, Phật bảo các Bồ tát và tất cả đại chúng: "Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thực của Như Lai.

Lại bảo đại chúng: "Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thực của Như Lai".

Lại bảo các đại chúng: "Các ông phải tin hiểu lời nói chắc thực của Như Lai".

Lúc đó đại chúng Bồ tát, Ngài Di Lặc làm đầu, chắp tay bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin nhận lời Phật". Ba phen bạch như thế rồi lại nói: "Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin nhận lời Phật".

2. Bấy giờ, đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba phen thỉnh chẳng thôi, mà bảo đó rằng: "Các ông lóng nghe! Sức bí mật thần thông của Như Lai, tất cả trong đời, trời, người và A tu la đều cho rằng nay đức Thích Ca Mâu Ni Phật ra khỏi cung họ Thích, cách thành Già da chẳng bao xa, ngồi nơi đạo tràng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

"Nhưng, thiện nam tử! Thực ta thành Phật nhẫn lại đây, đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha kiếp. Ví như năm trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi tam thiên, đại thiên, giả sử có người nghiền làm vi trần qua phương Đông, cách năm trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước, bèn rơi một bụi trần, đi qua phía đông như thế cho đến hết vi trần đó.

Các thiện nam tử! Ý ông nghĩ sao? Các thế giới đó có thể suy gẫm so tính biết được số đó chăng?"

Di Lặc Bồ tát, thảy đều bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Các thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải tính được, đếm được, cũng chẳng phải tâm lực biết đến được. Tất cả Thanh văn, Duyên giác dùng trí vô lậu, chẳng có thể suy nghĩ biết được hạn số đó, chúng con trụ bậc bất thối, ở trong việc này cũng chẳng thông đạt.

Thế Tôn! Các thế giới như thế, nhiều vô lượng vô biên".

3. Bấy giờ, Phật bảo các chúng Bồ tát: "Các Thiện nam tử! Nay ta sẽ tuyên nói rành rõ cho các ông. Các thế giới đó, hoặc dính vi trần hoặc chẳng dính, đều nghiền cả làm vi trần, cứ một trần là một kiếp, từ ta thành Phật nhẫn lại đến nay, lại lâu hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó nhẫn lại, ta thường ở cõi Ta bà này nói pháp giáo hóa, cũng ở trong trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước khác dắt dẫn lợi ích chúng sinh.

Các Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh nào đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn quan sát: tín, v.v... các căn lợi độn của chúng, tùy theo chỗ đáng độ, nơi nơi tự nói văn tự chẳng đồng, niên kỷ hoặc lớn, hoặc nhỏ, cũng lại hiện nói sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các trí phương tiện nói pháp vi diệu, có thể làm cho chúng sinh phát lòng vui mừng.

Các thiện nam tử! Như Lai thấy những chúng sinh ưa nơi pháp Tiểu thừa, đức mỏng tội nặng. Phật vì người đó nói: Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nhưng thực, từ ta thành Phật nhẫn lại, lâu xa dường ấy, chỉ dùng phương tiện giáo hóa chúng sinh, khiến vào Phật đạo, nên nói như thế.

4. Các thiện nam tử! Kinh điển của đức Như Lai nói ra, đều vì độ thoát chúng sinh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc chỉ thân mình, hoặc chỉ thân người, hoặc chỉ việc mình, hoặc chỉ việc người, các lời nói đều thực chẳng dối.

Vì sao? Vì đức Như Lai đúng như thực thấy biết tướng của tam giới, không có sinh tử, hoặc thối, hoặc xuất, cũng không ở đời và diệt độ, chẳng phải thực, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chẳng phải như ba cõi mà thấy nơi ba cõi. Các việc như thế Như Lai thấy rõ, không có sai lầm.

Bởi các chúng sinh có các món tính, các món dục, các món hạnh, các món nhớ tưởng phân biệt, muốn làm cho sinh các căn lành, nên dùng bao nhiêu nhân duyên, thí dụ ngôn từ, các cách nói pháp, chỗ làm Phật sự, chưa từng tạm bỏ. Như thế, từ ta thành Phật nhẫn lại, thực là lâu xa, thọ mệnh vô lượng a tăng kỳ kiếp, thường còn chẳng mất.

Các thiện nam tử! Ta xưa tu hành đạo Bồ tát, cảm thành thọ mệnh, nay vẫn chưa hết, lại còn hơn số trên, nhưng nay chẳng phải thực diệt độ, mà bèn xướng nói sẽ diệt độ. Ðức Như Lai dùng phương tiện đó, giáo hóa chúng sinh.

Vì sao? Vì nếu Phật ở lâu nơi đời, thời người đức mỏng, chẳng trồng cội lành, nghèo cùng hèn hạ, ham ưa năm món dục, sa vào trong lưới nhớ tưởng vọng kiến. Nếu thấy đức Như Lai thường còn chẳng mất, bèn sinh lòng buông lung nhàm trễ, chẳng có thể sinh ra ý tưởng khó gặp gỡ cùng lòng cung kính, cho nên đức Như Lai dùng phương tiện nói rằng: "Tỳ kheo phải biết, các đức Phật ra đời, khó có thể gặp gỡ".

Vì sao? Những người đức mỏng, trải qua trăm nghìn muôn ức kiếp, hoặc có người thấy Phật hoặc người chẳng thấy, do việc này, nên ta nói rằng: "Tỳ kheo! Ðức Như Lai khó có thể được thấy".

Các chúng sinh đó nghe lời như thế, ắt sẽ sinh ý tưởng khó gặp gỡ, ôm lòng luyến mộ khát ngưỡng nơi Phật, bèn trồng cội lành, cho nên đức Như Lai dầu chẳng diệt mà nói diệt độ.

Lại thiện nam tử! Phương pháp của các đức Phật Như Lai đều như thế, vì độ chúng sinh đều thực chẳng dối.

5. Ví như vị lương y, trí huệ sáng suốt, khéo luyện phương thuốc trị các bịnh. Người đó nhiều con cái, hoặc mười, hai mươi nhẫn đến số trăm, do có sự duyên đến nước xa khác. Sau lúc đó các người con uống thuốc độc khác, thuốc phát muộn loạn lăn lộn trên đất.

Bấy giờ, người cha từ nước xa trở về nhà. Các con uống thuốc độc, hoặc người mất bản tâm, hoặc chẳng mất, xa thấy cha về đều rất vui mừng, quỳ lạy hỏi thăm: "An lành về an ổn. Chúng con ngu si, lầm uống thuốc độc, xin cứu lành cho, lại ban thọ mệnh cho chúng con."

Cha thấy các con khổ não như thế, y theo các kinh phương, (12) tìm cỏ thuốc tốt, mùi sắc vị ngon, thảy đều đầy đủ. Ðâm nghiền hòa hợp, đưa bảo các con uống mà nói rằng: "Thuốc đại lương dược này mùi sắc vị ngon, thảy đều đầy đủ, các con nên uống, mau trừ khổ não, không còn lại có các bịnh hoạn".

Trong các con, những người chẳng thất tâm, thấy thuốc lương dược ấy, sắc hương đều tốt, liền bèn uống đó, bịnh trừ hết, được lành mạnh. Ngoài ra, những người thất tâm, thấy cha về dầu cũng vui mừng hỏi thăm, cầu xin trị bịnh, song trao thuốc cho mà không chịu uống.

Vì sao? Vì hơi độc đã thâm nhập làm mất bản tâm, nơi thuốc tốt thơm đẹp này mà cho là không ngon. Người cha nghĩ rằng: "Người con này đáng thương, bị trúng độc, tâm đều điên đảo, dầu thấy ta về, mừng cầu xin cứu lành, nhưng thuốc tốt như thế, mà chẳng chịu uống, nay Ta bày chước phương tiện, khiến chúng uống thuốc này".

Nghĩ thế rồi liền bảo rằng: "Các con phải biết, ta nay già suy, giờ chết đã đến, thuốc "lương dược" tốt này nay để ở đây, các con nên lấy uống, chớ lo không lành". Bảo thế, rồi lại đến nước khác, sai sứ về nói: "Cha các ngươi đã chết".

Bấy giờ, các con nghe cha chết, lòng rất sầu khổ mà nghĩ rằng: "Nếu cha ta còn, thương xót chúng ta, có thể được cứu hộ, hôm nay bỏ ta xa chết ở nước khác". Tự nghĩ mình nay côi cút, không có chỗ cậy nhờ, lòng thương bi cảm, tâm bèn tỉnh ngộ biết thuốc này, sắc hương vị ngon, liền lấy uống đó, bịnh độc đều lành. Người cha nghe các con đều đã lành mạnh, liền trở về cho các con đều thấy.

Các Thiện nam tử! Ý ông nghĩ sao? Vả có người nào có thể nói ông lương y đó mắc tội hư dối chăng?

Thưa Thế Tôn, không thể được!

Phật nói: "Ta cũng như thế, từ khi thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp, vì chúng sinh dùng sức phương tiện nói: "sẽ diệt độ", cũng không ai có thể đúng như pháp mà nói ta có lỗi hư dối.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Từ ta thành Phật lại

Trải qua các kiếp số

Vô lượng trăm nghìn muôn

A tăng kỳ ức năm

Thường nói pháp giáo hóa

Vô số ức chúng sinh

Khiến vào nơi Phật đạo

Ðến nay vô lượng kiếp

Vì độ chúng sinh vậy

Phương tiện hiện Niết bàn

Mà thực chẳng diệt độ

Thường trụ đây nói pháp

Ta thường trụ ở đây

Dùng các sức thần thông

Khiến chúng sinh điên đảo

Dầu gần mà chẳng thấy

Chúng thấy ta diệt độ

Rộng cúng dường Xá lợi

Thảy đều hòai luyến mộ

Mà sinh lòng khát ngưỡng,

Chúng sinh đã tín phục

Ngay thực ý diệu hòa

Một lòng muốn thấy Phật

Chẳng tự tiếc thân mệnh

Giờ ta cùng chúng tăng

Ðều ra khỏi Linh Thứu

Ta nói với chúng sinh

Thường ở đây chẳng diệt

Vì dùng sức phương tiện

Hiện có diệt chẳng diệt.

Nước khác có chúng sinh

Lòng cung kính tín nhạo

Ta ở lại trong đó

Vì nói pháp Vô thượng

Ông chẳng nghe việc đó

Chỉ nói ta diệt độ.

Ta thấy các chúng sinh

Chìm ở trong khổ não

Nên chẳng vì hiện thân

Cho kia sinh khát ngưỡng

Nhân tâm kia luyến mộ

Hiện ra vì nói pháp

Sức thần thông như thế

Ở trong vô số kiếp

Thường tại núi Linh Thứu

Và các trụ xứ khác.

Chúng sinh thấy tận kiếp

Lúc lửa lớn thiêu đốt

Cõi ta đây an ổn

Trời người thường đông vầy

Vườn rừng các nhà gác

Những món báu trang nghiêm

Cây báu nhiều hoa trái

Chỗ chúng sinh vui chơi

Các trời đánh trống trời

Thường trổi những kỹ nhạc

Rưới hoa mạn đà la

Cúng Phật và đại chúng.

Tịnh độ ta chẳng hư

Mà chúng thấy cháy rã

Lo sợ các khổ não

Như thế đều đầy dẫy

Các chúng sinh tội đó

Vì nhân duyên nghiệp dữ

Quá a tăng kỳ kiếp

Chẳng nghe tên Tam bảo.

Người nhu hòa ngay thực

Có tu các công đức

Thời đều thấy thân ta

Ở tại đây nói pháp.

Hoặc lúc vì chúng này

Nói Phật thọ vô lượng,

Người lâu mới thấy Phật

Vì nói Phật khó gặp.

Trí lực ta như thế

Huệ Quang soi vô lượng

Thọ mệnh vô số kiếp

Tu hành lâu cảm được.

Các ông người có trí

Chớ ở đây sinh nghi

Nên dứt khiến hết hẳn

Lời Phật thật không dối.

Như lương y chước khéo

Vì để trị cuồng tử

Thực còn mà nói chết

Không thể nói hư dối.

Ta là cha trong đời

Cứu các người đau khổ

Vì phàm phu điên đảo

Thực còn mà nói diệt,

Vì cớ thường thấy ta

Mà sinh lòng kiêu tứ

Buông lung ham ngũ dục

Sa vào trong đường dữ.

Ta thường biết chúng sinh

Hành đạo chẳng hành đạo

Tùy chỗ đáng độ được

Vì nói các pháp môn

Hằng tự nghĩ thế này:

Lấy gì cho chúng sinh

Ðược vào huệ Vô thượng

Mau thành tựu thân Phật.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phân Biệt Công Ðức” Thứ Mười Bảy

1. Lúc bấy giờ, trong đại hội nghe Phật nói thọ mệnh, kiếp số dài lâu như thế, vô lượng, vô biên, vô số chúng sinh được lợi ích lớn.

Khi đó, đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc đại Bồ tát: "A Dật Ða! Lúc ta nói đức Như Lai thọ mệnh dài lâu như thế, có sáu trăm tám muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sinh được "Vô sinh pháp nhẫn". (13)

Lại có đại Bồ tát nghìn lần gấp bội được môn "Văn trì Đà la ni" (14). Lại có một thế giới vi trần số đại Bồ tát được "Nhạo thuyết vô ngại biện tài" (15). Lại có một thế giới vi trần số đại Bồ tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng môn "Triền Đà la ni". Lại có tam thiên đại thiên thế giới vi trần số đại Bồ tát chuyển được "Pháp luân bất thối".

Lại có nhị thiên trung quốc độ vi trần số đại Bồ tát chuyển được "Pháp luân thanh tịnh". Lại có tiểu thiên quốc độ vi trần số đại Bồ tát tám đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có bốn tứ thiên hạ (16) vi trần số đại Bồ tát bốn đời sẽ được Chánh đẳng Chánh giác. Lại có ba tứ thiên hạ vi trần số đại Bồ tát ba đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có hai tứ thiên hạ vi trần số đại Bồ tát hai đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có một tứ thiên hạ vi trần số đại Bồ tát một đời sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lại có tám thế giới vi trần số chúng sinh đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác."

2. Lúc đức Phật nói các vị đại Bồ tát đó được pháp lợi, (17) trên giữa hư không, rưới hoa Mạn đà la, hoa ma ha Mạn đà la để rải vô lượng trăm nghìn muôn ức các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cội cây báu, và rải đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng đức Ða Bửu Phật ngồi trên tòa sư tử trong tháp bảy báu: cùng rải tất cả các đại Bồ tát và bốn bộ chúng.

Lại rưới bột gỗ chiên đàn, trầm thủy hương v.v... trong hư không, trống trời tự kêu tiếng hay sâu xa.

Lại rải nghìn thứ thiên y, thòng các chuỗi ngọc: chuỗi ngọc trân châu, chuỗi châu ma ni, chuỗi châu như ý khắp cả chín phương, các lò hương báu đốt hương vô giá, tự nhiên khắp đến cúng dường đại chúng.

Trên mỗi đức Phật có các vị Bồ tát nắm cầm phan lọng, thứ đệ mà lên đến trời Phạm thiên. Các vị Bồ tát đó dùng tiếng tăm hay, ca vô lượng bài tụng ngợi khen các đức Phật.

Khi ấy Ngài Di Lặc Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng về phía Phật mà nói kệ rằng:

3. Phật nói pháp ít có

Từ xưa chưa từng nghe

Thế Tôn có sức lớn

Thọ mệnh chẳng thể lường.

Vô số các Phật tử

Nghe Thế Tôn phân biệt

Nói được pháp lợi đó

Vui mừng đầy khắp thân

Hoặc trụ bậc bất thối

Hoặc được Đà la ni

Hoặc vô ngại nhạo thuyết

Muôn ức triền tổng trì.

Hoặc có cõi đại thiên

Số vi trần Bồ tát

Mỗi vị đều nói được

Pháp luân bất thối chuyển.

Hoặc có trung thiên giới

Số vi trần Bồ tát

Mỗi vị đều có thể

Chuyển pháp luân thanh tịnh.

Lại có tiểu thiên giới

Số vi trần Bồ tát

Còn dư lại tám đời

Sẽ được thành Phật đạo.

Lại có bốn, ba, hai

Tứ thiên hạ như thế

Số vi trần Bồ tát

Theo số đời thành Phật.

Hoặc một tứ thiên hạ

Số vi trần Bồ tát

Còn dư có một đời

Sẽ thành nhất thiết trí.

Hàng chúng sinh như thế

Nghe Phật thọ dài lâu

Ðược vô lượng quả báo

Vô lậu rất thanh tịnh.

Lại có tám thế giới

Số vi trần chúng sinh

Nghe Phật nói thọ mệnh

Ðều phát tâm Vô thượng.

4. Thế Tôn nói vô lượng

Bất khả tư nghì pháp

Nhiều được có lợi ích

Như hư không vô biên

Rưới hoa thiên mạn đà

Hoa ma ha mạn đà

Thích, Phạm như hằng sa

Vô số cõi Phật đến

Rưới chiên đàn trầm thủy

Lăng xăng loạn sạ xuống

Như chim bay liệng đáp

Rải cúng các đức Phật.

Trống trời trong hư không

Tự nhiên vang tiếng mầu,

Áo trời nghìn muôn thứ

Xoay chuyển mà rơi xuống

Các lò hương đẹp báu

Ðốt hương quý vô giá

Tự nhiên đều cùng khắp

Cúng dường các Thế Tôn.

Chúng đại Bồ tát kia

Cầm phang lọng bảy báu

Cao đẹp muôn ức thứ

Thứ lớp đến Phạm Thiên.

Trước mỗi mỗi đức Phật

Tràng báu treo phang tốt

Cũng dùng nghìn muôn kệ

Ca vịnh các Như Lai

Như thế các món việc

Từ xưa chưa từng có

Nghe Phật thọ vô lượng

Tất cả đều vui nừng

Phật tiếng đồn mười phương

Rộng lợi ích chúng sinh

Tất cả đủ căn lành

Ðể trợ tâm Vô thượng.

5. Lúc bấy giờ, Phật bảo Ngài Di Lặc đại Bồ tát rằng: "A Dật Ða! Có chúng sinh nào nghe đức Phật thọ mệnh dài lâu như thế, nhẫn đến có thể sinh một niệm tín giải, được công đức không hạn lượng được. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn, vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong tám muôn ức na do tha kiếp tu năm pháp Ba la mật: bố thí Ba la mật, trì giới Ba la mật, nhẫn nhục Ba la mật, tinh tấn Ba la mật, thiền định Ba la mật, trừ trí huệ Ba la mật, đem công đức này sánh với công đức tín giải trước, trăm phần, nghìn phần, trăm nghìn muôn ức phần chẳng kịp một, nhẫn đến tính đếm, thí dụ, không thể biết được. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn có công đức như thế mà thối thất nơi Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thời quyết không có lẽ đó.

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Nếu người cầu huệ Phật.

Trong tám mươi muôn ức

Na do tha kiếp số

Tu năm Ba la mật

Ở trong các kiếp đó

Bố thí cúng dường Phật

Và Duyên giác đệ tử

Cùng các chúng Bồ tát,

Ðồ uống ăn báu lạ

Thượng phục và đồ nằm

Chiên đàn dựng Tinh xá

Dùng vườn rừng trang nghiêm

Bố thí như thế thảy

Các món đều vi diệu

Hết các kiếp số này

Ðể hồi hướng Phật đạo,

Nếu lại gìn cấm giới

Thanh tịnh không thiếu sót

Cầu nơi đạo Vô thượng

Ðược các Phật ngợi khen

Nếu lại tu nhẫn nhục

Trụ nơi chỗ điều nhu

Dầu các ác đến hại

Tâm đó chẳng khuynh động

Các người có được pháp

Cưu lòng tăng thượng mạn

Bị bọn này khinh não

Như thế đều nhẫn được

Hoặc lại siêng tinh tấn

Chí niệm thường bền vững

Trong vô lượng ức kiếp

Một lòng chẳng trễ thôi.

Lại trong vô số kiếp

Trụ nơi chỗ vắng vẻ

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Trừ ngủ thường nhiếp tâm

Do các nhân duyên đó

Hay sinh các thiền định,

Tám mươi ức muôn kiếp

An trụ tâm chẳng loạn

Ðem phước thiền định đó

Nguyện cầu đạo Vô thượng

Ta được nhất thiết trí

Tận ngằn các thiền định

Người đó trong trăm nghìn

Muôn ức kiếp số lâu

Tu các công đức này

Như trên đã nói rõ.

Có thiện nam, tín nữ.

Nghe ta nói thọ mệnh

Nhẫn đến một niềm tin

Phước đây hơn phước kia

Nếu người trọn không có

Tất cả các nghi hối

Thân tâm giây lát tin

Phước đó nhiều như thế.

Nếu có các Bồ tát

Vô lượng kiếp hành đạo

Nghe ta nói thọ mệnh

Ðây thời tin nhận được

Các hàng người như thế

Ðảnh thọ kinh điển này

Nguyện ta thuở vị lai

Sống lâu độ chúng sinh

Như Thế Tôn ngày nay

Vua trong các họ Thích

Ðạo tràng rền tiếng lớn

Nói pháp không sợ sệt

Chúng ta đời vị lai

Ðược mọi người tôn kính

Lúc ngồi nơi đạo tràng

Nói thọ mệnh cũng thế,

Nếu có người thâm tâm

Trong sạch mà ngay thực

Học rộng hay tổng trì

Tùy nghĩa giải lời Phật

Những người như thế đó

Nơi đây không có nghi.

