Kinh Ðại Bát Niết Bàn I Bản TK 375

Trích Đại Tạng Kinh Nhập Môn: Kinh này được đặt tên là “Đại Bát Niết Bàn Kinh” vì ghi lại những lời thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni một thời gian ngắn khi ngài nhập Niết Bàn.

Nguyên nghĩa chữ “Niết Bàn” là “tiêu diệt ngọn lửa dục vọng và đạt tới trạng thái giác ngộ.” Nếu xét theo nghĩa này thì khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đạt tới giác ngộ ở tuổi 35 thì lúc đó ngài đã nhập Niết Bàn. Nhưng vì không thể hoàn toàn diệt trừ những phiền não, dục vọng trong khi nhục thân vẫn còn tồn tại, cho nên sự nhập diệt của Đức Phật Thích Ca được gọi là Đại Bát Niết Bàn – mahaparinirvana – có nghĩa là “trạng thái đại an tịnh trong đó các ngọn lửa của dục vọng, phiền não đã hoàn toàn dập tắt”

Kinh điển này quan trọng là vì cả hai nguyên do: nó ghi lại những lời thuyết giảng của Đức Phật Thích Ca ở thời gian ngay trước khi ngài nhập diệt, và cũng vì nó bao gồm những sự tích liên quan tới những chuyện xảy ra trước và sau khi ngài nhập diệt, cho nên nó chứa đựng những tư liệu quan trọng về phương diện lịch sử.

Kinh Ðại Bát Niết Bàn I

Kinh Ðại Bát Niết Bàn II

Hán Dịch: Căn Cứ Bản Dịch Của Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm,

Sa Môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán, Và Tạ Linh Vân Sửa Lại, Đời Tống

Việt Dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ - Phan Rang

Chứng Nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

(Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tập 12, Niết bàn bộ, số hiệu 375, 36 quyển, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tống Tuệ Nghiêm đẳng y Nê Hoàn Kinh gia chi.

Bản này chúng tôi chỉ dò lại chính tả vì không có bản góc tiếng Việt, khi dò lại bản kinh này chúng tôi hơi buồn. Lý do khiến chúng tôi buồn vì còn rất nhiều kinh để dịch nhưng cư sĩ Tuệ Khai đã không dịch mà lại dịch bản kinh HT Trí Tịnh đã dịch rồi, không những vậy bản dịch của HT rất chuẩn và đầu đủ! Chúng tôi tin rằng bàn dịch của cư sĩ ra đời sau bản dịch của HT Trí Tịnh ít nhất 20 năm và có lẽ cư sĩ đã thấy bản dịch của HT Trí Tịnh rồi. Không biết với cách làm việc này bao giờ Phật Giáo Việt Nam mới có đủ trọn bộ Đại Tạng Kinh ? Nhìn chung Kinh sách dịch từ Hán sang tiếng Việt rất nhiều nhưng trùng rất nhiều. Có kinh lên đến 6 bản dịch khác nhau. Mặc dù những vị dịch trước đều là nổi tiếng, những bản dịch sau đều không bằng thậm chí còn tham khảo bản dịch trước. thienminh)

Mục Lục:

1/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Nhất

Phẩm Tựa Thứ Nhất

2/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai

Phẩm Thuần Đà Thứ Hai

Phẩm Ai Thán Thứ Ba

3/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba

Phẩm Trường Thọ (Sống Lâu) Thứ Tư

Phẩm Thân Kim Cương Thứ Năm

Phẩm Danh Tự Công Đức Thứ Sáu

4/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Tư

Phẩm Bốn Tướng Thứ Bảy

5/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Năm

Phẩm Bốn Tướng (Tiếp Theo)

6/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Sáu

Phẩm Tứ Y (Bốn Nương) Thứ Tám

7/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Bảy

Phẩm Tà Chánh Thứ Chín

Phẩm Tứ Đế Thứ Mười

Phẩm Bốn Điên Đảo Thứ Mười Một

8/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Tám

Phẩm Như Lai Tính Thứ Mười Hai

Phẩm Văn Tự Thứ Mười Ba

Phẩm Điểu Dụ Thứ Mười Bốn

9/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Chín

Phẩm Nguyệt Dụ Thứ Mười Lăm

Phẩm Bồ Tát Thứ Mười Sáu

10/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười

Phẩm Nhất Thiết Đại Chúng Sở Vấn Thứ Mười Bảy

Phẩm Hiện Bệnh Thứ Mười Tám

11/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Một

Phẩm Thánh Hạnh Thứ Mười Chín

12/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Hai

Phẩm Thánh Hạnh Thứ Mười Chín (Tiếp Theo)

13/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Ba

Phẩm Thánh Hạnh Thứ Mười Chín (Tiếp Theo)

14/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Bốn

Phẩm Phạm Hạnh Thứ Hai Mươi

15/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Lăm

Phẩm Phạm Hạnh Thứ Hai Mươi (Tiếp Theo)

16/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Sáu

Phẩm Phạm Hạnh Thứ Hai Mươi (Tiếp Theo)

17/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Bảy

Phẩm Phạm Hạnh Thứ Hai Mươi (Tiếp Theo)

18/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Tám

Phẩm Phạm Hạnh Thứ Hai Mươi (Tiếp Theo)

Phẩm Anh Nhi Hạnh Thứ Hai Mươi Mốt

19/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Chín

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai

20/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

21/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Mốt

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

22/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Hai

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

23/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Ba

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

24/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Bốn

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

25/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Lăm

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba

26/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Sáu

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

27/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Bảy

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

28/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Tám

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

29/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Chín

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

30/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

31/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Mốt

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn.

32/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Hai

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn (Tiếp Theo)

33/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Ba

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn (Tiếp Theo)

34/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Bốn

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn (Tiếp Theo)

35/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Lăm

Phẩm Kiều Trần Như Thứ Hai Mươi Lăm

36/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Sáu

Phẩm Kiều Trần Như Thứ Hai Mươi Lăm (Tiếp Theo)

1/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Nhất

PHẨM TỰA Thứ Nhất

Tôi nghe như vầy, một thuở, đức Phật ở tại thành Câu Thi Na, vùng đất sinh sống của lực sĩ, bên bờ sông A Di La Bạt Ðề, trong khoảng Ta la Song Thọ. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với các vị đại Tỳ kheo gồm tám mươi ức trăm ngàn người, trước sau vây quanh. Ngày mười lăm tháng hai, lúc sắp Niết Bàn, Ngài dùng thần lực của Phật phát ra âm thanh lớn. Âm thanh ấy đầy khắp đến tận trời Hữu Ðảnh, tùy theo âm thanh của từng loài mà phổ cáo chúng sinh rằng: “Ngày hôm nay, đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri thương xót chúng sinh, che hộ chúng sinh, bình đẳng xem chúng sinh như La Hầu La, là chỗ qui y, là nhà của thế gian! Ðấng Ðại Giác Thế Tôn sắp muốn vào Niết Bàn! Tất cả chúng sinh, nếu có điều gì nghi hoặc thì hôm nay đều có thể hỏi vì đây là lần hỏi sau cùng”. Bấy giờ, vào lúc sáng sớm, từ diện môn của Ngài phóng ra đủ thứ ánh sáng. Ánh sáng ấy màu sắc xen nhau xanh, vàng, đỏ, trắng, pha lê, mã não. Ánh sáng chiếu soi khắp những thế giới Phật của ba ngàn đại thiên này, cho đến mười phương cũng lại như vậy. Chúng sinh sáu đường sẵn có trong những thế giới ấy gặp được ánh sáng ấy thì tất cả tội cấu phiền não đều tiêu trừ. Những chúng sinh này thấy nghe thế rồi, lòng rất ưu não, đồng thời cất tiếng kêu thương gào khóc: “Ô hô! Ðấng Từ phụ! Ðau thay! Khổ thay!” Họ đưa tay vỗ đầu, đấm ngực, thét lớn. Trong số họ, hoặc có người thân thể run rẩy, tức tưởi, nghẹn ngào. Bấy giờ đất đai, núi lớn, biển cả đều chấn động. Các chúng sinh đều nói với nhau rằng: “Mỗi người hãy tự đè nén, chớ nên sầu khổ quá! Phải cùng nhau mau chóng đi đến chỗ sinh sống của lực sĩ tại thành Câu Thi Na, đến chỗ đức Như Lai, đầu mặt lễ kính, khuyến thỉnh đức Như Lai chớ nên vào Niết Bàn mà nên trụ thế một kiếp hoặc giảm một kiếp. Họ cùng nắm tay nhau nói lên rằng:

- Thế gian trống không! Chúng sinh phước tận! Các nghiệp bất thiện tăng trưởng! Những bậc xuất thế nay sẽ qua mau! Qua mau! Ðức Như Lai chẳng bao lâu nhất định vào Niết Bàn!

Họ lại nói rằng:

- Thế gian trống rỗng! Thế gian trống rỗng! Chúng ta từ nay không có người cứu hộ, không nơi trông ngưỡng, bần cùng cô lộ! Một sớm xa lìa đấng Vô Thượng Thế Tôn! Giả sử có điều nghi hoặc sẽ lại hỏi ai?

Có vô lượng những đại đệ tử như tôn giả Ma ha Ca Chiên Diên, tôn giả Bạc Câu La, tôn giả Ưu Ba Nan Ðà, v.v... Những vị đại Tỳ kheo như vậy gặp ánh sáng của đức Phật thì thân họ run rẩy lắc lư, thậm chí đại động chẳng thể tự giữ gìn, lòng vẩn đục mê muội, phát ra tiếng kêu lớn, sinh ra đủ thứ khổ não như vậy, v.v... Bấy giờ lại có tám mươi trăm ngàn những Tỳ kheo, v.v... đều là A la hán, lòng được tự tại, mọi việc đã hoàn thành, lìa các phiền não, điều phục các căn như đại long vương có uy đức lớn, thành tựu không tuệ, đạt được lợi mình như rừng chiên đàn với chiên đàn vây quanh, như vua sư tử với sư tử vây quanh. Họ thành tựu vô lượng công đức như vậy, tất cả đều là con chân chính của đức Phật. Sáng sớm, khi mặt trời mới mọc, họ rời khỏi nơi thường trụ, vừa dùng đến cành dương (đồ để đánh răng) thì đều gặp ánh sáng của đức Phật. Họ bảo nhau rằng:

- Các ông hãy mau rửa mặt súc miệng sạch sẽ!

Nói thế xong, toàn thân nổi da gà, khắp người máu xuất hiện như hoa Balaxa, họ khóc lóc nước mắt đầm đìa, phát sinh đại khổ não. Vì muốn lợi ích, an lạc cho chúng sinh, thành tựu hạnh không số một của Ðại Thừa, hiển phát mật giáo phương tiện của đức Như Lai, vì chẳng đoạn tuyệt đủ thứ thuyết pháp, vì các chúng sinh điều phục nhân duyên nên những vị ấy mau chóng đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính, lui lại ngồi một bên.

Lúc bấy giờ lại có Câu Ðà La nữ, Thiện Hiền Tỳ kheo ni, Ưu Ba Nan Ðà Tỳ kheo ni, Hải Ý Tỳ kheo ni... cùng với sáu mươi ức Tỳ kheo ni, tất cả cũng là đại A la hán, các lậu đã tận, tâm được tự tại, công việc đã hoàn thành, lìa khỏi các phiền não, điều phục các căn giống như rồng lớn, có uy đức lớn, thành tựu không tuệ... Sáng sớm, lúc mặt trời mới mọc, những vị này cũng toàn thân nổi da gà, khắp người máu xuất hiện như hoa Ba la xa, khóc lóc nước mắt đầm đìa, sinh ra đại khổ não. Các vị ấy cũng muốn lợi ích an lạc cho chúng sinh, thành tựu hạnh không số một của Ðại thừa, hiển phát mật giáo phương tiện của đức Như Lai, vì muốn chẳng đoạn tuyệt đủ thứ thuyết pháp, vì các chúng sinh điều phục nhân duyên nên họ mau chóng đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính, lui về ngồi một bên. Ở trong chúng Tỳ kheo ni này lại có các Tỳ kheo ni đều là Bồ tát, những rồng trong loài người, ngôi vị Thập địa, an trụ bất động, nhưng vì giáo hóa chúng sinh nên thị hiện thọ nữ thân mà thường tu tập bốn Vô Lượng Tâm, được tự tại lực, có thể biến hóa làm Phật.

Lúc bấy giờ, có một hằng hà sa đại Bồ tát, là rồng trong loài người, ngôi vị Thập Ðịa, an trụ bất động, phương tiện hiện thân. Tên những vị ấy là Hải Ðức Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát, v.v... Những vị đại Bồ tát như vậy mà là thượng thủ. Lòng những vị ấy đều kính trọng Ðại Thừa, an trụ Ðại Thừa, giải sâu Ðại Thừa, yêu thích Ðại Thừa, thủ hộ Ðại Thừa, giỏi có thể thuận theo tất cả thế gian, nói lên lời thề rằng: “Những người chưa độ thì sẽ khiến cho được độ”. Họ đã ở trong vô số kiếp đời quá khứ, tu trì tịnh giới, giỏi giữ gìn sở hạnh, giải thoát cho người chưa giải thoát, nối truyền giống Tam Bảo khiến cho chẳng đoạn tuyệt, vào đời vị lai sẽ chuyển bánh xe pháp, dùng đại trang nghiêm mà tự trang nghiêm. Những vị ấy thành tựu vô lượng công đức như vậy, bình đẳng quan sát chúng sinh xem như con một. Cũng vào sáng sớm, lúc mặt trời mọc, những vị ấy gặp ánh sáng đức Phật thì toàn thân nổi da gà, khắp người máu xuất hiện như hoa Ba la xa, khóc lóc nước mắt đầm đìa, sinh ra đại khổ não. Cũng vì muốn lợi ích an lạc cho chúng sinh, thành tựu hạnh không số một của Ðại Thừa, hiển phát mật giáo phương tiện của đức Như Lai, vì chẳng đoạn tuyệt đủ thứ thuyết pháp, vì muốn cho các chúng sinh điều phục nhân duyên nên những vị ấy mau chóng đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, chắp tay cung kính mà lui về ngồi một bên.

Lúc bấy giờ, lại có hai lần hằng hà sa những Ưu bà tắc thọ trì năm giới, uy nghi đầy đủ. Tên những vị ấy là: Uy Ðức Vô Cấu Xưng Vương Ưu bà tắc, Thiện Ðức Ưu bà tắc, v.v... mà là thượng thủ. Họ ưa quan sát sâu các cửa đối trị như là khổ - vui, thường - vô thường, tịnh - bất tịnh, ngã - vô ngã, thật - chẳng thật, qui y - chẳng phải qui y, chúng sinh - chẳng phải chúng sinh, hằng - chẳng phải hằng, an - chẳng phải an, vi - vô vi, đoạn - chẳng đoạn, Niết Bàn - chẳng phải Niết Bàn, tăng thượng - chẳng phải tăng thượng... Họ thường ưa quán sát những pháp môn đối trị như vậy, cũng muốn ưa nghe Ðại thừa vô thượng. Như họ đã nghe rồi thì có thể vì người khác giảng nói, giỏi trì tịnh giới, khát ngưỡng Ðại Thừa; đã tự sung túc lại có thể sung túc cho người khát ngưỡng khác, giỏi có thể nhiếp lấy trí tuệ vô thượng, yêu thích Ðại Thừa, thủ hộ Ðại Thừa, giỏi có thể thuận theo tất cả thế gian độ người chưa độ, tiếp nối giống Tam bảo khiến cho chẳng đoạn tuyệt, ở đời vị lai sẽ chuyển bánh xe pháp, dùng đại trang nghiêm mà tự trang nghiêm, lòng thường nếm sâu giới hạnh thanh tịnh. Họ có thể thành tựu hết công đức như vậy, đối với các chúng sinh phát sinh lòng đại bi, bình đẳng không hai, như nhìn con một. Cũng vào sáng sớm, lúc mặt trời mới mọc, vì muốn trà tỳ (thiêu) thân của đức Như Lai nên người người đều lấy gỗ thơm hàng vạn bó, nào là Chiên đàn, trầm thủy, ngưu đầu Chiên đàn, thiên mộc hương, v.v... Mỗi một cây này có hoa văn bám theo đều có ánh sáng vi diệu của bảy báu ví như đủ thứ họa tiết nhiều màu xen lẫn. Do Phật lực nên có diệu sắc xanh vàng đỏ trắng này được các chúng sinh ưa nhìn thấy. Những cây gỗ đều được tô lên đủ thứ hương thơm như Uất Kim Cương, Trầm thủy hương và Giao hương, v.v... Tung ra thì dùng những thứ hoa mà làm trang nghiêm như hoa Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phân đà lợi. Bên trên những cây gỗ thơm treo phan năm màu nhu nhuyến vi diệu giống như áo trời, áo kiều xa gia, lụa là ngũ sắc sô ma. Những cây gỗ thơm này được chở trên xe báu. Những xa báu này phát ra đủ thứ ánh sáng xanh vàng đỏ trắng. Càng xe, nan hoa xe đều dùng bảy báu lấp vào khoảng trống. Mỗi một chiếc xe này dùng bốn ngựa kéo mà mỗi một con ngựa đó chạy nhanh như gió. Trước mỗi một chiếc xe dựng lên năm mười diệu tràng bằng bảy báu và màn lưới bằng sợi vàng ròng che bên trên xe ấy. Mỗi một xe báu lại có năm mươi bảo cái vi diệu. Trên mỗi một xe buông thòng xuống những hoa man như hoa Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phân đà lợi. Những hoa ấy thuần dùng vàng ròng làm cánh, Kim cương làm đài. Trong đài hoa này có nhiều ong đen đến tập trung, vui sướng thọ lạc trong ấy. Trong hoa lại phát ra diệu âm như là vô thường, khổ, không, vô ngã. Trong âm thanh đó lại nói lên việc hành đạo xưa của Bồ tát. Lại có đủ thứ ca múa, kỹ nhạc, đàn địch sáo tiêu cổ súy. Trong tiếng nhạc đó lại phát ra lời này: “Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng”. Trước mỗi một xe có Ưu bà tắc nâng bốn cái án báu. Trên những án này có đủ thứ hoa như hoa Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phân đà lợi... Các mùi hương Uất Kim và còn các loại hương xông vi diệu đệ nhất khác. Các vị Ưu bà tắc vì đức Phật và chúng chúng Tăng bày biện đủ thứ những đồ ăn đều được nấu chín bằng củi thơm Chiên đàn trầm thủy và nước tám công đức. Những đồ ăn ấy ngon ngọt có đủ sáu vị, một là đắng, hai là chua (giấm), ba là ngọt, bốn là cay, năm là mặn, sáu là nhạt. Ðồ ăn ấy lại có ba đức, một là nhẹ mềm, hai là tịnh khiết, ba là đúng như pháp. Tạo tác đủ thứ trang nghiêm như vậy, các Ưu bà tắc đến chỗ các lực sĩ ở vùng Ta La Song Thọ, lại dùng cát vàng trải khắp trên đất ấy, rồi dùng áo Ca lăng già, áo Khâm bà la và áo tơ lụa ngũ sắc mà phủ lên cát đầy khắp chu vi mười hai do tuần. Họ vì đức Phật và chúng Tăng đặt bày tòa Sư tử thất bảo. Tòa ấy cao lớn như núi Tu Di. Trên các tòa đó đều có trướng báu buông xuống những chuỗi ngọc. Những cây Ta La đều treo đủ thứ phan, cái vi diệu, trác vào cây đủ thứ hương thơm, tung lên vung cây đủ thứ danh hoa. Các vị Ưu bà tắc đều nghĩ rằng: “Tất cả chúng sinh, nếu có sự thiếu thốn đồ ăn, thức uống, y phục, đầu mắt, chi thể... thì theo sự cần dùng của họ đều cấp cho hết”. Khi tác khởi ý niệm bố thí đó thì lìa khỏi lòng tham dục, sân nhuế, vẩn đục độc hại, không còn suy nghĩ, nguyện cầu phước lạc thế gian, ý chí chỉ cầu Bồ Ðề Vô Thượng thanh tịnh. Những vị Ưu bà tắc này đều đã an trụ ở đạo Bồ tát. Họ lại tác khởi ý niệm này: “Ðức Như Lai hôm nay nhận đồ ăn của ta rồi sẽ vào Niết Bàn”. Nghĩ thế rồi toàn thân họ nổi da gà, khắp người máu xuất hiện như hoa Ba la xa, họ khóc lóc đầm đìa nước mắt, phát sinh đại khổ não. Mỗi mỗi đều đem đồ cúng dường mang theo chở trên xe báu như gỗ thơm, tràng phan, bảo cái, đồ ăn, thức uống... mau chóng đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, đem đồ cúng dường của mình mang theo cúng dường đức Như Lai, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, cất tiếng gào khóc bi ai, động đến trời đất, đấm ngực kêu lớn, nước mắt tuôn xuống như mưa. Họ lại bảo nhau rằng: “Khổ thay! Ông ơi! Thế gian trống rỗng! Thế gian trống rỗng!” Rồi họ liền gieo mình trước đức Như Lai mà bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Thế Tôn lúc thời điểm đó, mặc nhiên chẳng nhận. Họ thỉnh như vậy ba lần, đức Phật đều chẳng hứa. Sở nguyện của các Ưu bà tắc chẳng kết quả, lòng họ mang bi não, mặc nhiên mà trụ. Giống như người từ phụ có con một bị bệnh chết vừa chôn cất trở về nên ưu não cực đại. Các vị Ưu bà tắc buồn khóc khổ não cũng lại như vậy. Họ đem những đồ cúng dường đặt yên vào một chỗ rồi lui về một bên, lặng lẽ mà ngồi.

Lúc bấy giờ, lại có ba lần hằng hà sa những Ưu bà di thọ trì năm giới, uy nghi đầy đủ. Tên những vị ấy là: Thọ Ðức Ưu bà di, đức Man Ưu bà di, Tỳ Xá Khư Ưu bà di, v.v... tám muôn bốn ngàn người mà là thượng thủ. Họ đều đủ sức đảm nhận việc hộ trì chánh pháp nhưng vì hóa độ vô lượng trăm ngàn chúng sinh nên thị hiện thân nữ, quở trách gia pháp. Họ tự quán thân mình như bốn con rắn độc; thân này thường bị sự ăn nuốt của vô lượng những loài trùng; thân này hôi thối, tham dục bị giam giữ, trói buộc; thân này đáng ghét giống như chó chết, thân này bất tịnh, chín lỗ thường chảy ra; thân này là ngôi thành chứa máu thịt gân xương được da bọc lên trên ấy. Tay chân dùng làm mộc chắn, vọng lâu đẩy lui địch. Mắt là lỗ cửa sổ, đầu là điện đường mà vua tâm ở trong đó. Ngôi thành thân như vậy là đồ bỏ đi của các đức Phật Thế Tôn mà người ngu phàm phu thì thường đắm trước. Quỉ La sát tham dâm, sân nhuệ, ngu si dùng trụ trong ngôi thành ấy. Thân này chẳng bền giống như cỏ lau, y lan, bọt nước, cây chuối. Thân này vô thường niệm niệm chẳng trụ giống như ánh chớp, nước cuốn, lửa huyễn cũng giống như vẽ nước tùy theo vẽ, tùy theo hợp. Thân này dễ hoại giống như cây cao lớn gần bờ sông. Thân này chẳng bao lâu bị sự ăn nuốt của chồn sói, kền kền, chim ưng, quạ diều, chó đói, v.v... Ai là người có trí mà sẽ ưa thân này? Thà dùng vết chân trâu đựng nước biển cả chứ chẳng thể nói đầy đủ sự vô thường, bất tịnh, hôi thối của thân này! Thà vo tròn đại địa làm cho bằng quả táo, dần dần trở thành nhỏ như hạt rau đay, thậm chí như hạt bụi chứ chẳng thể nói đầy đủ lỗi hoạn của thân này. Vậy nên phải bỏ nó như chỗ bỏ nước bọt. Do nhân duyên này nên các vị Ưu bà di dùng pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện tu dưỡng tâm mình luôn. Họ rất ưa hỏi han, thính thọ kinh điển Ðại Thừa, nghe rồi cũng có thể vì người khác diễn nói, hộ trì bản nguyện, hủy báng nữ thân, rất chán ghét tính chẳng bền chắc của thân, lòng thường tu tập chánh quán như vậy. Họ phá hoại sự luân chuyển không bờ bến của sinh tử, khát ngưỡng Ðại Thừa, đã tự sung túc. Lại có thể sung túc cho những người khát ngưỡng khác. Họ tin sâu Ðại thừa, thủ hộ Ðại thừa. Họ tuy hiện nữ thân nhưng thật chính là Bồ tát, giỏi có thể thuận theo tất cả thế gian, độ người chưa độ, giải thoát kẻ chưa giải thoát, nối dõi giống Tam Bảo khiến cho chẳng đoạn tuyệt. Ở đời vị lai họ sẽ chuyển pháp luân, dùng đại trang nghiêm mà tự trang nghiêm, kiên trì cấm giới, đều thành tựu hết những công đức như vậy. Ðối với các chúng sinh, họ sinh ra lòng đại bi, bình đẳng không hai như nhìn thấy con một. Cũng vào sáng sớm, lúc mặt trời mọc, họ đều nói với nhau rằng: “Hôm nay phải nên đến vùng Song Thọ!” Các vị Ưu bà di đã thiết bày đồ cúng bội phần hơn trước, đem đến chỗ đức Phật, cúi đầu lạy dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay vì đức Phật và chúng Tăng bày biện các đồ cúng, nguyện xin đức Như Lai xót thương nhận đồ cúng của chúng con.

Ðức Như Lai mặc nhiên mà chẳng hứa khả. Các vị Ưu bà di biết sở nguyện của mình chẳng kết quả, lòng mang buồn bã, lui về ngồi một bên.

Lúc bấy giờ, lại có bốn hằng hà sa những Ly xa gồm trai gái, lớn nhỏ, vợ con, quyến thuộc của thành Tỳ Xá Ly và quyến thuộc của các vua cõi Diêm Phù Ðề vì cầu pháp nên giỏi tu giới hạnh, uy nghi đầy đủ, tiêu diệt, hàng phục kẻ dị học phá hoại chánh pháp, thường nói với nhau rằng: “Chúng ta sẽ dùng cả kho chứa vàng bạc vì khiến cho kho chánh pháp thâm áo cam lồ vô tận trụ thế lâu dài và nguyện khiến cho chúng ta thường được tu học. Nếu có người bài báng chánh pháp của đức Phật thì chúng ta sẽ cắt lưỡi của họ”. Những người ấy lại phát nguyện rằng: “Nếu có kẻ xuất gia hủy phạm cấm giới thì chúng con sẽ buộc họ thôi khiến cho hoàn tục. Giả sử có người hay ưa hộ trì chánh pháp thì chúng con sẽ kính trọng như thờ cha mẹ. Nếu có chúng Tăng có thể tu theo chánh pháp thì con sẽ tùy hỷ khiến cho họ được thế lực, thường ưa thích nghe kinh điển Ðại Thừa, nghe rồi cũng có thể vì người khác giảng nói rộng rãi, đều thành tựu công đức như vậy”. Những người ấy gọi là Tịnh vô cấu tạng Ly xa tử, Tịnh bất phóng dật Ly xa tử, Hằng thủy vô cấu tịnh đức Ly xa tử... Những người như vậy đều nói với nhau rằng: “Các ông hôm nay có thể mau đến chỗ đức Phật bày biện đầy đủ các thứ đồ cúng dường!”. Mỗi một Ly xa đều nghiêm chỉnh tám muôn bốn ngàn voi lớn, tám muốn bốn ngàn xe báu bốn ngựa, tám muốn bốn ngàn ngọc báu Minh Nguyệt, bó củi Thiên mộc, Chiên đàn, trầm thủy... mỗi chủng loại đều có đủ tám muốn bốn ngàn. Trước mỗi một con voi có tràng phan bảo cái mà bảo cái nhỏ nhất chu vi ngang dọc cũng đến một do tuần, tràng phan ngắn nhất cũng dài đến ba mươi ba do tuần, bảo - tràng thấp nhất cũng cao đến một trăm do tuần. Họ mang những đồ cúng dường như vậy đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay vì đức Phật và chúng Tăng bày biện các đồ cúng dường, nguyện xin đức Như Lai thương thọ nhận đồ cúng của chúng con!

Ðức Như Lai mặc nhiên mà chẳng hứa khả. Các Ly xa chẳng thỏa mãn sở nguyện, lòng mang ưu sầu. Do thần lực của đức Phật nên họ lặng yên trụ ở trong hư không cách mặt đất bảy cây Ða la.

Lúc bấy giờ, có năm hằng hà sa đại thần, trưởng giả kính trọng Ðại Thừa. Nếu có kẻ dị học bài báng chánh pháp thì những người này có đủ năng lực tiêu diệt hàng phục giống như mưa đá làm gãy đỗ cỏ cây. Tên những người ấy là Nhật Quang trưởng giả, Hộ Thế trưởng giả, Hộ Pháp trưởng giả, v.v... những người khác như vậy mà làm thượng thủ. Họ thiết bày đồ cúng dường gấp năm lần những người trước, cùng chung mang đến vùng Ta-la song thọ, cúi đầu lạy dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay vì đức Phật và chúng Tăng thiết bày những đồ cúng dường. Nguyện xin đức Phật thương xót thọ nhận đồ cúng của chúng con!

Ðức Như Lai mặc nhiên mà chẳng nhận đồ cúng của họ. Các vị trưởng giả, v.v... chẳng thỏa sở nguyện, lòng mang sầu não, nhờ thần lực đức Phật nên lặng yên mà ngồi ở trong hư không cách mặt đất bảy cây Ða La.

Lúc bấy giờ, có vua Tỳ Xá Ly và hậu cung phu nhân quyến thuộc của vua ấy, các vua sẵn có bên trong cõi Diêm Phù Ðề, trừ vua A Xà Thế, cùng với nhân dân trong thành ấp, tụ lạc. Những vua ấy tên là Nguyệt Vô Cấu Vương, v.v... Họ đều nghiêm chỉnh bốn thứ binh muốn đi đến chỗ đức Phật. Mỗi một vua này đều có một trăm tám mươi vạn ức nhân dân quyến thuộc. Những binh xa này do voi ngựa kéo. Voi có sáu ngà, ngựa chạy nhanh như gió. Ðồ cúng trang nghiêm của họ gấp sáu lần những người trước. Trong số bảo cái mà cái cực nhỏ thì chu vi ngang dọc đến tám do tuần, tràng phan cực ngắn thì cũng đến mười sáu do tuần, bảo tràng thấp nhất thì cũng đến ba mươi sáu do tuần. Những vị vua này, v.v... an trụ chánh pháp, ghét tà pháp như giặc ác, kính trọng Ðại Thừa, rất ưa Ðại Thừa, thương xót chúng sinh, xem họ bình đẳng như con một. Họ mang theo đồ ăn, thức uống mà hơi thơm lan tỏa đầy bốn do tuần. Cũng vào sáng sớm, khi mặt trời mới mọc, họ mang đủ thứ đồ ăn ngon thượng diệu đi đến vùng Ta-la song thọ, đến chỗ đức Như Lai mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con vì đức Phật và Tỳ kheo Tăng thiết bày đồ cúng dường này. Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời; cũng chẳng hứa khả. Những vua này... chẳng thỏa sở nguyện, lòng mang sầu não, lui về trụ ở một bên.

Lúc bấy giờ, có bảy hằng hà sa phu nhân của các vua, trừ phu nhân của vua A Xà Thế, vì độ chúng sinh nên thị hiện thọ thân nữ. Họ thường quán thân hành, dùng pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện mà huân tu lòng mình. Những vị ấy tên là Tam Giới Diệu phu nhân, Ái Ðức phu nhân, v.v... Phu nhân của những vua như vậy đều an trụ ở trong chánh pháp, tu hành cấm giới, uy đức đầy đủ, thương xót chúng sinh, xem họ bình đẳng như con một. Họ đều nói với nhau rằng: “Hôm nay phải mau đi đến chỗ đức Thế Tôn!” Các vương phu nhân thiết bày sự cúng dường gấp bảy lần những người trước. Nào là hương hoa, bảo cái, tràng phan, lụa là ngũ sắc, đồ ăn thức uống thượng diệu... Bảo cái nhỏ nhất chu vi ngang dọc phải đến mười sáu do tuần, tràng phan rất ngắn cũng phải đến ba mươi sáu do tuần, bảo tràng thấp lắm cũng phải đến sáu mươi tám do tuần, hơi thơm đồ ăn thức uống lan tỏa cùng khắp tám do tuần. Họ mang những đồ cúng dường như vậy đi đến chỗ đức Như Lai, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con vì đức Phật và Tỳ kheo Tăng thiết bày đồ cúng dường này! Nguyện xin đức Như Lai ai mẫn nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Phật biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các phu nhân chẳng thỏa sở nguyện, lòng mang sầu não, tự vung đầu tóc, đấm ngực khóc to giống như từ mẫu mới chôn cất đứa con yêu, rồi lui về trụ một bên lặng lẽ mà ngồi.

Lúc bấy giờ, có tám hằng hà sa các thiên nữ... Tên những thiên nữ ấy là: Quảng Mục thiên nữ, v.v...mà là thượng thủ. Họ nói lên như vầy: “Này các chị! Các chị hãy xét xem kỹ! Xét xem kỹ! Những chúng nhân đó đã bày biện đủ thứ đồ cúng thượng diệu, muốn cúng dường đức Như Lai và Tỳ kheo Tăng. Chúng ta cũng phải bày biện trang nghiêm đồ cúng vi diệu như vậy để cúng dường đức Như Lai. Ðức Như Lai thọ rồi sẽ vào Niết Bàn. Này các chị! Các đức Phật Như Lai ra đời rất khó, được cúng dường lần sau cũng lại khó hơn bội phần. Nếu đức Phật Niết Bàn thì thế gian trống rỗng”. Các vị thiên nữ này yêu thích Ðại Thừa, muốn nghe Ðại Thừa, nghe rồi cũng có thể vì người giảng nói rộng rãi, niềm khát ngưỡng Ðại Thừa đã tự mình sung túc, lại có thể sung túc niềm khát ngưỡng cho người khác, thủ hộ Ðại Thừa. Nếu có kẻ dị học ganh ghét Ðại Thừa thì thế lực của họ có thể tiêu diệt như mưa đá tiêu diệt cỏ cây. Họ hộ trì giới hạnh, uy nghi đầy đủ, giỏi có thể thuận theo tất cả thế gian để độ người chưa độ, giải thoát người chưa giải thoát. Ở đời vị lai, họ sẽ chuyển pháp luân, nối dõi giống Tam Bảo khiến cho chẳng đoạn tuyệt, tu học Ðại Thừa, dùng đại trang nghiêm mà tự trang nghiêm. Họ thành tựu vô lượng công đức như vậy, từ bi bình đẳng với chúng sinh xem như con một. Cũng sáng sớm vào lúc mặt trời mới mọc, họ đều lấy đủ thứ thiên mộc hương, v.v... nhiều gấp bội gỗ thơm có trong nhân gian. Hơi thơm của gỗ ấy có thể diệt đủ thứ mùi hôi thối trong nhân gian. Rồi xe trắng che bằng bảo cái trắng do bốn con ngựa trắng kéo, trên mỗi một xe đều giăng trướng trắng. Bốn bên trướng ấy treo các chuông nhỏ bằng vàng. Trên xe chở đủ thứ hương hoa, tràng phan bảo cái, đồ ăn ngon thượng diệu, đủ thứ kỹ nhạc và còn bày tòa sư tử. Bốn chân của tòa ngồi ấy thuần bằng lưu ly xanh biếc. Ở sau tòa ngồi ấy, mỗi mỗi đều có giường tựa thất bảo. Ở trước mỗi một tòa ngồi lại có ghế tựa bằng vàng. Lại dùng bảy báu mà làm cây đèn mà ánh sáng của đèn làm bằng đủ thứ ngọc báu. Hoa trời vi diệu trải khắp trên mặt đất ấy. Các thiên nữ này bày biện đồ cúng này rồi, lòng mang ai cảm, rơi nước mắt chan hòa, phát sinh đại khổ não. Rồi cũng vì lợi ích an lạc cho chúng sinh, thành tựu đệ nhất không hạnh của Ðại Thừa, hiển phát mật giáo phương tiện của đức Như Lai và cũng vì chẳng đoạn dứt đủ thứ việc nói pháp... họ đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Như Lai ai mẫn nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các thiên nữ chẳng thỏa được sở nguyện, lòng mang ưu não, lùi về một bên, lặng lẽ mà ngồi.

Lúc bấy giờ, lại có chín hằng hà sa những long vương... trụ ở bốn phương. Tên vua rồng ấy là Hoa Tu Cát long vương, Nan Ðà long vương, Bà Nan Ðà long vương... mà là thượng thủ. Những Long vương này cũng vào sáng sớm, lúc mặt trời mới mọc, bày biện những đồ cúng dường gấp bội của người trời, đem đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Như Lai ai mẫn nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các vua rồng chẳng thỏa được sở nguyện, lòng mang sầu não, lui về ngồi một bên.

Lúc bấy giờ, lại có mười hằng hà sa các quỉ thần vương mà vua Tỳ Sa môn là thượng thủ. Họ đều nói với nhau rằng: “Này các ngài! Hôm nay chúng ta nên mau chóng đi đến chỗ đức Phật”. Họ bày biện đồ cúng dường gấp bội các rồng, đem đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Như Lai ai mẫn nhận sự cúng dường tối hậu của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các quỉ vương này chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não, lui về ngồi một bên.

Lúc bấy giờ, có hai mươi hằng hà sa vua Kim Sí Ðiểu mà Giáng Oán điểu vương là thượng thủ. Lại có ba mươi hằng hà sa vua Càn thát bà mà vua Na La Ðạt là thượng thủ. Lại có bốn mươi hằng hà sa vua Khẩn na la mà vua Thiện Kiến là thượng thủ. Lại có năm mươi hằng hà sa vua Ma hầu la già mà vua Ðại Thiện Kiến là thượng thủ. Lại có sáu mươi hằng hà sa vua A tu la mà vua Viêm Bà Lợi là thượng thủ. Lại có bảy mươi hằng hà sa vua Ðà Na Bà mà vua Vô Cấu Hà Thủy và vua Bạt Ðề Ðạt Ða, v.v... là thượng thủ. Lại có tám mươi hằng hà sa vua La sát mà vua Khả Úy là thượng thủ. Họ lìa bỏ tâm ác, lại chẳng ăn thịt người, ở trong oán ghét phát sinh lòng từ bi. Hình hài họ xấu xí, nhờ thần lực của đức Phật đều trở nên đoan chánh. Lại có chín mươi hằng hà sa vua thần rừng cây mà vua Dược Hương là thượng thủ. Lại có một ngàn hằng hà sa vua Trì Chú mà vua Ðại Huyễn Trì Chú là thượng thủ. Lại có một ức hằng hà sa Tham Sắc quỉ mị mà vua Thiện Kiến là thượng thủ. Lại có trăm ức hằng hà sa những thể nữ trời mà Lam Bà nữ, Uất Bà Thi nữ, Ðế Lộ Triêm nữ, Tỳ Xá Khư nữ... là thượng thủ. Lại có ngàn ức hằng hà sa những quỉ vương dưới đất mà vua Bạch Thấp là thượng thủ. Lại có mười vạn ức hằng hà sa những thiên tử và những thiên vương, tứ thiên vương, v.v... Lại có mười vạn ức hằng hà sa những thần gió bốn phương thổi đúng lúc hay chẳng phải lúc trên các cây, tung rải hoa xuống vùng Song Thọ. Lại có mười vạn ức hằng hà sa thần chủ việc mây mưa, họ đều nghĩ rằng: “Ðức Như Lai Niết Bàn, khi thiêu thân ngài chúng ta sẽ tuông mưa xuống làm cho lửa tắt ngay. Trong chúng nóng nảy phiền muộn ta vì họ làm mát mẻ. Lại có hai mươi hằng hà sa Ðại Hương Tượng Vương mà vua voi La Hầu, vua voi Kim Sắc, vua voi Cam Vị, vua voi Mắt Biếc, vua voi Dục Hương, v.v... là thượng thủ. Những vua voi ấy kính trọng Ðại Thừa, yêu thích Ðại Thừa, biết đức Phật chẳng bao lâu nữa sẽ vào Niết Bàn, mỗi mỗi đều nhổ lấy vô lượng vô biên những hoa sen đẹp mang đến chỗ đức Phật, đầu mặt lễ đức Phật, rồi lui về đứng một bên. Lại có hai mươi hằng hà sa những vua thú Sư tử mà vua Sư Tử Hống là thượng thủ. Các vua Sư Tử ban cho tất cả chúng sinh sự vô úy, mang theo những hoa quả đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, rồi lùi lại đứng một bên. Lại có hai mươi hằng hà sa những vua loài chim bay như: le le, nhạn, uyên ương, công... các loài chim, chim Càn thát bà, chim ca lan đà, chim yểng, chim anh vũ, chim câu sí la, chim bà hi già, chim ca lăng tần già, chim kỳ bà kỳ bà, v.v... Những loài chim như vậy mang theo hoa quả đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, lùi về trụ ở một bên. Lại có hai mươi hằng hà sa những trâu nước, trâu, dê đi đến chỗ đức Phật sản xuất sữa thơm vi diệu. Sữa ấy chảy đầy hầm hào sẵn có trong thành Câu Thi Na, màu sắc hương vị thơm ngon đều đầy đủ. Hoàn thành việc này rồi, chúng lùi về đứng một bên. Lại có hai mươi hằng hà sa những người thần tiên ở trong bốn thiên hạ mà vị tiên Nhẫn Nhục là thượng thủ mang theo những hoa thơm và những trái ngọt đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh đức Phật ba vòng mà bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Thế Tôn thương xót nhận sự cúng dường sau cùng của chúng con.

Ðức Như Lai biết thời, lặng thinh chẳng hứa. Các tiên nhân chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não, lui về trụ ở một bên. Tất cả vua ong trong cõi Diêm Phù Ðề mà vua ong Diệu Âm là thượng thủ mang theo đủ thứ hoa đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh đức Phật một vòng, rồi lui về trụ một bên.

Lúc bấy giờ, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni trong cõi Diêm Phù Ðề, tất cả đều tập họp, chỉ trừ hai chúng của tôn giả Ma ha Ca Diếp và tôn giả A Nan. Lại có những núi sẵn có của vô lượng a tăng kỳ hằng hà sa những thế giới trung gian và cõi Diêm Phù Ðề mà vua núi Tu Di là thượng thủ. Các núi ấy trang nghiêm rừng rậm um tùm, cây lá sum xuê, bóng che ánh sáng mặt trời, đủ thứ hoa đẹp trang sức khắp cùng, suối rồng tuôn nước thanh tịnh, hương thơm thanh khiết... chư Thiên, rồng, thần, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, thần tiên chú thuật... tấu xướng kỹ nhạc. Những chúng như vậy đầy khắp ở trong núi rừng ấy. Những vị sơn thần này cũng đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, rồi lui về trụ ở một bên. Lại có a tăng kỳ hằng hà sa thần bốn biển và những thần sông có uy đức lớn, đủ đại thần túc. Họ bày biện đồ cúng dường bội phần hơn trước. Ánh sáng thân của chư thần, ánh sáng đèn kỹ nhạc che hết mặt trời mặt trăng khiến cho biến mất. Họ dùng hoa Chiên đàn rải trên dòng Hi Liên mà đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, rồi lùi lại trụ một bên.

Lúc bấy giờ, rừng cây Ta La ở thành Câu Thi Na, rừng ấy biến thành màu trắng giống như con hạc trắng. Ở trong hư không tự nhiên mà có tòa lầu các bảy báu với những hoa văn chạm khắc trang sức phân minh. Giáp vòng lan can xen lẫn mọi thứ báu. Bên dưới nhà có nhiều dòng suối, ao tắm mà hoa sen thượng diệu đầy khắp trong ấy, giống như nước Uất Ðan Việt ở phương Bắc, cũng giống như vườn Hoan Hỷ của cõi trời Ðao Lợi. Lúc bấy giờ, trong rừng cây Ta La xen lẫn đủ thứ trang nghiêm, rất đáng yêu thích cũng lại như vậy. Những trời, người, A tu la, v.v... này đều nhìn thấy tướng của Như Lai Niết Bàn đều bi cảm sầu ưu chẳng vui.

Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương, Thích Ðề Hoàn Nhân đều nói với nhau rằng:

- Các ông quan sát chư thiên, người đời và A tu la bày biện đại lễ cúng dường muốn đến cúng dường đức Như Lai lần sau cùng. Chúng ta cũng phải cúng dường như vậy. Nếu chúng ta được cúng dường lần sau cùng thì đàn Ba la mật được thành tựu đủ đầy chẳng khó khăn.

Lúc bấy giờ, Tứ Thiên Vương bày biện đồ cúng dường bội phần hơn trước. Họ mang theo hoa mạn đà la, hoa Ma ha mạn đà la, hoa ca chỉ lâu già, hoa Ma ha câu chỉ lâu già, hoa mạn thù sa, hoa Ma ha mạn thù sa, hoa tán đa ni ca, hoa Ma ha tán đa ni ca, hoa ái lạc, hoa đại ái lạc, hoa phổ hiền, hoa đại phổ hiền, hoa thời, hoa đại thời, hoa hương thành, hoa đại hương thành, hoa hoan hỉ, hoa đại hoan hỉ, hoa phát dục, hoa đại phát dục, hoa hương túy, hoa đại hương túy, hoa phổ hương, hoa đại phổ hương, hoa thiên kim diệp, hoa rồng, hoa cây ba lợi chất đa, hoa cây tỳ la... lại còn mang theo đủ thứ đồ ăn ngon thượng diệu, đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật. Những người trời này có ánh sáng có thể che mặt trời, mặt trăng khiến cho biến mất, dùng đồ cúng dường này muốn cúng dường đức Phật. Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Bấy giờ, chư Thiên chẳng thỏa được sở nguyện, lòng sầu lo khổ não lui lại đứng một bên.

Lúc bấy giờ, Thích Ðề Hoàn Nhân và ba mươi ba tầng trời bày biện đồ cúng dường cũng bội phần hơn trước và đem theo hoa cũng lại như vậy, hơi thơm vi diệu rất đáng yêu thích. Họ mang được thắng đường (nhà đẹp thù thắng) cùng các tiểu đường đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con rất ưa ái mộ Ðại Thừa! Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận đồ ăn của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các trời Ðế Thích chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não lùi lại trụ ở một bên... Cho đến trời thứ sáu bày biện đồ cúng dường đắp đổi thắng hơn trước, với tràng phan, bảo cái mà bảo cái nhỏ cũng che được bốn thiên hạ, phan ngắn nhất thì giáp vòng bốn biển, tràng thấp nhất thì cũng đến trời Tự Tại. Gió nhẹ thổi vào tràng phát ra âm thanh vi diệu. Họ đem theo đồ ăn ngon thượng diệu đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận lễ cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các vị trời này chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não, lùi lại trụ ở một bên. Lên đến trời Hữu Ðảnh, những Phạm chúng còn lại, tất cả đều đến tập họp. Lúc bấy giờ, vua trời Ðại Phạm và những Phạm chúng khác phóng ra ánh sáng thân mình soi khắp bốn thiên hạ làm cho ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, người, trời cõi Dục đều biến mất. Những trời ấy mang theo tràng phan, bảo cái, lụa là ngũ sắc mà tràng phan cực ngắn cũng treo thòng từ cung Phạm đến vùng cây Ta La, đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật mà bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận lễ cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Bấy giờ các trời Phạm chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não, lùi lại trụ ở một bên.

Lúc bấy giờ, vua A tu la Tỳ Ma Chất Ða cùng với vô lượng đại quyến thuộc A tu la mà ánh sáng của thân họ hơn cả trời Phạm, mang theo tràng phan bảo cái lụa là ngũ sắc mà bảo cái nhỏ nhất cũng che được một ngàn thế giới, và đồ ăn ngon thượng diệu đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận lễ cúng dường sau cùng của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Các A tu la chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não, lùi lại trụ ở một bên.

Lúc bấy giờ, ma vương Ba Tuần cõi Dục cùng với quyến thuộc của ông ấy, chư Thiên, thể nữ nhiều vô lượng vô biên A tăng kỳ chúng mở cửa địa ngục bố thí nước mát thanh tịnh, rồi nhân đó mà bảo rằng: “Các ngươi hôm nay không thể làm được gì, chỉ phải chuyên nghĩ về đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri mà kiến lập sự tùy hỷ cúng dường lần sau cùng thì sẽ khiến cho các ngươi được đêm dài yên ổn”. Ma Ba Tuần ở trong địa ngục trừ hết đao kiếm, vô lượng khổ độc, rót mưa dập tắt lửa cháy hừng hực. Nhờ thần lực đức Phật mà ma Ba Tuần lại phát tâm khiến cho các quyến thuộc đều bỏ đao kiếm, cung nỏ, giáp đồng, binh khí, mâu kích, trường câu, kim chùy, búa lớn, vòng chiến đấu, dây thao (dùng để trói). Chúng đã mang theo đồ cúng dường hơn bội phần sự bày biện của tất cả người trời, bảo cái nhỏ của chúng che cả trung thiên thế giới, đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, mà bạch rằng:

- Chúng con hôm nay yêu thích Ðại Thừa, thủ hộ Ðại Thừa! Thưa đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân vì cúng dường, vì bố úy, vì lừa dối người khác, vì tài lợi, vì theo người khác nên thọ Ðại Thừa này hoặc chân thành, hoặc trá ngụy thì chúng con bấy giờ sẽ vì người đó trừ diệt bố úy!

Rồi nói chú như vầy:

Sá chỉ - Trá trá la sá chỉ - Lô ha lệ Ma ha lô ha lệ - A la - Già la - Ða la - Tá ha.

Chú này có thể khiến cho những người mất tâm, người bố úy, người nói pháp, người chẳng đoạn chánh pháp vì hàng phục ngoại đạo, hộ thân mình, hộ chánh pháp, hộ Ðại Thừa... thì nên nói chú như vậy. Nếu có người có thể trì chú như vậy thì không sợ voi dữ, hoặc đến chỗ hiểm trở, khoáng dã, đầm trống chẳng sinh ra kinh sợ, cũng không có nạn nước, lửa, sư tử, cọp sói, đạo tặc, vua quan. Thưa đức Thế Tôn! Nếu có người có thể trì chú như vậy thì đều có thể trừ diệt những nỗi sợ như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Người trì chú này thì con sẽ hộ trì họ như rùa giấu sáu bộ phận của thân thể. Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay chẳng do dua nịnh mà nói việc như vậy. Người trì chú này thì con sẽ hết lòng tăng thêm thế lực của họ. Nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận lễ cúng dường sau cùng của chúng con!

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ma Ba Tuần rằng:

- Ta chẳng nhận đồ ăn thức uống cúng dường của ông! Nhưng ta đã nhận thần chú của ông vì muốn an vui cho tất cả chúng sinh và bốn bộ chúng vậy.

Ðức Phật nói lời này rồi, mặc nhiên chẳng nhận. Ma ba tuần thỉnh như vậy ba lần, đức Phật đều chẳng nhận. Ma Ba Tuần chẳng thỏa được sở nguyện, lòng ôm sầu não, lùi lại trụ ở một bên.

Lúc bấy giờ, vua trời Ðại Tự Tại cùng với quyến thuộc nhiều vô lượng vô biên và các thiên chúng bày biện đồ cúng dường trùm hết đồ cúng dường sở hữu của Phạm Vương, Ðế Thích, Hộ Thế Tứ Thiên Vương, người, trời, tám bộ chúng và phi nhân, v.v... Thiết lễ của Phạm Vương, Ðế Thích giống như giọt mực ở bên mép của dụng cụ bằng ngọc Kha đều biến mất hết. Bảo cái nhỏ trời Ðại Tự Tại có thể che ba ngàn đại thiên thế giới. Họ đem theo đồ cúng dường như vậy đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh vô số vòng, bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con dâng lên đồ cúng nhỏ mọn giống như con muỗi con ve! Sự cúng dường ở con cũng như có người dùng một bụm nước ném vào biển cả, thắp một ngọn đèn nhỏ trợ giúp cho trăm ngàn mặt trời, những tháng mùa xuân mùa hạ mọi loài hoa sum suê mà có người đem một cành hoa thêm cho những hoa, dùng một hạt rau đay thêm cho núi Tu Di... Há sẽ có thêm lớn biển, thêm sáng cho mặt trời, nhiều thêm những hoa, lớn thêm núi Tu Di sao? Thưa đức Thế Tôn! Con hôm nay dâng lên đồ cúng nhỏ mọn cũng lại như vậy. Nếu dùng hương hoa, kỹ nhạc, tràng phan bảo cái đầy trong ba ngàn đại thiên thế giới mà cúng dường đức Như Lai còn chẳng nói là đủ. Vì sao vậy? Vì đức Như Lai vì các chúng sinh thường ở trong các đường ác, địa ngục, Ngạ quỉ, súc sinh, chịu những khổ não. Vậy nên đức Thế Tôn nên thấy thương xót nhận sự cúng dường của chúng con.

Lúc bấy giờ, phương Ðông, cách đây vô lượng vô số A tăng kỳ hằng hà sa thế giới nhiều như vi trần, nơi đó có cõi Phật tên là Ý Lạc Mỹ Âm, đức Phật hiệu là Hư Không Ðẳng, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Lúc bấy giờ, đức Phật kia liền bảo vị đại đệ tử thứ nhất rằng: “Này thiện nam tử! Ông nay nên đến thế giới Ta Bà ở phương Tây! Nước đó có đức Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Ðức Phật đó chẳng bao lâu sẽ vào Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ông nên đem cơm thơm (hương phạn) của thế giới này, cơm ấy thơm ngon, ăn vào thì yên ổn, dâng hiến lên đức Phật Thế Tôn đó. Ðức Thế Tôn ăn rồi thì vào Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ðồng thời ông có thể lễ kính ngài thỉnh vấn giải quyết những nghi hoặc.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Vô Biên Thân liền nghe lời dạy của đức Phật đứng dậy, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng, cùng các vị ấy cùng với vô lượng A tăng kỳ chúng đại Bồ tát từ nước đó xuất phát đi đến thế giới Ta bà này. Ngay tức thời, đại địa của ba ngàn đại thiên thế giới sáu thứ chấn động. Phạm Vương, Ðế Thích, Tứ Thiên Vương, Ma vương Ba Tuần, Ma Ê Thủ La... ở trong chúng của cõi Ta Bà này thấy đất này chấn động như vậy thì toàn thân đại chúng nổi da gà, cổ họng khô ráo, kinh sợ run lẩy bẩy, đều muốn chạy tứ tán. Họ tự thấy thân mình không còn ánh sáng, uy đức của mình đều diệt không còn. Khi đó ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử liền đứng dậy bảo các đại chúng rằng:

- Này các thiện nam tử! Các ông chớ sợ! Các ông chớ sợ! Vì sao vậy? Vì ở Ðông phương, cách đây vô lượng vô số A tăng kỳ hằng hà sa thế giới nhiều như vi trần, có thế giới tên là Ý Lạc Mỹ Âm, đức Phật hiệu là Hư Không Ðẳng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri... (đủ mười hiệu). Nơi đó có vị Bồ tát tên là Vô Biên Thân cùng với vô lượng Bồ tát sắp đi đến đây cúng dường đức Như Lai. Do sức uy đức của Bồ tát đó nên khiến cho ánh sáng của thân các ông biến mất. Vậy nên các ông nên phát sinh vui mừng chớ ôm nỗi kinh sợ!

Lúc bấy giờ, đại chúng đều thấy từ xa đại chúng của đức Phật đó như tự nhìn thấy thân mình trong gương sáng. Ngài Văn Thù Sư Lợi lại bảo đại chúng rằng:

- Các ông hôm nay đã thấy đại chúng của đức Phật đó như thấy của đức Phật này. Do thần lực của đức Phật, các ông sẽ lại được thấy vô lượng các đức Phật của chín phương như vậy.

Lúc bấy giờ, đại chúng đều nói với nhau rằng:

- Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng! Ðức Như Lai chẳng bao lâu sẽ vào Niết Bàn!

Khi đó, tất cả đại chúng đều thấy Bồ tát Vô Biên Thân và quyến thuộc của Bồ tát ấy. Thân của vị Bồ tát này, mỗi một lỗ chân lông đều mọc ra một hoa sen lớn. Mỗi một hoa sen đều có bảy vạn tám ngàn thành ấp, dọc ngang bằng nhau như thành Tỳ Xá Ly, tường, vách những hào nước xen lẫn thất bảo, bảy lớp cây Ða la báu bày hàng la liệt, nhân dân đông đúc, yên ổn, giàu có, vui sướng. Vàng Diêm phù đàn dùng làm phòng tuyến đẩy lui địch. Mỗi một phòng tuyến đánh lui địch đều có đủ thứ rừng cây thất bảo, hoa trái sum suê. Gió nhẹ thổi động đến chúng phát ra âm thanh vi diệu. Âm thanh ấy hòa nhã giống như âm nhạc nhà trời. Nhân dân trong thành nghe âm thanh này tức thời được thọ niềm khoái lạc thượng diệu. Trong những hào này tràn đầy nước vi diệu trong sạch, hương thơm thanh khiết như Chân lưu ly. Trong nước này có thuyền thất bảo mà những người cỡi thuyền dạo chơi, tắm gội, vui sướng cùng nhau khoái lạc vô cùng. Lại có vô lượng hoa sen đủ màu, hoa Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phân đà lợi... Những hoa ấy rộng lớn giống như bánh xe. Trên bờ hào nước ấy có nhiều vườn rừng. Trong mỗi một vườn rừng có năm ao suối. Trong những ao này lại có các loài hoa, hoa Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phân đà lợi... những hoa ấy to rộng cũng như bánh xe, mùi thơm sực nức rất đáng yêu thích. Nước của ao ấy thanh tịnh nhu nhuyến đệ nhất. Le le, nhạn, uyên ương... dạo chơi trong ao ấy. Trong vườn ấy có cung điện nhà cửa bằng mọi thứ báu. Mỗi một cung điện ngang dọc trọn bốn do tuần, có tường vách làm thành bằng bốn thứ báu. Ðó là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, cửa sổ bằng vàng ròng giáp vòng lan can. Ngọc văn côi làm đất với cát vàng trải lên trên. Trong cung trạch này có nhiều dòng suối, ao tắm bằng thất bảo. Bờ của mỗi một ao đều có mười tám bậc thềm. Vàng Diêm phù đàn làm cây chuối như vườn Hoan Hỷ của trời Ðao Lợi. Mỗi một thành này đều có tám muôn bốn ngàn vua người. Mỗi một vua đều có vô lượng phu nhân, thể nữ chung nhau vui sướng hoan hỷ thọ lạc. Ngoài ra nhân dân cũng lại như vậy, đều ở nơi trú xứ, chung nhau vui sướng. Trong thành này, chúng sinh chẳng nghe danh từ nào khác, chỉ thuần nghe tiếng Ðại Thừa vô thượng. Trong những hoa sen đó, mỗi một hoa đều có tòa Sư tử. Bốn chân tòa ngồi ấy đều bằng lưu ly xanh biếc, trên tòa ngồi trải áo mềm mại. Áo ấy vi diệu vượt ra ba cõi. Trên mỗi một tòa có một vị vua ngồi, dùng pháp Ðại Thừa giáo hóa chúng sinh. Hoặc có chúng sinh ghi chép, giữ gìn, đọc tụng, theo đúng lời nói tu hành... cứ như vậy mà lưu bố kinh điển Ðại Thừa. Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân dừng yên vô lượng chúng sinh ở thân mình như vậy rồi thì khiến cho họ bỏ niềm vui thế gian, đều nói lên rằng: “Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng! Ðức Như Lai chẳng bao lâu sẽ vào Niết Bàn”. Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân cùng với vô lượng Bồ tát vây quanh giáp vòng, thị hiện sức thần thông như vậy rồi, đem đủ thứ đồ cúng dường nhiều không lường đó và cả đồ ăn thức uống thơm ngon thượng diệu. Nếu có người được nghe hơi thơm của món ăn này thì các cấu bẩn phiền não đều tiêu diệt hết. Do sức thần thông của Bồ tát này nên tất cả đại chúng đều được thấy thân của Bồ tát Vô Biên Thân biến hóa lớn vô biên, lượng đồng với hư không như vậy vì chỉ trừ đức Phật còn không ai có thể thấy lượng bờ cõi của thân vị Bồ tát này. Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân và quyến thuộc đã bày biện lễ cúng dường bội phần hơn trước, đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, chắp tay cung kính bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin Ngài ai mẫn nhận đồ ăn của chúng con!

Ðức Như Lai biết thời, mặc nhiên chẳng nhận. Bồ tát ấy thỉnh ba lần như vậy, đức Phật cũng đều chẳng nhận. Lúc đó, Bồ tát Vô Biên Thân và quyến thuộc lùi lại trụ ở một bên. Thế giới chư Phật ở Nam phương, Tây phương, Bắc phương cũng có vô lượng Bồ tát Vô Biên Thân đã đem đồ cúng dường bội phần hơn trước đi đến chỗ đức Phật... cho đến trụ ở một bên đều cũng lại như vậy.

Lúc bấy giờ, đất phước cát tường Ta La song thọ ngang dọc ba mươi hai do tuần, đầy ắp đại chúng không một chỗ trống khuyết. Bấy giờ Bồ tát Vô Biên Thân của bốn phương và quyến thuộc của họ đã ngồi vào chỗ nhiều như vi trần hoặc lố nhố như đầu mũi kim khâu. Những vị đại Bồ tát của thế giới chư Phật nhiều như vi trần của mười phương đều đến tập hội và tất cả đại chúng của cõi Diêm phù đề cũng đều đến tập họp, chỉ trừ hai chúng của tôn giả Ðại Ca Diếp, tôn giả A Nan, vua A Xà Thế và quyến thuộc của ông ấy. Thậm chí rắn độc mà nhìn thấy có thể giết người, bọ hung, mối mọt, v.v... và mười sáu giống làm ác, tất cả đến tập họp. Thần Ðà na bà, A tu la, v.v... đều bỏ ác niệm, đều sinh lòng từ như cha, như mẹ, như chị, như em. Chúng sinh của ba ngàn đại thiên thế giới đem lòng lành hướng về nhau cũng lại như vậy trừ bọn Nhất xiển đề. Bấy giờ, ba ngàn đại thiên thế giới, do thần lực của đức Phật nên đất đều mềm mại, không gò đống, đất cát, sỏi đá, gai góc, cỏ độc mà trang nghiêm mọi thứ báu giống như thế giới Cực Lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ ở phương Tây. Lúc đó đại chúng đều thấy thế giới chư Phật nhiều bằng vi trần của mười phương như tự quan sát thân mình trong gương sáng. Ðại chúng thấy các cõi Phật cũng lại như vậy. Lúc bấy giờ, diện môn của đức Như Lai phát ra ánh sáng ngũ sắc. Ánh sáng ấy sáng che cả đại hội khiến cho ánh sáng thân của đại hội đó đều biến mất. Sự ứng tác xong thì ánh sáng trở lại theo miệng mà vào. Các trời, người và các chúng hội, A tu la, v.v... thấy ánh sáng của đức Phật trở lại theo miệng mà vào đều rất kinh sợ, thân nổi da gà, lại nói lên rằng:

- Ánh sáng Như Lai phát ra rồi vào trở lại chẳng phải không có nhân duyên. Nhất định đối với mười phương, việc làm của ngài đã hoàn thành và sẽ là tướng Niết Bàn tối hậu. Sao mà khổ thay! Sao mà khổ thay! Làm sao mà đức Thế Tôn một sớm lìa bỏ Tứ vô lượng tâm? Chẳng nhận lễ dâng cúng dường của người, trời? Ánh sáng mặt trời thánh tuệ từ nay diệt vĩnh viễn! Thuyền pháp vô thượng chìm mất ở đây! Ô hô! Ðau thay! Thế gian khổ lớn rồi!

Họ đưa tay đấm ngực, gào khóc buồn thương, chi tiết thân thể run rẩy rúng động, chẳng thể tự kiềm chế, những lỗ chân lông trên thân chảy máu tưới xuống đất.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN Quyển thứ nhất hết –


2/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai

Quyển Thứ Hai

Lúc bấy giờ, trong hội có vị Ưu bà tắc là con người thợ khéo của thành Câu Thi Na, tên là Thuần Ðà cùng với đồng loại gồm mười lăm người, vì khiến cho thế gian được quả tốt nên xả uy nghi của thân, đứng dậy, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, chắp tay hướng về đức Phật, buồn cảm rơi lệ, đảnh lễ dưới chân đức Phật mà bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Thế Tôn và Tỳ kheo Tăng thương xót nhận lễ cúng dường sau cùng của chúng con vì độ vô lượng những chúng sinh. Thưa đức Thế Tôn! Chúng con từ nay không còn chủ, không người thân, không ai cứu, không ai hộ, không chỗ về, không nơi đến, bần cùng đói khát khốn khổ, muốn theo đức Như Lai cầu đồ ăn tương lai, nguyện xin đức Như Lai thương xót nhận cho chút lễ cúng dường của chúng con rồi nhiên hậu mới Niết Bàn! Thưa đức Thế Tôn! Ví như Sát lợi, hoặc Bà la môn, Tỳ xá, Thủ đà do nghèo cùng nên đến đất nước khác xa xôi, ra sức làm nông mà được trâu điều phục tốt, ruộng tốt bằng phẳng, không có những cát mặn, cỏ xấu, hoang hóa, dơ bẩn, chỉ còn mong trời mưa xuống. Nói trâu điều phục là ví thân miệng tốt. Ruộng tốt bằng phẳng là ví cho trí tuệ. Trừ khử cát mặn, cỏ xấu, hoang hóa, dơ bẩn là ví cho việc trừ khử phiền não. Bạch Thế Tôn! Con nay, thân có trâu thuần, ruộng tốt, làm sạch cỏ, trừ mọi dơ bẩn chỉ còn mong mưa pháp cam lồ của đức Như Lai. Tứ tánh (bốn giai cấp) nghèo tức là thân con đó. Nghèo là nghèo của báu đối với pháp Vô Thượng, nguyện xin đức Thế Tôn thương xót đoạn trừ sự bần cùng khốn khổ của chúng con! Cứu vớt vô lượng chúng sinh khổ não! Lễ cúng dường của con tuy nhỏ mọn nhưng muốn được sung túc đại chúng của đức Như Lai. Con nay không có chủ, không thân thích, không nơi nương về, nguyện xin ngài rũ lòng xót thương như thương La Hầu La.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn Nhất Thiết Chủng Trí Vô Thượng Ðiều Ngự bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ta nay vì ông đoạn trừ bần cùng! Ðem pháp vũ Vô thượng mưa xuống ruộng thân của ông, khiến cho sinh ra mầm pháp! Ông nay đối với ta muốn cầu thọ mạng, sắc lực, an vui, vô ngại biện tài! Ta sẽ ban cho ông thọ mạng, sắc lực, an vui, vô ngại biện tài. Vì sao vậy? Này Thuần Ðà! Vì cho ăn có hai quả báo không sai khác. Những gì là hai? Một là nhận rồi thì được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hai là nhận rồi thì vào Niết Bàn. Ta nay nhận sự cúng dường sau cùng của ông, khiến cho ông đầy đủ Ðàn Ba la mật.

Bấy giờ, ông Thuần Ðà liền bạch đức Phật rằng:

- Như lời nói của đức Phật, hai quả báo của sự bố thí không sai khác thì nghĩa này chẳng phải! Vì sao vậy? Vì người thọ thí trước thì phiền não chưa hết, chưa được thành tựu Nhất thiết chủng trí, cũng chưa có thể khiến cho chúng sinh đầy đủ Ðàn Ba la mật. Người thọ thí sau phiền não đã hết, đã được thành tựu Nhất thiết chủng trí, có thể khiến chúng sinh đều được đầy đủ Ðàn Ba la mật. Người thọ thí trước, cũng là chúng sinh, người thọ thí sau là trời trong trời. Người thọ thí trước là thân tạp thực, là thân phiền não, là thân hậu biên, là thân vô thường. Người thọ thí sau là thân không phiền não, là thân Kim cương, pháp thân thường thân, thân vô biên. Tại sao nói quả báo của hai cách bố thí này là bình đẳng không sai khác? Người thọ thí trước chưa có thể đầy đủ Ðàn Ba la mật... cho đến Bát nhã Ba la mật, chỉ được nhục nhãn chưa được Phật nhãn... cho đến tuệ nhãn. Người thọ thí sau đã được đầy đủ Ðàn Ba la mật, v.v... cho đến Bát nhã Ba la mật, đầy đủ Phật nhãn... cho đến tuệ nhãn. Vậy thì sao mà gọi là quả báo hai sự bố thí bình đẳng không sai biệt. Thưa đức Thế Tôn! Người thọ thí trước, thọ rồi ăn vào bụng, tiêu hóa thì được thọ mạng, được sắc, được lực, được yên, được vô ngại biện. Người thọ thí sau chẳng ăn, chẳng tiêu, không có kết quả năm việc thì sao gọi là quả báo hai sự bố thí bình đẳng, không sai khác?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như Lai đã ở vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, không có thân hữu thực, thân phiền não, mà là thân không hậu biên (bờ sau), thân thường còn, thân pháp, thân kim cương. Này thiện nam tử! Người chưa thấy Phật tính thì gọi là thân phiền não, thân tạp thực, là thân hậu biên. Bồ tát bấy giờ thọ ẩm thực rồi vào Kim cương tam muội, đồ ăn này tiêu rồi liền thấy Phật tính, được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta nói rằng, quả báo của hai sự bố thí bình đẳng, không sai biệt. Bồ tát bấy giờ phá hoại bốn ma, nay vào Niết Bàn cũng phá bốn ma. Vậy nên ta nói rằng, quả báo của hai sự bố thí bình đẳng, không sai biệt. Bồ tát bấy giờ tuy chẳng rộng nói mười hai bộ Kinh, nhưng đã thông đạt trước, nay vào Niết Bàn vì chúng sinh phân biệt diễn nói rộng rãi. Vậy nên ta nói rằng, quả báo hai sự bố thí bình đẳng không sai biệt. Này thiện nam tử! Thân của Như Lai đã ở vô lượng A tăng kỳ kiếp chẳng thọ ẩm thực, vì các Thanh văn nên ta nói rằng, trước thọ sự hiến dâng sữa mè của hai cô gái chăn trâu Nan Ðà và Nan Ðà Ba La nhiên hậu mới được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nhưng thật sự ta chẳng ăn. Ta nay khắp vì tạo tác cho chúng đại hội nên thọ sự dâng hiến sau cùng của ông, thật sự cũng chẳng ăn.