7. Lại A Dật Ða! Nếu có người nghe nói đức Phật thọ mệnh dài lâu, hiểu ý thú của lời nói đó, người này được công đức không có hạn lượng, có thể sinh huệ Vô thượng của Như Lai. Huống là người rộng nghe kinh này, hoặc bảo người nghe, hoặc thọ trì, hoặc bảo người thọ trì, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, hoặc đem hoa hương, chuỗi ngọc, tràng phang, lọng nhiễu, dầu thơm, đèn nến cúng dường quyển kinh, công đức của người này vô lượng vô biên có thể sinh nhất thiết chủng trí.

A Dật Ða! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe ta nói thọ mệnh dài lâu sinh lòng tin hiểu chắc, thời chính là thấy đức Phật thường ở núi Kỳ Xà Quật, cùng chúng Bồ tát lớn và hàng Thanh văn vây quanh nói pháp.

Lại thấy cõi Ta bà này đất bằng lưu ly ngang liền bằng phẳng, dây vàng Diêm phù đàn để ngăn tám nẻo đường, cây báu bằng hàng, các đài lầu nhà thảy đều các thứ báu hợp thành, chúng Bồ tát đều ở trong đó. Nếu có người tưởng quán được như thế, phải biết đó là tướng tin hiểu sâu chắc.

Và lại sau đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh này mà không chê bai, sinh lòng tùy hỷ phải biết đó đã là tướng tin hiểu sâu chắc, huống là người đọc, tụng, thọ trì kinh này, người này thời là kẻ đầu đội đức Như Lai.

A Dật Ða! Thiện nam tử cùng thiện nữ nhân đó chẳng cần lại vì ta mà dựng chùa tháp, và cất Tăng phường dùng bốn sự cúng dường để cúng dường chúng Tăng. Vì sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì, đọc tụng kinh điển này thời là đã dựng tháp, tạo lập Tăng phường cúng dường chúng Tăng, thời là đem Xá lợi của Phật dựng tháp bảy báu cao rộng nhỏ lần lên đến trời Phạm Thiên, treo các phan lọng và các linh báu, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, các trống, kỹ nhạc, ống tiêu, ống địch, không hầu các thứ múa chơi, dùng tiếng giọng tốt ca ngâm khen ngợi, thời là ở trong vô lượng nghìn muôn ức kiếp đã làm việc cúng dường đó rồi.

A Dật Ða! Nếu sau khi ta diệt độ, nghe kinh điển này, có người hay thọ trì, hoặc tự chép hoặc bảo người chép, thời là dựng lập Tăng phường, dùng gỗ chiên đàn đỏ làm các cung điện nhà cửa ba mươi hai sở, cao bằng tám cây đa la, cao rộng nghiêm đẹp, trăm nghìn Tỳ kheo ở nơi trong đó. Vườn, rừng, ao tắm, chỗ kinh hành, hang ngồi thiền, y phục đồ uống ăn, giường nệm, thuốc thang tất cả đồ vui dẫy đầy trong đó, Tăng phường có ngần ấy trăm nghìn muôn ức nhà gác như thế, số đó nhiều vô lượng, dùng để hiện tiền cúng dường nơi ta và Tỳ kheo tăng.

Cho nên tT nói: Sau khi Ta diệt độ nếu có người thọ trì, đọc tụng, vì người khác nói. Hoặc mình chép hoặc bảo người chép, cúng dường kinh quyển thời chẳng cần lại dựng chùa tháp và tạo lập Tăng phường cúng dường chúng Tăng. Huống lại có người hay thọ trì kinh này mà gồm tu hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm, trí huệ, công đức của người đây rất thù thắng vô lượng vô biên.

Thí như hư không, Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phía trên, dưới vô lượng vô biên, công đức của người đó cũng lại như thế vô lượng vô biên mau đến bậc nhất thiết chủng trí. Nếu có người đọc tụng thọ trì kinh này vì người khác nói, hoặc tự chép, hoặc bảo người chép, lại có thể dựng tháp cùng tạo lập Tăng phường cúng dường khen ngợi chúng Thanh văn tăng, cũng dùng trăm nghìn muôn pháp ngợi khen mà ngợi khen công đức của Bồ tát.

Lại vì người khác dùng các món nhân duyên theo nghĩa giải nói kinh Pháp Hoa này, lại có thể thanh tịnh trì giới cùng người nhu hòa mà chung cùng ở, nhẫn nhục không sân, chí niệm bền vững, thường quý ngồi thiền được các món định sâu, tinh tấn mạnh mẽ nhiếp các pháp lành, căn lành trí sáng, giỏi gạn hỏi đáp.

A Dật Ða! Nếu sau khi ta diệt độ các thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì, đọc tụng kinh điển này lại có các công đức lành như thế, phải biết người đó đã đến đạo tràng gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ngồi dưới cội đạo thọ.

A Dật Ða! Chỗ của thiện nam tử cùng thiện nữ nhân đó hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc đi, trong đó bèn nên xây tháp, tất cả trời người đều phải cúng dường như tháp của Phật.

Khi ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8. Sau khi ta diệt độ

Hay phụng trì kinh này

Người đó phúc vô lượng

Như trên đã nói rõ.

Ðó thời là đầy đủ

Tất cả các cúng dường

Dùng Xá lợi xây tháp

Bảy báu để trang nghiêm.

Chùa chiền rất cao rộng

Nhỏ lần đến Phạm thiên

Linh báu nghìn muôn ức

Gió động vang tiếng mầu,

Lại trong vô lượng kiếp

Mà cúng dường tháp đó

Hoa hương, các chuỗi ngọc

Thiên y, các kỹ nhạc

Thắp đèn dầu nến thơm

Quanh khắp thường soi sáng,

Lúc đời ác mạt pháp

Người hay trì kinh này

Thời là đã đầy đủ

Các cúng dường như trên.

Nếu hay trì kinh này

Thời như Phật hiện tại

Dùng ngưu đầu chiên đàn

Dựng Tăng phường cúng dường

Nhà ba mươi hai sở

Cao tám cây Ða la

Ðồ ngon y phục tốt

Giường nằm đều đầy đủ.

Trăm nghìn chúng nương ở

Vườn rừng các ao tắm

Chỗ kinh hành, ngồi thiền

Các món đều nghiêm tốt.

Nếu có lòng tín hiểu

Thọ trì, đọc tụng biên

Nếu lại bảo người biên

Và cúng dường kinh quyển.

Rải hoa hương, hương bột

Dùng tu mạn, chiêm bặc

A đề, mục đa dà

Ướp dầu thường đốt đó

Người cúng dường như thế

Ðược công đức vô lượng

Như hư không vô biên

Phước đó cũng như thế.

Huống lại trì kinh này

Gồm bố thí trì giới,

Nhẫn nhục ưa thiền định

Chẳng sân, chẳng ác khẩu

Cung kính nơi tháp miếu

Khiêm hạ các Tỳ kheo

Xa lìa tâm tự cao

Thường nghĩ suy trí huệ,

Có gạn hỏi chẳng sân

Tùy thuận vì giải nói

Nếu làm được hạnh đó

Công đức chẳng lường được.

Nếu thấy Pháp sư này

Nên công đức như thế

Phải dùng hoa trời rải

Áo trời trùm thân kia

Ðầu mặt tiếp chân lạy

Sinh lòng tưởng như Phật,

Lại nên nghĩ thế này:

Chẳng lâu đến đạo thọ

Ðược vô lậu vô vi

Rộng lợi các người trời

Chỗ trụ chỉ của kia

Kinh hành hoặc ngồi nằm

Nhẫn đến nói một kệ

Trong đây nên xây tháp

Trang nghiêm cho tốt đẹp

Các món đem cúng dường,

Phật tử ở chỗ này

Thời là Phật thụ dụng

Thường ở nơi trong đó

Kinh hành và ngồi nằm.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ NĂM

Toan cầu an lạc, bốn pháp bền tu, thân đặng kế châu nổi tiếng nhà, ba cõi bãi đao binh, bổn và tích đều rõ, sa giới chứng ngộ vô sanh.

Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Đức văn Thù khải giáo, vua giúp chơn thuyên, bền giữ bốn pháp được an nhiên, từ đất vọt lên chúng nhiều nghìn, Ngài A Dật Đa trùng tuyên, thọ lượng rộng vô biên.

Nam mô A Dật Đa Bồ tát. (3 lần)

Thích nghĩa

(1) Rời tất cả tướng: có không v.v... gọi là “thật tướng” (tướng chơn thật), vì tất cả tướng: có không v.v... đều là hư dối cả.

(2) Ni kiền tử: lỏa hình ngoại đạo (đạo ở trần truồng) cũng gọi là: “vô tâm ngoại đạo” (đạo không biết hổ thẹn).

(3) Lộ già da đà: Phái thuận thế ngoại đạo (đạo thuận theo thế tục) nghịch lộ già da đà: Phái nghịch thuận thế ngoại đạo (đạo chống trái với thuận thế ngoại đạo).

(4) Kẻ múa hát.

(5) Chẳng phải thiết đàn ông, như người loại cái, kẻ không nam căn v.v...

(6) Kẻ đồ tể, quân đao phủ.

(7) Sắc, thọ, tưởng, hành, thức ấm hay làm khổ hại nên gọi là ma. Các lòng tham, sân, dục, nghi v.v... thường làm rối rắm, phiền muộn rất khổ hại nên gọi là ma.

(8) Sau khi giáo pháp của đức Thích Ca diệt, mãn tiểu kiếp thứ chín, qua tiểu kiếp thứ 10, thời kỳ kiếp giảm người thọ 80.000 tuổi, đức Di Lặc Bồ tát hiện thân thành Phật ở cõi này hiệu là “Di Lặc Phật”.

(9) Tên của Di Lặc Bồ tát, Tàu dịch là “Vô Năng Thắng”, còn Di Lặc là họ, dịch là “Từ thị”.

(10) Có bốn:

1. Thiết luân vương (cai trị 1 châu thiên hạ).

2. Đồng luân vương (cai trị 2 châu thiên hạ).

3. Ngân luân vương (cai trị 3 châu thiên hạ).

4. Kim luân vương (cai trị 4 châu thiên hạ).

Vì phước nghiệp đời trước nên khi lên ngôi vua, có xe báu tự nhiên, hoặc bằng sắt, đồng, bạc, vàng hiện ra Vua dùng xe đó mà đi tuần hay dẹp giặc trong cõi mình cai trị nên gọi là: “chuyển luân thánh vương”.

(11) Tiếng Phạm, dịch là “chánh định”. Mới vào cõi định gọi là “nhập”, ở trong cõi định gọi là “trụ”, từ cõi định dậy gọi là “xuất” (ra).

(12) Những sách nói về phương pháp trị bịnh.

(13) Sức tri nhận chắc nơi thể vô sanh của các pháp.

(14) “Đà la ni” tiếng Phạn, dịch là “tổng trì”, được môn văn trì Đà la ni này thời nghe pháp đều có thể hiểu nhớ tất cả.

(15) Đặng môn này thời ưa thích nói pháp không nhàm, Không trệ ngại, tài biện luận vô tận.

(16) Ngoài bốn phía núi Tu Di, trong biển “đại hàm hải” có 4 châu: 1. Đông Thắng Thần châu. 2. Tây Ngưu Hóa châu, 3. Bắc Cu Lô châu. 4. Nam Thiệm Bộ châu cũng gọi Nam Diêm Phù Đề chính là cõi đất chúng ta hiện ở.

(17) Vì nhơn duyên nghe pháp mà đặng lợi ích.

SỰ TÍCH TẢ KINH CỨU BẠN ĐỒNG HỌC

Đời Tùy, niên hiệu Đại Nghiệp, có vị Khách Tăng đi đến miền núi Thái Sơn, muốn tạm nghỉ. Người giữ miếu nói: “Đây không có nhà nào khác, chỉ dưới hiên của miếu thần có thể tạm nghỉ, nhưng vì gần đây, những người nghỉ nơi đó đều chết cả”.

Khách Tăng nói: “Không hề gì cho ta tạm nghỉ nơi đó”. Người giữ miếu bất đắc dĩ y lời dọn giường cho khách Tăng nghỉ dưới hiên miếu.

Tối đến, khách Tăng ngồi ngay thẳng tụng kinh. Ứơc chừng một canh sau, nghe trong màn có tiếng vàng ngọc khua, giây lát có vị thần từ trong màn ra lễ lạy Khách Tăng. Khách Tăng nói: “Nghe người nói trước đây nhiều người bị chết tại chốn này, có phải là Đàn Việt hại đó chăng, xin chớ hại ta”. Thần nói: “Ngày trước tình cờ những người mạng số sắp chết, nghe tiếng động của đệ tử, nhơn quá sợ mà chết, chớ chẳng phải làm hại, xin Thầy chớ lo”. Khách Tăng mời Thần ngồi nói chuyện. Lát sau khách Tăng hỏi: “nghe nói Thần Thái Sơn cai trị loài quỉ, có thật chăng”?

Thần đáp: “Đệ tử phước bạc, chính có thế. Có phải Thầy muốn biết rõ việc người thân của Thầy đã chết chăng”?

Tăng nói: Ta có hai người bạn đồng học đã chết muốn thấy đó.

Thần hỏi niên hiệu rồi nói: “Một người đã đầu thai làm người, còn một người bị tội nặng đương ở Địa ngục, không thể kêu đến nếu Thầy muốn thấy cũng có thể được”.

Tăng rất mừng, liền đứng dậy đi theo Thần. Không bao xa thấy nhà ngục cháy đỏ rực. Thần dắt Tăng vào một nhà, xa thấy một người đương ở trong lửa rên la nói không ra tiếng, thân thể nám đen không nhìn được, mùi thịt cháy hôi khét khiến người đau lòng.

Thần nói: Chính ông ấy đó, Thầy còn muốn đi xem vài nơi khác chăng”?

Tăng buồn rầu xin trở về. Giây lát đến miếu, lại cùng Thần ngồi, Tăng hỏi Thần cách cứu bạn học. Thần nói: “có thể đặng lắm. Thầy nếu tả được cho ông ấy một bộ kinh Pháp Hoa, thời chắc ông ấy đặng khỏi”.

Bấy giờ gần sáng. Thần từ biệt Tăng vào trong.

Sáng, người giữ miếu thấy khách Tăng vẫn yên lành, lấy làm lại hỏi. Tăng thuật chuyện trong đêm lại.

Khách Tăng về chùa vì bạn tả kinh Pháp Hoa, tả xong, đóng bìa cắt xén tử tế lại đem kinh đến miếu. Đêm đó thần ra chào hỏi mừng rỡ, hỏi thăm đến có việc chi. Khách Tăng đem chuyện tả kinh xong nói với Thần.

Thần nói: “Đệ tử đã biết rõ việc ấy, Thầy vì bạn tả kinh, lúc mới chép đề mục thời ông ấy đã khỏi khổ, hiện đã thác sanh vào nhơn gian rồi, chỗ này không được tịnh khiết không thể thờ kinh, xin Thầy đem kinh về chùa”.

Cùng nhau đàm luận, gần sáng, Thần từ biệt khách Tăng vào trong, Tăng lại mang kinh về chùa.

Quan Biệt Giá Trương Đức tự nói: “Khi ông chấn nhậm ở Châu Duyện có biết rõ việc trên”.

(Lại bộ Thượng thơ Đường Lâm biên)


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Sáu

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Tùy Hỉ Công Ðức” Thứ Mười Tám

1. Lúc bấy giờ, Ngài Di Lặc Ðại Bồ tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào nghe kinh Pháp Hoa này mà tùy hỉ đó, đặng bao nhiêu phước đức? Liền nói kệ rằng:

Sau khi Phật diệt độ

Có người nghe kinh này

Nếu hay tùy hỉ đó (1)

Lại đặng bao nhiêu phước?

2. Khi đó Phật bảo Ngài Di Lặc Ðại Bồ tát rằng: A Dật Ða! Sau khi Như Lai diệt độ nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và người trí khác, hoặc lớn, hoặc nhỏ nghe kinh này mà tùy hỉ rồi, từ trong pháp hội ra đến chỗ khác, hoặc tại tăng phường, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc thành ấp, đường xá, xóm làng, ruộng rẫy, đem pháp đúng như chỗ đã nghe mà vì cha mẹ tôn thân, thiện hữu tri thức tùy sức diễn nói. Các người đó nghe rồi tùy hỷ lại đi chuyển dạy người khác, người khác nghe rồi cũng tùy hỷ chuyển dạy, xoay vần như thế đến người thứ năm mươi.

3. A Dật Ða! Công đức tùy hỷ của thiện nam tử, thiện nữ nhơn thứ năm mươi đó, ta nay nói ông phải lóng nghe.

Nếu bốn trăm muôn ức vô số thế giới có sáu đường chúng sanh trong bốn loài sanh (2); noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hoặc có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng, không chưn, hai chưn, bốn chưn, nhiều chưn, tất cả trong số chúng sanh như thế, có người cầu phước tùy theo đồ ưa thích của chúng muốn điều cung cấp cho đó. Mỗi mỗi chúng sanh cho các trân bảo tốt: vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách đầy cả Diêm phù đề và voi ngựa, xe cộ, bảy báu làm thành những cung điện lầu gác v.v...

Vị đại thí chủ đó bố thí như thế đủ tám mươi năm rồi mà nghĩ rằng: Ta đã ban cho chúng sanh những đồ ưa thích tùy theo ý muốn, những chúng sanh này đều đã già suy tuổi quá tám mươi; tóc bạc mặt nhăn gần chết chẳng lâu, ta phải dùng Phật Pháp mà dạy bảo dìu dắt chúng. Liền nhóm chúng sanh đó tuyên bày pháp giáo hóa, chỉ dạy lợi ích vui mừng. Ðồng thời đặng đạo Tu đà hoàn, đạo Tư đà hàm, đạo A na hàm, đạo A la hán dứt hết cả hữu lậu, với những thiền định sâu đều đặng tự tại, đủ tám giải thoát. Ý ông nghĩ sao? Công đức của đại thí chủ đó đặng có nhiều chăng?

Ngài Di Lặc bạch Phật rằng: Thế Tôn! Công đức của người đó rất nhiều vô lượng vô biên. Nếu vị thí chủ đó chỉ thí tất cả đồ ưa thích cho chúng sanh, công đức đã vô lượng rồi, huống là làm cho đều đặng quả A la hán.

Phật bảo Ngài Di Lặc: Ta nay rành rẽ nói cùng ông, người đó đem tất cả đồ vui thích thí cho sáu đường chúng sanh trong bốn trăm ức vô số thế giới, lại khiến đặng quả A la hán, công đức của người đó đặng chẳng bằng công đức của người thứ năm mươi kia nghe một bài kệ kinh Pháp Hoa mà tùy hỷ, trăm phần, nghìn phần, trăm nghìn muôn ức phần chẳng bằng một phần, nhẫn đến tính, đếm, thí dụ không thể biết được. A Dật Ða! Người thứ năm mươi như thế, xoay vần nghe kinh Pháp Hoa, công đức tùy hỷ còn vô lượng vô biên a tăng kỳ, huống là người tối sơ ở trong hội nghe kinh mà tùy hỷ, phước đó lại hơn vô lượng vô biên a tăng kỳ không có thể sánh được.

4. A Dật Da! Nếu có người vì kinh này mà qua đến tăng phường, hoặc ngồi hoặc đứng, trong chốc lát nghe nhận, nhờ công đức đó chuyển thân sanh ra đặng voi, ngựa, xe cộ, kiệu, cáng bằng trân bảo tốt đẹp bực thượng và đặng ở thiên cung. Nếu có người ngồi trong chỗ giảng pháp, sau lại có người đến bèn khuyên mời ngồi nghe, hoặc chia chỗ cho ngồi, công đức của người đó chuyển thân đặng chỗ ngồi của Ðế Thích hoặc chỗ ngồi của Phạm Vương hoặc hoặc chỗ ngồi của Chuyển Luân Thánh Vương.

5. A Dật Ða! Nếu lại có người nói với người khác rằng: Có Kinh tên Pháp Hoa nên cùng nhau qua nghe, liền nhận lời bảo nhẫn đến nghe trong giây lát, công đức của người đó, chuyển thân đặng với Ðà La Ni Bồ tát, sanh chung một chỗ, căn tánh lanh lợi, có trí huệ, trăm nghìn muôn đời, trọn chẳng ngậm câm, hơi miệng chẳng hôi, lưỡi thường không bịnh, miệng cũng không bịnh, răng chẳng dơ đen, chẳng vàng, chẳng thưa, cũng chẳng thiếu rụng, chẳng so le, chẳng sếu gãy, môi chẳng trớt, cũng chẳng rút túm, chẳng thô rít, chẳng ghẻ mụt, cũng chẳng sứt hư, cũng chẳng cong vẹo, cũng chẳng dày lớn, cũng chẳng đen nám, không có các tướng đáng chê. Mũi chẳng xẹp giẹp, cũng chẳng cong gãy, sắc mặt chẳng đen, chẳng hẹp dài cũng chẳng hóm gãy, không có tất cả tướng chẳng đáng ưa, môi lưỡi răng nướu thảy điều nghiêm tốt, mũi lớn cao thẳng, diện mạo tròn đầy, mày cao mà dài, trán rộng bằng thẳng, tướng người đầy đủ, đời đời sanh ra thấy Phật, nghe pháp tin nhận lời Phật dạy bảo.