Lúc bấy giờ, đại chúng nghe đức Phật Thế Tôn khắp vì đại hội, thương xót nhận lễ cúng dường tối hậu của ông Thuần Ðà thì vui mừng, nhảy nhót, đồng thanh khen rằng:

- Hay thay! Hay thay! Hy hữu thay! Này ông Thuần Ðà! Ông nay đứng tên chẳng là rỗng xưng! Nói Thuần Ðà là tên Giải diệu nghĩa. Ông nay đã kiến lập đại nghĩa như thế. Vậy nên y thật theo nghĩa mà lập danh nên gọi là Thuần Ðà. Ông nay, ở đời hiện tại được danh lợi lớn, đức nguyện đủ đầy. Rất lạ! Này Thuần Ðà! Ông sinh tại trong loài người lại được cái lợi vô thượng khó được! Hay thay! Này Thuần Ðà! Như hoa Ưu đàm hiếm có ở thế gian, đức Phật ra đời cũng lại rất khó. Gặp Phật sinh ra, tin nghe pháp lại càng khó. Phật sắp Niết Bàn mà cúng dường tối hậu, có thể bày biện việc này lại khó đến thế! Nam mô Thuần Ðà! Nam mô Thuần Ðà! Ông nay đã đủ Ðàn Ba la mật giống như trăng thu đêm ngày mười lăm tràn đầy thanh tịnh, không có những mây che, tất cả chúng sinh không ai chẳng chiêm ngưỡng! Ông cũng như vậy! Mà vì sự chiêm ngưỡng của chúng tôi, đức Phật đã thọ lễ cúng dường tối hậu của ông khiến cho ông đầy đủ Ðàn Ba la mật. Nam mô Thuần Ðà! Vậy nên nói ông như vầng trăng tròn đầy, tất cả chúng sinh không ai chẳng chiêm ngưỡng. Nam mô Thuần Ðà! Tuy ông thọ thân người nhưng tâm như tâm Phật. Này ông Thuần Ðà! Ông nay chính là con của Phật chân thật như ngài La Hầu La ngang bằng không có khác.

Lúc bấy giờ, đại chúng liền nói kệ rằng:

Ông tuy sinh nhân đạo Ðã vượt Ðệ Lục Thiền

Chúng ta, tất cả chúng Nay cúi đầu mời ông.

Trong người, bậc Tối Thắng Nay sẽ vào Niết Bàn

Ông nên thương đại chúng Xin mau thỉnh Thế Tôn

Ở lâu ở cõi thế Lợi ích chúng không lường.

Diễn nói việc khen trí Pháp cam lộ không trên.

Nếu ông chẳng thỉnh Phật Mạng chúng ta chẳng toàn

Vậy nên ông ứng kiến Cúi thỉnh đức Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, ông Thuần Ðà vui mừng hớn hở, giống như có người cha mẹ chết, làm lễ tang thì bỗng nhiên sống trở lại, ông Thuần Ðà vui mừng cũng lại như vậy. Ông lại đứng dậy lễ đức Phật mà nói kệ rằng:

Sướng thay! Lợi mình được! Tốt lành được nhân thân

Tiêu trừ tham, sân nhuế... Lìa mãi ác ba đường!

Sướng thay! Lợi mình được! Gặp được nhóm báu vàng

Gặp gỡ đấng Ðiều Ngự Chẳng sợ đọa súc sinh!

Phật như hoa Ưu Ðàm Gặp gỡ sanh tin khó

Gặp rồi gieo thiện căn Mãi diệt khổ ngã quỉ

Cũng lại hay tổn thương A tu la chủng loại.

Hạt cải ném mũi kim Phật ra đời khó vậy!

Con đã đầy đủ Ðàn (Ba la mật) Ðộ người trời sanh tử

Phật chẳng nhiễm thế gian Như hoa sen ở nước

Giỏi đoạn giống đỉnh nước Qua khỏi dòng tử sinh

Sinh đời, làm người khó Gặp đời Phật khó hơn,

Giống như trong biển cả Rùa mù gặp ván lỗ.

Con nay dâng bữa ăn Nguyện được Vô thượng báo

Tất cả kết não phiền Triệt phá không kiên cố.

Ở chỗ này, nay con Chẳng cầu thân nhân thiên

Giả sử được thân đó Niềm vui lòng chẳng cam.

Như Lai thọ con cúng Vui mừng không có lường

Như hoa Y Lan đó Phát ra hương Chiên đàn

Thân con như Y Lan Như Lai thọ con cúng

Như tỏa hương Chiên đàn Vậy nên con hoan hỷ.

Con được báo hiện tiền Chỗ thượng diệu tối thắng.

Phạm, Thích và chư Thiên... Ðều đến cúng dường con

Tất cả những thế gian Ðều sinh đại khổ não.

Do biết Phật Thế Tôn Nay muốn vào Tịch diệt (Niết bàn)

Lớn tiếng xướng lên rằng: Thế gian không Ðiều Ngự

Chẳng nên bỏ chúng sinh Nên xem như con một.

Như Lai ở trong Tăng Diễn nói pháp Vô thượng

Như Tu Di bảo sơn Ở yên với biển cả.

Trí Phật hay đoạn tan Chúng con vô minh ám

Giống như trong hư không Mây khởi được mát mẻ

Như Lai giỏi trừ khử Tất cả những não phiền

Giống như mặt trời mọc Trừ mây, sáng khắp cùng.

Hôm nay những sinh chúng Luyến mộ thêm bi thương

Ðều bị trôi dạt ở Trong nước khổ tử sinh.

Do vậy nên đức Phật Cho họ dài niềm tin

Vì đoạn khổ sinh tử Ở lâu với thế gian!

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời nói của ông! Phật ra đời khó như hoa Ưu đàm. Gặp được Phật mà sinh lòng tin cũng lại rất khó. Phật sắp Niết Bàn dâng bữa ăn sau cùng để có thể đầy đủ Ðàn Ba la mật lại rất khó bội phần. Này Thuần Ðà! Ông nay chớ sầu khổ quá! Ông nên phải hoan hỷ, tự mừng rỡ may mắn sâu sắc là được gặp Như Lai cúng dường lần sau cùng, thành tựu đầy đủ Ðàn Ba la mật! Ông chẳng nên thỉnh Phật ở lâu với đời! Ông nay phải quan sát cảnh giới của chư Phật đều là vô thường, tánh tướng các hạnh cũng lại như vậy.

Ðức Phật liền vì ông Thuần Ðà mà nói kệ rằng:

Tất cả các thế gian Sinh thì đều về tử

Thọ mạng tuy không lường Tất yếu có chung tận.

Thịnh ắt có suy vong Hội họp có ly biệt

Tuổi trẻ chẳng lâu dừng Thịnh sắc bệnh lấn lướt

Mạng bị thần chết nuốt Không có pháp thường còn.

Các vua được tự tại Thế lực thật vô song

Tất cả đều dời diệt Thọ mạng cũng như trên

Bánh xe khổ không bến Lưu chuyển không nghỉ ngưng

Ba cõi đều vô thường Các hữu chẳng phải lạc (vui)

Tánh tướng hữu các đường Tất cả đều không rỗng

Pháp lưu chuyển hoại tan Thường có những ưu hoạn.

Các lỗi ác kinh hoàng (khủng bố) Già bệnh chết suy não

Là những cái không biên Dễ hoại, oán lấn lướt

Bị phiền não buộc ràng Như tằm ở trong kén

Sao có người tuệ thông Mà phải ưa chỗ đó?

Thân này khổ đã gom Tất cả đều bất tịnh.

Ung nhọt và buộc ràng... Căn bản không nghĩa lợi

Trên đến thân chư thiên Ðều cũng lại như vậy.

Các dục đều vô thường Nên ta chẳng tham trước

Khéo nghĩ lìa dục xong Mà chứng pháp chân thật.

Ðoạn các “hữu” rốt cùng Hôm nay sẽ Niết Bàn!

Ta qua bờ hữu đó Ra khỏi tất cả khổ

Vậy nên hôm nay đây Chỉ thọ vui thượng diệu!

Lúc bấy giờ, ông Thuần Ðà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Quả thật như lời dạy của đức Thánh! Nay với sở hữu trí tuệ nhỏ nhoi cạn cợt của con giống như con muỗi con ve thì làm sao có thể nghĩ bàn về ý nghĩa thâm áo Niết Bàn của đức Như Lai? Thưa đức Thế Tôn! Con nay đã cùng với các đại long tượng Bồ tát Ma ha tát đoạn hết những kết lậu như ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, v.v... Thưa đức Thế Tôn! Ví như đứa trẻ thơ mới được xuất gia, tuy chưa đủ giới mà liền rơi vào tăng số, con cũng như vậy. Do sức thần thông của Phật, Bồ tát nên con được ở vào số đại Bồ tát như vậy. Vậy nên con nay muốn cho đức Như Lai trụ ở đời lâu dài, chẳng vào Niết Bàn. Ví như người đói nhất định không có gì khác để nhổ ra, nguyện xin đức Thế Tôn cũng lại như vậy, thường trụ ở đời, chẳng vào Niết Bàn!

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Này ông Thuần Ðà! Ông nay chẳng nên nói ra lời như vậy, muốn cho đức Như Lai thường trụ ở đời, chẳng vào Niết Bàn như người đói kia không có gì khác để nhổ ra. Ông nay phải quan sát tánh tướng của các hạnh. Như vậy là quán hạnh cụ không tam muội. Muốn cầu chánh pháp thì ông phải học như vậy.

Ông Thuần Ðà hỏi rằng:

- Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Luận về Như Lai thì trên trời, trong loài người ngài là bậc tối tôn, tối thắng. Như vậy thì đâu là hành động của Như Lai vậy? Nếu là hành động thì là pháp sinh diệt, ví như bọt nước chóng khởi, chóng diệt, qua lại lưu chuyển giống như bánh xe. Tất cả các hành động cũng lại như vậy. Tôi nghe chư thiên thọ mạng rất dài thì sao đức Thế Tôn là đấng Thiên Trung Thiên (ông trời của trời) mà thọ mạng mau quá, chẳng đầy trăm năm? Ví như thế lực của vị chúa tụ lạc được tự tại. Do lực tự tại ông ấy có thể áp chế người khác. Người này hết phước, về sau nghèo hèn bị sự khinh miệt của mọi người, bị người khác sách nhiễu, sai khiến. Sở dĩ vì sao? Vì mất thế lực. Ðức Thế Tôn cũng vậy, đồng với các hành. Nếu người đồng các hành thì chẳng được xưng là đấng Thiên Trung Thiên. Vì sao vậy? Vì các hạnh tức là pháp sinh tử. Vậy nên, thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ngài chớ quan sát đức Như Lai đồng với các hành.

Lại nữa, thưa ngài Văn Thù! Ngài vì biết mà nói hay chẳng biết mà nói rằng, đức Như Lai đồng với các hành. Giả sử đức Như Lai đồng các hành thì chẳng được nói rằng, ở trong ba cõi, đức Như Lai là đấng Pháp Vương Tự Tại Thiên Trung Thiên. Ví như vua loài người có vị đại lực sĩ, sức ông ấy đương đầu được một ngàn người, lại không có ai có thể hàng phục nên xưng lực sĩ này là một người đương cự được ngàn người. Như vậy lực sĩ được sự ái niệm của vua, được vua ban tước lộc, phong thưởng tự nhiên. Cho dù đã được xưng là người đương đầu được ngàn người thì sức người này chưa chắc địch được ngàn người mà họ chỉ dùng đủ thứ khả năng về kỹ nghệ để có thể thắng được ngàn người nên xưng là đương cự ngàn người. Ðức Như Lai cũng vậy, ngài hàng phục ma phiền não, ma ấm, ma trời, ma chết... Vậy nên đức Như Lai gọi là bậc tôn quí của ba cõi. Như vị lực sĩ kia, một người đương cự ngàn người. Do nhân duyên này, hoặc thành tựu đầy đủ thứ vô lượng công đức chân thật nên xưng là Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri... Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Hôm nay ngài chẳng nên nhớ tưởng phân biệt pháp của đức Như Lai đồng với các hành. Ví như ông trưởng giả giàu to sinh con trai. Thầy tướng chiếm quẻ đứa con có tướng đoản thọ (vắn số). Cha mẹ nghe rồi biết đứa con ấy chẳng gánh vác được sự kế tục nối dõi gia đình nên lại chẳng ái trọng mà xem như cỏ rác. Phàm là người đoản thọ thì chẳng được sự kính niệm của Sa môn, Bà la môn, trai gái, lớn nhỏ, v.v... Giả sử nếu đức Như Lai đồng với các hành thì cũng lại chẳng được sự kính phụng của tất cả thế gian người, trời, chúng sinh. Ðức Như Lai đã nói, chẳng biến, chẳng khác, pháp chân thật, cũng không người thọ. Vậy nên, thưa ngài Văn Thù! Ngài chẳng nên nói rằng, đức Như Lai đồng với tất cả các hành.

Lại nữa, thưa ngài Văn Thù! Ví như người con gái nghèo không có nhà ở, không người cứu hộ, lại thêm sự bức bách của bệnh khổ, đói khát. Người này du hành xin, dừng ở nhà trọ, sinh nhờ một đứa con trai, bị chủ nhà trọ này xua đuổi đi. Người ấy bế đứa trẻ này muốn đến đất nước khác, nhưng ở giữa đường gặp phải mưa to gió dữ, lạnh khổ đều đến, bị nhiều muỗi, mòng, ong độc, trùng độc bâu cắn. Qua sông Hằng người con gái ấy ẳm con mà lội. Nước sông chảy nhanh mà người ấy chẳng buông con. Ðến đây thì mẹ con liền đều chung chết chìm. Như vậy nhờ công đức từ niệm, người con gái sau khi mạng chung, sinh lên cõi trời Phạm. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu có thiện nam tử muốn hộ chánh pháp thì chớ nói Như Lai đồng với các hạnh hay chẳng đồng với các hạnh mà chỉ phải tự trách rằng, ta nay ngu si chưa có tuệ nhãn, chánh pháp của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn. Vậy nên chẳng nên tuyên nói đức Như Lai nhất định là hữu vi hay nhất định là vô vi. Nếu người chánh kiến thì nên nói Như Lai nhất định là vô vi. Vì sao vậy? Vì có thể vì chúng sinh sinh ra thiện pháp, sinh ra thương xót như người con gái nghèo kia ở tại sông Hằng vì nghĩ yêu con mà bỏ thân mạng. Thưa thiện nam tử! Bồ tát hộ pháp cũng nên như vậy, thà bỏ thân mạng chứ chẳng nói đức Như Lai đồng với hữu vi mà phải nói rằng, đức Như Lai đồng với vô vi. Do nói đức Như Lai đồng với vô vi nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, như người con gái nghèo kia được sinh lên cõi trời Phạm. Vì sao vậy? Vì hộ pháp vậy. Sao gọi là hộ pháp? Nghĩa là nói rằng, đức Như Lai đồng với vô vi. Thưa thiện nam tử! Người như vậy tuy chẳng cầu giải thoát mà giải thoát tự đến, như người con gái nghèo kia chẳng cầu Phạm thiên mà Phạm thiên tự ứng. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Như người đi xa, giữa đường quá mệt mỏi, ở nhờ nhà người khác, đang nằm ngủ trong nhà thì nhà ấy bỗng nhiên cháy lớn chợt khởi lên. Người ấy tức thời thức dậy liền tự suy nghĩ: “Ta đến hôm nay nhất định chết chẳng nghi ngờ gì!” Còn đủ xấu hổ nên người ấy lấy áo buộc thân mình, liền mạng chung sinh lên cõi trời Ðao Lợi. Từ đó về sau người ấy tám mươi lần trở lại làm vua trời Ðại Phạm, trọn trăm ngàn đời sinh ở trong loài người làm vua Chuyển Luân. Người đó chẳng còn sinh vào ba đường ác, đắp đổi thường sinh vào nơi yên vui. Do duyên này nên thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu thiện nam tử có tàm quí thì chẳng nên xem đức Phật đồng với các hạnh! Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ngoại đạo tà kiến có thể nói đức Như Lai đồng với hữu vi. Nhưng Tỳ kheo giữ giới thì chẳng nên ở chỗ đức Như Lai sinh tư tưởng hữu vi như vậy. Nếu nói rằng, đức Như Lai là hữu vi thì tức là nói dối và phải biết rằng, người này chết phải vào địa ngục như người tự ở nơi nhà cửa của mình. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ðức Như Lai chân thật là pháp vô vi! Chẳng nên lại nói là hữu vi vậy. Ngài từ hôm nay, ở trong sinh tử, nên bỏ vô tri mà cầu nơi chánh trí! Phải biết đức Như Lai tức là vô vi. Nếu người có thể quan sát đức Như Lai như vậy thì sẽ ba mươi hai tướng đầy đủ, mau chóng thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác!

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử khen ông Thuần Ðà rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Hôm nay ông đã tạo tác nhân duyên trường thọ, có thể biết đức Như Lai là pháp thường trụ, pháp chẳng biến dị, pháp vô vi! Hôm nay ông như vậy là khéo che tướng hữu vi của đức Như Lai như người bị lửa vì xấu hổ nên dùng áo buộc thân. Do thiện tâm đó nên sinh lên trời Ðao Lợi, lại được làm Phạm Vương, Chuyển Luân Thánh Vương, chẳng đến đường ác, thường thọ yên vui. Ông cũng như vậy, khéo che tướng hữu vi của đức Như Lai nên ở đời vị lai nhất định sẽ được ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, đầy đủ mười tám pháp bất cộng, thọ mạng không lường, chẳng ở tại sinh tử, thường thọ yên vui, chẳng bao lâu được thành Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Này ông Thuần Ðà! Ðức Như Lai tiếp theo sau, sẽ tự nói rộng rãi! Tôi cùng với ông đều cũng phải che hữu vi của đức Như Lai. Hữu vi, vô vi vã đặt chung đó, ông có thể tùy lúc mau chóng dâng thí cơm ăn! Thí như vậy là tối thắng trong các thí! Nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đi xa mệt mỏi cực nhọc thì những vật cần dùng nên phải thanh tịnh tùy lúc mà cấp cho họ. Bố thí nhanh chóng như vậy tức là đầy đủ chủng tử căn bản của Ðàn Ba la mật. Này ông Thuần Ðà! Nếu ông có lễ dâng thí tối hậu cho đức Phật và chúng Tăng, hoặc nhiều hay ít, hoặc đủ hay chẳng đủ thì nên mau chóng kịp thời! Ðức Như Lai chính lúc bấy giờ sẽ vào Niết Bàn!

Ông Thuần Ðà đáp rằng:

- Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Sao hôm nay ngài tham vì bữa ăn này mà nói nhiều, ít đủ cùng chẳng đủ, lệnh cho tôi kịp thời thí? Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ðức Như Lai ngày xưa, khổ hạnh sáu năm còn tự cố sức ứng phó huống gì là khoản giây lát ngày hôm nay vậy? Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ngài hôm nay thật cho là đức Như Lai Chánh Giác thọ bữa ăn ấy sao? Nhưng tôi thì nhất định biết là thân của đức Như Lai tức là pháp thân, chẳng phải là thân ăn!

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời nói của ông Thuần Ðà! Hay thay! Này Thuần Ðà! Ông đã thành tựu đại trí vi diệu, khéo vào kinh điển Ðại Thừa thậm thâm!

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với ông Thuần Ðà rằng:

- Ông cho là Như Lai chính là vô vi thì thân đức Như Lai tức là trường thọ. Nếu tác khởi sự hiểu biết này thì đức Phật được vui lòng ưng ý sao?

Ông Thuần Ðà đáp rằng:

- Ðức Như Lai chẳng phải riêng vui lòng ưng ý đối với tôi mà cũng lại vui lòng ưng ý đối với tất cả chúng sinh.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Ðức Như Lai đối với ông và cả với tôi... tất cả chúng sinh đều vui lòng ưng ý hết à?

Ông Thuần Ðà đáp rằng:

- Ngài chẳng nên nói rằng, đức Như Lai vui lòng ưng ý! Bàn về việc vui lòng ưng ý thì chính là đảo tưởng. Nếu có đảo tưởng thì chính là sinh tử. Có sinh tử tức là pháp hữu vi! Vậy nên, thưa ngài Văn Thù! Ngài chớ cho là Như Lai chính là hữu vi vậy. Nếu nói rằng, đức Như Lai là hữu vi thì tôi cùng ngài đều hành điên đảo. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ðức Như Lai không có tư tưởng ái niệm! Bàn về ái niệm thì như con trâu sữa kia ái niệm con của nó nên tuy đói khát đi tìm nước, cỏ hoặc đủ hay chẳng đủ, bỗng nhiên quay trở về. Các đức Phật Thế Tôn không có ý niệm này mà bình đẳng xem tất cả như ông La Hầu La. Ý niệm như vậy thì tức là cảnh giới trí tuệ của chư Phật. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Ví như vị quốc vương điều xe ngự bốn ngựa mà muốn dong ruổi xe lừa khiến cho kịp bằng xe ấy thì không có chỗ này. Tôi cùng ngài cũng lại như vậy, muốn tận tường sự thâm áo vi mật của đức Như Lai thì cũng không có chỗ này. Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Như con chim cánh vàng bay lên hư không cao vô lượng do tuần nhìn xuống biển cả thấy hết các loài thủy tánh như cá, ba ba, con giải, rùa biển, rồng biển... và thấy bóng của mình như đối với gương sáng thấy các sắc tượng. Kẻ phàm phu ít trí chẳng thể trù lượng sự thấy như vậy. Tôi cùng ngài cũng lại như vậy, chẳng thể trù lượng (trù tính đo lường) trí tuệ của đức Như Lai.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với ông Thuần Ðà rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời nói của ông! Ta đối với việc này chẳng phải là chẳng thông đạt mà tôi muốn trực tiếp thử thách những việc Bồ tát của ông!

Lúc bấy giờ, từ diện môn của đức Thế Tôn phát ra đủ thứ ánh sáng. Ánh sáng ấy soi sáng thân ngài Văn Thù. Ngài Văn Thù Sư Lợi gặp ánh sáng ấy rồi thì liền biết việc này mà bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Ðức Như Lai hôm nay hiện tướng điềm đó thì chẳng bao lâu nhất định sẽ vào Niết Bàn. Ông trước đã thiết bày lễ cúng dường tối hậu nên tức thời dâng hiến đức Phật và đại chúng. Này ông Thuần Ðà! Ông phải biết rằng, đức Như Lai phóng ra đủ thứ ánh sáng đó chẳng phải không có nhân duyên.

Ông Thuần Ðà nghe rồi, buồn tê tái lặng lẽ. Ðức Phật bảo:

- Này Thuần Ðà! Việc phụng thí Phật và đại chúng của ông, nay chính là lúc đó! Như Lai chính lúc ấy sẽ vào Niết Bàn.

Nói lần thứ hai, lần thứ ba cũng lại như vậy. Bấy giờ, ông Thuần Ðà nghe lời đức Phật rồi, cất tiếng gào khóc bi thương, nghẹn ngào mà nói rằng:

- Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng!

Lại bạch với đại chúng rằng:

- Chúng con hôm nay, tất cả sẽ cùng gieo năm vóc xuống đất, đồng thanh khuyên đức Phật chớ vào Niết Bàn!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo ông Thuần Ðà:

- Ông chớ gào khóc lớn, tự làm loạn tâm mình! Ông phải xem thân này giống như cây chuối, như bọt nước nóng lúc sôi, huyễn hóa như thành của Càn thát bà, như đồ đất thô, như ánh chớp, cũng như vẽ xuống nước, như người tù sắp chết, như quả chín, như thịt bị chia cắt ra, như chỉ dọc máy dệt hết, như thớt trên, thớt dưới của cối giã... Ông phải quan sát các hạnh giống như đồ ăn tạp độc, pháp hữu vi nhiều những lỗi lầm hoạn nạn!

Ðến đây, ông Thuần Ðà lại bạch đức Phật rằng:

- Ðức Như Lai chẳng muốn ở lâu với đời thì con phải làm sao mà chẳng kêu khóc rằng: Khổ thay! Khổ thay! Thế gian trống rỗng! Nguyện xin đức Thế Tôn thương xót chúng con và các chúng sinh mà ở lâu với đời! Chớ vào Niết Bàn!

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà:

- Ông nay chẳng nên phát ra lời nói, thương xót con nên ở lâu với đời như vậy, ta vì thương xót ông và tất cả nên ngày hôm nay muốn vào Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì các Phật pháp vậy! Hữu vi pháp cũng vậy! Vậy nên vì các đức Phật mà nói kệ này:

Pháp hữu vi ấy Tính nó vô thường

Sinh rồi chẳng trụ Tịch Diệt vui hơn.

Này Thuần Ðà! Ông nay phải quan sát tất cả hành tạp, các pháp vô ngã, vô thường, chẳng trụ. Thân này có nhiều lỗi hoạn không lường, giống như bọt nước. Vậy nên ông nay chẳng nên khóc gào.

Bấy giờ ông Thuần Ðà lại bạch đức Phật rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Quả đúng như lời dạy của đức Thế Tôn! Tuy biết đức Như Lai phương tiện thị hiện vào Niết Bàn mà con chẳng thể chẳng ôm ưu não. Nhưng xét lại suy nghĩ của mình thì lại sinh ra mừng vui!

Ðức Phật khen ông Thuần Ðà:

- Hay thay! Hay thay! Ông có thể biết Như Lai thị hiện đồng với chúng sinh mà phương tiện vào Niết Bàn! Này Thuần Ðà! Ông nay hãy nghe, như loài chim Ta-la-ta vào tháng xuân dương (dưỡng khí mùa xuân) đều tập họp chung ở ao A-nậu-đạt đó. Các đức Phật cũng vậy, đều đến chỗ này. Này Thuần Ðà! Nay ông chẳng nên suy nghĩ các đức Phật trường thọ hay đoản thọ! Tất cả các pháp đều như tướng của huyễn, đức Như Lai ở trong dùng phương tiện lực, không bị nhiễm trước. Vì sao vậy? Vì các Phật pháp là vậy. Này Thuần Ðà! Ta nay thọ sự hiến cúng dường của ông là vì muốn khiến cho ông độ thoát sinh tử và các hữu lậu vậy. Nếu những người, trời đối với sự cúng dường ta lần sau cùng này đều sẽ được quả báo bất động, thường hưởng an vui. Vì sao vậy? Vì ta là ruộng phước tốt của chúng sinh. Nếu ông muốn vì các chúng sinh tạo tác phước điền thì mau chóng bày biện lễ phụng thí, chẳng nên đình lâu!

Lúc bấy giờ, ông Thuần Ðà vì muốn các chúng sinh được độ thoát nên cúi đầu nuốt lệ mà bạch đức Phật rằng:

- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Nếu khi con đủ sức đảm nhận làm ruộng phước thì có thể rõ biết đức Như Lai Niết Bàn và chẳng phải Niết Bàn. Hôm nay chúng con và các Thanh Văn, Duyên Giác, trí tuệ giống như con muỗi con ve, thật chẳng thể đo lường được Như Lai Niết Bàn và chẳng phải Niết Bàn.

Lúc bấy giờ, ông Thuần Ðà và quyến thuộc ưu sầu, gào khóc, vây quanh đức Như Lai, đốt hương, tung hoa, hết lòng phụng kính, rồi liền cùng với Văn Thù đứng dậy mà đi cung cấp, bày biện đồ ăn.

PHẨM AI THÁN!

Ông Thuần Ðà đi rồi, chưa bao lâu thì lúc đó đất này sáu thứ chấn động... cho đến cõi Phạm cũng lại như vậy. Ðất động có hai, hoặc có địa động hoặc đại địa động. Ðộng nhỏ thì gọi là địa động. Ðộng lớn thì gọi là đại địa động. Có tiếng nhỏ thì gọi là địa động. Có tiếng lớn thì gọi là đại địa động. Ðộng riêng đất thì gọi là địa động. Ðộng tất cả núi rừng sông biển thì gọi là đại địa động. Ðộng một hướng thì gọi là địa động. Xoay chuyển khắp cùng thì gọi là đại địa động. Ðộng gọi là địa động. Khi động có thể khiến cho lòng chúng sinh động gọi là đại địa động. Khi Bồ tát mới từ cõi trời Ðâu Suất xuống cõi Diêm phù đề thì gọi là đại địa động. Bồ tát từ sơ sinh xuất gia, thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, chuyển bánh xe chánh pháp và vào Niết Bàn thì gọi là đại địa động. Ngày hôm nay, đức Như Lai sẽ vào Niết Bàn nên đất này động lớn như vậy. Các trời, rồng, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và chẳng phải người nghe lời nói này rồi thì thân đều nổi da gà, đồng thanh buồn khóc mà nói kệ rằng:

Cúi đầu đấng Ðiều Ngự Chúng con nay mời khuyên

Xa lìa bậc nhân tiên Mãi không có cứu hộ.

Nay thấy Phật Niết Bàn Chúng con chìm bể khổ

Bi luyến ôm lo buồn Như trâu nghé mất mẹ.

Không ai cứu bần cùng Giống như người bệnh khốn

Không thầy thuốc tùy lòng Ăn cái chẳng nên ăn

Chúng sinh bệnh phiền não Bị các kiến hại luôn

Xa lìa vua thuốc pháp Uống độc dược tà môn

Vậy nên Phật Thế Tôn Chẳng nên thấy bỏ sót

Như nước không chủ quân (vua) Nhân dân đều cơ cẩn.

Cũng như vậy, chúng con Mất bóng che, vị pháp (mùi vị pháp)

Nay nghe Phật Niết Bàn Lòng chúng con mê loạn

Như đại địa động rung Mê mất các phương hướng.

Ðại tiên vào Niết Bàn Phật nhật (mặt trời Phật) rơi xuống đất

Nước pháp(pháp thủy) đều khô khan Chúng con nhất định chết

Như Lai vào Niết Bàn Chúng sinh rất khổ não

Như con ông trưởng giả Với cha mẹ, mới chôn

Như Lai vào Niết Bàn Như con chẳng sống lại.

Chúng sinh và chúng con Ðều không người cứu hộ.

Như Lai vào Niết Bàn Cho đến súc sinh loại

Tất cả đều lo buồn Khổ não cháy lòng ấy.

Ngày hôm nay, chúng con Làm sao chẳng sầu não

Như Lai thấy bỏ buông Giống như nhổ nước bọt.

Như mặt trời mọc lên Ánh sáng rất sáng rỡ

Có thể soi lại mình Cũng diệt tất cả tối

Như Lai thần thông quang Hay trừ con khổ não

Ở trong đại chúng đó Ngài như Tu Di Sơn.

Thưa đức Thế Tôn! Ngài ví như vị quốc vương sinh ra nuôi nấng các con hình mạo đoan chính, lòng thường ái niệm. Trước ngài dạy kỹ nghệ khiến cho chúng đều thông minh linh lợi. Nhiên hậu ngài bỏ họ phó thác cho Chiên đà la. Thưa đức Thế Tôn! Chúng con ngày hôm nay làm con của vua pháp, nhờ đức Phật dạy bảo đã đủ Chánh kiến, nguyện xin ngài chớ buông bỏ. Như ngài buông bỏ chúng con thì đồng với các vương tử. Nguyện xin đức Phật trụ lại lâu dài, chẳng vào Niết Bàn. Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người học giỏi các luận, nhưng lại đối với các luận này mà phát sinh kinh sợ. Ðức Như Lai cũng vậy, chúng con thông đạt các pháp mà đối với các pháp lại sinh ra kinh sợ. Giả sử nếu đức Như Lai ở lâu với đời, nói vị cam lồ làm sung túc cho tất cả. Như vậy thì chúng sinh chẳng sợ rơi vào địa ngục nữa. Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người mới học làm việc bị quan bắt nhốt vào ngục tù. Có người hỏi nó rằng: “Ngươi thọ việc gì?” Nó đáp: “Tôi nay chịu ưu khổ lớn!” Nếu người ấy được giải thoát thì được yên vui. Ðức Thế Tôn cũng vậy, ngài vì chúng con nên tu những hạnh khổ mà nay chúng con còn chưa được khỏi khổ não sinh tử thì làm sao đức Như Lai được hưởng an vui? Thưa đức Thế Tôn! Ví như vị y vương giỏi lý giải phương thuốc, thiên (lệch) dùng bí phương (phương thuốc bí mật) dạy trao cho con mình, ngoài ra chẳng dạy phương thuốc ấy cho người ngoài thọ học. Ðức Như Lai cũng vậy, ngài riêng đem pháp tạng bí mật thậm thâm dạy cho một mình ngài Văn Thù, bỏ sót chúng con, chẳng thấy đức Phật đoái hoài thương xót. Ðức Như Lai đối với pháp nên không bí mật tiếc rẻ như vị y vương kia thiên lệch dạy cho con mình, chẳng dạy cho người ngoài đến thọ học. Vị y vương sở dĩ chẳng thể dạy khắp là vì tình còn hơn thua nên còn có bí mật tiếc rẻ. Tâm của đức Như Lai nhất định không hơn thua thì vì sao chẳng thấy ngài dạy bảo như vậy? Nguyện xin đức Như Lai ở lâu với đời chớ vào Niết Bàn! Thưa đức Thế Tôn! Ví như người già ít bệnh khổ lìa bỏ con đường bằng mà đi vào đường nguy hiểm. Ðường hiểm nhiều khó khăn, chịu đủ mọi thứ khổ. Lại có người khác thấy họ mà thương xót liền bày ra con đường bằng phẳng đẹp đẽ. Thưa đức Thế Tôn! Con cũng như vậy. Sở dĩ nói ít là dụ cho người chưa tăng trưởng pháp thân. Sở dĩ nói già là dụ cho phiền não nặng. Sở dĩ nói bệnh khổ là ví cho chưa thoát khỏi sinh tử. Sở dĩ nói đường hiểm là dụ cho hai mươi lăm cõi. Nguyện xin đức Như Lai bày đường dẫn lối cho chúng con đi vào con đường cam lồ chân chánh. Xin ngài ở lâu với đời, chớ vào Niết Bàn!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng:

- Này các Tỳ kheo! Các ông chớ như những người, trời, v.v... phàm phu mà lo buồn kêu khóc! Các ông phải siêng năng tinh tấn ràng buộc lòng vào chánh niệm!

Những trời, người, A tu la, v.v... nghe lời nói của đức Phật thì dừng lại, chẳng kêu khóc nữa, giống như có người làm đám tang đứa con yêu của mình, đưa đi chôn cất xong rồi, nén lòng dừng chẳng khóc nữa. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vì các đại chúng mà nói kệ rằng:

Ý các ông sẽ thông Chẳng nên sầu khổ lắm

Pháp Phật đều vậy nên Các ông phải lặng lẽ

Ưa hạnh chẳng buông lung Giữ lòng ức niệm chánh

Các phi pháp lìa xong Tự an ủi thọ lạc.

Lại nữa, này các Tỳ kheo! Nếu các ông có sự nghi hoặc thì hôm nay đều phải hỏi! Hoặc không hay chẳng không, hoặc thường hay vô thường, hoặc khổ hay chẳng khổ, hoặc nương (y) hay chẳng nương, hoặc đi hay chẳng đi, hoặc về hay chẳng phải về, hoặc hằng hay chẳng phải hằng, hoặc đoạn hay thường, hoặc chúng sinh hay chẳng phải chúng sinh, hoặc có hay không, hoặc thật hay chẳng thật, hoặc chân hay chẳng chân, hoặc diệt hay chẳng diệt, hoặc mật hay chẳng mật, hoặc hai hay chẳng hai... Trong đủ thứ pháp như vậy, v.v... có điều gì nghi hoặc thì hôm nay nên hỏi han tìm hiểu. Ta sẽ tùy thuận vì các ông đoạn trừ các nghi hoặc đó cho! Ta cũng sẽ vì các ông trước nói pháp cam lộ rồi nhiên hậu mới sẽ vào Niết Bàn. Này các Tỳ kheo! Phật ra đời khó, thân người khó được, gặp Phật sinh niềm tin thì việc này cũng khó, hay nhẫn là khó, nhẫn được việc này cũng lại khó, thành tựu cấm giới đầy đủ không khiếm khuyết được quả A la hán thì việc này cũng khó như cầu cát vàng, hoa Ưu đàm bát. Này các Tỳ kheo! Các ông lìa khỏi tám nạn được thân người là khó. Các ông gặp được ta chẳng nên luống qua! Ta thuở xa xưa, tu đủ thứ hạnh khổ, nay được phương tiện Vô thượng như vậy. Vì các ông nên trong vô lượng kiếp xả bỏ thân, tay, chân, đầu, mắt, não, tủy... Vậy nên các ông chẳng nên buông lung! Này Tỳ kheo các ông! Sao gọi là trang nghiêm ngôi thành báu chánh pháp đầy đủ các thứ công đức trân bảo? - Dùng Giới, Ðịnh và Trí tuệ làm tường vách, hào nước! Các ông hôm nay gặp được ngôi thành báu Phật pháp này thì chẳng nên chọn lấy vật hư ngụy này! Ví như vị thương chủ gặp được ngôi thành trân bảo mà chọn lấy những sành sỏi đem về nhà. Các ông cũng như vậy, gặp được ngôi thành báu mà chọn lấy vật hư ngụy. Này Tỳ kheo! Các ông chớ vì hạ tâm mà sinh ra biết đủ! Các ông hôm nay tuy được xuất gia nhưng đối với Ðại Thừa này chẳng phát sinh tham mộ. Này các Tỳ kheo! Các ông tuy thân được mặc cà sa nhiễm y nhưng lòng còn chưa nhiễm pháp Ðại Thừa thanh tịnh. Này các Tỳ kheo! Các ông tuy đi khất thực trải qua nhiều nơi nhưng trước hết chưa từng cầu pháp thực Ðại Thừa. Này các Tỳ kheo! Các ông tuy cạo bỏ râu tóc nhưng chưa vì chánh pháp trừ bỏ các kiết sử. Này các Tỳ kheo! Hôm nay ta sẽ chân thật dạy bảo các ông! Ta nay hiện tại đại chúng hòa hợp, pháp tính của Như Lai chân thật chẳng điên đảo. Vậy nên các ông cần phải tinh tấn nhiếp lấy tâm, dũng mãnh tiêu diệt các kiết sử. Mặt trời tuệ mười lực ẩn mất rồi nên các ông sẽ bị sự che phủ của vô minh. Này các Tỳ kheo! Ví như đất đai, các núi, thảo dược được chúng sinh sử dụng. Pháp của ta cũng vậy, sinh ra vị pháp cam lộ diệu thiện mà làm thuốc hay chữa đủ thứ bệnh phiền não của chúng sinh. Ta nay sẽ khiến cho tất cả chúng sinh và các con của ta, bốn bộ chúng, đều an trụ trong bí mật tạng. Ta cũng lại sẽ an trụ trong đó mà vào Niết Bàn. Những gì gọi là bí mật tạng? Giống như chư y, ba điểm nếu bằng thì chẳng thành y, dọc cũng chẳng thành. Như ba mắt trên mặt của Ma Ê Thủ La mới được thành y. Ba điểm nếu khác biệt cũng chẳng được thành. Ta cũng như vậy, pháp giải thoát cũng chẳng phải Niết Bàn, thân Như Lai cũng chẳng phải Niết Bàn, Ma ha Bát Nhã cũng chẳng phải Niết Bàn. Ba pháp đều khác, cũng chẳng phải Niết Bàn. Ta nay an trụ ba pháp như vậy vì chúng sinh nên gọi là vào Niết Bàn, như chữ y của đời.

Lúc bấy giờ, các vị Tỳ kheo nghe đức Phật Thế Tôn nhất định sẽ Niết Bàn đều lo buồn, thân nổi da gà, rơi nước mắt chan hòa, cúi đầu dưới chân đức Phật, nhiễu quanh vô lượng vòng, bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con thích nói về Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Thưa đức Thế Tôn! Ví như, trong dấu chân của tất cả chúng sinh thì dấu chân voi là trên. Vô thường tưởng này cũng lại như vậy, ở trong các tưởng, nó là tối đệ nhất. Nếu có người tinh cần tu tập thì có thể trừ được tất cả tham ái của dục giới ái, vô minh, kiêu mạn và vô thường tưởng của sắc giới, vô sắc giới. Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai nếu lìa khỏi vô thường tưởng thì hôm nay chẳng nên vào Niết Bàn. Nếu chẳng lìa khỏi thì sao nói rằng, tu vô thường tưởng thì lìa khỏi ái, vô minh, kiêu mạn và vô thường tưởng của ba cõi. Thưa đức Thế Tôn! Ví như nhà nông vào thời tiết tháng mùa thu, cày sâu đất của mình thì có thể trừ hết cỏ xấu. Vô thường tưởng này cũng lại như vậy, có thể trừ tất cả tham ái của Dục giới, ái, vô minh, kiêu mạn và vô thường tưởng của Sắc giới và Vô sắc giới. Thưa đức Thế Tôn! Ví như cày ruộng thì cày vào mùa thu là thượng sách, như trong các dấu chân thì dấu chân voi là to nhất, ở trong các tưởng thì vô thường tưởng là trên hết. Thưa đức Thế Tôn! Ví như vị đế vương biết mạng mình sắp hết nên ân xá cho thiên hạ. Những người bị ngục tù, trói buộc, giam giữ đều khiến cho giải thoát. Nhiên hậu nhà vua mới bỏ mạng. Ðức Như Lai hôm nay cũng nên như vậy. Ngài độ cho các chúng sinh, những kẻ vô tri, vô minh, bị trói buộc giam giữ đều khiến cho giải thoát, rồi nhiên hậu vào Niết Bàn. Chúng con hôm nay đều chưa được độ thì làm sao đức Như Lai lại muốn buông bỏ mà vào Niết Bàn? Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người bị quỉ ám (nắm giữ) gặp được thầy bùa chú giỏi. Nhờ sức chú nên họ liền được trừ bớt. Ðức Như Lai cũng vậy, vì các Thanh Văn trừ quỉ vô minh, khiến cho được an trụ ở pháp Ðại Bát Nhã giải thoát, v.v... như chữ thế y. Thưa đức Thế Tôn! Ví như con hương tượng (một loài voi) bị người bắt trói. Tuy có thầy giỏi nhưng chẳng thể cấm chế, nó phá tan kềm tỏa mà đi theo ý của mình. Chúng con chưa thoát khỏi năm mươi bảy phiền não trói buộc mà sao đức Như Lai liền muốn buông bỏ, vào với Niết Bàn? Thưa đức Thế Tôn! Như người bị bệnh sốt rét gặp được thầy thuốc giỏi thì sự khổ được trừ tiêu. Chúng con cũng như vậy, có nhiều những khổ hoạn, tà mạng, nhiệt bệnh... tuy gặp được đức Như Lai, nhưng bệnh chúng con chưa trừ khỏi, chưa được thường lạc yên ổn vô thượng thì sao đức Như Lai liền muốn buông bỏ mà vào với Niết Bàn. Thưa đức Thế Tôn! Ví như người say rượu chẳng tự hay biết, chẳng nhận thức được thân sơ, mẹ, con gái, chị em... mà mê mang dâm loạn, nói năng buông thả, nằm trong chỗ bất tịnh. Có thầy giỏi cho thuốc bảo uống. Uống xong, người ấy mữa ra, trở lại tự nhớ biết, lòng mang xấu hổ, tự khắc phục quở trách sâu sắc. Rượu là cội rễ của các ác, bất thiện, nếu có thể đoạn trừ thì xa được mọi tội lỗi. Thưa đức Thế Tôn! Con cũng như vậy, từ xưa đến nay luân chuyển trong sinh tử, đắm say tình sắc, ham thích ngũ dục, chẳng phải mẹ tưởng mẹ, chẳng phải chị tưởng chị, chẳng phải con gái tưởng con gái, với chẳng phải chúng sinh sinh ra chúng sinh tưởng. Vậy nên luân chuyển chịu khổ sinh tử như người say kia nằm trong bất tịnh. Ðức Như Lai hôm nay sẽ bố thí cho con thuốc pháp, khiến cho con trở lại mữa ra rượu ác phiền não mà con chưa được tâm tỉnh thức thì sao đức Như Lai liền muốn buông bỏ, vào với Niết Bàn. Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người khen cây chuối là chắc thật thì không có chỗ này. Thưa đức Thế Tôn! Chúng sinh cũng vậy, nếu khen ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng, dưỡng dục, tri kiến, tác giả, thọ giả... là chân thật thì cũng không có chỗ đó! Chúng con tu vô ngã tưởng như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Ví như nước uống cặn đục không ai lại dùng. Thân này cũng vậy, vô ngã, vô chủ. Thưa đức Thế Tôn! Như hoa bảy cánh không có mùi hương. Thân này cũng vậy, vô ngã, vô chủ. Chúng con như vậy lòng thường tu tập vô ngã tưởng. Như đức Phật đã nói, tất cả các pháp không ngã và ngã sở, các Tỳ kheo nên thường tu tập. Tu tập như vậy rồi thì trừ được ngã mạn. Lìa ngã mạn rồi thì liền vào Niết Bàn. Thưa đức Thế Tôn! Ví như dấu vết chim ở trong hư không hiện ra thì không có chỗ này! Có thể tu tập vô ngã tưởng mà có các kiến thì cũng không có chỗ này!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen các Tỳ kheo rằng:

- Hay thay! Hay thay! Các ông giỏi có thể tu tập vô ngã tưởng!

Các vị Tỳ kheo liền bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con chẳng những chỉ tu tập vô ngã tưởng mà cũng lại tu tập các tưởng khác nữa! Như là khổ tưởng, vô thường tưởng, v.v... Thưa đức Thế Tôn! Ví như người say rượu, lòng họ mê loạn, nhìn thấy những núi sông, thành quách, cung điện, mặt trời, mặt trăng, tinh tú... đều xoay chuyển. Thưa đức Thế Tôn! Nếu có người chẳng tu tập khổ tưởng, vô thường tưởng, vô ngã tưởng, v.v... thì người như vậy chẳng gọi là Thánh mà nhiều những buông lung, lưu chuyển sinh tử. Thưa đức Thế Tôn! Do nhân duyên này nên chúng con khéo tu tập những tưởng như vậy.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các Tỳ kheo rằng:

- Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Các ông hướng về sự dẫn dụ người say rượu. Các ông chỉ biết nó về mặt văn tự, chưa đạt đến ý nghĩa của ví dụ ấy. Như người say rượu kia thấy, mặt trời mặt trăng ở trên, thật sự chẳng phải xoay chuyển mà sinh ra tưởng xoay chuyển. Chúng sinh cũng vậy, họ bị các phiền não, vô minh che phủ nên sinh ra lòng điên đảo: Ngã cho là vô ngã, thường cho là vô thường, tịnh cho là bất tịnh, vui cho là khổ... Do bị sự che phủ của phiền não nên tuy sinh ra tưởng này nhưng chẳng đạt được ý nghĩa của chúng, như người say rượu kia đối với việc chẳng phải xoay chuyển mà sinh tưởng chuyển. Ngã tức là Phật nghĩa, thường tức là pháp thân nghĩa, lạc tức là Niết Bàn nghĩa, tịnh tức là pháp nghĩa. Này các Tỳ kheo! Vì sao mà nói rằng, có ngã tưởng thì kiêu mạn, cống cao, lưu chuyển sinh tử? này các ông! Nếu nói rằng, ngã cũng tu tập vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng thì ba thứ tu này không có thật nghĩa. Ta nay sẽ nói ba pháp tu thù thắng. Khổ thì cho là vui, vui thì cho là khổ đó là pháp điên đảo. Vô thường cho là thường, thường cho là vô thường đó là pháp điên đảo. Vô ngã cho là ngã, ngã cho là vô ngã đó là pháp điên đảo. Bất tịnh cho là tịnh, tịnh cho là bất tịnh đó là pháp điên đảo. Có bốn pháp điên đảo như vậy thì người này chẳng biết chánh tu các pháp. Này Tỳ kheo các ông! Ở trong pháp khổ mà sinh ra lạc tưởng; ở trong vô thường mà sinh ra thường tưởng; ở trong vô ngã mà sinh ra ngã tưởng; ở trong bất tịnh mà sinh ra tịnh tưởng. Thế gian cũng có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh, xuất thế gian cũng có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Pháp thế gian thì có chữ không có nghĩa. Pháp xuất thế gian thì có chữ, có nghĩa. Vì sao vậy? Vì pháp thế gian có bốn điên đảo nên chẳng biết nghĩa. Sở dĩ vì sao? Vì có tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Do ba điên đảo nên người thế gian trong vui thấy khổ, trong thường thấy vô thường, trong ngã thấy vô ngã, trong tịnh thấy bất tịnh. Ðó gọi là điên đảo. Do điên đảo nên thế gian biết chữ mà chẳng biết nghĩa. Những gì là nghĩa? - Vô ngã tức là sinh tử, ngã tức là Như Lai. Vô thường là Thanh Văn, Duyên Giác, thường là pháp thân của Như Lai. Khổ là tất cả ngoại đạo, lạc tức là Niết Bàn. Bất tịnh tức là pháp hữu vi, tịnh là chánh pháp sở hữu của các đức Phật Bồ tát. Ðó gọi là chẳng điên đảo. Do chẳng điên đảo nên biết chữ, biết nghĩa. Nếu người muốn xa lìa bốn điên đảo thì nên biết Thường - Lạc - Ngã - Tịnh như vậy.

Các vị Tỳ kheo bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật đã nói, lìa bốn điên đảo thì được biết rõ Thường - Lạc - Ngã - Tịnh, đức Như Lai hôm nay vĩnh viễn không có bốn điên đảo thì đã rõ biết Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Nếu đã rõ biết Thường - Lạc - Ngã - Tịnh thì vì sao đức Như Lai chẳng trụ một kiếp hay nữa kiếp để dạy bảo, dẫn đường chúng con khiến cho chúng con lìa khỏi bốn điên đảo mà lại buông bỏ chúng con, muốn vào Niết Bàn. Ðức Như Lai nếu đoái hoài nghĩ đến, dạy bảo thì chúng con sẽ hết lòng, thọ lĩnh để tu tập. Ðức Như Lai nếu phải vào Niết Bàn thì chúng con làm sao cùng với tấm thân độc hại này đồng chung dừng ở tu tập phạm hạnh? Chúng con cũng sẽ theo đức Phật Thế Tôn vào với Niết Bàn!

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các Tỳ kheo rằng:

- Các ông chẳng nên nói ra lời như vậy! Chánh pháp vô thượng sở hữu của ta hôm nay đều đem phú chúc cho ông Ma ha Ca Diếp. Ông Ca Diếp này sẽ vì các ông làm đại y chỉ, giống như Như Lai vì các chúng sinh làm chỗ y chỉ. Ông Ma ha Ca Diếp cũng lại như vậy, sẽ vì các ông làm chỗ y chỉ. Ví như vị đại vương thống lĩnh nhiều việc. Nếu khi đi tuần du thì đem hết việc nước phú chúc cho vị đại thần. Như Lai cũng vậy, cũng đem chánh pháp sở hữu mà phú chúc cho ông Ma ha Ca Diếp. Các ông phải biết, trước tiên việc tu tập Vô thường tưởng, Khổ tưởng chẳng phải là chân thật. Ví như vào mùa xuân có những người ở tại ao lớn, tắm rửa, ngồi thuyền dạo chơi, làm rớt báu lưu ly chìm sâu trong nước. Lúc đó, mọi người đều cùng vào trong nước tìm kiếm bảo vật này. Họ đua nhau bắt lấy ngói, đá, cỏ cây, cát sỏi mà mỗi mỗi đều tự cho là được ngọc lưu ly, vui mừng mang ra khỏi nước, mới biết chẳng phải thật. Lúc đó ngọc báu còn ở trong nước, do sức của ngọc nên nước đều lắng trong. Ðến đây, đại chúng mới thấy ngọc báu còn ở dưới nước giống như ngước xem hình dáng vầng trăng trong hư không. Lúc đó, trong chúng có một người trí dùng sức phương tiện, từ từ vào trong nước, liền lấy được ngọc. Này Tỳ kheo! Các ông chẳng nên như vậy tu tập Vô thường tưởng, Khổ tưởng, Vô ngã tưởng, Bất tịnh tưởng, v.v... mà lấy làm thật nghĩa, như những người kia đều lấy ngói, đá, cỏ cây, cát sỏi mà làm ngọc báu. Các ông cần phải giỏi học phương tiện để tại khắp nơi nơi luôn luôn tu tập Ngã tưởng, Thường tưởng, Lạc tưởng, Tịnh tưởng. Các ông lại cần phải biết trước tiên việc tu tập là tướng mạo của bốn pháp đều là điên đảo. Người muốn được chân thân tu các tưởng thì phải như người trí kia, khéo léo tìm ra ngọc báu, gọi là Ngã tưởng, Thường tưởng, Lạc tưởng, Tịnh tưởng.

Lúc bấy giờ, các vị Tỳ kheo bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật trước đã nói, các pháp vô ngã, các ông phải tu học, tu học đó rồi thì lìa khỏi ngã tưởng, lìa khỏi ngã tưởng thì lìa kiêu mạn, lìa kiêu mạn thì được vào Niết Bàn. Ðó là ý nghĩa ra sao?

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo rằng:

- Hay thay! Hay thay! Hôm nay, các ông có thể hỏi han ý nghĩa này là đã tự đoạn nghi hoặc rồi. Ví như vị quốc vương tối tăm, đần độn, ít trí có một người thầy thuốc, tính khí lại ngang ngạnh tự đắc mà nhà vua chẳng riêng ban cho bổng lộc hậu. Ông ấy trị liệu mọi bệnh thuần dùng thuốc sữa, cũng lại chẳng biết căn nguyên của sự khởi bệnh. Tuy ông biết thuốc sữa nhưng lại chẳng khéo giải trừ bệnh phong lãnh nhiệt (cảm sốt). Tất cả các bệnh ông đều dạy uống sữa. Vị vua này chẳng phân biệt được vị thầy thuốc đó biết sữa tốt xấu, lành dữ. Lại có vị thầy thuốc sáng suốt, thông hiểu tám thứ thuật, giỏi trị liệu mọi bệnh, biết các phương thuốc, từ phương xa đến. Lúc đó người thầy thuốc cũ chẳng biết học hỏi, trái lại sinh lòng cống cao, khinh mạn. Lúc đó vị thầy thuốc sáng suốt liền cận kề thỉnh làm thầy, hỏi han pháp bí ảo của y phương và nói với người thầy thuốc cũ rằng: “Tôi nay thỉnh ngài làm sư phạm! Nguyện xin ngài vì tôi tuyên xướng, giải nói!”. Người thầy thuốc cũ đáp rằng: “Ông nay nếu có thể làm kẻ sai bảo cho ta bốn mươi tám năm thì nhiên hậu ta mới sẽ dạy cho ông y pháp!” Lúc đó vị thầy thuốc sáng suốt liền nhận lời dạy ấy mà nói rằng: “Tôi sẽ như vậy! Tôi sẽ như vậy! Tùy theo sở năng của tôi, tôi sẽ cung cấp và chịu sự sai khiến của ngài”. Lúc đó, người thầy thuốc cũ liền đem vị khách y cùng vào yết kiến nhà vua. Lúc đó vị khách y liền vì nhà vua nói đủ thứ y phương và các kỹ nghệ khác rằng: “Thưa Ðại vương! Ngài phải biết rằng, nên khéo phân biệt: pháp này như vậy có thể dùng trị nước! Pháp này như vậy có thể dùng chữa bệnh!”. Bấy giờ, vị quốc vương nghe lời nói này rồi mới biết người thầy thuốc cũ si ám vô trí nên liền đuổi đi, lệnh cho ra khỏi quốc giới, rồi nhiên hậu cung kính vị khách y bội phần. Khi đó vị khách y tác khởi ý niệm rằng: “Muốn giáo hóa nhà vua thì hôm nay chính là lúc”. Ông liền nói với nhà vua rằng: “Thưa Ðại vương! Ðối với tôi nếu ngài thật sự ái niệm thì tôi sẽ yêu cầu ngài một nguyện vọng”.

Nhà vua liền đáp rằng:

- Từ vai phải này và bộ phận khác của thân thể, theo ý cầu xin của ông, tôi đều cho tất cả.

Vị khách y đó nói rằng:

- Nhà vua tuy hứa cho tôi tất cả bộ phận thân thể, nhưng tôi chẳng dám có sự cầu xin nhiều. Việc cầu xin của tôi hôm nay là, nguyện xin đức vua truyền lệnh cho tất cả trong nước, từ nay về sau chẳng được uống thuốc sữa của vị thầy thuốc cũ. Sở dĩ vì sao? Vì thuốc đó độc hai gây nhiều thương tổn. Nếu ai còn uống thì sẽ chém đầu. Ðoạn dứt thuốc sữa rồi, nhất định không có người chết oan uổng nữa mà thường sống yên vui nên tôi cầu xin nguyện vọng đó!

Nhà vua đáp rằng:

- Sự cầu xin của ông chừng như chẳng đủ lời!

Nhà vua liền vì ông ấy tuyên lệnh cho tất cả trong nước, phàm những người bệnh đều chẳng được phép lấy sữa làm thuốc. Nếu ai lấy nó làm thuốc thì sẽ bị chặt đầu.

Lúc bấy giờ, vị khách y hòa hợp mọi thứ thuốc, như là các vị cay, đắng, mặn, ngọt, chua, v.v... để trị liệu mọi bệnh thì không bệnh gì chẳng khỏi. Sau đó chẳng bao lâu, nhà vua lại bị bệnh, liền ra lệnh cho vị thầy thuốc này: “Ta nay bệnh khốn phải điều trị làm sao?” Vị thầy thuốc xem bệnh nhà vua rồi thấy nên dùng thuốc sữa, liền tâu với vua rằng:

- Như theo bệnh của nhà vua thì cần phải uống sữa. Việc đoạn dứt thuốc sữa lúc trước của tôi là chẳng phải lời nói thật. Hôm nay, nếu ngài uống thì bệnh rất có thể trừ được bệnh. Bệnh nóng sốt của nhà vua hôm nay chính nên uống sữa!

Nhà vua nói với vị thầy thuốc rằng:

- Ông nay điên hay sao? Bị bệnh sốt ư? Mà nói uống sữa có thể trừ được bệnh này. Trước đây ông bảo là độc, nay sao lại bảo uống? Muốn lừa dối ta sao? Thầy thuốc trước khen sữa, còn ông cho rằng nó độc, khiến ta đuổi ông ấy đi. Hôm nay ông lại cho rằng sữa rất tốt có thể trừ bệnh. Như lời nói của ông thì người thầy thuốc cũ của ta nhất định là hơn ông.

Lúc đó vị khách y lại nói với vua rằng:

- Nhà vua nay chẳng nên nói lời như vậy! Như loài trùng ăn gỗ tạo thành chữ thì loài trùng này chẳng biết là chữ hay chẳng phải chữ. Kẻ trí thấy chữ đó chẳng cho rằng loài trùng này hiểu được chữ, cũng chẳng kinh ngạc, quái lạ. Ðại vương phải biết, vị cựu y cũng vậy, ông chẳng phân biệt được các bệnh mà đều cho thuốc sữa như đường ăn gỗ của loài trùng kia ngẫu nhiên thành chữ. Vị cựu y lúc trước này chẳng hiểu biết sự tốt xấu thiện ác của thuốc sữa.

Nhà vua hỏi rằng:

- Sao gọi là chẳng hiểu biết?

Vị khách y đáp nhà vua rằng:

- Thuốc sữa đó cũng là độc hại, cũng là cam lộ. Sao gọi sữa đó là cam lộ? Nếu con trâu lấy sữa này chẳng ăn cặn rượu, cỏ trụi, rơm rạ, nghé con của nó điều phục, thuần tính, bãi chăn thả chẳng ở tại vùng cao, cũng chẳng ở dưới thấp ẩm ướt, uống bằng nước trong, chẳng dong ruổi đuổi chạy, chẳng cho trâu nghé ở chung bầy, ăn uống điều hòa thích hợp, đi đứng được chỗ thì sữa của con trâu như vậy có thể trừ các bệnh. Sữa đó gọi là cam lồ diệu dược. Trừ loại sữa đó ra, còn tất cả đều gọi là độc hại.

Bấy giờ, vị đại vương nghe lời nói đó rồi liền khen rằng:

- Này đại y (vị thầy thuốc lớn)! Hay thay! Hay thay! Ta từ ngày hôm nay, mới biết được sự thiện ác, tốt xấu của thuốc sữa.

Nhà vua liền uống thuốc sữa và bệnh được trừ khỏi, tức thời tuyên lệnh cho tất cả trong nước từ nay về sau phải uống thuốc sữa. quốc dân nghe lệnh đó đều sinh ra sân hận, đều nói với nhau rằng: “Nhà vua hôm nay bị quỉ ám hay bị điên rồi sao mà lừa gạt chúng ta lại ra lệnh uống sữa”. Tất cả nhân dân đều ôm lòng sân hận, đều tập họp ở chỗ vua. Nhà vua nói rằng:

- Các người chẳng nên đối với ta mà sinh ra sân hận! Như thuốc sữa này uống hay chẳng uống đều là thầy thuốc dạy, chẳng phải là lỗi của ta!

Lúc bấy giờ, đại vương cùng những nhân dân nhảy nhót vui mừng cung kính cúng dường bội phần vị thầy thuốc đó. Tất cả người bệnh đều uống thuốc sữa, bệnh đều trừ khỏi hết.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Tỳ kheo! Các ông phải biết rằng, Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn cũng lại như vậy, là Ðại Y vương xuất hiện ở thế gian, hàng phục tất cả ngoại đạo, tà y, ở trong bốn chúng xướng lên như vầy: “Ta là Y vương!” Ta muốn hàng phục ngoại đạo nên xướng lên rằng: “Không ngã, không nhân, không chúng sinh, không thọ mạng, không dưỡng dục, không tri kiến, không tác giả, không thọ giả”. Này các Tỳ kheo! Các ông phải biết, lời nói của các ngoại đạo này về ngã như loài trùng ăn gỗ ngẫu nhiên thành chữ vậy. Vậy nên Như Lai, ở trong Phật pháp xướng rằng, vô ngã là vì điều phục chúng sinh, vì biết thời. Vô ngã như vậy là có nhân duyên nên ta cũng nói hữu ngã, như vị thầy thuốc giỏi kia giỏi biết sữa là thuốc, là chẳng phải thuốc, chẳng phải như việc cho có ngô ngã của kẻ phàm phu. Việc cho là Ngã của kẻ phàm phu ngu muội thì hoặc có người nói rằng, lớn như ngón tay cái, hoặc như hạt cải, hoặc như vi trần. Như Lai nói về Ngã đều chẳng như vậy. Vậy nên nói rằng, các pháp vô ngã, thật ra chẳng phải vô ngã. Cái gì là Ngã? Nếu pháp là thật là chân, là thường, là chủ, là y tính chẳng biến dị thì đó gọi là Ngã. Như vị Ðại y kia giỏi lý giải thuốc sữa, Như Lai cũng vậy, vì các chúng sinh nên nói trong các pháp chân thật có Ngã. Bốn chúng các ông cần phải tu tập pháp này như vậy.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai hết –


3/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba

PHẨM TRƯỜNG THỌ (SỐNG LÂU) Thứ Tư

Ðức Phật lại bảo các vị Tỳ kheo rằng:

- Các ông đối với giới luật có điều gì nghi hoặc thì hôm nay cho các ông hỏi tùy thích. Ta sẽ giải nói khiến cho vui lòng các ông! Ta đã tu học bản tính của tất cả các pháp không tịch, tỏ rõ thông đạt. Này Tỳ kheo! Các ông chớ cho là Như Lai chỉ tu bản tính không tịch của các pháp - Ðức Phật lại bảo - Này các Tỳ kheo! Nếu đối với giới luật có điều gì nghi hoặc thì hôm nay đều có thể hỏi!

Các vị Tỳ kheo bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con không có trí tuệ mà có thể hỏi đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri? Sở dĩ vì sao? Vì cảnh giới của đức Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, sở hữu các định chẳng thể nghĩ bàn, lời diễn nói dạy răn chẳng thể nghĩ bàn... Vậy nên chúng con không có trí tuệ mà có thể hỏi đức Như Lai? Thưa đức Thế Tôn! Ví như một ông lão một trăm hai mươi tuổi, thân bị bệnh đã lâu, nằm liệt giường chiếu, chẳng thể trở dậy, khí lực hư liệt, mạng còn không bao lâu. Có một người giàu có nhân có việc sắp phải đi đến địa phương khác, đem một trăm cân vàng gởi cho ông lão đó mà nói rằng: “Tôi nay đi nơi khác, đem vật báu này gởi nhờ ông giữ, hoặc trải qua mười năm hay hai mươi năm, việc xong sẽ trở về. Khi về ông giao lại cho tôi!” Ông lão bệnh này liền nhận sự gởi gắm đó mà ông lão này lại không có người nối dõi. Sau đó chẳng bao lâu bệnh nặng mạng chung, vật đã gởi đều tan mất, tài chủ đi trở về tìm đòi không có. Như vậy kẻ ngu si chẳng biết trù tính chỗ có thể gởi gắm nên khi đi trở về tìm đòi không được. Vì nhân duyên này nên thất thoát của báu. Thưa đức Thế Tôn! Thanh Văn chúng con cũng lại như vậy, tuy nghe đức Như Lai ân cần dạy giới (cấm) nhưng chẳng có thể thọ trì, khiến cho được trụ lâu dài giống như ông lão kia nhận sự ký thác của người khác. Chúng con nay vô trí đối với các giới luật thì sẽ hỏi điều gì đây?

Ðức Phật dạy:

- Này Tỳ kheo! Các ông hôm nay nếu hỏi ta thì có thể lợi ích cho tất cả chúng sinh. Vậy nên ta bảo các ông có những nghi hoặc gì thì các ông cứ mặc lòng mà hỏi!

Các vị Tỳ kheo bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người năm hai mươi lăm tuổi, trẻ trung đoan chính, có nhiều của báu, vàng bạc, lưu ly... cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, thân thích đều còn đủ. Có người đến gởi cho ông ấy vật báu và nói với người ấy rằng: “Tôi có duyên sự sắp đi đến xứ khác, việc xong sẽ trở về, khi trở về ông đưa lại cho tôi”. Lúc đó chàng trai trẻ giữ hộ vật báu đó như vật sở hữu của mình. Người ấy bị bệnh liền bảo với gia thuộc rằng, số kim bảo này là của người khác gởi, nếu họ đến đòi thì đều trả lại hết cho họ. Kẻ trí giỏi biết trù lượng như vậy nên đi trở về đòi vật đều được hết, không mất mát gì. Ðức Thế Tôn cũng vậy, nếu đem pháp bảo phú chúc cho A Nan và các Tỳ kheo thì chẳng được tồn tại lâu dài (cữu trụ). Vì sao vậy? Vì tất cả Thanh Văn và cả Ðại Ca Diếp đều phải vô thường như ông lão kia nhận vật gởi của người khác. Vậy nên đức Thế Tôn nên đem Phật pháp vô thượng phó thác cho các vị Bồ tát. Do các vị Bồ tát giỏi có thể vấn đáp nên pháp bảo như vậy được tồn tại lâu dài hàng vô lượng ngàn đời làm tăng thêm sự lợi an thịnh vượng cho chúng sinh như người trai trẻ kia nhận vật ký gởi của người khác. Do ý nghĩa này nên các vị đại Bồ tát mới có thể hỏi vậy. Trí tuệ của chúng con giống như của con muỗi, con ve thì làm sao có thể thỉnh vấn thâm pháp của đức Như Lai?

Các vị Thanh Văn lặng lẽ mà trụ. Bấy giờ đức Phật khen các vị Tỳ kheo rằng:

- Hay thay! Hay thay! Các ông hoàn thiện được tâm vô lậu, tâm A la hán! Ta cũng từng suy nghĩ về hai cái duyên này nên đem Ðại Thừa giao phó cho các vị Bồ tát để khiến cho diệu pháp trụ lâu dài ở đời.

Bấy giờ, đức Phật bảo tất cả đại chúng rằng:

- Này các thiện nam tử! Các thiện nữ nhân! Thọ mạng của ta chẳng thể xưng lường, biện tài lạc thuyết cũng chẳng thể bàn hết! Các người nên có thể tùy ý hỏi han, hoặc giới (cấm), hoặc qui (về)... lần hai, lần ba cũng lại như vậy...

Lúc bấy giờ, trong chúng có một đồng tử Ðại Bồ tát, chính là dòng họ Bà la môn của tụ lạc Ða la tên là Ðại Ca Diếp. Do thần lực đức Phật, ông liền đứng dậy, trật áo vai phải, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, quì gối phải xuống đất, chắp tay hướng về đức Phật mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con hôm nay muốn thỉnh vấn đôi điều, nếu đức Phật cho phép thì con mới dám nói!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cho ông mặc tình hỏi han! Ta sẽ vì ông giảng nói để đoạn dứt sự nghi hoặc của ông, khiến cho ông hoan hỷ.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai thương xót đã rủ lòng hứa cho thì nay con sẽ hỏi. Nhưng trí tuệ sở hữu của con nhỏ nhoi như của con muỗi, con ve mà đạo đức của Như Lai Thế Tôn thì lồng lộng thuần bằng chiên đàn sư tử khó điều phục với chúng chẳng thể hoại làm quyến thuộc. Thân đức Như Lai giống như chơn Kim cương, sắc như lưu ly chân thật khó hoại. Ngài lại được sự vây quanh của biển đại trí tuệ như vậy. Trong chúng hội này, các vị Ðại Bồ tát Ma ha tát đều thành tựu vô lượng vô biên công đức thâm diệu giống như loài hương tượng. Ở trước những đại chúng như vậy con đâu dám phát vấn. Nhưng vì phải thừa sức thần thông của đức Phật và nhờ uy đức thiện căn của đại chúng, con có đôi điều hỏi han vậy.