A Dật Ða! Ngươi hãy xem khuyên nơi một người khiến qua nghe pháp mà công đức như thế, huống là một lòng nghe, nói, đọc, tụng, lại ở trong đại chúng vì người phân biệt, đúng như lời dạy mà tu hành.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Nếu người trong pháp hội

Ðặng nghe kinh điển này

Nhẫn đến một bài kệ

Tùy hỷ vì người nói

Xoay vần lại như thế

Ðến người thứ năm mươi

Người rốt sau đặng phước

Nay sẽ phân biệt đó

Như có đại thí chủ

Cung cấp vô lượng chúng

Ðầy đủ tám mươi năm

Tùy ý chúng ưa muốn

Thấy chúng: tướng già suy

Tóc bạc và mặt nhăn

Răng thưa, thân khô gầy

Nghĩ kia sắp phải chết

Ta nay phải nên dạy

Cho chúng đặng đạo quả

Liền vì phượng tiện nói

Pháp Niết bàn chơn thật

Ðời đều chẳng bền chắc

Như bọt bóng ánh nắng

Các ngươi đều nên phải

Mau sanh lòng nhàm lìa

Các người nghe pháp đó

Ðều đặng A La Hán

Ðầy đủ sáu thần thông

Ba minh, tám giải thoát

Người năm mươi rốt sau

Nghe một kệ tùy hỷ

Người này phước hơn kia

Không thể thí dụ đặng

Xoay vần nghe như thế

Phước đó còn vô lượng

Huống là trong pháp hội

Người tùy hỷ ban đầu

Nếu có khuyên một người

Dắt đến nghe Pháp Hoa

Rằng: Kinh này rất mầu

Nghìn muôn kiếp khó gặp

Liền nhận lời qua nghe

Nhẫn đến nghe giây lát

Phước báu của người đó

Nay nên phân biệt nói

Ðời đời miệng không bịnh

Răng chẳng thưa vàng đen

Môi chẳng dày teo thiếu

Không có tướng đáng chê

Lưỡi chẳng khô đen ngắn

Mũi cao lớn mà ngay

Trán rộng và bằng phẳng

Mặt, mắt đều đoan nghiêm

Ðược người thấy ưa mến

Hơi miệng không hôi nhơ

Mùi thơm bông ưu bát

Thường từ trong miệng ra

Nếu cố đến Tăng phường

Muốn nghe kinh Pháp Hoa

Giây lát nghe vui mừng

Nay sẽ nói phước đó:

Sau sanh trong trời người

Ðặng voi, ngựa, xe tốt

Kiệu, cáng bằng trân báu,

Cùng ở cung điện trời.

Nếu trong chỗ giảng pháp

Khuyên người ngồi nghe kinh

Nhơn vì phước đó đặng

Tòa Thích, Phạm, Chuyển luân.

Huống là một lòng nghe

Giải nói nghĩa thú kinh

Đúng như pháp mà tu

Phước đó chẳng lường đặng.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Pháp sư Công Ðức” Thứ Mười Chín

1. Lúc bấy giờ, Phật bảo Ngài Thường Tinh Tấn đại Bồ tát rằng: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ đặng tám trăm công đức nơi mắt, một nghìn hai trăm công đức nơi tai, tám trăm công đức nơi mũi, một nghìn hai trăm công đức nơi lưỡi, tám trăm công đức nơi thân, một nghìn hai trăm công đức nơi ý, dùng những công đức này trang nghiêm sáu căn đều được thanh tịnh.

Thiện nam tử và thiện nữ nhơn đó, nhục nhãn thanh tịnh của cha mẹ sanh ra, thấy khắp cõi tam thiên đại thiên, trong ngoài có những núi, rừng, sông, biển, dưới đến Địa ngục A tỳ, trên đến cõi trời Hữu đảnh, cũng thấy tất cả chúng sanh trong đó và nghiệp nhơn duyên quả báo chỗ sanh ra thảy đều thấy biết.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2. Nếu người ở trong chúng

Dùng tâm không sợ sệt

Nói kinh Pháp Hoa này

Ông nghe công đức đó

Người đó đặng tám trăm

Công đức thù thắng nhãn

Do dùng đây trang nghiêm

Mắt kia rất thanh tịnh.

Mắt thịt cha mẹ sanh

Thấy cả cõi tam thiên

Trong ngoài núi Di Lâu

Núi Tu Di, Thiết Vi

Và các núi rừng khác

Biển lớn nước sông ngòi

Dưới đến ngục A tỳ

Trên đến trời Hữu đảnh

Chúng sanh ở trong đó

Tất cả đều thấy rõ

Dầu chưa đặng thiên nhãn

Sức nhục nhãn như thế.

3. Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có người thiện nam tử, thiện nữ nhơn, thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc biên chép, hoặc giải nói, đặng một nghìn hai trăm nhĩ công đức, dùng tai thanh tịnh đó, nghe khắp cõi tam thiên, dưới đến Địa ngục Vô gián, trên đến trời Hữu đảnh, trong ngoài các thứ lời lẽ giọng tiếng: Tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc la, tiếng buồn than, tiếng ốc; tiếng trống, tiếng chuông, tiếng linh, tiếng cười, tiếng nói, tiếng trai, tiếng gái, tiếng đồng tử, tiếng đồng nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng thánh nhơn, tiếng đáng ưa, tiếng chẳng đáng ưa, tiếng trời, tiếng rồng, tiếng Dạ xoa, tiếng Càn thát bà, tiếng A tu la, tiếng Ca lâu la, tiếng Khẩn na la, tiếng Ma hầu na dà, tiếng lửa, tiếng nước, tiếng gió, tiếng Địa ngục, tiếng Súc sanh, tiếng Ngạ quỉ, tiếng Tỳ kheo, tiếng Tỳ kheo ni, tiếng Thanh văn, tiếng Bích chi Phật, tiếng Bồ tát, tiếng Phật. Nói tóm đó, trong cõi tam thiên đại thiên, tất cả trong ngoài các thứ tiếng, dầu chưa đặng thiên nhĩ dùng tai tầm thường của cha mẹ sanh, thảy đều nghe biết, phân biệt các tiếng tăm như thế, mà chẳng hư nhĩ căn.

Lúc có, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

4. Tai cha mẹ sanh ra!

Trong sạch không đục nhơ

Dùng tai này thường nghe

Cả tiếng cõi tam thiên

Tiếng voi, ngựa, trâu, xe

Tiếng chung linh loa cổ

Tiếng cầm, sắc, không hầu

Tiếng ống tiêu, ống dịch

Tiếng ca hay thanh tịnh

Nghe đó mà chẳng ham.

Tiếng vô số giống người

Nghe đều hiểu rõ đặng

Lại nghe tiếng các trời

Tiếng ca rất nhiệm mầu

Và nghe tiếng trai, gái

Tiếng đồng tử, đồng nữ

Trong núi sông hang hiểm

Tiếng Ca lăng tần dà

Cọng mạng các chim thảy

Ðều nghe tiếng của nó.

Ðịa ngục các đau đớn

Các thứ tiếng độc khổ

Ngạ quỉ đói khát bức

Tiếng tìm cầu uống ăn

Các hàng A tu la

Ở nơi bên biển lớn

Lúc cùng nhau nói năng

Vang ra tiếng tăm lớn

Như thế người nói pháp

An trụ ở trong đây

Xa nghe các tiếng đó

Mà chẳng hư nhĩ căn.

Trong cõi nước mười phương

Cầm thú kêu hô nhau

Người nói kinh Pháp Hoa

Ở đây đều nghe đó. @

Trên các trời Phạm Thiên

Quang âm cùng Biến Tịnh

Nhẫn đến trời Hữu đảnh

Tiếng tăm của kia nói

Pháp sư ở nơi đây

Thảy đều đặng nghe đó. @

Lại có các Bồ tát

Ðọc tụng nơi kinh pháp

Hoặc vì người khác nói

Soạn tập giải nghĩa kinh

Các tiếng tăm như thế

Thảy đều đặng nghe đó.

Các Phật đấng đại thánh

Giáo hóa hàng chúng sanh

Ở trong các đại hội

Diễn nói pháp nhiệm mầu

Người trì Pháp Hoa này

Thảy đều đặng nghe đó.

Cõi tam thiên đại thiên

Các tiếng tăm trong ngoài

Dưới đến ngục A tỳ (3)

Trên đến trời Hữu đảnh (4)

Ðều nghe tiếng tăm kia

Mà chẳng hư nhĩ căn.

Vì tai kia sáng lẹ

Ðều hay phân biệt biết

Người trì kinh Pháp Hoa

Dầu chưa đặng thiên nhĩ

Chỉ dùng tai sanh ra

Công đức đã như thế.

5. Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn, thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, trọn nên tám trăm tỷ công đức dùng tỷ căn thanh tịnh đó nghe khắp cõi Tam thiên đại thiên, trên dưới trong ngoài các thứ mùi: mùi bông tu mạn na, mùi bông xà đề, mùi bông mạt lợi, mùi bông chiêm bặc, mùi bông ba la la, mùi bông sen đỏ, mùi bông sen xanh, mùi bông sen trắng, mùi cây có bông, mùi cây có trái, mùi chiên đàn, mùi trầm thủy, mùi đa ma la bạt, mùi đa dà la, đến trăm nghìn thứ hòa lộn, hoặc là bột, hoặc là viên, hoặc là hương xoa, người trì kinh này ở trong đây đều có thể phân biệt.

Và lại rõ biết mùi chúng sanh: mùi voi, mùi ngựa, mùi dê, trâu v.v... mùi trai, mùi gái, mùi đồng nữ và mùi cỏ cây lùm rừng, hoặc gần, hoặc xa, bao nhiêu thứ có ra, thảy đều đặng nghe rõ biết chẳng lầm.

Người trì kinh này dầu ở nơi đâu cũng nghe mùi trên các cõi trời: mùi cây ba lợi chất đa la, cây câu bệ đà la, cùng mùi bông mạn đà la, bông đại mạn đà la, bông mạn thù sa, bông đại mạn thù sa, mùi gỗ chiên đàn, trầm thủy, các thứ hương bột, mùi các hoa đẹp. Các thứ hương trời như thế hòa hiệp thoảng ra mùi thơm đều nghe biết.

Lại nghe mùi nơi thân của các vị trời: mùi của Thích Ðề Hoàn Nhơn lúc ở trên thắng điện, năm món dục vui chơi, hoặc mùi lúc ở trên diệu pháp đường vì các vị trời Ðao lợi nói pháp, hoặc mùi lúc dạo chơi trong vườn, cùng mùi nơi thân xác của các vị trời nam, trời nữ khác, thảy đều xa nghe biết. Xoay vần như thế nhẫn đến trời Phạm thế, trên đến mùi nơi thân các vị trời Hữu đảnh cũng đều nghe biết.

Và nghe mùi hương của các vị trời đốt và mùi Thanh văn, mùi Bích chi Phật, mùi Bồ tát, mùi nơi thân các đức Phật, cũng đều xa nghe biết chỗ ở của đó. Dầu nghe biết hương ấy, nhưng nơi tỷ căn không hư không sai, nếu muốn phân biệt vì người khác nói, ghi nhớ không lầm.

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

6. Người đó mũi thanh tịnh

Ở trong thế giới này

Hoặc vật thơm hoặc vật hôi

Các thứ đều nghe biết.

Tu mạn na xà đề

Ða ma la, chiên đàn

Trầm thủy và mùi quế

Mùi các thứ bông trái

Và biết mùi chúng sanh

Mùi nam tử, nữ nhơn

Người nói pháp ở xa

Nghe mùi biết chỗ nào.

Ðại thế chuyển luân vương

Tiểu chuyển luân và con

Bầy tôi các cung nhơn

Nghe mùi biết chỗ nào.

Trân bửu đeo nơi thân

Cùng tạng báu trong đất

Bửu nữ của luân vương

Nghe hương biết chỗ nào

Mọi người đều nghiêm thân

Y phục và chuỗi ngọc

Các thứ hương xoa thân

Nghe mùi biết thân kia.

Các trời hoặc đi, ngồi

Dạo chơi và thần biến

Người trì Pháp Hoa này

Nghe mùi đều biết đặng.

Các cây bông trái hột

Và mùi thơm dầu tô

Người trì kinh ở đây

Ðều biết ở chỗ nào.

Các núi, chỗ sâu hiểm

Cây chiên đàn nở hoa

Chúng sanh ở trong đó

Nghe mùi đều biết đặng.

Núi Thiết vi, biển lớn

Các chúng sanh trong đất

Người trì kinh nghe mùi

Ðều biết đó ở đâu

Trai gái A tu la

Và quyến thuộc của chúng

Lúc đánh cãi, dạo chơi

Nghe hương đều biết đặng.

Ðồng trống, chỗ hiểm trở

Sư tử, voi, hùm, sói

Bò rừng, trâu nước thảy

Nghe hương biết chỗ ở.

Nếu có người nghén chửa

Chưa rõ trai hay gái

Không căn và phi nhơn

Nghe mùi đều biết đặng.

Do vì sức nghe mùi

Biết người mới nghén chửa

Thành tựa hay chẳng thành

An vui đẻ con phước

Do vì sức nghe mùi

Biết tâm niệm trai, gái

Lòng nhiễm dục ngu, hờn

Cũng biết người tu hành

Các phục tàng trong đất

Vàng, bạc, các trân bửu

Ðồ đồng chỗ đựng chứa

Nghe mùi đều biết được

Các thứ chuỗi ngọc báu

Không ai biết giá mấy

Nghe mùi biết mắc rẻ

Chỗ sản xuất ở đâu.

Các thứ hoa trên trời

Mạn đà, Mạn thù sa

Cây Ba lợi chất đa

Nghe mùi đều biết được.

Các cung điện trên trời

Thượng, trung, hạ sai khác

Các hoa báu trang nghiêm

Nghe hương đều biết được.

Thắng điện vườn rừng trời

Các nhà diệu pháp đường

Ở trong đó vui chơi

Nghe mùi đều biết được.

Các trời hoặc nghe pháp

Hoặc lúc hưởng ngũ dục

Lại, qua, đi, ngồi, nằm

Nghe mùi đều biết được.

Thiên nữ mặc y phục

Hoa hương tốt trang nghiêm

Lúc quanh khắp dạo chơi

Nghe mùi đều biết được.

Lần lựa lên như thế

Nhẫn đến trời Phạm thế

Nhập thiền cùng xuất thiền

Nghe mùi đều biết được.

Trời Quang âm biến tịnh

Nhẫn đến nơi Hữu đảnh

Mới sanh và lui chết

Nghe hương đều biết được.

Các hàng Tỳ kheo chúng

Nơi pháp thường tinh tấn

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Và đọc tụng kinh điển

Hoặc ở dưới rừng cây

Chuyên ròng mà ngồi thiền

Người trì kinh nghe mùi

Ðều biết ở tại đâu.

Bồ tát chí bền chắc

Ngồi thiền hoặc đọc tụng

Hoặc vì người nói pháp

Nghe mùi đều biết được.

Nơi nơi chỗ Thế Tôn

Ðược mọi người cung kính

Thương chúng mà nói pháp

Nghe mùi đều biết được.

Chúng sanh ở trước Phật

Nghe kinh đều mừng vui

Ðúng pháp mà tu hành

Nghe mùi đều biết đặng.

Dầu chưa đặng vô lậu

Pháp sanh tỷ của Bồ tát

Mà người trì kinh đây

Trước đặng tướng mũi này.

7. Lại nữa Thường Tinh Tấn! Nếu có thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, đặng một nghìn hai trăm thiệt công đức.

Những món hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc ngon, hoặc dở và các vật đắng chát, ở trên lưỡi của người đó, đều biến thành vị ngon như vị cam lồ trên trời, không món nào là chẳng ngon.

Nếu dùng thiệt căn đó ở trong đại chúng nói pháp có chỗ diễn ra tiếng sâu mầu có thể vào tâm chúng, đều làm cho vui mừng sướng thích.

Lại các vị Thiên tử, Thiên nữ, các trời Thích, Phạm, nghe tiếng tăm thâm diệu này diễn nói ngôn luận thứ đệ, thảy đều đến nghe. Và các hàng long, long nữ, Dạ xoa, Dạ xoa nữ, Càn thát bà, Càn thát bà nữ, A tu la, A tu la nữ, Ca lầu la, Ca lầu la nữ, Khẩn na la, Khẩn na la nữ, Ma hầu la dà, Ma hầu la dà nữ, vì để nghe pháp mà đều gần gũi cung kính cúng dường.

Và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, quần thần, quyến thuộc, tiểu Chuyển luân vương, đại Chuyển luân vương, bảy báu, nghìn người con cùng quyến thuộc trong ngoài, ngồi cung điện đồng đến nghe pháp.

Vì vị Bồ tát này khéo nói pháp, nên hàng Bà la môn, Cư sĩ, nhơn dân trong nước trọn đời theo hầu cúng dường. Lại các Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ tát các đức Phật thường ưa thấy người đó, người đó ở chỗ nào, các đức Phật đều xoay về phía đó nói pháp, người đó đều hay thọ trì tất cả Phật pháp. Lại có thể nói ra tiếng pháp sâu mầu.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8. Người đó lưỡi thanh tịnh

Trọn không thọ vị xấu

Người đó ăn uống chi

Ðều biến thành cam lộ

Dùng tiếng hay thanh tịnh

Ở trong chúng nói pháp

Ðem các nhân duyên dụ

Dẫn dắt lòng chúng sanh

Người nghe đều vui mừng

Bày đồ cúng dường tốt

Các Trời, Rồng, Dạ xoa

Cùng A tu la thảy

Ðều dùng lòng cung kính

Mà đồng đến nghe pháp

Người nói kinh pháp đó

Nếu muốn dùng tiếng mầu

Khắp cùng cõi Tam thiên

Tùy ý liền được đến

Ðại, tiểu Chuyển luân vương

Và nghìn con quyến thuộc

Chắp tay lòng cung kính

Thường đến nghe thọ pháp

Các Trời, Rồng, Dạ xoa

La sát, Tỳ xá xà

Cũng dùng lòng vui mừng

Thường ưa đến cúng dường

Phạm thiên vương, Ma vương,

Tự tại, đại tự tại

Các chúng trời như thế

Thường đến chỗ người đó

Các Phật cùng đệ tử

Nghe người nói tiếng pháp

Thương nhớ giữ gìn cho

Hoặc lúc vì hiện thân.

9. Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu có thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn thọ trì, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép đặng tám trăm thân công đức, đặng thân thanh tịnh như lưu ly sạch chúng sanh ưa thấy. Vì thân đó trong sạch nên chúng sanh trong cõi Tam thiên đại thiên, lúc sanh lúc chết, trên dưới, tốt xấu, sanh chỗ lành, chỗ dữ v.v... đều hiện rõ trong đó.

Và núi Thiết vi, núi Ðại Thiết vi, núi Di lâu, núi Ðại Di lâu v.v... các núi cùng chúng sanh ở trong đó đều hiện rõ trong thân, dưới đến Địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu đảnh cảnh vật cùng chúng sanh đều hiện rõ trong thân. Hoặc là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát cùng chư Phật nói pháp đều hiện sắc tượng ở trong thân.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10. Nếu người trì Pháp Hoa

Thân thể rất thanh tịnh

Như lưu ly sạch kia

Chúng sanh đều ưa thấỵ

Lại như gương sáng sạch

Ðều thấy các sắc tượng

Bồ tát nơi tịnh thân

Thấy cả vật trong đời

Chỉ riêng mình thấy rõ

Người khác không thấy được.

Trong cõi nước Tam thiên

Tất cả các chúng sanh

Trời, người, A tu la

Ðiạ ngục, quỉ, Súc sanh

Các sắc tượng như thế

Ðều hiện rõ trong thân.

Cung điện của các trời

Nhẫn đến trời Hữu đảnh

Núi Thiết vi, Di lâu

Núi Ma ha Di lâu

Các biển nước lớn thảy

Ðều hiện ở trong thân

Các Phật cùng Thanh văn

Phật tử Bồ tát thảy

Hoặc riêng, hoặc tại chúng

Nói pháp thảy đều hiện

Dầu chưa đặng diệu thân

Pháp tánh sạch các lậu

Dùng thân thanh tịnh thường

Tất cả hiện trong đó.

11. Lại nữa Thường Tinh Tấn! Sau khi Ðức Như Lai diệt độ, nếu có người thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, thời đặng một nghìn hai trăm ý công đức. Dùng ý căn thanh tịnh đó nhẫn đến nghe một kệ, một câu, suốt thấu vô lượng, vô biên nghĩa, hiểu nghĩa đó rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến một tháng, bốn tháng nhẫn đến một năm. Các pháp nói ra tùy nghĩa thú kia đều thiệt tướng chẳng trái nhau. Nếu nói kinh sách trong đời, lời lẽ trị thế, nghề nghiệp nuôi sống v.v... đều thuận chánh pháp. Sáu đường chúng sanh trong cõi Tam thiên đại thiên, lòng nghĩ, tưởng, lòng động tác, lòng hí luận, thảy đều biết đó. Dầu chưa đặng trí huệ vô lậu mà ý căn thanh tịnh như thế người đó có suy nghĩ, tính lường, nói năng những chi thời đều là Phật pháp cả, không có gì là chẳng chơn thiệt, cũng là lời trong kinh của các Phật thuở trước nói.

Bấy giờ đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghiã trên mà nói kệ rằng:

12. Ý người đó thanh tịnh

Sáng lanh không đục nhơ

Dùng ý căn tốt đó

Biết pháp: thượng, trung, hạ

Nhẫn đến nghe một kệ

Thông đạt vô lượng nghĩa

Thứ đệ nói đúng pháp

Tháng, bốn tháng, đến năm.

Trong ngoài của cõi này

Tất cả các chúng sanh

Hoặc trời rồng và người

Dạ xoa, quỉ, thần thảy

Kia ở trong sáu đường

Nghĩ tưởng bao nhiêu điều

Phước báo trì Pháp Hoa

Ðồng thời thảy đều biết

Vô số Phật mười phương

Trăm phước tướng trang nghiêm

Vì chúng sanh nói pháp

Ðều nghe hay thọ trì

Suy gẫm vô lượng nghĩa

Nói pháp cũng vô lượng

Sau trước chẳng quên lộn

Bởi thọ trì Pháp Hoa

Trọn biết các pháp tướng

Theo nghĩa rõ thứ đệ

Suốt danh tự ngữ ngôn

Như chỗ biết diễn nói

Người đó có nói ra

Là pháp của Phật trước

Vì diễn nói pháp này

Ở trong chúng không sợ

Người trì kinh Pháp Hoa

Ý căn tịnh như thế

Dầu chưa đặng vô lậu

Trước có tướng dường ấy.

Người đó trì kinh này

An trụ bực hi hữu

Ðược tất cả chúng sanh

Vui mừng mà mến kính

Hay dùng nghìn muôn ức

Lời lẽ rất hay khéo

Phân biệt mà nói pháp

Bởi trì kinh Pháp Hoa.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Thường Bất Khinh Bồ Tát” Thứ Hai Mươi

1. Lúc bấy giờ, Phật bảo Ngài Ðắc Ðại Thế đại Bồ tát rằng: Ông nay nên biết! Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nào thọ trì kinh Pháp Hoa này đặng công đức như trước đã nói, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân cùng ý thanh tịnh, như có người nói thô ác mắng nhiếc chê bai, mắc tội báo lớn cũng như trước đã nói.

2. Ðắc Ðại Thế! Về thuở xưa quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị, vô số kiếp, có Phật hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.

Kiếp đó tên là Ly Suy, nước đó tên là Ðại Thành. Ðức Oai Âm Vương Phật trong đời đó vì hàng trời, người, A tu la mà nói pháp, vì người cầu Thanh văn mà nói pháp Tứ đế, thoát khỏi sanh già, bịnh, chết, rốt ráo Niết bàn; vì người cầu Bích chi Phật mà nói pháp Mười hai nhơn duyên; vì các Bồ tát nhơn Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà nói pháp Ba la mật rốt ráo trí huệ của Phật.

Ðắc Ðại Thế! Ðức Oai Âm Vương Phật đó sống lâu bốn mươi ức na do tha hằng hà sa kiếp; chánh pháp trụ ở đời kiếp số như vi trần trong một Diêm Phù Ðề; tượng pháp trụ ở đời kiếp số như số vi trần trong bốn châu thiên hạ. Ðức Phật đó lợi ích chúng sanh, vậy sau mới diệt độ. Sau khi chánh pháp tượng pháp diệt hết, trong cõi nước đó lại có Phật ra đời, cũng hiệu là Oai Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn, cứ thứ lớp như thế có hai muôn ức đức Phật đều đồng một hiệu.

3. Ðức Oai Âm Vương Như Lai dầu hết diệt độ rồi, sau lúc chánh pháp đã diệt trong đời tượng pháp những Tỳ kheo tăng thượng mạn có thế lực lớn.

Bấy giờ, có vị Bồ tát Tỳ kheo tên Thường Bất Khinh. Ðắc Ðại Thế! Vì cớ gì tên là Thường Bất Khinh? Vì vị Tỳ kheo đó phàm khi ngó thấy hoặc Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, hoặc Ưu bà tắc, Ưu bà di, thảy đều lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: “Tôi rất kính quí Ngài chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì qúi Ngài đều tu hành đạo Bồ tát sẽ đặng làm Phật.”

Mà vị Tỳ kheo đó chẳng chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ đi lễ lạy, nhẫn đến xa thấy hàng tứ chúng, cũng cố qua lễ lạy ngợi khen mà nói rằng: “Tôi chẳng dám khinh quí Ngài, qúi Ngài đều sẽ làm Phật.” Trong hàng tứ chúng có người lòng bất tịnh sanh giận hờn, buông lời mắng nhiếc rằng: Ông Vô trí Tỳ kheo này từ đâu đến đây tự nói ta chẳng khinh Ngài, mà tự thọ ký cho chúng ta sẽ đặng làm Phật, chúng ta chẳng dùng lời thọ ký hư dối như thế.

Trải qua nhiều năm như vậy, thường bị mắng nhiếc chẳng sanh lòng giận hờn, thường nói: “Ngài sẽ làm Phật.” Lúc nói lời đó, chúng nhơn hoặc lấy gậy cây ngói đá để đánh ném. Ông liền chạy tránh đứng xa mà vẫn to tiếng xướng rằng: Ta chẳng dám khinh quí Ngài, quí Ngài đều sẽ thành Phật. Bởi ông thường nói lời đó, nên hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di gọi ông là Thường Bất Khinh.

4. Vị Tỳ kheo đó lúc sắp chết, nơi giữa hư không nghe trọn hai mươi nghìn muôn ức bài kệ kinh Pháp Hoa của đức Oai Âm Vương Phật đã nói thuở trước, nghe xong đều có thể thọ trì, liền đặng nhãn căn thanh tịnh, nhĩ, tỷ, thiệt, thân cùng ý căn thanh tịnh như trên. Ðặng sáu căn thanh tịnh đó rồi lại sống thêm hai trăm muôn ức na do tha tuổi, rộng vì người nói kinh Pháp Hoa đó.

Lúc đó hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di khinh tiện vị đó đặt cho tên “Bất Khinh”, nay thấy vị đó đặng sức thần thông lớn, sức đại thiện tịch (6) nghe vị đó nói pháp đều tin phục tùy tùng.

Vị Bồ tát đó giáo hóa nghìn muôn chúng khiến trụ trong Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Sau khi mạng chung đặng hai nghìn ức Phật đều hiệu Nhựt Nguyệt Ðăng Minh ở trong pháp hội đó nói kinh Pháp Hoa này. Do nhơn duyên đó lại gặp hai nghìn ức Phật đồng hiệu là Vân Tự Tại Ðăng Vương, ở trong pháp hội của các đức Phật đó thọ trì, đọc tụng, vì hàng tứ chúng nói kinh diển này, cho nên đặng mắt thanh tịnh thường trên đó, tai mũi lưỡi thân cùng ý các căn thanh tịnh, ở bốn chúng nói pháp lòng không sợ sệt.

Ðắc Ðại Thế? Vị Thường Bất Khinh đại Bồ tát đó cúng dường bao nhiêu đức Phật như thế, cung kính tôn trọng ngợi khen, trồng các cội lành. Lúc sau lại gặp nghìn muôn ức Phật, cũng ở trong pháp hội các đức Phật nói kinh điển này, công đức thành tựu sẽ đặng làm Phật.

5. Ðắc Ðại Thế! Ý ông nghĩ sao? Thường Bất Khinh Bồ tát thuở đó đâu phải người nào lạ, chính là thân ta. Nếu ta ở đời trước chẳng thọ trì đọc tụng kinh này, vì người khác giải nói đó, thời chẳng có thể mau đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì ta ở chỗ các đức Phật thuở trước thọ trì đọc tụng kinh này vì người khác nói, nên mau đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

6. Ðắc Ðại Thế! Thuở đó bốn chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, do lòng giận hờn khinh tiện ta, nên trong hai trăm ức kiếp thường chẳng gặp Phật, chẳng nghe pháp, chẳng thấy Tăng, nghìn kiếp ở Địa ngục A tỳ chịu khổ não lớn. Hết tội đó rồi lại gặp Thường Bất Khinh Bồ tát giáo hóa đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Ðắc Ðại Thế! Ý ông nghĩ sao? Bốn chúng thường khinh vị Bồ tát thuở đó đâu phải là người nào lạ, chính là nay trong hội này bọn ông Bạt Ðà Bà La năm trăm vị Bồ tát, bọn ông Sư Tử Nguyệt năm trăm vị Tỳ kheo, bọn ông Ni Tư Phật năm trăm Ưu bà tắc, đều bất thối chuyển ở nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ðắc Ðại Thế! Phải biết kinh Pháp Hoa này rất có lợi ích cho các vị Bồ tát, có thể làm cho đến nơi đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cho nên các vị đại Bồ tát sau khi Phật diệt độ phải thường thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh này.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

7. Thuở quá khứ có Phật

Hiệu là Oai Âm Vương

Sức trí thần vô lượng

Dìu dắt tất cả chúng

Hàng, trời, người, long, thần

Ðều chung nhau cúng dường.

Sau khi Phật diệt độ

Lúc pháp muốn dứt hết

Có một vị Bồ tát

Tên là Thường Bất Khinh.

Bấy giờ hàng tứ chúng

Chấp mê nơi các pháp

Thường Bất Khinh Bồ tát

Qua đến chỗ của họ

Mà nói với đó rằng:

Ta chẳng dám khinh Ngài

Qúi Ngài tu đạo nghiệp

Ðều sẽ đặng làm Phật.

Những người đó nghe rồi

Khinh chê thêm mắng nhiếc

Thường Bất Khinh Bồ tát

Ðều hay nhẫn thọ đó.

Tội Bồ tát hết rồi

Ðến lúc gần mạng chung

Ðặng nghe kinh pháp này

Sáu căn đều thanh tịnh

Vì sức thần thông vậy

Sống lâu thêm nhiều tuổi

Lại vì các hạng người

Rộng nói kinh pháp này.

Các chúng chấp nơi pháp

Ðều nhờ Bồ tát đó

Giáo hóa đặng thành tựu

Khiến trụ nơi Phật đạo.

Thường Bất Khinh mạng chung

Gặp vô số đức Phật

Vì nói kinh này vậy

Ðặng vô lượng phước đức

Lần lần đủ công đức

Mau chứng thành Phật đạo.

Thuở đó Thường Bất Khinh

Thời chính là thân ta

Bốn bộ chúng khi ấy

Những người chấp nơi pháp

Nghe Thường Bất Khinh nói:

“Ngài sẽ đặng làm Phật”

Do nhờ nhơn duyên đó

Mà gặp vô số Phật.

Chính trong pháp hội này

Năm trăm chúng Bồ tát

Và cùng bốn bộ chúng

Thanh tín nam nữ thảy

Nay ở nơi trước ta

Nghe kinh Pháp Hoa đó.

Ta ở trong đời trước

Khuyên những hạng người đó

Nghe thọ kinh Pháp Hoa

Là pháp bực thứ nhứt

Mở bày dạy cho người

Khiến trụ nơi Niết bàn

Ðời đời thọ trì luôn

Những kinh điển như thế.

Trải ức ức muôn kiếp

Cho đến bất khả nghì

Lâu lắm mới nghe đặng

Kinh Diệu Pháp Hoa này.

Trải ức ức muôn kiếp

Cho đến bất khả nghì

Các đức Phật Thế Tôn

Lâu mới nói kinh này.

Cho nên người tu hành

Sau khi Phật diệt độ

Nghe kinh pháp như thế

Chớ sanh lòng nghi hoặc

Nên phải chuyên một lòng

Rộng nói kinh điển này

Ðời đời gặp đặng Phật

Mau chứng thành Phật đạo.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Như Lai Thần Lực” Thứ Hai Mươi Mốt

1. Lúc bấy giờ, các vị đại Bồ tát như số vi trần trong nghìn thế giới từ dưới đất vọt lên đó, đều ở trước đức Phật một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mà bạch cùng Phật rằng: Thế Tôn sau khi Phật diệt độ, ở nơi cõi nước của đức Thế Tôn phân thân diệt độ, chúng con sẽ rộng nói kinh này. Vì sao? Chúng con cũng tự muốn đặng pháp lớn thanh tịnh này để thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép mà cúng dường đó.

2. Lúc đó, Thế Tôn ở trước Ngài Văn Thù Sư Lợi v.v... vô lượng trăm nghìn muôn ức vị đại Bồ tát cựu trụ ở nơi cõi Ta bà và các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhân, Phi nhân v.v... trước tất cả chúng, hiện sức thần thông lớn: bày tướng lưỡi rộng dài lên đến trời Phạm thế, tất cả lỗ chơn lông phóng ra vô lượng vô số tia sáng đủ màu sắc, thảy đều khắp soi cả cõi nước trong mười phương. Các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu cũng lại như thế: bày tướng lưỡi rộng dài phóng vô lượng tia sáng.

Lúc đức Thích Ca Mâu Ni Phật và các đức Phật dưới cây báu hiện sức thần thông mãn trăm nghìn năm như vậy sau mới hườn nhiếp tướng lưỡi, đồng thời tằng hắng cùng chung khảy móng tay, hai tiếng vang đó khắp đến cõi nước của các đức Phật trong mười phương, đất đều sáu điệu vang động, chúng sanh trong đó: Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhân cùng Phi nhân v.v... nhờ sức thần của Phật đều thấy trong cõi Ta bà này vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới những cây báu và thấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật cùng đức Ða Bảo Như Lai, ngồi trên tòa sư tử trong tháp báu.

Lại thấy vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vị Bồ tát và hàng tứ chúng cung kính vây quanh đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đã thấy thế rồi đều rất vui mừng đặng chưa từng có.

Tức thời hàng chư thiên ở giữa hư không lớn tiếng xướng rằng: Khỏi đây vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số thế giới có nước tên Ta bà trong đó có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni hiện nay vì các đại Bồ tát nói kinh Đại thừa tên “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm”, các ông phải thâm tâm tùy hỷ, cũng nên lễ bái cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Các chúng sanh đó nghe tiếng nói giữa hư không rồi, chắp tay xoay về cõi Ta bà nói thế này: Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật. Dùng các món hoa, hương, chuỗi ngọc, phan, lọng và các đồ trang nghiêm nơi thân, những vật tốt bằng trân báu, đều đồng vói rải vào cõi Ta bà.

Các vật rải đó từ mười phương đến thí như mây nhóm, biến thành màn báu trùm khắp trên các đức Phật ở trong đây. Bấy giờ mười phương cõi nước thông đạt không ngại như một cõi Phật.

4. Khi đó, Phật bảo đại chúng bực thượng hạnh Bồ tát thảy: Thần lực của các đức Phật vô lượng vô biên bất khả tư nghì như thế; nếu ta dùng thần lực đó trong vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức vô số kiếp, vì để chúc lụy mà nói công đức của kinh này vẫn chẳng hết được.

Tóm lại đó, tất cả pháp của Như lai có, tất cả thần lực tự tại của Như Lai, tất cả tạng bí yếu của Như Lai, tất cả việc rất sâu của Như Lai đều tuyên bày rõ nói trong kinh này, cho nên các ông sau khi Như Lai diệt độ, phải một lòng thọ trì, đọc tụng giải nói, biên chép, đúng như lời nói mà tu hành.

Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành, hoặc là chỗ có quyển kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng phường, hoặc nhà bạch y (7), hoặc ở điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.

Vì sao? Phải biết chỗ đó, chính là đạo tràng, các đức Phật ở đây mà đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, các đức Phật ở đây mà Chuyển pháp luân, các đức Phật ở đây mà nhập Niết bàn.

Lúc đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghiã trên mà nói kệ rằng:

5. Các Phật, đấng cứu thế

Trụ trong thần thông lớn

Vì vui đẹp chúng sanh

Hiện vô lượng thần lực:

Tướng lưỡi đến Phạm Thiên

Thân phóng vô số quang

Vì người cầu Phật đạo

Hiện việc ít có này.

Tiếng tằng hắng của Phật

Cùng tiếng khảy móng tay

Khắp vang mười phương cõi

Ðất đều sáu món động.

Sau khi Phật diệt độ

Người trì được kinh này

Các Phật đều vui mừng

Hiện vô lượng thần lực

Vì chúc lụy kinh này

Khen ngợi người thọ trì

Ở trong vô lượng kiếp

Vẫn còn chẳng hết được

Công đức của người đó

Vô biên vô cùng tận

Như mười phương hư không

Chẳng thể đặng ngằn mé

Người trì được kinh này

Thời là đã thấy ta

Cũng thấy Phật Ða Bảo

Và các Phật phân thân.

Lại thấy ta ngày nay

Giáo hóa các Bồ tát

Người trì được kinh này

Khiến ta và phân thân

Phật Đa Bảo diệt độ

Tất cả đều vui mừng

Mười phương Phật hiện tại

Cùng quá khứ vị lai

Cũng thấy cũng cúng dường

Cũng khiến đặng vui mừng

Các Phật ngồi đạo tràng

Pháp bí yếu đã đặng

Người trì được kinh này

Chẳng lâu cũng sẽ đặng

Người trì được kinh này

Nơi nghĩa của các pháp

Danh tự và lời lẽ

Ưa nói không cùng tận

Như gió trong hư không

Tất cả không chướng ngại

Sau khi Như Lai diệt

Biết kinh của Phật nói

Nhơn duyên và thứ đệ

Theo nghĩa nói như thật

Như ánh sáng nhựt nguyệt

Hay trừ các tối tăm

Người đó đi trong đời

Hay dứt tối chúng sanh

Dạy vô lượng Bồ tát

Rốt ráo trụ Nhứt thừa

Cho nên người có trí

Nghe công đức lợi này

Sau khi ta diệt độ

Nên thọ trì kinh này

Người đó ở Phật đạo

Quyết định không có nghi.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Chúc Lụy” Thứ Hai Mươi Hai

1. Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ nơi pháp tòa đứng dậy, hiện sức thần thông lớn: dùng tay mặt xoa đảnh của vô lượng đại Bồ tát mà nói rằng: "Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó đặng này, nay đem phó chúc cho các ông, các ông nên phải một lòng lưu bố pháp này làm cho thêm nhiều rộng.”

Phật ba phen xoa đảnh các đại Bồ tát như thế mà nói rằng: “Ta ở trong vô lượng trong trăm nghìn muôn ức vô số kiếp tu tập pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác khó đặng này, nay đem phó chúc cho các ông; các ông phải thọ trì, đọc tụng rộng tuyên nói pháp này cho tất cả chúng sanh đều được nghe biết".

Vì sao? Ðức Như Lai có lòng từ bi lớn, không có tánh bỏn xẻn, cũng không sợ sệt, có thể cho chúng sanh trí huệ của Phật, trí huệ của Như Lai, trí huệ tự nhiên. Như Lai là vị đại thí chủ tất cả chúng sanh các ông cũng nên thọ học pháp của Như Lai, chớ sanh lòng bỏn xẻn. Ở đời vị lai nếu có người thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào tin trí huệ của Như Lai, thời các ông phải vì đó diễn nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này khiến đều đặng nghe biết, vì muốn cho người đó đặng trí huệ của Phật vậy.

Nếu có chúng sanh nào chẳng tin nhận thời phải ở trong pháp sâu khác của Như Lai chỉ dạy cho được lợi ích vui mừng, các ông nếu được như thế thời là đã báo được ơn của các đức Phật.

2. Lúc đó, các vị đại Bồ tát nghe Phật nói thế rồi, đều rất vui mừng khắp đầy nơi thân càng thêm cung kính, nghiêng mình cúi đầu chắp tay hướng Phật, đồng lên tiếng bạch rằng: "Như lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin Thế Tôn chớ có lo".

Các chúng đại Bồ tát ba phen như thế, đều lên tiếng bạch rằng: "Như lời Thế Tôn dạy, chúng con sẽ vâng làm đầy đủ, kính xin đức Thế Tôn chớ có lo".

Khi đó đức Thích Ca Mâu Ni Phật khiến các đức Phật phân thân ở mười phương đến, đều trở về bổn độ mà nói rằng: "Các Phật đều về yên chỗ, tháp của Phật Ða Bảo được hoàn như cũ.

3. Phật nói lời đó rồi, vô lượng các đức Phật phân thân ở mười phương ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu, và Phật Ða Bảo, cùng vô biên vô số đại chúng Bồ tát, bực thượng hạnh thảy, Ngài Xá lợi Phất v.v... bốn chúng hàng Thanh văn và tất cả trong đời: Trời, người, A tu la v.v..., nghe Phật nói rồi đều rất vui mừng.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Dược Vương Bồ tát Bổn Sự” Thứ Hai Mươi Ba

1. Lúc bấy giờ, Ngài Tú Vương Hoa Bồ tát bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Ngài Dược Vương Bồ tát dạo đi nơi cõi Ta bà như thế nào? Thế Tôn! Ngài Dược Vương Bồ tát đó, có bao nhiêu nghìn muôn ức na do tha hạnh khổ khó làm? Hay thay Thế Tôn! Nguyện giải, nói cho một ít, các hàng Trời, Rồng, Thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na la, Ma hầu la đà, nhơn, cùng phi nhơn v.v..., và các vị Bồ tát ở các nước khác đến cùng chúng Thanh văn đây nghe đều vui mừng".

2. Lúc đó, Phật bảo Ngài Tú Vương Hoa Bồ tát: "Về thuở quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp trước, có Phật hiệu Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.

Phật đó có tám mươi ức đại Bồ tát, bảy mươi hai hằng hà sa chúng đại Thanh văn. Phật sống lâu bốn muôn hai nghìn kiếp, Bồ tát sống lâu cũng bằng Phật. Nước đó không có người nữ, điạ ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh, A tu la v.v...và với các khổ nạn. Ðất bằng như bàn tay, chất lưu ly làm thành, cây báu trang nghiêm, màn báu trùm lên, thòng các phan báu đẹp, bình báu lò hương, khắp cùng cả nước, bảy món báu làm đài, một cây có một đài, cây đó cách đài đều một lằn tên. Các cây báu đó đều có Bồ tát, Thanh văn ngồi ở dưới. Trên các đài báu đều có trăm ức chư thiên trổi kỹ nhạc trời, ca khen đức Phật để làm việc cúng dường.

3. Bấy giờ, đức Phật đó vì Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát, cùng chúng Bồ tát và chúng Thanh văn nói kinh Pháp Hoa.

Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát đó ưa tu tập khổ hạnh, ở trong pháp hội, của đức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật, tinh tấn kinh hành, một lòng cầu thành Phật, mãn một muôn hai nghìn năm đặng hiện nhứt thiết sắc thân tam muộị. Ðặng tam muội đó rồi lòng rất vui mừng, liền nghĩ rằng: "Ta đặng hiện nhứt thiết sắc thân tam muội này đều là do sức đặng nghe kinh Pháp Hoa, ta nay nên cúng dường Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật và kinh Pháp Hoa".

Tức thời nhập tam muội đó, ở giữa hư không rưới hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, cùng bột kiên hắc chiên đàn đầy trong hư không như mây mà rưới xuống. Lại rưới hương hải thử ngạn chiên đàn, sáu thù hương này giá trị cõi Ta bà để cúng dường Phật.