Ông liền ở trước đức Phật, dùng kệ hỏi rằng:

Sao gọi được trường thọ Thân chẳng hoại Kim cương?

Do nhân duyên nào đó Ðược đại lực vững bền?

Vì sao với Kinh ấy Ðến bờ kia rốt cùng?

Nguyện Phật mở vi mật Vì chúng sinh tuyên dương!

Sao gọi được rộng lớn Vì chúng tạo dừng nương?

Thật chẳng phải La Hán So cùng La hán bằng?

Ma trời, làm sao biết Vì chúng tạo khó khăn?

Như Lai, Ba Tuần nói Làm sao biết mà phân?

Sao gọi các Ðiều ngự Vui lòng nói Ðế Chân

Chánh thiện thành tựu đủ Diễn nói bốn đảo điên?

Sao gọi làm thiện nghiệp Nay đại tiên nói lên?

Sao gọi các Bồ tát Thấy tánh thấy khó khăn?

Sao gọi giải trọn chữ Và nghĩa nữa chữ trên?

Sao gọi chung thánh hạnh Như chim Ca lân tần (già)?

Sao gọi là Nhật, Nguyệt Thái bạch cùng Tuế tinh?

Sao gọi tâm chưa phát Mà Bồ tát là tên?

Sao gọi ở đại chúng Mà được sở úy không!

Như vàng Diêm phù đó Không thể nói lỗi lầm?

Sao gọi ở cõi trược Chẳng bẩn, như hoa sen?

Sao ở với phiền não Mà chẳng nhiễm não phiền?

Như thầy thuốc trị bệnh Chẳng bị nhiễm bệnh luôn?

Trong biển cả sinh tử Sao làm người lái thuyền?

Sao gọi bỏ sinh tử Như rắn lột da xong?

Sao gọi quán Tam bảo Giống như cây ý thiên?

Tam Bảo nếu không tánh Sao mà được nói lên?

Giống như chưa sinh lạc Sao thọ lạc gọi tên?

Sao gọi các Bồ tát Ðược chúng chẳng hoại tan?

Sao gọi sống mù tối Mà làm mắt dẫn đường?

Sao nhiều đầu thị hiện? Nguyện Ðại Tiên nói lên!

Sao gọi người nói pháp Như trăng mới lớn thêm?

Sao gọi lại thị hiện Rốt ráo đến Niết Bàn?

Sao gọi người dũng tiến Bầy đường ma, thiên, nhân?

Sao gọi biết pháp tánh Mà thọ pháp lạc luôn?

Sao gọi các Bồ tát Xa lìa mọi bệnh thân?

Sao gọi vì sinh chúng Pháp bí mật tuyên dương?

Sao gọi nói cùng tột Và cả chẳng rốt cùng?

Như đoạn lưới nghi hoặc Sao gọi bất định thuyết?

Sao gọi mà được gần Ðạo Tối Thắng Vô thượng?

Con nay thỉnh Thế Tôn Vì các vị Bồ tát

Nguyện xin ngài nói lên Hạnh thậm thâm vi diệu...

Trong mọi pháp thế gian Ðều có tánh an lạc.

Nguyện xin đấng Ðại Tiên Vì con phân biệt nói!

Ðấng y chỉ (của) chúng sinh! Lưỡng Túc Tôn diệu dược!

Các ấm muốn hỏi han Mà con không trí tuệ

Các Bồ tát tinh cần Cũng lại chẳng thể biết

Cảnh giới quá thậm thâm Như vậy của chư Phật.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay chưa được Nhất Thiết Chủng Trí, ta đã được rồi. Nhưng ông đã hỏi mật tạng thậm thâm như sự hỏi han của Nhất Thiết Trí không khác. Này thiện nam tử! Ta ngồi dưới cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, khi mới thành Chánh Giác, bấy giờ, vô lượng A tăng kỳ hằng hà sa số thế giới chư Phật, có các vị Bồ tát cũng hỏi ta ý nghĩa thậm thâm đó. Nhưng sự hỏi công đức câu nghĩa ấy cũng đều ngang bằng như vậy không có khác. Hỏi như vậy thì có thể lợi ích cho vô lượng chúng sinh.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con không có trí lực để có thể hỏi đức Như Lai ý nghĩa thậm thâm như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Ví như con muỗi, con ve chẳng thể bay qua bờ kia của biển cả, cùng khắp hư không. Con cũng như vậy, chẳng thể hỏi han ý nghĩa thậm thâm của biển cả trí tuệ và hư không pháp tính như vậy của đức Như Lai. Thưa đức Thế Tôn! Ví như ngọc sáng trong vòng hoa cài tóc của vị quốc vương giao phó cho Ðiển Tạng Thần (người bề tôi quản lý kho tàng của vua). Tạng thần được rồi đội trên đầu, cung kính mà tăng thêm sự thủ hộ. Con cũng như vậy, đội lên đầu cung kính, tăng thêm thủ hộ sự thuyết giảng ý nghĩa thậm thâm Phương Ðẳng của đức Như Lai. Vì sao vậy? Vì khiến cho con rộng được trí tuệ sâu sắc.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông giảng nói về nghiệp trường thọ sở đắc của Như Lai. Bồ tát do nhân duyên nghiệp đó mà được trường thọ. Vậy nên ông hãy chí tâm lắng nghe. Nếu nghiệp có thể là nhân của Bồ Ðề thì cần phải thành tâm thính thọ ý nghĩa này. Ðã thính thọ rồi thì chuyển vì người khác giảng nói. Này thiện nam tử! Ta do tu tập nghiệp như vậy nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hôm nay ta lại vì người rộng nói ý nghĩa đó. Này thiện nam tử! Ví như vương tử phạm tội bị nhốt vào ngục. Nhà vua rất thương xót ái niệm con nên tự mình quay xe trở lại chỗ giam giữ ấy. Bồ tát cũng vậy, muốn được trưởng thọ cần phải hộ niệm tất cả chúng sinh, đồng tưởng họ là con mà sinh ra đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, trao cho giới chẳng sát sinh, dạy tu tập thiện pháp. Bồ tát cũng sẽ yên dừng tất cả chúng sinh ở năm giới, mười thiện, lại vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, v.v... tất cả các đường để cứu vớt những chúng sinh khổ não ở trong đó. Bồ tát giải thoát người chưa giải thoát, độ người chưa độ, người chưa Niết Bàn khiến cho được Niết Bàn, an ủi tất cả những kẻ bị khủng bố. Do nhân duyên những nghiệp như vậy nên Bồ tát được thọ mạng lâu dài, đối với các trí tuệ mà được tự tại, tùy theo chỗ mà thọ chung sinh lên cõi trời.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng: Thưa đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát nhìn chúng sinh tưởng đồng với con là nghĩa sâu kín con chưa có thể giải! Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai chẳng nên nói rằng, Bồ tát đối với các chúng sinh, tu tâm bình đẳng, tưởng đồng với con. Sở dĩ vì sao? Vì ở trong Phật pháp có người phá giới, người tạo nghịch tội, người hủy báng chánh pháp thì làm sao sẽ đối với những người như thế mà tưởng đồng như con vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Ðúng vậy! Ðúng vậy! ta đối với chúng sinh thật sự tưởng như con, như La Hầu La.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thuở xưa, ngày mười lăm, khi Tăng bố tát, đã từng ở trong chúng cụ túc giới thanh tịnh, có một đồng tử chẳng khéo tu tập nghiệp thân miệng ý, ẩn tại chỗ vách ngăn, trộm nghe nói giới. Thần lực sĩ Mật Tích thừa thần lực đức Phật, dùng chày kim cương đánh cho tan nát như vi trần. Thưa đức Thế Tôn! Thần Kim cương đó rất là bạo ác mới có thể đoạn tuyệt mạng căn của đồng tử này thì sao gọi là đức Như Lai nhìn các chúng sinh tưởng đồng với con như La Hầu La được?

Ðức Phật bảo rằng:

- Này Ca Diếp! Ông nay chẳng nên nói lời như vậy. Vì đồng tử đó tức là hóa nhân chẳng phải chân thật đâu! Vì muốn xua đuổi kẻ phá giới hủy pháp ra khỏi chúng nên thần Kim Cương Mật Tích thị hiện ra hóa nhân này vậy. Này Ca Diếp! Kẻ hủy báng Chánh pháp và Nhất xiển đề, hoặc có kẻ sát sanh, cho đến tà kiến và cả kẻ phạm cấm giới thì ta đối với những người này đều phát sinh lòng từ bi, tưởng đồng với con như La Hầu La. Này thiện nam tử! Ví như các quần thần của quốc vương, có người phạm vương pháp thì tùy theo tội mà tru lục chẳng vứt bỏ. Như Lai Thế Tôn chẳng như vậy, với người hủy pháp thì cho yết ma xua đuổi, yết ma quở trách, yết ma vứt bỏ, yết ma cử tội, yết ma chẳng thể thấy, yết ma diệt, yết ma chưa bỏ ác kiến... Này thiện nam tử! Như Lai sở dĩ cho người hủy báng pháp làm yết ma hàng phục như vậy, v.v... là vì muốn bày những người làm ác thấy có quả báo. Này thiện nam tử! Ông phải biết rằng, Như Lai liền thí cho chúng sinh ác sự không bố úy, hoặc phóng ra một ánh sáng, hoặc hai, hoặc ba mà nếu có người gặp được thì đều khiến cho lìa xa tất cả những ác. Như Lai hôm nay có đủ vô lượng thế lực như vậy. Này thiện nam tử! Chưa thể thấy pháp mà ông muốn thấy thì hôm nay ta sẽ vì ông nói lên tướng mạo của pháp ấy. Sau khi ta vào Niết Bàn tùy theo phương diện ấy có vị Tỳ kheo trì giới uy nghi đầy đủ, hộ trì chánh pháp thấy kẻ hoại pháp liền có thể xua đuổi, quở trách, sửa trị. Ông phải biết người đó được phước không lường, chẳng thể kể xiết. Này thiện nam tử! Ví như có vị vua chuyên làm việc bạo ác, gặp phải bệnh nặng. Có vị vua của nước bên cạnh nghe danh tiếng ấy, dấy binh đem đến muốn tiêu diệt. Lúc đó, vị vua bệnh không thế lực nên mới kinh sợ mà thay lòng tu thiện. Vị vua của nước bên cạnh đó được phước không lường. Tỳ kheo trì pháp cũng lại như vậy, xua đuổi quở trách người phá hoại pháp, khiến cho họ làm thiện pháp, được phước không lường. Này thiện nam tử! Ví như chỗ ở của vị trưởng giả, ruộng đất nhà cửa sinh ra những cây độc hại. Ông trưởng giả biết rồi liền chặt phá khiến cho chúng tận diệt. Lại như trên đầu người trai trẻ sinh ra tóc bạc, tự thẹn mà cạo bỏ chẳng cho sinh trưởng. Tỳ kheo trì pháp cũng lại như vậy, thấy có người phá giới, hoại chánh pháp liền nên xua đuổi, quở trách, cử xử. Nếu thiện Tỳ kheo thấy người hoại pháp thì đặt để chẳng xua đuổi, quở trách, cử xử thì phải biết người đó là oán địch trong Phật pháp; nếu có thể xua đuổi, quở trách, cử xử thì chính là Thanh Văn chơn chánh đệ tử của ta vậy.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật thì chẳng bình đẳng nhìn tất cả chúng sinh, tưởng đồng với con như La Hầu La! Thưa đức Thế Tôn! Nếu có một người dùng dao hại đức Phật. Lại có một người dùng hương chiên đàn xoa mình đức Phật. Ðức Phật đối với hai người này nếu sinh lòng bình đẳng thì sao lại nói rằng, phải trị kẻ hủy cấm. Còn nếu trị người hủy cấm thì lời nói này không đúng!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Này thiện nam tử! Ví như quốc vương, đại thần, tể tướng sinh dưỡng các con nhan mạo đoan chánh sáng suốt thông tuệ, rồi đem hoặc hai, ba, bốn đứa giao phó cho vị thầy giáo nghiêm khắc mà nói rằng: “Ngài có thể vì tôi dạy bảo các con về oai nghi, lễ tiết, kỹ nghệ, thư số... đều khiến cho thành tựu. Bốn đứa con của tôi đến thọ học với ngài, giả sử ba đứa bị đánh mà chết, dù còn lại một đứa, ngài nhất định phải khổ trị, phải khiến cho nó thành tựu. Tuy chết mất ba đứa con, nhưng tôi nhất định chẳng hối hận”. Này Ca Diếp! Người cha và vị thầy đó có bị tội sát sinh không?

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng phạm vậy!

- Vì sao vậy? Vì do ái niệm nên vì muốn thành tựu, không có lòng ác. Dạy bảo như vậy được phước không lường. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, nhìn kẻ hoại pháp bình đẳng như con một. Như Lai hôm nay đem chánh pháp vô thượng phú chúc các vua, đại thần, tể tướng, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Những quốc vương... và bốn bộ chúng này cần phải khuyên bảo khích lệ những người học, khiến cho Giới, Ðịnh và Trí tuệ của họ được tăng lên. Nếu có người chẳng học ba phẩm pháp này, lười biếng, phá giới, hủy báng chánh pháp thì quốc vương, đại thần, bốn bộ chúng cần phải khổ trị họ. Này thiện nam tử! Các quốc vương và bốn bộ chúng đó sẽ có tội chăng?

- Thưa đức Thế Tôn! Họ chẳng có tội!

- Này thiện nam tử! Các quốc vương và bốn bộ chúng đó còn không có tội huống gì là Như Lai! Này thiện nam tử! Như Lai đã khéo tu bình đẳng như vậy, đối với các chúng sinh, tưởng đồng là con một. Người tu như vậy thì đó gọi là Bồ tát tu tâm bình đẳng, đối với các chúng sinh tưởng đồng như con một. Này thiện nam tử! Bồ tát tu tập nghiệp này như vậy thì liền được trường thọ, cũng có thể giỏi biết sự việc đời trước.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật, Bồ tát nếu có tu tâm bình đẳng, nhìn các chúng sinh tưởng đồng với con mình thì liền được trường thọ. Ðức Như Lai chẳng nên nói lời như vậy. Vì sao vậy? Vì như người biết pháp có thể nói đủ thứ pháp hiếu thuận, nhưng trở về đến nhà thì dùng những ngói, đá... ném, đánh cha mẹ mà cha mẹ đó chính là ruộng phước phì nhiêu, nhiều sự lợi ích rất khó tao ngộ. Ðáng lẽ ra họ nên ưa thích cúng dường, ngược lại sinh lòng não hại cha mẹ. Người biết pháp đó nói và làm trái nhau. Lời nói của đức Như Lai cũng lại như vậy. Bồ tát tu tập tâm bình đẳng, đối với chúng sinh tưởng đồng như con nên được trường thọ, giỏi biết túc mạng (mạng đời trước), thường trụ ở đời, không có biến dị. Hôm nay đức Thế Tôn vì nhân duyên gì mà thọ mạng cực ngắn đồng với nhân gian vậy? Ðức Như Lai sẽ không đối với chúng sinh phát sinh tư tưởng oán ghét? Thưa đức Thế Tôn! Ngày xưa ngài tạo tác nghiệp ác gì? Giết hại bao nhiêu mạng? Mà bị đoản mạng, chẳng đầy trăm năm?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay vì nhân duyên gì mà ở trước Như Lai nói lên lời thô lậu đó? Sự trường thọ của Như Lai là tối thượng tối thắng ở trong các thọ! Pháp “Thường” sở đắc của Như Lai là tối thắng đệ nhất ở trong các “Thường”.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Như Lai được thọ mạng không lường?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Này thiện nam tử! Như tám dòng sông lớn, một tên là Hằng Hà, hai tên là Diêm Ma La, ba tên là Tát La, bốn tên là A Di La Bạt Ðề, năm tên là Ma ha, sáu tên là Tân Ðầu, bảy tên là Bác Xoa, tám tên là Tất Ðà. Tám dòng sông lớn đó và những dồng sông nhỏ đều chảy vào biển cả. Này Ca Diếp! Như vậy tất cả dòng sông lớn thọ mạng trong người, trên trời, dưới đất và hư không đều vào trong biển thọ mạng của Như Lai. Vậy nên thọ mạng của Như Lai là vô lượng. Lại nữa, nay Ca Diếp! Ví như ao A Nậu Ðạt truyền nước cho bốn dòng sông lớn. Như Lai cũng vậy cho ra tất cả thọ mạng. Này Ca Diếp! Ví như trong tất cả các pháp thường thì hư không là đệ nhất. Như Lai cũng vậy, ở trong các pháp thường là tối thắng đệ nhất. Này Ca Diếp! Ví như các thuốc thì đề hồ là đệ nhất. Như Lai cũng vậy, ở trong chúng sinh, là thọ mạng đệ nhất.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thọ mạng của đức Như Lai như vậy thì nên trụ một kiếp hoặc giảm một kiếp, thường tuyên nói diệu pháp như tuông mưa lớn.

- Này Ca Diếp! Ông nay chẳng nên ở chỗ Như Lai mà sinh ra tư tưởng diệt tận. Này Ca Diếp! Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cho đến tiên nhân ngũ thần thông của ngoại đạo được tự tại, hoặc trụ một kiếp hay giảm một kiếp, đi kinh hành trong hư không, ngồi nằm tự tại, hông trái phát ra lửa, hông phải tuông ra nước, thân sinh ra khói lửa giống như đám lửa, nếu muốn trụ thọ thì có thể được như ý, ở trong thọ mạng dài, ngắn tự tại. Như vậy tiên nhân ngũ thông mà còn được thần lực tùy ý như thế. Huống gì là Như Lai đối với tất cả pháp được sức tự tại mà phải chẳng thể trụ thọ mạng nửa kiếp, hoặc một kiếp, hoặc trăm kiếp, hoặc trăm ngàn kiếp, hoặc vô lượng kiếp ư? Do ý nghĩa này nên ông phải biết rằng, Như Lai chính là pháp thường trụ, pháp chẳng biến dị. Thân này của Như Lai là thân biến hóa, chẳng phải thân tạp thực, vì hóa độ chúng sinh mà thị hiện đồng với cây độc (độc thọ). Vậy nên Như Lai hiện xả thân vào với Niết Bàn. Này Ca Diếp! Ông phải biết, Phật chính là pháp “Thường”, pháp chẳng biến dị! Các ông ở trong Ðệ Nhất Nghĩa đó nên siêng năng tinh tấn, nhất tâm tu tập. Ðã tu tập rồi thì hãy rộng vì người giảng nói!

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Pháp xuất thế cùng với pháp thế gian có gì sai biệt? Như lời nói của đức Phật, Phật là pháp thường, pháp chẳng biến dị. Thế gian cũng nói, Phạm thiên là thường, Tự Tại Thiên là thường, không có biến dị, Ngã thường, tính thường, vi trần cũng thường. Nếu nói Như Lai là pháp thường thì vì sao đức Như Lai chẳng thường hiện vậy? Nếu chẳng thường hiện thì có gì sai khác? Vì sao vậy? Vì từ Phạm thiên cho đến thế tính của vi trần cũng chẳng hiện vậy!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Ví như ông trưởng giả có nhiều những trâu, sắc vóc tuy đủ thứ nhưng đồng chung một bầy. Ông giao phó cho người chăn thả, sai đuổi đi tìm nước cỏ, chỉ làm đề hộ chẳng cần cao sữa. Người chăn trâu đó chăn dắt rồi tự sinh sống. Ông trưởng giả mạng chung thì những con trâu sở hữu đều bị bọn giặc cướp lấy. Bọn giặc được trâu rồi, không có phụ nữ, liền tự chăn dắt lấy được sữa mà ăn. Lúc bấy giờ, bọn cướp đều nói với nhau rằng: “Ông đại trưởng giả kia nuôi dưỡng trâu này, chẳng cầu lấy cao sữa chỉ vì lấy đề hồ. Chúng ta hôm nay phải thiết lập phương cách gì để mà được nó đây?” Luận về đề hồ thì gọi là thượng vị đệ nhất của thế gian mà chúng ta không có đồ chứa. Giả sử có được sữa thì không có chỗ để chứa đặt”. Họ lại nói với nhau rằng: “Có túi da mới có thể chứa đựng được. Tuy có chỗ đựng mà chẳng biết khuấy trộn thì nước uống còn khó được huống là lại sinh ra váng sữa (tô)”. Bấy giờ, các tên giặc lấy đề hồ cho thêm nước vào đó, rồi vì nước nhiều nên cao sữa, đề hồ tất cả đều mất. Kẻ phàm phu cũng vậy, tuy có thiện pháp nhưng đều chính là phần còn lại của chánh pháp Như Lai. Vì sao vậy? Vì sau khi đức Như Lai vào Niết Bàn, có kẻ trộm lấy thiện pháp để lại của đức Như Lai, hoặc Giới, Ðịnh, Tuệ như bọn giặc kia cướp lấy bầy trâu. Những người phàm phu tuy lại được Giới, Ðịnh, Trí tuệ đó nhưng không có phương tiện nên chẳng thể giải thoát. Do ý nghĩa này nên chẳng thể thu được thường giới, thường định, thường tuệ giải thoát như bọn giặc kia chẳng biết phương tiện nên quên mất cách làm đề hồ. Lại như bọn giặc làm đề hồ mà gia thêm nước vào đó. Kẻ phàm phu cũng vậy, vì giải thoát nên nói ngã, chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu, Phạm thiên, Tự Tại thiên, vi trần, thế tánh, giới, định, trí tuệ và cùng giải thoát, phi tưởng, phi phi tưởng thiên... tức là Niết Bàn thì thật sự cũng chẳng được Niết Bàn giải thoát, như bọn giặc kia chẳng được đề hồ. Các phàm phu này có chút ít phạm hạnh, cúng dường cha mẹ. Nhờ nhân duyên đó được sinh lên trời, hưởng thọ chút ít an vui như bọn giặc kia được sữa gia thêm nước. Thật sự những phàm phu này chẳng biết nhân tu chút ít phạm hạnh, cúng dường cha mẹ được sinh lên trời. Những phàm phu này lại chẳng thể biết Giới, Ðịnh, Trí tuệ, qui y Tam Bảo. Do họ chẳng biết nên nói Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Tuy họ nói thế mà thật sự chẳng biết gì cả. Vậy nên Như Lai sau khi ra đời mới vì họ diễn nói Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Như vua Chuyển Luân xuất hiện ở đời, nhờ sức phước đức nên bọn giặc lui tan, trâu không tổn hại mạng. Vua Chuyển Luân liền đem các con trâu giao phó cho một người chăn có nhiều phương tiện khéo léo. Người chăn có phương tiện liền được đề hồ. Nhờ đề hồ nên tất cả chúng sinh không có hoạn khổ. Khi vua pháp Chuyển Luân Thánh xuất hiện ở đời, những người phàm phu chẳng thể diễn nói Giới - Ðịnh - Tuệ liền bị xả bỏ như bọn giặc lui tan. Bấy giờ, Như Lai khéo nói về thế pháp và xuất thế pháp vì chúng sinh nên khiến cho các vị Bồ tát tùy nghi diễn nói. Ðại Bồ tát đã được đề hồ thì lại khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh đều được vị pháp cam lộ vô thượng. Cái gọi là Thường - Lạc - Ngã - Tịnh của Như Lai là do ý nghĩa này vậy. Này thiện nam tử! Như Lai là Pháp thường, pháp chẳng biến dị, chẳng phải như người ngu phàm phu của thế gian gọi Phạm thiên, v.v... là pháp thường vậy. Pháp thường này chủ yếu nói lên là Như Lai chẳng phải là pháp nào khác. Này Ca Diếp! Ông cần phải biết thân của Như Lai như vậy! Này Ca Diếp! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân thường phải buộc lòng mình tu hai chữ này: Phật là thường trụ! Này Ca Diếp! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân tu hai chữ này (Thường trụ) thì phải biết rằng, người này theo sở hạnh của ta, đến được chỗ đến của ta! Này thiện nam tử! Nếu có người tu tập hai chữ như vậy vì diệt tướng thì ông phải biết rằng, Như Lai đối với người ấy sẽ vì họ vào Niết Bàn. Này thiện nam tử! Nghĩa Niết Bàn tức là pháp tánh của các đức Phật vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Pháp tánh của Phật, nghĩa ấy thế nào? Thưa đức Thế Tôn! Con nay muốn biết nghĩa của pháp tánh! Nguyện xin đức Như Lai thương xót giảng nói rộng rãi cho! Bàn về pháp tánh tức là xả thân. Xả thân thì gọi là không sở hữu. Nếu thân không sở hữu thì làm sao tồn tại? Nếu thân tồn tại thì sao gọi rằng thân có pháp tánh? Thân có pháp tánh thì làm sao tồn tại được? Con nay làm sao biết được nghĩa này?

Ðức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ông này chẳng nên nói lời như vậy! Diệt là pháp tánh! Bàn về pháp tánh thì không có diệt vậy. Này thiện nam tử! Ví như trời Vô Tưởng thành tựu sắc ấm mà không sắc tưởng thì chẳng nên hỏi rằng, những trời đó làm sao mà trụ vui sướng thọ lạc? Làm sao mà hành tưởng? làm sao mà thấy nghe? Này thiện nam tử! Cảnh giới của Như Lai chẳng phải là điều hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Ông chẳng nên nói rằng, thân Như Lai là pháp diệt vậy. Này thiện nam tử! Pháp Diệt của Như Lai là cảnh giới của Phật, chẳng phải là chỗ theo kịp của các Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên nghĩ ngợi Như Lai trụ ở chỗ nào? Hành chỗ nào? Thấy chỗ nào? Vui chỗ nào? Này thiện nam tử! Nghĩa như vậy cũng chẳng phải là điều biết của các ông! Và pháp thân của chư Phật, đủ thứ phương tiện chẳng thể nghĩ bàn.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ông cần phải tu tập Phật, Pháp và Tăng mà tác khởi thường tưởng. Ba pháp đó không có dị tưởng (tưởng khác), không vô thường tưởng, không biến dị tưởng. Nếu người tu dị tưởng đối với ba pháp thì ông phải biết là nhóm người đó tam qui thanh tịnh thì không chỗ nương sở hữu cấm giới đều chẳng đầy đủ, nhất định chẳng thể chứng quả Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Ðề. Nếu người có thể đối với sự chẳng nghĩ bàn này mà tu thường tưởng thì có chỗ về. Này thiện nam tử! Ví như nhân cây thì có bóng cây, Như Lai cũng vậy, có thường pháp nên có qui y, chẳng phải là vô thường. Nếu nói rằng, Như Lai là vô thường thì Như Lai chẳng phải là chỗ qui y của Chư thiên và người đời.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ví như trong tối có cây không bóng!

- Này Ca Diếp! Ông chẳng nên nói rằng, có cây không bóng, chỉ chẳng phải sự thấy của nhục nhãn vậy. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, tính ấy thường trụ, là chẳng biến dị, không có mắt trí tuệ thì chẳng thể được thấy. Như trong tối kia chẳng thấy bóng cây. Người phàm phu, sau khi Phật diệt độ, nói rằng Như Lai là vô thường cũng lại như vậy, nếu nói Như Lai khác Pháp và Tăng thì chẳng thể thành ba chỗ qui y, như cha mẹ của ông mỗi mỗi đều khác vậy, nên khiến cho họ vô thường!

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con từ nay bắt đầu sẽ dùng Phật, Pháp, chúng Tăng, ba việc thường trụ, mở mang giác ngộ cha mẹ, cho đến bảy đời cha mẹ đều khiến cho họ phụng trì. Rất lạ! Thưa đức Thế Tôn! Con nay sẽ học sự chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai, Pháp và Tăng. Con đã tự học rồi cũng sẽ vì người giảng nói rộng rãi ý nghĩa này. Nếu có những người chẳng thể tín thọ thì phải biết là bọn người đó tu lâu vô thường. Những người như vậy con sẽ vì họ mà tạo tác sương mù, mưa đá.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ông nay giỏi có thể hộ trì Chánh pháp. Hộ pháp như vậy là chẳng dối người. Do nghiệp duyên lành chẳng dối người mà được trường thọ, giỏi biết túc mạng.

PHẨM THÂN KIM CƯƠNG Thứ Năm

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Thân Như Lai là thân thường trụ, thân chẳng hoại, thân kim Cương, chẳng phải là thân tạp thực, tức là pháp thân!

Ngài Ca Diếp Bồ tát bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật, những thân như vậy con đều chẳng thấy mà con chỉ thấy thân tạp thực, bụi đất, phá hoại vô thường, v.v... Vì sao vậy? Vì Như Lai hôm nay sẽ vào Niết Bàn vậy!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Ông nay chớ gọi thân Như Lai chẳng bền, có thể hoại như thân của phàm phu! Này thiện nam tử! Nay ông phải biết là, thân Như Lai vô lượng ức kiếp bền chắc khó hoại, chẳng phải thân của người trời, chẳng phải thân khủng bố, chẳng phải thân tạp thực. Thân Như Lai chẳng phải là thân, thân này chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng tập, chẳng tu, vô lượng vô biên, không có dấu chân, không biết, không hình, rốt ráo thanh tịnh, không có lay động, không thọ, không hành, chẳng trụ, chẳng tác, không vị (mùi vị), không tạp, chẳng phải là hữu vi, chẳng phải nghiệp, chẳng phải quả, chẳng phải hành, chẳng phải diệt, chẳng phải tâm, chẳng phải số, chẳng thể nghĩ bàn, thường trụ chẳng thể bàn, vô thức lìa tâm cũng chẳng lìa khỏi tâm. Tâm ấy bình đẳng không có, cũng có, không có đi lại mà cũng đi lại, chẳng phá, chẳng hoại, chẳng đoạn, chẳng tuyệt, chẳng sinh ra, chẳng diệt mất, chẳng chủ, cũng là chủ, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải giác, chẳng phải quán, chẳng phải chữ, chẳng phải chẳng chữ, chẳng phải định, chẳng phải chẳng định, chẳng thể thấy mà thấy tỏ rõ, không xứ cũng xứ (chỗ), không nhà cũng nhà, không tối, không sáng, không có tịch tịnh mà cũng tịch tịnh, là không sở hữu, chẳng thọ, chẳng thí, thanh tịnh vô cấu, không tranh, đoạn tranh, trụ không chỗ trụ, chẳng thủ, chẳng đọa, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp, chẳng phải phước điền, chẳng phải phi phước điền, vô tận chẳng tận, lìa tất cả tận, là không lìa khỏi không, tuy chẳng thường trụ mà chẳng phải niệm niệm diệt, không có vẩn đục, không chữ, lìa khỏi chữ, chẳng phải tiếng, chẳng phải nói, cũng chẳng phải tu tập, chẳng phải xưng, chẳng phải lường, chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải tượng, chẳng phải tướng mà các tướng trang nghiêm, chẳng phải dũng, chẳng phải úy (sợ), không tịch chẳng tịch, không nhiệt chẳng nhiệt (nóng), chẳng thể nhìn thấy, không có tướng mạo. Như Lai độ thoát tất cả chúng sinh, không độ thoát nên có thể giải thoát chúng sinh, không có giải nên giác liễu chúng sinh, không giác liễu nên nói pháp như thật, không có hai nên chẳng thể lượng vô đẳng đẳng, bằng phẳng như hư không, không có hình mạo, đồng với tánh vô sanh, chẳng đoạn, chẳng thường, thường hành Nhất thừa, chúng sinh thấy ba (Tam Bảo?), chẳng thoái, chẳng chuyển, đoạn tất cả kết, chẳng chiến, chẳng xúc (chạm), chẳng phải tánh trụ tánh, chẳng phải hợp, chẳng phải tan, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải tròn, chẳng phải vuông, chẳng phải ấm, nhập, giới cũng là ấm, nhập, giới, chẳng phải tăng, chẳng phải tổn, chẳng phải thắng, chẳng phải phụ... Thân Như Lai thành tựu vô lượng công đức như vậy không có ai biết, không ai chẳng biết, không có ai thấy, không ai chẳng thấy, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải đời, chẳng phải chẳng đời (thế), chẳng phải tác, chẳng phải chẳng tác, chẳng phải nương, chẳng phải chẳng nương (y), chẳng phải bốn đại, chẳng phải chẳng bốn đại, chẳng phải nhân, chẳng phải chẳng nhân, chẳng phải chúng sinh, chẳng phải chẳng chúng sinh, chẳng phải Sa môn, chẳng phải Bà la môn chính là sư tử là đại sư tử, chẳng phải thân chẳng phải chẳng thân, chẳng thể tuyên nói trừ một pháp tướng chẳng thể tính toán, khi bát Niết Bàn thì chẳng bát Niết Bàn. Pháp thân Như Lai đều thành tựu vô lượng công đức vi diệu như vậy. Này Ca Diếp! Chỉ có Như Lai mới biết tướng này, chẳng phải điều biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Này Ca Diếp! Thân Như Lai thành tựu những công đức như vậy, chẳng phải là thân do tạp thực nuôi lớn! Này Ca Diếp! Chân thân Như Lai công đức như vậy thì làm sao lại bị các bệnh hoạn, khổ nguy dễ tan vỡ, chẳng bền chắc như đồ đất thô (chưa nung) ư? Này Ca Diếp! Sở dĩ Như Lai thị hiện bệnh khổ là vì muốn điều phục các chúng sinh vậy. Này thiện nam tử! Nay ông phải biết rằng, thân Như Lai tức là thân Kim cương. Từ nay ông thường phải chuyên tâm suy nghĩ về ý nghĩa này! Ông chớ nghĩ là thân tạp thực và cũng phải vì người nói thân Như Lai tức là pháp thân!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai thành tựu công đức như vậy thì làm sao thân ngài sẽ có bệnh khổ vô thường phá hoại? Từ ngày hôm nay con thường phải suy nghĩ thân Như Lai là pháp thân thường còn, là thân an lạc. Con cũng sẽ vì người rộng nói như vậy! Kính thưa đức Thế Tôn! Pháp thân Như Lai là Kim Cương bất hoại mà chưa có thể biết đã do nhân duyên gì?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Do cái nhân duyên hay hộ trì chánh pháp nên được thành tựu thân Kim Cương này. Này Ca Diếp! Vào thuở xa xưa, ta có nhân duyên hộ pháp nên nay được thành tựu thân Kim Cương này, thường trụ chẳng hoại. Này thiện nam tử! Người hộ trì chánh pháp mà chẳng thọ năm giới, chẳng tu oai nghi thì nên cầm dao kiếm, cung tên, sào mâu... thủ hộ vị Tỳ kheo giữ giới thanh tịnh!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu có vị Tỳ kheo lìa khỏi sự thủ hộ, ở một mình chỗ không nhàn, bãi tha ma, dưới gốc cây... thì phải nói người này là Tỳ kheo chân chính. Nếu có người đuổi theo hành giả để thủ hộ thì phải biết rằng nhóm người này chính là cư sĩ ngốc!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Ông chớ nói lời này! Rằng là cư sĩ ngốc! Nếu có vị Tỳ kheo, thân nhận đủ sự cung cấp của kẻ theo đến chỗ của mình thì dù vị Tỳ kheo đó đọc tụng kinh điển, tư duy tọa thiền và có người đến hỏi pháp liền vì họ tuyên nói như là nói bố thí, trì giới, phước đức, thiểu dục tri túc, tuy có thể nói pháp đủ thứ như vậy, nhưng chẳng thể tạo được tiếng rống của sư tử, chẳng được sự vây quanh của sư tử, chẳng thể hàng phục người ác phi pháp. Vị Tỳ kheo như vậy chẳng thể tự lợi và lợi chúng sinh. Ông phải biết rằng, bọn này giải đãi biếng lười, tuy có thể trì giới, giữ gìn tịnh hạnh, nhưng ông phải biết là người này không làm được gì! Nếu có Tỳ kheo mà đồ cung cấp cho thân cũng thường đầy đủ dồi dào, lại hay hộ trì việc thọ cấm giới thì có thể rống tiếng sư tử rộng nói diệu pháp như là các kinh Tu Ða La Kỳ Dạ, Thọ Ký, Già Ðà, Ưu Ðà Na, Y Ðế Mục Ða Già, Xà Ðà Già, Tỳ Phật Lược, A Phù Ðà Ðạt Ma, v.v... chín bộ Kinh điển như vậy vì người khác mà nói rộng rãi, lợi ích an lạc cho các chúng sinh. Họ xướng lên lời như vầy: “Trong kinh Niết Bàn chế các Tỳ kheo chẳng nên nuôi dưỡng nô tỳ, trâu dê... những vật phi pháp. Nếu có Tỳ kheo nuôi những vật bất tịnh như vậy thì cần phải sửa trị. Ðức Như Lai trước, ở trong các bộ Kinh khác, có nói rằng, có vị Tỳ kheo nuôi những vật phi pháp như vậy đã bị vị quốc vương của nước đó theo đúng như pháp sửa trị, đuổi trở về với thế tục”. Nếu khi có vị Tỳ kheo có thể rống tiếng sư tử như vậy mà có kẻ phá giới nghe được lời nói đó rồi đều nổi sân nhuế làm hại vị pháp sư này. Người nói pháp đó giả sử lại mạng chung nên gọi là trì giới lợi mình và lợi người khác. Do cái duyên này nên ta cho phép Quốc vương, quần thần, tể tướng, các Ưu bà tắc... hộ trì người nói pháp. Nếu có người muốn được hộ chánh pháp thì phải học tập như vậy. Này Ca Diếp! Như vậy người phá giới chẳng hộ pháp thì gọi là cư sĩ ngốc chứ chẳng phải người trì giới bị gọi như vậy! Này thiện nam tử! Thuở đời quá khứ xa xưa, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, ở thành Câu Thi Na này, có đức Phật ra đời hiệu là Hoan Hỷ Tăng Ích Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhơn Sư Phật Thế Tôn. Thế giới bây giờ rộng rãi nghiêm tịnh, thịnh vượng, an vui, ổn định, nhân dân đông đúc, không có đói khát như những vị Bồ tát... của nước An lạc. Ðức Phật Thế Tôn đó trụ thế không lường, giáo hóa chúng sinh rồi nhiên hậu mới đến Ta La song thọ vào Bát Niết Bàn. Sau đức Phật Niết Bàn để lại giáo pháp trụ thế vô lượng ức năm. Còn bốn mươi năm nữa lúc Phật pháp chưa diệt, bấy giờ có một vị Tỳ kheo trì giới tên là Giác Ðức, có nhiều đồ chúng quyến thuộc vây quanh, có thể rống tiếng sư tử ban tuyên rộng rãi giảng nói chín bộ Kinh điển, hạn chế các vị Tỳ kheo chẳng được nuôi dưỡng nô tỳ, trâu dê... các vật phi pháp. Lúc bấy giờ, có nhiều Tỳ kheo phá giới nghe nói lời này thì đều sinh ác tâm. Họ cầm dao gậy đến bức bách vị pháp sư đó. Lúc đó có vị quốc vương tên là Hữu Ðức nghe việc này rồi thì vì hộ pháp nên liền đi đến chỗ người nói pháp cùng với các Tỳ kheo ác phá giới cực lực đấu tranh với họ khiến cho người nói pháp được khỏi nguy hại. Nhà vua bị thương cùng khắp toàn thân. Bấy giờ ngài Giác Ðức liền khen nhà vua rằng: “Hay thay! Hay thay! Nhà vua hôm nay quả thật là người hộ chánh pháp. Ðời đương lai thân này sẽ làm pháp khí không lường”. Vào lúc đó, nhà vua được nghe pháp rồi, lòng rất vui mừng, liền mạng chung, sinh vào nước của đức Phật A Súc mà được làm đệ tử thứ nhất của đức Phật đó. Nhân dân quyến thuộc theo đức vua ấy có chiến đấu, có tùy hỷ, tất cả chẳng thoái tâm Bồ Ðề, sau khi mạng chung đều sinh vào nước của đức Phật A Súc mà được làm đệ tử thứ hai trong chúng Thanh Văn của đức Phật đó. Nếu khi có Chánh pháp sắp diệt tận thì cần phải thọ trì ủng hộ như vậy. Này Ca Diếp! Vị vua lúc bấy giờ là thân ta đó! Vị Tỳ kheo nói pháp là Phật Ca Diếp đó! Này Ca Diếp! Người hộ Chánh pháp được vô lượng phước báo như vậy. Do nhân duyên đó nên ta ngày hôm nay được đủ thứ tướng để tự trang nghiêm, thành tựu pháp thân, thân chẳng thể hoại.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thân Như Lai thường giống như họa thạch (vẽ trên đá)!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di cần phải siêng gia công hộ trì Chánh pháp vì quả báo hộ pháp rộng lớn không lường. Này thiện nam tử! Vậy nên khi hộ pháp thì Ưu bà tắc, v.v... nên cầm dao gậy ủng hộ Tỳ kheo trì pháp như vậy. Nếu có người thọ trì đủ năm giới thì chẳng được gọi là người Ðại Thừa vậy. Chẳng thọ năm giới mà vì hộ trì Chánh pháp thì mới gọi là Ðại Thừa. Người hộ chánh pháp cần phải cầm dao kiếm, binh khí hầu hạ bảo vệ pháp sư!

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu các Tỳ kheo cùng những Ưu bà tắc như vậy, v.v... cầm dao gậy thì chung làm bạn bè, làm gì có thầy? Là không thầy ư? Là trì giới? Hay là phá giới?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Ông chớ gọi những người đó là người phá giới! Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn, đời ác trược, đất nước hoang loạn, cướp lấy lẫn nhau, nhân dân đói khát. Bấy giờ, có nhiều người vì đói khát nên phát tâm xuất gia. Người như vậy gọi là người ngốc. Bọn người ngốc này thấy có vị Tỳ kheo trì giới uy nghi đầy đủ thanh tịnh hộ trì chánh pháp thì xua đuổi ra khỏi, hoặc giết hoặc hại họ.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Người trì giới này hộ Chánh pháp thì sao phải được du hành đến thôn xóm thành ấp để giáo hóa?

- Này thiện nam tử! Vậy nên, ta nay cho phép người trì giới nương vào những người bạch y (thế gian) cầm dao gậy vì là bạn bè. Nếu các quốc vương, đại thần, trưởng giả, Ưu bà tắc, v.v... vì hộ pháp nên tuy cầm dao gậy nhưng ta vẫn nói rằng những người đó gọi là trì giới. Tuy cầm dao gậy nhưng chẳng nên đoạn dứt mạng sống, nếu có thể được như vậy thì liền được gọi là trì giới đệ nhất.

Này Ca Diếp! Bàn về người hộ pháp thì đó là người chánh kiến đầy đủ, có khả năng tuyên nói Kinh điển Ðại Thừa rộng rãi, nhất định chẳng nắm giữ bảo cái của vua, bình dầu, lúa gạo... đủ thứ trái cây, chẳng vì lợi dưỡng mà thân cận, quốc vương, đại thần, trưởng giả, đối với các đàn việt lòng không dua nịnh quanh co, đầy đủ uy nghi, tiêu diệt hàng phục những người ác phá giới, v.v... Ðó gọi là thầy trì giới hộ pháp. Người hộ pháp có thể làm thiện tri thức chân chánh của chúng sinh. Lời thề rộng lớn của lòng họ ví như biển cả. Này Ca Diếp! Nếu có Tỳ kheo do lợi dưỡng nên vì người khác nói pháp thì sở hữu đồ chúng quyến thuộc của người này cũng bắt chước thầy mình tham cầu lợi dưỡng. Người này như vậy là tự hủy hoại chúng. Này Ca Diếp! Chúng có ba thứ, một là phạm giới tạp tăng, hai là ngu si tăng; ba là thanh tịnh tăng. Phá giới tạp tăng thì dễ bị hoại, trì giới tịnh tăng thì nhân duyên lợi dưỡng đã chẳng thể hoại. Sao gọi là phá giới tạp tăng? Nếu có Tỳ kheo tuy giữ cấm giới nhưng vì lợi dưỡng nên cùng với người phá giới ngồi đứng đi lại, chung nhau cận kề, đồng sự nghiệp với người ấy. Ðó gọi là phá giới tăng, cũng gọi là tạp tăng. Sao gọi là ngu si tăng? Nếu có Tỳ kheo ở tại chỗ A lan nhã mà các căn chẳng linh lợi, ám độn, đờ đẫn, ít dục, xin ăn, vào ngày nói giới và khi tự tứ, vị Tỳ kheo ấy dạy các đệ tử thanh tịnh sám hối, thấy kẻ chẳng phải đệ tử, phạm nhiều cấm giới, chẳng thể dạy bảo khiến cho thanh tịnh sám hối mà cứ cùng chung với họ nói giới, tự tứ. Ðó gọi là ngu si tăng. Sao gọi là thanh tịnh tăng? Có Tỳ kheo tăng mà trăm ngàn ức ma chẳng thể hoại được. Chúng Bồ tát này bản tính thanh tịnh, có thể điều phục chúng của hai bộ phận như trên khiến cho họ an trụ ở trong chúng thanh tịnh. Ðó gọi là đại sư hộ pháp vô thượng, người giỏi trì luật. Vì muốn điều phục lợi ích cho chúng sinh nên người ấy biết tướng của các giới, hoặc khinh, hoặc trọng, chẳng phải là luật thì chẳng chứng tri còn nếu là luật thì liền chứng tri. Sao gọi là điều phục chúng sinh? Nếu các vị Bồ tát vì hóa độ chúng sinh nên thường vào tụ lạc, chẳng chọn thời tiết, hoặc đến nhà quả phụ và nhà dâm nữ cùng đồng dừng ở trải qua nhiều năm. Nếu là Thanh Văn, thì chẳng nên làm. Ðó gọi là điều phục, lợi ích chúng sinh. Sao gọi là biết trọng? Nếu thấy đức Như Lai nhân việc chế ra giới rằng: “Ông từ nay thận trọng chớ lại phạm!” như bốn trọng cấm mà người xuất gia chẳng nên làm mà vẫn làm thì chẳng phải là Sa môn, chẳng phải con của dòng họ Thích. Ðó gọi là trọng. Sao gọi là khinh? Nếu phạm việc nhẹ, sau ba lần can ngăn như vậy nếu có thể bỏ thì đó gọi là khinh. Chẳng phải luật chẳng chứng là nếu có người khen nói vật chẳng thanh tịnh nên thọ dụng mà chẳng đồng chung dừng lại. Ðúng luật nên chứng là giỏi học giới luật, chẳng gần người phá giới, thấy có hành động thuận theo giới luật thì lòng phát sinh hoan hỷ. Như vậy có thể biết việc làm Phật pháp có thể giải thoát tốt lành. Ðó gọi là luật sư khéo giải một chữ, khéo giữ gìn khế kinh cũng lại như vậy. Như vậy, này thiện nam tử! Phật pháp vô lượng chẳng thể nghĩ bàn! Như Lai cũng vậy, chẳng thể nghĩ bàn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Quả thật như lời dạy của đức Thánh! Phật pháp vô lượng chẳng thể nghĩ bàn! Như Lai cũng vậy chẳng thể nghĩ bàn! Nên biết rằng, Như Lai thường trụ, chẳng hoại, không có biến dị! Con nay học đã hoàn thiện, cũng sẽ vì người tuyên nói rộng rãi ý nghĩa đó!

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp:

- Hay thay! Hay thay! Thân Như Lai tức là thân Kim Cương chẳng thể hoại! Bồ tát cần phải học tốt chánh kiến, chánh tri như vậy. Nếu có khả năng thấy biết tỏ rõ như vậy thì tức là thấy được thân Kim Cương, thân chẳng thể hoại của Phật như thấy các sắc tượng ở trong gương.

PHẨM DANH TỰ CÔNG ÐỨC Thứ Sáu

Lúc bấy giờ, đức Như Lai lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay cần phải khéo giữ gìn công đức sở hữu, chương cú, văn tự của Kinh này. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe tên Kinh này mà sinh vào bốn đường thì không có chỗ này. Vì sao vậy? Vì kinh điển như vậy chính là sự tu tập của vô lượng vô biên các đức Phật mà công đức sở đắc hôm nay ta sẽ nói!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Kinh này sẽ tên là gì? Ðại Bồ tát phụng trì ra sao?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Kinh này tên là Ðại Bát Niết Bàn! Lời nói trên cũng tốt, lời nói giữa cũng tốt, lời nói dưới cũng tốt, nghĩa vị thâm thúy, văn ấy cũng hay, chuẩn bị đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, bảo tạng kim cương đủ đầy không khiếm khuyết. Ông khéo lắng nghe, ta nay sẽ nói! Này thiện nam tử! Sở dĩ nói rằng Ðại là gọi đó là thường như tám dòng sông lớn đều về đại hải (biển cả). Kinh này như vậy đã hàng phục tất cả các phiền não kết và các ma tánh, rồi nhiên hậu mới cần đến Ðại Bát Niết Bàn buông bỏ thân mạng. Vậy nên tên là Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Lại như vị thầy thuốc có một phương thang bí mật nhiếp lấy hết tất cả y thuật sở hữu. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, đã nói đủ thứ tạng môn thâm áo, bí mật của Diệu Pháp đều vào hết trong Ðại Bát Niết Bàn này. Vây nên tên là Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như người nông phu tháng xuân xuống giống thường có hy vọng. Ðã thu hái quả trái xong thì mọi hy vọng đều dứt. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, tu học Kinh khác thường mong thêm vị (tư vị), nếu được nghe Kinh Ðại Bát Niết Bàn này thì sự hy vọng thêm vị sẵn có trong các Kinh đều đoạn tuyệt vĩnh viễn. Ðại Niết Bàn này có thể khiến cho chúng sinh qua khỏi các dòng “hữu”. Này thiện nam tử! Như trong các dấu chân thì dấu chân voi là hơn hết. Như vậy, Kinh này đối với các Kinh, tam muội thì rất là số một. Này thiện nam tử! Ví như cày ruộng thì cày vào mùa thu là hơn hết. Như vậy Kinh này hơn hết trong các Kinh. Này thiện nam tử! Như trong các thuốc thì Ðề hồ số một, giỏi trị tâm loạn nhiệt não của chúng sinh. Kinh Ðại Niết Bàn là tối đệ nhất. Này thiện nam tử! Ví váng sữa (tô) ngon tám vị đầy đủ. Ðại Bát Niết Bàn cũng lại như vậy, tám vị đầy đủ. Sao gọi là tám vị? - Một là Thường, hai là Hằng, ba là An, bốn là Thanh Lương, năm là Chẳng Già, sáu là Chẳng Chết, bảy là Vô Cấu, tám là Khoái Lạc. Ðó là tám vị. Ðầy đủ tám vị đó nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Nếu những Ðại Bồ tát an trụ trong đó mà lại có thể nơi nơi thị hiện Niết Bàn thì đó gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Này Ca Diếp! Thiện nam tử, thiện nữ nhân! Nếu muốn ở trong Ðại Bát Niết Bàn này mà Niết Bàn thì đều phải tạo tác sự học này: Như Lai thường trụ, Pháp, Tăng cũng vậy.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Lạ quá! Thưa đức Thế Tôn! Công đức của Như Lai chẳng thể nghĩ bàn, Pháp, Tăng cũng vậy, chẳng thể nghĩ bàn, Ðại Niết Bàn đó cũng chẳng thể nghĩ bàn. Nếu có người tu học kinh điển này thì được Chánh pháp môn, có thể làm thầy thuốc giỏi. Nếu người chưa học thì phải biết là người đó mù, không có tuệ nhãn, bị sự che phủ của vô minh.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ ba hết –


4/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Tư

PHẨM BỐN TƯỚNG Thứ Bảy

Ðức Phật lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này Thiện nam tử! Ðại Bồ tát phân biệt khai thị Ðại Bát Niết Bàn có bốn tướng nghĩa. Những gì là bốn? Một là tự chánh, hai là chánh tha, ba là có thể theo vấn đáp, bốn là khéo giải nghĩa nhân duyên. Này Ca Diếp! Sao gọi là Tự chánh? Như đức Phật Như Lai thấy các nhân duyên mà có điều nói lên. Ví như vị Tỳ kheo thấy đám lửa lớn liền nói lên rằng: “Ta thà ôm lấy đám lửa cháy rực đó, nhất định chẳng dám đối với lời thuyết giảng mười hai bộ Kinh và tạng bí mật của đức Như Lai mà bài báng rằng, Kinh này là lời nói của ma, hoặc nói rằng, Như Lai, Pháp, Tăng là vô thường. Người nói như vậy là tự lừa dối, cũng lừa dối người khác. Thà dùng dao bén tự cắt lưỡi của mình, nhất định chẳng nói rằng, Như Lai, Pháp, Tăng là vô thường. Nếu nghe người khác nói cũng chẳng tín thọ. Ðối với người nói này nên sinh lòng thương xót. Như Lai, Pháp, Tăng chẳng thể nghĩ bàn nên thọ trì như vậy. Tự quán thân mình giống như đống lửa”. Ðó gọi là Tự chánh.

Này Ca Diếp! Sao gọi là Tha chánh (chánh cho người khác)? - Khi đức Phật nói pháp, có một người con gái nuôi trẻ con bằng sữa, đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân đức Phật, có ý niệm đoái hoài, lòng tự suy nghĩ, liền ngồi về một phía. Bấy giờ, đức Thế Tôn biết nên hỏi rằng:

- Ngươi vì ái niệm nên cho trẻ ăn nhiều váng sữa (chất béo lấy từ sữa: tô) mà chẳng biết trù lượng có tiêu hóa được cùng chẳng tiêu hóa được?

Lúc bấy giờ, người con gái liền bạch đức Phật rằng:

- Lạ lắm! Thưa đức Thế Tôn! Ngài giỏi có thể biết được điều suy nghĩ trong lòng của con! Nguyện xin đức Như Lai dạy con ít nhiều! Thưa đức Thế Tôn! Vào sáng nay, con cho trẻ ănnhiều váng sữa, sợ chẳng thể tiêu hóa, sẽ bị yểu thọ! Nguyện xin đức Như Lai vì con giải nói!

Ðức Phật dạy rằng:

- Con của ngươi đã ăn tức thời tiêu hóa, tăng thêm thọ mạng!

Người con gái nghe rồi lòng rất hớn hở, lại thưa rằng:

- Ðức Như Lai nói chân thật nên con hoan hỷ! Thưa đức Thế Tôn! Như vậy thì vì muốn điều phục các chúng sinh nên khéo có thể phân biệt nói tiêu hóa hay chẳng tiêu hóa, cũng nói các pháp vô ngã, vô thường. Nếu đức Phật Thế Tôn trước nói “Thường” thì đồ chúng thọ hóa (người chịu sự giáo hóa) sẽ nói rằng, Pháp này đồng với pháp ngoại đạo, họ liền bỏ đi!

Ðức Phật lại bảo người con gái rằng:

- Nếu con ngươi lớn lên có thể tự đi lại, phàm việc ăn uống có thể tiêu cái khó tiêu thì việc cho ăn váng sữa như cũ chẳng cung cấp đủ. Ðệ tử Thanh Văn sở hữu của ta cũng lại như vậy, như trẻ con của ngươi, họ chẳng thể tiêu hóa pháp thường trụ này. Vậy nên ta trước nói khổ, vô thường. Nếu những đệ tử Thanh Văn của ta... công đức đã đủ, đủ sức tu tập Kinh điển Ðại Thừa thì ta sẽ vì họ nói giảng sáu vị ở ở Kinh này. Những gì là sáu vị? Nói rằng: Vị chua của khổ. vị mặn của vô thường, vị đắng của vô ngã, vui là vị ngọt, ngã là vị cay, thường là vị đạm (nhạt). Trong thế gian kia, có ba thứ vị. Ðó là Vô thường, Vô ngã, Vô lạc. Phiền não là củi, trí tuệ là lửa. Do nhân duyên mà thành món ăn Niết Bàn, gọi là Thường - Lạc - Ngã, khiến cho các đệ tử đều ham thích - Ðức Phật lại bảo người con gái - Ngươi nếu có duyên muốn đến xứ khác nên đuổi đứa con xấu (ác) ra khỏi nhà, rồi đem hết bảo tạng giao phó cho đứa con tốt (thiện).

Người con gái bạch đức Phật rằng:

- Thật đúng như lời dạy của đức Thánh! Kho tàng trân bảo nên bày ra cho đứa con tốt, chẳng nên bày ra cho đứa con xấu!

- Này người chị em! Ta cũng như vậy, khi Bát Niết Bàn, pháp tạng vô thượng vi mật của Như Lai, ta chẳng trao cho các đệ tử Thanh Văn, v.v... như bảo tạng của ngươi chẳng bày ra cho đứa con ác, mà cần phải phó chúc cho các Bồ tát, v.v... như ngươi đem bảo tàng ủy thác cho đứa con tốt. Vì sao vậy? Vì đệ tử Thanh Văn sinh ra biến dị tưởng cho rằng Phật Như Lai Diệt Ðộ chân thật. Nhưng ta chân thật chẳng Diệt Ðộ. Như người trong thời gian đi xa chưa trở về, đứa con xấu của ngươi liền nói rằng, ngươi đã chết, mà ngươi thật chẳng chết. Các Bồ tát... nói rằng, Như Lai thường còn chẳng biến dị như đứa con tốt của ngươi chẳng nói ngươi chết. Do ý nghĩa này nên ta đem pháp tạng bí mật Vô thượng giao phó cho các Bồ tát. Này Thiện nam tử! Nếu có chúng sinh cho rằng, Phật thường trụ chẳng biến dị thì phải biết nhà này là nhà có Phật. Ðó gọi là Tha chánh.

Này Ca Diếp! Sao gọi là có thể tùy theo vấn đáp? Nếu có người đến hỏi Phật Thế Tôn, ta phải làm sao chẳng bỏ tiền của mà được tiếng là người Ðàn Việt đại thí? - Ðức Phật nói - Nếu có Sa môn, Bà la môn, v.v... ít dục, biết đủ, chẳng thọ nhận, chẳng nuôi vật bất tịnh thì phải thí cho người ấy tớ trai, tớ gái, người sai bảo; người tu phạm hạnh thì thí cho nữ sắc; kẻ đoạn dứt rượu thịt thì thí cho rượu thịt, người chẳng ăn quá ngọ thì thí cho bữa ăn quá ngọ; người chẳng dùng hương hoa thì thí cho hương hoa... Người bố thí như vậy thì danh tiếng vang lừng cùng khắp khắp thiên hạ mà chưa từng tổn phí một hào của mình. Ðó gọi là có thể tùy theo vấn đáp.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Người ăn thịt chẳng nên thí cho thịt. Vì sao vậy? Vì con thấy người chẳng ăn thịt có công đức lớn!

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp:

- Hay thay! Hay thay! Nay ông mới có thể giỏi biết ý của ta! Bồ tát hộ pháp cần phải như vậy! Này Thiện nam tử! Từ ngày hôm nay, bắt đầu chẳng cho phép đệ tử Thanh Văn ăn thịt. Như khi thọ đàn việt tín thí thì nên xem đồ ăn đó như thịt con mình!

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Tại sao đức Như Lai chẳng cho ăn thịt?

- Này Thiện nam tử! Luận về ăn thịt thì dứt đoạn giống Ðại từ!

Ngài Ca Diếp lại hỏi:

- Vì sao trước đây đức Như Lai cho phép Tỳ kheo ăn ba thứ tịnh nhục?

- Này Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục đó là tùy theo việc mà chế dần ra.

Ngài Ca Diếp Bồ tát lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Mười thứ bất tịnh vì nhân duyên gì? Cho đến chín thứ thanh tịnh mà lại chẳng cho phép?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp:

- Cũng là nhân việc theo thứ lớp mà chế dần ra, ông phải biết, tức là thị hiện nghĩa đoạn nhục!

Ngài Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Tại sao đức Như Lai xưng tán thịt của cá là món ăn ngon vậy?

- Này Thiện nam tử! Ta cũng chẳng nói những gì thuộc về thịt của cá là món ăn ngon. Ta nói mía, gạo ngon, đường, tất cả lúa mạch, đường đen, sữa, cao sữa, váng sữa, dầu dùng làm món ăn ngon. Tuy ta nói nên sắm đủ thứ quần áo, nhưng cái nên sắm phải là đồ hoại sắc, huống gì là tham trước vị thịt của cá này?

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Như Lai nếu chế chẳng ăn thịt thì năm thứ vị như sữa, cao sữa, nước uống cao sữa, váng sữa sống, váng sữa chín, dầu mè, v.v... này và các y phục, áo kiều xa gia, đồ ngọc kha, da thuộc, vàng, bạc, chén, bát... Những vật như vậy cũng chẳng nên thọ nhận!

- Này Thiện nam tử! Ông chẳng nên đồng sở kiến của bọn Ni Kiền kia! Như Lai đã chế ra tất cả cấm giới đều có ý khác. Ý khác nên cho phép ăn ba thứ tịnh nhục; tưởng khác nên đoạn tuyệt mười thứ thịt; tưởng khác nên tất cả đều đoạn và tự chết. Này Ca Diếp! Ta từ hôm nay chế các đệ tử chẳng được ăn tất cả thịt nữa. Này Ca Diếp! Người ăn thịt ấy hoặc đi hoặc đứng hoặc ngồi hoặc nằm, tất cả chúng sinh nghe hơi thịt của chúng đều sinh ra kinh sợ. Ví như có người gần gũi sư tử, rồi mọi người thấy người đó, nghe mùi hôi sư tử, cũng sinh ra kinh sợ.

Này Thiện nam tử! Như người ăn tỏi mùi hôi khó chịu. Người khác thấy họ nghe hôi bỏ đi. Giả sử người thấy từ xa còn chẳng muốn nhìn huống là phải gần gũi họ. Người ăn thịt cũng lại như vậy, tất cả chúng sinh nghe hơi thịt của chúng đều khủng bố phát sinh tư tưởng sợ chết. Những loài có mạng sống đi trong hư không, dưới đất, trong nước đều bỏ chạy hết, đều nói người này là oán địch của chúng ta. Vậy nên Bồ tát chẳng tập ăn thịt mà vì độ chúng sinh thị hiện ăn thịt. Tuy thị hiện ăn thịt nhưng kỳ thật chẳng ăn. Này Thiện nam tử! Như vậy Bồ tát ăn thanh tịnh còn chẳng ăn, huống chi là phải ăn thịt. Này Thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn vô lượng trăm năm, ở bốn đường, Thánh nhân đều lại Niết Bàn, sau khi chánh pháp diệt, ở trong đời tượng pháp, sẽ có Tỳ kheo với dáng vẻ giữ gìn luật mà ít đọc tụng Kinh, ham thích ăn uống, nuôi lớn thân mình. Thân thể ăn mặc thô bỉ xấu xí, hình dung tiều tụy, không có uy đức, chăn thả trâu dê, gánh vác củi cỏ, đầu tóc, râu, móng đều dài và bén. Họ tuy mặc cà sa nhưng giống như thợ săn, nhìn chăm bước chậm như mèo rình chuột. Họ thường xướng lên rằng: “Ta đắc quả A la hán!”, chịu nhiều thứ bệnh, nằm ngủ trên phân bẩn. Bên ngoài họ hiện vẻ hiền thiện mà bên trong ôm lòng tham lam tật đố, như Bà la môn thọ phép câm, v.v... Thật chẳng phải Sa môn mà hiện hình dáng Sa môn, tà kiến hừng hực, bài báng chánh pháp. Những người như vậy phá hoại sự chế ra giới luật để chánh hạnh oai nghi, nói quả giải thoát để lìa khỏi pháp bất tịnh của đức Như Lai và phá hoại giáo lý bí mật thậm thâm. Họ đều tự theo ý nói ngược lại Kinh luật mà nói lên rằng: “Như Lai đều cho chúng ta ăn thịt”. Họ tự tạo ra lập luận này mà nói rằng chính là Phật nói rồi cùng nhau tranh cãi, đều tự xưng là Thích Tử Sa môn. Này Thiện nam tử! Lúc bấy giờ, lại có những Sa môn gom chứa thóc gạo, nhận lấy thịt cá, tay tự làm món ăn, nắm giữ bình dầu, bảo cái, dầy da, gần gũi quốc vương, đại thần, trưởng giả, xem tướng tinh tú, siêng tu y đạo, nuôi dưỡng nô tỳ, gom chứa vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, pha lê, chân châu, san hô, hỗ phách, kiên ngọc, kha cụ... đủ thứ trái quả. Họ học tập các kỹ nghệ, họa sư, tô trát, tạo ra sách dạy học, gieo trồng cây cối, đạo dùng độc, chú thuật huyễn hóa, hòa hợp các thuốc, tấu xướng kỹ nhạc, hương hoa sửa trị thân, đánh bạc, chơi cờ vay... học các nghề khéo léo. Nếu có vị Tỳ kheo có thể lìa khỏi các việc ác như vậy thì ta sẽ nói người này là đệ tử chân chính của ta.

Lúc bấy giờ, ngài Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nhờ người khác mà sống, nếu khi xin ăn mà được đồ ăn có lẫn thịt thì làm sao được ăn hợp với pháp thanh tịnh?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Phải dùng nước tẩy rửa, làm cho thịt tách ra, rồi nhiên hậu mới ăn. Nếu đồ đựng thức ăn bị thịt làm bẩn thì chỉ cần làm cho mất mùi vị là được dùng không có tội. Nếu thấy trong thức ăn có nhiều thịt thì chẳng nên thọ nhận. Tất cả hiện nhục (thịt hiện tiền) đều chẳng nên ăn, nếu ăn thì bị tội. Nay ta xướng chế ra pháp đoạn nhục này, nếu nói rộng thì chẳng thể hết mà thời điểm Niết Bàn đã đến. Vậy nên ta lược nói thôi. Ðó gọi là có thể tùy theo câu hỏi mà đáp.

Này Ca Diếp! Sao gọi là khéo giải nghĩa nhân duyên? Như có bốn bộ chúng đến hỏi ta rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Ý nghĩa như vậy, khi đức Như Lai mới xuất hiện tại sao ngài chẳng vì vua Ba Tư Nặc nói nghĩa của pháp môn thâm diệu đó? Hoặc khi thì nói sâu, hoặc khi thì nói cạn, hoặc gọi là phạm, hoặc gọi là chẳng phạm. Sao gọi là đọa? Sao gọi là luật? Sao gọi là nghĩa của Ba la đề mộc xoa? - Ðức Phật dạy - Ba la đề mộc xoa gọi là tri túc thành tựu oai nghi không có sự thọ nhận nuôi chứa, cũng gọi là Tịnh Mạng. Ðọa là gọi bốn đường ác. Lại nữa đọa là rơi vào địa ngục... cho đến chốn A tỳ. Luận về nhanh chóng của việc đọa ấy còn hơn cả bạo vũ (mưa dữ). Người nghe kinh sợ, kiên trì cấm giới, chẳng phạm oai nghi, tu tập biết đủ, chẳng nhận tất cả vật bất tịnh. Lại nữa, đọa là nuôi lớn địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Do những nghĩa đó nên gọi là đọa. Ba la đề mộc xoa là lìa khỏi tà nghiệp bất thiện của thân, miệng, ý. Luật là vào oai nghi thâm Kinh thiện nghĩa của giới, ngăn chặn sự thọ nhận tất cả vật bất tịnh và nhân duyên bất tịnh, cũng ngăn chận bốn trọng tội, mười ba tăng tàn, hai bất định pháp, ba mươi xả đọa, chín mươi mốt đọa, bốn pháp hối lỗi, pháp chúng học nhiêu, bảy diệt tránh, v.v... Hoặc lại có người phá tất cả giới. Sao gọi là tất cả? Ðó là bốn trọng pháp... cho đến bảy pháp diệt tránh. Hoặc lại có người bài báng chánh pháp, kinh điển thậm thâm và Nhất xiển đề, thành tựu đầy đủ hết tất cả tướng, không có nhân duyên... Những người như vậy tự nói rằng, ta là người thông minh, trí tuệ linh lợi, những tội nặng nhẹ đều che giấu hết, che giấu các ác như con rùa che giấu sáu bộ phận thân thể. Mọi tội như vậy mãi mãi chẳng hối cải. Do chẳng hối nên ngày đêm lớn thêm. Những Tỳ kheo đó đã phạm mọi tội lỗi mà nhất định chẳng phát lồ. Việc đó khiến cho sự vi phạm lại thêm nhiều hơn. Vậy nên Như Lai biết việc đó rồi thì dần dần theo thứ lớp mà chế ra, chẳng phải trong một lúc.

Lúc bấy giờ, có thiện nam tử, thiện nữ nhân bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai biết việc như vậy lâu rồi, tại sao ngài chẳng chế ra trước? Hay là Thế Tôn muốn khiến cho chúng sinh vào ngục A tỳ? Ví như nhiều người muốn đến phương khác nhưng lạc mất chánh lộ, đuổi theo đường tà. Những người đó chẳng biết mình lạc đường nên đều cho là mình đi đúng đường. Họ lại chẳng gặp ai để hỏi phải trái. Chúng sinh đối với Phật pháp cũng mê lầm như vậy, họ chẳng thấy chánh chơn. Ðức Như Lai nên vì họ trước giảng nói chánh đạo, bảo cho các Tỳ kheo biết, đây là phạm giới, đây là trì giới... Ngài phải chế ra như thế! Vì sao vậy? Vì đức Như Lai Chánh Giác là người chân thật thấy biết chánh đạo! Chỉ có đức Như Lai, đấng Thiên Trung Thiên, mới có thể nói công đức tăng thượng của thập thiện và nghĩa vị ấy. Vậy nên con khải thỉnh ngài nên trước chế ra giới!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Thiện nam tử! Nếu nói Như Lai có thể vì chúng sinh tuyên nói công đức tăng thượng của thập thiện thì tức là Như Lai nhìn các chúng sinh như La Hầu La. Vì sao nói khó rằng, hay là Thế Tôn muốn khiến cho chúng sinh vào địa ngục, ta thấy một người có nhân duyên rơi vào địa ngục A tỳ mà còn vì người đó trụ ở đời một kiếp hoặc giảm một kiếp. Ta đối với chúng sinh có lòng đại từ bi thì vì duyên gì phải lừa dối người tưởng như con khiến cho họ vào địa ngục? Này Thiện nam tử! Như bên trong vương quốc có người thu nhận áo, thấy áo có lỗ thì nhiên hậu mới vá. Như Lai cũng vậy, thấy các chúng sinh có nhân duyên vào địa ngục A tỳ thì mới dùng giới thiện mà vì họ bổ sung. Này Thiện nam tử! Ví như vị Chuyển Luân Thánh Vương trước vì chúng sinh nói pháp thập thiện. Về sau họ dần dần có người làm ác thì nhà vua liền tùy theo việc để đoạn dứt dần. Ðoạn các ác rồi nhiên hậu nhà vua tự thi hành pháp thánh vương. Này Thiện nam tử! Ta cũng như vậy, tuy có lời nói chẳng được chế trước, cần phải nhân Tỳ kheo hành động phi pháp dần dần, nhiên hậu mới tùy theo sự việc mà chế ra. Chúng sinh ưa pháp theo lời dạy tu hành. Những chúng sinh như vậy mới có thể được thấy pháp thân của Như Lai. Như vua Chuyển Luân sở hữu luân bảo chẳng thể nghĩ bàn, Như Lai cũng vậy chẳng thể nghĩ bàn, Pháp, Tăng hai báu cũng chẳng thể nghĩ bàn. Người hay nói pháp và người nghe pháp đều chẳng thể nghĩ bàn. Ðó gọi là giỏi giải nghĩa nhân duyên. Bồ tát phân biệt khai thị bốn thứ tướng nghĩa như vậy thì gọi là nghĩa nhân duyên trong Ðại Niết Bàn của Ðại Thừa vậy.

Lại nữa, tự chánh là gọi người được Ðại Bát Niết Bàn này. Tha chánh là ta vì Tỳ kheo nói rằng, Như Lai thường tồn chẳng biến dị. Theo câu mà đáp là, này Ca Diếp! Nhân điều ông hỏi nên được vì Ðại Bồ tát, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nói rộng rãi nghĩa vi diệu thậm thâm này. Nghĩa nhân duyên là Thanh Văn, Duyên Giác chẳng giải được nghĩa thậm thâm như vậy, chẳng nghe chữ Y ba chấm mà thành Giải thoát, Niết Bàn, Ma ha Bát Nhã thành tạng bí mật. Ta nay, ở đây, xiển dương, phân biệt vì các Thanh Văn khai phát tuệ nhãn. Giả sử có người nói như vầy: “Bốn việc như vậy sao gọi là một chẳng phải hư vọng sao?” thì liền nên trở lại cội nguồn, hư không đó không sở hữu, chẳng lay động, không ngăn ngại. Như vậy bốn việc có những gì sai khác? Ðiều này há được gọi là hư vọng ư?

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng phải vậy!

- Như vậy các câu tức là một nghĩa, gọi là nghĩa “không”. Tự chánh, Tha chánh, năng tùy vấn đáp, giải nhân duyên nghĩa cũng lại như vậy, tức là Ðại Niết Bàn, không có khác.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nói như vầy: “Như Lai vô thường! Làm sao biết được vô thường này vậy? Vì như đức Phật đã nói, diệt các phiền não gọi là Niết Bàn, giống như lửa tắt đều không sở hữu, diệt các phiền não cũng lại như vậy nên gọi là Niết Bàn thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến dị vậy? Như đức Phật nói rằng, lìa các hữu thì mới gọi là Niết Bàn. Trong Niết Bàn này không có các hữu thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ chẳng biến dị vậy? Như áo rách hết chẳng gọi là vật, Niết Bàn cũng vậy, diệt các phiền não chẳng gọi là vật thì sao gọi Như Lai là thường trụ pháp, chẳng biến dị vậy? Như đức Phật nói rằng, lìa dịch tịch diệt gọi là Niết Bàn. Như người bị chém đầu thì không có đầu; ly dục tịch diệt cũng lại như vậy, rỗng không không sở hữu nên gọi là Niết Bàn thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến dị vậy? Như đức Phật nói rằng:

Ví như sắt nóng Ðập tóe lưu tinh

Tan rồi liền diệt Không biết chỗ còn

Ðươc Chánh giải thoát Cũng lại như trên

Ðã độ dâm dục Các hữu ứ bùn,

Ðược chỗ không động Chỗ đến chẳng thông (biết).

Thì sao gọi Như Lai là pháp thường trụ, chẳng biến dị vậy. Này Ca Diếp! Nếu có người tạo sự vấn nạn như vậy thì gọi là tà nạn. Này Ca Diếp! Ông cũng chẳng nên tác khởi sự ức tưởng này, cho là tính Như Lai chính là diệt tận vậy. Này Ca Diếp! Diệt phiền não thì chẳng gọi là vật. Vì sao vậy? Vì vĩnh viễn rốt ráo! Vậy nên gọi là Thường. Câu tịch tịnh này là không có gì trên, diệt hết các tướng không có còn sót. Câu tươi trắng này thường trụ không thoái lui. Vậy nên Niết Bàn gọi là thường trụ. Như Lai cũng vậy, thường trụ không biến dị. Nói tinh lưu (tóc ra sao) là gọi phiền não vậy. Tan rồi liền diệt, không biết chỗ tồn tại là gọi các phiền não của Như Lai diệt rồi, chẳng ở tại năm đường. Vậy nên Như Lai là pháp thường trụ, không có biến dị. Lại nữa, Này Ca Diếp! Thầy của chư Phật gọi là pháp. Vậy nên Như Lai cung kính cúng dường. Do pháp thường trụ nên chư Phật cũng thường trụ!

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Nếu lửa phiền não tắt thì Như Lai cũng diệt. Vậy thì Như Lai không chỗ thường trụ. Như màu đỏ của sắt tung tóe kia diệt rồi thì không biết nó đến đâu, phiền não của Như Lai cũng lại như vậy, diệt rồi không chỗ đến. Lại như viên sắt nóng kia cùng với màu đỏ diệt rồi thì không có, Như Lai cũng vậy, diệt rồi thì không thường. Diệt lửa phiền não liền vào Niết Bàn, thì phải biết, Như Lai tức là vô thường.

- Này Thiện nam tử! Sở dĩ nói sắt là gọi các phàm phu. Người phàm phu tuy diệt phiền não, nhưng diệt rồi lại sinh ra nên gọi là Vô thường. Như Lai chẳng vậy, diệt rồi chẳng sinh ra nữa. Vậy nên gọi là Thường.

Ngài Ca Diếp lại thưa rằng:

- Như màu đỏ của sắt diệt rồi, đặt sắt trở lại trong lửa thì màu đỏ lại sinh ra. Như Lai nếu vậy nên trở lại sinh ra kiết sử. Nếu kiết sử sinh trở lại thì tức là vô thường.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Ông nay chẳng nên nói lời như vậy; Như Lai vô thường. Vì sao vậy? Vì Như Lai là Thường! Này Thiện nam tử! Như cây cháy kia tắt rồi thì có tro, phiền não diệt rồi liền có Niết Bàn. Xé áo, chặt đầu, đập bình, v.v... những ví dụ đó cũng lại như vậy. Những vật như vậy đều có danh tự, gọi là áo rách, đầu chặt, bình vỡ. Này Ca Diếp! Như sắt lạnh rồi có thể làm cho nóng trở lại. Như Lai chẳng vậy, đoạn phiền não rồi thì rốt ráo thanh lương (mát mẻ), lửa rực phiền não lại chẳng sinh ra nữa. Này Ca Diếp! Ông phải biết, vô lượng chúng sinh giống như sắt đó, ta dùng lửa hừng trí tuệ vô lậu đốt cháy những phiền não kết của chúng sinh đó!

Ngài Ca Diếp lại thưa rằng:

- Hay thay! Hay thay! Con nay biết chắc chắn Như Lai đã nói chư Phật là Thường!

- Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Ví như vị Thánh Vương ở tại hậu cung, hoặc lúc dạo xem tại hậu viên. Nhà vua tuy chẳng ở trong các thể nữ nhưng cũng chẳng được nói rằng, vị Thánh Vương mạng chung. Này Thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, tuy chẳng hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, vào trong Niết Bàn, nhưng chẳng được gọi là Vô thường. Như Lai ra khỏi vô lượng phiền não, vào đến chỗ Niết Bàn an lạc, dạo vườn hoa giác, vui sướng hưởng thọ lạc.

Ngài Ca Diếp lại hỏi:

- Như đức Phật nói rằng, ta đã qua khỏi biển lớn phiền não lâu rồi, nếu đức Phật đã qua biển phiền não thì duyên cớ gì ngài thu nạp bà Gia Du Ðà La, sinh ra La Hầu La? Do nhân duyên này nên phải biết rằng, đức Như Lai chưa qua được biển lớn những kết phiền não. Nguyện xin đức Như Lai nói về nhân duyên ấy.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Ông chẳng nên nói rằng, Như Lai qua biển lớn phiền não đã lâu, cớ sao lại thu nạp bà Gia Du Ðà La, sinh ra ông La Hầu La. Do nhân duyên này thì phải biết rằng, Như Lai chưa qua biển lớn các kết phiền não. Này Thiện nam tử! Ðại Niết Bàn này có thể kiến lập đại nghĩa. Các ông nay phải chí tâm nghe cho kỹ, ta vì người nói rộng rãi, chớ sinh ra kinh sợ, nghi hoặc! Nếu có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn thì vua núi Tu Di cao rộng như thế đều có thể khiến cho vào ở trong hạt cải. Những chúng sinh nương ở núi Tu Di ấy cũng chẳng bị dồn ép, không có tư tưởng vãng lai mà vẫn như cũ không khác. Chỉ người ứng độ mới thấy Bồ tát này đem núi Tu Di nạp vào trong hạt cải, rồi trở lại ở yên nơi trú xứ cũ. Này Thiện nam tử! Lại có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn có thể đem ba ngàn đại thiên thế giới vào trong hạt cải. Trong hạt cải ấy chúng sinh cũng không bị dồn ép và tư tưởng vãng lai như cũ, không khác, chỉ người ứng độ thì thấy vị Bồ tát này đem ba ngàn đại thiên thế giới nạp vào trong hạt cải, rồi trở lại ở yên nơi trú xứ cũ. Này Thiện nam tử! Lại có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn có thể đem ba ngàn đại thiên thế giới vào trong một lỗ chân lông... cho đến chỗ cũ... cũng lại như vậy. Này Thiện nam tử! Lại có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn đoạn lấy thế giới chư Phật của ba ngàn đại thiên trong mười phương đặt ở mũi kim khâu như xâu lá táo, rồi ném đi, đặt ở thế giới Phật khác nơi tha phương mà tất cả chúng sinh sở hữu trong ấy chẳng biết sự vãng phản, chẳng biết là ở chỗ nào? Chỉ có người ứng độ mới có thể thấy việc đó... cho đến chỗ cũ... cũng lại như vậy. Này Thiện nam tử! Lại có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn đoạn lấy các thế giới Phật của ba ngàn đại thiên trong mười phương đặt vào bàn tay phải như vòng quay thợ nặn, rồi ném đi, đặt vào thế giới nhiều như vi trần ở phương khác mà không một chúng sinh nào có tư tưởng vãng phãn, chỉ có người ứng độ mới thấy việc đó... cho đến chỗ cũ... cũng lại như vậy. Này Thiện nam tử! Lại có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn cắt lấy tất cả thế giới của chư Phật nhiều không lường ở mười phương nạp hết vào thân mình mà trong ấy chúng sinh đều chẳng bị dồn ép, cũng không có tư tưởng vãng phãn và trú xứ, chỉ có người ứng độ mới có thể thấy việc đó... cho đến chỗ cũ... cũng lại như vậy. Này Thiện nam tử! Lại có Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Niết Bàn đem thế giới mười phương vào trong một hạt bụi mà chúng sinh trong ấy không bị dồn ép và tư tưởng vãng phãn, chỉ có người ứng độ mới có thể thấy việc đó... cho đến chỗ cũ... cũng lại như vậy. Này Thiện nam tử! Ðại Bồ tát này trụ ở Ðại Niết Bàn thì có thể thị hiện đủ thứ thần thông biến hóa không lường. Vậy nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Ðại Bồ tát này đã có thể thị hiện vô lượng thần thông biến hóa như vậy mà tất cả chúng sinh không thể đo lường thì sao ông nay có thể biết Như Lai quen gần ái dục để sinh ra ông La Hầu La?

Này Thiện nam tử! Ta trụ ở đại Niết Bàn này đã lâu, thị hiện đủ thứ thần thông biến ở ba ngàn đại thiên thế giới này, hàng trăm ức mặt trời mặt trăng, hàng trăm ức cõi Diêm Phù Ðề. Ta thị hiện đủ thứ như trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã nói rộng rãi. Ta ở ba ngàn đại thiên thế giới, hoặc ở ở cõi Diêm Phù Ðề thị hiện Niết Bàn mà cũng chẳng rốt ráo thủ lấy Niết Bàn. Hoặc ở cõi Diêm Phù Ðề thị hiện vào thai mẹ khiến cho cha mẹ ấy sinh ra tư tưởng con của ta mà thân này của ta rốt ráo chẳng từ ái dục hòa hợp mà sinh ra vậy. Ðã lâu, từ vô lượng kiếp đến nay, ta lìa khỏi ái dục. Thân này của ta hôm nay tức là pháp thân, ta thuận theo thế gian mà thị hiện vào thai mẹ. Này Thiện nam tử! Tại vườn Lâm Vi Ni của cõi Diêm Phù Ðề này ta thị hiện từ mẹ Ma Gia mà sinh ra. Sinh ra rồi ta liền có thể đi về phía Ðông bảy bước và xướng lên rằng: “Ta ở trong người, trời, A tu la... là đấng tối tôn, tối thượng!” Cha mẹ, người, trời thấy rồi kinh ngạc vui mừng, sinh lòng hy hữu. Những người này... gọi ta là đứa trẻ con mà thân này của ta từ vô lượng kiếp đến nay đã lìa khỏi pháp đó lâu rồi. Thân như vậy tức là pháp thân, chẳng phải thân do sự thành lập của máu thịt, gân mạch, xương tủy... Ta thuận theo pháp chúng sinh ở thế gian nên thị hiện làm đứa trẻ con. Ði bảy bước về phía Nam là thị hiện muốn vì vô lượng chúng sinh làm ruộng phước vô thượng. Ði bảy bước về phía Tây là thị hiện sinh ra để đoạn tuyệt vĩnh viễn già chết, là thân sau cùng. Ði bảy bước về phía Bắc là thị hiện đã qua khỏi các hữu sinh tử. Ði bảy bước về phía Ðông là thị hiện vì chúng sinh mà làm người đứng đầu dẫn đường. Ði bảy bước về bốn góc là thị hiện đoạn diệt đủ thứ phiền não, chủng tánh bốn ma, thành tựu Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Ði bảy bước về phía trên là thị hiện chẳng bị sự nhiễm ô của vật bất tịnh giống như hư không. Ði bảy bước về phía dưới là thị hiện mưa pháp diệt lửa địa ngục, khiến cho chúng sinh kia hưởng thọ niềm vui yên ổn. Với người hủy cấm giới thì thị hiện làm sương mù mưa đá. Ở cõi Diêm Phù Ðề, sinh ra được bảy ngày rồi thì thị hiện cạo tóc. Mọi người đều gọi ta là đứa trẻ đầu tiên cạo tóc. Tất cả người, trời, ma vương Ba Tuần, Sa môn, Bà la môn không ai có thể thấy tướng đảnh của ta, huống là có người cầm dao đến cạo tóc. Nếu có người cầm dao đến đảnh của ta thì không có chỗ đó. Ta ở trong vô lượng kiếp cạo bỏ râu tóc đã lâu rồi, nhưng vì muốn thuận theo pháp thế gian nên thị hiện cạo tóc. Khi ta đã sinh ra rồi, cha mẹ đem ta vào trong đền thờ trời để ta trình diện với Ma Ê Thủ La kia. Ma Ê Thủ La khi thấy ta liền chắp tay cung kính đứng ở một bên. Ta ở trong vô lượng kiếp lìa bỏ pháp vào đền thờ trời như vậy đã lâu rồi. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên ta thị hiện như vậy. Ta ở cõi Diêm Phù Ðề thị hiện xâu lỗ tai mà thật ra tất cả chúng sinh không có ai có thể xâu lỗ tai của ta. Thuận theo pháp chúng sinh của thế gian nên ta thị hiện như vậy. Lại dùng các báu làm ngọc đeo tai sư tử để trang nghiêm tai ấy. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp lìa khỏi đồ trang nghiêm. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên ta tạo nên sự thị hiện đó. Ta thị hiện vào trường học tu tập thư sớ. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp thành tựu đầy đủ rồi. Quan sát khắp sở hữu chúng sinh trong ba cõi thì không có ai đủ sức làm thầy của ta. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên ta thị hiện vào học đường. Vậy nên gọi là Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri học tập đi voi, cỡi ngựa, sức giác đấu... đủ thứ kỹ nghệ cũng lại như vậy. Ở cõi Diêm Phù Ðề mà ta lại thị hiện làm vương thái tử. Chúng sinh thấy ta làm thái tử, ở trong năm dục, vui sướng hưởng thụ lạc. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp lìa bỏ niềm vui của năm dục như vậy. Vì muốn thuận theo pháp thế gian nên ta thị hiện tướng như vậy. Thầy tướng xem tướng cho ta rằng, nếu chẳng xuất gia thì sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương, làm vua cõi Diêm Phù Ðề, tất cả chúng sinh đều tin lời nói này. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp, bỏ ngôi vua Chuyển Luân để làm vua Pháp Luân. Ở cõi Diêm Phù Ðề, ta thị hiện lìa khỏi niềm vui năm dục của thể nữ, thấy cảnh già, bịnh, chết và Sa môn, rồi xuất gia tu đạo. Tất cả chúng sinh đều cho là thái tử Tất Ðạt Ða mới bắt đầu xuất gia. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp xuất gia tu đạo. Thuận theo pháp thế gian nên ta thị hiện như vậy. Ta ở cõi Diêm Phù Ðề thị hiện xuất gia, thọ cụ túc giới, tinh cần tu đạo, được quả Tu Ðà Hoàn, quả Tư Ðà Hàm, quả A na hàm, quả A la hán. Mọi người đều cho rằng, quả A la hán đó dễ được chẳng khó. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp thành quả A la hán. Vì muốn độ thoát các chúng sinh nên ta ngồi dưới cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, dùng cỏ làm tòa ngồi, tiêu diệt hàng phục mọi thứ ma. Mọi người đều cho rằng, ta đầu tiên ở dưới cây Bồ Ðề Ðạo Tràng hàng phục mọi ma. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp, hàng phục chúng lâu rồi. Vì muốn hàng phục chúng sinh cương cường nên ta thị hiện sự biến hóa này. Ta lại thị hiện đại, tiểu tiện lợi, thở ra, hít vào. Mọi người đều cho rằng, ta thật sự có đại, tiểu tiện lợi, thở ra, hít vào. Nhưng thân này của ta đã được quả báo không có những hoạn nạn đó. Thuận theo thế gian nên ta thị hiện như vậy thôi. Ta lại thị hiện thọ sự tín thí của con người. Nhưng thân này của ta đều không có đói khát. Thuận theo thế pháp nên ta thị hiện như vậy. Ta lại thị hiện đồng với các chúng sinh nên hiện có ngủ nghỉ. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp, đầy đủ trí tuệ thâm diệu vô thượng, lìa xa ba hữu. ta có uy nghi tiến dừng, đầu, mắt, bụng lưng, toàn thân, tật bệnh, đau đớn, cây chống, đền đáp, rửa rấy chân tay, rửa mặt, súc miệng, xỉa răng, tự làm sạch... Mọi người đều cho là ta có những việc như vậy. Nhưng thân này của ta đều không những điều này vậy. Tay chân ta thanh tịnh giống như hoa sen, mùi thơm tịnh khiết như hương hoa Ưu bát la. Tất cả chúng sinh gọi ta là người, nhưng thật ra ta chẳng phải người. Ta lại thị hiện nhận áo phấn tảo (dơ bẩn) giặt giũ, may vá... Nhưng ta đã lâu chẳng cần áo đó. Mọi người đều gọi La Hầu La là con của ta, vua Thâu Ðâu Ðàn là cha của ta, ma Gia phu nhân là mẹ của ta, ta ở tại thế gian, thọ các khoái lạc, rồi bỏ những việc như vậy mà xuất gia học đạo. Mọi người lại nói rằng, vị vương thái tử thuộc họ lớn Cù Ðàm này xa lìa thế lạc, cầu pháp xuất thế. Nhưng ta lìa khỏi ái dục thế gian lâu rồi. Những việc như vậy đều là thị hiện. Tất cả chúng sinh đều gọi ta là người, nhưng ta quả thật chẳng phải. Này Thiện nam tử! Ta tuy ở tại trong cõi Diêm Phù Ðề này, thỉnh thoảng thị hiện vào với Niết Bàn. Nhưng thật ra chẳng rốt ráo Niết Bàn mà các chúng sinh đều cho là Như Lai chân thật diệt độ mà thật tánh của Như Lai thật chẳng diệt mất vĩnh viễn. Vậy nên ông phải biết là pháp thường trụ, pháp chẳng biến dị. Này Thiện nam tử! Ðại Niết Bàn tức là cảnh giới của các đức Phật Như Lai. Ta lại thị hiện trong cõi Diêm Phù Ðề, rồi ra khỏi thế gian. Các chúng sinh đều cho là ta mới thành Phật. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp việc làm đã hoàn thành. Thuận theo pháp thế gian nên ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, bắt đầu xuất gia, thành Phật. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, chẳng giữ gìn cấm giới, phạm bốn trọng tội. Mọi người đều thấy và cho là ta thật sự phạm tội. Nhưng ta đã ở trong vô lượng kiếp kiên trì cấm giới, không có khuyết lậu. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề làm Nhất xiển đề. Mọi người đều thấy ta là Nhất xiển đề, nhưng ta thật chẳng phải Nhất xiển đề. Nhất xiển đề thì sao có thể thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác được. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, phá hòa hợp tăng. Chúng sinh đều cho là ta phá hòa hợp tăng. Ta xem người, trời không có ai có thể phá hòa hợp tăng. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, hộ trì chánh pháp. Mọi người đều cho rằng ta là hộ pháp, đều sinh ra kinh ngạc quái lạ. Pháp của chư Phật vậy chẳng nên kinh ngạc quái lạ. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề làm Ma ba Tuần. Mọi người đều cho rằng ta là Ba Tuần. Nhưng lâu rồi, ta ở trong vô lượng kiếp đã lìa khỏi việc ma, thanh tịnh vô nhiễm giống như hoa sen. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, làm thân nữ thành Phật. Mọi người thấy thế đều nói rằng, lạ quá nữ nhân mà có thể thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Như Lai rốt ráo chẳng thọ thân nữ, nhưng vì muốn điều phục vô lượng chúng sinh nên hiện hình dáng nữ. Vì thương xót tất cả các chúng sinh nên ta lại thị hiện đủ thứ sắc tượng. Ta lại thị hiện ở trong cõi Diêm Phù Ðề, sinh ra ở bốn đường. Nhưng ta đoạn tuyệt nhân các đường lâu rồi. Chúng sinh do nghiệp nhân nên đọa ở bốn đường, vì độ họ nên ta sinh ở trong đó. Ta lại thị hiện làm Phạm Thiên Vương ở trong cõi Diêm Phù Ðề để khiến cho kẻ phụng sự Phạm thiên an trụ ở chánh pháp. Nhưng ta thật sự chẳng phải mà các chúng sinh đều cho rằng ta là Phạm Thiên thật. Việc thị hiện hình dáng trời ở khắp các miếu thờ trời cũng lại như vậy. Ta lại thị hiện vào nhà dâm nữ ở cõi Diêm Phù Ðề. Nhưng ta thật không có tư tưởng tham dục, thanh tịnh chẳng bẩn giống như hoa sen. Vì những chúng sinh tham dâm mê sắc, ở ngã tư đường lớn, ta tuyên nói diệu pháp. Nhưng ta thật không có tâm dục uế mà mọi người cho là ta thủ hộ nữ nhân. Ta lại thị hiện vào nhà thanh y ở cõi Diêm Phù Ðề, vì muốn dụ hóa khiến cho họ trụ ở chánh pháp. Nhưng ta thật không có nghiệp ác đọa ở tại thanh y như vậy. Ta lại thị hiện ở trong cõi Diêm Phù Ðề mà làm giáo sư khai hóa trẻ mới học khiến trụ ở chánh pháp. Ta lại thị hiện ở cõi Diêm Phù Ðề, vào các quán rượu, sòng bạc, thị hiện đủ thứ thắng thua, tranh cãi vì muốn cứu vớt những chúng sinh ở đó mà ta thật không có nghiệp ác như vậy. Nhưng các chúng sinh đều cho rằng ta tạo tác nghiệp như vậy. Ta lại thị hiện trụ lâu ở bãi tha ma, làm thân chim thứu lớn để độ các loài chim bay mà các chúng sinh đều cho rằng ta thật sự là thân chim thứu. Nhưng lâu rồi, ta lìa khỏi nghiệp đó. Vì muốn độ những chim thứu kia nên ta thị hiện như vậy. Ta lại thị hiện trong cõi Diêm Phù Ðề, làm đại trưởng giả vì muốn an lập vô lượng chúng sinh trụ ở chánh pháp. Ta lại thị hiện làm những vua, đại thần, con vua, phụ tướng, ở trong chúng đó, đều là bậc nhất, vì tu chánh pháp nên ở ngôi vua. Ta lại thị hiện ở trong cõi Diêm Phù Ðề, lúc kiếp dịch bệnh khởi lên, có nhiều chúng sinh bị khổ não dịch bệnh, ta trước thí cho thuốc thang, rồi nhiên hậu vì họ nói chánh pháp vi diệu, khiến cho họ an trụ ở Bồ Ðề Vô thượng. Mọi người đều gọi là kiếp bệnh khởi lên. Lại nữa, ta thị hiện trong cõi Diêm Phù Ðề, khi kiếp đói kém khởi lên, rồi tuy sự cần dùng của chúng sinh ấy mà cung cấp đồ ăn thức uống, rồi nhiên hậu vì họ nói chánh pháp vi diệu, khiến cho họ an trụ ở Bồ Ðề Vô thượng. Lại nữa, ta thị hiện trong cõi Diêm Phù Ðề, khi kiếp đao binh khởi lên, liền vì chúng sinh nói pháp khiến cho họ lìa khỏi oán hại, làm cho họ được an trụ ở Bồ Ðề Vô thượng. Lại nữa, ta thị hiện vì kẻ cho là thường tưởng, nói vô thường tưởng; kẻ cho là lạc tưởng thì vì họ nói khổ tưởng; kẻ cho là ngã tưởng thì nói vô ngã tưởng; kẻ cho là tịnh tưởng thì nói bất tịnh tưởng. Nếu có chúng sinh tham trước ba cõi thì ta liền vì họ nói pháp, khiến cho họ lìa khỏi chỗ đó. Ðể độ chúng sinh nên ta vì họ nói pháp dược vi diệu vô thượng. Vì đoạn trừ tất cả cây phiền não nên ta gieo trồng cây thuốc pháp Vô thượng. Vì muốn cứu vớt các ngoại đạo nên ta diễn nói chánh pháp. Tuy ta lại thị hiện làm thầy của chúng sinh mà lòng đầu tiên không có tư tưởng làm thầy của chúng sinh. Vì muốn cứu vớt các hạ tiện nên ta hiện vào trong ấy mà vì họ nói pháp chứ chẳng phải là do ác nghiệp mà thọ thân này vậy. Như Lai Chánh Giác an trụ như vậy ở Ðại Bát Niết Bàn. Vậy nên gọi là thường trụ, không biến đổi. Như cõi Diêm Phù Ðề, cõi Phất Vu Ðãi ở phương Ðông, cõi Cù Gia Ni ở phương Tây, cõi Uất Ðơn Việt ở phương Bắc cũng lại như vậy. Như bốn thiên hạ ba ngàn đại thiên thế giới cũng vậy, hai mươi lăm cõi hữu như trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm đã nói rộng rãi. Do vậy nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Nếu có Ðại Bồ tát an trụ ở Ðại Bát Niết Bàn như vậy thì có thể thị hiện thần thông biến hóa như vậy mà không sở úy. Này Ca Diếp! Do cái duyên đó nên ông chẳng nên nói rằng, La Hầu La là con của Phật. Vì sao vậy? Vì ta ở trong vô lượng kiếp xa xưa đã lìa khỏi dục hữu. Vậy nên Như Lai gọi là thường trụ không có biến dị.

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Thưa đức Như Lai! Sao gọi là thường trụ? Như đức Phật nói rằng, như đèn tắt rồi không có phương sở. Như Lai cũng vậy đã diệt độ rồi cũng không phương sở!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Thiện nam tử Ca Diếp! Ông nay chẳng nên nói lời như vậy! Ðèn tắt hết rồi không có phương sở, Như Lai cũng vậy, đã diệt độ rồi không có phương sở. Này Thiện nam tử! Ví như khi trai gái thắp đèn, trong ù đèn lớn, nhỏ đựng đầy dầu. Tùy theo số dầu đựng trong ấy mà ánh sáng còn tồn tại. Nếu dầu hết rồi thì ánh sáng cũng hết theo. Ánh sáng ấy diệt là ví dụ cho phiền não diệt. Ánh sáng tuy diệt hết nhưng cây đèn vẫn tồn tại. Như Lai cũng vậy, phiền não tuy diệt nhưng pháp thân luôn tồn tại. Này Thiện nam tử! Ý ông thế nào? Ánh sáng cùng cây đèn đều diệt chăng?

Ngài Ca Diếp đáp rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng diệt vậy! Tuy chẳng đều diệt nhưng là Vô thường. Nếu dùng pháp thân ví cho cây đèn mà cây đèn vô thường thì pháp thân cũng vậy, nên là vô thường!

- Này Thiện nam tử! Ông nay chẳng nên nạn hỏi như vậy! Như thế gian nói khí dụng thì đối với Như Lai Thế Tôn là pháp khí Vô thượng. Khí dụng kia vô thường, chẳng phải Như Lai vậy. Trong tất cả pháp, Niết Bàn là thường, là Như Lai thể nên gọi là Thường. Lại nữa, Này Thiện nam tử! Nói rằng, đèn tắt là nói sự chứng Niết Bàn của A la hán. Do diệt tham ái, các phiền não nên ví nó là đèn tắt. A na hàm thì gọi là có tham. Do có tham nên chẳng được nói rằng, đồng với đèn tắt. Vậy nên ta trước đây lại nói với nhau rằng, ví như đèn tắt, chẳng phải nói Ðại Niết Bàn đồng với đèn tắt. A na hàm chẳng phải thỉnh thoảng đến, lại chẳng trở lại hai mươi lăm cõi hữu, lại chẳng thọ thân xú uế, thân vi trùng, thân tạp thực, thân độc hại nữa. Ðó gọi là A na hàm. Nếu lại thọ thân thì gọi là Na hàm, chẳng thọ thân thì gọi là A na hàm. Có đi, lại thì gọi là Na hàm, không đi, lại thì gọi là A na hàm.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ tư hết -


5/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Năm

PHẨM BỐN TƯỚNG (tiếp theo)

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật, các đức Phật Thế Tôn có bí mật tạng, nghĩa này chẳng phải vậy. Vì sao vậy? Vì các đức Phật Thế Tôn chỉ có mật ngữ, không có mật tạng. Ví như người gỗ máy của nhà huyễn thuật. Mọi người tuy nhìn thấy nó co, duỗi, cúi, ngữa nhưng không biết bên trong nó mà điều khiển vậy. Phật pháp chẳng vậy, đều khiến cho chúng sinh được tri kiến hết thì sao phải nói rằng, các đức Phật Thế Tôn có bí mật tạng.

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðúng như lời nói của ông! Như Lai thật không có bí mật tạng! Vì sao vậy? Ví như trăng thu tròn đầy ở trong hư không hiển lộ thanh tịnh, không bị che khuất, mọi người đều nhìn thấy. Lời nói của Như Lai cũng lại như vậy, khai phát hiển lộ thanh tịnh, không bị ngăn che. Người ngu chẳng lý giải được thì cho đó là bí mật tạng. Kẻ trí liễu ngộ thông đạt thì chẳng gọi là tạng. Này thiện nam tử! Ví như có người chứa nhiều vàng bạc đến hàng vô lượng ức. Lòng người ấy keo kiệt tham lam, họ chẳng chịu ban cho, cứu tế kẻ bần cùng. Gom chứa như vậy mới gọi là bí mật tạng. Như Lai chẳng vậy, ở vô biên kiếp, gom chứa vô lượng trân bảo diệu pháp mà lòng không keo kiệt tham lam, thường đem ban cho tất cả chúng sinh thì sao phải gọi rằng, Như Lai bí mật tạng? Này thiện nam tử! Ví như có người, thân căn chẳng đủ, hoặc không có một mắt, một tay, một chân. Do xấu hổ nên chẳng cho người thấy. Người chẳng thấy nên gọi là bí tạng. Như Lai chẳng vậy, đã có chánh pháp đầy đủ, không khiếm khuyết, khiến cho mọi người nhìn thấy thì sao phải nói rằng, Như Lai bí mật tạng. Này thiện nam tử! Ví như người nghèo mắc nợ nhiều của cải của người khác, sợ sệt chủ nợ lẫn trốn chẳng muốn xuất hiện nên gọi là tàng. Như Lai chẳng vậy, chẳng nợ tất cả chúng sinh thế pháp. Tuy nợ chúng sinh pháp xuất thế mà cũng chẳng “tàng”. Vì sao vậy? Vì luôn luôn đối với chúng sinh phát sinh tư tưởng con một mà vì họ diễn nói pháp Vô thượng. Này thiện nam tử! Ví như ông trưởng giả có nhiều của báu, chỉ có một đứa con, lòng rất ái trọng, tình không lìa bỏ, trân bảo vốn có của mình đều đem bày ra cho con. Như Lai cũng vậy, nhìn các chúng sinh đồng với con một. Này thiện nam tử! Như người thế gian do nam căn, nữ căn, xấu xí thô bỉ nên dùng quần áo che trùm nên gọi là tàng (giấu). Như Lai chẳng vậy, đoạn tuyệt vĩnh viễn căn này. Do không căn nên không có sự che giấu. Này thiện nam tử! Như Bà la môn sở hữu ngữ luận, nhất định chẳng muốn cho Sát lợi, Tỳ xá, Thủ đà, v.v... nghe. Vì sao vậy? Vì do trong luận này có lỗi xấu. Chánh pháp của Như Lai thì chẳng như vậy, đầu, giữa, cuối đều tốt. Vậy nên chẳng được gọi là bí mật tạng. Này thiện nam tử! Ví như ông trưởng giả chỉ có một đứa con, lòng thường nghĩ nhớ, yêu thương không thôi, đem đến chỗ thầy muốn cho thọ học, sợ chẳng chóng thành liền đem trở về. Do nghĩ yêu thương nên ngày đêm ông ân cần dạy đứa con ấy nửa chữ mà chẳng dạy răn luận Tỳ Già La. Vì sao vậy? Vì con mình sức còn ấu trĩ chưa kham nổi. Này thiện nam tử! Giả sử ông trưởng giả dạy nữa chữ rồi thì đứa trẻ đó tức thời rõ biết luận Tỳ Già La chăng?

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng rõ biết vậy!

- Như vậy ông trưởng giả đối với đứa con này đã có bí mật tạng chăng?

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng có vậy! Vì sao vậy? Vì đứa con tuổi còn nhỏ nên chẳng vì nó mà nói! Chứ chẳng do bí mật, tiếc rẻ mà chẳng thị hiện. Sở dĩ vì sao? Vì nếu có lòng ganh ghét giữ kín tiếc rẻ thì mới gọi là giấu. Ðức Như Lai chẳng vậy thì sao phải gọi là Như Lai bí mật tạng?

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðúng như lời nói của ông! Nếu có lòng sân ganh ghét san lận thì mới gọi là tàng. Như Lai không có lòng sân giận, tật đố thì sao gọi là tàng? Này thiện nam tử Ông đại trưởng giả kia là ví Như Lai, nói con một là ví tất cả chúng sinh. Như Lai bình đẳng nhìn tất cả chúng sinh giống như con một. Dạy con một tức là dạy đệ tử Thanh Văn. Nửa chữ là ví chín bộ Kinh. Luận Tỳ Già La là ví Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Vì các Thanh Văn không có tuệ lực nên đức Như Lai vì họ diễn nói bán tự, chín bộ Kinh điển mà chẳng vì họ diễn nói Luận Tỳ Già La, Ðại Thừa Phương Ðẳng. Này thiện nam tử! Như con ông trưởng giả kia đã lớn lên, đủ sức đọc, học mà nếu chẳng vì nó diễn nói luận Tỳ Già La thì có thể gọi là giấu. Nếu các Thanh Văn có sức đảm nhiệm, có thể thọ luận Tỳ Già La Ðại Thừa mà Như Lai bí mật, tiếc rẻ chẳng vì họ diễn nói thì có thể nói rằng, Như Lai có bí mật tạng. Như Lai chẳng vậy nên Như Lai không có bí mật tạng. Như ông trưởng giả kia dạy nửa chữ rồi, thứ đến vì con diễn nói luận Tỳ Già La. Ta cũng như vậy, vì các đệ tử nói về nửa chữ, chín bộ Kinh rồi, thứ đến vì họ diễn nói luận Tỳ Già La, đó là Như Lai thường còn chẳng biến đổi.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như tháng mùa hạ, trời dậy mây mù sấm chớp, tuông xuống mưa lớn, khiến cho những nông phu xuống hạt giống thì thu hoạch được nhiều quả trái. Người không xuống giống thì không có sự thu hoạch. Không có sự thu hoạch thì chẳng phải lỗi của long vương mà long vương này cũng không có sự giấu giếm. Ta cũng như vậy, tuông xuống mưa đại pháp, Kinh Ðại Niết Bàn, nếu có chúng sinh gieo căn lành thì được quả mầm tuệ, không có hạt giống lành thì không có sự thu hoạch, không có sự thu hoạch thì chẳng phải lỗi của Như Lai. Nhưng Phật Như Lai quả thật không có sự che giấu.

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Con nay nhất định biết đức Như Lai Thế Tôn không có gì bí mật che giấu, như đức Phật đã nói, luận Tỳ Già La cho rằng đức Phật Như Lai thường còn chẳng biến đổi. Nghĩa này chẳng vậy! Vì sao vậy? Vì như đức Phật xưa đã nói kệ:

Chư Phật cùng Duyên giác Chúng đệ tử Thanh Văn

Còn bỏ thân vô thường Huống gì kẻ phàm tục?

Nay thì ngài mới nói thường còn chẳng biến đổi là nghĩa làm sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ta vì tất cả đệ tử Thanh Văn dạy “nửa chữ” mà nói bài kệ đó. Lại này thiện nam tử! Vua Ba Tư Nặc, khi mẹ ông ấy mạng chung, buồn khóc luyến mộ, chẳng thể tự kềm chế, đi đến chỗ của ta. Ta liền hỏi rằng: “Ðại vương vì sao buồn khổ, ảo não mà đến đây vậy?” Nhà vua nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Thái phu nhân của đất nước ngày ấy đã mạng chung! Giả sử có người có thể khiến cho mẹ con sống trở lại như cũ thì con sẽ bỏ ra voi, ngựa, bảy thứ trân bảo của đất nước và cả thân mạng để đền ơn người đó”. Ta lại nói rằng: “Này đại vương! Vã chớ nên sầu não, ưu bi, gào khóc! Tất cả chúng sinh mà thọ mạng hết thì gọi là chết! Các đức Phật, Duyên Giác, Thanh Văn đệ tử còn phải xả bỏ thân này, huống lại là phàm phu”. Này thiện nam tử! Ta vì vua Ba Tư Nặc dạy “nửa chữ” mà nói bài kệ đó. Ta nay vì các đệ tử Thanh Văn nói luận Tỳ Già La, nói rằng Như Lai thường còn, không có biến dị. Nếu có người nói rằng, Như Lai vô thường thì sao lưỡi người đó chẳng rơi rụng?

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Như lời nói của đức Phật:

Không sự chứa gom Với ăn biết đủ

Như chim bay không Chẳng thể tìm dấu.

Nghĩa đó thế nào? Thưa đức Thế Tôn! Ở trong chúng này ai được gọi là không có sự tích tụ? Ai lại được gọi là với việc ăn uống mà biết đủ? Ai đi ở trong hư không mà dấu vết chẳng thể tìm thấy? Mà người đi này thì đến phương nào?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Phàm tích tụ thì gọi là của báu. Này thiện nam tử! Tích tụ có hai thứ, một là hữu vi, hai là vô vi. Tích tụ hữu vi tức là hạnh của Thanh Văn. Tích tụ vô vi tức là hạnh của Như Lai. Này thiện nam tử! Tăng cũng có hai chữ, hữu vi và vô vi. Tăng hữu vi gọi là hàng Thanh Văn. Tăng Thanh Văn thì không có tích tụ những thứ như là nô tỳ, vật phi pháp, kho tàng, lúa gạo, muối, mè, các thứ đậu lớn nhỏ. Nếu có người nói rằng, Như Lai cho phép nuôi nô tỳ bộc sứ (người sai bảo)... những vật như vậy thì lưỡi bị co rụt lại. Những đệ tử Thanh Văn sở hữu của ta gọi là không tích tụ, cũng được gọi là đối với ăn uống biết đủ. Nếu có tham ăn thì gọi là bất tri túc; không tham ăn thì gọi là tri túc. Dấu tích khó tìm, tức là gần đạo Bồ Ðề Vô thượng. Ta nói người này tuy đi mà không đến.

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Nếu tăng hữu vi còn không tích tụ, huống là tăng vô vi. Tăng vô vi tức là Như Lai mà Như Lai thì làm sao có tích tụ? Luận về tích tụ thì gọi là chứa giấu. vậy nên Như Lai phàm có điều nói lên thì không có sự che giấu, hối tiếc thì sao gọi là tàng. Dấu tích chẳng thể tìm là nói đến Niết Bàn. Trong Niết Bàn không có mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, lạnh, nóng, gió, mưa, sanh, già, bệnh, chết, hai mươi lăm cõi hữu, lìa khỏi các ưu khổ và các phiền não. Như vậy trụ xứ của Như Lai Niết Bàn thường còn, chẳng biến dị. Do nhân duyên đó, Như Lai đến vùng cây Ta La ở Ðại Niết Bàn mà vào Niết Bàn.

Ðức Phật bảo rằng:

- Này Ca Diếp! Sở dĩ nói rằng, “Ðại” là tính ấy rộng rãi giống như có người sống lâu không lường nên gọi là đại trượng phu. Người đó nếu có thể an trụ ở chánh pháp thì gọi bậc thắng hơn trong loài người. Như ta đã nói về tám bậc Ðại Nhân Giác, là một người có hay là nhiều người có. Nếu một người có đủ tám thì là tối thắng. Sở dĩ nói Niết Bàn là vì không có ghẻ lở, ung bướu. Này thiện nam tử! Ví như có người bị bắn trúng tên độc, chịu nhiều đau khổ, gặp được thầy thuốc giỏi nhổ tên độc ra, thoa thuốc hay, khiến cho người ấy lìa khỏi thống khổ, được hưởng thụ an vui. Vị thầy thuốc này liền du hành vào thành ấp và các tụ lạc, tùy theo chỗ có khổ hoạn ghẻ lở, ung bướu, ông liền đến nơi ấy vì mọi người trị liệu mọi khổ đau. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, thành Ðẳng Chánh Giác, làm Ðại Y Vương, thấy ở cõi Diêm Phù Ðề, chúng sinh khổ não, trong vô lượng kiếp, bị tên độc phiền não dâm, nộ, si, chịu đại khổ thiết. Ta vì những kẻ như vậy mà nói pháp dược cam lộ của kinh Ðại Thừa. Trị liệu nơi này rồi ta lại đến phương khác, chỗ có các tên độc phiền não, thị hiện làm Phật mà vì chúng sinh nơi ấy trị liệu. Vậy nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Ðại Bát Niết Bàn gọi là chỗ giải thoát. Tùy chỗ có chúng sinh điều phục mà Như Lai ở trong đó tạo tác thị hiện. Do ý nghĩa thậm thâm chân thật này nên gọi là Ðại Niết Bàn.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thầy thuốc thế gian đều có thể trị liệu bệnh ghẻ lớ, ung bướu của tất cả chúng sinh chăng?

- Này thiện nam tử! Ghẻ lở ung bướu của thế gian đại loại có hai thứ, một thứ có thể trị, một thứ chẳng thể trị. Phàm thứ có thể trị thì thầy thuốc đều có thể trị, còn thứ chẳng thể trị thì họ chẳng thể trị được.

Ngài Ca Diếp lại thưa rằng:

- Như đức Phật nói thì tức là Như Lai ở cõi Diêm Phù Ðề, đã trị liệu chúng sinh xong rồi! Nếu nói trị rồi thì sao những chúng sinh trong cõi ấy lại có người chưa có thể được Niết Bàn? Nếu chưa được hết thì sao đức Như Lai nói rằng đã trị xong rồi, muốn đến địa phương khác?

- Này thiện nam tử! Chúng sinh bên trong cõi Diêm Phù Ðề có hai loại, một là loại có tin, hai là loại không có tin. Người có niềm tin thì gọi là có thể trị. Vì sao vậy? Vì nhất định họ được Niết Bàn, không còn ghẻ lớ ung bướu. Vậy nên ta nói đã trị liệu các chúng sinh ở cõi Diêm Phù Ðề rồi. Người không có niềm tin gọi là Nhất xiển đề. Nhất xiển đề thì gọi là chẳng thể trị, trừ Nhất xiển đề ra, còn lại đều trị hết rồi. Vậy nên Niết Bàn gọi là không ghẻ lở ung bướu.

- Thưa đức Thế Tôn! Những gì gọi là Niết Bàn?

- Này thiện nam tử! Bàn về Niết Bàn thì có thể gọi là Giải thoát.

Ngài Ca Diếp lại thưa rằng:

- Sở dĩ gọi là giải thoát vì là sắc ư? Hay vì chẳng phải sắc ư?

Ðức Phật dạy:

- Này thiện nam tử! Hoặc có là sắc, hoặc chẳng phải là sắc! Nói chẳng phải là sắc thì tức là giải thoát của Thanh Văn, Duyên Giác. Nói là sắc thì tức là giải thoát của các đức Phật Như Lai. Này thiện nam tử! Vậy nên giải thoát cũng sắc, cũng phi sắc. Như Lai vì các đệ tử Thanh Văn nói là chẳng phải sắc (phi sắc).

- Thưa đức Thế Tôn! Thanh Văn, Duyên Giác nếu chẳng phải sắc thì làm sao được trụ?

- Này thiện nam tử! Như trời phi tưởng phi phi tưởng cũng sắc cũng chẳng phải sắc. Ta cũng nói là chẳng phải sắc. Nếu có người nạn vấn rằng, trời Phi tưởng phi phi tưởng nếu là chẳng phải sắc thì sao được trụ ở, đi, lại, tiến, dừng. Nghĩa như vậy là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải điều hiểu biết của Thanh Văn. Giải thoát cũng vậy, cũng sắc, chẳng phải sắc, nói là chẳng phải sắc; cũng tưởng, chẳng phải tưởng nói là chẳng phải tưởng. Nghĩa như vậy là cảnh giới chư Phật, chẳng phải là điều hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin ngài rũ lòng thương xót thương xót một lần nữa diễn nói rộng rãi nghĩa giải thoát của hạnh Ðại Bát Niết Bàn!

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Giải thoát chân thật là lìa khỏi tất cả những trói buộc. Nếu giải thoát chân thật là lìa khỏi các trói buộc thì không có sanh, cũng không hòa hợp. Ví như cha mẹ hòa hợp sinh ra con, chân giải thoát thì chẳng như vậy. Vậy nên Giải thoát gọi là chẳng sanh. Này Ca Diếp! Ví như đề hồ, tính của nó thanh tịnh, Như Lai cũng vậy, chẳng phải do cha mẹ hòa hợp mà sinh ra. Tánh Như Lai ấy thanh tịnh mà sở dĩ thị hiện có cha mẹ là vì muốn hóa độ chúng sinh vậy. Chân Giải thoát tức là Như Lai, Như Lai và Giải thoát không hai, không khác biệt. Ví như tháng mùa xuân xuống các thứ giống, gặp được khí trời ấm nhuận thì liền nảy sinh ra. Chân Giải thoát thì chẳng như vậy! Lại, Giải thoát gọi là hư vô. Hư vô tức là giải thoát. Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là hư vô, chẳng phải làm cái được làm ra. Phàm cái được làm ra như là thành quách, lâu quán. Chân Giải thoát thì chẳng như vậy. Vậy nên Giải thoát tức là Như Lai. Lại, Giải thoát tức là pháp vô vi. Ví như người thợ gốm làm rồi lại phá, Giải thoát chẳng vậy. Chân Giải thoát là chẳng sinh chẳng diệt. Vậy nên Giải thoát tức là Như Lai, Như Lai cũng vậy, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng lão, chẳng tử, chẳng phá, chẳng hoại, chẳng phải pháp hữu vi. Do ý nghĩa này nên gọi là Như Lai. Vào Ðại Niết Bàn chẳng già, chẳng chết... có những ý nghĩa gì? Lão là gọi sự biến đổi, tóc bạc trắng, mặt nhăn nheo. Tử là thân hoại, mạng chung. Những pháp như vậy không có trong giải thoát. Do không có việc này nên gọi là Giải thoát. Như Lai cũng không có tóc bạc trắng, mặt nhăn nheo, những pháp hữu vi. Vậy nên Như Lai không có lão. Không có lão thì không có tử vậy. Lại, Giải thoát thì gọi là không bệnh. Sở dĩ gọi là bệnh tức là bốn trăm linh bốn bệnh và cả những thứ khác từ bên ngoài đến xâm hại thân thể. Chỗ giải thoát này không có những thứ bệnh đó nên gọi là giải thoát. Không bệnh tật thì tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát thì tức là Như Lai. Như Lai không bệnh nên pháp thân cũng không có bệnh. Như vậy không bệnh tức là Như Lai. Tử là gọi việc thân hoại, mạng chung. Chỗ giải thoát này không có chết, tức là cam lồ. Cam lồ tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai thành tựu công đức như vậy thì sao phải nói rằng Như Lai vô thường! Nếu nói Như Lai vô thường thì không có chỗ đó! Thân Kim Cương mà sao gọi là Vô thường được? Vậy nên Như Lai chẳng gọi là mạng chung. Như Lai thanh tịnh, không có cấu bẩn. Thân Như Lai chẳng phải là thân thai ô uế. Như hoa Phân Ðà Lợi, bản tính hoa ấy thanh tịnh, Như Lai Giải thoát cũng lại như vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Vậy nên Như Lai thanh tịnh vô cấu. Lại, Giải thoát thì các ghẻ bướu lậu vĩnh viễn không còn sót lại, Như Lai cũng vậy, không có tất cả các ghẻ bướu lậu. Lại, Giải thoát thì không có đấu tranh. Ví như người đói thấy người khác ăn uống thì phát sinh tưởng tham đoạt, Giải thoát chẳng vậy. Lại, Giải thoát thì gọi là an tịnh. Kẻ phàm phu nói rằng, phàm là an tịnh thì chỉ cho Ma Ê Thủ La. Nói như vậy tức là hư vọng. An tịnh chân thật là rốt ráo Giải thoát. Rốt ráo giải thoát tức là Như Lai. Lại, Giải thoát thì gọi là yên ổn. Như ở chỗ nhiều giặc thì gọi là chẳng yên ổn. Chỗ trong sạch công bằng thì mới gọi là yên ổn. Trong giải thoát này không có bố úy nên gọi là yên ổn. Vậy nên yên ổn tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là Pháp vậy. Lại, Giải thoát thì không có bạn đồng lứa. Có bạn đồng lứa thì như các quốc vương có vua bạn ở những nước lân cận. Chân Giải thoát thì chẳng như vậy, không có bạn đồng lứa mà là Chuyển Luân Thánh Vương không ai có thể ngang bằng. Giải thoát cũng vậy, không có bạn đồng lứa. Không có bạn đồng lứa thì tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát thì tức là Như Lai Chuyển Luân Thánh Vương. Vậy nên Như Lai không có bạn đồng lứa. Nếu nói Như Lai có bạn đồng lứa thì không có chỗ này. Lại, Giải thoát thì gọi là không lo buồn. Có lo buồn thì ví như vị quốc vương sợ nạn nước bên cạnh hùng mạnh mà sinh ra lo buồn. Phàm là Giải thoát thì không có việc này. Ví như hủy hoại oán tặc rồi thì không có lo nghĩ, Giải thoát cũng vậy, là không có lo sợ. Không lo sợ thì tức là Như Lai. Lại, Giải thoát gọi là không lo mừng. Ví như người đàn bàn chỉ có một con, đi làm ăn xa, bỗng được hung tín, nghe tin đó thì sầu khổ, sau lại nghe con còn sống liền sinh vui mừng. Phàm ở trong giải thoát thì không có việc như vậy. Không buồn lo, không vui mừng tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, Giải thoát thì không có trần cấu. Ví như sau những ngày tháng mùa xuân qua rồi, gió nổi lên bụi bặm sa mù. Phàm trong giải thoát thì không có việc như vậy, không bụi bặm sa mù là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Ví như viên Minh Châu trong búi tóc của vị Thánh Vương không có cấu bẩn. Phàm là tính giải thoát cũng lại như vậy, không có cấu bẩn. Không cấu bẩn là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai, như tính vàng ròng chẳng xen lẫn cát đá thì mới gọi là Chân bảo. Có người được báu đó sinh ra tư tưởng của cải. Phàm tính giải thoát cũng lại như vậy, như chân bảo đó. Chân bảo đó là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Ví như bình sành bị vỡ mà tiếng kêu to, bình báu Kim Cương thì chẳng như vậy. Phàm là giải thoát thì không có tiếng vỡ bình. Bình báu Kim cương là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Vậy nên thân Như Lai chẳng thể hoại. Tiếng bình vỡ ấy giống như hạt thầu dầu đặt vào trong lửa nóng nổ tách ra thành tiếng. Phàm là giải thoát thì không có việc như vậy, như bình báu bằng Kim Cương thật thì không có tiếng nứt vỡ. Giả sử vô lượng trăm ngàn người đều chung bắn vào bình báu đó cũng không thể hoại được. Không tiếng bình vỡ dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như người nghèo cùng nợ vật của người khác nên bị người khác trói buộc, cùm khóa, đánh phạt, chịu nhiều khổ độc. Phàm trong giải thoát không có việc như vậy, không có nợ nần. Giống như ông trưởng giả có nhiều của báu nhiều vô lượng vô số ức, thế lực tự tại, chẳng mắc nợ người khác. Phàm là giải thoát cũng lại như vậy, có nhiều vô lượng của cải pháp quí báu, thế lực tự tại, không có nợ nần. Không nợ nần ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, Giải thoát gọi là không bức thiết. Như ngày xuân sống với nóng, ngày hè ăn vị ngọt, ngày đông tiếp xúc với lạnh giá. Trong Chân Giải thoát không có những việc không vừa ý như vậy. Không bức thiết là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, không bức thiết thì ví như có người ăn no thịt cá mà lại uống sữa. Người này tức là cận kề với cái chết chẳng lâu. Trong Chân Giải thoát không có việc như vậy. Người này nếu được thuốc hay cam lộ thì hoạn nạn được tiêu trừ. Chân Giải thoát thì cũng lại như vậy. Thuốc hay cam lộ là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai Sao gọi là bức thiết và chẳng bức thiết vậy? - Ví như kẻ phàm phu ngã mạn tự cao mà dấy ý niệm này: “Trong tất cả vật thì ai có thể hại ta”. Hắn liền bắt lấy rắn, cọp, trùng độc thì ông phải biết rằng, người này chẳng hết thọ mạng thì cũng chết “bất đắc kỳ tử”. Trong Chân Giải thoát không có việc như vậy. Chẳng bức thiết thì như ngọc thần sở hữu của vua Chuyển Luân có thể hàng phục sâu bọ, chín mươi sáu thứ những độc trùng, v.v... Nếu có người nghe mùi thơm của ngọc thần này thì các thứ độc đều bị tiêu diệt. Chân Giải thoát cũng lại như vậy, đều xa lìa hết hai mươi lăm thứ “hữu”. Ðộc tiêu diệt là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, chẳng bức thiết thì ví như hư không, Giải thoát cũng vậy. Hư không đó là dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, bức thiết thì như gần với cỏ khô mà thắp đèn lửa thì dễ cháy bừng lên. Trong Chân Giải thoát không có việc như vậy. Lại chẳng bức thiết ví như mặt trời, mặt trăng chẳng bức thiết chúng sinh. Giải thoát cũng vậy, đối với các chúng sinh không có sự bức thiết. Không bức thiết là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, Giải thoát gọi là pháp không động, giống như oán, thân. Trong Chân Giải thoát không có việc như vậy. Lại, chẳng động thì như vua Chuyển Luân lại không có Thánh Vương làm thân hữu. Nếu lại có thân hữu thì không có chỗ này. Giải thoát cũng vậy, lại không có thân hữu. Nếu có thân hữu thì không có chỗ này. Vua không thân hữu đó ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp vậy. Lại, không động thì ví như áo tơ trắng dễ nhuộm màu. Giải thoát chẳng vậy. Lại, không động thì ví như hoa Bà Sư mà muốn khiến cho nó có mùi thối và màu xanh thì không có chỗ này. Giải thoát cũng vậy, muốn khiến cho nó có mùi thối và các sắc thì cũng không có chỗ này. Vậy nên Giải thoát tức là Như Lai. Lại Giải thoát thì gọi là hy hữu. Ví như trong nước mọc lên hoa sen thì chẳng phải là hy hữu. Trong lửa mà sinh ra hoa sen thì mới là hy hữu. Có người thấy hoa đó liền sinh ra vui mừng. Chân Giải thoát thì cũng lại như vậy, giải thoát ấy có người thấy thì lòng sinh ra vui mừng. Hy hữu đó là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai ấy tức là pháp thân. Lại, hy hữu thì ví như đứa trẻ chưa mọc răng, dần dần lớn lên, nhiên hậu răng mới mọc. Giải thoát chẳng vậy, không sinh mà chẳng sanh. Lại, Giải thoát thì gọi là hư tịch, không có bất định. Bất định thì như Nhất siễn đề, rốt ráo chẳng dời, phạm trọng cấm thì chẳng thành Phật đạo, không có chỗ này. Vì sao vậy? Vì nếu người này ở trong chánh pháp của Phật mà lòng được niềm tin thanh tịnh thì bấy giờ liền diệt Nhất siễn đề. Nếu người đó lại được làm Ưu bà tắc thì cũng có thể diệt Nhất siễn đề. Người phạm trọng cấm diệt được tội này rồi thì được thành Phật. Vậy nên nếu nói rằng, nhất định chẳng dời, chẳng thành Phật đạo thì không có chỗ này. Trong Chân Giải thoát không có việc diệt tận như vậy. Lại, hư tịch thì rơi vào pháp giới. Như tánh pháp giới tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát thì tức là Như Lai. Lại nữa, Nhất siễn đề nếu diệt hết thì chẳng được gọi là Nhất siễn đề. Sao gọi là Nhất siễn đề vậy? - Nhất siễn đề là đoạn diệt tất cả những căn bản thiện, lòng chẳng vin vào tất cả thiện pháp, thậm chí chẳng sinh ra một ý niệm thiện. Trong Chân Giải thoát đều không có việc này. Không việc này nên tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại, Giải thoát thì gọi là chẳng thể lường (bất khả lượng). Ví như đống thóc thì số lượng của nó có thể biết. Chân Giải thoát thì chẳng phải vậy. Ví như biển cả thì chẳng thể đo lường. Giải thoát cũng vậy, chẳng thể đo lường. Chẳng thể đo lường thì tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì gọi là pháp không lường (vô lượng pháp). Như một chúng sinh có nhiều nghiệp báo, Giải thoát cũng vậy, có quả báo không lường. Báo không lường tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì gọi là rộng lớn (quảng đại). Ví như biển cả không có gì ngang bằng. Giải thoát cũng vậy, không gì có thể ngang bằng. Không gì cùng ngang bằng tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là tối thượng. Ví như hư không tối cao không sánh. Giải thoát cũng vậy, tối cao không sánh. Cao không sánh tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì gọi là không thể qua (vô năng quá). Ví như chỗ trú của loài sư tử thì tất cả bách thú không thể qua. Giải thoát cũng vậy, không có gì có thể qua. Không thể qua tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là Vô thượng. Ví như phương Bắc là phương trên trong các phương. Giải thoát cũng vậy, là không có gì trên nó. Không có trên tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là trên cái không trên (vô thượng). Ví như phương Bắc đối với phương Ðông là trên Vô thượng. Giải thoát cũng vậy, không có “cái trên cái trên”. Không “cái trên cái trên” tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì gọi là Hằng pháp. Ví như thân của người, trời hủy hoại, mạng chung. Ðó gọi là hằng, chẳng phải chẳng hằng. Giải thoát cũng vậy, chẳng phải là chẳng hằng. Chẳng phải chẳng hằng tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là kiên thật (bền thật). Như Khư Ðà La Chiên đàn trầm thủy, tính của nó bền thật. Giải thoát cũng vậy, tính ấy kiên thật. Tính kiên thật tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là Bất hư (chẳng rỗng). Ví như tre trúc lau sậy, thể của nó rỗng thưa. Giải thoát chẳng vậy. Ông phải biết, Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là chẳng thể bẩn. Ví như tường vách chưa được tô sữa thì muỗi mòng ở trên đó dạo chơi.Nếu nó đã được tô sữa trang sức bằng văn hoa họa tiết, côn trùng nghe mùi thơm sực nức liền chẳng trụ trên đó nữa. Chẳng trụ như vậy là dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là vô biên. Ví như các tụ lạc đều có dấu hiệu bờ cõi, giải thoát chẳng vậy. Ví như hư không không có bờ cõi. Giải thoát cũng vậy, không có bờ cõi. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là chẳng thể thấy. Ví như dấu vết chim trong hư không khó thấy. Như vậy khó thấy là dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là thậm thâm (rất sâu). Vì sao vậy? Vì là chỗ chẳng thể vào của Thanh Văn, Duyên Giác. Chẳng thể vào tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, thậm thâm thì được sự cung kính của các đức Phật, Bồ tát. Ví như người con hiếu cúng dường cha mẹ được công đức thậm thâm. Công đức thậm thâm là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là chẳng thể thấy. Ví như có người chẳng tự thấy đỉnh đầu, giải thoát cũng vậy, Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể thấy được. Chẳng thể thấy tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là không nhà cửa (xá trạch). Ví như hư không không có nhà cửa, giải thoát cũng vậy. Nói nhà cửa là dụ cho hai mươi lăm cõi hữu. Không có nhà cửa là dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là chẳng thể lấy (bất khả thủ). Như trái cây A ma lặc thì con người có thể giữ lấy, Giải thoát chẳng vậy, chẳng thể giữ lấy. Chẳng thể giữ lấy tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là chẳng thể nắm (bất khả chấp). Ví như vật huyễn thì chẳng thể nắm giữ, giải thoát cũng vậy, chẳng thể nắm giữ. Chẳng thể nắm giữ tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì không có thân thể. Ví như có người mà thân thể sinh ra ghẻ lở và các ung thư, điên cuồng, khô cạn... Trong Chân Giải thoát không có những bệnh như vậy. Không những bệnh như vậy là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là một vị (mùi vị). Như sữa một vị, Giải thoát cũng vậy chỉ có một vị. Như vậy một vị tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là thanh tịnh. Như nước không có bùn, lắng đọng trong sạch, giải thoát cũng vậy, lắng đọng trong sạch. Lắng đọng trong sạch tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là một vị (mùi vị). Như mưa trong hư không thì một vị trong sạch. Một vị trong sạch là dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là trừ khước. Ví như trăng tròn đầy không có mây che, giải thoát cũng vậy, không có mây che. Không mây che tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là Tịch tịnh. Ví như có người bị bịnh sốt được chữa khỏi, thân trở nên tịch tịnh, giải thoát cũng vậy, thân được tịch tịnh. Thân được tịch tịnh tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát tức là bình đẳng. Ví như rắn độc, chuột, sói, ở ruộng hoang đều có lòng giết hại. Giải thoát chẳng vậy, không có lòng giết hại. Không có lòng giết hại tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, bình đẳng thì ví như lòng bình đẳng của cha mẹ đối với con cái. Giải thoát cũng vậy, tấm lòng ấy bình đẳng. Lòng bình đẳng tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là không chỗ khác (vô dị xứ). Ví như có người chỉ ở trong nhà cửa thanh tịnh thượng diệu mà lại không có chỗ khác. Giải thoát cũng vậy, không có chỗ khác. Không chỗ khác tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là tri túc (biết đủ). Ví như người đói gặp được bữa ăn ngon, ăn không chán, Giải thoát chẳng vậy, như ăn cháo sữa, lại không có gì cần. Lại không có gì cần là dụ cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là đoạn tuyệt. Như người bị trói, cắt dây trói, được thoát. Giải thoát cũng vậy, đoạn tuyệt tất cả kết phược của lòng nghi hoặc. Như vậy đoạn nghi tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là đến bờ kia (đáo bỉ ngạn). Ví như sông lớn có bờ này, bờ kia. Giải thoát chẳng vậy, tuy không có bờ này mà có bờ kia. Có bờ kia tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là mặc nhiên. Ví như biển cả, nước mênh mông cùng khắp, phát ra nhiều âm thanh, giải thoát chẳng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là mỹ diệu. Ví như mọi thứ thuốc có lẫn vị Ha lê lặc thì vị thuốc ấy đắng. Giải thoát chẳng vậy, vị nó như cam lồ. Vị như cam lồ là ví cho Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì trừ được các phiền não. Ví như thầy thuốc giỏi hòa hợp các vị thuốc, giỏi trị liệu mọi thứ bệnh. Giải thoát cũng vậy, có thể trừ khử phiền não. Trừ phiền não tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là không dồn ép. Ví như nhà nhỏ chẳng dung nạp được nhiều người, Giải thoát chẳng vậy, dung thọ được nhiều. Dung thọ được nhiều tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là diệt các ái, chẳng tạp dâm dục. Ví như nữ nhân nhiều những ái dục, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai như vậy không có tham dục, sân nhuế, ngu si, kiêu mạn, v.v... Lại nữa, Giải thoát gọi là không ái. Ái có hai thứ, một là ngã quỉ ái, hai là pháp ái. Chân giải thoát lìa khỏi ngã quỉ ái, thương xót chúng sinh nên có pháp ái. Như vậy Pháp ái tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát là lìa khỏi ngã, ngã sở. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp vậy. Lại nữa, Giải thoát tức là diệt tận, lìa khỏi sự tham của các hữu. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là Pháp vậy. Lại nữa, Giải thoát tức là cứu hộ, có thể cứu tất cả những người bố úy (kinh sợ). Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp vậy. Lại nữa, Giải thoát tức là chỗ về. Nếu có người qui y giải thoát như vậy thì chẳng tìm qui y chỗ khác. Ví như có người nương cậy vào vua thì chẳng cầu chỗ nương cậy khác. Tuy lại nương vào vua mà vẫn có chuyển động, nương cậy vào giải thoát thì không có chuyển động. Không động chuyển tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp vậy. Lại nữa, Giải thoát gọi là nhà cửa (ốc trạch). Ví như có người đi ở vùng khoáng dã thì có tai nạn nguy hiểm. Giải thoát chẳng vậy, không hiểm nạn. Không hiểm nạn tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát là vô sở ủy. Như vua sư tử đối với những bách thú (trăm loài thú), chẳng sinh ra bố úy. Giải thoát cũng vậy, đối với những ma chúng, chẳng sinh ra bố úy. Không bố úy tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì không có dồn ép. Ví như đường hiểm trở, thậm chí chẳng đủ hai người cùng đi, Giải thoát chẳng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát có chẳng dồn ép. Ví như có người sợ cọp, rơi xuống giếng, giải thoát chẳng vậy. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát có chẳng dồn ép. Ví như trong biển lớn mà bỏ chiếc thuyền rách nhỏ, được chiếc thuyền bền chắc, cỡi qua biển đến chỗ yên ổn, lòng được khoái lạc. Giải thoát cũng vậy, lòng được khoái lạc. Ðược khoái lạc tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát là nhổ bật các nhân duyên. Ví như nhân sữa được cao sữa, nhân cao sữa được váng sữa, nhân váng sữa được đề hồ. Trong chân giải thoát đều không có cái nhân này. Không nhân này tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì có thể điều phục kiêu mạn. Ví như vị vua lớn xem thường vua nhỏ, giải thoát chẳng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là pháp vậy. Lại nữa, Giải thoát thì điều phục những buông lung. Gọi buông lung là gọi người có nhiều tham dục, trong Chân Giải thoát không có danh tự đó. Không danh tự đó tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì có thể trừ khử vô minh. Như váng sữa thượng diệu trừ khử các cặn bẩn mới gọi là đề hồ. Giải thoát cũng vậy, trừ khử cặn vô minh, sinh ra chân minh. Như vậy chân minh tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là tịch tịnh thuần nhất không hai. Như con không dã tượng (một loài voi) độc nhất không có bạn bè. Giải thoát cũng vậy, độc nhất không hai. Ðộc nhất không hai tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là kiên thật (bền thật). Như thân, gốc của tre trúc, lau sậy, lúa, mè đều rỗng không mà hạt thì chắc thật. Ngoại trừ Phật Như Lai, kỳ dư người, trời đều chẳng chắc thật. Chân giải Giải thoát thì xa lìa tất cả những hữu lậu, v.v... Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là có thể hiểu rõ tăng ích đối với Ngã. Chân Giải thoát cũng lại như vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là bỏ các hữu. Ví như có người ăn rồi mà mửa ra, giải thoát cũng vậy, bỏ hết các hữu. Bỏ các hữu tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là quyết định. Như hương thơm của hoa Bà Sư không có trong bảy cánh hoa, giải thoát cũng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, giải thoát gọi là thủy đại (yếu tố nước). Ví như thủy đại đối với các đại thắng hơn là có thể thấm nhuần tất cả hạt giống cỏ cây. Giải thoát cũng vậy, có thể thấm nhuần tất cả các loài có sự sống. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là được vào. Như có môn hộ thì thông vào đường đi. Chỗ tính vàng thì vàng có thể được. Giải thoát cũng vậy, như môn hộ đó, tu vô ngã thì được vào trong. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là làm tốt. Ví như đệ tử theo đuổi thầy khéo vâng theo lời dạy bảo thì được gọi là làm tốt. Giải thoát cũng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là pháp xuất thế. Ðối với tất cả pháp thì nó ra khỏi và trên hết, như trong mọi vị thì váng sữa là hơn hết. Giải thoát cũng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là chẳng động. Ví như cửa cài then thì gió chẳng thể động. Chân Giải thoát cũng lại như vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là không ba đào (sóng gió). Như biển cả kia, nước biển ấy nổi ba đào, Giải thoát chẳng vậy. Như vậy Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát ví như cung điện, Giải thoát cũng vậy. phải biết là Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là sở dụng. Ví như vàng Diêm phù đàn, có nhiều công dụng, không ai có thể nói vàng đó lỗi xấu. Giải thoát cũng vậy, không có lỗi xấu. Không có lỗi xấu tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát thì bỏ hành động trẻ con. Ví như người lớn bỏ hành vi của đứa trẻ, Giải thoát cũng vậy, trừ bỏ năm ấm. Trừ bỏ năm ấm tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là cứu cánh. Như kẻ bị trói buộc, rồi từ trói buộc được thoát ra, tắm rửa thanh tịnh, nhiên hậu mới trở về nhà. Giải thoát cũng vậy, rốt ráo thanh tịnh. Rốt ráo thanh tịnh tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát là không tạo tác niềm vui. Không tạo tác niềm vui vì đã thổ ra tham dục, sân nhuế, ngu si. Ví như có người uống nhầm thuốc độc, vì trừ độc nên liền ói thuốc ra. Ðã ói được thuốc ra thì độc liền trừ khỏi, thân được yên vui. Giải thoát cũng vậy, thổ ra các thứ độc kết phược phiền não thì thân được an lạc, gọi là không tạo tác niềm vui. Không tạc tác niềm vui tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là đoạn tuyệt bốn thứ rắn độc phiền não. Ðoạn phiền não tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là lìa các hữu, diệt tất cả khổ, được tất cả vui, đoạn tuyệt vĩnh viễn tham dục, sân nhuế, ngu si, nhổ đứt tất cả gốc rễ của phiền não. Nhổ gốc rễ tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là đoạn tuyệt tất cả pháp hữu vi, sinh ra tất cả pháp thiện vô lậu, đoạn tuyệt, bế tắc các đường, những điều như là ngã, vô ngã, phi ngã, phi vô ngã... chỉ đoạn dứt thủ trước, chẳng đoạn dứt ngã kiến. Ngã kiến thì gọi là Phật tính. Phật tính tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là “bất không không”. Không không thì gọi là không sở hữu, không sở hữu thì tức là sự cho là giải thoát của bọn ngoại đạo Ni Kiền Tử, v.v... mà thật ra bọn Ni Kiền Tử, v.v... mà thật ra bọn Ni Kiền Tử này không có giải thoát nên gọi là không không. Chân Giải thoát thì chẳng như vậy, nên chẳng không không. Chẳng không không tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là không chẳng không. Như cái bình đựng nước, rượu, sữa, cao sữa, váng sữa, mật, v.v... Tuy khi bình ấy không có nước, rượu, cao sữa, váng sữa, mật nhưng vẫn được gọi là bình nước, rượu, v.v... mà những bình này chẳng thể nói là không và là chẳng không. Nếu nói rằng không thì chẳng được có sắc, hương, vị, xúc. Nếu nói rằng chẳng không mà lại không có thật nước, rượu, v.v... Giải thoát cũng vậy, chẳng thể nói sắc và cả chẳng phải sắc, chẳng thể nói không và cả chẳng không. Nếu nói rằng không thì chẳng được có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Nếu nói rằng chẳng không thì ai thọ hưởng cái Thường - Lạc - Ngã - Tịnh này. Do cái nghĩa đó nên chẳng thể nói không và cả chẳng không. Không nghĩa là không có hai mươi lăm cõi hữu và các phiền não, tất cả khổ, tất cả tướng, tất cả hạnh hữu vi. Như bình không có cao sữa thì gọi là không. Chẳng không nghĩa là thiện sắc chân thật, Thường - Lạc - Ngã - Tịnh chẳng động, chẳng biến giống như sắc, hương, vị, xúc của cái bình kia nên gọi là chẳng không. Vậy nên, Giải thoát ví như cái bình kia. Cái bình kia gặp duyên thì lại tan vỡ, Giải thoát chẳng vậy, chẳng thể bị phá hoại. Chẳng thể phá hoại tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Lại nữa, Giải thoát gọi là ly ái. Ví như có người, lòng yêu thích hy vọng Thích Ðề Hoàn Nhân, Ðại Phạm Thiên Vương, Tự Tại Thiên Vương. Giải thoát chẳng vậy, nếu được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác rồi thì không ái, không nghi. Không ái, không nghi tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Nếu nói rằng giải thoát có ái, nghi thì không có điều đó. Lại nữa, Giải thoát là đoạn dứt những hữu tham, đoạn dứt tất cả tướng, tất cả trói buộc, tất cả phiền não, tất cả sinh tử, tất cả nhân duyên, tất cả quả báo... Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là Niết Bàn. Tất cả chúng sinh kinh sợ sinh tử, các phiền não nên thọ tam qui. Ví như bày nai kinh sợ người thợ săn mà đã được lìa khỏi. Nếu nó được một nhảy thì ví cho một qui. Như vậy ba nhảy thì ví cho tam qui. Do ba nhảy nên được hưởng thọ an lạc. Chúng sinh cũng vậy, kinh sợ thợ săn ác, bốn ma nên thọ tam qui y. Nhờ tam qui y nên chúng sinh được an lạc. Thọ an lạc tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai. Như Lai tức là Niết Bàn. Niết Bàn tức là vô tận. Vô tận tức là Phật tính. Phật tính tức là quyết định. Quyết định tức là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu Niết Bàn, Phật tính, Quyết định, Như Lai là một nghĩa thì sao nói rằng có tam qui y?