Cúng dường thế đó rồi, từ tam muội dậy mà tự nghĩ rằng: "Ta dầu dùng thần lực cúng dường nơi Phật, chẳng bằng dùng thân cúng dường". Liền uống các chất thơm; chiên đàn, huân lục, đâu lâu bà, tất lực ca, trầm thủy giao hương; lại uống dầu thơm các thứ bông chiên bặc v.v... mãn một nghìn hai trăm năm, rồi lấy dầu thơm xoa thân, ở trước đức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật dùng y báu cõi trời mà tự quấn thân, rưới các thứ dầu thơm, dùng sức nguyện thần thông mà tự đốt thân.

Ánh sáng khắp soi cả tám mươi ức hằng hà sa thế giới, các đức Phật trong đó đồng thời khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ðó là chơn thiệt tinh tấn gọi là chơn pháp cúng dường Như Lai. Nếu dùng hoa hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan, lọng, bằng lụa cõi trời và hương hải thử ngạn chiên đàn, dùng các món vật cúng dường như thế đều chẳng bằng được.

Giả sử quốc thành thê tử bố thí cũng chẳng bằng. Thiện nam tử! Ðó gọi là món thí thứ nhứt, ở trong các món thí rất tôn rất thượng, bởi dùng pháp cúng dường các đức Như Lai vậy, các đức Phật nói lời đó rồi yên lặng. Thân của Bồ tát lửa cháy một nghìn hai trăm năm, qua sau lúc đó thân Bồ tát mới hết.

4. Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát, làm việc pháp cúng dường như thế xong, sau khi mạng chung, lại sanh trong nước của Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật, ở nơi nhà vua Tịnh Ðức bỗng nhiên ngồi xếp bằng hóa sanh ra, liền vì vua cha mà nói kệ rằng:

Ðại vương nay nên biết!

Tôi kinh hành chốn kia

Tức thời đặng nhứt thiết

Hiện chư thân tam muội

Siêng tu rất tinh tấn

Bỏ thân thể đáng yêu

Cúng dường đức Thế Tôn

Ðể cầu huệ Vô thượng.

Nói kệ đó rồi thưa vua cha rằng: "Ðức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật nay vẫn hiện còn, tôi trước cúng dường Phật xong, đặng “giải nhứt thiết chúng sanh nhữ ngôn Đà la ni” lại nghe kinh Pháp Hoa này tám trăm nghìn muôn ức na do tha, chân ca la, tần bà la, a súc bà, các bài kệ. Ðại Vương! Tôi nay lại nên cúng dường đức Phật đó. Thưa xong, liền ngồi đài bảy báu, bay lên hư không, cao bằng bảy cây đa la, qua đến chỗ Phật đầu quay mặt lạy chân, chắp tay nói kệ khen rằng:

Dung nhan rất đẹp lạ

Ánh sáng soi mười phương

Con vừa từng cúng dường

Nay lại về thân thấy.

5. Lúc đó Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát nói kệ rằng: "Thế Tôn! Ðức Thế Tôn vẫn còn ở đời ư?"

Bấy giờ, đức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật bảo Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát rằng: "Thiện nam tử! Giờ ta nhập Niết bàn đã đến, giờ diệt tận đã đến, ông nên sắp đặp giường tòa. Ta trong đêm nay sẽ nhập Niết bàn".

Phật lại bảo Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát rằng: "Thiện nam tử! Ta đem Phật pháp giao phó cho ông, và các Bồ tát đại đệ tử cùng pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng đem cõi thất bảo tam thiên đại thiên, các cây báu đài báu và hàng chư thiên cung cấp hầu hạ đều giao phó cho ông.

Sau khi ta diệt độ có bao nhiêu Xá lợi cũng phó chúc cho ông, nên làm cho lưu bố rộng bày các việc cúng dường, nên xây bao nhiêu nghìn tháp".

Ðức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật bảo Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát như thế rồi, vào khoảng cuối đêm nhập Niết bàn.

6. Lúc đó, Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát thấy Phật diệt độ buồn cảm sầu khổ, luyến mộ nơi Phật, liền dùng hải thử ngạn chiên đàn làm giàn để cúng dường thân Phật mà thiêu đó.

Sau khi lửa tắt, thâu lấy Xá lợi đựng trong tám muôn bốn nghìn bình báu, để xây tám muôn bốn nghìn tháp, cao ba thế giới, chưng dọn trang nghiêm thòng các phan lọng treo các linh báu.

Bấy giờ Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát lại tự nghĩ rằng: "Ta dầu làm việc cúng dường đó lòng còn chưa đủ, ta nay lại nên cúng dường Xá lợi". Liền nói với các Bồ tát đại đệ tử và Trời, Rồng, Dạ xoa v.v..., tất cả đại chúng rằng: "Các ông phải một lòng ghi nhớ, tôi nay cúng dường Xá lợi của đức Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Ðức Phật". Nói xong liền ở trước tám muôn bốn nghìn tháp đốt cánh tay trăm phước trang nghiêm, mãn bảy muôn hai nghìn năm để cúng dường. Khiến vô số chúng cầu Thanh văn, vô lượng vô số người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng cháng giác, đều làm cho trụ trong "Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội".

Lúc đó, các Bồ tát, trời, người, A tu la v.v.., thấy Ngài không có tay bèn sầu khổ buồn thương mà nói rằng: "Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát này là Thầy chúng ta, giáo hóa chúng ta, mà nay đốt tay, thân chẳng đầy đủ. Lúc ấy, Ngài Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát ở trong đại chúng lập lời thề rằng: "Tôi bỏ hai tay ắt sẽ đặng thân sắc vàng của Phật, nếu thiệt không dối, thời khiến hai tay tôi hoàn phục, như cũ". Nói lời thề xong hai tay tự nhiên hoàn phục, đó là do phước đức trí huệ thuần hậu của Bồ tát cảm nên.

Ðương lúc đó cõi tam thiên đại thiên thế giới sáu điệu vang động, trời rưới hoa báu, tất cả người, trời đặng việc chưa từng có.

7. Ðức Phật bảo Ngài Tú Vương Hoa Bồ tát: "Ý ông nghĩ sao? Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát đâu phải người nào lạ, chính nay là ông Dược Vương Bồ tát đó. Ông ấy bỏ thân bố thí số nhiều vô lượng trăm nghìn muôn ức na do tha như thế.

Tú Vương Hoa! Nếu người phát tâm muốn đặng đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có thể đốt một ngón tay nhẫn đến một ngón chưn để cúng dường tháp của Phật, hơn đem quốc thành, thê tử và cõi tam đại tam thiên: núi, rừng, sông, ao, các vật trân báu mà cúng dường.

Nếu lại có người đem bảy thứ báu đầy cả cõi tam đại tam thiên cúng dường nơi Phật, cùng đại Bồ tát, Duyên giác và A la hán, công đức của người đó đặng, chẳng bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa này nhẫn đến một bài kệ bốn câu, phước của người này rất nhiều.

8. Tú Vương Hoa! Thí dụ trong các dòng nước: sông, ngòi, kinh, rạch, thời biển là lớn nhất; kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh của đức Như Lai nói rất là sâu lớn.

Lại như trong các núi non: thổ sơn, hắc sơn, núi tiểu Thiết vi, núi đại Thiết vi cùng mười núi báu thời núi Diệu cao bực nhứt, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh rất lớn là bực thượng.

Lại như trong các ngôi sao, mặt trăng là bực nhất, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong nghìn muôn ức các kinh pháp là sáng.

Lại như mặt trời hay trừ các chỗ tối tăm, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, hay phá tất cả sự tối bất thiện.

Lại như trong các vua nhỏ, vua Chuyển Luân Thánh Vương rất là bực nhất, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, ở trong các kinh là bực tôn kính hơn cả.

Lại như Ðế Thích là vua trong ba mươi cõi trời, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, là vua trong các kinh. Lại như trời Ðại Phạm Thiên Vương là cha tất cả chúng sanh, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, là cha của tất cả hiền thánh: bực hữu học, vô học cùng hàng phát lòng Bồ đề.

Lại như trong tất cả các phàm phu thời bực Dự lưu, Nhứt lai, Bất lai, Vô sanh, Duyên giác, là bực nhứt, kinh Pháp Hoa này cũng như thế, tất cả Như Lai nói, hoặc Bồ tát nói, hoặc Thanh văn nói trong các kinh pháp là bực nhứt hơn cả, có người thọ trì được kinh điển này cũng lại như thế, ở trong tất cả chúng sanh cũng là bực nhứt.

Trong tất cả Thanh văn cùng Duyên giác, Bồ tát là bực nhất, kinh này cũng lại như thế, trong tất cả các kinh pháp rất là bực nhất.

Như Phật là vua của các pháp, kinh này cũng như thế, là vua của các kinh.

9. Tú Vương Hoa! Kinh này có thể cứu tất cả chúng sanh, kinh này có thể làm cho tất cả chúng sanh xa rời các khổ não, kinh này có thể lợi ích cho tất cả chúng sanh, đầy mãn chỗ mong cầu của chúng, như ao nước trong mát có thể đầy đủ cho những người khát nước, như kẻ lạnh được lửa, như kẻ trần truồng đặng y phục, như người buôn đặng chủ, như con gặp mẹ, như qua sông gặp ghe, như người bịnh gặp Thầy thuốc, như tối đặng đèn, như nghèo đặng của báu, như dân gặp vua, như khách buôn đặng biển, như đuốc trừ tối. Kinh Pháp Hoa này có thể làm cho chúng sanh xa rời tất cả khổ, tất cả bịnh tật đau đớn, có thể mở sự trăn trói của tất cả sanh tử.

Nếu người nghe đặng kinh Pháp Hoa này, hoặc chép hoặc bảo người chép, đặng công đức, dùng trí huệ của Phật tính lường nhiều ít chẳng thể đặng ngằn mé đó. Nếu chép kinh sách này, dùng hoa, hương, chuỗi ngọc, hương đốt, hương bột, hương xoa, phan, lọng, y phục, các thứ đèn: đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm: đèn dầu chiêm bặc, đèn dầu tu mạn na, đèn dầu ba la la, đèn dầu bà lợi sư ca, đèn dầu na bà ma lợi đem cúng dường, đặng công đức cũng là vô lượng.

10. Tú Vương Hoa! Nếu có người nghe phẩm "Dược Vương Bồ tát Bổn Sự" này cũng đặng vô lượng vô biên công đức.

Nếu có người nữ nghe phẩm "Dược Vương Bồ tát Bổn Sự" này mà có thể thọ trì, thời sau khi dứt báo thân đàn bà đó không còn thọ lại nữa.

Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nữ nghe kinh điển này, đúng như lời mà tu hành, thời khi ở đây chết liền qua cõi An Lạc, chỗ trụ xứ của đức A Di Ðà Phật, mà sanh trên tòa báu trong hoa sen.

Chẳng còn bị lòng tham dục làm khổ, cũng lại chẳng bị lòng giận dỗi, ngu si làm khổ, cũng lại chẳng bị lòng kiêu mạn ganh ghét các tánh nhơ làm khổ, đặng thần thông vô sanh pháp nhẫn của Bồ tát, đặng pháp nhẫn đó thời nhãn căn thanh tịnh. Do nhãn căn thanh tịnh đó thấy bảy trăm muôn hai nghìn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật Như Lai.

Bấy giờ, các đức Phật đồng nói khen rằng: "Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ông có thể ở trong pháp hội của đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà thọ trì, đọc tụng, suy gẫm kinh này vì người khác nói, ông đặng công đức vô lượng vô biên, lửa chẳng đốt đặng, nước chẳng trôi đặng, công đức của ông, nghìn Phật nói chung cũng chẳng thể hết đặng. Ông nay có thể phá các giặc ma, hoại quân sanh tử, các oán địch khác thảy đều trừ diệt. Thiện nam tử! Trăm nghìn các đức Phật dụng sức thần thông đồng chung thủ hộ ông, tất cả trời người trong đời không ai bằng ông. Chỉ trừ các đức Như Lai, bao nhiêu thiền định trí huệ của các Thanh văn, Duyên giác, nhẫn đế Bồ tát không có ai bằng ông.

Tú Vương Hoa! Vị Bồ tát đó thành tựu sức công đức trí tuệ như thế.

11. Nếu có người nghe phẩm Dược Vương Bồ tát Bổn Sự này mà tùy hỷ khen ngợi, thời người đó trong đời hiện tại trong miệng thường thoảng ra mùi thơm hoa sen xanh, trong lỗ chưn lông nơi thân, thường thoảng ra mùi thơm ngưu đầu chiên đàn, đặng công đức như đã nói ở trên.

Tú Vương Hoa! Vì thế ta đem phẩm Dược Vương Bồ tát Bổn Sự này chúc lụy cho ông. Năm trăm năm sau khi ta diệt độ phải tuyên nói lưu bố rộng truyền ở nơi cõi Diêm Phù đề, chớ để dứt mất. Chớ cho hàng ác ma, dân ma, các Trời, Rồng, Dạ xoa, Cưu bàn trà, v..v.. phá khuấy đặng.

Tú Vương Hoa! Ông phải dùng sức thần thông giữ gìn kinh này. Vì sao? Vì kinh này là món lương dược của người bịnh trong cõi Diêm phù; nếu người có bịnh đặng nghe kinh này bịnh liền tiêu diệt, chẳng già, chẳng chết.

Tú Vương Hoa! Nếu ông thấy có người thọ trì kinh này, phải dùng hoa sen xanh đựng đầy hương hột rải trên người đó. Rải xong nghĩ rằng: "Người này chẳng bao lâu quyết sẽ lấy cỏ trải ngồi nơi đạo tràng, phá các quân ma, sẽ thổi ốc pháp, đánh trống pháp, độ thoát tất cả chúng sanh ra khỏi biển sanh, già, bịnh, chết.

Cho nên người cầu Phật đạo thấy có người thọ trì kinh điển này, nên phải sanh lòng cung kính như thế.

12. Lúc đức Phật nói phẩm "Dược Vương Bồ tát Bổn Sự" này, có tám muôn bốn nghìn Bồ tát đặng pháp "Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn Đà la ni".

Ðức Ða Bửu Như Lai ở trong tháp báu khen Ngài Tú Vương Hoa Bồ tát rằng: "Hay thay! Hay thay! Tú Vương Hoa! Ông thành tựu bất khả tư nghì công đức mới có thể hỏi đức Thích Ca Mâu Ni Phật việc như thế, làm vô lượng lợi ích cho tất cả chúng sanh".

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ SÁU

Tạm trì tùy hỷ thanh tịnh các căn, kíp quên nhơn pháp, thể thường còn, thần lực khắp càn khôn trao phó ân cần, liều thân mạng để báo ơn rộng lớn.

Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Ngài Di Lặc Bồ tát so lường kinh nhơn, sáu căn thanh tịnh hiện thiên chơn, Bất Khinh thể thường còn, vì pháp thiêu thân cúng dường Phật Tịnh Minh.

Nam mô Tú Vương Hoa Bồ tát. (3 lần)

THÍCH NGHĨA

(1) Tuỳ hỷ: Vui theo, vui mừng ưng thuận tán thành.

(2) Tứ sanh:

1. Loài từ trứng sanh ra như chim v. v...

2. Loài từ bào thai sanh ra như người v. v...

3. Loài từ ẩm ướt sanh ra như trùng, đom đóm v. v...

4. Loài từ biến hóa sanh ra như trời, Địa ngục v. v...

(3) Vô gián Địa ngục, người ở trong Địa ngục này một ngày một đêm muôn lần chết muôn lần sống, bị khổ hình không có giây phút nào ngớt nghỉ nên gọi là Vô gián.

(4) Cõi trời cùng tột, cũng là chót của ba cõi.

(5) Quang âm thiên là một trong ba từng trời nhị thiền, cũng là từng thứ ba, Biến tịnh thiên là một trong ba từng tam thiền, cũng là từng thứ ba.

(6) Thiện: lành; Tịch: vắng bặt. Tức là môn thiền định vô lậu lớn.

(7) Người thế tục ưa mặc y phục sắc trắng nên gọi là "bạch y".

(8) Hai mươi bốn "thù" làm một lượng.

(9) Trên chót núi Tu di (Diệu cao sơn) bằng phẳng bốn phương có 32 cõi trời, mỗi cõi đều có một vị Thiên vương quản trị. Trung ương, có một cõi trời, ông Thích Đề Hoàn Nhơn (Đế thích, ở trong đây, quyền quản lãnh cả 33 cõi trời, hợp lại là trời "Đao Lợi").

(10) Người tu hành theo Phật Pháp phá 88 món "kiến sở đoạn hoặc" thì rời phàm phu dự vào hàng Thánh nên gọi "Dự Lưu". Cõi dục có 9 phẩm "Tư hoặc". Cõi vô sắc có 36 phẩm "Tư hoặc". Cộng là 81 phẩm "Tư hoặc". Sau khi phá hết 88 món "Kiến hoặc", tu hành lần lần phá "Tư hoặc". Trong 9 phẩm cõi dục, phá được 6 phẩm trước thì chứng bậc "Tư đà hàm" (Nhất lai) nghĩa là còn một lần sanh xuống nhân gian. Phá cả 9 phẩm thì không còn sanh xuống nhân gian nữa nên gọi "Bất lai" (A na hàm). Phá cả 81 phẩm Tư hoặc thì dứt hẳn sanh tử luân hồi nên gọi "Vô Sanh" (A la hán).

(11) Thương Chủ: Người dẫn đạo cho các con buôn.

(12) Vua: Vị cai trị một nước, người đem sự an ninh cho dân chúng.

(13) Xưa các người buôn châu báu thường ra biển tìm châu báu.

(14) An Lạc tức là nước Cực Lạc ở Tây phương, của đức Giáo Chủ A Di Đà Phật.

(A) Tên những con số lớn của xứ Ấn Độ xưa. Từ nghìn muôn ức sắp lên. Như một Chân ca la: Một nghìn muôn ức.

SỰ TÍCH TỤNG KINH THOÁT NỮ THÂN

Đời Tùy, huyện Bác Lăng, có ông Thôi Ngạn Võ niên hiệu Khai Hoàng, làm quan Thứ Sử châu Ngụy. Một hôm, nhân đi thanh tra trong địa phận mình quản trị, đến một ấp nọ, bỗng ngạc nhiên vừa sợ vừa mừng, bảo kẻ tùng giả rằng: "Ta xưa từng làm vợ người ở trong ấp này, nay vẫn biết nhà cũ". Liền cỡi ngựa đi vào đường hẻm trong ấp, quanh quẹo đến một nhà, sai người gõ cửa. Ông chủ nhà đó đã già chạy ra lạy chào.

Ông Ngạn Võ vào nhà, chỉ trên vách phía đông cách đất chừng năm sáu thước (thước Tàu) có chỗ lồi cao lên mà bảo chủ nhà rằng: "Chỗ trên cao đó là chỗ mà ta xưa kia cất năm đôi thoa vàng, với bộ kinh Pháp Hoa của ta đọc hàng ngày. Bộ kinh ấy cuối quyển bảy, lửa cháy xém mất chữ hết một tờ. Vì cớ đó nên hiện nay mỗi khi ta tụng kinh Pháp Hoa đến trang đó, thường quên lãng không ghi nhớ được". Nói xong sai người đục chỗ vách đó ra, quả thật được hộp đựng kinh; thoa vàng cùng quyển thứ bảy cháy xém một tờ cuối quyển như lời nói trước.

Ông chủ nhà rơi nước mắt khóc rằng: "Thoa vàng và cùng kinh thật là vật của vợ tôi, ngày còn sanh tiền, vợ tôi thường đọc bộ kinh Pháp Hoa này".

Ông Ngạn Võ lại nói: "Cây hòe trước sân kia ngày trước khi ta sắp đẻ, tự cởi đầu tóc mượn để vào bọng cây đó". Nói xong bảo người thử lại tìm, thật quả được tóc.

Chủ nhà thấy việc như thế, biết chính quan Thứ sử hiện nay, là vợ của mình ngày trước tái sanh, vừa buồn vừa mừng.

Thôi Ngạn Võ để đồ vật vàng bạc lại, hậu cấp cho ông chủ nhà mà đi.

(Lai Bộ Thượng Thơ Đường Lâm biên)

"Trong phẩm "Dược Vương Bồ tát Bổn Sự" có nói: Nếu có người nữ nào nghe kinh này mà có thể thọ trì, thời sau khi bỏ báo thân đàn bà đó, không còn thọ lại nữa". Chuyện của ông Thôi Ngạn Võ trên đây đủ chứng thật lời trong kinh. Làm cho chúng ta lại càng kính tin đức Như Lai là đấng chơn thật ngữ.

Một người đàn bà vợ tên dân quê ở trong ấp cùng đọc kinh Pháp Hoa mà đã sớm khỏi thân hèn khổ chuyển thành thân quan cao tước lớn, trong khi ấy người chồng vẫn còn là tên dân quê. Chồng lạy rước vợ, nào biết đó là vợ cũ của mình ngày xưa.

Tên dân quê đó cùng một ít kẻ lân cận, khi người đàn bà đọc kinh Pháp Hoa chết, hoặc giả lại có niệm nghĩ rằng: "Tụng kinh không phước, trái lại bị chết yểu. Niệm ngu si, lòng chê khinh ấy, khi gặp Thôi Ngạn Võ, như tuyết gặp nước sôi vậy.

Ôi! Công đức bất khả tư nghì của người trì kinh, diệu dụng bất khả tư nghì của kinh, cùng lý nhân quả nhiệm mầu, kẻ tâm vụng về, trí thức thô thiển có thể nào mà thấu đáo được. Tôi rất lo ngại cho hạng người bác nhân quả, hủy báng kinh Đại thừa và thiết tha mong sao những hạng người ấy không nên quá nông nổi.

Vì khổ báo của người hủy báng kinh, đức Phật Thế Tôn đấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như thật ngữ đã có huyền ký rõ ràng.

(Xem đoạn cuối phẩm Thí Dụ quyển 2)


Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Quyển Thứ Bảy

(Ðời Diêu Tần Ngài Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập vâng chiếu dịch)

Phẩm “Diệu Âm” Thứ Hai Mươi Bốn

1. Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ nhục kế (1) tướng đại nhơn, phóng ra ánh sáng, và phóng ánh sáng nơi tướng lông trắng giữa chặn mày, soi khắp tám trăm muôn ức na do tha hằng hà sa các cõi Phật ở phương Ðông.

Qua khỏi số cõi đó có thế giới tên Tịnh Quang Trang Nghiêm. Nước đó có Phật hiệu: Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn (2), được vô lượng vô biên đại chúng Bồ tát cung kính vây quanh, mà vì chúng nói pháp.

Ánh sáng lông trắng của đức Thích Ca Mâu Ni Phật soi khắp cõi nước đó.

2. Lúc đó, trong các nước Nhứt Thiết Tịnh Quang trang nghiêm có một vị Bồ tát tên là Diệu Âm, từ lâu đã trồng các cội công đức, cúng dường gần gũi vô lượng trăm nghìn muôn ức các đức Phật, mà đều đặng trọn nên trí huệ rất sâu, đặng môn Diệu Tràng Tướng tam muội, Pháp Hoa tam muội, Tịnh Ðức tam muội, Tú Vương Hý tam muội, Vô Duyên tam muội, Trí Ấn tam muội, Giải nhứt thiết chúng sanh ngữ ngôn tam muội, Tập Nhứt thiết công đức tam muội, Thanh Tịnh tam muội, Thần thông du hý tam muội, Huệ Cự tam muội, Trang Nghiêm Vương tam muội, Tịnh Quang Minh tam muội, Tịnh Tạng tam muội, Bất Cộng tam muội, Nhựt Triền tam muội, v.v... đặng trăm nghìn muôn ức hằng hà sa các đại tam muội như thế.

Quang minh của đức Thích Ca Mâu Ni Phật soi đến thân vị Bồ tát đó, liền bạch cùng đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật rằng: Thế Tôn! Con phải qua đến cõi Ta bà để lạy gần gũi cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng để ra mắt Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ tát, Dược Vương Bồ tát, Dõng Thí Bồ tát, Tú Vương Hoa Bồ tát, Thượng Hạnh Ý Bồ tát, Trang Nghiêm Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát.

Khi đó, đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật bảo Ngài Diệu Âm Bồ tát: Ông chớ có khinh nước Ta bà mà sanh lòng tưởng là hạ liệt. Thiện nam tử! Cõi Ta bà kia cao thấp không bằng, các núi đất đá đầy dẫy sự dơ xấu, thân Phật kém nhỏ, các chúng Bồ tát thân hình cũng nhỏ, mà thân của ông cao lớn đến bốn muôn hai nghìn do tuần, thân của ta sáu trăm tám mươi muôn do tuần. Thân của ông tốt đẹp thứ nhứt, trăm nghìn muôn phước sáng rỡ đẹp lạ, cho nên ông qua chớ khinh nước kia, hoặc ở nơi Phật, Bồ tát cùng cõi nước mà sanh lòng tưởng cho là hạ liệt.

Ngài Diệu Âm Bồ tát bạch với Phật đó rằng: Thế Tôn! Con nay qua cõi Ta bà đều là do sức thần của Như Lai, do thần thông du hý của Như Lai, do công đức trí huệ trang nghiêm của Như Lai.

3. Lúc đó, Ngài Diệu Âm Bồ tát, chẳng rời khỏi tòa, thân chẳng lay động mà vào trong tam muội, dùng sức tam muội ở nơi núi Kỳ Xà Quật, cách pháp tòa chẳng bao xa hóa làm tám muôn bốn nghìn cái hoa sen báu: vàng diêm phù đàn làm cọng, bạc làm cánh, kim cang làm nhụy, chân thúc ca bảo làm đài.

Bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử thấy hoa sen bèn bạch cùng Phật rằng: Thế Tôn! Ðây do nhơn duyên gì mà hiện điềm tốt này, có ngần ấy trăm nghìn hoa sen: vàng diêm phù đàn làm cọng, bạc làm cánh, kim cang làm nhụy, chân thúc ca bảo làm đài?

Khi ấy, đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: Ðó là Diệu Âm đại Bồ tát từ cõi nước của đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật muốn cùng tám muôn bốn nghìn Bồ tát vây quanh mà đến cõi Ta bà này, để cúng dường gần gũi lễ lạy nơi Ta cùng muốn cúng dường nghe kinh Pháp Hoa.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: Thế Tôn! Vị Bồ tát đó trồng cội lành gì, tu công đức gì mà có đặng sức đại thần thông như thế? Tu tam muội gì? Mong Phật vì chúng con nói danh tự của tam muội đó. Chúng con cũng muốn siêng tu hành đó. Tu hành môn tam muội này mới thấy được sắc tướng lớn nhỏ oai nghi tấn chỉ của vị Bồ tát đó. Cúi mong đức Thế Tôn dùng sức thần thông khi vị Bồ tát đến khiến chúng con đặng thấy.

Lúc ấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi: Ðức Ða Bảo Như Lai đã diệt độ từ lâu đây, sẽ vì các ông mà hiện bày thân tướng của Bồ tát đó.

Tức thời đức Ða Bảo Phật bảo Bồ tát đó rằng: Thiện nam tử đến đây! Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử muốn thấy thân của ông.

4. Bấy giờ, Ngài Diệu Âm Bồ tát nơi cõi nước kia ẩn mặt, cùng với tám muôn bốn nghìn Bồ tát đồng nhau qua cõi Ta bà, ở các nước trải qua, sáu điệu vang động, thảy đều rưới hoa sen bằng bảy báu, trăm nghìn nhạc trời chẳng trổi tự kêu, mắt của vị Bồ tát đó như cánh hoa sen xanh rộng lớn. Giả sử hòa hiệp trăm nghìn muôn mặt trăng, diện mạo của Ngài tốt đẹp lại hơn nơi đây, thân sắc vàng ròng vô lượng trăm nghìn công đức trang nghiêm, oai đức rất thạnh, ánh sáng chói rực, các tướng đầy đủ như thân Na La Diên (3) bền chắc.

Ngài vào trong đài thất bảo bay lên hư không cách đất bằng bảy cây đa la. Các chúng Bồ tát cung kính vây quanh, mà đồng đến núi Kỳ Xà Quật, ở cõi Ta bà này, đến rồi xuống đài thất bảo, dùng chuỗi ngọc giá trị trăm nghìn, đem đến chỗ Thích Ca Mâu Ni Phật, đầu mặt lễ chân Phật dâng chuỗi ngọc lên mà bạch Phật rằng: Thế Tôn! Ðức Tịnh Tú Hoa Vương Trí Phật hỏi thăm đức Thế Tôn ít bịnh, ít khổ, đi đứng thơ thới, sở hành an vui chăng? Bốn đại đều điều hòa chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sanh dễ độ chăng? Không có người nhiều tham dục, giận hờn, ngu si, ganh ghét, bỏn xẻn, kiêu mạn chăng? Không kẻ chẳng thảo cha mẹ, chẳng kính Sa môn (4), tà kiến tâm chẳng lành, chẳng nhiếp năm tình (5) chăng?

Thế Tôn! Chúng sanh hàng phục được các ma oán chăng? Ðức Ða Bảo Như Lai diệt độ từ lâu ở trong tháp bảy báu có đến nghe pháp chăng? Lại hỏi thăm đức Ða Bảo Như Lai: an ổn, ít khổ, kham nhẫn ở lâu đặng chăng? Thế Tôn! Nay con muốn thấy thân Ðức Ða Bảo Phật, cúi mong Thế Tôn chỉ bày cho con được thấy.

Lúc đó, đức Thích Ca Mâu Ni Phật nói với Phật Ða Bảo rằng: Ông Diệu Âm Bồ tát này muốn đặng ra mắt Phật.

Ðức Phật Ða Bảo Phật liền nói với Diệu Âm Bồ tát rằng: Hay thay! Hay thay! Ông có thể vì cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và nghe kinh Pháp Hoa cùng ra mắt Văn Thù Sư Lợi v.v... nên qua đến cõi này.

5. Lúc bấy giờ, Ngài Hoa Ðức Bồ tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Ngài Diệu Âm Bồ tát trồng cội lành gì, tu công đức gì, mà có sức thần thông như thế?

Ðức Phật bảo Ngài Hoa Ðức Bồ tát: Thuở quá khứ có Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, cõi nước tên là Hiện Nhứt thiết thế gian, kiếp tên Hỉ kiến. Diệu Âm Bồ tát ở trong một vạn hai nghìn năm, dùng mười muôn thứ kỹ nhạc cúng dường đức Vân Lôi Âm Vương Phật cùng dâng lên tám muôn bốn ngàn cái bát bảy báu. Do nhơn duyên quả báo đó nay sanh tại nước của đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật, có sức thần như thế

Hoa Ðức! Ý ông nghĩ sao. Thuở đó, nơi chỗ đức Vân Lôi Âm Vương Phật, Diệu Âm Bồ tát cúng dường kỹ nhạc cùng dâng bát báu lên đó, đâu phải người nào lạ, chính nay là Diệu Âm đại Bồ tát đây.

Hoa Ðức! Diệu Âm Bồ tát này đã từng cúng dường gần gũi vô lượng các đức Phật, từ lâu trồng cội công đức, lại gặp hằng hà sa trăm nghìn muôn ức na do tha đức Phật.

6. Hoa Ðức! Ông chỉ thấy Diệu Âm Bồ tát thân hình ở tại đây, mà Bồ tát đó hiện các thứ thân hình, nơi nơi vì hàng chúng sanh nói kinh điển này.

Hoặc hiện thân Phạm Vương, hoặc hiện thân Ðế Thích, hoặc hiện thân Tự tại thiên, hoặc hiện thân Ðại Tự tại thiên, hoặc hiện thân Thiên Ðại tướng quân, hoặc hiện thân Tỳ Sa môn thiên vương, hoặc hiện thân Chuyển luân Thánh Vương, hoặc hiện thân các Tiểu vương, hoặc hiện thân Trưởng giả, hoặc hiện thân Cư sĩ, hoặc hiện thân Tể quan, hoặc hiện thân Bà la môn, hoặc hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc hiện thân phụ nữ của Tể quan, hoặc hiện thân phụ nữ của Bà la môn, hoặc hiện thân đồng nam đồng nữ, hoặc hiện thân Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn v.v... mà nói kinh này.

Bao nhiêu Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh và các chỗ nạn đều có thể cứu giúp, nhẫn đến trong hậu cung của vua biến làm thân người nữ mà nói kinh này.

7. Hoa Ðức! Diệu Âm Bồ tát này, hay cứu hộ các chúng sanh trong cõi Ta bà, Diệu Âm Bồ tát này biến hóa hiện các thân hình như thế ở tại cõi Ta bà này vì chúng sanh mà nói kinh Pháp Hoa, ở nơi thần thông biến hóa không hề tổn giảm. Vị Bồ tát này dùng ngần ấy trí huệ sáng soi cõi Ta bà, khiến tất cả chúng sanh đều đặng hiểu biết, ở trong hằng hà sa cõi nước trong mười phương cũng lại như thế.

Nếu chúng sanh đáng dùng thân hình Thanh văn đặng độ thoát, liền hiện thân hình Thanh văn đặng mà vì đó nói pháp.

Ðáng dùng thân hình Duyên giác đặng độ thoát, liền hiện thân hình Duyên giác mà vì đó nói pháp.

Ðáng dùng thân hình Bồ tát đặng độ thoát, liền hiện thân hình Bồ tát đặng mà vì đó nói pháp.

Ðáng dùng thân hình Phật đặng độ thoát, liền hiện thân hình Phật mà vì đó nói pháp.

Theo chỗ đáng độ mà vì chúng hiện các thứ thân hình như thế, nhẫn đến đáng dùng diệt độ mà đặng độ thoát liền thị hiện diệt độ.

Hoa Ðức! Diệu Âm đại Bồ tát trọn nên sức đại thần thông trí huệ, việc đó như thế.

Lúc ấy Ngài Hoa Ðức Bồ tát bạch cùng Phật rằng: Thế Tôn! Ngài Diệu Âm Bồ tát sâu trồng căn lành. Thế Tôn! Bồ tát đó trụ tam muội gì mà có thể ở các nơi biến hiện thân hình độ thoát chúng sanh như thế?

Phật bảo Ngài Hoa Ðức Bồ tát: Thiện nam tử! Tam muội đó tên là “Hiện nhứt thiết sắc thân.”

Diệu Âm Bồ tát trụ trong tam muội đó có thể nhiêu ích vô lượng chúng sanh như thế.

8. Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ tát này những Bồ tát cùng đi chung với Diệu Âm Bồ tát tám muôn bốn nghìn người đều đặng: Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội. Vô lượng Bồ tát trong cõi Ta bà này cũng đặng tam muội đó và Đà la ni.

Khi Ngài Diệu Âm đại Bồ tát cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và tháp của Ða Bảo Phật xong rồi, trở về bổn độ, các nước đi trải qua đều sáu điệu vang động, rưới hoa sen báu, trổi trăm nghìn muôn ức các thứ kỹ nhạc, đã đến bổn quốc cùng tám muôn bốn nghìn Bồ tát vây quanh đến chỗ đức Tịnh Hoa Tú Vương Trí Phật mà bạch rằng: Thế Tôn! Con đến cõi Ta bà lợi ích chúng sanh, ra mắt đức Thích Ca Mâu Ni Phật và ra mắt tháp đức Ða Bảo Phật lễ lạy cúng dường, lại ra mắt Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử Bồ tát, Dược Vương Bồ tát, Ðắc Cần Tinh Tấn Lực Bồ tát, Dõng Thí Bồ tát, cũng làm cho tám muôn bốn nghìn vị Bồ tát này đặng Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội.

Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ tát lai vãng này, bốn muôn hai nghìn vị Thiên tử đặng vô sanh pháp nhẫn. Hoa Ðức Bồ tát đặng Pháp Hoa tam muội.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ môn” Thứ Hai Mươi Lăm

1. Lúc bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu, chắp tay hướng Phật mà bạch rằng: "Thế Tôn! Ngài Quán Thế Âm Bồ tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?"

Phật bảo Ngài Vô Tận Ý Bồ tát:

"Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sinh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.

Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát này, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng cháy được, vì do sức uy thần của Bồ tát này được như vậy.

Nếu bị nước lớn làm trôi, xưng danh hiệu Bồ tát này liền được chỗ cạn.

Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, trân châu các thứ báu, nên vào trong biển lớn, giả sử gió lớn thổi ghe thuyền của kia trôi tấp nơi nước quỉ La sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các người đó đều được thoát khỏi nạn quỉ La sát. Do nhân duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.

2. Nếu lại có người sắp sẽ bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời dao gậy của người cầm liền gãy từng khúc, người ấy được thoát khỏi.

Nếu quỉ Dạ xoa cùng La sát đầy trong cõi tam thiên đại thiên muốn đến hại người, nghe người xưng hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các quỉ dữ đó còn không thể dùng mắt dữ mà nhìn người, huống lại làm hại được.

Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát thảy đều đứt rã, liền được thoát khỏi.

Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi tam thiên đại thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu, trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: "Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sinh, các ông nếu xưng danh hiệu thời sẽ được thoát khỏi oán tặc này".

Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: "Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát!", vì xưng danh hiệu Bồ tát nên liền được thoát khỏi.

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát sức oai thần to lớn như thế.

3. Nếu có chúng sinh nào nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được ly dục.

Nếu người nhiều giận hờn, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được lìa lòng giận.

Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền được lìa ngu si.

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có những sức uy thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sinh thường phải một lòng tưởng nhớ.

Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát, liền sinh con trai phước đức trí tuệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sinh con gái có tướng xinh đẹp, vì trước đã trồng cội phước đức, mọi người đều kính mến.

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế.

4. Nếu có chúng sinh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, thời phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sinh đều phải thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát.

Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh hiệu của sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ tát lại trọn đời cúng dường đồ ăn uống y phục, giường nằm thuốc thang. Ý ông nghĩ sao? Công đức của người thiện nam tử, thiện nữ nhân đó có nhiều chăng?"

Vô Tận Ý thưa: "Bạch Thế Tôn! Rất nhiều".

Phật nói: "Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phước của hai người đó bằng nhau không khác, trong trăm nghìn ức kiếp không thể cùng tận.

Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế."

5. Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng: "Thế Tôn, Quán Thế Âm Bồ tát dạo đi trong cõi Ta bà như thế nào? Sức phương tiện việc đó thế nào?"

Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát: "Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh trong quốc độ nào đáng dùng thân Phật đặng độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Duyên giác đặng độ thoát, liền hiện thân Duyên giác mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Thanh văn đặng độ thoát, liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Phạm Vương đặng độ thoát, liền hiện thân Phạm Vương mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Ðế Thích đặng độ thoát, liền hiện thân Ðế Thích mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tự tại thiên đặng độ thoát, liền hiện thân Tự tại thiên mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Ðại Tự tại thiên đặng độ thoát, liền hiện thân Ðại Tự tại thiên mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Thiên đại tướng quân đặng độ thoát, liền hiện thân Thiên đại tướng quân mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tỳ Sa môn đặng độ thoát, liền hiện thân Tỳ Sa môn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tiểu vương đặng độ thoát, liền hiện thân Tiểu vương mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Trưởng giả đặng độ thoát, liền hiện thân Trưởng giả mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Cư sĩ đặng độ thoát, liền hiện thân Cư sĩ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tể quan đặng độ thoát, liền hiện thân Tể quan mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Bà la môn đặng độ thoát, liền hiện thân Bà la môn mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đặng độ thoát, liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân phụ nữ của Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà la môn đặng độ thoát, liền hiện thân phụ nữ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân đồng nam, đồng nữ đặng độ thoát, liền hiện thân đồng nam, đồng nữ mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân cùng phi nhân đặng độ thoát, liền đều hiện ra mà vì đó nói pháp.

Người đáng dùng thân Chấp Kim Cang Thần đặng độ thoát, liền hiện thân Chấp Kim Cang Thần mà vì đó nói pháp.

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình, dạo đi trong các cõi nước để độ thoát chúng sinh, cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát.

Quán Thế Âm Ðại Bồ tát đó ở trong chỗ nạn gấp sợ sệt hay ban sự vô úy, cho nên cõi Ta bà này đều gọi Ngài là vị "Thí Vô Úy".

6. Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật: "Thế Tôn! Con nay phải cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát". Liền mở chuỗi ngọc bằng các châu báu nơi cổ giá trị trăm nghìn lạng vàng, đem trao cho Ngài Quán Thế Âm mà nói rằng: "Xin Ngài nhận chuỗi trân bảo pháp thí này."

Khi ấy Quán Thế Âm Bồ tát chẳng chịu nhận chuỗi. Ngài Vô Tận Ý lại thưa cùng Quán Thế Âm Bồ tát rằng: "Xin Ngài vì thương chúng tôi mà nhận chuỗi ngọc này".

Bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ tát: "Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ tát này và hàng tứ chúng cùng Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhân và phi nhân v.v... mà nhận chuỗi ngọc đó".

Tức thời Quán Thế Âm Bồ tát thương hàng tứ chúng và Trời, Rồng, Nhân, Phi nhân v.v... mà nhận chuỗi ngọc đó chia làm hai phần: một phần dâng đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Ða Bảo.

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Ta bà.

Lúc đó, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát nói kệ hỏi Phật rằng:

7. Thế Tôn đủ tướng tốt!

Con nay lại hỏi kia

Phật tử nhân duyên gì

Tên là Quán Thế Âm?

Ðấng đầy đủ tướng tốt

Kệ đáp Vô Tận Ý:

Ông nghe hạnh Quán Âm

Khéo ứng các nơi chỗ.

Thệ rộng sâu như biển

Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

Hầu nhiều nghìn đức Phật

Phát nguyện thanh tịnh lớn.

Ta vì ông lược nói

Nghe tên cùng thấy thân

Tâm niệm chẳng luống qua

Hay diệt khổ các cõi.

Giả sử sinh lòng hại

Xô rớt hầm lửa lớn

Do sức niệm Quán Âm

Hầm lửa biến thành ao.

Hoặc trôi dạt biển lớn

Các nạn quỉ, cá, rồng

Do sức niệm Quán Âm

Sóng mòi chẳng chìm được.

Hoặc ở chót Tu di

Bị người xô rớt xuống

Do sức niệm Quán Âm

Như mặt nhật treo không.

Hoặc bị người dữ rượt

Rớt xuống núi Kim Cang

Do sức niệm Quán Âm

Chẳng tổn đến mảy lông.

Hoặc gặp oán tặc vây

Ðều cầm dao làm hại

Do sức niệm Quán Âm

Ðều liền sinh lòng lành.

Hoặc bị khổ nạn vua

Khi hành hình sắp chết

Do sức niệm Quán Âm

Dao liền gãy từng đoạn.

Hoặc tù cấm xiềng xích

Tay chân bị gông cùm

Do sức niệm Quán Âm

Tháo rã được giải thoát.

Nguyền rủa các thuốc độc

Muốn hại đến thân đó

Do sức niệm Quán Âm

Trở hại nơi bổn nhân (6).

Hoặc gặp La sát dữ

Rồng độc các loài quỉ

Do sức niệm Quán Âm

Liền đều không dám hại.

Hoặc thú dữ vây quanh

Nanh vuốt nhọn đáng sợ

Do sức niệm Quán Âm

Vội vàng bỏ chạy thẳng.