Ðức Phật dạy ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh kinh sợ sinh tử nên cầu Tam qui. Nhờ Tam qui nên biết Phật tính, Quyết định, Niết Bàn. Này thiện nam tử! Có pháp danh một nghĩa khác (Danh nhất nghĩa dị), có pháp danh nghĩa đều khác (Danh nghĩa câu dị). Danh một nghĩa khác là Phật thường (trụ), Pháp thường, Tỳ kheo Tăng thường, Niết Bàn, Hư không đều cũng là thường. Ðó gọi là Danh một nghĩa khác. Danh nghĩa đều khác là Phật tên là giác, pháp tên là bất giác, Tăng tên là hòa hợp, Niết Bàn tên là giải thoát, hư không tên là phi thiện, cũng tên là vô ngại. Ðó là danh nghĩa đều khác. Này thiện nam tử! Tam qui y cũng lại như vậy, danh nghĩa đều khác. Sao gọi là một? Vậy nên ta bảo Ma ha ba Xà Ba Ðề Kiều Ðàm Di chớ cúng dường cho ta, phải cúng dường Tăng. Nếu cúng dường Tăng thì được đầy đủ cúng dường Tam Qui. Ma ha Ba Xà Ba Ðề liền đáp với ta rằng: “Trong chúng Tăng không Phật, không Pháp thì sao nói rằng, cúng dường chúng Tăng thì được đầy đủ cúng dường Tam qui?” Ta lại bảo rằng: “Dì cứ làm theo lời nói của tôi là cúng dường Phật. Cúng dường vì giải thoát tức là cúng dường Pháp. Chúng Tăng hưởng thọ sự cúng dường tức là cúng dường Tăng”. Này thiện nam tử! Vậy nên Tam Qui chẳng được là một. Này thiện nam tử! Như Lai hoặc có khi nói một là ba, có khi nói ba là một. Nghĩa như vậy là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là điều hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác.

Ngài Ca Diếp lại bạch rằng:

- Như lời nói của đức Phật thì rốt ráo an lạc gọi là Niết Bàn, ý nghĩa này thế nào? Bàn về Niết Bàn là xả thân, xả trí. Nếu xả thân, xả trí thì ai sẽ thọ lạc?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ví như có người ăn rồi, buồn nôn muốn ói, đi ra ngoài. Ðã nôn ra rồi mà lại muốn quay trở lại, đồng bạn hỏi người đó rằng: “Ông nay hoạn nạn đã qua, có bớt bệnh không mà lại quay trở lại?” Ðáp rằng: “Ðã bớt rồi, thân được yên vui”. Như Lai cũng vậy, rốt ráo xa lìa hai mươi lăm cõi hữu, vĩnh viễn được chỗ Niết Bàn an vui, chẳng thể động chuyển, không có tận diệt, đoạn tuyệt tất cả thọ, gọi là không thọ lạc. Như vậy không thọ lạc gọi là Thường Lạc. Nếu nói Như Lai có thọ lạc thì không có điều đó. Vậy nên niềm vui rốt ráo tức là Niết Bàn. Niết Bàn tức là Chân Giải thoát. Chân Giải thoát tức là Như Lai.

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Chẳng sinh, chẳng diệt là giải thoát sao?

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Chẳng sinh, chẳng diệt tức là giải thoát. Như vậy giải thoát tức là Như Lai!

Ngài Ca Diếp lại bạch rằng:

- Nếu chẳng sinh diệt là giải thoát thì tính hư không cũng không sinh diệt nên chính là Như Lai. Như vậy tính Như Lai tức là giải thoát?

Ðức Phật dạy ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Việc này chẳng vậy!

- Thưa đức Thế Tôn! Vì sao chẳng vậy?

- Này thiện nam tử! Như chim Ca lan già và chim Cộng mạng, tiếng hót của chúng thanh diệu há có thể đồng với tiếng kêu của chim quạ, chim Bồ các chăng?

- Chẳng đồng, thưa đức Thế Tôn!

- Tiếng của chim Quạ, chim Bồ các sánh với tiếng của chim Cộng mạng, v.v... dù cho nhân lên trăm, ngàn, vạn lần cũng chẳng thể so sánh được.

Ngài Ca Diếp lại bạch rằng:

- Chim Ca lan già, v.v... tiếng của chúng vi diệu, thân cũng chẳng đồng thì làm sao đức Như Lai đem so sánh chúng với chim Quạ, chim Bồ các? Không khác gì đem hạt cải so sánh với núi Tu Di? Phật cùng với hư không cũng lại như vậy. Tiếng kêu của chim Ca lan già có thể ví cho âm thanh của Phật, chẳng thể đem dụ cho tiếng kêu của chim Quạ, chim Bồ các.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay khéo giải điều thậm thâm khó giải! Như Lai, có lúc vì nhân duyên nên dẫn hư không kia để ví cho giải thoát. Như vậy giải thoát tức là Như Lai. Chân giải thoát thì tất cả người trời không thể lấy làm ví dụ, mà hư không này thật ra chẳng phải dụ cho giải thoát ấy được, nhưng vì giáo hóa chúng sinh nên dùng hư không, chẳng phải dụ để làm ví dụ. Ông phải biết, giải thoát tức là Như Lai. Tính của Như Lai tức là giải thoát. Giải thoát, Như Lai không hai, không khác. Này thiện nam tử! Chẳng phải dụ là như vật không so sánh được, chẳng thể dẫn dụ được. Nhưng có nhân duyên nên có thể được dẫn dụ, như trong Kinh nói, diện mạo đoan chánh như trăng tròn đầy. Voi trắng tươi đẹp thanh khiết giống như núi Tuyết. Trăng tròn đầy chẳng được ví đồng với mặt. Núi Tuyết chẳng được ví là bạch tượng. Này thiện nam tử! Chẳng thể dùng dụ để ví cho Chân Giải thoát, nhưng vì hóa độ chúng sinh nên làm ra dụ vậy. Nhờ các thí dụ nên biết các pháp tính đều cũng như vậy.

Ngài Ca Diếp lại bạch rằng:

- Sao gọi là Như Lai tạo ra hai thứ nói?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ví như có người nắm giữ dao, kiếm, do lòng sân nhuế muốn hại Như Lai. Như Lai vui hòa, không sắc diện sân giận thì người đó có sẽ hoại được Như Lai tạo thành tội nghịch không?

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng thành vậy! Vì sao vậy? Vì thân giới của đức Như Lai chẳng thể hoại. Sở dĩ vì sao? Vì không có thân tụ, chỉ có pháp tính mà tính của pháp tính về lý chẳng thể hoại thì người đó làm sao có thể hoại thân Phật? Trực tiếp do tâm ác nên thành tội vô gián. Do nhân duyên dẫn các thí dụ đó nên biết được thật pháp!

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðiều muốn nói của ta, ông nay đã nói rồi. Lại, này thiện nam tử! Ví như người ác muốn hại mẹ mình. Hắn trụ ở đồng ruộng, tại dưới đống lúa. Người mẹ vì hắn đưa cơm. Hắn thấy mẹ rồi liền sinh tâm hại, bèn mài dao trước. Người mẹ biết rồi liền nhảy vào trong đống lúa. Người ấy cầm dao chạy quanh đống lúa phạt vào. Phạt vào rồi vui mừng, sinh ra tư tưởng giết hại xong thì mẹ hắn xuất hiện, trở về đến trong nhà. Ý ông thế nào? Người đó có thành tựu tội vô gián không?

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳng thể nói dứt khoát được! Vì sao vậy? Vì nếu nói có tội thì thân người mẹ nên hoại thân mà nếu chẳng hoại thì làm sao nói rằng có? Nếu nói không tội mà đã sinh tư tưởng giết hại, lòng mang vui mừng thì sao nói rằng không? Người này tuy chẳng đầy đủ tội nghịch mà cũng chính là nghịch. Do nhân duyên dẫn các thí dụ đó mà được biết thật pháp!

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Vì nhân duyên đó mà ta nói đủ thứ phương tiện thí dụ để ví cho giải thoát. Ta tuy dùng vô lượng A tăng kỳ dụ mà thật chẳng thể lấy dụ làm so sánh. Hoặc có nhân duyên cũng có thể dùng dụ để nói. Hoặc có nhân duyên chẳng thể dẫn ra thí dụ. Vậy nên giải thoát thành tựu vô lượng công đức như vậy, hướng đến Niết Bàn. Niết Bàn Như Lai cũng có vô lượng công đức như vậy. Do vô lượng công đức thành tựu viên mãn như vậy, v.v... nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nay bắt đầu biết được chỗ đến của đức Như Lai là không có tận. Chỗ đến nếu không tận thì phải biết rằng, thọ mạng cũng nên không tận.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay giỏi có thể hộ trì chánh pháp! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn đoạn trừ những trói buộc phiền não thì phải tạo tác sự hộ trì Chánh pháp như vậy.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ năm hết –


6/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Sáu

PHẨM TỨ Y (BỐN NƯƠNG) Thứ Tám

- Ðức Phật lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Trong Kinh vi diệu Ðại Bát Niết Bàn này, có bốn thứ người có thể hộ trì Chánh pháp, kiến lập Chánh pháp, nhớ nghĩ Chánh pháp, có thể đem nhiều lợi ích, thương xót thế gian, làm chỗ nương tựa cho thế gian, đem an vui cho người, trời. Những gì là bốn? Có người ra đời đủ tính phiền não, đó là thứ nhất. Người Tu đà hoàn, người Tư đà hàm, đó là thứ hai. Người A na hàm, đó là thứ ba. Người A la hán, đó là thứ tư. Bốn thứ người đó xuất hiện ở đời thì họ có thể đem nhiều lợi ích và thương xót thế gian, làm chỗ nương tựa cho thế gian, đem an vui cho trời.

Sao gọi là đủ tính phiền não? Nếu có người có thể phụng trì cấm giới, uy nghi đầy đủ, kiến lập Chánh pháp, từ chỗ Phật nghe giải ý nghĩa ấy, rồi chuyển vì người khác phân biệt tuyên nói. Như nói rằng, ít dục chính là đạo, đa dục chẳng phải đạo, rộng nói tám điều giác ngộ của bậc đại nhân như vậy. Có người phạm tội thì dạy bảo khiến cho họ phát lộ sám hối, diệt trừ. Giỏi biết hành động phương tiện, pháp bí mật của Bồ tát. Ðó gọi là phàm phu, chẳng phải người thứ tám. Người thứ tám thì chẳng gọi là phàm phu mà gọi là Bồ tát, chẳng gọi là Phật.

Người thứ hai gọi là Tu đà hoàn, Tư đà hàm. Nếu người này được Chánh pháp, thọ trì Chánh pháp, theo Phật nghe pháp, theo đúng như điều đã nghe ấy mà ghi chép, thọ trì, đọc tụng, rồi chuyển vì người khác giảng nói. Nếu nghe pháp rồi mà người ấy chẳng ghi chép, chẳng thọ trì, chẳng giảng nói mà nói rằng, nô tỳ... những vật bất tịnh được Phật cho phép nuôi thì không có điều này. Ðó gọi là người thứ hai. Người như vậy chưa được trụ xứ thứ hai, thứ ba thì gọi là Bồ tát đã được thọ ký.

Người thứ ba gọi là A na hàm. A na hàm mà bài báng Chánh pháp, hoặc nói rằng cho phép nuôi nô tỳ, người sai khiến... vật bất tịnh, thọ trì sách luận, điển tịch của ngoại đạo và bị sự ngăn che của khách trần phiền não, bị sự che phủ của các nghiệp phiền não, hoặc che giấu xá lợi chân thật của Như Lai và bị sự não hại của ngoại bệnh, hoặc bị sự lấn lướt của bốn con rắn độc lớn, luận nói về ngã... thì đều không có điều này. Nếu nói vô ngã thì có điều này. Nói đắm trước thế pháp thì không có điều này. Nếu người này nói Ðại Thừa nối tiếp nhau chẳng dứt thì có điều này. Người này nếu đã thọ thân thì có tám vạn loài trùng cũng không có điều này. Người đó vĩnh viễn lìa khỏi dâm dục, thậm chí trong mơ cũng chẳng mất bất tịnh thì có điều này. Ngày lâm chung, người ấy sinh ra sợ hãi cũng không có điều này. A na hàm là nghĩa làm sao? Nghĩa là người này chẳng trở lại. Như trên đã nói, những lỗi hoạn sẵn có vĩnh viễn chẳng thể nhiễm ô, qua lại xoay vòng thì gọi là Bồ tát đã được thọ ký, chẳng bao lâu được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó gọi là người thứ ba vậy.

Người thứ tư gọi là A la hán. A la hán thì đoạn tuyệt các phiền não, bỏ được gánh nặng, đạt được lợi mình, việc phải làm đã hoàn thành, trụ ở Ðệ Thập Ðịa, được trí tự tại, tùy theo sự ưa thích của người mà hiện đủ thứ sắc tượng, đều có thể thị hiện đúng như sự trang nghiêm của họ, muốn thành Phật đạo thì liền có thể được thành. Người có thành tựu vô lượng công đức như vậy thì gọi là A la hán. Tên bốn người này xuất hiện ở đời thì có thể lợi ích, thương xót nhiều cho thế gian, làm chỗ nương tựa của thế gian, đem an vui cho người trời, ở trong người trời là tối tôn, tối thắng, giống như Như Lai gọi là bậc Nhân Trung Thắng, là chỗ qui y.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nay chẳng nương vào bốn thứ người này. Vì sao vậy? Vì như trong Kinh Cù Sư La, đức Phật vì Cù Sư Ca nói rằng: “Nếu Thiên ma, Phạm thiên vì muốn phá hoại mà biến làm hình dáng Phật với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm, với vòng sáng tròn một tầm, mặt viên mãn giống như vầng trăng tròn sáng, tướng bạch hào ở mi gian trắng vượt cả ngọc kha trắng như tuyết. Chúng trang nghiêm như vậy hướng đến ông thì ông phải kiểm nghiệm định liệu xem hình tướng ấy hư hay thật. Ðã hiểu biết rồi thì ông phải hàng phục”. Thưa đức Thế Tôn! Ma, v.v... còn có thể biến làm hình dáng đức Phật, huống gì chúng chẳng có thể biến làm thân bốn thứ người, A la hán, v.v... nằm ngồi trong không, hông trái tuông ra nước, hông phải phát ra lửa, toàn thân phát ra khói lửa giống như đám cháy. Do nhân duyên này, con ở trong hoàn cảnh đó, lòng chẳng sinh ra niềm tin, hoặc có điều nói ra, con chẳng thể bẩm thọ, cũng không có ý niệm cung kính mà tạo tác sự y chỉ!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðối với lời nói của ta nếu còn sinh nghi hoặc thì chẳng nên tín thọ, huống gì là lời của những bọn như vậy. Vậy nên ông phải khéo phân biệt biết là thiện hay bất thiện, là có thể làm hay chẳng thể làm. Tạo tác được như vậy rồi thì mãi hưởng thụ niềm vui. Này thiện nam tử! Ví như chó trộm đang đêm vào nhà người. Nô tỳ, người làm của gia đình ấy nếu hay biết thì nên xua đuổi mắng rằng: “Người mau đi ra! Nếu chẳng ra thì ta giết chết ngươi!” Chó trộm nghe rồi liền đi khỏi, chẳng quay trở lại. Các ông từ nay cũng nên hàng phục ma Ba Tuần như vậy. Các ông nên nói rằng: “Này Ba Tuần! Ngươi nay chẳng nên biến làm hình tượng như vậy! Nếu cố tình làm thì ta sẽ dùng năm trói buộc để trói buộc ngươi!” Ma nghe thế rồi liền phải đi trở về, như con chó trộm kia chẳng quay trở lại nữa.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật vì ông trưởng giả Cù Sư La nói mà nếu có thể hàng phục ma như vậy thì cũng có thể được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Ðức Như Lai hà tất nói bốn người này là chỗ y chỉ. Như vậy lời nói của bốn người này chưa nhất định đáng tin.

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Như lời nói của ông cũng lại như vậy, chẳng phải là chẳng vậy! Này thiện nam tử! Ta vì hàng Thanh Văn có nhục nhãn, nói về việc hàng ma, chớ chẳng vì người tu học Ðại Thừa mà nói đâu! Người Thanh Văn tuy có thiên nhãn mà gọi là nhục nhã, người học Ðại Thừa tuy có nhục nhãn mà gọi là Phật nhãn. Vì sao vậy? Vì Kinh Ðại Thừa đó gọi là Phật thừa mà như Phật thừa này là tối thượng, tối thắng. Này thiện nam tử! Ví như có người dũng kiện uy mãnh thì có người khiếp nhược thường đến nương cậy. Người dũng kiện ấy thường dạy người khiếp nhược rằng: “Ông phải như vầy cầm cung, nắm tên, tu học đường giáo, câu liêm dài, dây tơ trói...” Người ấy lại bảo rằng: “Phàm chiến đấu thì tuy như giầy xéo chém giết nhưng chẳng nên tự sinh ra ý niệm kinh sợ, phải nhìn người, trời mà sinh tư tưởng khinh thường, nên tự sinh ý dũng kiện ở trong lòng. Hoặc khi có người không can đảm dũng mãnh mà trá làm kiện tướng nắm giữ cung tên, đao kiếm, đủ thứ binh khí để tự trang nghiêm, đi đến trong trận thì tiếng khích lệ hô to. Ông đối với hạng người này cũng lại chẳng nên sinh ra lo sợ”. Hạng người như vậy nếu thấy các ông chẳng kinh sợ. Các ông phải biết, hạng người này chẳng bao lâu sẽ tan hoại như con chó trộm kia. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, bảo các Thanh Văn rằng: “Các ông chẳng nên sợ ma Ba Tuần! Nếu ma Ba Tuần hóa làm thân Phật đến chỗ các ông thì các ông phải tinh cần kiên cố lòng mình khiến cho ma đó hàng phục. Ma liền phải lo buồn chẳng vui, trở lại đường mà đi. Này thiện nam tử! Như người dũng kiện kia chẳng theo người khác tập tành, người học Ðại Thừa cũng lại như vậy, được nghe đủ thứ kinh điển thâm mật, lòng họ hân hoan chẳng sinh ra kinh sợ. Vì sao vậy? Vì người tu học Ðại Thừa như vậy đã từng cúng dường cung kính lễ bái vô lượng vạn ức đức Phật đời quá khứ. Tuy có vô lượng ức ngàn ma chúng muốn đến xâm hại quấy nhiễu, ở trong việc này, nhất định người học Ðại Thừa chẳng kinh sợ. Này thiện nam tử! Ví như có người được thuốc A Kiệt Ðà thì chẳng sợ tất cả rắn độc. Vì rắn sợ dược lực đó nên cũng có thể tiêu trừ tất cả các độc. Kinh Ðại Thừa này cũng lại như vậy, như dược lực kia, chẳng sợ tất cả các ma ác độc, cũng có thể hàng phục khiến cho chúng chẳng khởi lên nữa.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có con rồng, tính rất tệ ác, khi muốn hại người, hoặc dùng mắt nhìn, hoặc dùng cách hà hơi. Vậy nên tất cả sư tử, cọp báo, sài lang, chó dữ... đều sinh ra sợ hãi. Những loài ác thú đó nghe tiếng, thấy hình, hoặc chạm vào thân ấy không loài nào chẳng táng mạng. Có người giỏi về chú thuật, dùng lực của chú nên có thể khiến cho các rồng, chim cánh vàng ác độc và những ác thú voi, sư tử, cọp beo, sài lang, v.v... trở nên nhu thuận điều thiện, đều mặc cho người điều khiển. Những ác thú như vậy thấy người giỏi chú thuật đó liền điều phục. Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy, thấy ma Ba Tuần đều sinh ra kinh sợ mà ma Ba Tuần thì lại chẳng sinh lòng sợ sệt, còn làm nghiệp ma nữa. Người học Ðại Thừa cũng lại như vậy, thấy các Thanh Văn kinh sợ việc ma, đối với Ðại Thừa này chẳng sinh ra tín lạc thì trước dùng phương tiện hàng phục các ma, khiến cho chúng điều thiện, đủ sức chuyên chở. Rồi nhân đó vì chúng nói rộng rãi đủ thứ diệu pháp. Thanh Văn, Duyên Giác thấy ma điều phục rồi thì chẳng sinh sợ hãi nữa mà đối với Chánh pháp Vô thượng Ðại Thừa này mới sinh ra tín lạc. Họ nói lên như vầy: “Chúng ta từ nay chẳng nên ở trong chánh pháp này mà tạo tác chướng ngại”. Lại nữa, này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác đối với các phiền não mà sinh sợ hãi, còn người học Ðại Thừa thì đều không sợ sệt. Học Ðại Thừa thì có lực như vậy. Do nhân duyên này, như trước đã nói, vì muốn khiến cho Thanh Văn, Duyên Giác kia điều phục các ma, chẳng phải vì Ðại Thừa. Kinh điển vi diệu Ðại Niết Bàn này chẳng thể tiêu phục! Rất lạ kỳ! Rất đặc biệt! Nếu có người nghe mà nghe rồi tín thọ thì có thể tin Như Lai là pháp thường trụ. Người như vậy rất là hy hữu, như hoa Ưu đàm! Sau khi ta Niết Bàn, nếu có người được nghe kinh điển Ðại Thừa vi diệu như vậy mà sinh lòng tin, cung kính thì phải biết rằng, những người này vào đời vị lai, trăm ngàn ức kiếp, chẳng rơi vào đường ác.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn, sẽ có trăm ngàn vô lượng chúng sinh bài báng, chẳng tin Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này!

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Xa hay gần sau khi đức Phật diệt độ thì những chúng sinh này sẽ bài báng Kinh đó? Thưa đức Thế Tôn! Lại có những chúng sinh thuần thiện nào sẽ có thể cứu vớt những kẻ bài báng pháp này?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn trong vòng bốn mươi năm thì Kinh này lưu hành trải khắp cõi Diêm Phù Ðề. Nhiên hậu kinh mới ẩn chìm dưới đất. Này thiện nam tử! Ví như mía ngọt, gạo lúa nước (gạo ngon), đường táng, váng sữa, cao sữa, đề hồ... tùy theo chỗ có chúng mà nhân dân nơi ấy đều cho rằng, thứ này là vị ngon đệ nhất trong các vị. Hoặc có người ăn thuần gạo lúa tẻ và hạt kê. Người đó cũng nói rằng, món ăn của ta là tối đệ nhất, đó là người bạc phước chịu nghiệp báo vậy. Nếu là người phước đức thì ngay cả tai họ cũng chẳng nghe đến tên của gạo tẻ, hạt kê mà món ăn của họ chỉ toàn là gạo ngon, mía ngọt, đường, đề hồ... Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, kẻ độn căn, bạc phước chẳng ưa lắng nghe như người bạc phước ghét gạo ngon và đường, v.v... Người của Nhị thừa cũng lại như vậy, ghét kinh Ðại Niết Bàn Vô thượng. Hoặc có chúng sinh mà tâm họ vui thích thính thọ Kinh này nghe rồi vui mừng, chẳng sinh ra bài báng, như người phước đức kia ăn toàn gạo ngon.

Này thiện nam tử! Ví như có vị vua ở tại vùng núi sâu, chỗ ác đầy hiểm nạn, tuy có mía ngọt, gạo ngon, đường, nhưng do khó được chúng nên tham tiếc, gom chứa chẳng dám ăn. Vua sợ hết những thứ ấy nên chỉ ăn gạo tẻ, hạt kê. Có vị quốc vương khác nghe mà thương xót, liền dùng xe chở gạo ngon, mía ngọt mà đem cho vị vua đó. Vị vua ấy nhận được rồi liền đem phân phát cho cả nước ăn chung. Nhân dân đã ăn rồi đều phát sinh vui mừng, đều nói lên rằng: “Nhờ đức vua đó nên khiến cho chúng ta được món ăn hiếm có này”. Này thiện nam tử! Bốn thứ người này cũng lại như vậy, là vị tướng của đại pháp vô thượng này. Trong bốn thứ người đó, nếu có một người thấy vô lượng Bồ tát ở phương xa tuy học kinh điển Ðại Thừa như vậy, hoặc tự ghi chép, hoặc khiến người khác ghi chép vì lợi dưỡng, vì sự ngợi khen, vì lý do tìm hiểu giáo pháp, vì y chỉ, vì dùng để trao đổi (mua bán) những kinh khác mà chẳng thể người khác tuyên nói rộng rãi. Vậy nên người ấy đem kinh điển vi diệu này đưa đến địa phương đó cho vị Bồ tát kia, khiến cho họ phát tâm Vô thượng Bồ Ðề, an trụ ở đạo Bồ Ðề. Vị Bồ tát đó được kinh này rồi liền vì người khác diễn nói rộng rãi, khiến cho vô lượng chúng sinh được thọ pháp vị Ðại Thừa như vậy. Tất cả đều nhờ sức của một vị Bồ tát này mà kẻ chưa nghe Kinh đều khiến cho được nghe, như nhân dân kia nhờ sức của vị vua nên được món ăn hiếm có. Lại nữa, này thiện nam tử! Chỗ đã lưu bố Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này, ông phải biết, đất chỗ ấy tức là Kim Cương, những người trong chỗ đó cũng như Kim Cương. Nếu có người có thể nghe Kinh như vậy tức là chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, tùy theo sở nguyện của người ấy đều được thành tựu. Như ta hôm nay đã có thể tuyên nói: “Này Tỳ kheo! Các ông nên khéo thọ trì!” Nếu có chúng sinh chẳng thể lắng nghe Kinh điển như vậy thì phải biết rằng, người này rất đáng thương xót. Vì sao vậy? Vì người đó chẳng thể thọ trì nghĩa thậm thâm của kinh điển Ðại Thừa như vậy!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sau khi đức Như Lai diệt độ, trong vòng bốn mươi năm, Kinh điển Ðại Niết Bàn Ðại Thừa này lưu hành trải rộng ở cõi Diêm Phù Ðề. Qua khỏi thời gian đó về sau kinh ẩn chìm vào đất, lùi sau bao lâu thì Kinh này sẽ xuất hiện trở lại?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu chánh pháp của ta còn chừng tám mươi năm thì trước bốn mươi năm, Kinh này lại sẽ ở cõi Diêm Phù Ðề mưa Ðại pháp vũ.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như vậy khi Kinh điển Chánh pháp diệt, khi Chánh giới (cấm) hủy, khi phi pháp tăng trưởng, khi không có chúng sinh như pháp (theo đúng pháp) thì ai có thể thính thọ, phụng trì, đọc tụng? Khiến cho những người ấy thông lợi, cúng dường, cung kính, ghi chép, giải nói? Kính xin đức Như Lai thương xót chúng sinh mà phân biệt, giảng nói rộng rãi, khiến cho các Bồ tát nghe rồi thọ trì, thọ trì rồi liền được chẳng thoái chuyển tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Nay ông khéo có thể hỏi nghĩa như vậy! Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Phật nhiều như cát sông Hi Liên phát tâm Bồ Ðề thì mới có thể ở cõi đời ác này thọ trì Kinh điển như vậy mà chẳng sinh ra bài báng. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng một lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, ưa thích Kinh điển đó mà chẳng thể vì người phân biệt diễn nói rộng rãi. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng hai lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng báng pháp này mà chánh giải tin ưa, thọ trì đọc tụng. Nhưng cũng lại chẳng thể vì người giảng nói rộng rãi. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng ba lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành kinh quyển, tuy có vì người khác diễn nói nhưng chưa giải được nghĩa sâu. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng bốn lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề rồi thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, vì người khác giảng nói rộng rãi được nghĩa một phần trong mười sáu phần, tuy có diễn nói những cũng chẳng đầy đủ. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng năm lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề rồi thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, rộng vì người giảng nói được nghĩa tám phần trong mười sáu phần. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng sáu lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, vì người khác rộng nói được mười hai phần nghĩa trong mười sáu phần. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng bảy lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, vì người khác diễn nói được mười bốn phần nghĩa trong mười sáu phần. Nếu có chúng sinh ở chỗ các đức Như Lai nhiều bằng tám lần cát sông Hằng, phát tâm Bồ Ðề thì nhiên hậu mới có thể ở trong cõi đời ác, chẳng bài báng pháp này, thọ trì, đọc tụng, chép thành Kinh quyển, cũng khuyên người khác khiến cho được sách chép, tự có thể thính thọ rồi lại khuyên người khác, khiến cho họ được thính thọ, đọc tụng, thông lợi, ủng hộ kiên trì, thương xót các chúng sinh của thế gian, cúng dường Kinh này, cũng khuyên người khác, khiến cho họ cúng dường. Cung kính, tôn trọng, đọc tụng, lễ bái cũng lại như vậy, có thể ý giải đầy đủ hết nghĩa vị của Kinh ấy, như là Như Lai thường trụ, chẳng biến dị, rốt ráo an vui, rộng nói chúng sinh đều có Phật tính, giỏi biết hết pháp tạng sở hữu của Như Lai, cúng dường các đức Phật như vậy rồi, kiến lập Chánh pháp vô thượng như vậy mà thọ trì ủng hộ. Nếu có người mới phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì phải biết người này ở đời vị lai nhất định có thể kiến lập chánh pháp như vậy mà thọ trì, ủng hộ. Vậy nên ông nay chẳng nên chẳng biết là người hộ pháp trong đời vị lai. Vì sao vậy? Vì người phát tâm này nhất định ở đời vị lai có thể hộ trì chánh pháp Vô thượng. Này thiện nam tử! Có vị ác Tỳ kheo nghe ta Niết Bàn, chẳng sinh ra lo buồn mà nghĩ rằng: “Ngày hôm nay đức Như Lai Bát Niết Bàn, sao mà khoái thay! Ðức Như Lai tại thế ngăn lợi dưỡng của chúng ta. Này ngài vào Niết Bàn thì còn có ai sẽ ngăn đoạt ta. Nếu không người ngăn đọat thì ta trở lại được lợi dưỡng như cũ. Ðức Như Lai tại thế cấm giới nghiêm ngặt, nay ngài vào Niết Bàn thì sẽ buông bỏ hết. Việc thọ cà sa vốn là nghi thức của Phật thì nay sẽ phế hoại như cờ phan đầu cây”. Những người như vậy bài báng chống lại Kinh điển Ðại Thừa này. Này thiện nam tử! Ông nay cần phải nhớ giữ như vậy. Nếu có chúng sinh thành tựu đầy đủ vô lượng công đức thì mới có thể tin Kinh điển Ðại Thừa này, tin rồi thọ trì. Bao chúng sinh còn lại, có người ưa pháp, nếu có thể vì họ giảng nói rộng rãi Kinh này. Những người ấy nghe rồi thì những nghiệp ác đã làm trong vô lượng A tăng kỳ kiếp đời quá khứ đều trừ diệt hết. Nếu có người chẳng tin Kinh điển này thì hiện tại thân họ sẽ bị sự não hại của vô lượng bịnh khổ, bị nhiều sự hủy nhục, mắng chửi của mọi người nhìn thấy, sau khi mạng chung bị người khác khinh khi, dung mạo xấu xí, hèn hạ, đời sống gian nan, thường chẳng đủ cung cấp. Họ tuy lại ít được thô sáp, tệ ác nhưng đời đời thường ở trong gia đình bần cùng hạ tiện, bài báng Chánh pháp, tà kiến. Nếu khi họ lâm chung thì hoặc gặp sự dấy khởi hoang loạn, đao binh, hoặc bị lấn hiếp, bức bách của đế vương bạo ngược, oán gia thù địch. Tuy có bạn lành mà họ chẳng gặp gỡ, nhu cầu đời sống cầu chẳng thể được. Tuy ít được lợi mà họ thường gặp nạn đói khát. Họ chỉ là hạng hiểu biết tầm thường mà quốc vương, đại thần đều chẳng chọn lấy. Giả sử lại có nghe lời tuyên nói của người ấy cho dù hợp lý đi nữa thì nhất định chẳng ai tín thọ. Người như vậy chẳng đến được chỗ tốt lành. Như con chim gẫy cánh chẳng thể bay đi, người này cũng vậy, vào đời vị lai, chẳng thể được đến chỗ tốt của người, trời. Nếu lại có người có thể tin Kinh điển Ðại Thừa như vậy thì dù trước đã thọ hình hài thô bỉ nhưng nhờ công đức của Kinh điển liền trở nên đoan chính, uy nhan, sắc lực ngày lại càng thêm nhiều, thường được sự ưa nhìn của người trời, được cung kính, ái niệm, tình không lìa bỏ. Quốc vương, đại thần và gia đình quyến thuộc nghe lời nói của người ấy đều cung kính, tín thọ. Nếu trong đệ tử Thanh Văn của ta muốn làm việc hy hữu đệ nhất thì phải vì thế gian rộng tuyên nói Kinh điển Ðại Thừa như vậy.

Này thiện nam tử! Ví như sương mù tuy muốn trụ lại nhưng chẳng qua khỏi mặt trời mọc. Mặt trời đã mọc rồi thì nó liền tiêu diệt không còn. Này thiện nam tử! Nghiệp ác sở hữu của những chúng sinh này cũng lại như vậy, thế lực, trụ thế của chúng chẳng qua được khi thấy mặt trời Ðại Niết Bàn. Mặt trời này mà đã xuất hiện thì có thể trừ diệt tất cả ác nghiệp.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, tuy mặc cà sa mà chưa được thọ mười giới Sa di. Hoặc có ông trưởng giả đến thỉnh chúng Tăng, người chưa thọ giới liền cùng với đại chúng đều chung nhận lời mời. Người này tuy chưa thọ giới nhưng đã rơi vào tăng số. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh phát tâm bắt đầu học Kinh điển Ðại Niết Bàn Ðại Thừa, chép, trì, đọc tụng cũng lại như vậy. Tuy họ chưa đầy đủ ngôi bậc Thập Trụ nhưng đã rơi vào trong số Thập Trụ. Hoặc có chúng sinh là đệ tử của Phật hoặc chẳng phải là đệ tử của Phật nếu nhân tham tiếc hoặc nhân lợi dưỡng mà thính thọ Kinh này thậm chí chỉ một câu kệ, nghe rồi chẳng bài báng thì ông phải biết rằng, người đó tức là đã gần với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Như vậy bốn hạng người như Phật đã nói mà cho rằng chẳng phải Phật nói thì không có điều này. Vậy nên ta nói bốn hạng người như vậy là chỗ nương của thế gian. Này thiện nam tử! Ông nên cúng dường bốn hạng người như vậy.

- Thưa đức Thế Tôn! Con sẽ làm sao biết được người đó mà vì họ cúng dường.

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Nếu có sự kiến lập, hộ trì chánh pháp thì nên theo khải thỉnh những người như vậy và phải xả bỏ thân mạng mà cúng dường họ, như ta đối với Kinh điển Ðại Thừa này nói rằng:

Có người biết pháp Hoặc trẻ hoặc già

Nên cúng dường họ Cung kính lễ bái

Như Bà la môn Phụng sự thần lửa.

Có người biết pháp Hoặc trẻ hoặc già

Nên cúng dường họ Cung kính lễ bái

Cũng như chư thiên Phụng sự Ðế Thích.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật thì cúng dường sư trưởng chính nên như vậy. Nhưng nay có điều nghi, nguyện xin đức Thế Tôn giảng nói rộng rãi! Nếu có bậc trưởng túc hộ trì cấm giới mà theo hàng niên thiếu hỏi han thọ lấy thì con chưa nghe thì làm sao người già đó phải kính lễ? Nếu phải kính lễ thì tức là họ chẳng gọi là trì giới vậy. Nếu là hàng niên thiếu hộ trì cấm giới mà theo những kẻ già cả phá giới hỏi han, thọ lấy thì con chưa nghe, thì có nên lễ bái không? Nếu người xuất gia theo người tại gia hỏi han thọ lấy thì con chưa nghe thì có phải lễ bái không? Nhưng mà người xuất gia chẳng nên lễ kính người tại gia, còn trong Phật pháp thì trẻ con ít tuổi cần phải cung kính bậc già cả trưởng túc. Do bậc trưởng túc này trước thọ đủ giới luật, thành tựu uy nghi nên cần phải cúng dường cung kính. Như đức Phật nói rằng, người phá giới ấy, là đã chẳng dung nạp, giống như ruộng tốt có nhiều cỏ bông kê. Lại nữa, như đức Phật nói, có người biết pháp hoặc già hoặc trẻ nên cúng dường như phụng sự Ðế Thích. Như vậy nghĩa của hai câu ấy ra sao? Chẳng phải là đức Như Lai nói hư vọng sao? Như đức Phật nói rằng, Tỳ kheo trì giới cũng có điều hủy phạm, vì sao đức Như Lai nói lời nói đó? Thưa đức Thế Tôn! Cũng ở trong các kinh khác nói cho phép sửa trị kẻ phá giới. Như vậy ý nghĩa ấy của lời nói, con chưa hiểu rõ!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ta vì các vị Bồ tát, những người học Ðại Thừa đời vị lai mà nói kệ như vậy, chứ chẳng vì các đệ tử Thanh Văn mà nói! Này thiện nam tử! Như trước ta đã nói, khi chánh pháp diệt, chánh giới hủy hoại, khi phá giới tăng trưởng phi pháp thịnh, khi tất cả Thánh nhân ẩn chẳng hiện, khi kẻ tu hành nhận nuôi nô tỳ, vật bất tịnh... thì trong bốn hạng người này sẽ có một người xuất hiện ở thế gian, cạo bỏ râu tóc, xuất gia tu đạo. Người ấy thấy các Tỳ kheo mỗi mỗi đều nhận nuôi nô tỳ, người sai bảo, vật bất tịnh... tịnh cùng bất tịnh tất cả chẳng biết, đúng luật, chẳng phải luật cũng lại chẳng nhận biết. Người này vì muốn điều phục những Tỳ kheo như vậy nên cùng chung hòa quang nhưng chẳng đồng trần với họ (hòa quang đồng trần: một hạnh tu nhập thế). Sự hành xử của mình và hành xử của Phật giỏi có thể phân biệt biết được. Người ấy tuy thấy những người phạm Ba la di nhưng mặc nhiên chẳng cử tội. Vì sao vậy? Vì ta ra đời là vì muốn kiến lập sự hộ trì chánh pháp. Vậy nên ta mặc nhiên mà chẳng bắt bẻ, sửa trị. Này thiện nam tử! Người như vậy là hộ pháp, tuy có chỗ phạm nhưng chẳng gọi là phá giới.

Này thiện nam tử! Ví như vị quốc vương mắc bệnh băng hà, vua kế vị còn nhỏ dại chưa đủ sức kế vị. Có người Chiên đà la giàu to, của cải thừa thải không lường, có nhiều quyến thuộc, liền dùng sức mạnh, nhân đất nước hư nhược, soán đọat ngôi vua. Hắn cai trị chưa lâu thì người trong nước, cư sĩ, Bà la môn, v.v... làm phản lánh xa, sang nước khác làm ăn. Tuy có người còn ở lại nhưng thậm chí mắt họ chẳng muốn nhìn vị vua đó. Hoặc có trưởng giả, Bà la môn, v.v... chẳng rời nước mình thì ví như các cây theo chỗ sinh sống của mình liền bị chết trong đó. Vua Chiên Ðà La biết người của nước mình đào tẩu làm phản, muốn mọi người trở về nên sai các Chiên đà la canh giữ các con đường. Rồi ở trong bảy ngày, ông cho đánh trống, xướng lệnh rằng: “Các Bà la môn có thể vì ta làm lễ quán đảnh thì sẽ phân nửa nước để phong thưởng cho!” Các Bà la môn tuy nghe lời nói đó nhưng đều không đến mà đều nói rằng: “Làm gì sẽ có hạng Bà la môn làm việc như thế?” Vua Chiên đà la lại nói lên rằng: “Trong hàng Bà la môn không có một người vì ta làm thầy thì ta cần phải làm cho các Bà la môn cùng với Chiên đà la sống chung, ăn ở, sự nghiệp đồng nhau. Nếu có người đến làm lễ quán đảnh cho ta thì phong cho nửa nước, lời này chẳng hư dối. Chú thuật, việc đạt đến trời thứ ba mươi ba, thuốc cam lộ bất tử thượng diệu, ta cũng sẽ chung nhau phân chia ăn uống.

Lúc bấy giờ, có con của một Bà la môn, ở tuổi đội mũ mềm (tuổi nhỏ), sửa trị tịnh hạnh, tướng để tóc dài, giỏi biết chú thuật, đi đến chỗ vua tâu rằng: “Thưa đại vương! Lời truyền của nhà vua, tôi đều có thể làm!”. Bấy giờ lòng vua ấy sinh ra vui mừng nhận đồng tử này làm quán đảnh sư. Các Bà la môn nghe việc này rồi đều sinh ra giận dữ, trách đồng tử này rằng: “Này Bà la môn! Sao ông nhận làm thầy của Chiên đà la?” Bấy giờ, vị vua ấy liền chia nửa nước cho đồng tử đó. Rồi cùng nhau cai trị nước trải qua một thời gian dài. Bấy giờ đồng tử nói với vị vua kia rằng: “Tôi bỏ gia pháp đến làm thầy của vua, đã dạy hết cho đại vương chú thuật vi mật mà nay đại vương còn chẳng thấy gần gũi”. Nhà vua đáp rằng: “Ta nay làm sao mà chẳng gần gũi với ngài vậy?” Ðồng tử đáp rằng: “Thuốc bất tử sở hữu của nhà vua trước đây còn chưa ăn chung với nhau”. Nhà vua nói rằng: “Hay thay! Hay thay! Thưa đại sư! Tôi thật chẳng biết! Nếu thầy cần thì tôi xin đem đến liền”. Khi đó, đồng tử nghe lời của vua nói rồi liền mang về nhà mời các vị đại thần cùng nhau ăn uống thuốc đó. Các đại thần ăn rồi chung tâu với vua rằng: “Khoái thay! Vị Ðại sư có thứ thuốc cam lộ bất tử đó!” Nhà vua đã biết rồi liền nói với vị sư ấy rằng: “Tại sao đại sư riêng cùng với các đại thần ăn uống cam lộ mà chẳng thấy phân chia cho ta!”. Bấy giờ đồng tử liền đem thuốc tạp độc còn lại cho nhà vua và bảo uống. Nhà vua uống rồi, trong giây lát thuốc phát làm mê loạn, ngã lăn xuống đất, không hay biết gì cả, giống như người chết. Lúc bấy giờ, đồng tử lập tự quân cũ trở lại làm vua và nói như vầy: “Sư tử ngự tòa pháp chẳng nên khiến cho Chiên đà la thăng lên! Ta từ xưa đến nay, chưa từng nghe thấy dòng Chiên đà la mà làm vua. Nếu Chiên đà la cai trị nước, quản lý dân thì không có điều này. Ðại vương nay nên trở lại nối dõi tiên vương, đem chánh pháp cai trị nước”. Lúc bấy giờ, đồng tử kinh qua việc xử lý đó rồi, lại đem thuốc giải cho người Chiên đà la khiến cho ông ấy tỉnh dậy. Tỉnh dậy rồi, ông bị đuổi ra khỏi nước. Lúc đó, vị đồng tử tuy làm việc đó nhưng chẳng mất pháp của Bà la môn. Kỳ dư những cư sĩ, Bà la môn, v.v... nghe việc làm của ông ấy đều than chưa từng có và khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Ngài giỏi có thể xua đuổi được vua Chiên đà la”. Này thiện nam tử! Việc hộ trì chánh pháp sau khi ta Niết Bàn đối với các Bồ tát cũng lại như vậy. Bồ tát dùng sức phương tiện cùng với hạng tăng phá giới giả danh nhận nuôi tất cả vật bất tịnh kia, đồng chung sự nghiệp của họ. Bấy giờ, Bồ tát nếu thấy có người tuy phạm nhiều giới nhưng có thể sữa trị các ác Tỳ kheo hủy phạm cấm giới. Họ liền đến chỗ những người phạm cấm ấy cung kính, lễ bái, tứ sự cúng dường, kinh sách, đồ lặt vặt đều đem dâng lên. Như người ấy tự mình không có gì thì cần phải phương tiện theo các đàn việt (người bố thí) cầu xin để cho người đó. Vì làm việc này nên cần nuôi tám thứ vật bất tịnh. Vì sao vậy? Vì người này vì sửa trị các ác Tỳ kheo như đồng tử kia xua đuổi Chiên đà la vậy. Bấy giờ, Bồ tát tuy lại cung kính lễ bái người nhận nuôi tám thứ vật bất tịnh nhưng đều không có tội. Vì sao vậy? Vì do Bồ tát này vì muốn ruồng đuổi, sửa trị các Tỳ kheo ác, khiến cho tăng thanh tịnh được ở yên ổn, lưu bố Kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa, đem lợi ích cho tất cả những trời, người vậy. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này, ở trong Kinh ta nói hai bài kệ đó, khiến cho các vị Bồ tát đều chung khen ngợi người hộ trì pháp, như những cư sĩ, Bà la môn kia khen ngợi vị đồng tử hay thay! Hay thay! Bồ tát hộ pháp chính nên như vậy. Nếu có người thấy người hộ pháp cùng với người phá giới đồng sự nghiệp với nhau mà nói có tội thì phải biết người nói đó tự nhận lấy tai ương ấy, còn người hộ pháp thật ra không có tội. Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo phạm cấm giới rồi, vì lòng kiêu mạn nên che giấu, chẳng hối lỗi thì phải biết người đó gọi là Chân phá giới. Ðại Bồ tát vì hộ pháp nên tuy có phạm mà chẳng gọi là phá giới. Vì sao vậy? Vì không kiêu mạn nên là hối lỗi vậy. Này thiện nam tử! Vậy nên ta ở trong kinh che tướng nói kệ như vậy:

Có người biết pháp Hoặc trẻ hoặc già

Nên cúng dường họ Cung kính làm lễ

Như Bà la môn Phụng sự thần lửa

Như đệ nhị thiên Phụng sự Ðế Thích.

Do nhân duyên này, ta cũng chẳng vì người học Thanh Văn mà chỉ vì Bồ tát nói bài kệ này.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như vậy Ðại Bồ tát đối với giới gấp gáp hay thông thả mà vốn đã giới là tồn tại đủ chăng?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên nói như vậy. Vì sao vậy? Vì vốn đã thọ giới thì như vốn chẳng mất. Giả sử có sự sai phạm thì liền nên sám hối mà sám hối rồi thì thanh tịnh. Này thiện nam tử! Như sự cố con đê thủng vỡ do có lỗ nước rò thấm lậu. Vì sao vậy? Vì không có người sửa trị. Nếu có người sửa trị thì nước chẳng chảy ra. Bồ tát cũng vậy, tuy cùng kẻ phá giới chung bố tát, thọ giới tự tứ, đồng chung tăng sự ấy, sở hữu giới luật nhưng chẳng như con đê thủng vỡ thấm lậu ấy. Vì sao vậy? Vì nếu không có trì giới thanh tịnh thì chúng Tăng tổn giảm, vội vàng, thông thả, lười biếng ngày một thêm lớn. Còn nếu có người trì giới thanh tịnh tức là có thể đầy đủ, chẳng mất giới căn bản. Này thiện nam tử! Người thông thả đối với Thừa thì mới gọi là thông thả (hoãn), còn thông thả đối với giới thì chẳng gọi là thông thả. Ðại Bồ tát đối với Ðại Thừa này lòng chẳng giãi đãi kiêu mạn. Ðó là phụng giới, vì hộ trì chánh pháp mà dùng nước Ðại Thừa tự tắm gội. Vậy nên Bồ tát tuy hiện phá giới nhưng chẳng gọi là thông thả.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Trong chúng tăng của đức Phật có bốn hạng người như quả cây Am la sống, chín khó biết, phạm giới, trì giới làm sao có thể nhận biết được?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nhờ vào Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thì dễ có thể biết! sao gọi là nhờ Kinh Ðại Niết Bàn này có thể được biết vậy? Ví như người làm ruộng gieo trồng lúa ngon, làm cỏ trừ hết cỏ lòng vực, bông kê, dùng mắt thường quan sát gọi là ruộng sạch. Ðến ruộng ấy quả thật cây lúa lá cỏ đều khác. Như vậy tám việc có thể làm ô nhiễm tăng, nếu có thể trừ khử thì dùng mắt thịt quan sát biết được thanh tịnh. Hoặc trì giới hay phá giới khi chẳng làm ác mà dùng mắt thịt quan sát thì khó có thể phân biệt. Nếu ác lộ rõ rệt thì dễ có thể biết như cỏ vực bông kê kia dễ có thể phân biệt. Trong chúng Tăng cũng vậy, nếu có thể xa lìa tám thứ pháp rắn độc bất tịnh thì gọi là ruộng phước Thánh chúng thanh tịnh, nên được sự cúng dường của người, trời, quả báo thanh tịnh, chẳng phải là điều có thể phân biệt được của nhục nhãn. Lại nữa, này thiện nam tử! Như rừng Ca La Ca, có rất nhiều loại cây ấy. Ở trong rừng này chỉ có một cây tên là Trấn Ðầu Ca. Trái của hai cây Ca La Ca và Trấn Ðầu Ca này tương tợ nhau, chẳng thể phân biệt. Khi quả ấy chín có một nữ nhân nhặt lấy trái cây Trấn Ðầu La chỉ có một phần còn quả Ca La Ca có đến mười phần. Người đàn bà này chẳng biết mang đến chợ mà bày bán. Trẻ con ngu dại lại chẳng phân biệt được nên mua quả Ca La Ca, ăn rồi mạng chung. Cả bọn người trí nghe chuyện này rồi, liền hỏi nữ nhân: “Chị nhặt được quả này ở đâu mà mang đến đây!” Lúc đó người đàn bà chỉ ra địa phương nhặt quả. Mọi người liền nói rằng: “Như vậy địa phương đó có nhiều cây Ca La Ca không lường mà chỉ có một cây Trấn Ðầu La”. Mọi người biết rồi, cười mà bỏ đi. Này thiện nam tử! Tám pháp bất tịnh trong đại chúng cũng lại như vậy. Ở trong chúng này có nhiều người thọ dụng tám pháp như vậy, chỉ có một người trì giới thanh tịnh, chẳng thọ dụng tám pháp bất tịnh như vậy. Người ấy giỏi biết những người nhận nuôi phi pháp mà vẫn cùng đồng sự, chẳng lìa bỏ nhau như chỉ có một cây Trấn Ðầu La trong rừng kia. Có Ưu bà tắc thấy những người này có nhiều việc phi pháp đều chẳng cung kính cúng dường. Người này nếu muốn cúng dường thì nên trước hỏi rằng: “Thưa đại đức! Tám việc phi pháp như vậy được nhận nuôi không? Ðức Phật có cho phép không? Nếu nói đức Phật cho phép thì người như vậy có được bố tác, yết ma, tự tứ chung không?” Vị Ưu bà tắc hỏi như vậy rồi, chúng đều đáp rằng: “Tám việc như vậy đức Như Lai thương xót đều cho phép nuôi chứa”. Vị Ưu bà tắc nói rằng: “Ở tinh xá Kỳ Hoàn, có các Tỳ kheo, hoặc nói rằng, vàng bạc đức Phật đã cho phép gom chứa, hoặc nói rằng, chẳng cho phép. Người có nói cho, người nói chẳng cho thì họ chẳng cùng ở chung, cùng nói giới, tự tứ, thậm chí chẳng uống chung nước của một dòng sông, đồ vật lợi dưỡng đều chẳng chung với họ. Các ông làm sao nói rằng, đức Phật hứa cho được. Ðức Phật Thiên Trung Thiên tuy có thọ nhân đi nữa, chúng Tăng các ông cũng chẳng nên gom chứa. Nếu có người thọ nhận thì thậm chí các ông chẳng nên cùng chung với họ nói giới, tự tứ, yết ma, đồng chung việc tăng với họ. Nếu cùng chung với họ nói giới, tự tứ, yết ma, đồng chung việc tăng thì các ông sau khi mạng chung liền phải đọa vào địa ngục như những người ăn trái Ca La Ca kia rồi liền mạng chung.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như ở thành thị có người bán thuốc, có thuốc cam lồ vi diệu chứa đầy lấy từ núi Tuyết. Ông cũng lại bán nhiều thứ tạp dược khác có vị ngọt tương tợ. Có những người đều muốn mua mà chẳng biết phân biệt, đến chỗ người bán thuốc hỏi rằng: “Ông có thuốc lấy từ núi Tuyết không?” Người bán thuốc ấy liền đáp rằng: “Có!” Người bán thuốc này dối trá đem tạp dược khác nói với người mua rằng: “Ðây chính là diệu dược ngon ngọt của núi Tuyết. Người mua thuốc dùng mắt thịt nên chẳng thể phân biệt tốt, liền mua về và liền nghĩ rằng: “Ta nay đã được thuốc ngọt núi Tuyết!” Này Ca Diếp! Nếu trong hàng Tăng Thanh Văn, có Tăng giả danh, có Tăng chân thật, có Tăng hòa hợp, hoặc trì giới, hoặc phá giới... thì ở trong chúng đó nên bình đẳng cúng dường, cung kính, lễ bái. Vị Ưu bà tắc đó dùng nhục nhãn nên chẳng thể phân biệt, ví như người chẳng thể phân biệt được thuốc ngọt của núi Tuyết kia. Còn ai là trì giới, ai là phá giới, ai là chân Tăng, ai là giả Tăng thì chỉ người có thiên nhãn mới có thể phân biệt. Này Ca Diếp! Nếu vị Ưu bà tắc biết đây là Tỳ kheo, đây là người phá giới thì chẳng nên cấp thí, lễ bái, cúng dường. Hoặc biết được đây là người gom chứa tám pháp thì cũng lại chẳng nên cấp thí đồ cần dùng, lễ bái, cúng dường. Hoặc ở trong Tăng có kẻ phá giới thì chẳng nên vì nhân duyên mặc áo cà sa mà cung kính lễ bái.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Hay thay! Hay thay! Lời nói của đức Như Lai chân thật, chẳng hư dối, con sẽ cung kính thính thọ, ví như Kim Cương vật lạ trân bảo. Như lời đức Phật nói, các vị Tỳ kheo này phải nương vào bốn pháp. Những gì là bốn? Ðó là Y pháp bất y nhân, y nghĩa chẳng y ngữ, y trí chẳng y thức, y liễu nghĩa Kinh chẳng y chẳng liễu nghĩa kinh. Bốn pháp như vậy cần phải chứng biết, chẳng phải bốn hạng người.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Y pháp tức là Như Lai Ðại Bát Niết Bàn. Tất cả Phật pháp tức là Pháp tính. Pháp tính này tức là Như Lai. Vậy nên Như Lai thường trụ bất biến. Nếu lại có người nói rằng, Như Lai vô thường, thì người này chẳng biết, chẳng thấy pháp tính. Nếu người chẳng tri kiến pháp tính này thì chẳng nên y chỉ. Như trên đã nói, bốn hạng người ra đời hộ trì pháp cần phải chứng biết mà lấy làm y chỉ. Vì sao vậy? Vì người này giỏi lý giải tạng vi mật thâm áo của Như Lai, có thể biết Như Lai thường trụ bất biến. Nếu nói rằng, Như Lai vô thường biến dị thì không có điều đó. Bốn hạng người như vậy tức gọi là Như Lai. Vì sao vậy? Vì người này có thể lý giải mật ngữ của Như Lai và có thể diễn nói. Nếu có người có thể biết rõ mật tạng thậm thâm của Như Lai và biết Như Lai thường trụ bất biến thì người như vậy nếu vì lợi dưỡng mà nói rằng, Như Lai vô thường biến dị thì không có điều đó. Người như vậy còn có thể y chỉ, huống gì chẳng y chỉ bốn hạng người đó? Y pháp tức là pháp tính, chẳng y nhân tức là Thanh Văn. Pháp tính tức là Như Lai, Thanh Văn tức là hữu vi. Như Lai tức là thường trụ, hữu vi tức là vô thường. Này thiện nam tử! Nếu người phá giới vì lợi dưỡng nên nói rằng, Như Lai vô thường biến dị thì người như vậy chẳng nên y chỉ. Này thiện nam tử! Ðó gọi là định nghĩa.

Y nghĩa chẳng y ngữ thì nghĩa gọi là giác liễu. Giác liễu nghĩa thì gọi là chẳng yếu đuối. Chẳng yếu đuối thì gọi đủ đầy. Ðủ đầy nghĩa thì gọi là Như Lai thường trụ, bất biến. Nghĩa Như Lai thường trụ, bất biến thì tức là pháp thường. Nghĩa pháp thường thì tức là nghĩa Tăng thường. Ðó gọi là y nghĩa chẳng y ngữ vậy. Những ngôn ngữ gì mà chẳng nên y? Ðó là văn từ trau chuốt của các luận. Như lời nói của đức Phật ở vô lượng những Kinh, nào là tham cầu không chán, gian xảo, dua nịnh, trá hiện gần bên cạnh, hiện tướng cầu lợi, kinh lý nhà thế tục và vì họ làm việc... Lại nữa, còn xướng lên rằng, Phật cho phép Tỳ kheo nuôi chứa những nô tỳ, vật bất tịnh, vàng bạc trân bảo, lúa gạo, kho lẫm, trâu dê voi ngựa, buôn bán cầu lợi... Ở đời đói kém thương xót con nên lại cho phép các Tỳ kheo tích trữ giữ lại, tay tự tạo ra cái ăn, chẳng thọ nhận mà ăn... Những lời như vậy chẳng nên y chỉ.

Y trí chẳng y thức thì sở dĩ nói trí tức là Như Lai. Nếu có Thanh Văn chẳng thể giỏi biết công đức của Như Lai. Thức như vậy chẳng nên y chỉ. Nếu biết Như Lai tức là Pháp thân thì như vậy là chân trí, chỗ nên y chỉ. Nếu thấy thân phương tiện của Như Lai mà nói rằng chính là ấm, giới, các nhập do nhiếp lấy ăn uống mà nuôi lớn thì cũng chẳng nên y chỉ. Vậy nên tri thức chẳng nên y chỉ. Nếu lại có người nói lời nói đó và Kinh sách chép lời ấy thì cũng chẳng nên y chỉ. Y liễu nghĩa Kinh chẳng y chẳng liễu nghĩa Kinh thì, chẳng liễu nghĩa Kinh là gọi Thanh Văn thừa. Những Thanh Văn nghe chỗ thâm mật tạng của Như Lai Phật đều phát sinh nghi hoặc quái lạ, chẳng biết tạng này phát ra biển đại trí giống như trẻ con không có sự phân biệt hiểu biết. Ðó gọi là chẳng liễu nghĩa vậy.

Liễu nghiã thì gọi là trí tuệ chân thật của Bồ tát, tự tâm Bồ tát ấy ẩn giấu Ðại trí vô ngại, giống như bậc đại nhân không gì chẳng biết. Ðó gọi là liễu nghĩa. Lại nữa, Thanh Văn thừa gọi là chẳng liễu nghĩa, Ðại Thừa Vô thượng mới gọi là liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai vô thường, biến dị thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai thường trụ, chẳng biến dị thì đó gọi là liễu nghĩa. Chứng biết lời nói của Thanh Văn thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nên chứng biết lời nói của Bồ tát thì gọi là liễu nghĩa. Nếu nói rằng, đồ ăn đã nuôi lớn Như Lai là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Thường Trụ chẳng biến dị thì đó gọi là liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai vào Niết Bàn như củi hết lửa tắt thì gọi là chẳng liễu nghĩa. Nếu nói rằng, Như Lai vào pháp tánh thì đó gọi là liễu nghĩa. Pháp Thanh Văn thừa thì chẳng nên y chỉ. Vì sao vậy? Vì Như Lai vì muốn độ chúng sinh nên dùng sức phương tiện nói lên Thanh Văn thừa, giống như ông trưởng giả dạy cho con “nửa chữ”. Này thiện nam tử! Thanh Văn thừa thì giống như mới cày đất, chưa được kết quả. Như vậy gọi là chẳng liễu nghĩa. Vậy nên chẳng nên y chỉ vào Thanh Văn thừa, còn pháp Ðại Thừa thì nên y chỉ. Vì sao vậy? Vì Như Lai vì muốn độ chúng sinh nên dùng lực phương tiện nói về Ðại Thừa. Vậy nên y chỉ thì đó gọi là liễu nghĩa. Bốn chỗ y chỉ như vậy cần phải chứng biết.

Lại nữa, Y nghĩa thì nghĩa gọi là Chất trực. Chất trực thì gọi là quang minh. Quang minh thì gọi là chẳng yếu đuối. Chẳng yếu đuối thì gọi là Như Lai. Lại nữa, quang minh thì gọi là trí tuệ. Chất trực thì gọi là thường trụ.

Như Lai thường trụ thì gọi là y pháp. Pháp thì gọi là thường trụ, cũng gọi là vô biên, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể nắm giữ, chẳng thể trói buộc mà cũng có thể thấy. Nếu có người nói chẳng thể thấy thì người như vậy đã chẳng nên y chỉ. Vậy nên y pháp chẳng y vào người. Nếu lại có người dùng lời nói vi diệu tuyên nói về vô thường. Lời nói như vậy chẳng nên y chỉ. Vậy nên y nghĩa chẳng y vào lời nói. Y trí thì chúng Tăng là thường trụ, vô vi, chẳng biến dị, chẳng nhận nuôi tám thứ vật bất tịnh. Vậy nên y trí chẳng y vào thức. Nếu có người nói rằng, thức tạo ra ý thức thụ hưởng nên không có hòa hợp tăng. Vì sao vậy? Vì phàm là hòa hợp thì gọi là không sở hữu mà không sở hữu thì sao gọi là thường trụ. Vậy nên thức này chẳng thể y chỉ.

Y liễu nghĩa thì liễu nghĩa gọi là tri túc, nhất định chẳng trá hiện uy nghi thanh bạch, kiêu mạn, tự cao, tham cầu lợi dưỡng, cũng ở trong sự nói pháp phương tiện tùy nghi của đức Như Lai, chẳng sinh ra chấp trước. Ðó gọi là liễu nghĩa. Nếu có người có thể trụ ở trong sự nói pháp của Như Lai như vậy thì phải biết là người này đã được trụ ở đệ nhất nghĩa. Vậy nên gọi là y liễu nghĩa Kinh chẳng y chẳng liễu nghĩa Kinh.