Rắn độc cùng bò cạp

Hơi độc khói lửa đốt

Do sức niệm Quán Âm

Theo tiếng tự bỏ đi.

Mây sấm nổ sét đánh

Tuôn giá (7), xối mưa lớn

Do sức niệm Quán Âm

Liền được tiêu tan cả.

Chúng sinh bị khổ ách

Vô lượng khổ bức thân

Quán Âm sức trí diệu

Hay cứu khổ thế gian.

Ðầy đủ sức thần thông

Rộng tu trí phương tiện

Các cõi nước mười phương

Không cõi nào chẳng hiện.

Các loài trong đường dữ:

Ðịa ngục, quỉ, Súc sanh

Sinh, già, bịnh, chết khổ

Lần đều khiến dứt hết.

Chân quán, thanh tịnh quán

Trí tuệ quán rộng lớn

Bi quán và từ quán

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng.

Sáng thanh tịnh không nhơ

Tuệ nhật (8) phá các tối

Hay phục tai khói lửa

Khắp soi sáng thế gian.

Lòng bi răn như sấm

Ý Tứ diệu dường mây (9)

Xối mưa pháp cam lộ

Dứt trừ lửa phiền não. (10)

Cãi kiện qua chỗ quan

Trong quân trận sợ sệt

Do sức niệm Quán Âm

Cừu oán đều lui tan.

Diệu Âm, Quán Thế Âm

Phạm Âm, Hải Triều Âm

Tiếng hơn thế gian kia

Cho nên thường phải niệm.

Niệm niệm chớ sanh nghi

Quán Âm bậc tịnh thánh

Nơi khổ não nạn chết

Hay vì làm nương cậy.

Ðủ tất cả công đức

Mắt lành trông chúng sanh

Biển phước lớn không lường

Cho nên phải đảnh lễ.

8. Bấy giờ, Ngài Trì Ðịa Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng: "Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ tát đạo nghiệp tự tại, Phổ môn thị hiện sức thần thông này, thời phải biết công đức người đó chẳng ít".

Lúc Phật nói phẩm Phổ môn này, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Ðà La Ni” Thứ Hai Mươi Sáu

1. Lúc bấy giờ, Ngài Dược Vương Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu chắp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân hay thọ trì được kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc tụng thông lẹ, hoặc biên chép quyển kinh, được bao nhiêu phước đức?”

Phật bảo Ngài Dược Vương: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân cúng dường tám trăm muôn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật. Ý ông nghĩ sao? Người đó được phước đức có nhiều chăng? Thưa Thế Tôn! rất nhiều.

Phật nói: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân ở nơi kinh này có thể thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu đọc tụng giải nghĩa, đúng như lời mà tu hành thời công đức rất nhiều”.

2. Lúc đó, Ngài Dược Vương Bồ tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con nay sẽ cho người nói kinh Pháp Hoa chú Đà la ni để giữ gìn đó. Liền nói chú rằng:

“An nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, già lê đệ, xa mế, xa lý đa vĩ, chuyên đế, mục đế mục đa lý, ta lý, a vĩ ta lý, tang lý, ta lý xoa duệ, a xoa duệ, a kỳ nhị chuyên đế, xa lý, Đà la ni, a lư dà bà ta ky đá tỳ xoa nhị, nễ tỳ thế, a tiện đa la nễ lý thế, a đàn dá ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu lệ, a la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a tam ma tam lý, Phật đà tỳ kiết lợi điệt đế, đạt ma ba lợi sai đế, tăng già niết cù sa nễ bà xá bà xá thâu địa, mạn đá lã, mạn đá lã xoa dạ đa, bưu lâu đá, bưu lâu đá kiêu xá lược, ác xoa lã, ác xoa dã đa dã, a bà lư, a ma nhã na đa dạ”.

Thế Tôn! Thần chú Đà la ni này là của sáu mươi hai ức hằng hà sa các đức Phật nói. Nếu có người xâm hủy vị Pháp sư này, thời là xâm hủy các đức Phật rồi.

Lúc đó, đức Thích Ca Mâu Ni Phật khen Dược Vương Bồ tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Dược Vương! Ông thương xót muốn ủng hộ vị Pháp sư đó, nên nói chú Đà la ni này, được nhiều lợi ích ở nơi các chúng sinh”.

3. Lúc bấy giờ, Ngài Dũng Thí Bồ tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! con cũng vì ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp Hoa mà nói chú Đà la ni. Nếu vị Pháp sư đó được chú Đà la ni này, hoặc Dạ xoa, La sát hoặc Phú đan na hoặc Cát giá, hoặc Cưu bàn trà, hoặc Ngã quỉ v.v... rình tìm chỗ dở của Pháp sư không thể được tiện lợi”. Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

“Toa lệ, ma ha toa lệ, úc chỉ, mục chỉ, a lê, a la bà đệ, niết đệ, niết lệ đa bà đệ, y trí nỉ, vi trí nỉ, chỉ trí nỉ, niết lệ trì nỉ, niết lệ trì bà để”.

Thế Tôn! Thần chú Đà la ni này của hằng hà sa các đức Phật nói, cũng đều tùy hỉ. Nếu có người xâm hủy vị Pháp sư này thời là xâm hủy các đức Phật đó rồi.

4. Bấy giờ, Tỳ Sa môn Thiên Vương, vì trời hộ đời bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con cũng vì thương tưởng chúng sinh ủng hộ vị Pháp sư đó mà nói Đà la ni này. Liền nói chú rằng: A lê, na lê, nâu na lê, a na lư, na lý, câu na lý”.

Thế Tôn! Dùng thần chú này ủng hộ Pháp sư, con cũng tự phải ủng hộ người trì kinh này, làm cho trong khoảng trăm do tuần không có các điều tai hoạn.

5. Bấy giờ Trì Quốc Thiên Vương ở trong hội này cùng với nghìn muôn ức na do tha chúng Càn thát bà cung kính vây quanh đến trước chỗ Phật, chắp tay bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con cũng dùng thần chú Đà la ni ủng hộ người trì kinh Pháp Hoa. Liền nói chú rằng:

“A dà nễ, dà nễ, cù lợi, càn đà lợi, chiên đà lợi, ma đắng kỳ thường cầu lợi, phù lầu tá nỉ, ác đế”.

Thế Tôn! Thần chú Đà la ni này là của bốn mươi hai ức các đức Phật nói, nếu có người xâm hủy vị Pháp sư này thời là xâm hủy các đức Phật rồi.

6. Bấy giờ có những La sát nữ: một, tên Lam Bà, hai, tên Tỳ Lam Bà, ba, tên Khúc Xỉ, bốn, tên Hoa Xỉ, năm, tên Hắc Xỉ, sáu, tên Ða Phát, bảy, tên Vô yểm Túc, tám, tên Trì anh Lạc, chín, tên Cao Ðế, mười, tên Ðoạt Nhất Thiết Chúng Sinh Tinh Khí. Mười vị La sát nữ đó cùng với quỉ Tử Mẫu, con và quyến thuộc đều đến chỗ Phật, đồng tiếng bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp Hoa, trừ sự khổ hoạn cho người đó. Nếu có kẻ rình tìm chỗ dở của Pháp sư, thời làm cho chẳng được tiện lợi”. Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

“Y đề, y đề dẫn, y đề lý, a đề lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, lâu hê, lâu hê, lâu hê, lâu hê, đa hê, đa hê, đa hê, đâu hê, nâu hê”.

Thà trèo lên đầu chúng con, chớ đừng não hại Pháp sư, hoặc Dạ xoa, hoặc La sát, hoặc Ngã quỉ hoặc Phú đan na, hoặc Cát giá hoặc Tỳ đà la, hoặc Kiền đà hoặc Ô ma lặc đà, hoặc A bạt ma la, hoặc Dạ xoa cát giá, hoặc Nhân cát giá, hoặc quỉ làm bịnh nóng, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc đến bảy ngày, hoặc làm bịnh nóng luôn, hoặc hình trai, hoặc hình gái, hoặc hình đồng nam, hoặc hình đồng nữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng lại chớ não hại”.

Liền ở nơi trước Phật mà nói kệ rằng:

Nếu chẳng thuận chú ta

Não loạn người nói pháp

Ðầu vỡ làm bảy phần

Như nhánh cây A lê

Như tội giết cha mẹ

Cũng như họa ép dầu (11)

Cân lường khi dối người

Tội Ðiều Ðạt phá Tăng

Kẻ Phạm Pháp sư đây

Sẽ mắc họa như thế.

Những La sát nữ nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ tự mình ủng hộ người thọ trì đọc tụng kinh này, làm cho được an ổn, lìa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc”.

7. Phật bảo các La sát nữ: “Hay thay! Hay thay! Các người chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên kinh Pháp Hoa phước chẳng thể lường được rồi, huống là ủng hộ người thọ trì toàn bộ cúng dường quyển kinh, hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, phan, lọng, kỹ nhạc, thắp các thứ đèn: đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, đèn dầu hoa Tô na ma, đèn dầu hoa Chiêm bặc, đèn dầu hoa Bà sư ca, đèn dầu hoa Ưu bát la, nghìn trăm thứ cúng dường như thế.

Cao Ðế! Các người cùng quyến thuộc phải nên ủng hộ những Pháp sư như thế”.

Lúc nói phẩm “Ðà la ni” này, có sáu muôn tám nghìn người được vô sinh pháp nhẫn.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự” Thứ Hai Mươi Bảy

1. Lúc bấy giờ, Phật bảo hàng đại chúng rằng: “Về thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp, có đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, Ứng cúng, Chính biến tri. Nước đó tên Quang Minh Trang Nghiêm, kiếp tên Hỉ Kiến.

Trong pháp hội của Phật đó có vị vua tên Diệu Trang Nghiêm, phu nhân của vua tên Tịnh Ðức có hai người con, một tên Tịnh Tạng, hai tên Tịnh Nhãn. Hai người con đó có sức thần thông lớn, phước đức trí tuệ, từ lâu tu tập đạo hạnh của Bồ tát, những là: thí Ba la mật, giới Ba la mật, nhẫn nhục Ba la mật, tinh tiến Ba la mật, thiền định Ba la mật, trí tuệ Ba la mật, phương tiện Ba la mật, từ bi hỷ xả nhẫn đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo pháp thảy đều rành rẽ suốt thấu. Lại được các môn tam muội của Bồ tát: Nhật tinh tú tam muội, Tịnh quang tam muội, Tịnh sắc tam muội, Tịnh chiếu minh tam muội, Trường trang nghiêm tam muội, Ðại uy đức tạng tam muội, ở nơi các môn tam muội này cũng đều thấu suốt.

2. Lúc đó, đức Phật kia vì muốn dẫn dắt vua Diệu Trang Nghiêm cùng thương tưởng hàng chúng sinh nên nói kinh Pháp Hoa này.

Bấy giờ, Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn, hai người con đến chỗ của mẹ chắp tay thưa mẹ rằng: “Mong mẹ đến nơi chỗ đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, chúng con cũng sẽ theo hầu gần gũi cúng dường lễ lạy”.

Vì sao? Vì đức Phật đó ở trong tất cả chúng trời người mà nói kinh Pháp Hoa, nên phải nghe và tin nhận.

Mẹ bảo con rằng: “Cha con tin theo ngoại đạo, rất ham pháp Bà la môn, các con nên qua thưa với cha để cùng nhau đồng đi”.

Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn chắp tay thưa mẹ: “Chúng con là pháp vương tử mà lại sinh vào nhà tà kiến này!”

Mẹ bảo con rằng: “Các con nên thương tưởng cha các con, mà vì đó hiển phép thần thông biến hóa, nếu cha con được thấy lòng ắt thanh tịnh, hoặc là chịu cho chúng ta qua đến chỗ Phật”.

3. Lúc ấy, hai người con thương cha nên bay lên hư không cao bằng bảy cây đa la, hiện các món thần biến. Ở trong hư không đi, đứng, ngồi, nằm, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không rồi lại hiện nhỏ, nhỏ lại hiện lớn, ở trong hư không ẩn mất, bỗng nhiên hiện trên đất, vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất, hiện các món thần biến như thế làm cho vua cha lòng thanh tịnh tin hiểu.

Bấy giờ, cha thấy con có sức thần như thế, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có, chắp tay hướng về phía con mà nói rằng: “Thầy các con là ai, con là đệ tử của ai?”

Hai người con thưa rằng: “Ðại vương! Ðức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật kia nay đương ngồi trên pháp tòa dưới cây Bồ đề bằng bảy báu, ở trong tất cả chúng trời người thế gian, rộng nói kinh Pháp Hoa, đó là Thầy chúng con, con là đệ tử”.

Cha nói với con rằng: “Ta nay cũng muốn ra mắt Thầy các con, nên cùng nhau đồng đi”. Khi đó hai người con từ trong hư không xuống, đến chỗ của mẹ chắp tay thưa mẹ rằng: “Phụ vương nay đã tin hiểu, có thể kham phát được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, con đã vì cha làm Phật sự rồi, mong mẹ bằng lòng cho chúng con, ở nơi chỗ đức Phật kia mà xuất gia tu hành Phật đạo”.

Lúc đó, hai người con muốn tuyên lại ý mình nói kệ thưa mẹ:

Mong mẹ cho các con

Xuất gia làm Sa môn

Các Phật rất khó gặp

Chúng con theo Phật học

Như hoa Ưu đàm bát

Gặp Phật lại khó hơn

Khỏi các nạn cũng khó

Mong cho con xuất gia.

Mẹ liền bảo con rằng: “Cho các con xuất gia. Vì sao? Vì Phật khó gặp vậy”.

4. Bấy giờ, hai người con thưa cha mẹ rằng: Lành thay, cha mẹ! Xin liền qua đến chỗ đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật để gần gũi cúng dường.

Vì sao? Vì các đức Phật khó gặp được, như hoa linh thoại, lại như rùa một mắt gặp bộng cây nổi (12) mà chúng ta do phước đời trước sâu dày, sanh đời này gặp Phật pháp, xin cha mẹ nên cho chúng con đặng xuất gia.

Vì sao? Vì các đức Phật khó gặp được, thời kỳ gặp Phật cũng khó có.

5. Lúc đó nơi hậu cung của vua Diệu Trang Nghiêm có tám muôn bốn nghìn người thảy đều có thể kham thọ trì kinh Pháp Hoa này. Tịnh Nhãn Bồ tát từ lâu đã thông đạt nơi “Pháp Hoa tam muội”. Tịnh Tạng Bồ tát đã từ vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp, thông đạt môn “Ly chư ác thú tam muội”, vì muốn làm cho tất cả chúng sinh lìa các đường dữ (13) vậy.

Phu nhân của vua được môn “Chư Phật Tập tam muội”, hay biết được tạng pháp bí mật của các đức Phật. Hai người con dùng sức phương tiện khéo hóa độ vua cha như thế, khiến cho lòng cha tin hiểu ưa mến Phật Pháp.

6. Bấy giờ vua Diệu Trang Nghiêm cùng chung với quần thần quyến thuộc, Tịnh Ðức phu nhân cùng chung với thể nữ quyến thuộc nơi hậu cung, hai người con của vua, cùng chung với bốn muôn hai nghìn người đồng một lúc đi qua chỗ Phật. Ðến rồi đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh Phật ba vòng, rồi đứng qua một phía.

Lúc đó đức Phật kia vì vua nói pháp, chỉ dạy làm cho được lợi ích vui mừng. Vua rất vui đẹp.

Bấy giờ, vua Diệu Trang Nghiêm cùng phu nhân mở chuỗi trân châu giá trị trăm nghìn đeo nơi cổ, để rải trên đức Phật, chuỗi đó ở giữa hư không hóa thành đài báu bốn trụ, trong đài có giường báu lớn trải trăm nghìn muôn thiên y, trên đó có đức Phật ngồi xếp bằng phóng hào quang sáng lớn.

7. Lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm nghĩ rằng: Thân Phật tốt đẹp riêng lạ ít có, thành tựu sắc thân vi diệu thứ nhất.

Bấy giờ, đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật bảo bốn chúng rằng: “Các người thấy vua Diệu Trang Nghiêm chắp tay đứng trước ta đó chăng?”

Vị vua này ở trong pháp ta làm Tỳ kheo siêng ròng tu tập các món trợ Phật đạo Pháp, sẽ được làm Phật hiệu Ta La Thọ Vương, nước tên Ðại Quang, kiếp tên Ðại Cao Vương.

Ðức Ta La Thọ Vương Phật có vô lượng chúng Bồ tát và vô lượng Thanh văn, nước đó bằng thẳng công đức như thế”.

8. Vua Diệu Trang Nghiêm liền đem nước giao cho em, rồi cùng phu nhân hai người con và các quyến thuộc, ở trong Phật Pháp xuất gia tu hành đạo hạnh.

Vua xuất gia rồi trong tám muôn bốn nghìn năm thường siêng tinh tiến tu hành kinh Diệu Pháp Liên Hoa; qua sau lúc đây, được môn “Nhất Thiết Tịnh Công đức Trang Nghiêm tam muội”.

Liền bay lên hư không cao bảy cây đa la mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Hai người con của con đây đã làm Phật sự dùng sức thần thông biến hóa, xoay tâm tà của con, làm cho con được an trụ trong Phật Pháp, được thấy Thế Tôn. Hai người con này là thiện tri thức của con, vì muốn phát khởi căn lành đời trước lợi ích cho con nên đến sinh vào nhà con”.

Lúc đó đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật bảo vua Diệu Trang Nghiêm rằng: “Ðúng thế! Ðúng thế! như lời ông nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào trồng cội lành thời đời đời được gặp thiện tri thức, vị thiện tri thức hay làm Phật sự, chỉ dạy cho lợi ích vui mừng, khiến vào đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Ðại vương nên biết! Vị thiện tri thức đó là nhân duyên lớn, giáo hóa dìu dắt làm cho được thấy Phật phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Ðại vương! Ông thấy hai người con này chăng? Hai người con này đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật, gần gũi, cung kính, nơi chỗ các đức Phật thọ trì kinh Pháp Hoa, thương tưởng những chúng sinh tà kiến làm cho trụ trong chánh kiến.

Diệu Trang Nghiêm Vương liền từ trong hư không xuống mà bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Như Lai rất ít có do công đức trí tuệ nên nhục kế trên đỉnh sáng suốt chói rỡ. Mắt Phật dài rộng mà sắc xanh biếc, tướng lông trắng chặn mày như ngọc Kha nguyệt, răng trắng bằng và khít thường có ánh sáng, môi sắc đỏ đẹp như trái tần bà”.

Lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm khen ngợi Phật có vô lượng trăm nghìn muôn ức công đức thế rồi, ở trước Như Lai một lòng chắp tay lại bạch Phật rằng: “Thế Tôn! chưa từng có vậy! pháp của Như Lai đầy đủ trọn nên bất khả tư nghì công đức vi diệu dạy răn chỗ tu hành an ổn rất hay, con từ ngày nay chẳng còn lại tự theo tâm hành của mình chẳng sinh những lòng ác: kiêu mạn, giận hờn, tà kiến”.

Vua thưa lời đó rồi lạy Phật mà ra.

9. Phật bảo đại chúng: “Ý các ông nghĩ sao? Vua Diệu Trang Nghiêm đâu phải người nào lạ, nay chính là Hoa Ðức Bồ tát, bà Tịnh Ðức phu nhân nay chính là Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng Bồ tát hiện đương ở trước Phật. Hai người con vì thương xót vua Diệu Trang Nghiêm và các quyến thuộc nên sinh vào trong cung vua, nay chính là Dược Vương Bồ tát cùng Dược Thượng Bồ tát.

Dược Vương và Dược Thượng Bồ tát này thành tựu các công đức lớn như thế, đã ở chỗ vô lượng trăm nghìn muôn ức, các đức Phật trồng các cội công đức, thành tựu bất khả tư nghì những công đức lành. Nếu có người biết danh tự của hai vị Bồ tát này thời tất cả trong đời, hàng trời, nhân dân cũng nên lễ lạy.

Lúc đức Phật nói phẩm “Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn sự” này có tám muôn bốn nghìn người xa trần lụy, rời cấu nhiễm, ở trong các pháp chứng được pháp nhãn tịnh.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm “Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát” Thứ Hai Mươi Tám

1. Lúc bấy giờ, Ngài Phổ Hiền Bồ tát dùng sức thần thông tự tại uy đức danh văn, cùng vô lượng vô biên bất khả xưng sổ chúng đại Bồ tát từ phương Ðông mà đến; các nước đi ngang qua khắp đều rung động, rưới hoa sen báu, trổi vô lượng trăm nghìn muôn ức các thứ kỹ nhạc.

Lại cùng vô số các đại chúng: Trời, Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, Nhân, Phi nhân v.v... vây quanh, đều hiện sức uy đức thần thông đến cõi Ta bà trong núi Kỳ xà quật, đầu mặt lạy đức Thích Ca Mâu Ni Phật đi quanh bên hữu bảy vòng, bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con ở nơi nước của đức Bảo Uy Ðức Thượng Vương Phật, xa nghe cõi Ta bà này nói kinh Pháp Hoa, nên cùng với vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức chúng Bồ tát đồng đến để nghe thọ, cúi mong đức Thế Tôn nên vì chúng con nói đó”.

Nếu thiện nam tử thiện nữ nhân sau khi Như Lai diệt độ, thế nào mà có thể được kinh Pháp Hoa này.

2. Phật bảo Phổ Hiền Bồ tát rằng: “Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thành tựu bốn pháp, thời sau khi Như Lai diệt độ sẽ được kinh Pháp Hoa này: một là được các đức Phật hộ niệm, hai là trồng các cội công đức, ba là vào trong chánh định, bốn là phát lòng cứu tất cả chúng sinh.

Thiện nam tử, thiện nữ nhân thành tựu bốn pháp như thế, sau khi Như Lai diệt độ quyết được kinh này.

3. Lúc đó Ngài Phổ Hiền Bồ tát bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Năm trăm năm sau trong đời ác trược nếu có người thọ trì kinh điển này, con sẽ giữ gìn trừ các sự khổ hoạn làm cho được an ổn, khiến không ai được tiện lợi rình tìm làm hại; hoặc ma, hoặc con trai của ma, hoặc con gái của ma, hoặc dân ma, hoặc người bị ma dựa, hoặc Dạ xoa, hoặc La sát, hoặc Cưu bàn trà hoặc Tỳ xá xà, hoặc Cát giá, hoặc Phú đan na, hoặc Vi đà la v.v... những kẻ làm hại người đều chẳng được tiện lợi.

Người đó hoặc đi, hoặc đứng, đọc tụng kinh này, bấy giờ con cưỡi tượng vương trắng sáu ngà cùng chúng đại Bồ tát, đều đến chỗ người đó mà tự hiện thân ra, để cúng dường thủ hộ an ủi tâm người đó, cùng để cúng dường kinh Pháp Hoa.

Người đó nếu ngồi suy nghĩ kinh này, bấy giờ con lại cưỡi tượng vương trắng hiện ra trước người đó, người đó nếu ở trong kinh Pháp Hoa có quên một câu một bài kệ, con sẽ dạy đó chung cùng đọc tụng, làm cho thông thuộc.

Bấy giờ, người thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa được thấy thân con, lòng rất vui mừng lại càng tinh tiến, do thấy thân con nên liền được tam muội và Đà la ni tên là “triền Đà la ni”, “trăm nghìn muôn ức triền Đà la ni”, pháp âm phương tiện Đà la ni”, được những môn Đà la ni như thế.

4. Thế Tôn! nếu đời sau, sau năm trăm năm trong đời ác trược, hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, người cầu tìm, người thọ trì, người đọc tụng, người biên chép, mà muốn tu tập kinh Pháp Hoa này, thời trong hai mươi mốt ngày, phải một lòng tinh tiến, mãn hai mươi mốt ngày rồi, con sẽ cưỡi tượng trắng sáu ngà, cùng vô lượng Bồ tát vây quanh, dùng thân mà tất cả chúng sinh ưa thấy, hiện nơi trước người đó để vì nói pháp chỉ dạy cho lợi ích vui mừng cũng lại cho chú Đà la ni.

Ðược chú Đà la ni này thời không có phi nhân nào có thể phá hoại được, cũng chẳng bị người nữ làm hoặc loạn. Con cũng đích thân thường hộ người đó. Cúi mong đức Thế Tôn nghe con nói chú Đà la ni này, liền ở trước Phật mà nói chú rằng:

“A đàn địa, đàn đà bà địa, đàn đà bà đế, đàn đà cưu xá lệ, đàn đà tu đà lệ, tu đà lệ, tu đà la bà để, Phật đà ba chiên nễ, tát bà Đà la ni a bà đa ni, tát bà bà sa a bà đa ni, tu a bà đa ni, tăng già bà lý xoa ni, tăng già niết dà đà ni, a tăng kỳ, tăng già bà dà địa, đế lệ a đọa tăng già đâu lược, a la đế ba la đế, tát bà tăng già địa, tam ma địa dà lan địa, tát bà đạt mạ tu ba lợi Sát đế, tát bà tát tỏa lâu đà kiêu xá lược, a nâu dà địa, tân a tỳ cát lợi địa đế”.

Thế Tôn! Nếu có Bồ tát nào được nghe chú Đà la ni này, phải biết đó là sức thần thông của Phổ Hiền.

5. Nếu kinh Pháp Hoa lưu hành trong Diêm phù đề có người thọ trì, thời nên nghĩ rằng: đều là sức uy thần của Phổ Hiền.

Nếu có người thọ trì đọc tụng ghi nhớ chân chánh hiểu nghĩa thú trong kinh đúng như lời mà tu hành, phải biết người đó tu hạnh Phổ Hiền, ở nơi vô lượng vô biên các đức Phật, sâu trồng cội lành, được các Như Lai, lấy tay xoa đầu. Nếu chỉ biên chép người này mệnh chung sẽ sinh lên trời Ðao Lợi.

Bấy giờ, bốn muôn tám nghìn thiên nữ trổi các kỹ nhạc mà đến rước đó, người đó liền đội mũ bảy báu ở trong hàng thể nữ, vui chơi khoái lạc, huống là thọ trì đọc tụng ghi nhớ chân chính hiểu nghĩa thú kinh, đúng như lời mà tu hành.

Nếu có người nào thọ trì, đọc tụng, giải nghĩa thú kinh, người đó khi mệnh chung được nghìn đức Phật trao tay, khiến chẳng sợ sệt, chẳng đọa vào đường dữ, liền lên cung trời Ðâu Suất, chỗ Di Lặc Bồ tát mà sinh vào trong hàng quyến thuộc trăm nghìn muôn ức thiên nữ, đức Di Lặc Bồ tát có ba mươi hai tướng, chúng đại Bồ tát cùng nhau vây quanh. Có công đức lợi ích như thế cho nên người trí phải một lòng tự chép hoặc bảo người chép, thọ trì đọc tụng, ghi nhớ chân chính đúng như lời tu hành.

Thế Tôn! Con nay dùng sức thần thông giữ gìn kinh này, sau khi Như Lai diệt độ, làm cho rộng lưu bố trong Diêm phù đề khiến chẳng dứt mất.

6. Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Phật khen rằng: “Hay thay! hay thay! Phổ Hiền! Ông có thể hỗ trợ, kinh này làm cho nhiều chúng sinh an vui lợi ích, ông đã thành tựu bất khả tư nghì công đức, lòng từ bi sâu lớn, từ lâu xa đến nay phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà có thể thực hành nguyện thần thông đó, để giữ gìn kinh này.

Ta sẽ dùng sức thần thông giữ gìn người hay thọ trì danh hiệu Phổ Hiền Bồ tát.

Phổ Hiền! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, ghi nhớ chân chánh tu tập biên chép kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó thời là thấy đức Thích Ca Mâu Ni Phật, như từ miệng Phật mà nghe kinh điển này. Phải biết người đó cúng dường cho đức Thích Ca Mâu Ni Phật, phải biết người đó được Phật Ngài khen lành thay, phải biết người đó được Thích Ca Mâu Ni Phật lấy tay xoa đầu. Phải biết người đó được đức Thích Ca Mâu Ni Phật, lấy y trùm cho. Người như thế chẳng còn lại ham ưa sự vui trong đời, chẳng ưa kinh sách viết chép của ngoại đạo, cũng lại chẳng ưa gần gũi ngoại đạo và các kẻ ác, hoặc kẻ hàng thịt, hoặc kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, hoặc thợ săn, hoặc kẻ buôn bán sắc gái. Người đó tâm ý ngay thật có lòng nghĩ nhớ chân chính có sức phước đức. Người đó chẳng bị ba món độc làm não hại, cũng chẳng bị tính ghen ghét, ngã mạn, tà mạn, tăng thượng mạn làm não hại. Người đó ít muốn biết đủ, có thể tu hạnh Phổ Hiền.

7. Phổ Hiền! Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nào thấy người thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa phải nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng, phá các chúng ma thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chuyển pháp luân, đánh pháp cổ, thổi pháp loa, rưới pháp vũ, sẽ ngồi trên pháp tòa sư tử trong đại chúng trời người.

Phổ Hiền! Nếu ở đời sau, có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, người đó chẳng còn lại ham ưa y phục, giường nằm, những vật nuôi sống, chỗ mong cầu chẳng luống, cũng ở trong hiện đời được phước báo đó.

Nếu có người khinh chê đó rằng: “Ông là người điên cuồng vậy, luống làm hạnh ấy trọn không được lợi ích”. Tội báo như thế sẽ đời đời không mất. Nếu có người cúng dường khen ngợi đó, sẽ ở trong đời này được quả báo hiện tại.

Nếu lại thấy người thọ trì kinh này mà nói bày lỗi quấy của người đó, hoặc thực, hoặc chẳng thực, người này trong hiện đời mắc bịnh bạch lại (14). Nếu khinh cười người trì kinh sẽ đời đời răng nướu thưa thiếu, môi xấu, mũi xẹp, tay chân cong quẹo, mắt lé, thân thể hôi dơ, ghẻ dữ máu mủ, bụng thủng hơi ngắn, bị các bịnh nặng dữ.

Cho nên Phổ Hiền! Nếu thấy người thọ trì kinh điển này phải đứng dậy xa rước, phải như kính Phật.

8. Lúc Phật nói phẩm Phổ Hiền Bồ tát khuyến phát này có hằng hà sa vô lượng vô biên Bồ tát được trăm nghìn muôn ức môn “triền Đà la ni”, tam thiên đại thiên thế giới vi trần số các đại Bồ tát, đủ đạo Phổ Hiền.

Lúc Phật nói kinh này, Phổ Hiền v.v... các vị Bồ tát, Xá Lợi Phất v.v... các vị Thanh văn và hàng Trời, Rồng, Nhân, Phi nhân v.v... tất cả đại chúng đều rất vui thọ trì lời Phật làm lễ mà đi.

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA QUYỂN THỨ BẢY

I. Diệu Âm hạnh khắp, thành trước nên sau, hoằng dương kinh này, toàn nhờ công tổng trì (15), tà ma ngoại đạo theo hơi gió lánh xa, đạo chân thường lưu thông, muôn pháp đều viên dung.

Nam mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

II. Pháp Hoa hải hội (16) đức Phật thân tuyên, ba châu (17) chín dụ nghĩa kín mầu, bảy cuốn gồm bao trùm hơn sáu muôn lời, xướng tụng lợi người, trời.

Nam mô Pháp Hoa Hải Hội Chư Phật, Chư Ðại Bồ tát, Chư Hiền Thánh Tăng (3 lần)

III. Một câu nhiễm tâm thần

Ðều giúp đến bờ kia

Nghĩ suy ròng tu tập

Hẳn dùng làm thuyền bè

Tùy hỷ thấy cùng nghe

Thường làm chủ với bạn

Hoặc lấy hay là bỏ

Qua tai đều thành duyên

Hoặc thuận cùng với nghịch

Trọn nhân đây được thoát.

Nguyện này tôi giải thoát

Y báo cùng chánh báo

Thường tuyên kinh mầu này

Một cõi đến một trần

Ðều là vì lợi vật

Cúi mong các đức Phật

Thầm nhờ hộ trợ cho

Tất cả hàng Bồ tát

Kín giúp sức uy linh

Nơi nơi chưa nói kinh

Ðều vì chúng khuyến thỉnh

Phàm chỗ có nói pháp

Ðích thân thờ cúng dường

Một câu cùng một kệ

 

Tăng tiến đạo Bồ đề

Một sắc và một hương

Trọn không hề thối chuyển.

IV. Trời, A tu la, Dạ xoa thảy

Ðến nghe pháp đó nên chí tâm:

Ủng hộ Phật Pháp khiến thường còn

Mỗi vị siêng tu lời Phật dạy

Bao nhiêu người nghe đến chốn này

Hoặc trên đất liền hoặc hư không

Thường với người đời sinh lòng từ

Ngày đêm tự mình nương pháp ở

Nguyện các thế giới thường an ổn

Phước trí vô biên lợi quần sinh

Bao nhiêu tội nghiệp thảy tiêu trừ

Xa lìa các khổ về viên tịch.

Hằng dùng giới hương xoa vóc sáng

Thường trì định phục để giúp thân

Hoa mầu Bồ đề khắp trang nghiêm

Tùy theo chỗ ở thường an lạc.

Nam mô Hộ pháp chư Tôn Bồ tát. (3 lần)

BỔ KHUYẾT TÂM KINH

MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhứt thiết khổ ách.

Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị. Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng: bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp; vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc a nậu Đa la tam miệu tam Bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị Vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:

“Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề tát bà ha.”

VÃNG SANH QUYẾT ĐỊNH CHƠN NGÔN

Nam mô A di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa điệt dạ tha. A di rị đô bà tỳ, a di rị đa, tất đam bà tỳ. A di rị đa, tỳ ca lan đế. A di rị đa, tỳ ca lan đa, già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lạy)

Khể thủ Tây phương An lạc quốc

Tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư

Ngã kim phát nguyện nguyện vãng sanh

Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ.

Ngã kim phổ vị tứ ân tam hữu

Cập pháp giới chúng sanh cầu ư chư Phật

Nhứt thừa Vô thượng Bồ đề đạo cố,

Chuyên tâm trì niệm A Di Đà Phật,

Vạn đức hồng danh kỳ sanh Tịnh độ.

Duy nguyện Từ Phụ A Di Đà Phật,

Ai lân nhiếp thọ từ bi gia hộ.

A Di Đà Phật thân kim sắc,

Tướng hảo quang minh vô đẳng luân.

Bạch hào uyển chuyển ngũ Tu di,

Hám mục trừng thanh tứ đại hải.

Quang trung hóa Phật vô số ức,

Hóa Bồ tát chúng diệc vô biên,

Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. (niệm 10, 20, 30 câu tùy ý)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát (10 tiếng)

Nam mô Đại Thế Chí Bồ tát (10 tiếng)

Nam mô Địa Tạng Vương Bồ tát (10 tiếng)

Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát (10 tiếng)

HỒI HƯỚNG

Đệ tử chúng đẳng, hiện thị sanh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn; kim ngộ tri thức, đắc văn A Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công đức, nhứt tâm xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh, nguyện Phật từ bi bất xả, ai lân nhiếp thọ, đệ tử chúng đẳng, bất thức Phật thân, tướng hảo quang minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến cập kiến Quán Âm Thế Chí chư Bồ tát chúng, bỉ thế giới trung, thanh tịnh trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến, A Di Đà Phật.

Ngã kim trì niệm A Di Đà

Tức phát Bồ đề quảng đại nguyện:

Nguyện ngã định huệ tốc viên minh

Nguyện ngã công đức giai thành tựu

Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm

Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo.

Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp

Giai do vô thỉ tham sân si

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh

Nhứt thiết ngã kim giai sám hối.

Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời

Tận trừ nhứt thiết chư chướng ngại

Diện kiến ngã Phật A Di Đà

Tức đắc vãng sanh Cực Lạc sát.

Ngã ký vãng sanh Cực Lạc dĩ

Hiện tiền thành tựu thử đại nguyện

Nhứt thiết viên mãn tận vô dư

Lợi lạc nhứt thiết chúng sanh giới.

Ngã Phật chúng hội hàm thanh tịnh

Ngã thời ư thắng liên hoa sanh

Thân đỗ Như Lai Vô Lượng Quang

Hiện tiền thọ ngã Bồ đề ký.

Mong ngã Như Lai thọ ký dĩ

Hóa thân vô số bá cu chi

Trí lực quảng đại biến thập phương

Phổ lợi nhứt thiết chúng sanh giới

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo Vô thượng thệ nguyện thành.

Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung

Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh

Bất thối Bồ tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức

Trang nghiêm Phật Tịnh độ

Thượng báo tứ trọng ân

Hạ tế tam đồ khổ.

Nhược hữu kiến văn giả

Tức phát Bồ đề tâm

Tận thử nhứt báo thân,

Đồng sanh Cực Lạc Quốc.

Tận thử nhứt báo thân

Đồng sanh An Dưỡng Quốc.

NGUYỆN

A Di Đà Phật, thường lai hộ trì, linh ngã thiện căn, hiện tiền tăng tấn, bất thất tịnh nhơn, lâm mạng chung thời, thân tâm chánh niệm, thị thính phân minh, diện phụng Di Đà, dữ chư Thánh chúng, thủ chấp hoa đài, tiếp dẫn ư ngã.

Nhứt sát na khoảnh, sanh tại Phật tiền, cụ Bồ tát đạo, quảng độ chúng sanh đồng thành chủng trí.

Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô A Di Đà Phật Thế Tôn.

Nguyện ngã Tội chướng tất tiêu diệt (1 lạy)

Nguyện ngã Thiện căn nhựt tăng trưởng (1 lạy)

Nguyện ngã Thân tâm hàm thanh tịnh (1 lạy)

Nguyện ngã Nhứt tâm tảo thành tựu (1 lạy)

Nguyện ngã Tam muội đắc hiện tiền (1 lạy)

Nguyện ngã Tịnh nhơn tốc viên mãn (1 lạy)

Nguyện ngã Liên đài tự tiêu danh (1 lạy)

Nguyện ngã Kiến Phật ma đảnh ký (1 lạy)

Nguyện ngã Dự tri mạng chung thời (1 lạy)

Nguyện ngã Vãng sanh Cực Lạc Quốc (1 lạy)

Nguyện ngã Viên Mãn Bồ tát đạo (1 lạy)

Nguyện ngã Quảng độ chư chúng sanh (1 lạy)

Chí tâm qui mạng đảnh lễ: Nam Mô Tây phương Cực Lạc thế giới giáo chủ, thọ quang thể tướng, vô lượng vô biên, từ thệ hoằng thâm, tứ thập bát nguyện độ hàm linh, đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Như Lai biến pháp giới Tam bảo. (1 lạy)

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát Vô thượng tâm. (1 lạy)

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại. (1 lạy)

THÍCH NGHĨA

(1) Nhục kế: Trên đầu đức Phật, thịt đùn cao lên như hình búi tóc, 1 tướng tốt trong 32 tướng tốt của thân phật.

(2) Thập hiệu: Mỗi vị Phật đều có đủ 10 hiệu này, phải đủ 10 hiệu này mới phải là Phật:

1. Như Lai: Toàn thể như như bất động, tùy duyên hóa độ mà đến trong muôn loài đến trong muôn loài mà vẫn như như bất động.

2. Ứng cúng: Ruộng phước vô lượng vì lợi quần sinh nên đến thụ sự cúng dường của chín giới.

3. Chính biến tri: Hiểu biết suốt thấu khắp tất cả pháp một cách chân chính đúng như thực.

4. Minh hạnh túc: Minh: trí tuệ, Hạnh: công hạnh lợi mình lợi người. Trí huệ và công hạnh đều hoàn bị.

5. Thiện thệ: Khéo qua. Qua Niết bàn nhưng vẫn thường độ sinh, nhưng vẫn không rời Niết bàn.

6. Thế gian giải: Rành rẽ tất cả pháp của thế gian và xuất thế gian.

7. Vô thượng sĩ: Ðấng Vô thượng, không còn ai trên.

8. Ðiều ngự trượng phu: Bậc trượng phu hay điều hòa hóa độ chúng sinh nhu hòa, và hay ngự phục hóa độ chúng sinh cang cường.

9. Thiên nhân sư: Thầy của tất cả trời, người v.v...

10. Phật: Ðấng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

“Thế Tôn” Hiệu chung của 10 hiệu trên. Nếu được đủ 10 đức hiệu trên thời là bậc tôn quý của thế gian và xuất thế gian.

(3) Na la diên: Kim cang, một chất rất cứng rắn, không chi phá vỡ được.

(4) Sa môn: Hiệu chung của tất cả người xuất gia.

(5) Năm tình: Năm căn: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân.

(6) Bổn nhơn: Người chủ, người dùng bùa chú thuốc độc để hại người khác.

(7) Tuôn giá: Ta thường gọi là mưa đá.

(8) Tuệ nhật: Mặt trời trí tuệ, ý nói trí tuệ sáng chói như mặt trời.

(9) “Lòng bi” là lòng muốn cứu chúng sinh khỏi khổ, răn trừ các độc, như sấm vang làm khiếp vía các ma mị.

“Ý TỪ” là muốn chúng sinh được hưởng các sự vui thỏa nên thường đem sự lợi lạc ban cho chúng sinh như mây rưới mưa đượm nhuần cỏ cây muôn vật.

(10) Phiền não: Lòng tham giận, ganh, v.v... làm phiền nhiễu bức rức khổ não thân tâm người như lửa đốt, Bồ tát nói pháp trừ những tính xấu đó làm cho thân tâm người thư thái mát mẻ, như rưới nước cam lồ tắt lửa.

(11) Người xứ Tây Trúc ép dầu, trước giã nhỏ mè hay đậu v.v... ủ cho sinh trùng rồi sau mới ép. Ép dầu tức là sát hại nhiều trùng nên phải bị ương họa.

(12) Ðể ví dụ những việc lâu xa khó gặp khó được. Kinh nói: “Như trong biển lớn có khúc cây bọng nổi trên mặt nước 100 năm một lần trôi qua, 100 năm một lần trôi lại; đáy biển có một con rùa đui, 100 năm một lần nổi lên mặt nước đón một bọng cây để chui vào. Biển rộng, cây 100 năm mới một lần trôi qua, rùa đã mù mà 100 năm mới nổi lên 1 lần, chực chui được vào bộng cây, khó lắm!”

(13) Tam đồ: Ðịa ngục, ngã quỉ, Súc sanh.

(14) Bạch lại: Bịnh hủi (da tróc sần sùi, tóc mày đều rụng).

(15) Tức là “Ðà la ni”.

(16) Hội lớn rộng rất đông như biển không thể lường biết!

(17) 1) Thuyết pháp châu, 2) Thí dụ châu 3) Nhân duyên châu.

Phụ. Bích chi Phật: có hai hạng:

1) Ra đời không gặp Phật, không gặp chính pháp, nhân thấy sự biến đổi trong đời như hoa héo lá khô, v.v... mà tự ngộ lý vô thường, dứt kiến Tư hoặc, thoát ly sinh tử luân hồi, gọi là vị: Ðộc Giác.

2) Ra đời gặp Phật, gặp chính pháp, tu pháp “thập nhị nhân duyên” quán (xem Phẩm “Hoá thành dụ” thứ 7, quyển thứ ba), mà chứng ngộ vô sinh, thoát ly sinh tử luân hồi gọi là vị “Duyên giác”. Hai bậc: Ðộc Giác cùng Duyên giác, cứ quả vị thì ngang với quả A la hán.