Chẳng liễu nghĩa thì như trong Kinh nói, tất cả đốt cháy, tất cả vô thường, tất cả đều khổ, tất cả đều không, tất cả vô ngã. Ðó gọi là chẳng liễu nghĩa. Vì sao vậy? Vì chẳng thể liễu ngộ nghĩa như vậy nên khiến cho các chúng sinh đọa vào địa ngục A tỳ. Sở dĩ vì sao? Vì thủ trước nên đối với nghĩa chẳng rõ. Tất cả đốt cháy là Như Lai nói Niết bàn cũng đốt cháy. Tất cả vô thường thì Niết Bàn cũng vô thường. Khổ, Không, Vô ngã cũng lại như vậy. Vậy nên gọi là chẳng liễu nghĩa Kinh, chẳng nên y chỉ. Này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, Như Lai thương xót tất cả chúng sinh, khéo biết lúc tùy nghi. Do biết lúc tùy nghi nên ngài nói khinh là trọng, nói trọng là khinh. Ðức Như Lai quan sát biết đệ tử của mình, có những đàn việt cung cấp những điều cần dùng, khiến cho không thiếu thốn. Những người như vậy thì đức Phật cho phép nhận nuôi nô tỳ, vàng bạc, của báu, buôn bán, trao đổi những vật bất tịnh, v.v... Nếu các đệ tử không có đàn việt cung cấp những sự cần dùng thì đời đói kém, đồ ăn thức uống khó được. Vì muốn kiến lập hộ trì chánh pháp nên ta cho phép đệ tử nhận nuôi nô tỳ, vàng bạc, xa cộ, điền trạch, lúa gạo, buôn bán những điều cần dùng. Tuy ta cho phép nhận nuôi những vật như vậy, nhưng phải là hạng đàn việt tịnh thí, dốc lòng tin. Bốn pháp như vậy là chỗ nên y chỉ. Nếu có giới luật A Tỳ Ðàm Tu Ða La chẳng trái với bốn pháp này thì cũng nên y chỉ. Nếu có người nói rằng, có lúc hay chẳng phải lúc có thể hộ pháp hay chẳng thể hộ pháp, đức Như Lai đều cho phép tất cả Tỳ kheo nhận nuôi những vật bất tịnh như vậy thì lời nói như thế chẳng nên y chỉ. Nếu trong giới luật A Tỳ Ðàm Tu Ða La có điều đồng với lời nói đó thì ba phần như vậy cũng chẳng nên y chỉ. Ta vì các chúng sinh mắt thịt mà nói bốn y chỉ này, nhất định chẳng vì kẻ có tuệ nhãn. Vậy nên ta nay nói bốn y chỉ đó. Pháp tức là pháp tánh, Nghĩa tức là Như Lai thường trụ bất biến, Trí là biết tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Liễu nghĩa là liễu đạt tất cả Kinh điển Ðại Thừa.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ sáu hết -


7/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Bảy

PHẨM TÀ CHÁNH Thứ Chín

- Lúc bấy giờ, ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Bốn thứ người như đã nói trên cần phải y chỉ sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Ðúng như ta đã nói, cần phải y chỉ! Vì sao vậy? Vì có bốn loại ma. Những gì là bốn? Ðúng như lời nói của ma, các Kinh luật khác có thể thọ trì.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật đã nói, có bốn thứ ma thì như lời nói của ma và lời nói của đức Phật con làm sao mà phân biệt được? Có những chúng sinh theo đuổi ma hạnh, lại có chúng sinh thuận theo lời dạy của đức Phật. Những bọn như vậy lại làm sao biết được?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Sau khi ta vào Niết Bàn bảy trăm năm thì ma ba Tuần này dẫn dần sẽ hủy hoại, nhiễu loạn chánh pháp của ta. Ví như người thợ săn thân mặc pháp phục, Ma vương Ba Tuần cũng lại như vậy, hóa làm hình dáng Tỳ kheo, hình dáng Tỳ kheo ni, hình dáng Ưu bà tắc, hình dáng Ưu bà di. Vua ma cũng lại hóa làm thân Tu đà hoàn... cho đến hóa làm thân A la hán và sắc thân của đức Phật. Ma vương dùng hình tướng hữu lậu này hóa làm thân vô lậu mà hủy hoại chánh pháp của ta. Khi ma Ba Tuần này hủy hoại Chánh pháp thì sẽ nói lên rằng: “Ðức Bồ tát khi xưa ở trên cõi trời Ðâu Suất mất đi, hiện đến cung vua Bạch Tịnh tại thành Ca Tỳ La này, nương vào cái nhân ái dục hòa hợp của cha mẹ mà sinh ra, nuôi lớn thân này. Nếu nói rằng, có người sinh ra trong loài người mà được sự cung kính của đại chúng trời người các thế gian thì không có điều đó”. Lại nữa, ma còn nói rằng: “Thuở xưa đức Bồ tát khổ hạnh đủ thứ, bố thí đầu, mắt, não, tủy, đất nước, thành quách, vợ con nên hôm nay được thành Phật đạo. Do nhân duyên này nên được sự cung kính của những trời, người, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già”. Nếu có Kinh luật nói lời nói này thì ông phải biết đó là lời nói của ma.

Này thiện nam tử! Nếu có Kinh luật nói lời như vầy: “Ðức Như Lai Chánh Giác thành Phật đã lâu, nay ngài phương tiện thị hiện là vì muốn độ thoát các chúng sinh. Ngài thị hiện có cha mẹ nương vào nhân ái dục hòa hợp mà sinh ra. Ngài thuận theo thế gian tạo tác sự thị hiện này”. Kinh luật nói như vậy thì ông phải biết, đó quả thật là lời nói của Như Lai. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu có người có thể thuận theo lời nói của Phật thì tức là Bồ tát.

Nếu có người nói rằng, Như Lai ra đời, ở mười phương diện, đều đi bảy bước. Không thể tin điều đó là lời nói của ma. Nếu có người lại nói rằng, Như Lai ra đời, ở mười phương diện đều đi bảy bước, đó là phương tiện thị hiện của Như Lai. Ðó gọi là lời nói Kinh luật của Như Lai. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu người có thể thuận theo lời nói của Phật thì tức là Bồ tát. Nếu có người nói rằng, Bồ tát sinh ra rồi vua cha sai người đem đến miếu thờ trời, chư thiên thấy rồi đều sụp xuống lễ kính. Vậy nên gọi là Phật. Lại có người nạn vấn rằng, trời xuất hiện trước, Phật ở sau họ thì tại sao chư Thiên lễ kính đối với Phật? Kẻ đặt ra vấn nạn đó thì ông phải biết đó tức là lời nói của ma Ba Tuần.

Nếu có Kinh nói rằng, Phật đến miếu thờ trời thì chư Thiên, Ma Ê Thủ La, Ðại Phạm Thiên vương, Thích Ðề Hoàn Nhân, v.v... đều chắp tay cung kính làm lễ dưới chân Phật. Kinh luật nói như vậy thì chính là lời nói của Phật. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu người có thể thuận theo lời nói của Phật thì tức là Bồ tát. Nếu có Kinh luật nói rằng, Bồ tát khi làm thái tử, vì dục tâm nên khắp bốn phương tìm hỏi vợ, ở tại thâm cung tự vui sướng hưởng thụ lạc. Kinh luật như vậy là lời nói của ma Ba Tuần.

Nếu có nói rằng, Bồ tát từ lâu đã lìa bỏ dục tâm, vợ con, quyến thuộc... cho đến chẳng hưởng thụ năm dục thượng diệu của trời Ba mươi ba như nhổ bỏ nước bọt, huống gì là sự ham muốn của loài người. Ngài cạo bỏ râu tóc xuất gia tu đạo. Kinh luật nói như vậy thì chính là lời nói của Phật. Nếu có người thuận theo Kinh luật của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu có người thuận theo Kinh luật của Phật thì tức là Bồ tát.

Nếu có người nói rằng, đức Phật ở tinh xá Kỳ Ðà (Hoàn) tại nước Xá Vệ, cho phép các Tỳ kheo nhận nuôi nô tỳ, người sai khiến, trâu dê, voi ngựa, lừa la, gà heo, mèo chó, vàng bạc, lưu ly, trân châu, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, hỗ phách, kha cụ, bích ngọc, nồi chõ bằng đồng bằng sắt, mâm đồng lớn nhỏ... những vật cần dùng, cày ruộng, gieo trồng, buôn bán, trao đổi, tích trữ lúa gạo... Mọi việc như vậy, do đức Phật từ bi, thương xót chúng sinh nên đều cho phép gom chứa. Kinh luật nói như vậy đều chính là ma nói.

Nếu có người nói rằng, đức Phật ở chỗ sở trụ của quỉ Na Lê Lâu tại tinh xá Kỳ Ðà nước Xá Vệ, bấy giờ đức Như Lai, nhân Bà la môn tự là Cổ Ðê Ðức và vua Ba Tư Nặc, nói rằng: “Này Tỳ kheo! Chẳng nên nhận nuôi chứa vàng bạc, lưu ly, pha lê, trân châu, xa cừ, mã não, san hô, hỗ phách, kha cụ, bích ngọc, nô tỳ, người sai khiến, đồng nam, đồng nữ, trâu dê, voi ngựa, lừa la, heo gà, mèo chó, v.v... nồi chõ bằng đồng bằng sắt, mâm đồng lớn nhỏ, đủ loại tạp sắc giường nằm, trải ngoại cụ, đồ cần dùng trong cuộc sống. Nào là nhà cửa, cày ruộng, gieo trồng, buôn bán, trao đổi, tự tay làm ra đồ ăn, tự mài dũa, tự đâm giã, chú thuật sữa trị thân, phương pháp điều phục chim ưng, ngước xem tinh tú (xem bói toán), đoán vận đầy vơi, xem tướng nam nữ, giải mộng kiết hung, là nam, là nữ, chẳng phải nam, chẳng phải nữ, sáu mươi tư khả năng, lại có mười tám thứ chú thuật mê hoặc người, đủ thứ nghề khéo. Hoặc nói vô lượng việc tục của thế gian, tung rải hương bột, hương xoa, hương xông, đủ loại vòng hoa cài tóc, phương thuật sửa trị tóc, gian ngụy, dua nịnh quanh co, tham lợi không chán, ưa thích náo nhiệt, nói năng cười giỡn, ham thích thịt cá, hòa hợp độc dược, trị yểm dầu thơm, nắm giữ bảo cái và cả giày da, chế tạo quạt, tủ, hòm, đủ thứ hình vẽ, gom chứa lúa gạo, đậu mì lớn nhỏ và những quả trái, gần gũi quốc vương, con vua, đại thần và các nữ nhân lớn tiếng cả cười hoặc lại lặng thinh, ở trong các pháp sinh ra nhiều nghi hoặc, nhiều lời dối nói dài ngắn, đẹp xấu, hoặc thiện hay chẳng thiện, ưa mặc áo đẹp... đủ thứ những điều bất tịnh như vậy. Ở trước thí chủ, thân mình tự khen, du hành ra vào những chỗ bất tịnh như là quán rượu, nhà dâm nữ, sòng bài bạc... Những người như vậy ta nay chẳng cho phép ở trong hàng Tỳ kheo, cần phải ngưng tu đạo trở về làm người sai việc của thế tục, ví như cỏ lồng vực, bông kê đều diệt, không còn. Ông phải biết sự cấm chế của Kinh luật này, v.v... đều chính là lời nói của Như Lai vậy. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu có người thuận theo lời nói của đức Phật thì tức là Bồ tát.

Nếu có người nói rằng, đức Bồ tát muốn cúng dường thiên thần nên vào miếu thờ trời như là nơi thờ trời Phạm, trời Ðại Tự Tại, trời Vi Ðà, trời Ca chiên diên... Sở dĩ vào đó là vì ngài muốn điều phục chư thiên. Nếu chẳng nói vậy thì không có điều đó. Nếu nói rằng, Bồ tát chẳng thể vào với tà luận ngoại đạo, biết được uy nghi, văn chương, kỹ nghệ của tà luận ấy, cùng với kẻ sai khiến đấu tranh chẳng hòa hợp, chẳng được sự cung kính của nam, nữ, quốc vương, đại thần. Lại nữa ngài cũng chẳng biết hòa hợp các thảo dược, vì chẳng biết nên mới gọi là Như Lai. Như những người biết ấy thì chính là bọn tà kiến. Lại nữa, Như Lai đối với kẻ oán, người thân lòng luôn bình đẳng. Như người dùng dao cắt và người dùng hương xoa thân. Ðối với hai người này ngài chẳng sinh ra lòng tăng thêm hay lòng giảm bớt. Ngài chỉ ở mực giữa nên gọi Như Lai. Kinh luật nói như vậy thì ông phải biết đó là lời nói của ma.

Nếu có người nói rằng, đức Bồ tát thị hiện như vậy, vào trong pháp ngoại học, miếu thờ trời, xuất gia tu đạo, thị hiện biết những uy nghi, lễ tiết ấy, có thể giải được tất cả văn chương, kỹ nghệ, thị hiện thư đương (nhà đọc sách), chỗ kỹ xão, có thể giỏi hòa hợp với những kẻ sai khiến đấu tranh. Ở trong các đại chúng, đồng nam, đồng nữ, phi hậu của hậu cung, nhân dân, trưởng giả, Bà la môn, quốc vương, đại thần và kẻ bần cùng, v.v... thì ngài là tối tôn, tối thượng. Ngài lại được sự cung kính của những người đó. Ngài cũng có thể thị hiện những việc như vậy. Ngài tuy ở với các kiến nhưng chẳng sinh ra ái tâm, giống như hoa sen chẳng thọ trần cấu. Vì độ tất cả các chúng sinh nên ngài giỏi làm đủ thứ phương tiện như vậy để thuận theo pháp của thế gian. Kinh luật nói như vậy thì ông phải biết đó tức là lời nói của Như Lai. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu người thuận theo lời nói của Phật thì đó là Ðại Bồ tát. Nếu có người nói rằng, đức Như Lai vì ta mà giải nói Kinh luật. Nếu tội nặng nhẹ trong ác pháp và thâu lan già mà tính ấy đều nặng thì trong Luật chúng ta nhất định chẳng là thế. Ta từ lâu đã nhận thọ pháp như vậy mà các ông chẳng tin thì ta sao phải tự bỏ luật của mình theo luật các ông vậy? Luật vốn có của ông là lời nói của ma. Kinh luật của chúng ta chính là đức Phật đã chế ra. Ðức Như Lai trước đã nói chín bộ pháp ấn. Chín ấn như vậy ấn chứng Kinh luật của ta mà bắt đầu chẳng nghe có một chữ, một câu của Kinh điển Phương Ðẳng. Ðức Như Lai đã nói vô lượng Kinh luật mà chỗ nào có nói đến Kinh Phương Ðẳng vậy? Như vậy trong Phương Ðẳng chưa từng nghe có tên mười bộ Kinh. Như trong ấy có thì phải biết, nhất định là sự tạo tác của ông Ðiều Ðạt (Ðề Bà Ðạt Ða). Người ác Ðiều Ðạt vì muốn tiêu diệt thiện pháp nên tạo ra Kinh Phương Ðẳng, chúng ta chẳng tin. Như vậy Kinh Phương Ðẳng chính là lời nói của ma. Vì sao vậy? Vì phá hoại Phật pháp, tranh nhau phải, trái. Lời nói như vầy: trong Kinh của ông có, trong Kinh của ta không. Trong Kinh luật của ta đức Như Lai nói rằng, sau khi ta (Phật) Niết Bàn, ở đời ác sẽ có Kinh luật bất chính như là Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng, ở đời vị lai sẽ có những ác Tỳ kheo như vậy. Ta lại nói rằng, qua chín bộ Kinh có Kinh điển Phương Ðẳng. Nếu có người có thể rõ biết nghĩa của Kinh ấy thì phải biết, người đó rõ biết chân chánh Kinh luật, xa lìa tất cả vật bất tịnh, thanh tịnh vi diệu giống như vầng trăng tròn đầy. Nếu có người nói rằng, Như Lai tuy vì mỗi một bộ Kinh luật diễn nói nghĩa vị nhiều như cát sông Hằng nhưng trong Luật của ta không có thì phải biết là không. Như điều ấy có thì tại sao đức Như Lai, ở trong luật của ta mà không giải nói. Vậy nên ta nay chẳng thể tín thọ. Ông phải biết là người này bị đắc tội. Người này lại nói rằng, Kinh luật như vậy ta phải thọ trì. Vì sao vậy? Vì Kinh sẽ vì ta tạo tác cái nhân thiện pháp tri túc, thiểu dục, trừ phiền não, trí tuệ, Niết Bàn. Người nói như vậy thì chẳng phải là đệ tử của ta (đức Phật).

Nếu có người nói rằng, đức Như Lai vì muốn độ chúng sinh nên nói Kinh Phương Ðẳng thì phải biết người này thật là đệ tử của ta. Nếu có người chẳng thọ Kinh Phương Ðẳng thì phải biết người này chẳng phải là đệ tử của ta, chẳng vì Phật pháp mà xuất gia, tức là đệ tử của tà kiến ngoại đạo. Kinh luật nói như vậy chính là lời nói của Phật, nếu chẳng như vậy tức là lời nói của ma. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì đó là quyến thuộc của ma. Nếu có người thuận theo lời nói của Phật thì tức là Bồ tát.

Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, đức Như Lai chẳng được sự thành tựu của vô lượng công đức, vô thường, biến dị mà do được không pháp nên tuyên nói vô ngã, chẳng thuận theo thế gian. Kinh luật như vậy gọi là lời nói của ma.

Nếu có người nói rằng, Như Lai Chánh Giác chẳng thể nghĩ bàn, cũng được sự thành tựu của vô lượng A tăng kỳ công đức. Vậy nên Như Lai thường trụ, không có biến dị. Kinh luật nói như vậy chính là lời nói của Phật. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì đó là quyến thuộc của ma. Nếu có người thuận theo lời nói của Phật thì tức là Bồ tát.

Lại nữa, có người nói rằng, hoặc có Tỳ kheo thật chẳng hủy phạm tội Ba la di mà mọi người đều cho là phạm Ba la di như chặt cây Ða la thọ, nhưng Tỳ kheo này thật ra không có phạm điều gì. Vì sao vậy? Vì ta thường nói rằng, bốn Ba la di nếu phạm một tội thì giống như chẻ đá, chẳng thể hợp trở lại được. Nếu có người tự nói được pháp hơn người thì gọi là phạm Ba la di. Vì sao vậy? Vì thật không có sở đắc mà trá hiện tướng được. Người như vậy là thoái mất nhân pháp (pháp của loài người). Ðó gọi là Ba la di. Chẳng hạn như, hoặc có vị Tỳ kheo thiểu dục, tri túc, trì giới thanh tịnh, trụ ở chỗ không nhàn mà nếu vua, đại thần thấy vị Tỳ kheo này lòng phát sinh ý niệm cho rằng đã được A la hán, liền ở trước vị ấy khen ngợi, cung kính lễ bái. Họ lại nói rằng: “Như vậy đại sư bỏ thân này rồi thì sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Vị Tỳ kheo nghe rồi liền bạch với vua rằng: “Tôi thật chưa được đạo quả Sa môn, nhà vua chớ nói là tôi đã được đạo quả. Nguyện xin địa vương chớ vì tôi nói pháp chẳng tri túc. Người chẳng tri túc là thậm chí được người cho là được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác đều mặc nhiên nhận lấy. Tôi nay nếu sẽ mặc nhiên nhận lấy thì sẽ bị sự quở trách của chư Phật. Hạnh tri túc của chư Phật khen ngợi. Vậy nên tôi muốn trọn đời vui sướng phụng tu tri túc. Lại nữa, tri túc thì tôi nhất định tự biết mình chưa được đạo quả. Nhà vua xưng là tôi được, tôi nay chẳng nhận lấy nên gọi là tri túc”. Vị vua đáp rằng: “Ðại sư quả thật đã được quả A la hán như đức Phật không khác”. Bấy giờ vị vua ấy đều tuyên cáo khắp trong ngoài nhân dân và hậu phi trong cung khiến cho họ đều biết vị Tỳ kheo được quả diệu môn. Vậy nên đều khiến cho tất cả người nghe, lòng sinh tin kính, cúng dường tôn trọng. Như vậy vị Tỳ kheo này chân thật là người tịnh tu phạm hạnh. Do nhân duyên này khiến cho khắp mọi người được phước đức lớn mà vị Tỳ kheo này chẳng hủy phạm tội Ba la di. Vì sao vậy? Vì người ta tự sinh lòng hoan hỉ trước mà khen ngợi cúng dường. Như vậy vị Tỳ kheo sẽ có tội gì? Nếu có người nói rằng, người đó đắc tội thì phải biết Kinh này là lời nói của ma.

Lại có vị Tỳ kheo nói Kinh điển thậm thâm mật tạng của đức Phật, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Do tính ấy nên đoạn được vô lượng ức những phiền não kết, liền được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, trừ Nhất xiển đề. Nếu vua, đại thần nói như vầy: “Này Tỳ kheo! Ông sẽ làm Phật hay chẳng làm Phật vậy? Ông có Phật tính không?” Vị Tỳ kheo đáp rằng: “Ta nay trong thân nhất định có Phật tính! Còn thành hay chẳng thành thì chưa có thể phán xét được”. Nhà vua nói rằng: “Thưa đại đức! Như người chẳng làm Nhất xiển đề ấy thì ắt thành không nghi hoặc?” Vị Tỳ kheo nói rằng: “Người ấy quả thật như nhà vua nói. Người này tuy nói nhất định có Phật tính mà cũng lại chẳng phạm tội Ba la di”. Lại có vị Tỳ kheo khi vừa xuất gia đã suy nghĩ rằng: “Ta nay nhất định thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Người như vậy tuy chưa được thành đạo quả Vô thượng nhưng đã làm được phước vô lượng vô biên chẳng thể xưng kể. Giả sử có người sẽ nói rằng, người này phạm Ba la di, thì tất cả Tỳ kheo không ai chẳng phạm cả. Vì sao vậy? Vì ta ở tám mươi ức kiếp thuở xưa thường lìa khỏi tất cả vật bất tịnh, thiểu dục, tri túc, uy nghi thành tựu, giỏi tu pháp tạng vô thượng của Như Lai cũng tự nhất định biết bản thân có Phật tính. Vậy nên ta nay được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, được gọi là Phật, có Ðại Từ Bi. Kinh luật như vậy là lời nói của Phật. Nếu có người chẳng thể thuận theo đó thì tức là quyến thuộc của ma. Nếu người có thể thuận theo thì chính là Ðại Bồ tát.

Lại có người nói rằng, không có bốn Ba la di, mười ba tăng tàn, hai bất định pháp, ba mươi xả đọa, chín mươi mốt pháp đọa, bốn pháp sám hối, mọi pháp đa học, bảy diệt tránh (tranh cãi), không Thâu-lan-già, năm tội nghịch và Nhất xiển đề, v.v... Nếu có Tỳ kheo phạm những điều như vậy thì đọa vào địa ngục, còn người ngoại đạo đều nên sinh lên trời. Vì sao vậy? Vì những kẻ ngoại đạo không có giới (cấm) để phạm. Ðây là đức Như Lai thị hiện khủng bố con người nên nói ra giới ấy thôi. Nếu nói rằng, đức Phật dạy: “Các Tỳ kheo của ta, nếu muốn hành dâm thì nên bỏ pháp phục, mặc quần áo thế tục, rồi nhiên hậu mới hành dâm. Lại nên sinh ý niệm là nhân duyên dâm dục chẳng phải tội lỗi của ta”. Ðức Như Lai tại thế cũng có Tỳ kheo quen làm dâm dục vẫn được Chánh giải thoát, hoặc sau khi mạng chung sinh lên cõi trời. Xưa nay có người làm những việc đó chứ chẳng phải riêng một mình ta làm, hoặc phạm bốn trọng cấm, hoặc phạm năm giới, hoặc làm tất cả luật nghi bất tịnh. Do vậy mà được đầy đủ giải thoát chân chánh. Ðức Như Lai tuy nói phạm Ðột-kiết-la thì đọa tại địa ngục tám trăm vạn năm tính theo năm tháng của trời Ðao Lợi. Ðó cũng là đức Như Lai thị hiện khủng bố con người thôi. Nói rằng, từ Ba-la-di đến Ðột-kiết-la nặng nhẹ không sai khác chỉ là các luật sư dối đặt ra lời nói này. Nói rằng, đó chính là Phật chế ra thì nhất định phải biết rằng, chẳng phải là lời nói của Phật. Lời nói như vậy chính là Kinh luật của ma. Nếu lại nói rằng, ở trong các giới, nếu phạm giới nhỏ thậm chí rất nhỏ (vi tế) thì phải chịu khổ báo không có giới hạn. Biết như vậy rồi, phòng hộ thân mình như con rùa giấu sáu chi thể. Nếu có vị luật sư lại nói rằng, phàm đã phạm giới đều không có tội báo. Người như vậy chẳng nên thân cận, như đức Phật đã nói:

Một pháp nếu (nói) qua Ðó là vọng ngữ

Chẳng thấy đời sau Không ác (gì) chẳng tạo.

Vậy nên chẳng nên gần gũi người này. Trong Phật pháp của ta thanh tịnh như vậy, huống là có người phạm tội Thâu-lan-già, hoặc phạm Tăng-tàn và Ba-la-di mà chẳng phải tội sao? Vậy nên cần phải tự phòng hộ những pháp như vậy một cách sâu sắc. nếu chẳng thủ hộ thì lại lấy pháp gì gọi là cấm giới. Ta, ở trong Kinh, cũng nói có phạm bốn Ba-la-di... cho đến tội vi tế, Ðột-kiết-la, v.v... nên cần phải khổ trị. Chúng sinh nếu chẳng hộ trì cấm giới thì làm sao sẽ được thấy Phật tính. Tất cả chúng sinh tuy có Phật tính nhưng cần phải nhân trì giới, rồi nhiên hậu mới thấy được. Nhân thấy được Phật tính mới được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Trong chín bộ Kinh không có Kinh Phương Ðẳng. Vậy nên chẳng nói có Phật tính vậy. Kinh tuy chẳng nói nhưng phải biết thật sự là có. Nếu nói được lời nói này thì phải biết người đó chân thật là đệ tử của ta.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như trên đã nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính mà trong chín bộ Kinh đã chưa từng nghe nói, như vậy lời nói có ấy thì sao chẳng phạm Ba-la-di vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðúng như lời nói của ông! Quả thật chẳng hủy phạm tội Ba-la-di! Này thiện nam tử! Ví như có người nói rằng, biển cả chỉ có bảy báu, không có tám thứ thì người nói đó không có tội. Nếu có người nói rằng, trong chín bộ Kinh không có Phật tính thì cũng lại không tội. Vì sao vậy? Vì ở trong biển đại trí Ðại Thừa, ta nói có Phật tính. Người của Nhị thừa đã chẳng thấy biết được Phật tính nên nói không thì không có tội vậy. Cảnh giới như vậy là sự hiểu biết của chư Phật, chẳng phải là sự biết được của Thanh văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Nếu người chẳng nghe tạng bí mật thậm thâm của Như Lai thì làm sao sẽ biết có Phật tính vậy? Cái gì gọi là tạng bí mật? Ðó là Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Này thiện nam tử! Có các ngoại đạo, hoặc nói Ngã thường còn, hoặc nói Ngã đoạn mất. Như Lai chẳng vậy, cũng nói có Ngã, cũng nói không Ngã. Ðó gọi là trung đạo. Nếu có người nói rằng, đức Phật nói trung đạo, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, bị phiền não che phủ nên chẳng biết, chẳng thấy. Vậy nên cần phải siêng tu phương tiện đoạn hoại phiền não. Nếu có người có thể nói lời như vậy thì phải biết là người đó chẳng phạm bốn trọng cấm. Nếu có người chẳng nói lời như vậy thì đó gọi là phạm Ba-la-di. Nếu có người nói rằng, ta đã thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì sao vậy? Vì ta có Phật tính mà có Phật tính thì nhất định sẽ thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì nhân duyên đó nên ta nay đã được thành tựu Bồ đề. Ông phải biết người đó gọi là phạm tội Ba-la-di. Vì sao vậy? Vì tuy có Phật tính nhưng vì chưa tu tập các phương tiện tốt. Vậy nên chưa thấy, do chưa thấy nên chẳng thể được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Do ý nghĩa này nên Phật pháp thậm thâm chẳng thể nghĩ bàn.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Có vị vua hỏi rằng, sao gọi là Tỳ kheo rơi vào pháp quá nhân (qua người)?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Nếu có Tỳ kheo vì lợi dưỡng, vì ăn uống mà làm những việc dua nịnh, gian ngụy, dối trá để làm sao khiến cho những người thế gian nhất định phải biết ta (vị Tỳ kheo) là chân khất sĩ. Do nhân duyên đó khiến cho ta được nhiều lợi dưỡng, danh dự. Vị Tỳ kheo nhiều ngu si như vậy nên mãi mãi (đêm dài) thường nghĩ: “Ta thật chưa được bốn quả Sa môn, phải làm sao khiến cho những người thế gian cho là ta đã được. Lại phải làm sao khiến cho những Ưu bà tắc, Ưu bà di, v.v... đều cùng chỉ ta mà nói như vầy, người phước đức này quả thật là thánh nhân”. Vị Tỳ kheo này suy nghĩ như vậy mà chuyên vì cầu lợi, chẳng phải vì cầu pháp. Ông ấy đi, lại, vào, ra, tiến, dừng an tường, nắm giữ y bát chẳng mất uy nghi, ngồi riêng một mình ở chỗ không nhàn như là bậc A la hán, khiến cho người thế gian đều nói lên rằng, Tỳ kheo như vậy là tốt lành đệ nhất, tinh cần khổ hạnh, tu pháp Tịch Diệt - vị Tỳ kheo ấy nghĩ - Do nhân duyên này, ta sẽ được nhiều môn đồ, đệ tử, mọi người cũng sẽ đem đến nhiều cúng dường, quần áo, đồ ăn, thức uống, ngọa cụ (đồ nằm) y dược (thuốc thang), khiến cho nhiều nữ nhân kính trọng, ái niệm... Nếu có Tỳ kheo và Tỳ kheo ni làm những việc như vậy thì rơi vào pháp quá nhân. Lại có Tỳ kheo vì muốn kiến lập Chánh pháp vô thượng, trụ ở chỗ không nhàn, chẳng phải A la hán mà muốn khiến cho mọi người gọi là A la hán, là Tỳ kheo tốt, là Tỳ kheo thiện, là Tỳ kheo tịch tịnh, khiến cho vô lượng người sinh ra lòng tin. Do nhân duyên này, vị Tỳ kheo ấy nghĩ rằng, ta được vô lượng các Tỳ kheo lấy làm quyến thuộc. Nhân đó được dạy bảo Tỳ kheo phá giới và Ưu bà tắc đều khiến cho họ trì giới. Do nhân duyên kiến lập chánh pháp này nên dương sáng đại nghĩa vô thượng của Như Lai, mở bày pháp hóa Ðại Thừa Phương Ðẳng, độ thoát tất cả vô lượng chúng sinh, khéo giải nghĩa khinh trọng, Kinh luật đã nói của Như Lai. Lại nói rằng, ta nay cũng có Phật tính, có Kinh gọi là Như Lai Bí Tạng. Ở trong Kinh đó ta sẽ nhất định được thành Phật đạo, có thể hết vô lượng ức phiền não kết, rộng vì vô lượng những Ưu bà tắc nói rằng: “Các ông đều có Phật tính hết. Ta cùng với các ông đều sẽ an trụ ở đất đạo của Như Lai, thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, diệt hết vô lượng ức những phiền não kết. Người nói lời nói đó là người chẳng gọi là rơi vào pháp Quá nhân mà gọi là Bồ tát. Nếu nói rằng, có người phạm Ðột-kiết-la thì đọa vào trong địa ngục tám trăm vạn năm tính theo năm tháng ngày trên trời Ðao Lợi, chịu các tội báo, huống gì là phạm tội Thâu-lan-già? Trong Ðại Thừa này, nếu có Tỳ kheo phạm Thâu-lan-già thì chẳng nên thân cận. Những gì gọi là tội Thâu-lan-già trong Kinh Ðại Thừa? - Nếu có ông trưởng giả tạo lập Phật tự, đem những hoa mạn (vòng hoa cài tóc) dùng cúng dường Phật. Có vị Tỳ kheo thấy sợi tơ trong xâu hoa, chẳng hỏi liền lấy thì gọi là Thâu-lan-già, hoặc biết hay chẳng biết cũng phạm như vậy. Nếu do lòng tham mà phá hoại tháp thờ Phật thì phạm Thâu-lan-già Người như vậy chẳng nên thân cận. Nếu vua, đại thần thấy Tháp mục nát, vì muốn tu bổ cúng dường xá lợi mà ở trong tháp này hoặc được đồ trân bảo liền đem gởi cho vị Tỳ kheo. Vị Tỳ kheo được gởi rồi liền tự tại mà dùng. Tỳ kheo như vậy gọi là bất tịnh, dấy khởi nhiều đấu tranh, hàng Ưu bà tắc tốt chẳng nên gần gũi cúng dường cung kính. Tỳ kheo như vậy gọi là không căn, gọi là hai căn, gọi là bất định căn. Người bất định căn là khi muốn tham nữ thì thân tức là nữ, khi muốn tham nam thì thân tức là nam. Tỳ kheo như vậy gọi là ác căn, chẳng gọi là nam, chẳng gọi là nữ, chẳng gọi là xuất gia, chẳng gọi là tại gia. Tỳ kheo như vậy chẳng nên thân cận cúng dường cung kính. Pháp Sa môn ở trong Phật pháp thì nên sinh lòng bi che chở nuôi dưỡng chúng sinh, thậm chí con kiến cũng thí cho vô úy, đó là Pháp Sa môn. Xa lìa uống rượu... cho đến ngửi mùi thơm, đó là Pháp Sa môn. Chẳng được nói dối, thậm chí cả trong giấc mơ chẳng nghĩ đến nói dối, đó là Pháp Sa môn. Chẳng sinh ra lòng dục thậm chí cả trong mơ cũng lại như vậy, đó là Pháp Sa môn.

Ngài Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu có vị Tỳ kheo nằm mơ thấy hành dâm dục thì đó có phạm giới không?

Ðức Phật dạy rằng:

- Chẳng phạm vậy! Nên đối với dâm dục phát sinh xú uế tưởng... cho đến chẳng phát sinh một ý niệm tịnh tưởng, xa lìa ái tưởng phiền não của nữ nhân. Nếu trong mơ thấy mình hành dâm thì khi thức dậy nên sinh hối hận. Khi Tỳ kheo xin ăn, nhận đồ cúng dường thì nên tưởng như là đời đói phải ăn thịt con. Nếu phát sinh dâm dục thì nên mau lìa bỏ. Pháp môn như vậy thì phải biết chính là Kinh luật của Phật đã nói. Nếu có người thuận theo lời nói của ma thì chính là quyến thuộc của ma. Nếu người có thể thuận theo lời Phật dạy thì đó gọi là Bồ tát. Nếu có người nói rằng, đức Phật cho phép Tỳ kheo luôn kiễng một chân, lặng yên chẳng nói, gieo xuống vực, lao vào lửa, tự rơi từ núi cao, chẳng tránh hiểm nạn, uống độc, nhịn ăn, nằm trên đất tro, tự trói chân tay, giết hại chúng sinh, phương đạo chú thuật, con của Chiên đà la, không căn, hai căn và bất định căn, thân căn chẳng đủ... Những bọn như vậy đức Như Lai đều cho phép xuất gia làm đạo thì đó gọi là ma nói. Ðức Phật trước đã cho phép ăn năm thứ vị của trâu và cả dầu, mật, mặc áo Kiều xa gia, mang giày da, v.v... Trừ ngoài những thứ đó, nếu có người nói rằng, đức Phật cho phép mặc áo Ma ha lăng già, tất cả hạt giống đều cho phép tích trữ, những hệ thuộc của cỏ cây đều có thọ mạng. Ðức Phật nói thế rồi liền vào Niết Bàn. Nếu có Kinh luật nói lời nói đó thì phải biết chính là lời nói của ma. Ta cũng chẳng cho phép luôn kiễng lên một chân. Nếu vì phép nên cho phép đi, đứng, ngồi, nằm. Ta lại cũng chẳng cho phép uống độc, nhịn ăn, năm thứ lửa nóng nướng thân, trói buộc chân tay, giết hại chúng sinh, phương đạo chú thuật, kha cụ, ngà voi dùng làm giày da, tích trữ hạt giống, cỏ cây có mạng sống, mặc Ma ha lăng già. Nếu nói rằng, đức Thế Tôn nói lời như vậy thì phải biết đó là quyến thuộc của ngoại đạo, chẳng phải là đệ tử của ta. Ta chỉ cho phép ăn năm thứ vị của trâu và dầu, mật, v.v..., cho phép mang giày da, mặc áo Kiều-xà-gia. Ta nói bốn đại không có thọ mạng. Nếu có Kinh luật nói những việc đó thì đó gọi là Phật nói. Nếu có người thuận theo lời dạy thì phải biết đó là đệ tử chân chính của ta. Nếu có người chẳng thuận theo lời dạy của Phật thì đó là quyến thuộc của ma. Nếu có người tùy thuận Kinh luật của Phật thì phải biết người đó là Ðại Bồ tát. Này thiện nam tử! Tướng sai khác của lời ma, lời Phật, hôm nay ta đã vì ngươi rộng rãi tuyên nói, phân biệt rồi!

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Hôm nay con mới biết được tướng sai khác của lời ma, lời Phật. Nhân đó con được vào nghĩa sâu của Phật pháp.

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông có thể phân biệt hiểu rõ như vậy thì đó gọi là thông tuệ.

PHẨM TỨ ÐẾ Thứ Mười

Ðức Phật lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Cái nói rằng khổ thì chẳng gọi là Khổ Thánh Ðế. Vì sao vậy? Vì nếu nói rằng khổ là Khổ Thánh Ðế thì tất cả loài súc sinh và chúng sinh của địa ngục nên có Thánh đế. Này thiện nam tử! Nếu lại có người chẳng biết cảnh giới thậm thâm và pháp thân vi mật thường trụ bất biến của Như Lai mà cho là thân tạp thực, chẳng phải là pháp thân, chẳng biết uy lực đạo đức của Như Lai thì đó gọi là Khổ. Vì sao vậy? Vì chẳng biết nên Pháp thấy là phi pháp, phi pháp thấy là Pháp. Ông phải biết là người này nhất định rơi vào đường ác, luân chuyển trong sinh tử, thêm lớn các kết, chịu nhiều khổ não. Nếu có người có thể biết Như Lai thường trụ, không có biến dị, hoặc nghe âm thanh hai chữ thường trụ hay một lần trải qua như vậy thì liền sinh lên trời. Rồi sau khi giải thoát mới có thể chứng biết Như Lai thường trụ, không có biến dị. Ðã chứng biết rồi mà người đó còn rằng, ta vào thuở xưa đã từng nghe nghĩa này, nay được giải thoát mới chứng biết được. Ta ở đời trước do chẳng biết nên sinh tử luân chuyển, quay vòng không cùng, bắt đầu hôm nay mới được chân trí. Nếu biết như vậy thì quả thật tu khổ được nhiều lợi ích. Nếu chẳng biết thì tuy lại siêng tu nhưng không lợi ích gì. Ðó gọi là biết khổ, gọi là Khổ Thánh Ðế. Nếu người chẳng thể tu tập như vậy thì đó gọi là khổ, chẳng phải là Khổ Thánh Ðế. Khổ Tập Ðế là ở trong chân pháp chẳng sinh ra chân trí, nhận vật bất tịnh như là nô tỳ, có thể lấy phi pháp nói rằng chính là Chánh pháp, đoạn diệt Chánh pháp chẳng khiến cho trụ thế lâu dài. Do nhân duyên này nên chẳng biết pháp tính, vì chẳng biết nên luân chuyển sinh tử, chịu nhiều khổ não, chẳng được sinh lên trời và giải thoát chân chánh. Nếu có người biết rõ bất hoại chánh pháp, do nhân duyên như vậy, được sinh lên cõi trời, cho đến chánh giải thoát. Nếu có người chẳng biết chỗ Khổ Tập Ðế mà nói rằng, Chánh pháp không có thường trụ, đều là pháp diệt. Do nhân duyên đó nên ở vô lượng kiếp lưu chuyển sinh tử, chịu những khổ não. Nếu có thể biết pháp thường trụ, chẳng biến dị thì đó gọi là biết Tập, gọi là Tập Thánh Ðế. Nếu người chẳng thể tu tập như vậy thì đó gọi là Tập, chẳng phải là Tập Thánh Ðế. Khổ Diệt Ðế là nếu có người tu tập, học nhiều không pháp thì đó là bất thiện. Vì sao vậy? Vì diệt tất cả pháp là hoại đến chân pháp tạng của Như Lai vậy. Tạo tác sự tu học này thì gọi là tu “Không”. Tu Khổ Diệt là ngược lại với tất cả những ngoại đạo, v.v... Nếu nói rằng, tu không là Diệt Ðế thì tất cả ngoại đạo cũng tu không pháp nên có Diệt Ðế. Nếu có người nói rằng, có Như Lai Tạng, tuy chẳng thể thấy, nhưng nếu có thể diệt trừ tất cả phiền não thì mới được vào. Nếu phát lòng này, chỉ nhân duyên một niệm, thì ở trong các pháp mà được tự tại. Nếu có người tu tập mật tạng của Như Lai, không tịch vô ngã thì người như vậy ở vô lượng đời tại trong sinh tử lưu chuyển thọ khổ. Nếu có người chẳng tạo tác sự tu tập như vậy thì tuy có phiền não nhưng có thể mau chóng diệt trừ. Vì sao vậy? Vì nhân biết bí mật tạng của Như Lai. Ðó gọi là Khổ Diệt Thánh Ðế. Nếu người có thể tu tập diệt như vậy thì chính là đệ tử của ta. Nếu có người chẳng thể tạo tác việc tu như vậy thì đó gọi là tu không, chẳng phải là Diệt Thánh Ðế. Ðạo Thánh Ðế thì như là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo và Chánh giải thoát. Có những chúng sinh, lòng điên đảo nói rằng, không có Phật, Pháp, Tăng và Chánh giải thoát, sinh tử lưu chuyển giống như huyễn hóa mà tu tập theo sự nhận thức này thì do nhân duyên đó nên luân chuyển trong ba cõi, chịu đại khổ lâu dài. Nếu có thể phát tâm thấy được sự thường trụ không biến đổi của Như Lai và Pháp, Tăng, giải thoát cũng lại như vậy rồi theo một niệm này đến vô lượng đời thì quả báo tự tại tùy ý mà được. Vì sao vậy? Vì ta, vào thuở xa xưa do bốn điên đảo nên chẳng phải pháp mà cho là pháp, chịu vô lượng quả báo nghiệp ác. Ta nay đã diệt được sự nhận thức như vậy nên thành Phật Chánh Giác. Ðó gọi là Ðạo Thánh Ðế. Nếu có người nói rằng, Tam Bảo vô thường, tu tập theo sự nhận thức này là tu theo hư vọng, chẳng phải là Ðạo Thánh Ðế. Nếu tu pháp này là thường trụ thì đó là đệ tử của ta. Nhận thức chân thật, tu tập bốn pháp Thánh Ðế thì đó gọi là Bốn Thánh Ðế.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nay mới biết tu tập bốn pháp Thánh Ðế thậm thâm.

PHẨM BỐN ÐIÊN ÐẢO Thứ Mười Một

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Gọi bốn điên đảo là vì ở trong chẳng phải khổ mà sinh ra khổ ưởng thì gọi là điên đảo. Chẳng phải khổ thì gọi là Như Lai. Sinh ra khổ tưởng thì cho là các Như Lai vô thường biến dị. Nếu nói Như Lai là vô thường thì gọi là đại tội khổ. Nếu nói Như Lai bỏ thân khổ này vào Niết Bàn như cũi hết lửa tắt thì đó gọi là chẳng phải khổ mà sinh ra khổ tưởng. Ðó gọi là điên đảo. Ta nếu nói rằng, Như Lai thường trụ thì tức là ngã kiến. Do ngã kiến nên có vô lượng tội. Vậy nên cần phải nói Như Lai vô thường. Nói như vậy thì ta thụ hưởng niềm vui. Như Lai vô thường tức là khổ mà nếu là khổ thì làm sao sinh ra vui? Vì ở trong khổ sinh ra lạc tưởng (tư tưởng vui) nên gọi là điên đảo. Lạc sinh ra khổ tưởng nên gọi là điên đảo. Lạc tức là Như Lai, khổ là Như Lai vô thường. Nếu nói Như Lai là vô thường thì đó gọi là trong lạc sinh ra khổ tưởng. Như Lai thường trụ, đó gọi là lạc. Nếu ta nói rằng, Như Lai là thường trụ thì sao lại được vào Niết Bàn. Nếu nói rằng, Như Lai chẳng phải là khổ thì tại sao xả thân mà chọn lấy diệt độ. Do ở trong lạc mà sinh ra khổ tưởng nên gọi là điên đảo. Ðó gọi là điên đảo đầu tiên. Vô thường mà tưởng thường, thường mà tưởng vô thường thì đó gọi là điên đảo. Vô thường thì gọi là chẳng tu không, chẳng tu không nên thọ mạng ngắn ngủi. Nếu có người nói rằng, chẳng tu không tịch, được sống lâu thì đó gọi là điên đảo. Ðó gọi là điên đảo thứ hai. Vô ngã mà tưởng ngã, ngã mà tưởng vô ngã thì đó gọi là điên đảo. Người thế gian cũng nói có ngã, trong Phật pháp cũng nói có ngã. Người thế gian tuy nói có ngã nhưng không có Phật tính thì đó gọi là ở trong vô ngã mà sinh ra ngã tưởng. Ðó gọi là điên đảo. Phật pháp có ngã tức là Phật tính. Người thế gian nói Phật pháp vô ngã, đó gọi là trong ngã sinh ra vô ngã tưởng. Nếu nói rằng, Phật pháp nhất định vô ngã. Vậy nên Như Lai dạy bảo các đệ tử tu tập vô ngã, gọi là điên đảo. Ðó gọi là điên đảo thứ ba. Tịnh mà tưởng bất tịnh, bất tịnh mà tưởng tịnh thì đó gọi là điên đảoTịnh tức là Như Lai thường trụ, chẳng phải thân tạp thực, chẳng phải thân phiền não, chẳng phải là nhục thân, chẳng phải là thân gân xương ràng buộc. Nếu có người nói rằng, Như Lai vô thường, là thân tạp thực... cho đến thân gân xương ràng buộc và Pháp, Tăng, giải thoát đều là diệt hết thì đó gọi là điên đảo. Bất tịnh mà tưởng tịnh gọi là điên đảo thì như có người nói rằng, trong thân này của ta không có một pháp, là bất tịnh. Do không có tịnh bất tịnh nên sẽ được vào chỗ thanh tịnh. Ðức Như Lai đã nói, tu quán bất tịnh. Nói như vậy là lời nói hư vọng thì đó gọi là điên đảo. Ðó gọi là điên đảo thứ tư.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con từ ngày hôm nay mới được Chánh kiến! Thưa đức Thế Tôn! Từ đây trở về trước, chúng con đều gọi là người tà kiến.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ bảy hết -


8/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Tám

PHẨM NHƯ LAI TÍNH Thứ Mười Hai

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Hai mươi lăm cõi Hữu có Ngã không vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ngã tức là nghĩa của Như Lai tạng. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tức là nghĩa của Ngã. Như vậy nghĩa của Ngã từ xưa đến nay thường bị sự che phủ của vô lượng phiền não. Vậy nên chúng sinh chẳng thể được thấy. Này thiện nam tử! Như bên trong nhà của người con gái nghèo có nhiều kho tàng vàng ròng mà người nhà lớn nhỏ không có ai biết. Có một người lạ giỏi biết phương tiện nói với người con gái nghèo rằng: “Ta nay có thể tìm cho ngươi! Nhưng ngươi có thể vì ta làm cỏ, trừ sạch cỏ bẩn”. Người con gái liền đáp rằng: “Tôi nay chẳng thể làm! Nếu ông có thể bày ra cho con tôi chỗ giấu vàng, nhiên hậu tôi sẽ mau chóng vì ông mà làm!” Người đó lại nói rằng: “Ta biết phương tiện có thể bày ra cho con ngươi!” Người con gái đáp rằng: “Nhà tôi lớn nhỏ còn tự chẳng biết, huống chi ông sao có thể biết?” Người đó lại nói rằng: “Ta nay xét thấy có thể biết!” Người con gái đáp rằng: “Tôi cũng muốn thấy! Ông hãy mau mắn có thể bày ra cho tôi!” Người đó liền ở trong ngôi nhà ấy đào ra kho vàng. Người con gái thấy rồi, lòng sinh ra hoan hỷ, khởi lên tư tưởng lạ lùng, theo ngưỡng mộ người đó. Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy, tất cả chúng sinh chẳng thể được thấy như kho báu kia, người nghèo chẳng biết được. Này thiện nam tử! Ta nay khắp bày ra cho tất cả chúng sinh, sở hữu Phật tính của họ bị sự che phủ của các phiền não như người nghèo kia có kho vàng ròng mà chẳng thể thấy. Hôm nay Như Lai khắp bày ra những kho báu giác của chúng sinh như là Phật tính. Tất cả chúng sinh thấy sự kiện này rồi, lòng sinh ra hoan hỷ mà quy ngưỡng Như Lai. Người giỏi phương tiện tức là Như Lai, người con gái nghèo tức là tất cả vô lượng chúng sinh. Kho vàng ròng tức là Phật tính vậy.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người con gái sinh ra, nuôi dưỡng đứa con một. Ðứa trẻ bị bệnh, người con gái này sầu não, tìm kiếm lương y. Vị lương y đã đến, hòa hợp ba thứ thuốc là váng sữa, sữa, đường cho đứa trẻ uống. Rồi nhân đó bảo người con gái rằng: “Ðứa trẻ uống thuốc rồi thì chớ cho bú! Cần phải để cho thuốc tiêu rồi thì mới cho nó bú”. Người con gái đó liền dùng vị đắng bôi lên vú của mình và nói với con rằng: “Vú của mẹ bôi độc rồi chẳng thể chạm vào được nữa!” Ðứa trẻ khát sữa muốn được bú sữa mẹ, nghe hơi độc của sữa liền tránh xa đi. Ðến lúc thuốc ấy tiêu rồi, người mẹ mới rửa sạch vú, gọi con cho nó bú. Lúc đó đứa trẻ tuy lại đói khát mà lúc trước đã nghe hơi độc nên chẳng đến. Người mẹ lại nói rằng: “Vì con uống thuốc nên mẹ dùng độc bôi, thuốc của con đã tiêu, mẹ đã rửa sạch rồi. Con có thể đến uống sữa, không còn đắng nữa”. Ðứa trẻ ấy nghe rồi, dần dần trở lại uống sữa. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, vì độ tất cả nên dạy các chúng sinh tu pháp Vô ngã. Tu như vậy rồi thì đoạn dứt vĩnh viễn ngã tâm, vào đến Niết Bàn. Vì trừ những kiến thức hư vọng của thế gian nên ta thị hiện pháp ra khỏi thế gian. Ta lại bày ra cho thế gian, kể là ngã hư vọng, chẳng phải chân thật, tu Vô ngã thì thân thanh tịnh. Ví như người con gái vì con mình nên dùng vị đắng bôi lên vú, Như Lai cũng vậy, vì tu “Không” nên nói rằng, các pháp đều không có Ngã. Như người con gái kia rửa sạch vú rồi mà gọi con là muốn cho nó trở lại uống sữa, ta nay cũng vậy, nên nói Như Lai tạng. Vậy nên Tỳ kheo chẳng nên sinh ra sợ. Như đứa trẻ kia nghe mẹ gọi đã dần dần trở lại uống sữa, Tỳ kheo cũng vậy, nên tự phân biệt Như Lai bí tạng, chẳng được chẳng có.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thật không có ngã. Vì sao vậy? Vì khi đứa trẻ sinh ra thì không hiểu biết gì. Nếu có Ngã thì ngày vừa sinh ra liền có sự hiểu biết. Do nghĩa đó nên nhất định biết không có Ngã. Nếu nhất định có Ngã thì sau khi thọ sinh rồi cần phải không hết mất. Giả sử tất cả đều có Phật tính, là thường trụ thì cần phải không có hoại tướng. Nếu không có hoại tướng thì sao mà có Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, Thủ đà và Chiên đà la, súc sinh sai khác. Nay thấy nghiệp duyên đủ thứ chẳng đồng, các đường đều khác. Nếu nhất định có ngã thì tất cả chúng sinh cần phải không có hơn thua. Do ý nghĩa đó nên nhất định biết Phật tính chẳng phải là pháp thường. Nếu nói rằng Phật tính nhật định là thường thì vì duyên gì lại nói có sát, đạo, dâm, lưỡng thiệc (nói hai lưỡi) ác khẩu, nói dối, nói thêu dệt, tham, sân, tà kiến. Nếu tính của ngã là thường thì vì sao sau khi uống rượu lại say sưa mê loạn. Nếu tính của Ngã là thường thì mù nên thấy sắc, điếc nên nghe tiếng, câm nên có thể nói, chân có rút có thể đi. Nếu tính của Ngã là thường thì chẳng nên trách hầm lửa, nước lớn, thuốc độc, dao gươm, người ác, cầm thú. Nếu ngã thường trụ thì việc đã làm xưa chẳng nên quên mất. Nếu chẳng quên mất thì vì duyên gì lại nói rằng, ta từng thấy người này ở đâu vậy? Nếu Ngã thường trụ thì chẳng nên có già trẻ, thịnh suy, nhớ nghĩ việc đã qua. Nếu Ngã thường trụ thì dừng trụ chỗ nào? Là ở tại trong bãi nước dãi, trong các màu sắc xanh vàng đỏ trắng vậy sao? Nếu Ngã thường trụ thì nên khắp trong thân như vùng dầu vừng (mè) không có chỗ trống không nên nếu khi đoạn thân thì Ngã cũng nên đoạn luôn.

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ví như vị vương gia có người đại lực sĩ. Vùng mày của người ấy có viên ngọc Kim cương. Ông cùng với lực sĩ khác đấu sức đánh nhau mà người lực sĩ kia dùng đầu húc vào chỗ viên ngọc đó. Viên ngọc trên trán vị lực sĩ ấy liền chìm mất vào trong da. Ông chẳng tự biết chỗ sở tại của viên ngọc đó. Thấy chỗ viên ngọc ấy có vết thương, ông liền ra lệnh cho lương y, muốn trị liệu cho mình. Có vị thầy thuốc sáng suốt giỏi biết phương thuốc, liền biết được nguyên nhân vết thương này là viên ngọc vào trong thân thể. Viên ngọc đó vào trong da liền dừng trụ lại. Lúc đó vị lương y liền hỏi vị lực sĩ rằng: “Viên ngọc trên trán của ngài ở đâu rồi?” Vị lực sĩ thất kinh đáp rằng:“Viên ngọc trên trán tôi đã mất rồi sao? Viên ngọc đó nay đâu rồi? Sẽ chẳng phải là huyễn hóa?” Rồi ông lo buồn gào khóc. Lúc đó, vị lương y an ủi dỗ dành người lực sĩ rằng: “Ông nay chẳng nên sinh ra sầu khổ lớn! Ông nhân khi đánh nhau, viên ngọc báu vào trong thân thể. Nay tại chỗ da bọc, ảnh nó hiện ra bên ngoài. Khi các ông đánh nhau, sân nhuệ độc hại hưng thịnh, viên ngọc bị hãm (vùi lấp) vào thân thể nên chẳng tự biết”. Lúc đó người lực sĩ chẳng tin vị thầy thuốc mà nói rằng: “Nếu tại chỗ da bọc, mũ máu bất tịnh thì vì duyên cớ gì nó chẳng ra? Nếu tại chỗ gân bọc thì chẳng thể thấy được! Ông nay tại sao lại lừa dối ta?” Vị thầy thuốc cầm kính (gương) để soi vào mặt người lực sĩ ấy thì viên ngọc ở trong kính hiển hiện sáng rõ. Người lực sĩ thấy rồi lòng mang kinh lạ phát sinh tư tưởng đặc biệt lạ lùng. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, chẳng thể gần gũi thiện tri thức nên tuy có Phật tính nhưng đều chẳng thể thấy mà bị sự che phủ của tham dâm, sân nhuế, ngu si nên rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, A tu la, chiên đà la, Sát lợi, Bà la môn, tỳ xá, thủ đà... Họ sinh ra trong đủ thứ gia đình như vậy là nhân sự khởi dậy đủ thứ nghiệp duyên của tâm. Họ tuy thọ thân người nhưng bị mù điếc, mù, ngọng, câm, câu rút, gù, què... phải chịu quả báo ở trong hai mươi lăm cõi Hữu. Họ bị tham dâm, sân nhuế, ngu si che phủ tâm hồn nên chẳng biết Phật tính như người lực sĩ kia, viên ngọc báu vẫn còn trong thân thể mà kêu là đã mất đi. Chúng sinh cũng vậy, chẳng biết gần gũi thiện tri thức nên chẳng biết vi mật bảo tạng của Như Lai, tu học Vô ngã, ví như hạng chẳng phải Thánh, tuy nói có Ngã mà cũng lại chẳng biết chân tính của Ngã. Các đệ tử của ta cũng lại như vậy, chẳng biết gần gũi bậc thiện tri thức nên tu học Vô ngã cũng lại chẳng biết chỗ của Vô ngã, còn tự chẳng biết chân tính của Vô ngã, huống là lại có thể biết chân tính của hữu ngã. Này thiện nam tử! Như Lai nói các chúng sinh đều có Phật tính như vậy là ví như vị lương y bày ra cho người lực sĩ kia viên ngọc báu kim cương. Những chúng sinh này bị sự che phủ của vô lượng ức những phiền não nên chẳng nhận biệt được Phật tính. Nếu tận diệt phiền não thì bấy giờ họ mới được chứng biết sáng rõ như người lực sĩ kia thấy ngọc báu của mình ở trong gương sáng. Này thiện nam tử! Như Lai bí tạng như vậy thật là không lường, chẳng thể nghĩ bàn!

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như núi Tuyết có một vị thuốc là Lạc vị rất ngọt, ở tận dưới rừng sâu, người không thể thấy. Có người nghe mùi thơm liền biết chỗ đất ấy phải có thứ thuốc này. Trong đời quá khứ, có vị vua Chuyển Luân, ở núi Tuyết kia, vì thứ thuốc này, ở tại khắp nơi nơi đã tạo tác những ống tre để tiếp nhận thứ thuốc đó. Thuốc đó khi nóng thì từ đất chảy ra tập trung vào trong ống tre. Vị của thuốc ấy chân chính. Vi vua đã mất rồi thì sau đó vị thuốc này hoặc chua, hoặc mặn, hoặc ngọt, hoặc đắng, hoặc cay, hoặc nhạt... Như vậy mỗi vị tùy theo chỗ chảy ra của vị thuốc ấy mà có đủ thứ vị lạ. Vị chân chính của thuốc đó đình lại ở tại núi giống như vầng trăng tròn đầy. Phàm người bạc phước tuy đào thoát gia công khổ chí mà chẳng thể được. Lại có bậc Thánh vương xuất hiện ở đời, do phước đức nhân duyên thì liền được vị chân chính của thuốc đó. Này thiện nam tử! Bí mật tạng của Như Lai, vị ấy cũng vậy, bị sự che phủ của rừng rậm những phiền não, chúng sinh vô minh chẳng thể được thấy. Thuốc một vị là ví như Phật tính, do phiền não nên phát ra đủ thứ vị như là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, trời, người, trai, gái, chẳng phải trai, chẳng phải gái, Sát lợi, Bà la môn, tỳ xá, thủ đà. Phật tính hùng mạnh khó có thể hủy hoại. Vậy nên không ai có thể sát hại, nếu có người giết hại thì tức là đoạn Phật tính. Như vậy Phật tính nhất định chẳng thể đoạn được. Tính nếu có thể đoạn thì không có điều đó. Như tính của Ngã tức là bí mật tạng của Như Lai. Như vậy bí mật tạng thì tất cả không thể hủy hoại thiêu diệt. Tuy nó chẳng thể hoại nhưng chẳng thể thấy. Nếu được thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì mới chứng biết được. Do nhân duyên này nên không có ai có thể giết hại.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu không ai giết hại thì cần phải không có nghiệp bất thiện!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Quả thật có sát sinh! Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh ở trong năm ấm. Nếu hủy hoại năm ấm thì gọi là sát sinh. Nếu có sát sinh tức là đọa vào đường ác. Do nhân duyên nghiệp mà có Sát lợi, Bà la môn, tỳ xá, thủ đà và chiên đà la, nam, hoặc nữ, chẳng phải nam, chẳng phải nữ... Những hình tướng sai khác của hai mươi lăm cõi hữu sinh tử lưu chuyển. Người chẳng phải là thánh ngang ngược cho rằng, đối với các tướng lớn nhỏ của Ngã giống như hạt kê, hoặc như hạt gạo, hạt đậu thậm chí như ngón tay cái. Họ vọng sinh đủ thứ tưởng nhớ như vậy thì tướng vọng tưởng không có chân thật. Tướng Ngã xuất thế gọi là Phật tính. Cho là Ngã như vậy thì gọi là Tối thiện.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người giỏi biết phục tạng (kho tàng được che giấu) liền lấy cái xẻng bén đào đất thẳng xuống, đá bàn, cát sỏi thẳng qua không khó, chỉ đến Kim cương thì chẳng thể xuyên suốt. Phàm Kim cương thì dù có đao, búa cũng chẳng thể phá hoại được. Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy, cho dù là tất cả, ma trời Ba Tuần và những người, trời... đã chẳng thể phá hoại. Tướng năm ấm tức là khởi tác. Tướng khởi tác giống như đá, cát có thể xuyên qua, có thể phá hoại. Phật tính chân ngã thì ví như Kim cương, chẳng thể hủy hoại được. Do ý nghĩa này nên hoại năm ấm thì gọi là sát sinh. Này thiện nam tử! Ông nhất định phải biết Phật pháp chẳng thể nghĩ bàn như vậy.

Này thiện nam tử! Kinh Phương Ðẳng giống như cam lộ, cũng giống như độc dược.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Ðức Như Lai vì duyên gì mà nói Kinh Phương Ðẳng ví như cam lộ, cũng ví như độc dược?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay có muốn biết ý nghĩa chân thật của Như Lai bí mật tạng không?

Ngài Ca Diếp bạch rằng:

- Con nay thật muốn biết được ý nghĩa của Như Lai bí tạng!

Lúc bấy giờ, đức Như Lai nói kệ rằng:

Hoặc có uống cam lộ Mà sớm mạng thương vong.

Hoặc lại uống cam lộ Thọ mạng được miên trường.

Có uống độc mà sống Uống độc chết có duyên(cớ).

Trí vô ngại cam lộ Gọi là Ðại Thừa Kinh.

Như vậy Ðại Thừa điển Cũng gọi độc dược phương (phương thuốc) Như đề hồ, váng sữa Và cả những loại đường (ngọt)

Uống tiêu thì là thuốc Chẳng tiêu thành độc liền.

Phương Ðẳng cũng như vậy Cam lộ của người thông (trí)

Ngu chẳng biết Phật tín Uống vào thì độc thành.

Thanh Văn và Duyên Giác Ðại Thừa là ngọt lành (là cam lộ)

Giống như trong các vị Vị sữa là trên cùng;

Như vậy người cầu tiến Với Ðại Thừa tựa nương

Thì Niết Bàn được đến Trong (loài) người thành tượng vương (vua voi)

Chúng sinh biết Phật tính Như Ca Diếp vân..vân...

Vị cam lộ vô thượng Chẳng tử cũng chẳng sinh.

Ca Diếp! Ông nay phải Tam qui khéo léo phân (biệt)

Như vậy Tam qui tính Tức là tính Ngã đồng.

Nếu hay quan sát kỹ Ngã tính, Phật tính chung

Thì phải biết người đó Ðược vào bí mật tàng (tạng).

Biết Ngã và Ngã sở Là người xuất thế gian.

Tính Tam Bảo Phật Pháp Vô thượng đệ nhất tôn

Như lời kệ ta nói Tính ấy, nghĩa như trên.

Lúc bấy giờ, ngài Ca Diếp lại nói kệ rằng:

Con nay đều chẳng biết Chỗ Tam bảo để nương

Thì sao sẽ qui thú Vô sở úy không trên (vô thượng)?

Chẳng biết chỗ Tam Bảo Thì sao Vô ngã thành?

Sao gọi qui y Phật? Mà được an ủi lòng?

Sao gọi qui y Pháp? Xin ngài nói cho con!

Sao gọi được tự tại? Tự tại sao lại không?

Sao gọi qui y tăng? Chuyển được vô thượng lợi?

Sao gọi nói thật chân Vị lai thành Phật đạo?

Vị lai nếu chẳng thành Sao gọi qui Tam Bảo?

Con nay không biết thông Phải nương hành thứ lớp.

Sao gọi thai chưa mang Mà dấy sinh tử tưởng?

Nếu thai ắt ở trong Thì gọi là hữu tử (có con).

Nếu trong thai có con Sẽ sinh chẳng lâu nữa.

Ðó gọi là nghĩa con (ý nghĩa việc sinh con) Nghiệp chúng sinh cũng vậy

Như lời nói Thế Tôn Người ngu chẳng thể biết.

Do sự chẳng biết thông Luân hồi ngục sinh tử.

Ưu bà tắc giả danh Chẳng biết nghĩa chân thật.

Nguyện Phật rộng phân biệt Trừ lưới nghi cho con!

Như Lai đại trí tuệ Rũ lòng thương giải phân!

Nguyện nói bí mật tạng Của Như Lai Thế Tôn!

- Ca Diếp! Ông phải biết Ta nay sẽ vì ông

Khéo mở vi mật tạng Khiến đoạn nghi của ông.

Nay nghe phải hết lòng Ông với các Bồ tát

Phật thứ bảy cùng chung Ðồng một danh hiệu ấy.

Người theo Phật về nương Chân thật Ưu bà tắc

Nhất định chẳng về nương (qui y) Những thiên thần nào khác.

Người nghe pháp về nương (qui y pháp) Thì lìa khỏi sát hại

Người qui y Thánh Tăng Chẳng cầu đến ngoại đạo.

Qui Tam Bảo như trên Thì được vô sở úy.

Ca Diếp bạch Phật rằng: Con cũng qui Tam bảo

Ðó là đường chánh chân Là cảnh giới chư Phật

Tướng Tam Bảo ngang bằng (bình đẳng) Thường có tính Ðại trí

Tính ngã, tính Thế Tôn (Phật tính) Không hai, không sai khác

Ðạo này được Phật khen Chỗ dừng yên chánh tiến.

Cũng gọi thấy chánh chân Nên được Phật khen ngợi.

Ngã cùng đường đi lành Ðược khen đạo Vô thượng

Là cam lộ trên cùng Các hữu đã không có.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên như những Thanh Văn, người phàm phu mà phân biệt Tam bảo. Ðối với Ðại Thừa này không có tướng phân biệt Tam qui. Sở dĩ vì sao? Vì ở trong Phật tính tức là có Pháp, Tăng. Vì muốn hóa độ Thanh Văn, phàm phu nên ta phân biệt nói Tam Bảo khác tướng. Này thiện nam tử! Nếu muốn thuận theo pháp thế gian thì nên phân biệt có ba qui y. Này thiện nam tử! Bồ tát nên tác khởi tư duy như vầy: “Thân này của ta hôm nay nương về với Phật. Nếu tức thời thân này được thành Phật đạo mà đã thành Phật rồi thì chẳng phải cung kính lễ bái cúng dường đối với các đức Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì chư Phật bình đẳng, bình đẳng vì chúng sinh tạo tác qui y. Nếu muốn tôn trọng pháp thân xá lợi thì nên lễ kính tháp miếu của chư Phật. Sở dĩ vì sao? Vì muốn hóa độ chúng sinh nên cũng khiến cho chúng sinh ở trong thân ta dấy lên tư tưởng tháp miếu mà lễ bái cúng dường. Như vậy chúng sinh đã dùng pháp thân của ta làm chỗ qui y. Tất cả chúng sinh đều nương vào pháp tà ngụy chẳng phải chân. Ta sẽ lần lượt vì họ nói pháp chân chính. Lại có người qui y chẳng phải chân tăng thì ta sẽ vì họ làm chỗ qui y chân tăng. Nếu có người phân biệt ba qui y thì ta sẽ vì họ làm chỗ một qui y, không có ba thứ sai biệt. Ðối với mọi người sống mù thì ta vì họ làm tròng mắt. Ta lại phải vì các Thanh Văn, Duyên Giác làm chỗ qui y chân chính”. Này thiện nam tử! Như vậy là Bồ tát vì vô lượng chúng sinh ác và những trí giả mà làm Phật sự.

Này thiện nam tử! Ví như có người khi lâm trận chiến liền sinh ra tâm niệm rằng: “Ta ở trong đó là tối đệ nhất. Tất cả binh chúng đều nương cậy vào ta! Cũng như thái tử suy nghĩ như vầy: “Ta phải điều phục những người con còn lại của vua để nối dõi nghiệp đế vương của đại vương mà được tự tại, khiến cho những người con vua đều diện kiến qui y. Vậy nên chẳng nên sinh ra lòng hạ liệt”. Như vua, con vua, đại thần cũng vậy. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, tác khởi sự suy nghĩ này: “Sao gọi là ba việc cùng ta một thể?” Này thiện nam tử! Ta hiển thị ba việc tức là Niết Bàn. Như Lai thì gọi là Vô Thượng Sĩ, ví như trong thân người thì cái đầu là trên hết, chứ chẳng phải các chi tiết khác như chân, tay, v.v... Phật cũng như vậy, là đấng Tối Thượng Tôn, chứ chẳng phải là Pháp, Tăng vậy. Vì muốn hóa độ các thế gian nên Phật thị hiện đủ thứ tướng sai biệt như những bậc thang kia. Vậy nên ông nay chẳng nên thọ trì như sự hiểu biết tướng sai biệt về Tam qui của người phàm ngu! Ông đối với Ðại Thừa dũng mãnh, sắc bén, nhất quyết đoạn tuyệt thì nên như lưỡi cương đao (dao cứng)!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con biết mà cố hỏi, chớ chẳng phải vì chẳng biết. Con là Bồ tát đại dũng mãnh mà hỏi đến những hành xử vô cấu thanh tịnh là muốn khiến cho đức Như Lai vì các vị Bồ tát, rộng rãi tuyên nói, phân biệt việc đặc biệt kỳ lạ, xưng dương Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Ðức Như Lai Ðại bi nay đã khéo léo giảng nói rồi thì con cũng như vậy mà an trụ ở trong ấy. Ðức Phật đã nói những hành xử thanh tịnh của Bồ tát tức là tuyên nói Kinh Ðại Niết Bàn. Thưa đức Thế Tôn! Con nay cũng sẽ rộng vì chúng sinh hiển dương Như Lai bí tạng như vậy, cũng sẽ chứng biết chỗ Tam qui chân thật. Nếu có chúng sinh có thể tin như vậy Kinh Ðại Niết Bàn thì người ấy có thể tự nhiên liễu đạt chỗ tam qui y. Vì sao vậy? Vì Như Lai bí tạng có Phật tính. Những người ấy có tuyên nói Kinh điển này thì đều nói rằng, tận cùng trong thân có Phật tính. Người như vậy thì chẳng cầu chỗ tam qui y xa vời. Vì sao vậy? Vì ở đời vị lai, thân con tức sẽ thành tựu Tam Bảo. Vậy nên những người Thanh Văn, Duyên Giác và những chúng sinh khác đều nương vào con mà cung kính lễ bái.

- Này thiện nam tử! Do ý nghĩa này nên ông cần phải học tập chân chính Kinh điển Ðại Thừa!

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Phật tính như vậy chẳng thể nghĩ bàn! Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng chẳng thể nghĩ bàn!

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông đã thành tựu trí tuệ sâu sắc. Ta nay sẽ lại khéo léo vì ông nói về Nhập Như Lai Tạng. Nếu Ngã “trụ” thì tức là pháp “thường” chẳng lìa khỏi khổ. Nếu Vô ngã thì tu hành tịnh hạnh không có lợi ích gì. Nên nói rằng, các pháp đều không có ngã thì tức là “đoạn kiến”. Nếu nói rằng, Ngã trụ thì tức là “Thường kiến”. Nếu nói rằng, tất cả hạnh vô thường thì tức là đoạn kiến, các hạnh thường thì lại là thường kiến. Nếu nói rằng, khổ thì tức là đoạn kiến. Nếu nói rằng vui thì lại là thường kiến. Tu tất cả pháp thường thì rơi vào đoạn kiến. Tu tất cả pháp đoạn thì rơi vào thường kiến. Như loài trùng co mình bước đi, cốt nhân chân trước mà được dời chân sau, tu thường, đoạn cũng lại như vậy, cốt yếu nhân ở đoạn, thường. Do ý nghĩa đó nên tu pháp khổ khác thì đều gọi là bất thiện, tu pháp lạc khác thì gọi là thiện, tu pháp Vô ngã khác thì chính là những phận phiền não, tu pháp thường khác thì gọi là Như Lai bí tạng, như là Niết Bàn không có hang động nhà cửa, tu vô thường pháp khác thì tức là của cải, tu pháp thường khác thì gọi là Phật - Pháp - Tăng và chánh giải thoát... Ông phải biết, như vậy Phật pháp là trung đạo, xa lìa nhị biên (hai biên) mà nói chân pháp, người phàm phu ngu si ở giữa không nghi hoặc. Như người bệnh yếu đuối ăn uống váng sữa rồi khí lực nhẹ tênh. Pháp có, không thì thể tính bất định. Ví như bốn đại, tính chúng chẳng đồng, đều tự trái ngược nhau, thầy thuốc giỏi khéo biết tùy theo sự phát thiên lệch của chúng mà tiêu dứt chúng. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, đối với các chúng sinh giống như thầy thuốc giỏi, biết thể tướng của các phiền não sai khác mà vì họ đoạn trừ, mở bày Tạng bí mật của Như Lai, Phật tính thanh tịnh thường trụ bất biến. Nếu nói rằng, có thì trí chẳng nên nhiễm, nếu nói rằng, không thì tức là nói dối. Nếu nói rằng, có thì chẳng nên mặc nhiên, cũng lại chẳng nên hí luận tranh cãi mà chỉ cầu rõ biết chân tính các pháp. Người phàm phu hí luận tranh cãi, chẳng giải được vi mật tạng của Như Lai. Nếu nói đến khổ thì người ngu liền cho rằng, thân là vô thường, nói rằng, tất cả khổ, lại chẳng thể biết thân có tính vui (lạc). Nói vô thường thì người phàm phu cho là tất cả thân đều là vô thường. Ví như ngói thô (ngói mộc, ngói chưa nung). Người có trí cần phải phân biệt, chẳng nên nói hết tất cả vô thường. Vì sao vậy? Vì thân của Ngã tức là có hạt giống của Phật tính. Nếu nói Vô ngã thì người phàm phu sẽ cho rằng, tất cả Phật pháp đều không có Ngã. Kẻ trí cần phải phân biệt Vô ngã giả danh, chẳng thật mà biết như vậy rồi thì chẳng nên sinh ra nghi ngờ. Nếu nói rằng, Như Lai bí tạng rỗng không tịch mịch thì phàm phu nghe thế liền sinh ra đoạn diệt kiến. Người có trí cần phải phân biệt Như Lai là thường trụ không có biến dịch. Nếu nói rằng Giải thoát ví như huyễn hóa thì phàm phu sẽ gọi được giải thoát chân chính tức là ma diệt (mòn hết). Người có trí cần phải phân biệt bậc sư tử trong loài người tuy có đi, lại nhưng thường trụ không biến đổi. Nếu nói rằng, vô minh nhân duyên các hành thì người phàm phu nghe rồi phân biệt sinh ra nhị pháp tưởng là minh cùng vô minh. Kẻ trí liễu đạt tính ấy không hai. Tính không hai tức là tính chân thật. Nếu nói các hành nhân duyên thức thì phàm phu cho là hai, hành cùng thức. Kẻ trí liễu đạt tính hai thứ ấy không hai. Tính không hai tức là tính chân thật. Nếu nói mười thiện, mười ác, có thể tác, chẳng thể tác, đường thiện, đường ác, bạch pháp, hắc pháp... phàm phu cho là hai, kẻ trí liễu đạt thì tính ấy không hai. Tính không hai tức là tính chân thật. Nếu nói rằng, nên tu tất cả pháp khổ. Phàm phu cho là hai, kẻ trí liễu đạt tính ấy không hai. Tính không hai tức là tính chân thật. Nếu nói rằng, tất cả hành Vô thường Như Lai mật tạng cũng là Vô thường thì kẻ phàm cho là hai còn người trí liễu đạt tính ấy không hai. Tính không hai tức là tính chân thật. Nếu nói rằng, tất cả tất cả pháp Vô ngã, Như Lai bí tạng cũng không có ngã thì phàm phu cho là hai, kẻ trí liễu đạt tính ấy không hai. Tính không hai tức là tính chân thật. Ngã cùng Vô ngã, tính chúng không có hai. Như Lai bí tạng, nghĩa ấy như vậy, chẳng thể xưng kể, vô lượng vô biên các đức Phật khen ngợi. Ta nay ở trong Kinh tất cả công đức thành tựu này đều đã nói hết.

Này thiện nam tử! Ngã cùng Vô ngã, tính tướng không hai. Các ông nên thọ trì kính trọng như vậy! Này thiện nam tử! Ông cũng cần phải kiên trì nhớ nghĩ Kinh điển như vậy! Như ta trước ở trong Kinh Bát Nhã Ba la mật nói về ngã, Vô ngã không có hai tướng, như nhân vào sữa sinh ra cao sữa, nhân cao sữa được sinh ra váng sữa, nhân váng sữa được váng sữa chín, nhân váng sữa chín được đề hồ. Như vậy tính của cao sữa là từ sữa sinh ra, nó là từ tự mình sinh ra hay từ cái khác sinh ra vậy?.. cho đến đề hồ cũng lại như vậy. Nếu nó từ cái khác sinh ra thì tức là cái khác tạo ra chứ chẳng phải là sữa sinh ra. Nếu chẳng phải sữa sinh ra thì sữa làm gì? Nếu tự mình sinh ra thì chẳng nên tương tợ nối tiếp nhau mà sinh ra. Nếu nối tiếp nhau sinh ra thì chẳng đều sinh (câu sinh). Nếu chẳng câu sinh thì năm thứ vị chẳng cùng một lúc. Tuy chẳng cùng một lúc nhưng nhất định chẳng từ chỗ khác đến vậy. Ông phải biết rằng, trong sữa trước có tướng cao sữa, vị ngọt nhiều nên chẳng thể tự biến đổi... cho đến đề hồ cũng lại như vậy. Trâu này nhân duyên vào việc ăn uống nước, cỏ rồi huyết mạch chuyển biến mà được thành sữa. Nếu trâu ăn cỏ ngọt thì sữa ấy ngọt. Nếu trâu ăn cỏ đắng thì sữa có vị đắng. Núi Tuyết có loại cỏ tên là Phì Nhị mà nếu trâu ăn thì thuần được đề hồ, không có màu xanh vàng đỏ trắng đen. Do nhân duyên cỏ lúa nên sữa ấy có khác về sắc vị, những chúng sinh này do nhân duyên nghiệp minh, vô minh nên sinh ra hai tướng. Nếu vô minh chuyển thì biến thành minh. Tất cả các pháp thiện, bất thiện, v.v... cũng lại như vậy, không có hai tướng.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói đức Phật, trong sữa có cao sữa là nghĩa làm sao? Thưa đức Thế Tôn! Nếu nói rằng, trong sữa nhất định có tướng của cao sữa, vì vi tế nên chẳng thể thấy thì sao nói rằng, từ nhân duyên sữa mà sinh ra cao sữa? Pháp nếu vốn không thì gọi là sinh. Như sinh ấy đã có thì sao gọi rằng sinh? Nếu nói rằng, trong sữa nhất định có tướng của cao sữa mà trong trăm loài cỏ cũng cần có sữa. Như vậy trong sữa cũng cần có cỏ! Nếu nói rằng, trong sữa nhất định không có cao sữa thì làm sao nhân sữa mà được cao sữa. Nếu pháp vốn không mà sau sinh ra thì vì cớ gì trong sữa chẳng sinh ra cỏ?

- Này thiện nam tử! - Ðức Phật nói - Chẳng thể nhất định nói rằng, trong sữa có cao sữa, trong sữa không có cao sữa, cũng chẳng thể nói rằng, từ cái khác mà sinh ra. Nếu nói rằng, trong sữa nhất định có cao sữa thì sao mà cái được thể, vị đều khác. Vậy nên chẳng thể nói rằng, trong sữa nhất định có tính của váng sữa. Nếu nói rằng, trong sữa nhất định không có váng sữa thì trong sữa vì sao chẳng sinh ra sừng con thỏ? Cầm bằng cao sữa trong sữa độc thì giết người. Vậy nên chẳng thể nói rằng, trong sữa nhất định không có tính của cao sữa. Nếu nói rằng, cao sữa này từ cái khác sinh ra thì vì sao trong nước chẳng sinh ra váng sữa. Vậy nên chẳng thể nói rằng, cao sữa từ cái khác sinh ra. Này thiện nam tử! Con trâu này nhân duyên ăn cỏ nên máu biến thành trắng, cỏ và máu diệt mất rồi nhờ phước lực của chúng sinh biến đổi mà thành sữa. Sữa đó tuy từ cỏ và máu mà ra nhưng chẳng được nói rằng hai mà chỉ được gọi là từ nhân duyên sinh ra. Từ váng sữa đến đề hồ cũng lại như vậy. Do ý nghĩa này nên được gọi là ngưu vị. Sữa đó diệt rồi nhờ nhân duyên thành ra cao sữa. Những gì là nhân duyên? - Hoặc sang qua rót lại, hoặc đun cho nóng ấm... Vậy nên được gọi là từ nhân duyên mà có... cho đến đề hồ cũng lại như vậy. Vậy nên chẳng được nhất định nói rằng, trong sữa không có tướng của cao sữa. Từ cái khác sinh ra là lìa khỏi sữa mà có thì không có điều đó. Này thiện nam tử! Minh cùng vô minh cũng lại như vậy. Nếu chung cùng với các kết phiền não thì gọi là vô minh còn nếu chung cùng với tất cả thiện pháp thì gọi là minh. Vậy nên ta nói rằng, không có hai tướng. Do nhân duyên này mà trước ta nói rằng, núi Tuyết có loài cỏ tên là Phì Nhị, nếu trâu ăn vào thì liền thành Ðề hồ. Phật tính cũng vậy.

Này thiện nam tử! Chúng sinh phước mỏng chẳng thấy loài cỏ đó, Phật tính cũng vậy, bị phiền não che nên chúng sinh chẳng thấy. Ví như biển cả, tuy đồng một vị mặn nhưng trong biển ấy cũng có thứ nước thượng diệu, vị đồng với sữa. Ví như núi Tuyết tuy lại thành tựu đủ thứ công đức, sinh ra nhiều những thứ dược thảo, nhưng cũng có cỏ độc. Thân của các chúng sinh cũng lại như vậy, tuy có bốn thứ “Ðại” rắn độc, nhưng trong thân ấy cũng có diệu dược Ðại Vương như là Phật tính, chẳng phải là pháp tạo tác mà chỉ bị sự che phủ của khách trần phiền não. Nếu Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, Thủ đà có thể đoạn trừ chúng thì liền thấy Phật tính, thành đạo Vô thượng. Ví như hư không động sấm dậy mây thì trên tất cả ngà voi đều sinh ra hoa. Nếu không sấm rền thì hoa chẳng sinh ra, cũng không có danh tự. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy, thường bị sự che phủ của tất cả phiền não nên chẳng thể được thấy. Vậy nên ta nói, chúng sinh Vô ngã! Nếu họ được nghe Kinh điển Ðại Bát Niết Bàn vi diệu thì thấy được Phật tính như hoa ngà voi. Tuy người nghe được khế kinh, tất cả tam muội nhưng chẳng nghe Kinh này thì chẳng biết được tướng vi diệu của Như Lai như khi không tiếng sấm thì hoa trên ngà voi chẳng thể được thấy. Người nghe Kinh này rồi thì liền biết tất cả lời nói mật tạng Phật tính của Như Lai. Ví như trời nổi sấm thì thấy hoa ngà voi, nghe Kinh này rồi thì liền thấy tất cả vô lượng chúng sinh đều có Phật tính. Do ý nghĩa này nên nói rằng, Ðại Niết Bàn gọi là Như Lai bí mật tạng tăng trưởng pháp thân, giống như khi nổi sấm thì hoa trên ngà voi có thể trưởng dưỡng. Do đại nghĩa như vậy nên được gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể tu tập Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này thì ông phải biết, người đó có thể báo ân Phật, là đệ tử Phật chân chính.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Rất lạ lùng! Thưa đức Thế Tôn! Lời nói về Phật tính của ngài rất sâu! Rất sâu! Khó thấy! Khó vào! Ðiều mà Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể lý giải được.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời khen của ông, chẳng trái với lời nói của ta!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Phật tính thì sao gọi là rất sâu khó thấy khó vào?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như một trăm người mù vì trị liệu mắt nên tìm đến lương y. Khi đó vị lương y liền dùng cái thẻ vàng khui (vạch ra) nhãn mạc (màn mắt) của người ấy, rồi dùng một ngón tay đưa lên hỏi rằng, thấy không? Người mù đáp rằng: “Tôi còn chưa thấy!” Thầy thuốc dùng hai ngón tay, ba ngón tay đưa lên hỏi người đó. Người đó mới nói rằng: “Thấy ít!” Này thiện nam tử! Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này khi mà Như Lai chưa nói cũng lại như vậy! Vô lượng Bồ tát tuy làm đầy đủ những Ba la mật... cho đến Thập trụ còn chưa có thể thấy Phật tính sẵn có mà khi Như Lai đã nói Kinh ấy thì liền thấy chút ít. Những Ðại Bồ tát này đã được thấy rồi thì đều nói lên rằng: “Rất lạ! Thưa đức Thế Tôn! Chúng con lưu chuyển trong vô lượng sinh tử thường bị sự mê hoặc nhiễu loạn của Vô ngã”. Này thiện nam tử! Như vậy, Bồ tát ở địa vị Thập địa còn chẳng thấy biết Phật tính sáng rõ, huống gì là người Thanh Văn, Duyên Giác mà có thể được thấy sao? Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người ngước xem hư không, chim ngỗng, chim nhạn là chính hư không, là chính ngỗng nhạn, quan sát kỹ chẳng thôi mà phảng phất thấy chúng. Bồ tát Thập Trụ đối Như Lai tính thấy biết chút ít cũng lại như vậy, huống lại là người Thanh Văn, Duyên Giác mà có thể thấy biết. Này thiện nam tử! Ví như người say rượu muốn lặn lội đường xa, nhìn thấy đường mông lung. Bồ tát Thập Trụ đối với Như Lai tính, thấy biết chút ít phần cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như người khát đi nơi vùng khoáng dã. Người khát đó bức bối đi khắp tìm nước, thấy có chòm cây rậm, trên cây có con Hạc trắng. Người đó mê muộn chẳng thể phân biệt là cây hay là nước, quan sát kỹ chẳng thôi, mới thấy con hạc trắng và chòm cây rậm. Này thiện nam tử! Bồ tát Thập trụ đối với Như Lai tính, thấy biết ít phần cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như có người ở tại trong biển cả, xa đến vô lượng trăm ngàn do tuần thấy có thuyền lớn, lâu các, nhà cửa... liền tác khởi ý niệm này, đó là lâu các nhà cửa hay là hư không? Nhìn lâu, người ấy mới sinh ra lòng quyết định, biết chính là lâu các... Bồ tát Thập Trụ ở trong tự thân, thấy Như Lai tính cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như vị vương tử, thân thể rất nhu nhược, suốt đêm du hí đến tận sáng hôm sau, mắt nhìn tất cả đều chẳng rõ ràng. Bồ tát Thập Trụ đối với thân mình, thấy tính Như Lai cũng lại như vậy, chẳng thấy rõ ràng lắm. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị quan bề tôi bị sự bắt ép việc vua đến đêm mới trở về nhà, nhân chớp sáng phát lên thấy bầy trâu, liền có ý nghĩ rằng, đây là bầy trâu, hay là đám mây, hay là nhà? Người đó nhìn lâu tuy sinh ý tưởng là trâu nhưng còn chẳng xác định. Bồ tát Thập Trụ tuy đối với thân mình có thấy tính Như Lai nhưng chưa có thể xác định cũng lại như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Như vị Tỳ kheo trì giới quan sát nước không có trùng mà thấy tướng của trùng liền tác khởi ý niệm này, cái động đậy trong nước là trùng hay là bụi đất vậy? Nhìn mãi chẳng thôi, ông tuy biết là bụi nhưng cũng chẳng rõ ràng. Bồ tát Thập Trụ ở trong thân mình có thấy tính Như Lai, cũng lại như vậy, chẳng rõ ràng lắm. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người ở trong bóng tối, từ xa nhìn thấy đứa trẻ liền tác khởi ý niệm này, đó là trâu hay là người, hay là chim vậy? Nhìn mãi chẳng thôi, tuy thấy là đứa trẻ nhưng còn chẳng rõ ràng. Bồ tát Thập Trụ ở trong thân mình có thấy tính Như Lai, cũng lại như vậy, chẳng rõ ràng lắm. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người ở trong đêm tối thấy hình họa Bồ tát liền tác khởi ý niệm này, là tượng Bồ tát hay là tượng Tự Tại Thiên hay là tượng Ðại Phạm Thiên mặc áo nhuộm vậy? Người đó nhìn lâu tuy lại nghĩ là chính tượng Bồ tát nhưng cũng chẳng rõ ràng. Bồ tát Thập trụ ở trong thân mình có thấy tính Như Lai, cũng lại như vậy, chẳng rõ ràng lắm. Này thiện nam tử! Phật tính sở hữu thậm thâm như vậy, khó được thấy biết, chỉ có Phật có thể biết, chẳng phải điều theo kịp của những Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Người trí nên tạo tác sự phân biệt tính Như Lai như vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Phật tính vi tế khó biết như vậy thì làm sao mắt thịt mà có thể thấy được?

Ðức Phật dạy ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Như trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng cũng chẳng phải là điều có thể biết của hàng Nhị Thừa, mà chỉ thuận theo khế kinh, do niềm tin nên biết thôi! Này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác tín thuận Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì tự biết thân mình có tính Như Lai, cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Vậy nên ông cần phải tinh cần tu tập Kinh Ðại Niết Bàn! Này thiện nam tử! Như vậy Phật tính chi Phật mới có thể biết, chẳng phải là sự theo kịp của những Thanh Văn, Duyên Giác.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chẳn phải Thánh, phàm phu có tính chúng sinh đều nói có Ngã!

Ðức Phật dạy rằng:

- Ví như hai người chung làm bạn bè, một người là con vua, một người là người nghèo hèn, như vậy hai người qua lại giúp đỡ nhau. Khi đó, người nghèo thấy vị vương tử đó có một con dao đẹp tịnh diệu đệ nhất, trong lòng tham trước. Thời gian sau vương tử nắm giữ con dao này trốn đến nước khác. Người nghèo về sau ở nhờ nhà người khác, ở trong giấc ngủ chợt tỉnh nói rằng: “Dao! Dao!” Người bên cạnh nghe lời đó bắt đem đến chỗ vua. Nhà vua hỏi rằng: “Ngươi nói dao thì có thể đem trình bày cho ta!” Người đó đem việc trên tâu vua đầy đủ và nói rằng: “Nhà vua nay giả sử mổ cắt thân của thần chia rời tay chân để muốn được dao thì thật chẳng thể được. Thần cùng với vương tử vốn là chỗ thân hậu, trước ở chung một chỗ, tuy mắt đã từng thấy nhưng thậm chí chẳng dám lấy tay động chạm vào, huống gì có lấy”. Nhà vua lại hỏi rằng: “Khanh đã thấy tướng mạo của dao loại gì?” Ðáp rằng: “Thưa Ðại vương! Cái thần thấy thì giống như sừng của con dê đen”. Nhà vua nghe thế rồi cười vui vẻ mà nói rằng: “Ông nay đi đâu tùy ý, chớ sinh lo sợ! Trong kho tàng của ta đều không có dao như vậy, huống là ngươi ở bên vương tử mới thấy?” Nhà vua liền hỏi các quần thần rằng: “Các ông đã từng thấy dao như vậy không?” Nói rồi, nhà vua liền băng (chết). Quần thần liền lập người con khác nối dõi ngôi vua. Vị vua đó lại hỏi quần thần: “Các ông đã từng thấy ở trong kho tàng của triều đình (nhà quan) có con dao đó không?” Các bề tôi đáp rằng: “Chúng thần đã từng thấy!” Lại hỏi nữa rằng: “Hình trạng ấy giống cái gì?” Ðáp rằng: “Thưa Ðại vương! Giống như sừng con dê den”. Nhà vua nói rằng: “Trong kho tàng của ta vì duyên gì sẽ có con dao tướng như vậy”. Rồi lần lượt bốn vị vua kiểm nghiệm tìm kiếm mà chẳng được. Sau một thời gian, vị vương tử đào tẩu từ nước khác trở về đất nước của mình, lại được làm vua. Ðã lên ngôi vua rồi, ngài lại hỏi các bề tôi rằng: “Các ông có thấy dao không?” Họ đáp rằng: “Thưa Ðại vương! Chúng thần đều thấy!” Vua lại hỏi rằng: “Hình trạng dao ấy giống cái gì?” Họ đáp rằng: “Hình sắc dao ấy thanh tịnh như hoa Ưu bát la”. Lại có người đáp rằng: “Hình dáng như sừng dê”. Lại có người đáp rằng: “Hình sắc dao ấy đỏ hồng giống như đám lửa”. Lại có người đáp rằng: “Giống như con rắn đen”. Nhà vua cả cười nói rằng: “Các khanh đều chẳng thấy tướng chân thật dao của ta!” Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, xuất hiện ở đời, nói chân tướng của Ngã, nói rồi bỏ đi ví như vị vương tử cầm giữ dao tịnh diệu trốn đến nước khác. Người ngu phàm phu nói rằng: “Có ngã! Có ngã!” như người nghèo kia ở nhờ nhà người khác, thức dậy kêu rằng: “Dao! Dao!”. Thanh Văn, Duyên Giác hỏi các chúng sinh: “Ngã có hình tướng ra sao?” Họ đáp rằng: “Tôi thấy tướng của ngã lớn như ngón tay cái!” Hoặc nói rằng: “Như hạt gạo, hoặc như hạt kê!” Hoặc có người nói rằng: “Tướng của Ngã ở tại trong lòng, rực sáng như mặt trời!” Như vậy chúng sinh chẳng biết tướng của Ngã ví như các bề tôi chẳng biết tướng của con dao. Bồ tát nói về Ngã pháp như vậy mà phàm phu chẳng biết nên hư vọng tạo tác phân biệt đủ thứ tướng của Ngã như hỏi tướng của dao, đáp giống như sừng dê. Những phàm phu đó theo thứ lớp tiếp nối nhau mà khởi lên tà kiến. Vì đoạn trừ những tà kiến như vậy nên Như Lai thị hiện nói lên Vô ngã, ví như vị vương tử nói cho các bề tôi rằng: “Trong kho tàng của ta không có dao như vậy!” Này thiện nam tử! Lời nói về chân ngã của Như Lai hôm nay gọi là Phật tính. Như vậy Phật tính trong Phật pháp của ta ví như con dao thanh tịnh. Này thiện nam tử! Nếu có kẻ phàm phu có thể khéo diễn nói thì tức là thuận theo pháp Phật Vô thượng. Nếu có người giỏi có thể phân biệt, thuận theo, tuyên nói vấn đề đó thì ông phải biết đó tức là tướng mạo Bồ tát.

PHẨM VĂN TỰ Thứ Mười Ba

Ðức Phật lại bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Sẵn có đủ thứ dị luận, chú thuật, ngôn ngữ, văn tự... đều là Phật nói, chẳng phải ngoại đạo nói.

Ngài Ca Diếp Bồ tát bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là đức Như Lai nói về căn bản của chữ (tự)?

Ðức Phật nói rằng:

- Này thiện nam tử! Ðầu tiên nói nửa chữ (bán tự) để làm căn bản giữ gìn những ký luận, chú thuật, văn chương, các thật pháp của ấm. Người phàm phu học căn bổn của chữ như vậy, vậy sau mới biết là pháp hay phi pháp.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Cái gọi là chữ thì nghĩa ấy ra sao?

- Này thiện nam tử! Có mười bốn âm gọi là tự nghĩa. Cái gọi rằng chữ thì gọi là Niết Bàn, thường cố định chẳng trôi chảy. Nếu chẳng trôi chảy thì tức là vô tận. Phàm đã vô tận thì tức là thân Như Lai Kim Cương. Mười bốn âm này gọi là tự bản (gốc chữ). A ngắn là chẳng phá hoại mà chẳng phá hoại thì gọi là Tam Bảo, ví như Kim Cương. Lại nữa, A thì chẳng trôi chảy mà chẳng trôi chảy thì tức là Như Lai. Chín lỗ của Như Lai không có sự trôi chảy nên chẳng trôi chảy. Lại không có chín lỗ nên chẳng trôi chảy. Chẳng trôi chảy tức là thường còn mà thường còn tức là Như Lai. Như Lai không tạo tác nên chẳng trôi chảy. Lại nữa, chữ A thì gọi là công đức mà công đức tức là Tam bảo. Vậy nên gọi là A. Tiếp đến là A dài thì gọi là A xà lê. A xà lê nghĩa là gì vậy? Nghĩa là ở trong thế gian được gọi là Thánh giả. Sao gọi là Thánh? Gọi là Thánh thì không nhiễm trước, thiểu dục, tri túc, cũng gọi là Thanh tịnh, có thể độ chúng sinh lưu chuyển trong bể cả sinh tử ở ba cõi. Ðó gọi là Thánh. Lại nữa, chữ A gọi là chế độ, tu trì tịnh giới, thuận theo uy nghi. Lại nữa, chữ A gọi là nương (y) thánh nhân học theo uy nghi tiến, dừng, cử động, cúng dường, cung kính, lễ bái Tam Tôn, hiếu thuận, phụng dưỡng cha mẹ và học Ðại Thừa. Những thiện nam nử trì đủ cấm giới và các Ðại Bồ tát, v.v... đều được gọi là Thánh nhân. Lại nữa, chữ A gọi là Giáo hối (dạy răn). Như nói rằng: “Các ông nên làm như vầy! Chớ làm như vầy!” Nếu người có thể ngăn chận những pháp chẳng phải oai nghi thì gọi là Thánh nhân. Vậy nên gọi là chữ A.

Chữ Y ngắn tức là Phật pháp, phạm hạnh rộng lớn, thanh tịnh không cấu bẩn ví như trăng tròn đầy. Các ông nên làm, chẳng nên làm như vậy, là nghĩa là phi nghĩa, đây là Phật nói, đây là ma nói, đó gọi là Y. Y dài là Phật pháp vi diệu thậm thâm khó được. Như pháp của trời Tự Tại, trời Ðại Phạm thì gọi là tự tại mà nếu người có thể trì giữ thì gọi là hộ pháp. Lại nữa, Tự tại thì gọi là bốn hộ thế. Bố tự tại này thì có thể nhiếp hộ Kinh Ðại Niết Bàn, cũng có thể trình bày diễn nói. Lại nữa, chữ Y là có thể vì chúng sinh mà tự tại nói pháp. Lại nữa, chữ Y là tự tại thì nên nói những gì đó vậy? Ðiều đó gọi là tu tập Kinh điển Phương Ðẳng. Lại nữa, chữ Y là đoạn dứt tật đố (ganh ghét) như diệt trừ cỏ xấu, khiến cho tất cả đều biến thành kiết tường (tốt đẹp). Vậy nên gọi là Y.

Chữ Ưu ngắn là ở trong Kinh, cái tối thượng, tối thắng, tăng trưởng lên trên hết thì gọi là Ðại Niết Bàn. Lại nữa, chữ Ưu là tính của Như Lai, điều chưa từng nghe của Thanh Văn, Duyên Giác, như tất cả xứ thì xứ Uất Ðan Việt phương Bắc là tối thù thắng. Bồ tát nếu có thể thính thọ Kinh này thì đối với tất cả chúng sinh là bậc tối thượng, tối thắng. Vậy nên gọi Ưu. Ưu dài là ví như sữa trâu so trong các vị là trên hết. Tính Như Lai cũng lại như vậy, ở trong các Kinh là tối tôn, tối thượng. Nếu có ai bài báng thì ông phải biết, người đó cùng với trâu không khác biệt. Lại nữa, chữ Ưu là người gọi là không có trí tuệ, chánh niệm mà bài báng Như Lai vi mật bí tạng thì phải biết là người đó rất đáng thương xót, xa lìa tạng bí mật của Như Lai mà nói pháp Vô ngã. Vậy nên gọi là Ưu.

Chữ Sẩn tức là các Phật pháp tính Niết Bàn. Ðó gọi là Sẩn. Dã là gọi nghĩa của Như Lai. Lại nữa, Dã là tiến dừng co duỗi, cử động của Như Lai không gì chẳng lợi ích cho tất cả chúng sinh. Vậy nên gọi là Dã.

Chữ Ô là tên gọi nghĩa phiền não mà phiền não gọi là các lậu. Như Lai vĩnh viễn đoạn trừ tất cả phiền não nên gọi là Ô. Pháo là gọi nghĩa Ðại Thừa, đối với mười bốn âm là nghĩa cứu cánh. Kinh điển Ðại Thừa cũng lại như vậy, đối với các kinh luận là tối cứu cánh. Vậy nên gọi là Pháo.

Am là có thể ngăn chặn tất cả các vật bất tịnh, ở trong Phật pháp, có thể xả bỏ tất cả vật báu, vàng, bạc. Vậy nên gọi là Am. Chữ A ( ) là gọi nghĩa Thắng Thừa. Vì sao vậy? Vì Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này ở trong các Kinh là tối thù thắng. Vậy nên gọi là A.

Chữ Ca là đối với các chúng sinh khởi lên Ðại Từ bi, sinh ra tử tưởng (tưởng là con) như La Hầu La, tạo tác nghĩa diệu thiện. Vậy nên gọi là Ca. Chữ Khư là gọi chẳng phải bạn lành mà chẳng phải bạn lành thì gọi là tạp uế, chẳng tin bí mật tạng của Như Lai. Vậy nên gọi là Khư. Dà là gọi tạng mà tạng tức là Như Lai bí tạng. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính nên gọi là Dà. Trọng âm Dà là âm thường còn của Như Lai. Những gì là âm thường còn của Như Lai? Ðó là Như Lai thường trụ bất biến. Vậy nên gọi là Dà (trọng âm). Chữ Nga là tất cả các hành tướng phá hoại. Vậy nên gọi là Nga.

Già tức là nghĩa của tu; điều phục tất cả các chúng sinh nên gọi là nghĩa của tu. Vậy nên gọi là Già. Xa là Như Lai che phủ tất cả chúng sinh ví như bảo cái lớn. Vậy nên gọi là Xa. Xà là chánh giải thoát, không có tướng già. Vậy nên gọi là Xà. Chữ Xà trọng âm là phiền não ràng rịt ví như rừng rậm. Vậy nên gọi là Xà (trọng âm). Chữ Nhã là nghĩa trí tuệ, biết tính pháp chân thật. Vậy nên gọi là Nhã. Chữ Tra là ở cõi Diêm phù đề thị hiện bán thân mà diễn nói pháp ví như bán nguyệt (nửa vầng trăng). Vậy nên gọi là Tra. Chữ Tha ( ) là pháp thân đầy đủ ví như vầng trăng tròn đầy. Vậy nên gọi là Tha. Chữ Trà là Tăng ngu si, chẳng biết thường cùng vô thường ví như đứa trẻ. Vậy nên gọi là Trà. Chữ Trà trọng âm là chẳng biết ơn thầy ví như con dê đen. Vậy nên gọi là Trà (trọng âm). Chữ Noa là chẳng phải là Thánh nghĩa ví như ngoại đạo. Vậy nên gọi là Noa. Chữ Ða là Như Lai ở đó bảo, các Tỳ kheo nên lìa khỏi kinh sợ, ta sẽ vì các ông nói pháp vi diệu. Vậy nên gọi là Ða. Chữ Tha là gọi nghĩa ngu si. Chúng sinh lưu chuyển trong sinh tử tự trói buộc như con tằm. Vậy nên gọi là Tha. Chữ Ðà là gọi rằng Ðại thí như là Ðại Thừa. Vậy nên gọi là Ðà. Chữ Ðà trọng âm là xưng tán công đức. Ðó là Tam Bảo như núi Tu Di cao ngất rộng lớn, không có điên đảo. Ðó gọi là Ðà. Chữ Na là Tam Bảo an trụ không có khuynh động ví như cái then cửa. Vậy nên gọi là Na. Chữ Ba là gọi nghĩa điên đảo. Nếu nói rằng, Tam Bảo đều diệt hết thì phải biết là người này tự nghi hoặc. Vậy nên gọi là Ba. Chữ Pha là tai ách của thế gian. Nếu có người nói rằng, khi tai ách của thế gian khởi lên thì Tam Bảo cũng hết, phải biết là người đó ngu si, vô trí, trái lỗi Thánh chỉ. Vậy nên gọi là Pha. Chữ Bà là gọi mười lực của Phật. Vậy nên gọi là Bà. Chữ Bà trọng âm là gọi gánh nặng. Người đủ sức gánh vác Chánh pháp Vô thượng thì phải biết người đó là Ðại Bồ tát. Vậy nên gọi Bà. Chữ Ma là các Bồ tát với chế độ trang nghiêm cao vời, gọi là Ðại Bát Niết Bàn của Ðại Thừa. Vậy nên gọi là Ma. Tà (gia?) là các Bồ tát ở tại khắp nơi nơi vì những chúng sinh nói pháp Ðại Thừa. Vậy nên gọi là Tà. La là có thể hoại tan tham dục, sân nhuế, ngu si, nói pháp chân thật. Vậy nên gọi là La. Chữ La khinh âm (âm nhẹ) là gọi hàng Thanh Văn thừa chuyển động chẳng trụ, Ðại Thừa yên ổn không có khuynh động. Bỏ Thanh Văn thừa, tinh cần tu tập Ðại Thừa vô thượng. Vậy nên gọi là La (khinh âm). Chữ Hòa là Như Lai Thế Tôn vì các chúng sinh mưa xuống Ðại Pháp Vũ, gọi là kinh sách, chú thuật của thế gian. Vậy nên gọi là Hòa. Chữ Xa là xa lìa ba mũi tên (tam độc?). Vậy nên gọi là Xa. Chữ Sa là gọi nghĩa đầy đủ. Nếu người có thể nghe Kinh Ðại Niết Bàn này thì tức là đã được nghe và thọ trì tất cả Kinh điển Ðại Thừa. Vậy nên gọi là Sa. Ta là vì các chúng sinh diễn nói chánh pháp, khiến cho lòng họ hoan hỷ. Vậy nên gọi là Ta. Ha là gọi tâm hoan hỷ khen: “Lạ thay! Ðức Thế Tôn lìa khỏi tất cả hành! Lạ thay! Ðức Như Lai vào Bát Niết Bàn!”. Vậy nên gọi là Ha. Chữ La là gọi Ma nghĩa. Vô lượng những ma chẳng thể hủy hoại Như Lai Bí Tạng. Vậy nên gọi là La. Lại nữa, chữ La là thậm chí thị hiện thuận theo thế gian, có cha mẹ, vợ con... Vậy nên gọi là La.

Lỗ, Lưu, Lô, Lâu, bốn chữ như vậy nói có bốn nghĩa là Phật, Pháp, Tăng và cả đối pháp. Nói đối pháp là thuận theo thế gian như Ðề Bà Ðạt Ða thị hiện hoại Tăng, hóa làm đủ thứ hình dáng sắc tượng. Vì chế ra giới luật nên kẻ trí thông đạt biết rõ thì chẳng nên đối với việc này mà sinh ra kinh sợ. Ðó gọi là hành động tùy thuận thế gian. Do đó cho nên gọi là Lỗ, Lưu, Lô, Lâu.

Hít hơi vào cơ quan của lưỡi, theo tiếng của mũi, tiếng dài, ngắn vượt lên, tùy theo âm giải nghĩa, đều nhân vào lưỡi và răng mà có sai khác. Như vậy nghĩa của chữ có thể khiến cho chúng sinh thanh tịnh được khẩu nghiệp. Phật tính của chúng sinh thì chẳng ví với văn tự như vậy, rồi nhiên hậu thanh tịnh. Vì sao vậy? Vì Phật tính vốn tịnh, tuy ở tại trong ấm, giới, nhập mà chẳng đồng với ấm, giới, nhập. Vậy nên chúng sinh đều nên qui y. Các vị Bồ tát đều do Phật tính nên nhìn chúng sinh bình đẳng, không có sai biệt. Vậy nên “bán tự” đối với các kinh sách, ký luận, văn chương mà lấy làm căn bản. Lại, ý nghĩa của “bán tự” đều là nguồn gốc của lời nói phiền não nên gọi là “bán tự”. “Mãn tự” (chữ đầy đủ) thì mới là căn bản của tất cả lời nói thiện pháp vậy. Ví như người thế gian làm hạnh ác thì gọi là bán nhân (nửa người). Người tu hạnh thiện thì gọi là mãn nhân (người đầy đủ). Như vậy tất cả kinh sách, ký luận đều nhân vào “bán tự” mà làm căn bản. Nếu nói rằng, Như Lai và chánh giải thoát vào với “bán tự” thì việc đó chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì lìa khỏi văn tự. Vậy nên Như Lai đối với tất cả pháp không ngăn ngại, không nhiễm trước, thật sự được giải thoát. Những gì gọi là giải rõ nghĩa của chữ? - Có người biết Như Lai xuất hiện ở đời có thể diệt “bán tự”. Vậy nên gọi là giải rõ nghĩa của chữ. Nếu có người theo đuổi nghĩa của “bán tự” thì người đó chẳng biết tính Như Lai. Cái gì gọi là Vô tự nghĩa? Người gần gũi tu tập pháp bất thiện thì đó gọi là “Vô tự” (không chữ). Lại, vô tự là tuy có thể gần gũi tu tập thiện pháp nhưng chẳng biết Như Lai thường cùng vô thường, hằng cùng phi hằng và Pháp, Tăng hai báu, luật cùng phi luật, kinh cùng phi kinh, ma nói, Phật nói... Nếu có người chẳng thể phân biệt như vậy thì đó gọi là theo đuổi nghĩa “vô tự” vậy. Ta nay đã nói về sự theo đuổi nghĩa “vô tự” như vậy. Này thiện nam tử! Vậy nên ông nay nên lìa khỏi “bán tự”, khéo lý giải “mãn tự”.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con cần phải giỏi học tự số! Con nay đã gặp được bậc thầy Vô thượng, đã chịu lời dạy bảo ân cần của đức Như Lai!

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Người ưa Chính pháp thì nên học tập như vậy.

PHẨM ÐIỂU DỤ Thứ Mười Bốn

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Chim có hai giống, một tên là Ca lâu đê, hai tên là Uyên ương, bay đi hay dừng lại chung cùng, chẳng rời bỏ nhau. Những pháp như là Khổ, Vô thường, Vô ngã... cũng lại như vậy, chẳng được rời nhau.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Khổ, Vô thường, Vô ngã như là chim Uyên ương, Ca lâu đề kia?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Pháp khác là Khổ - pháp khác là Lạc, pháp khác là Thường - pháp khác là Vô thường, pháp khác là Ngã - pháp khác là Vô ngã. Ví như gạo lúa ngon khác với mè, lúa mạch, mè lúa mạch lại khác với đậu, lúa tẻ, mía đường. Các giống như vậy, từ mầm chồi của chúng cho đến hoa lá đều là vô thường. Khi quả trái chín thành, con người thọ dụng thì mới là thường. Vì sao vậy? Vì tính chân thật vậy.

Ngài Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những vật như vậy nếu là Thường thì đồng với Như Lai sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên nói lời như vậy. Vì sao vậy? Vì nếu nói rằng, Như Lai như núi Tu Di, khi kiếp hoại thì núi Tu Di đổ nát, Như Lai bấy giờ há đồng hủy hoại sao? Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên thọ trì nghĩa đó! Này thiện nam tử! Tất cả các pháp, chỉ trừ Niết Bàn, lại không một pháp nào mà là thường cả! Những vì thế đế nói rằng quả trái thường.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Hay thay! Hay thay! Ðúng như lời nói của đức Phật!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Tuy tu tập tất cả Khế kinh, các định nhưng thậm chí chưa nghe Ðại bát Niết Bàn thì đều nói rằng, tất cả đều là vô thường. Nghe Kinh này rồi, tuy có phiền não mà như không phiền não, liền có thể lợi ích cho tất cả người, trời. Vì sao vậy? Vì hiểu rõ thân mình có Phật tính. Ðó gọi là Thường. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như cây Am La, hoa cây ấy mới nở thì gọi là vô thường tướng, nếu thành quả trái nhiều sự lợi ích thì mới gọi là thường. Như vậy, này thiện nam tử! Tuy tu học tất cả Khế kinh, các định nhưng khi chưa nghe Ðại Niết Bàn như vậy thì đều nói rằng, tất cả đều là vô thường. Nghe kinh này rồi, tuy có phiền não nhưng như không phiền não, liền có thể ích lợi cho tất cả người, trời. Vì sao vậy? Vì hiểu rõ tự thân có Phật tính. Ðó gọi là Thường - Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như quặng vàng khi tiêu chảy ra là tướng vô thường. Tiêu chảy ra rồi thì thành vàng, nhiều sự lợi ích mới gọi là Thường. Như vậy, này thiện nam tử! Tuy tu học tất cả Khế kinh, các định nhưng khi chưa nghe Ðại Niết Bàn như vậy thì đều nói rằng, tất cả đều là vô thường. Nghe Kinh này rồi, tuy có phiền não nhưng như không phiền não, liền có thể lợi ích cho tất cả trời, người. Vì sao vậy? Vì hiểu rõ tự thân có Phật tính vậy. Ðó gọi là Thường. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như hạt mè khi chưa bị ép thì gọi là vô thường. Khi đã ép thành dầu, có nhiều lợi ích thì mới gọi là Thường. Này thiện nam tử! Tuy tu học tất cả Khế kinh, các định nhưng khi chưa nghe Ðại Niết Bàn như vậy thì đều nói rằng, tất cả đều là vô thường. Nghe Kinh này rồi, tuy có phiền não nhưng như không phiền não, liền có thể lợi ích cho tất cả trời, người. Vì sao vậy? Vì hiểu rõ thân mình có Phật tính vậy. Ðó gọi là Thường. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như mọi dòng nước đều về với biển, tất cả khế kinh, các định tam muội đều về với kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì rốt ráo giỏi nói có Phật tính. Này thiện nam tử! Vậy nên ta nói rằng, Pháp khác là thường, pháp khác là vô thường... cho đến Vô ngã cũng lại như vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như Lai đã lìa khỏi tên độc ưu bi. Ưu bi thì gọi là trời mà Như Lai chẳng phải là trời. Ưu bi thì gọi là người mà Như Lai chẳng phải là người. Ưu bi là gọi người của hai mươi lăm cõi hữu mà Như Lai chẳng phải là người của hai mươi lăm cõi hữu. vậy nên Như Lai không có ưu bi mà vì sao xưng rằng, Như Lai ưu bi? Này thiện nam tử! Trời Vô tưởng thì gọi là vô tưởng. Nếu vô tưởng thì không thọ mạng. Nếu không thọ mạng thì làm sao mà có ấm, giới, các nhập. Do ý nghĩa này nên trời Vô tưởng thọ (sống lâu) chẳng thể nói rằng, có chỗ sở trụ. Này thiện nam tử! Ví như vị thần cây nương vào cây mà trụ, chẳng được nói nhất định rằng, nương cành, nương đốt, nương thân, nương lá. Tuy không định được chỗ nương nhưng chẳng được nói rằng không. Thọ của trời Vô tưởng cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Phật pháp cũng vậy, thậm thâm khó giải. Như Lai thật không ưu bi khổ não mà đối với chúng sinh khởi lên Ðại Từ Bi, thị hiện có ưu bi nhìn các chúng sinh như La Hầu La. Lại nữa, này thiện nam tử! Sở hữu thọ mạng trong trời Vô tưởng chỉ có Phật có thể biết, chẳng phải có ai khác bì kịp! Cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ cũng lại như vậy. Này Ca Diếp! Tính của Như Lai thanh tịnh, vô nhiễm giống như hóa thân. Sao gọi là phải có ưu bi khổ não? Nếu nói rằng, Như Lai có ưu bi khổ não thì làm sao có thể lợi cho tất cả chúng sinh, hoằng hóa Phật pháp rộng? Nếu nói rằng, không thì làm sao mà nói rằng bình đẳng nhìn chúng sinh như La Hầu La. Nếu chẳng bình đẳng nhìn chúng sinh như La Hầu La thì lời nói như vậy là hư vọng. Do ý nghĩa này nên, này thiện nam tử! Phật chẳng thể nghĩ bàn! Pháp chẳng thể nghĩ bàn! Phật tính của chúng sinh chẳng thể nghĩ bàn! Thọ của trời Vô tưởng chẳng thể nghĩ bàn! Như Lai có ưu và cả không ưu là cảnh giới của Phật, chẳng phải là điều hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Ví như nhà cửa, vi trần chẳng thể trụ đứng trong hư không. Nhưng nếu nói rằng, nhà cửa chẳng nhân vào hư không mà trụ thì không có điều đó. Do ý nghĩa này nên chẳng thể nói nhà cửa trụ ở hư không hay chẳng trụ ở hư không. Người phàm phu tuy lại nói rằng, nhà cửa trụ ở hư không, nhưng mà hư không đó thật không sở trụ. Vì sao vậy? Vì tính không trụ vậy. Này thiện nam tử! Tâm cũng như vậy, chẳng thể nói rằng, trụ ở ấm, giới, nhập và cả chẳng trụ nữa. Thọ của trời Vô Tưởng cũng lại như vậy. Ưu bi của Như Lai cũng lại như vậy. Nếu Phật không ưu bi thì sao nói rằng bình đẳng nhìn chúng sinh như La Hầu La? Nếu nói rằng, có ưu bi thì sao lại nói rằng, tính đồng hư không? Này thiện nam tử! Ví như nhà huyễn thuật tuy hóa làm đủ thứ cung điện, sát sinh, nuôi lớn, trói buộc, buông bỏ và hóa làm vàng, bạc, lưu ly... vật báu, rừng rậm, cây cối... nhưng đều không thật tính. Như Lai cũng vậy, thuận theo thế gian, thị hiện ưu bi nhưng không có chân thật. Này thiện nam tử! Như Lai đã vào Ðại Bát Niết Bàn rồi thì sao phải có ưu bi khổ não? Nếu cho là Như Lai vào với Niết Bàn là vô thường thì ông phải biết người đó có ưu bi. Nếu cho là Như Lai chẳng vào Niết Bàn, thường trụ bất biến thì ông phải biết người đó không có ưu bi. Như Lai có ưu bi và cả không ưu bi thì không ai có thể biết được.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người thấp có thể biết pháp thấp, chẳng biết pháp trung và pháp trên. Người trung thì biết pháp trung, chẳng biết đến pháp thượng. Người trên (thượng) thì biết pháp Thượng và biết pháp trung, pháp dưới. Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy, biết ngang tầm địa vị của mình. Như Lai chẳng vậy, biết hết tầm dịa vị của mình và cả tầm địa vị người khác. Vậy nên Như Lai gọi là Vô Ngại Trí, thị hiện huyễn hóa thuận theo thế gian, phàm phu mắt thịt cho đó là chân thật mà muốn tận biết trí Vô thượng vô ngại của Như Lai thì không có điều này. Có ưu bi hay không ưu bi thì chỉ có Phật mới có thể biết. Do nhân duyên này nên pháp khác có ngã, pháp khác không ngã. Ðó gọi là tính của Uyên ương và Ca Lân Ðề. Lại nữa, này thiện nam tử! Phật pháp giống như chim Uyên ương đi chung. Chim Ca lân đề và chim Uyên ương, nước và mùa hạ đầy tràn lênh láng, chúng chọn lựa chỗ cao cho con mình ở yên ổn mà nuôi dưỡng. Rồi nhiên hậu tùy theo sự yên ổn căn bản mà nó bay đi kiếm ăn. Như Lai ra đời cũng lại như vậy, hóa độ vô lượng chúng sinh khiến cho họ trụ ở Chánh pháp như chim Uyên ương và chim Ca lân đề khi chọn lựa vùng cao để an trí con của mình. Như Lai cũng vậy, khiến cho các chúng sinh... việc làm đã hoàn thành, liền vào với Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ðó gọi là pháp khác là khổ, pháp khác là vui, các hành là khổ, Niết Bàn là vui, là đệ nhất vi diệu phá hoại các hành vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là chúng sinh được Niết Bàn thì gọi là Ðệ nhất lạc?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như lời nói của ta, các hành hòa hợp gọi là lão tử.

Cẩn thận không buông lung Chỗ đó là cam lộ

Chẳng cẩn thận, buông lung Ðó gọi là câu chết (tử cú)

Nếu người chẳng buông lung Thì được chỗ bất tử.

Như người ấy buông lung Thường đi vào tử lộ (đường chết).

Nếu buông lung thì gọi là pháp hữu vi. Pháp hữu vi này là đệ nhất khổ. Chẳng buông lung thì gọi là Niết Bàn. Niết Bàn đó thì gọi là cam lộ đệ nhất lạc. Nếu đi theo các hành thì đó gọi là chỗ chết, thọ đệ nhất khổ. Nếu đến Niết Bàn thì gọi là bất tử, thọ tối diệu lạc. Nếu chẳng buông lung thì tuy tập (qua) các hành nhưng đó cũng gọi là thường lạc, chẳng chết, chẳng phá hoại thân. Sao gọi là buông lung? Sao gọi là chẳng buông lung? Chẳng phải Thánh, phàm phu thì gọi phóng dật, pháp thường tử (thường chết). Thánh nhân xuất thế thì chẳng buông lung, không có già chết. Vì sao vậy? Vì vào đến Ðệ nhất thường lạc Niết Bàn. Do ý nghĩa này nên pháp khác là khổ, pháp khác là vui, pháp khác là ngã, pháp khác là Vô ngã. Như người ở tại đất ngước xem hư không, chẳng thấy dấu vết loài chim. Này thiện nam tử! Chúng sinh cũng vậy, không có thiên nhãn, ở trong phiền não mà chẳng tự thấy có Như Lai tính. Vậy nên ta nói Vô ngã mật giáo. Sở dĩ vì sao? Vì không thiên nhãn thì chẳng biết Chân ngã mà ngang ngược cho là Ngã. Nhân vào các phiền não đã tạo tác hữu vi tức là vô thường. Vậy nên ta nói rằng, pháp khác là thường, pháp khác là vô thường.

Người tinh tấn dũng kiện Như ở đỉnh núi cao

Ðất bằng và đồng trống Thường thấy phàm phu vào

Lên điện Ðại Trí Tuệ Ðài Vô thượng nhiệm mầu

Ðã tự trừ ưu hoạn Cũng thấy chúng sinh ưu.

Như Lai đoạn hết vô lượng phiền não, trụ ở núi trí tuệ, thấy các chúng sinh luôn ở trong vô lượng ức phiền não.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của kệ thì nghĩa đó chẳng vậy. Vì sao vậy? Vì vào Niết Bàn thì không lo, không mừng. Sao gọi là được thăng lên đài điện trí tuệ? Sao lại phải trụ tại đỉnh núi mà thấy chúng sinh?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðiện trí tuệ tức là Niết Bàn. Không ưu hoạn là gọi Như Lai. Có ưu hoạn là gọi người phàm phu. Vì phàm phu ưu hoạn nên Như Lai không ưu hoạn. Ðỉnh núi Tu Di là gọi Chánh Giải thoát. Siêng tinh tấn là ví cho núi Tu Di không có chuyển động. Ðất là gọi hành hữu vi vậy. Những phàm phu này an trụ ở đất đó mà tạo tác các hành. Người trí tuệ ấy thì gọi là Chánh giác. Lìa khỏi “hữu”, thường trụ nên gọi là Như Lai. Như Lai thương xót nghĩ đến vô lượng chúng sinh thường bị trúng tên độc của các hữu. Vậy nên gọi là Như Lai có ưu bi.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu giả sử Như Lai có ưu bi thì chẳng được xưng là Ðẳng Chánh Giác!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Ðều có nhân duyên! Tùy theo chỗ có chúng sinh ưng thọ giáo mà Như Lai ở trong đó thị hiện thọ sinh. Tuy hiện thọ sinh mà thật ra không sinh. Vậy nên Như Lai gọi là Pháp Thường Trụ như chim Ca lân đề và chim Uyên ương, v.v...

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ tám hết -


9/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Chín

PHẨM NGUYỆT DỤ Thứ Mười Lăm

Ðức Phật bảo rằng:

- Này Ca Diếp! Ví như có người thấy trăng chẳng hiện thì nói rằng, trăng lặn mất, mà tác khởi tư tưởng mất. Nhưng tính trăng này thật ra không lặn mất mà chuyển đi hiện ở địa phương khác. Chúng sinh ở nơi trăng hiện đến kia lại gọi là trăng mọc ra mà tính của trăng này thật không có mọc ra. Vì sao vậy? Vì do núi Tu Di ngăn chận nên chẳng hiện. Trăng ấy, tính thường sinh (thường còn mãi) không có mọc ra hay lặn mất. Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cũng lại như vậy, xuất hiện ở ba ngàn đại thiên thế giới, hoặc ở cõi Diêm phù đề thị hiện có cha mẹ mà chúng sinh đều gọi là sinh ở cõi Diêm phù đề. Hoặc ở cõi Diêm phù đề thị hiện Niết Bàn mà tính Như Lai thật ra không có Niết Bàn, nhưng các chúng sinh đều gọi là Như Lai thật sự Bát Niết Bàn ví như vầng trăng lặn mất. Này thiện nam tử! Tính của Như Lai thật không sinh diệt nhưng vì hóa độ chúng sinh nên thị hiện có sinh diệt. Này thiện nam tử! Như ở đây trăng tròn đầy mà phương khác thấy một nửa, ở đây trăng một nửa mà phương khác thấy tròn đầy. Người cõi Diêm phù đề nếu thấy trăng xuất hiện đầu tiên thì đều gọi là ngày một, khởi lên ý tưởng đầu tháng. Nếu họ thấy trăng tròn đầy thì đều gọi là ngày mười lăm, sinh ra ý thịnh mãn mà thật ra tính của trăng này thật không có vơi, đầy mà nhân núi Tu Di có tăng, giảm. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, ở cõi Diêm phù đề, hoặc hiện mới sinh, hoặc hiện Niết Bàn. Khi hiện thai sinh thì giống như trăng non đầu tháng, tất cả đều gọi là đồng tử. Mới sinh đi bảy bước như trăng ngày hai. Hoặc lại thị hiện vào thư đường thì như trăng ngày ba, thị hiện xuất gia như trăng ngày tám. Phóng ra ánh sáng đại trí tuệ vi diệu có thể phá ma chúng của vô lượng chúng sinh như trăng tròn đầy của ngày mười lăm. Hoặc lại thị hiện ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp để tự trang nghiêm mà hiện Niết Bàn thì ví như nguyệt thực. Như vậy sự nhìn thấy của chúng sinh chẳng đồng, hoặc thấy trăng một nửa, hoặc thấy trăng tròn, hoặc thấy nguyệt thực... mà tính trăng này thật không tăng, giảm, xâm thực... luôn luôn là trăng tròn đầy. Thân Như Lai cũng lại như vậy. Vậy nên gọi là thường trụ bất biến. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như trăng tròn đầy thì tất cả đều hiện. Ở tại khắp nơi nơi, thành ấp, tụ lạc, núi đầm, trong nước, hoặc giếng, hoặc ao và những đồ đựng nước... tất cả đều hiện. Có các chúng sinh đi một trăm do tuần, trăm ngàn do tuần, thấy trăng luôn đi theo. Người phàm phu ngu si phát sinh nhớ tưởng rằng: “Ta vốn ở nhà tại thành ấp, thấy trăng như vậy. Nay lại ở đầm trống này thấy trăng đó. Ðó là trăng cũ hay là khác với trăng cũ”. Họ đều tác khởi ý niệm này: hình dạng trăng lớn, nhỏ. Hoặc nói rằng, như miệng vàng; hoặc nói rằng, như bánh xe, hoặc nói rằng, bằng bốn mươi chín do tuần. Tất cả đều thấy ánh sáng của trăng, hoặc thấy tròn trịa giống như cái mâm vàng... Tính của trăng đó là một mà đủ loại chúng sinh đều thấy hình tướng khác. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, xuất hiện ở đời, hoặc có người, trời mà tác khởi ý niệm này: “Như Lai nay trụ ở trước ta”. Lại có súc sinh cũng sinh ra ý niệm này: “Ðức Như Lai nay trụ ở trước ta”. Hoặc có người câm điếc cũng thấy Như Lai có tướng câm điếc. Chúng sinh đủ loại, ngôn ngữ đều khác mà đều cho là Như Lai đồng ngôn ngữ với mình, cũng đều sinh ra ý niệm ở tại nhà cửa của mình, nhận sự cúng dường của mình. Hoặc có chúng sinh thấy thân Như Lai rộng lớn không lường, hoặc thấy nhỏ xíu. Hoặc có người thấy Phật là hình dáng Thanh Văn. Hoặc lại có người thấy là hình dáng Duyên Giác. Có những ngoại đạo lại đều nghĩ rằng: “Ðức Như Lai nay ở trong pháp của ta xuất gia học đạo”. Hoặc có chúng sinh lại nghĩ rằng: “Ðức Như Lai nay riêng vì một mình ta nên xuất hiện ở đời”. Thật tính của Như Lai ví như vầng trăng kia, tức là pháp thân, là thân vô sinh. Thân phương tiện thuận theo với đời mà thị hiện vô lượng nhân duyên nghiệp xưa! Ở tại khắp nơi nơi Như Lai thị hiện có sinh giống như vầng trăng kia. Do ý nghĩa này nên Như Lai thường trụ không có biến dị. Lại nữa, này thiện nam tử! Như vua A tu la La Hầu La dùng tay ngăn che mặt trăng mà những người thế gian đều gọi là nguyệt thực. Vua A tu la thật ra chẳng thể ăn mặt trăng mà vua A tu la chỉ ngăn che ánh sáng của vầng trăng ấy nên vầng trăng này vẫn tròn trịa không có khuyết tổn. Chỉ dùng tay ngăn nên khiến cho biến mất, nếu khi vén tay lên thì thế gian đều gọi là trăng lại sinh trở lại, đều nói rằng, trăng đó chịu nhiều khổ não. Nhưng giả sử có hàng trăm ngàn vua A tu la cũng chẳng thể não hại được trăng đó. Như Lai cũng vậy, thị hiện có chúng sinh đối với Như Lai, đã sinh lòng thô ác, làm chảy máu thân Phật, khởi lên tội ngũ nghịch... cho đến Nhất xiễn đề. Vì chúng sinh đời vị lai nên thị hiện sự phá hoại Tăng, đoạn diệt pháp như vậy mà tạo tác nạn để lại. Giả sử vô lượng trăm ngàn những ma chẳng thể lấn lướt làm chảy máu thân đức Như Lai. Sở dĩ vì sao? Vì thân Như Lai không có máu thịt, gân, mạch, xương, tủy... Như Lai chân thật không có não hoại. Chúng sinh đều cho là Pháp, Tăng hủy hoại, Như Lai diệt tận mà tính Như Lai chân thật, không biến dị, không có phá hoại. Như Lai thuận theo thế gian mà thị hiện như vậy thôi. Lại nữa, này thiện nam tử! Như hai người đánh nhau. Hoặc dùng dao, gậy đả thương thân chảy máu, tuy đến chết nhưng chẳng khởi lên tư tưởng sát hại. Nghiệp tướng như vậy nhẹ mà chẳng nặng vì ở chỗ Như Lai vốn không có lòng sát hại. Tuy thân chảy máu nhưng nghiệp đó cũng vậy, nhẹ và chẳng nặng. Như Lai như vậy, vào đời vị lai, vì hóa độ chúng sinh nên thị hiện nghiệp báo. Lại nữa, này thiện nam tử! Giống như vị lương y siêng dạy bảo con mình về căn bản của y phương: “Ðây là thuốc rễ, đây là thuốc thân (thân thảo dược), đây là thuốc hình sắc... đủ thứ tướng mạo của thuốc. Con phải giỏi biết!” Người con ấy kinh vâng sự dạy bảo của cha, tinh cần học tập, giỏi lý giải các thứ thuốc. Thời gian sau vị lương y đó thọ tận mạng chung, người con ấy gào khóc luyến mộ mà nói lên rằng: “Cha vốn dạy con, thuốc rễ như vầy, thuốc thân như vầy, thuốc hoa như vầy, sắc tướng như vầy...” Như Lai cũng vậy, vì hóa độ chúng sinh, thị hiện chế ra giới luật: cần phải như vầy mà thọ trì chớ phạm phải tội ngũ nghịch, bài báng chính pháp đưa đến Nhất xiễn đề”. Vì đời vị lai sẽ khởi lên những việc đó nên ta thị hiện ra. Muốn khiến cho Tỳ kheo, sau khi Phật diệt độ nên tạo ra sự hiểu biết như vậy. Ðây là nghĩa thậm thâm của Khế kinh. Ðây là tướng khinh, trọng của giới luật. Ðây là pháp cú phân biệt A Tỳ Ðàm... giống như con của vị lương y kia.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như người thấy trăng sáu tháng một lần nguyệt thực mà trên chư thiên thì trong giây lát đã thấy nguyệt thực. Vì sao vậy? Vì ngày của trời kia dài, của nhân gian ngắn. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, trời người đều cho là Như Lai thọ mạng ngắn như người trời kia trong giây lát đều thấy nguyệt thực. Như Lai lại ở trong giây lát, thị hiện trăm ngàn vạn ức lần Niết Bàn, đoạn trừ ma phiền não, ma ấm, ma chết. Vậy nên trăm ngàn vạn ức thiên ma đều biết Như Lai vào Bát Niết Bàn. Lại nữa, Như Lai thị hiện vô lượng trăm ngàn nhân duyên nghiệp đời trước, thuận theo đủ tính của thế gian. Như Lai đã thị hiện vô lượng vô biên, chẳng thể nghĩ bàn như vậy. Vậy nên Như Lai thường trụ không biến dị. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như trăng sáng chúng sinh ưa nhìn thấy (Lạc Kiến). Vậy nên xưng hiệu của trăng là Lạc Kiến. Chúng sinh nếu có tham dục sân nhuế, ngu si thì chẳng được xưng là Lạc Kiến. Như Lai, như vậy tính ấy thuần thiện, thanh tịnh, không cấu bẩn, là rất có thể xưng là Lạc Kiến. Chúng sinh ưa pháp nhìn Như Lai không chán còn người ác tâm chẳng vui lòng nhìn ngắm. Do ý nghĩa đó nên nói rằng, Như Lai ví như trăng sáng. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như mặt trời mọc có ba thời điểm khác. Ðó là mùa xuân, mùa hạ và mùa đông. Ngày mùa đông thì ngắn, ngày mùa xuân thì trung bình còn ngày mùa hạ thì rất dài. Như Lai cũng vậy, đối với ba ngàn đại thiên thế giới này là thọ mạng ngắn ngủi và vì các Thanh Văn thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Những người ấy thấy thế rồi đều cho là thọ mạng của Như Lai ngắn ngủi ví như ngày mùa Ðông. Phật vì các vị Bồ tát thị hiện thọ mạng trung bình, hoặc đến một kiếp hay bớt một kiếp ví như ngày của mùa Xuân. Chỉ có Phật nhìn thấy thọ mạng ấy của Phật là vô lượng, ví như ngày của mùa Hạ. Này thiện nam tử! Lời nói của Như Lai, giáo pháp Phương Ðẳng Ðại Thừa vi mật, thị hiện ở thế gian, mưa xuống đại pháp vũ... Vào đời vị lai, nếu có người có thể hộ trì Kinh điển đó mà khai thị, phân biệt, lợi ích cho chúng sinh thì phải biết hạng người đó là những Bồ tát chân thật ví như lúc thịnh hạ, trời tuông mưa cam lộ. Nếu có người Thanh Văn, Duyên Giác nghe giáo lý vi mật của Phật Như Lai thì ví ngày mùa Ðông gặp nhiều lạnh lẽo. Người Bồ tát, nếu nghe lời dạy bảo vi mật, Như Lai thường trụ, tính không biến dị như vậy thì ví như ngày mùa Xuân, mầm chồi nảy nở. Nhưng mà tính Như Lai thật sự không có dài, ngắn, vì thế gian nên thị hiện như vậy thôi. Ðó tức là pháp tính chân thật của các đức Phật. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như mọi vì sao, ban ngày thì chẳng hiện mà mọi người đều cho là ban ngày sao diệt mất nhưng kỳ thật chẳng mất mà sở dĩ chẳng hiện là vì ánh sáng mặt trời làm lòa đi. Như Lai cũng vậy, Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể được thấy, giống như người đời chẳng thấy sao vào ban ngày. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như trong bóng tối mặt trời, mặt trăng biến mất. Người ngu nói rằng, mặt trời, mặt trăng mất tiêu, mà thật ra mặt trời, mặt trăng đó không mất tiêu. Khi Chánh pháp của Như Lai diệt tận, Tam Bảo biến mất cũng lại như vậy, chẳng phải diệt mất vĩnh viễn. Vậy nên phải biết là Như Lai thường trụ, không có biến dị. Vì sao vậy? Vì chân tính của Tam Bảo chẳng bị sự ô nhiễm của những cấu bẩn.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như đêm không trăng, sao Tuệ xuất hiện. Ánh sáng sao ấy sáng chói, xuất hiện chốc lát lại biến mất. Chúng sinh thấy sao ấy rồi sinh ra tư tưởng chẳng tốt lành. Các Bích Chi Phật cũng lại như vậy, xuất hiện ở đời không Phật, chúng sinh thấy rồi đều cho là Như Lai chân thật. Sau khi những vị ấy diệt họ đều sinh tư tưởng ưu bi mà thân Như Lai thật chẳng diệt độ như mặt trời, mặt trăng kia không có diệt mất.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như mặt trời mọc thì mọi sương mù đều tan. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, xuất hiện ở đời, nếu có chúng sinh một lần nghe Kinh rồi thì có thể diệt trừ hết tất cả những tội nghiệp ác vô gián. Cảnh giới thậm thâm Ðại Niết Bàn đó chẳng thể nghĩ bàn, khéo nói tính vi mật của Như Lai. Do ý nghĩa đó nên các thiện nam tử, thiện nữ nhân, v.v... nên đối với Như Lai sinh tâm thường trụ, không có biến dị, Chánh pháp chẳng đoạn, tăng bảo chẳng diệt. Vậy nên cần phải tu nhiều phương tiện, siêng học Kinh điển đó thì người này chẳng bao lâu sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên Kinh này gọi là sự thành tựu của vô lượng công đức, cũng gọi là Bồ Ðê chẳng thể cùng tận. Do chẳng cùng tận nên được xưng là Ðại Bát Niết Bàn; có ánh sáng thiện nên giống như ngày mùa hạ; thân vô biên nên gọi là Ðại Niết Bàn.

PHẨM BỒ TÁT Thứ Mười Sáu

Lại nữa, này thiện nam tử! Như trong ánh sáng thì ánh sáng mặt trời, mặt trăng là trên hết, tất cả những ánh sáng đã chẳng thể bì kịp. Ánh sáng Ðại Niết Bàn cũng lại như vậy, đối với ánh sáng của các Khế kinh, tam muội, là tối thù thắng, ánh sáng sở hữu của các Kinh, tam muội đã chẳng thể bì kịp. Vì sao vậy? Vì ánh sáng của Ðại Niết Bàn có thể vào những lỗ chân lông của chúng sinh. Chúng sinh tuy không có tâm Bồ Ðề mà có thể vì họ tạo tác nhân duyên Bồ Ðề. Vậy nên lại gọi là Ðại Bát Niết Bàn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật đã nói, ánh sáng Ðại Niết Bàn vào với lỗ chân lông của tất cả chúng sinh, chúng sinh tuy không có tâm Bồ Ðề mà có thể vì họ tạo tác nhân Bồ Ðề, thì ý nghĩa này chẳng vậy. Vì sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! Vì người phạm bốn trọng cấm, làm ngũ nghịch tội và Nhất xiển đề mà ánh sáng vào thân, tạo nhân Bồ Ðề thì bọn như vậy cùng với người trì tịnh giới, tu tập các thiện có gì sai khác? Nếu không sai khác thì đức Như Lai cớ sao nói ý nghĩa của bốn y (nương)? Thưa đức Thế Tôn! Lại như đức Phật nói rằng, nếu có chúng sinh nghe Ðại Niết Bàn, chỉ một lần Kinh đến tai thôi thì được đoạn trừ các phiền não thì sao ở trên đức Như Lai lại nói, có người ở chỗ hằng hà sa số Phật phát tâm Bồ Ðề mà nghe Ðại Niết Bàn chẳng lý giải được nghĩa của Kinh ấy. Nếu chẳng giải được nghĩa thì làm sao có thể đoạn tất cả phiền não?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Trừ Nhất xiển đề, kỳ dư chúng sinh nghe Kinh này rồi thì đều có thể tạo tác nhân duyên Bồ Ðề, ánh sáng của âm thanh pháp vào lỗ chân lông thì nhất định sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao vậy? Vì nếu có người có thể cúng dường cung kính vô lượng chư Phật thì mới được nghe Kinh Ðại Niết Bàn, còn người bạc phước thì chẳng được nghe. Sở dĩ vì sao? Vì người đức lớn mới có thể được nghe việc lớn như vậy, còn hạng phàm phu hạ liệt thì chẳng được nghe. Cái gì là lớn? Là thâm mật tạng của chư Phật, là Như Lai tính đó! Do ý nghĩa này nên gọi là việc lớn!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là người chưa phát tâm Bồ Ðề mà được nhân Bồ Ðề?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Nếu có người nghe Kinh Ðại Niết Bàn này mà nói rằng, ta chẳng cần phát tâm Bồ Ðề, bài báng Chánh pháp thì người đó liền ở trong mơ, thấy hình dáng La sát, trong lòng kinh sợ. La sát nói rằng: “Hừ! Này thiện nam tử! Ông nay nếu chẳng phát tâm Bồ Ðề thì ta sẽ giết ngươi”. Người đó kinh hoàng thức dậy, liền phát tâm Bồ Ðề. Người đó sau khi mạng chung, nếu sinh tại ba đường và tại cõi người, trời lại tiếp tục nhớ nghĩ tâm Bồ Ðề thì phải biết người này là Ðại Bồ tát Ma ha tát vậy. Do ý nghĩa đó nên sức uy thần của Ðại Niết Bàn này có thể khiến cho người chưa phát tâm Bồ Ðề tạo tác nhân Bồ Ðề. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Nhân duyên Bồ Ðề phát tâm, chẳng phải không nhân duyên. Do ý nghĩa đó nên Ðại Thừa Diệu Ðiển là lời nói chân thật của Phật. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như trong hư không khởi lên mây mưa lớn trút xuống đại địa, cây khô, núi đá, vùng cao, gò đống... thì nước mưa chẳng trụ lại được mà tuông chảy vào ruộng thấp, vũng, ao... tràn đầy, lợi ích không lường cho tất cả chúng sinh. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, mưa xuống mưa pháp lớn thấm nhuần khắp chúng sinh. Chỉ Nhất xiển đề mà phát tâm Bồ Ðề thì không có điều này. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như hạt giống cháy, tuy gặp mưa ngọt hàng trăm ngàn vạn kiếp nhưng nhất định chẳng nảy mầm. Mầm nếu mọc ra thì không có điều đó. Bọn Nhất xiển đề cũng lại như vậy, tuy nghe Kinh điển Ðại Bát Niết Bàn vi diệu như vậy, nhưng nhất định chẳng thể phát mầm tâm Bồ Ðề, nếu có thể phát thì không có điều đó. Vì sao vậy? Vì người đó đoạn diệt tất cả thiện căn như hạt giống cháy kia nên chẳng thể lại nảy sinh mầm rễ Bồ Ðề. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như viên ngọc sáng đặt trong nước đục. Do uy đức của ngọc nên nước liền lắng trong. Nếu ném vào đó bùn ứ thì chẳng thể làm cho trong được. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, đặt những chúng sinh phạm năm tội vô gián, bốn pháp trọng cấm khác vào trong nước đục còn có thể lắng trong, phát tâm Bồ Ðề. Ném vào trong đó bùn ứ Nhất xiển đề thì trăm ngàn vạn năm cũng chẳng thể khiến cho lắng trong, dấy khởi tâm Bồ Ðề được. Vì sao vậy? Vì Nhất xiển đề đó đoạn diệt các thiện căn, chẳng phải Bồ Ðề khí vậy. Giả sử người đó đã hàng trăm ngàn vạn năm thính thọ Kinh Ðại Niết Bàn như vậy cũng nhất định chẳng thể phát tâm Bồ Ðề. Sở dĩ vì sao? Vì không có thiện tâm vậy.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như cây thuốc tên là Dược Vương, ở trong các thuốc, nó là tối thù thắng. Nếu hòa nó với cao sữa, hoặc mật, hoặc váng sữa, hoặc nước lã, hoặc nước uống, hoặc làm thành bột, hoặc thành hoàn, rồi hoặc dùng bôi vết thương, xông hơ thân thể, tra vào mắt, hoặc nhìn thấy thuốc hay ngửi mùi thuốc... có thể diệt tất cả mọi thứ bệnh của chúng sinh. Cây thuốc như vậy chẳng tác khởi ý niệm này: “Tất cả chúng sinh hoặc lấy rễ ta, chẳng nên lấy lá, hoặc lấy lá thì chẳng nên lấy rễ, hoặc lấy thân thì chẳng nên lấy vỏ, hoặc lấy vỏ thì chẳng nên lấy thân”. Cây đó tuy lại chẳng sinh ý niệm đó nhưng mà có thể trừ diệt tất cả bệnh khổ. Này thiện nam tử! Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, có thể trừ ác nghiệp, bốn Ba-la-di, năm tội vô gián của tất cả chúng sinh và các ác sở hữu hoặc ở bên trong hay bên ngoài. Những người chưa phát tâm Bồ Ðề thì nhân đó được phát tâm Bồ Ðề. Vì sao vậy? Vì diệu Kinh điển này là vua trong các Kinh như cây thuốc kia là vua trong các thuốc. Nếu có người tu tập Kinh Ðại Niết Bàn này và người chẳng tu, hoặc chỉ nghe có danh tự của Kinh điển đó thôi mà nghe rồi kính tín thì tất cả trọng bệnh phiền não sở hữu đều trừ diệt hết. Nhưng chỉ chẳng thể khiến cho bọn Nhất xiển đề an trụ ở Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác như cây diệu dược kia tuy có thể trị khỏi đủ thứ trọng bệnh nhưng mà chẳng thể trị được người nhất định chết. Lại nữa, này thiện nam tử! Như người tay bị thương cầm nắm thuốc độc thì độc sẽ theo vào, nếu người không bị thương thì độc chẳng vào. Bọn Nhất xiển đề cũng lại như vậy, không có nhân Bồ Ðề như không có vết thương thì độc chẳng được vào. Cái gọi là vết thương tức là nhân duyên của Bồ Ðề vô thượng. Ðộc tức là đệ nhất diệu lạc. Toàn vẹn không vết thương thì gọi là Nhất xiển đề. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như Kim cương không gì có thể hủy hoại mà có thể phá hoại tất cả mọi vật, chỉ trừ mai rùa và sừng dê trắng. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, đều có thể dừng yên vô lượng chúng sinh ở đạo Bồ Ðề, chỉ chẳng thể khiến cho bọn Nhất xiển đề kiến lập nhân Bồ Ðề. Lại nữa, này thiện nam tử! Như cỏ răng ngựa, cây Ta-la-xí, cây Ni-ca-la tuy chặt cành thân nhưng vẫn tiếp tục sinh ra như cũ, chẳng như cây Ða-la, chặt rồi, chẳng sinh ra nữa. Những chúng sinh đó cũng lại như vậy, nếu được nghe Kinh Ðại Niết Bàn này, tuy phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián nhưng còn có thể sinh nhân duyên Bồ Ðề. Bọn Nhất xiển đề thì chẳng như vậy, tuy được thính thọ Kinh điển vi diệu này nhưng mà chẳng thể sinh ra nhân Bồ Ðề đạo.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như cây Khư đà la, cây Trấn đầu ca bị chặt rồi, chẳng sinh ra nữa. Bọn Nhất xiển đề cũng lại như vậy, tuy được nghe Kinh Ðại Niết Bàn này nhưng mà chẳng thể phát khởi nhân duyên Bồ Ðề. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như mưa lớn nhất định chẳng trụ ở hư không. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, mưa pháp vũ khắp nơi, nhưng đối với Nhất xiển đề thì chẳng thể trụ được. Nhất xiển đề này khắp thân thể kín mít giống như Kim Cương, chẳng dung nạp ngoại vật.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật đã nói kệ:

Chẳng thấy, thiện chẳng làm Chỉ thấy ác đáng làm

Chỗ này đáng kinh sợ Như đường ác nguy nan.

Thưa đức Thế Tôn! Lời nói như vậy có những nghĩa gì?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Chẳng thấy nghĩa là chẳng thấy Phật tính. Thiện tức là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Chẳng làm là nói lên việc chẳng thể gần gũi bạn lành. Chỉ thấy là thấy không nhân quả. Ác là gọi sự bài báng Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Ðáng làm là gọi Nhất xiển đề nói không có Phương Ðẳng. Do ý nghĩa này nên bọn Nhất xiển đề vô tâm hướng đến thiện pháp thanh tịnh. Cái gì là thiện pháp? Ðó là Niết Bàn vậy. Hướng đến Niết Bàn là gọi sự có thể tu tập hạnh hiền thiện mà Nhất xiển đề không có hạnh hiền thiện. Vậy nên chẳng thể hướng đến Niết Bàn. Chỗ này đáng sợ là gọi sự bài báng Chánh pháp. Ai nên kinh sợ? Ðó là bậc trí giả. Vì sao vậy? Vì người bài báng pháp thì không có lòng thiện và phương tiện. Ðường ác nguy hiểm là gọi các hành vậy.

Ngài Ca Diếp nói rằng:

- Như đức Phật đã nói thì: Sao gọi thấy sở tác

Sao gọi được pháp lành? Chỗ nào chẳng bố úy?

Như đường vua phẳng bằng? Những nghĩa này là sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Thấy sở tác là phát lộ các ác. Từ cõi sinh tử những việc ác đã làm đều phát lộ ra hết, cho đến không chỗ đến. Do ý nghĩa đó nên gọi là chỗ không sợ. Ví như con đường du hành chính của vua người. Trong đường ấy, đạo tặc đều chạy trốn hết. Phát lộ như vậy thì tất cả các ác đều diệt hết, không còn. Lại nữa, chẳng thấy sở tác là gọi sự tạo tác mọi ác mà chẳng tự thấy của Nhất xiển đề, là lòng kiêu mạn của Nhất xiển đề. Tuy làm nhiều điều ác nhưng ở trong việc đó, Nhất xiển đề không kinh sợ. Do ý nghĩa đó nên chẳng được Niết Bàn ví như con vượn bắt vầng trăng trong nước. Này thiện nam tử! Giả sử tất cả vô lượng chúng sinh cùng một lúc thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác rồi thì những vị Như Lai này cũng lại chẳng thấy có Nhất xiển đề kia được thành Bồ Ðề. Do ý nghĩa đó nên gọi là chẳng thấy sở tác. Lại nữa, chẳng thấy sở tác của ai? Là gọi chẳng thấy sở tác của Như Lai. Phật vì chúng sinh nói có Phật tính mà bọn Nhất xiển đề lưu chuyển trong sinh tử chẳng thể thấy biết. Do ý nghĩa đó nên gọi là chẳng thấy sở tác của Như Lai. Lại, Nhất xiển đề thấy ở Như Lai rốt ráo Niết Bàn, cho đó là vô thường chân thật giống như đèn tắt thì dầu mỡ đều hết. Vì sao vậy? Vì người đó nghiệp ác chẳng tổn giảm vậy. Nếu có Bồ tát khi tạo tác nghiệp thiện đều hồi hướng về Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà bọn Nhất xiển đề tuy hủy báng, phá hoại, chẳng tin, nhưng các Bồ tát còn cố thí cho, muốn cho họ cùng chung thành tựu đạo Vô thượng. Vì sao vậy? Vì pháp của chư Phật vậy.

Làm ác chẳng liền thọ Như sữa liền thành cao

Giống tro phủ trên lửa Người ngu khinh đạp vào.

Nhất xiển đề thì gọi là không mắt. Vậy nên chẳng thấy đạo A la hán, như A la hán chẳng đi trên đường ác hiểm sinh tử. Vì không mắt nên bài báng Phương Ðẳng, chẳng muốn tu tập như A la hán siêng tu từ tâm. Bọn Nhất xiển đề chẳng tu theo Phương Ðẳng cũng lại như vậy. Nếu người nói rằng: “Ta nay chẳng tin Kinh điển của Thanh Văn, chỉ tín thọ Ðại Thừa và đọc tụng giải nói. Vậy nên ta nay tức là Bồ tát. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Do Phật tính nên trong thân chúng sinh đã có mười lực, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Lời nói của ta chẳng khác lời nói của Phật. Ông nay cùng ta đều đã phá vô lượng những phiền não ác như đập vỡ cái bình nước. Do phá được kiết sử nên liền có thể được thấy Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Người đó tuy đã diễn nói như vậy nhưng lòng người ấy thật chẳng tin có Phật tính chỉ vì lợi dưỡng nên thuận theo lời văn mà nói thôi. Người nói như vậy gọi là người ác. Người ác như vậy thì chẳng mau chóng chịu quả báo như sữa thành cao sữa. Ví như vị sứ thần của vua giỏi khả năng đàm luận, khéo léo phương tiện, vâng mệnh đi sứ nước khác thì thà mất thân mạng, nhất định chẳng trốn tránh lời dạy bảo của vua. Bậc trí giả cũng vậy, ở trong phàm phu, chẳng tiếc thân mạng, cốt để tuyên nói Ðại Thừa Phương Ðẳng, mật tạng của Như Lai, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Này thiện nam tử! Có Nhất xiển đề hóa làm hình dáng La hán trụ ở chỗ trống mà bài báng Kinh điển Phương Ðẳng Ðại Thừa. Những người phàm phu thấy thế rồi đều cho là A la hán chân thật, là Ðại Bồ tát Ma ha tát. Bọn ác Tỳ kheo Nhất xiển đề này trụ ở chỗ A lan nhã, phá hoại pháp A lan nhã, thấy người khác được lợi, lòng sinh ra ganh ghét mà nói lên rằng: “Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng sẵn có đều là lời nói của thiên ma Ba Tuần”. Chúng cũng nói, Như Lai là pháp vô thường và hủy diệt chánh pháp, phá hoại chúng Tăng. Chúng lại nói lên lời này: “Lời nói của Ba Tuần chẳng phải lời nói thiện thuận”. Làm ra sự tuyên nói pháp tà ác này, người làm ác đó chẳng thọ quả báo liền như sữa thành cao sữa, như tro phủ trên lửa, người ngu khinh đạp vào. Người như vậy là chỉ cho Nhất xiển đề. Vậy nên ông phải biết là, Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng vi diệu nhất định thanh tịnh, như ngọc ma ni ném vào nước đục, nước liền được lắng trong. Kinh điển Ðại Thừa cũng lại như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như hoa sen được sự soi sáng của mặt trời không hoa nào chẳng nở ra. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy. Nếu được nghe thấy mặt trời Ðại Niết Bàn thì người chưa phát tâm đều phát tâm làm nhân Bồ Ðề. Vậy nên ta nói ánh sáng Ðại Niết Bàn đã vào lỗ chân lông thì nhất định là nhân duyên vi diệu. Nhất xiển đề kia tuy có Phật tính mà bị sự ràng buộc của vô lượng tội cấu, chẳng thể được ra như con tằm ở trong kén. Do nghiệp duyên đó nên chẳng thể được sinh diệu nhân của Bồ Ðề mà lưu chuyển sinh tử không có cùng rồi.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như hoa Ưu bát la, hoa Bát đầu ma, hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà lợi ở trong bùn ứ mà chẳng bị sự nhiễm bẩn của bùn ứ. Nếu có chúng sinh tu học Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thì cũng lại như vậy, tuy có phiền não nhưng nhất định chẳng bị sự nhiễm bẩn của phiền não đó. Vì sao vậy? Vì biết sức tính tướng của Như Lai vậy. Này thiện nam tử! Ví như có đất nước nhiều gió mát mẻ, nếu gió chạm vào những lỗ chân lông của thân chúng sinh thì có thể trừ tất cả hơi nóng phiền não xông lên. Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, vào khắp tất cả lỗ chân lông của chúng sinh, vì họ tạo tác nhân duyên vi diệu của Bồ Ðề, trừ Nhất xiển đề. Vì sao vậy? Vì chẳng phải là pháp khí vậy!

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y giải được tám thứ thuốc giảm tất cả bệnh tật mà chỉ chẳng thể trừ được bệnh A tát xà. Tất cả Khế kinh, thiền định tam muội cũng lại như vậy, có thể trị được tất cả những bệnh phiền não, tham dục, sân nhuế, ngu si, có thể nhổ những mũi tên độc phiền não mà chẳng thể trị kẻ phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián. Này thiện nam tử! Lại có vị lương y vượt hơn tám thứ y thuật, có thể trừ mọi bệnh khổ sẵn có của chúng sinh mà chỉ chẳng thể trị được bệnh nhất định chết (ắt chết). Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn cũng lại như vậy, có thể trừ tất cả phiền não của chúng sinh an trụ họ ở nhân duyên vi diệu thanh tịnh của Như Lai, người chưa phát tâm thì khiến họ được phát tâm. Nhưng chỉ trừ bọn Nhất xiển đề nhất định chết.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y có thể dùng diệu dược trị liệu những người mù khiến cho họ thấy mặt trời, mặt trăng, tinh tú, những ánh sáng, tất cả sắc tượng mà chỉ chẳng thể trị cho người mù bẩm sinh. Kinh Ðại Niết Bàn, điển Ðại Thừa này cũng lại như vậy, có thể vì người Thanh Văn, Duyên Giác khai phát tuệ nhãn, khiến cho những người ấy an trụ ở vô lượng vô biên Kinh điển Ðại Thừa, người chưa phát tâm như là kẻ phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián đều có thể khiến cho họ phát tâm Bồ Ðề. Nhưng chỉ trừ bọn Nhất xiển đề mù bẩm sinh. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y giỏi lý giải tám y thuật, trị được tất cả bệnh khổ của chúng sinh với đủ thứ phương dược, tùy bệnh cho thuốc như là: uống thuốc thổ độc ra, xoa thân, nhỏ mũi, hoặc xông hơ, hoặc rửa ráy, hoặc thuốc hoàn, hoặc thuốc tán... Tất cả các thuốc mà người bần ngu chẳng muốn uống. Vị lương y nghĩ thương liền đem người này về nhà mình, cưỡng ép cho uống thuốc. Nhờ sức của thuốc nên bệnh hoạn của hắn được khỏi. Người phụ nữ sinh khó, nhi y chẳng ra, nếu uống thuốc này thì nhi y liền ra, cũng khiến cho đứa trẻ yên vui, không bệnh hoạn. Kinh Ðại Niết Bàn, điển Ðại Thừa này cũng lại như vậy, chỗ đến của Kinh này, như Kinh đến nhà thì có thể trừ vô lượng phiền não của chúng sinh, người phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián chưa phát tâm thì đều khiến cho họ phát tâm, chỉ trừ Nhất xiển đề.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Phạm bốn trọng cấm và năm tội vô gián thì gọi là Cực trọng ác (ác rất nặng) ví như cắt đứt đầu cây Ða la thì chẳng sống lại. Những người đó chưa phát tâm Bồ Ðề thì làm sao có thể cùng tạo tác nhân Bồ Ðề?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Những chúng sinh này, nếu ở trong mơ, mơ thấy rơi vào địa ngục, chịu những khổ não liền phát sinh lòng hối hận rằng: “Thương thay! Ta đã tự rước lấy tội này! Nếu ta nay được thoát khỏi tội đó thì nhất định sẽ phát tâm Bồ Ðề! Những điều thấy của ta hôm nay rất là cực ác!” Từ đó thức dậy rồi, người đó liền biết Chánh pháp có đại quả báo. Như đứa trẻ kia dần dần lớn lên, thường tác khởi ý nghĩ này: “Vị thầy thuốc này rất giỏi, khéo lý giải phương dược. Ta xưa ở trong thai mà ông cho thuốc mẹ ta. Mẹ nhờ dùng thuốc nên thân thể được yên ổn. Do nhân duyên đó nên mạng ta được an toàn. Lạ thay! Mẹ ta chịu khổ não lớn, hoài bão thân ta đủ đầy mười tháng. Sau khi sinh ra rồi, chỗ khô con nằm, chỗ ướt mẹ nằm, trừ khử đại tiểu tiện bất tịnh của con, rồi cho bú mớm, nuôi dưỡng lớn lên, hộ trì thân ta. Do ý nghĩa này nên ta phải đền ơn mẹ. Phải nuôi dưỡng, hầu hạ, bảo vệ thuận theo cúng dường”. Người phạm bốn trọng cấm và năm tội vô gián, khi sắp mạng chung nghĩ đến Kinh Ðại Niết Bàn Ðại Thừa này thì tuy rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ hoặc lên trời hay ở trong loài người mà như vậy Kinh điển cũng vẫn vì người đó tạo tác nhân Bồ Ðề, trừ Nhất xiển đề! Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y và con của vị lương y với sự hiểu biết thâm áo vượt hơn các thầy thuốc, giỏi biết chú thuật vô thượng trừ độc. Nếu rắn ác độc như rồng hay rắn đầu tam giác thì họ dùng những chú thuật chú vào thuốc làm cho hay thêm. Rồi họ dùng thứ thuốc hay này bôi giày da. Ðem giày da này chạm vào các loài trùng độc thì độc của chúng bị tiêu tan, chỉ trừ một thứ độc tên là Ðại Long. Kinh Ðại Niết Bàn, điển Ðại Thừa này cũng lại như vậy, nếu có chúng sinh phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián thì đều có thể tiêu diệt, khiến cho họ trụ ở Bồ Ðề như giày da bôi thuốc có thể tiêu diệt mọi thứ độc, khiến cho người chưa phát tâm sẽ phát tâm, an trụ ở đạo Bồ Ðề Vô thượng. Chính là thuốc uy thần của Kinh Ðại Niết Bàn Ðại Thừa kia khiến cho các chúng sinh sinh ra an vui, chỉ trừ bọn Nhất xiển đề Ðại Long.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người đem thuốc độc mới chế ra dùng bôi vào cái trống lớn. Rồi ở trong mọi người, đánh trống phát ra tiếng, tuy người không có lòng muốn nghe, nhưng đã nghe tiếng trống đều chết. Chỉ trừ một người chẳng chết ngang (ngược). Kinh điển Ðại Niết Bàn Ðại Thừa này cũng lại như vậy, ở tại khắp nơi nơi, trong các chúng sinh mà có người nghe tiếng thì tham dục, sân nhuế, ngu si sẵn có đều tiêu diệt hết. Trong số chúng sinh ấy tuy có kẻ không có lòng suy nghĩ đến nhưng lực nhân duyên của Kinh Ðại Niết Bàn này có thể diệt phiền não mà phiền não kết của họ tự diệt. Người phạm bốn trọng cấm và năm tội vô gián nghe Kinh này rồi cũng tạo tác nhân duyên Bồ Ðề vô thượng, rồi dần dần đoạn dứt phiền não, chỉ trừ bọn Nhất xiển đề chẳng chết ngang. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như đêm tối mọi sự tạo tác kinh doanh, tất cả đều ngưng, nếu có việc chưa xong thì cần phải đợi đến sáng ngày mai. Người học Ðại Thừa, tuy tu học Khế kinh, tất cả các định, nhưng cần phải đợi mặt trời Ðại Thừa Ðại Niết Bàn để nghe lời dạy vi mật của Như Lai nay, rồi nhiên hậu mới sẽ kiến tạo nghiệp Bồ Ðề, an trụ ở Chánh pháp. Giống như trời mưa thấm nhuần, thêm tăng trưởng tất cả những giống loại thành tựu quả trái để trừ hết đói kém, hưởng thụ nhiều an vui, thịnh vượng, vô lượng pháp vũ của Như Lai Bí Tạng cũng lại như vậy, có thể trừ diệt hết tám thứ nhiệt bệnh. Kinh này ra đời như những quả trái kia, có nhiều sự lợi ích an lạc cho tất cả, có thể khiến cho chúng sinh thấy được tính Như Lai như trong Pháp Hoa, tám ngàn Thanh Văn được thọ ký biệt, thành tựu quả trái lớn. Như mùa thu gặt hái, mùa đông tàng trữ rồi lại không việc làm, bọn Nhất xiển đề cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp không kinh doanh, tạo tác cái gì cả. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y nghe con của người khác bị sự nắm giữ của loài phi nhân liền đem diệu dược ra và sai một sứ giả, dặn bảo rằng: “Ông mang thuốc này cho người kia. Người kia nếu gặp những quỉ thần ác thì nhờ lực của thuốc này nên đều sẽ tránh đi xa. Nếu người chậm trễ thì ta sẽ tự sang, nhất định chẳng để cho người đó chết oan uổng vậy. Nếu người bệnh kia được thấy sứ giả và uy đức của ta thì các khổ sẽ tiêu trừ, được niềm vui yên ổn”. Ðiển Ðại Thừa, Kinh Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy. Nếu Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di và những ngoại đạo, có người có thể thọ trì Kinh điển như vậy mà đọc tụng thông lợi, lại vì người khác phân biệt giảng nói, hoặc tự ghi chép hay khiến bảo người khác ghi chép... những việc ấy đều là nhân duyên Bồ Ðề. Hoặc người phạm bốn trọng cấm và tội ngũ nghịch, hay người bị sự nắm giữ ác độc của tà quỉ mà nghe Kinh điển này thì những ác sẵn có đều tiêu diệt hết như thấy vị lương y thì ác quỉ tránh đi xa. Ông phải biết người này là Ðại Bồ tát chân thật. Vì sao vậy? Vì tạm được nghe (được nghe qua) Kinh Ðại Niết Bàn này mà cũng đã sinh ra ý niệm Như Lai thường trụ vậy. Tạm được nghe mà còn được như vậy huống gì ghi chép, thọ trì, đọc tụng, trừ Nhất xiển đề, những người còn lại ấy đều là Ðại Bồ tát. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người điếc chẳng nghe được âm thanh. Bọn Nhất xiển đề cũng lại như vậy, tuy chúng lại muốn nghe Kinh điển vi diệu này nhưng mà chẳng được nghe. Sở dĩ vì sao? Vì không có nhân duyên vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y mà tất cả y phương (phương cách làm thuốc trị bịnh) không phương nào chẳng thông đạt, lại kiêm thêm rộng biết vô lượng chú thuật. Vị lương y đó diện kiến mà nói lên rằng: “Ðại vương nay nhất định có bệnh chết!” Vị vua ấy đáp rằng: “Khanh chẳng thấy việc trong bụng của ta thì sao mà nói rằng, ta nhất định có bệnh chết”. Vị thầy thuốc liền đáp rằng: “Nếu vua chẳng thấy tin thì nên uống thuốc hạ xuống!” Sau khi đã hạ xuống rồi, nhà vua tự nghiệm xem, rồi vua chẳng chịu uống. Bấy giờ, vị lương y dùng sức chú thuật khiến cho chỗ kín của nhà vua sinh ghẻ lở cùng khắp, lại gồm thêm nước máu lẫn trùng chảy ra. Vua thấy thế rồi phát sinh rất sợ hãi, khen vị lương y rằng: “Giỏi thay! Giỏi thay! Lời tâu trước của khanh, ta chẳng tin dùng, nay mới biết khanh đối với thân ta tạo tác lợi ích lớn!” Rồi nhà vua cung kính vị thầy thuốc đó, giống như cha mẹ. Ðiển Ðại Thừa, Kinh Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, đối với các chúng sinh có muốn hay không muốn đều có thể khiến cho phiền não của họ tan vỡ, rơi rụng. Những chúng sinh này thậm chí ở trong mơ mà mơ thấy Kinh này cũng cung kính cúng dường ví như vị đại vương cung kính vị lương y. Vị đại lương y này biết nhất định chết thì nhất định chẳng trị cho. Ðiển Ðại Thừa, Kinh Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, nhất định chẳng thể trị cho bọn Nhất xiển đề. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y giỏi tám thứ thuốc, có thể trị liệu hết tất cả các bệnh, chỉ chẳng thể trị được người nhất định chết. Các đức Phật, Bồ tát cũng lại như vậy có thể cứu vớt trị liệu tất cả người có tội, chỉ chẳng thể trị được người nhất định chết, bọn Nhất xiển đề. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như vị lương y giỏi biết tám thứ kinh thuật vi diệu, lại có thể thông đạt rộng rãi qua tám thứ. Ông đem sự hiểu biết của mình dạy cho con trước: Hoặc nước, hoặc đất, hang núi, thảo dược... đều khiến cho con nhận thức hiểu biết. Như vậy ông dần dần dạy xong tám việc. Tiếp theo ông lại dạy những y thuật tối thượng diệu khác. Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri cũng lại như vậy, trước tiên dạy con mình, những Tỳ kheo, v.v... về phương tiện trừ diệt tất cả phiền não, tu tập tịnh thân bằng tư tưởng chẳng kiên cố như là nước, đất, hang núi... Nước là dụ cho thân thọ khổ như bọt nước. Ðất là dụ cho thân chẳng bền như cây chuối. Hang núi là dụ cho ở trong phiền não tu vô ngã tưởng. Do nghĩa đó nên thân gọi là vô ngã. Như Lai như vậy đối với các đệ tử, rồi dần dần dạy họ học chín bộ kinh pháp, khiến cho họ giỏi giang thông lợi. Nhiên hậu Phật mới dạy họ học Như Lai Bí Tạng, vì con mình nên nói Như Lai Thường Trụ. Như Lai nói Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn như vậy là vì những chúng sinh đã phát tâm và chưa phát tâm tạo tác nhân duyên Bồ Ðề, trừ Nhất xiển đề. Như vậy này thiện nam tử! Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này vô lượng vô biên, chẳng thể nghĩ bàn, chưa từng có vậy! Ông phải biết, đó tức là lương y vô thượng, là vua tối tôn tối thắng trong mọi Kinh điển.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như chiếc thuyền lớn từ bờ biển này đi đến bờ kia, rồi lại từ bờ bên kia quay về bờ bên này. Như Lai Chánh Giác cũng lại như vậy, cỡi thuyền báu Ðại Niết Bàn Ðại Thừa chu toàn qua lại tế độ chúng sinh. Ở tại khắp nơi nơi mà có người nên độ, Như Lai đều khiến cho được thấy thân Như Lai. Do nghĩa này nên Như Lai gọi là Vô thượng Thuyền Sư. Ví như có thuyền thì có thuyền sư mà có thuyền sư thì có chúng sinh đi qua biển cả. Như Lai thường trụ hóa độ chúng sinh cũng lại như vậy.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người ở tại trong biển lớn, cỡi thuyền muốn đi qua. Nếu được gió thuận trong chốc lát thì có thể qua được vô lượng do tuần. Nếu chẳng được thì tuy vào trụ ở Kinh lâu hàng vô lượng năm nhưng chẳng lìa khỏi chỗ cũ, rồi có lúc thuyền hư ngập nước mà chết. Chúng sinh như vậy ở tại biển lớn sinh tử ngu si kia cỡi các hành thuyền (thuyền để đi), nếu gặp được Ðại Thuyền Niết Bàn và gió mạnh thuận lợi thì có thể mau chóng đến bờ đạo Vô thượng. Nếu chẳng gặp được, phải lưu chuyển lâu trong vô lượng sinh tử, đến khi bị hư hoại bị rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người chẳng gặp vua gió, trụ lâu ở biển cả liền suy nghĩ rằng: “Chúng ta nay nhất định phải chết tại đây”. Khi nghĩ như vậy thì bỗng nhiên gặp gió thuận lợi mà thuận theo đi qua biển. Người đó lại nghĩ rằng: “Sướng thay! Gió này chưa từng có vậy! Nó khiến chúng ta yên ổn qua được nạn biển cả”. Chúng sinh như vậy ở lâu trong biển cả sinh tử ngu si chịu khốn khổ, tiều tụy, chưa gặp gió Ðại Niết Bàn như vậy thì liền sinh ý niệm: “Chúng ta nhất định phải rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ”. Khi những chúng sinh suy nghĩ thế thì bỗng nhiên gặp gió Ðại Thừa Ðại Niết Bàn mà thuận theo chiều gió thổi hướng vào đến Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, mới biết được chân thật. Họ sinh ra tư tưởng đặc biệt lạ lùng mà khen rằng: “Sướng thay! Ta từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy Như Lai vi mật tạng như vậy!” Bấy giờ họ mới đối với Kinh Ðại Niết Bàn sinh ra niềm tin thanh tịnh.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như con rắn lột da là chết mất chăng?

- Không, thưa đức Thế Tôn!

- Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy! Ta phương tiện thị hiện xả bỏ thân độc hại mà có thể nói rằng, Như Lai vô thường, diệt mất sao?

- Không, thưa đức Thế Tôn!

- Như Lai ở trong cõi Diêm phù đề này phương tiện xả thân như con rắn độc kia bỏ đi lớp da cũ. Vậy nên Như Lai gọi là thường trụ. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người thợ vàng bậc thầy được thỏi vàng ròng tốt thì tùy ý tạo tác đủ thứ những đồ dùng. Như Lai cũng vậy, ở trong hai mươi lăm cõi hữu đều có thể thị hiện đủ thứ sắc thân vì giáo hóa chúng sinh, cứu vớt sinh tử. Vậy nên Như Lai gọi là Vô Biên Thân, tuy lại thị hiện đủ thứ những thân nhưng cũng gọi là thường trụ không có biến dị.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như cây Am la và cây Diêm phù, một năm ba lần biến đổi, có lúc sinh hoa màu sáng khoe tươi, có lúc ra lá sum suê um tùm, có lúc điêu tàn rơi rụng giống như khô chết. Này thiện nam tử! Ý ông thế nào? Có phải là cây khô chết thật không vậy?

- Không, thưa đức Thế Tôn!

- Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, ở trong ba cõi thị hiện ba thứ thân, khi mới sinh, khi lớn lên, khi Niết Bàn mà thân Như Lai chẳng phải vô thường!

Bồ tát Ca Diếp khen rằng:

- Hay thay! Quả đúng như lời dạy của đức Thánh! Như Lai thường trụ không có biến dị!

- Này thiện nam tử! Mật ngữ của Như Lai thậm thâm khó hiểu. Ví như vị đại vương bảo các vị đại thần đem Tiên Ðà Bà lại. Tiên Ðà Bà là một tên bao gồm bốn thứ, một là muối, hai là khí cụ, ba là nước, bốn là ngựa. Như vậy là bốn vật đồng chung một tên. Người bề tôi có trí khéo biết danh xưng này, nếu vua khi tắm đòi Tiên đà bà thì liền dâng nước nếu vua khi ăn đòi Tiên đà bà thì liền dâng muối; nếu vua ăn rồi khi muốn uống nước đòi Tiên đà bà thì liền dâng đồ đựng nước; nếu khi vua muốn du hành đòi Tiên đà bà thì liền dâng ngựa. Như vậy là người bề tôi trí tuệ giỏi hiểu bốn thứ mật ngữ của vị đại vương. Kinh Ðại Thừa này cũng lại như vậy, có bốn vô thường mà vị đại thần trí Ðại Thừa cần phải giỏi biết. Nếu Phật ra đời vì chúng sinh nói Như Lai Niết Bàn thì người bề tôi trí tuệ phải biết đây là Như Lai kể là thường mà nói tướng vô thường là muốn khiến cho Tỳ kheo tu vô thường tưởng. Hoặc Như Lai lại nói rằng, chánh pháp sẽ diệt thì vị đại thần trí tuệ nên biết đây là Như Lai cho là vui mà nói về tướng khổ là muốn khiến cho Tỳ kheo tu nhiều khổ tưởng. Hoặc Như Lai lại nói rằng, ta nay bịnh khổ, chúng Tăng phá hoại thì vị đại thần trí tuệ phải biết đây là Như Lai cho là có ngã mà nói tướng vô ngã là muốn khiến cho Tỳ kheo tu vô ngã tưởng. Hoặc Như Lai lại nói rằng, cái gọi là không thì chính là chánh giải thoát thì vị đại thần trí tuệ phải biết đây là Như Lai nói Chánh Giải thoát, không có hai mươi lăm cõi hữu, muốn khiến cho Tỳ kheo tu học không tưởng. Do nghĩa này nên chánh giải thoát đó gọi là Không, cũng gọi là bất động. Gọi là Bất Ðộng là trong giải thoát không có khổ. Vậy nên gọi là Bất Ðộng. Chánh giải thoát này là không có tướng, gọi là vô tướng thì không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, v.v... nên gọi là vô tướng. Chánh giải thoát này thường trụ chẳng biến dị. Trong giải thoát này không có vô thường, nhiệt não, biến dị. Vậy nên giải thoát gọi là thường trụ, bất biến, thanh lương. Hoặc lại nói rằng, tất cả chúng sinh có Như Lai tính thì vị bề tôi phải biết đây là Như Lai nói về thường pháp, muốn khiến cho Tỳ kheo tu tập chánh thường pháp. Các Tỳ kheo này nếu có thể thuận theo tu học như vậy thì phải biết người đó là chân đệ tử của ta, giỏi biết vi mật tạng của Như Lai như người bề tôi trí tuệ của vị đại vương kia giỏi biết ý của vua. Này thiện nam tử! Như vậy vị đại vương mà cũng có pháp mật ngữ như thế huống gì là Như Lai mà lại không có vậy? Này thiện nam tử! Vậy nên lời dạy vi mật của Như Lai khó có thể được biết, chỉ có bậc trí giả mới có thể lý giải được Phật pháp thậm thâm của ta, chẳng phải là điều có thể tin của hạng phàm phu thế gian vậy.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như cây Ba-la-xa, cây Ca-ni-ca, cây A-thúc-ca gặp trời khô hạn chẳng sinh hoa trái và những vật sống trên đất, trên nước đều khô héo hết, không có nước thấm nhuần thì chẳng thể tăng trưởng. Tất cả các dược thảo không còn hiệu lực nữa. Này thiện nam tử! Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, sau khi ta diệt độ, có những chúng sinh chẳng thể cung kính, không có uy đức. Vì sao vậy? Vì các chúng sinh chẳng biết vi mật tạng của Như Lai. Sở dĩ vì sao? Vì các chúng sinh này bạc phước vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Chánh pháp của Như Lai sắp muốn diệt hết, bấy giờ có hạng Tỳ kheo làm ác, chẳng biết vi mật tạng của Như Lai, lười biếng giải đãi, chẳng thể đọc tụng, tuyên dương phân biệt chánh pháp của Như Lai, ví như tên giặc ngu si xả bỏ chân bảo để gánh vác cỏ cây. Chẳng giải vi mật tạng của Như Lai nên ở trong Kinh này giải đãi chẳng tinh cần. Thương thay! Rất nguy hiểm cho đời đương lai, rất là đáng sợ hãi! Khổ thay! Chúng sinh chẳng tinh cần thính thọ Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này! Chỉ các vị Ðại Bồ tát mới có thể đối với Kinh này chọn lấy nghĩa chân thật, chẳng chấp trước văn tự, thuận theo chẳng nghịch mà vì chúng sinh diễn nói. Lại nữa, này thiện nam tử! Như người con gái chăn trâu bán sữa, vì muốn tham nhiều lợi nên gia thêm hai phần nước đem bán cho người con gái chăn trâu khác. Người con gái kia mua được sữa rồi lại gia thêm hai phần nước lại chuyển bán cho người con gái ở gần thành. Người con gái gần thành đó mua được rồi lại gia thêm hai phần nước lại chuyển bán cho người con gái ở trong thành. Người con gái ở trong thành đó mua được sữa rồi lại gia thêm hai phần nước mà đem đến chợ bán. Có một người, vì con cưới vợ nên cần gấp sữa tốt để cung cấp cho khách mời, đến chợ muốn mua sữa. Người bán sữa này tìm nêu nhiều giá trị của sữa. Nhưng người mua sữa đó nói rằng: “Sữa này nhiều nước thật chẳng giá trị gì. Nhưng ngày hôm nay gặp lúc ta chiêu đãi tân khách nên phải mua lấy thôi!” Lấy rồi trở về nhà, người ấy nấu sữa lên làm cháo mà không còn vị sữa nữa. Tuy không còn vị sữa nhưng ở trong vị đắng, nó còn hơn gấp ngàn lần. Vì sao vậy? Vì sữa là vị tối thắng trong các vị. Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn, Chánh pháp chưa diệt, còn chừng tám mươi năm, bấy giờ Kinh này ở cõi Diêm phù đề sẽ lưu bố rộng rãi. Khi đó, sẽ có các ác Tỳ kheo sao chép sơ lược Kinh này, chia làm nhiều phần, có khả năng diệt hết sắc hương mỹ vị của Chánh pháp. Những người ác này tuy lại đọc tụng Kinh điển như vậy nhưng đã diệt trừ yếu nghĩa thâm mật của Như Lai, chỉ an trí lời nói vô nghĩa văn vẻ trang nghiêm của thế gian mà thôi. Phần sao chép trước đặt sau, phần sao chép sau đặt trước, phần trước sau đặt vào giữa, phần giữa thì đặt ở trước sau... Ông phải biết, những ác Tỳ kheo này là bạn bè của ma, nhận nuôi tất cả vật bất tịnh. Bọn chúng nói rằng: “Ðức Như Lai cho phép ta nuôi nhận!” Như người con gái chăn trâu gia thêm nhiều nước vào sữa, các ác Tỳ kheo cũng lại như vậy, dùng xen tạp lời lẽ thế gian quyết định lầm lẫn Kinh này, khiến cho nhiều chúng sinh chẳng được lời nói chân chánh, bản chép chân chính, sự chọn lấy chân chính mà khen ngợi, cúng dường, cung kính. Những ác Tỳ kheo này vì lợi dưỡng nên chẳng thể tuyên nói, lưu bố rộng rãi Kinh đó. Sự phân chia, lưu bố thiếu, lời chẳng đủ như người con gái chăn trâu bần cùng kia đắp đổi bán sữa cho đến khi nấu thành cháo mà không còn vị sữa nữa. Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, đắp đổi đến nỗi nhạt nhẽo, không còn có khí vị nữa. Tuy Kinh này không khí vị nhưng còn hơn Kinh khác, vượt qua ngàn lần như vị sữa kia đối với những vị đắng, nó thắng hơn ngàn lần. Vì sao vậy? Vì Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này đối với Kinh của Thanh Văn là tối thượng thủ (đứng đầu) ví như sữa trâu là tối thắng trong các vị. Do nghĩa đó nên gọi là Ðại Niết Bàn.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như thiện nam tử, thiện nữ nhân, v.v... không có ai chẳng câu thân nam tử. Vì sao vậy? Vì tất cả nữ nhân đều là chỗ sở trụ của mọi thứ ác. Lại nữa, này thiện nam tử! Như nước của muỗi của ve chẳng thể khiến cho đất đai này thấm nhuần, dâm dục của người con gái ấy khó thỏa mãn cũng lại như vậy. Ví như đất đai, tất cả làm thành hòn nhỏ như hạt cải mà số đàn ông nhiều như vậy cùng một người đàn bà chung làm việc dâm dục còn chẳng thể đủ. Giả sử số đàn ông nhiều như cát sông Hằng cùng với một người đàn bà chung làm việc dâm dục thì cũng lại chẳng đủ. Này thiện nam tử! Ví như biển cả mà tất cả trời mưa, trăm sông, mọi dòng chảy đều rót về. Nhưng biển cả kia chưa từng tràn đầy, phép của nữ nhân cũng lại như vậy. Giả sử tất cả đều là nam tử chỉ cùng với một nữ nhân chung làm việc dâm dục mà cũng chẳng đủ. Lại nữa, này thiện nam tử! Như cây A thúc ca, cây Ba sấc la, cây Ca ni ca, mùa xuân nở hoa bày ong hút lấy sắc hương mỹ vị, chẳng biết chán. Nữ nhân dâm dục với nam tử cũng lại như vậy, chẳng biết chán đủ. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên các thiện nam tử, thiện nữ nhân, v.v... nghe được Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này thì thường nên chê trách thân tướng nữ nhân, cầu được thân nam tử. Vì sao vậy? Vì điển Ðại Thừa này có tướng trượng phu, gọi là Phật tính. Nếu người chẳng biết Phật tính này thì không có nam tướng. Sở dĩ vì sao? Vì chẳng thể tự biết có Phật tính vậy. Nếu có người chẳng thể biết Phật tính thì ta nói những người đó gọi là nữ nhân. Nếu người có thể tự biết có Phật tính thì ta nói người đó là đại trượng phu. Nếu có nữ nhân có thể biết thân mình nhất định có Phật tính thì phải biết những người đó tức là nam tử. Này thiện nam tử! Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn gom tụ công đức vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn. Sở dĩ vì sao? Vì nói lên bí mật tạng của Như Lai. Vậy nên thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu muốn mau chóng biết mật tạng của Như Lai thì cần phải phương tiện siêng tu học Kinh này!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời của đức Phật! Con nay đã có tướng trượng phu, được vào vi mật tạng của Như Lai. Ngày hôm nay đức Như Lai bắt đầu giác ngộ cho con! Nhân đó con liền được quyết định thông đạt.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay thuận theo pháp thế gian mà nói lên lời nói này!

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Con chẳng thuận theo pháp thế gian!

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ông nay đã biết vị pháp Vô thượng thậm thâm khó biết mà có thể được biết như con ong thu lấy vị. Ông cũng như vậy đó! Lại nữa, này thiện nam tử! Như nước của con muỗi chẳng thể thấm nhuần được đất đai này, đời đương lai Kinh này lưu bố cũng lại như vậy, như sự thấm nhuần của nước con muỗi kia. Khi chánh pháp sắp diệt thì Kinh này trước sẽ chìm mất vào trong đất này, ông phải biết đó tức là tướng suy của Chánh pháp. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như qua khỏi mùa hạ, tháng đầu gọi là mùa thu, mưa thu mưa liên miên. Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn cũng lại như vậy, được các vị Bồ tát ở phương Nam kia sẽ lưu bố rộng rãi, tuông xuống mưa pháp cùng khắp cõi ấy. Chánh pháp sắp diệt sẽ đến nước Kế Tân đầy đủ không khiếm khuyết, chìm mất vào trong đất, hoặc có người tin, hoặc có người chẳng tin. Như vậy pháp vị cam lộ của Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng đều chìm mất vào đất. Kinh này mất rồi thì tất cả Kinh điển Ðại thừa khác đều diệt mất hết. Nếu người được Kinh này đầy đủ không khiếm khuyết thì người đó là vua voi trong loài người. Các Bồ tát, v.v... phải biết là chánh pháp vô thượng của Như Lai sắp diệt chẳng lâu nữa.

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nay ông Thuần Ðà này còn có lòng nghi hoặc, nguyện xin đức Thế Tôn, một lần nữa phân biệt khiến cho ông ấy được đoạn trừ.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Lòng nghi ra sao? Ông hãy nói đi! Ta sẽ vì ông đoạn trừ cho!

Ngài Văn Thù Sư Lợi thưa rằng:

- Lòng ông Thuần Ðà hồ nghi về việc Như Lai thường trụ! Do được thấy biết lực Phật tính nên nếu thấy Phật tính mà là thường thì khi trước chưa thấy nên là vô thường. Nếu trước vô thường thì sau cũng nên vậy. Vì sao vậy? Vì như vật của thế gian trước không mà nay có, đã có rồi trở lại không. Như vậy mọi vật đều là vô thường. Do nghĩa này nên chư Phật, Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác không có sai biệt.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Trước có nay không Trước không nay có

Pháp có ba đời Không có điều đó.

Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên chư Phật, Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác cũng có sai biệt cũng không sai biệt.

Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng:

- Hay thay! Quả đúng như lời dạy của đức Thánh! Con nay mới hiểu được vấn đề các đức Phật, Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác cũng có sai biệt, cũng không sai biệt!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, tính của chư Phật, Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác không sai biệt, nguyện xin đức Như Lai phân biệt diễn nói rộng rãi để cho tất cả chúng sinh được lợi ích, an lạc!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông diễn nói! Này thiện nam tử! Ví như ông trưởng giả nuôi nhiều trâu sữa có đủ thứ màu sắc thường sai một người chăn giữ, nuôi dưỡng. Có thời gian, vì việc cúng tế, người đó vắt sữa của những con trâu vào trong một cái đồ đựng. Người đó thấy sữa của các con trâu đồng một màu trắng liền kinh ngạc lấy làm lạ: Màu sắc trâu đều khác mà cao sữa của chúng đồng một màu? Người đó suy nghĩ: Như sữa này, tất cả đều là nhân duyên nghiệp báo của chúng sinh khiến cho màu sữa là một. Này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát cũng vậy, đồng một Phật tính, giống như sữa kia. Sở dĩ vì sao? Vì đồng hết lậu vậy! Nhưng mà các chúng sinh nói rằng, Phật, Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác có sự sai biệt. Có những Thanh Văn, người phàm phu nghi ngờ ở ba thừa tại sao có sai biệt? Thời gian lâu về sau, những chúng sinh đó tự giải được là tất cả ba thừa đồng một Phật tính, giống như người chăn trâu kia giác ngộ tướng sữa do nhân duyên nghiệp. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như quặng vàng đem luyện gạn bỏ cặn bẩn, nhiên hậu nấu chảy thành vàng ròng, giá trị không lường. Này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát cũng vậy, đều được thành tựu, đồng một Phật tính. Vì sao vậy? Vì trừ hết phiền não như quặng vàng trừ hết những cặn bẩn. Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh đồng một Phật tính không có sai biệt. Do Phật tính ấy nên trước nghe Như Lai mật tạng thì sau khi thành Phật tự nhiên được biết như ông trưởng giả kia biết sữa một tướng. Vì sao vậy? Vì đã cắt đứt vô lượng ức phiền não vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sinh có Phật tính thì Phật cùng chúng sinh có gì sai biệt? Nói như vậy thì có nhiều lầm lỗi! Nếu các chúng sinh đều có Phật tính thì vì nhân duyên gì mà ngài Xá Lợi Phất dùng Tiểu Niết Bàn mà Bát Niết Bàn; người Duyên Giác ở Trung Niết Bàn mà Bát Niết Bàn; người Bồ tát ở Ðại Niết Bàn mà Bát Niết Bàn. Những người như vậy nếu đồng Phật tính thì vì sao chẳng đồng Như Lai Niết Bàn mà Bát Niết Bàn?

- Này thiện nam tử! Niết Bàn sở đắc của các đức Phật Thế Tôn chẳng phải là cái sở đắc của Thanh Văn, Duyên Giác. Do nghĩa này nên Ðại Bát Niết Bàn gọi là Thiện Hữu (hữu: có). Ðời nếu không có Phật chẳng phải không có Nhị thừa được Nhị Niết Bàn?

Ngài Ca Diếp lại thưa rằng:

- Nghĩa đó ra sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp mới có một đức Phật xuất hiện ở đời để khai thị tam thừa. Này thiện nam tử! Như lời nói của ông, Bồ tát và Nhị thừa không có sai biệt, ta trước ở trong Ðại Niết Bàn mật tạng của Như Lai, đã nói nghĩa ấy. Các A la hán không có “thiện hữu”. Vì sao vậy? Vì các A la hán đều được Ðại Niết Bàn này. Do nghĩa đó nên Ðại Bát Niết Bàn có niềm vui rốt ráo. Vậy nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn.

Ngài Ca Diếp thưa rằng:

- Như lời nói của đức Phật thì con nay mới biết nghĩa sai biệt và nghĩa không sai biệt. Vì sao vậy? Vì tất cả Bồ tát, Thanh Văn, Duyên Giác vào đời vị lai đều sẽ về với Ðại Bát Niết Bàn, ví như mọi dòng chảy đều về với biển cả. Vậy nên người Thanh Văn, Duyên Giác đều gọi là thường, chẳng phải là vô thường. Do nghĩa này nên cũng có sai biệt và cũng không sai biệt.

Ngài Ca Diếp thưa rằng:

- Sao gọi là tính sai biệt?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Thanh Văn như sữa, Duyên Giác như cao sữa, Bồ tát như váng sữa sống, chín, các đức Phật Thế Tôn giống như đề hồ. Do nghĩa này nên trong Ðại Niết Bàn nói lên bốn chủng tính mà có sai biệt.

Ngài Ca Diếp lại thưa rằng:

- Tính tướng của tất cả chúng sinh ra sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như con trâu mới sinh, sữa và máu chưa riêng biệt, tính của phàm phu xen lẫn các phiền não cũng lại như vậy.

Ngài Ca Diếp lại nói rằng:

- Thành Câu Thi Na có người Chiên đà la tên là Hoan Hỷ. Ðức Phật thọ ký người này, do một lần phát tâm, sẽ ở trong số một ngàn vị Phật của cõi này, mau chóng thành đạo Vô thượng Chánh Chân. Vì lý do gì mà Như Lai chẳng thọ ký cho tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, v.v... mau chóng thành Phật đạo?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Hoặc có Thanh Văn, Duyên Giác hay Bồ tát phát thệ nguyện rằng: “Ta sẽ mãi mãi hộ trì chánh pháp, nhiên hậu mới thành Phật đạo Vô thượng!” Do phát nguyện mau nên cho thọ ký mau.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người thương nhân có bảo vật vô giá đem đến chợ bán. Người ngu thấy rồi chẳng biết vật quí, cười khinh chê. Người chủ bảo vật xướng rằng: “Chân bảo này của ta giá trị vô số!” Nghe rồi người ngu lại cười và nói với nhau rằng: “Ðây chẳng phải là chân bảo chỉ là ngọc pha lê!” Này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy. Nếu họ nghe mau thọ ký thì liền giải đãi, khinh cười, chê thấp kém như người ngu kia chẳng biết được chân bảo. Vào đời vị lai có những Tỳ kheo chẳng thể tinh cần tu tập thiện pháp, bị sự bức bách của bần cùng, khốn khổ, đói khát, nhân đó mà xuất gia để nuôi lớn thân mình, còn lòng chí thì khinh tháo, tà mạng, dua nịnh, quanh co. Nếu họ nghe Như Lai thọ ký cho Thanh Văn mau chóng thì liền sẽ cả cười, khinh mạn, hủy báng. Ông phải biết những người đó tức là hạng phá giới, tự nói rằng mình được pháp hơn người. Do nghĩa này nên tùy theo sự phát nguyện mau chóng nên cho thọ ký mau chóng, còn người hộ Chánh pháp được thọ ký xa.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát sao gọi là sẽ được quyến thuộc chẳng hoại?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Nếu các Bồ tát siêng năng gia thêm tinh tấn muốn hộ chánh pháp thì do nhân duyên này sẽ được quyến thuộc chẳng thể trở hoại.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà chúng sinh bị môi miệng khô cháy?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Nếu có người chẳng nhận thức được Tam Bảo thường còn thì do nhân duyên này mà môi miệng khô cháy như người miệng lở chẳng biết sự khác biệt của sáu vị ngọt, đắng, cay, chua, mặn, nhạt. Tất cả chúng sinh ngu si, vô trí chẳng nhận thức được Tam bảo là pháp trường tồn. Vậy nên gọi là môi miệng khô cháy, Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh chẳng biết Như Lai là thường trụ thì phải biết người đó là mù bẩm sinh. Nếu người biết Như Lai là thường trụ thì người như vậy tuy có nhục nhãn nhưng ta nói người đó gọi là có thiên nhãn. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có người có thể biết Như Lai là thường trụ thì phải biết người này tu tập Kinh điển như vậy đã lâu. Ta nói những người đó cũng gọi là có thiên nhãn. Người tuy có thiên nhãn mà chẳng thể biết Như Lai là thường trụ thì ta nói những người ấy gọi là có nhục nhãn. Người đó thậm chí chẳng nhận biết được chi tiết chân tay của thân mình, cũng lại chẳng thể khiến cho người khác nhận biết. Do nghĩa đó nên gọi là nhục nhãn.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như Lai thường vì tất cả chúng sinh mà làm cha mẹ. Sở dĩ vì sao? Vì tất cả chúng sinh đủ thứ hình loại hai chân có, bốn chân có, nhiều chân có, không chân cũng có... Phật dùng một thứ âm thanh mà vì chúng nói pháp mà những chủng loại kia khác nhau nhưng mỗi mỗi đều được giải thông và đều hoan hỷ nói rằng: “Ðức Như Lai ngày hôm nay vì ta nói pháp. Do nghĩa này nên gọi là cha mẹ”.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như người sinh đứa con mới mười sáu tháng tuổi, tuy lời nói chưa thể giải rõ mà người cha mẹ kia muốn dạy con mình nói năng thì trước hòa đồng âm thanh của đứa con ấy rồi dần dần dạy bảo nó. Lời nói của người cha mẹ đó có thể chẳng đúng đắn sao?

- Thưa đức Thế Tôn! Không vậy!

- Này thiện nam tử! Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, tuy theo đủ chủng loại âm thanh của các chúng sinh mà vì họ nói pháp, khiến cho họ an trụ ở chánh pháp của Phật. Tùy theo sự cần thấy của họ mà thị hiện đủ thứ hình tượng. Như Lai đồng ngôn ngữ với những chúng sinh kia như vậy mà có thể chẳng chánh sao?

- Thưa đức Thế Tôn! Không vậy! Vì sao thế? Vì lời nói của đức Như Lai như tiếng rống Sư tử, thuận theo đủ thứ âm thanh của thế gian mà vì chúng sinh khen nói diệu pháp.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ chín hết –


10/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười

Thứ Mười Bảy

(Sự hỏi han của tất cả đại chúng)

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ diện môn của ngài phóng ra đủ thứ ánh sáng, xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía... chiếu soi thân của ông Thuần Ðà. Ông Thuần Ðà gặp ánh sáng ấy rồi thì cùng với các quyến thuộc mang những đồ ăn ngon lành, mau chóng đến chỗ đức Phật, muốn dâng đức Như Lai và Tỳ kheo Tăng bữa cúng dường sau cùng. Họ mang đến chỗ đức Phật đủ chủng loại đồ vật đầy đủ dồi dào. Lúc bấy giờ, có nhiều người trời uy đức lớn ngăn ông ấy lại ở trước và vây quanh giáp vòng rồi nói với ông Thuần Ðà rằng:

- Hãy dừng lại, ông Thuần Ðà! Ông chớ dâng đồ cúng dường ngay!

Bấy giờ, đức Như Lai lại phóng ra vô lượng vô biên đủ thứ ánh sáng. Chư thiên, đại chúng gặp ánh sáng ấy rồi, liền để cho ông Thuần Ðà đến trước chỗ đức Phật mà dâng lên đồ cúng dường của ông ấy. Bấy giờ, trời, người và các chúng sinh mỗi mỗi đều tự lấy đồ cúng dường của mình mang theo, đến trước đức Phật, quì dài mà bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Như Lai cho phép các vị Tỳ kheo nhận những đồ cúng dường này.

Các vị Tỳ kheo biết đã đúng lúc nên sửa áo, mang bát một lòng an tường. Bấy giờ, ông Thuần Ðà vì đức Phật và chúng Tăng bố thí đủ thứ loại tòa báu Sư tử, treo tràng phan bảo bằng lụa ngũ sắc, hương hoa, chuỗi ngọc... Bấy giờ, ba ngàn đại thiên thế giới trang nghiêm vi diệu giống như đất nước An Lạc ở phương Tây. Bấy giờ, ông Thuần Ðà đứng ở trước đức Phật, ưu bi buồn bã, bạch đức Phật một lần nữa rằng:

- Nguyện xin đức Như Lai rũ lòng thương xót chúng con, sống lâu một kiếp hay giảm một kiếp!

Ðức Phật bảo rằng:

- Này Thuần Ðà! Ông muốn cho ta trụï thế lâu dài thì cần phải mau chóng dâng lên Ðàn Ba la mật đầy đủ tối hậu!

Lúc bấy giờ, tất cả Ðại Bồ tát, trời, người đủ loại, khác miệng đồng âm xướng lên như vầy rằng:

- Lạ thay! Ông Thuần Ðà đã thành tựu đại phước đức nên có thể khiến cho đức Như Lai nhận sự cúng dường Vô thượng sau cùng của ông ấy. Chúng ta vô phước nên sự thiết bày đồ cúng dường trở thành uổng phí!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn khiến cho nguyện vọng của tất cả chúng sinh được thỏa mãn nên ở trên thân mình, mỗi một lỗ chân lông hóa ra vô lượng đức Phật. Mỗi một đức Phật đều có vô lượng những Tỳ kheo Tăng. Các đức Thế Tôn và vô lượng chúng này đều thị hiện nhận đồ cúng dường của những người ấy. Ðức Thích Ca Như Lai tự thọ nhận sự dâng bày cúng dường của ông Thuần Ðà. Bấy giờ, đồ ăn nấu chín bằng gạo ngon của ông Thuần Ðà đựng đầy tám hộc nước Ma Dà Ðà (dụng cụ đo lường của nước ấy) nhờ thần lực của đức Phật nên đều cung ứng sung túc cho tất cả đại hội. Bấy giờ, ông Thuần Ðà thấy việc đó rồi thì lòng sinh vui mừng, hớn hở không lường. Tất cả Ðại chúng cũng lại như vậy. Bấy giờ, đại chúng vưng thánh chỉ của đức Phật, đều nghĩ rằng: “Ðức Như Lai nay đã thọ sự cúng dường của chúng ta thì chẳng bao lâu nữa nhất định sẽ vào Niết Bàn”. Họ nghĩ thế rồi, lòng phát sinh buồn vui lẫn lộn. Bấy giờ, rừng cây với khu đất nhỏ hẹp ấy, do thần lực của đức Phật, dù là chỗ nhỏ như đầu mũi kim cũng đều có vô lượng các đức Phật Thế Tôn và quyến thuộc ngồi thọ thực mà đồ ăn cũng không sai khác. Lúc đó, trời, người, A tu la, v.v... bi thán gào khóc mà nói lên rằng:

- Ðức Như Lai ngày hôm nay đã thọ nhận lễ cúng dường sau cùng của chúng ta mà thọ cúng dường rồi thì sẽ Bát Niết Bàn. Chúng ta sẽ lại cúng dường ai nữa đây! Chúng ta nay vĩnh viễn lìa khỏi đấng Ðiều Ngự Vô thượng! Mù tối không tròng mắt con ngươi (không mắt)!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn muốn an ủi tất cả đại chúng mà nói kệ rằng:

Các ông chớ buồn than Pháp chư Phật ứng vậy

Ta vào với Niết Bàn Ðã qua vô lượng kiếp

Thường thọ vui thắng hơn Mãi ở chỗ yên ổn.

Ông nay nghe hết lòng Niết Bàn ta sẽ nói:

Thực tưởng ta lìa xong Trọn không hoạn đói khát

Nay sẽ vì các ông Nói thuận theo nguyện ấy

Khiến tất cả chúng sinh Ðều được vui yên ổn.

Ông nghe nên tu hành Pháp chư Phật thường trụ.

Giả sử quạ cùng chim Ðồng chung một cây đậu

Giống như anh em thân Vậy mới Niết Bàn mãi.

Tất cả, Như Lai xem Như La Hầu La vậy.

Thường được chúng sinh tôn Sao vĩnh viễn Niết Bàn?

Giả sử rắn, chồn, chuột Ðồng ở chung một hang

Yêu nhau như huynh đệ Vậy mới mãi Niết Bàn.

Như Lai nhìn tất cả Như La Hầu La đó

Thường được chúng sinh tôn Sao vĩnh viễn Niết Bàn?

Giả sử hoa bảy cánh Chuyển thành Bà sư hương

Ca Lưu thành Trấn Ðầu Vậy mới mãi Niết Bàn.

Như Lai nhìn tất cả Như La Hầu La đó

Sao từ bi tiêu tan Vào Niết Bàn vĩnh viễn?

Giả sử Ðại Tà Kiến (Nhất xiển đề) Hiện thân Phật đạo thành

Mãi ở Ðệ nhất lạc Vậy mới vào Niết Bàn.

Như Lai nhìn tất cả Như La Hầu La đó

Sao mà bỏ từ bi Vào Niết Bàn vĩnh viễn?

Giả sử tất cả chúng Nhất thời Phật đạo thành

Xa lìa những lỗi hoạn Vậy mới vào Niết Bàn.

Như Lai nhìn tất cả Như La Hầu La đó

Thì sao bỏ từ bi Vào Niết Bàn vĩnh viễn.

Giả sử nước muỗi, ve Ngấm tan vào trong đất

Sông, hang, biển tràn trề Vậy mới vào diệt độ (Niết Bàn)

Lòng bi nhìn tất cả Ðều như La Hầu La

Thường được chúng sinh kính Sao Niết Bàn vĩnh viễn?

Do đó nên các ông Nên ưa sâu chánh pháp

Chẳng nên sinh ưu phiền Mà kêu gào khóc lóc.

Nếu muốn chánh hạnh mình (Thì) Tu Như Lai thường trụ

Pháp như vậy xét xem Trường tồn chẳng biến dị.

Lại nên suy nghĩ rằng: Tam Bảo đều thường trụ

Thì đại hộ được thành Cầu cây khô ra quả (trái).

Ðó gọi là Tam bảo Bốn chúng nên lắng nghe

Nghe rồi nên hoan hỷ Liền phát tâm Bồ Ðề.

Nếu hay kể Tam Bảo Thường trụ đồng chân đế

Thì đây là thề nguyền Tối thượng của chư Phật.

Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di có thể dùng thệ nguyện tối thượng của Như Lai mà phát nguyện thì phải biết người đó không có ngu si, kham thọ cúng dường do quả báo công đức của nguyện lực này, ở đời thì tối thắng như A la hán. Nếu có người chẳng thể quan sát rõ Tam Bảo thường trụ như vậy thì chính là Chiên đà la. Nếu có người có thể biết Tam Bảo thường trụ thì nhân duyên thật pháp nên lìa khỏi khổ được an vui không ai nhiễu hại có thể lưu nạn.

Lúc bấy giờ, đại chúng người, trời, A tu la, v.v... nghe pháp này rồi, lòng sinh vui mừng hớn hở vô cùng. Lòng họ điều hòa nhu nhuyến, giỏi diệt hết các sự che lấp. Lòng không cao thấp, uy nghi thanh tịnh, nhan mạo vui vẻ, biết Phật thường trụ. Vậy nên họ thiết bày sự cúng dường của chư thiên, tung lên đủ thứ hoa, hương bột, hương xoa... tấu lên kỹ nhạc, nhà trời để cúng dường đức Phật.

Lúc bấy giờ, đức Phật lại bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ông có thấy việc hy hữu của chúng này không?

Ngài Ca Diếp đáp rằng:

- Thấy rồi, thưa đức Thế Tôn! Con thấy các Như Lai nhiều vô lượng vô biên, chẳng thể xưng kể thọ bữa ăn mà các đại chúng người, trời dâng lên cúng dường. Con còn thấy đại thân trang nghiêm của chư Phật mà chỗ ngồi của các ngài như một mũi kim khâu với nhiều chúng vây quanh mà chẳng chướng ngại nhau. Con lại thấy đại chúng đều phát thệ nguyện, nói mười ba bài kệ. Con cũng biết đại chúng, lòng từng người đều nghĩ rằng: “Ðức Như Lai hôm nay riêng thọ đồ cúng dường của một mình ta”. Giả sử đồ ăn dâng cúng của ông Thuần Ðà nghiền nát như vi trần mà dâng một hạt bụi đó cho một đức Phật còn chẳng cùng khắp được. Nhưng nhờ thần lực của đức Phật nên đồ cúng của ông Thuần Ðà đều làm sung túc tất cả đại chúng. Chỉ những vị Ðại Bồ tát như ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, v.v... mới có thể biết việc hy hữu như vậy là do đức Như Lai phương tiện thị hiện. Con biết đại chúng Thanh Văn và A tu la, v.v... đều biết Như Lai là pháp thường trụ.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Ông nay có thấy là việc này hy hữu đặc biệt kỳ lạ không?

- Thật vậy, thưa đức Thế Tôn! Con trước đã thấy vô lượng những đức Phật với thân trang nghiêm ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, nay thấy hết những vị Ðại Bồ tát với thân lớn sai khác, nhan mạo không gì sánh. Con chỉ thấy thân đức Phật ví như cây thuốc được sự vây quanh của những Ðại Bồ tát.

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Sự thấy vô lượng đức Phật của ông trước đó chính là do sự biến hóa của ta, vì muốn lợi ích cho tất cả chúng sinh, khiến cho họ đượcvui mừng! Những đại Bồ tát như vậy đã có thể tu hành chẳng thể nghĩ bàn, có thể tạo tác vô lượng những Phật sự. Này Thuần Ðà! Ông nay đều đã thành tựu hạnh đại Bồ tát, được trụ ở Thập Ðịa, sở hạnh của Bồ tát đã hoàn thành đầy đủ.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời của đức Phật! Ông Thuần Ðà đã tu thành Bồ tát hạnh, con cũng tùy hỷ! Hôm nay đức Như Lai muốn vì vô lượng chúng sinh đời vị lai tạo tác ánh sáng lớn nên nói Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này. Thưa đức Thế Tôn! Tất cả Khế kinh nói thì có nghĩa khác hay không nghĩa khác vậy?

- Này thiện nam tử! Lời ta nói thì cũng có nghĩa khác, cũng không nghĩa khác!

Ông Thuần Ðà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói:

Những vật sở hữu Bố thí hết đi

Chỉ được khen ngợi Không hủy tổn gì!

Thưa đức Thế Tôn! Nghĩa đó ra sao? Trì giới, hủy giới có gì sai biệt?

Ðức Phật dạy rằng:

- Chỉ trừ một người, còn tất cả những người bố thí đều được khen ngợi.

Ông Thuần Ðà hỏi rằng:

- Sao gọi là “chỉ trừ một người”?

Ðức Phật dạy rằng:

- Như đã nói trong Kinh này, là người phá giới!

Ông Thuần Ðà lại thưa:

- Con nay chưa hiểu được! Nguyện xin đức Phật nói rõ cho!

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Người phá giới gọi là Nhất xiển đề (Ðại tà kiến)! Ngoài ra tất cả sự bố thí của những người khác đều được khen ngợi, thu hoạch được quả báo lớn!

Ông Thuần Ðà lại hỏi:

- Nhất xiển đề thì nghĩa ấy ra sao?

Ðức Phật bảo rằng:

- Này Thuần Ðà! Nếu có Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di phát khởi lời thô ác bài báng chánh pháp. Họ đã tạo nghiệp nặng đó mà vĩnh viễn chẳng lòng hối cải, không có tàm quí. Những người như vậy thì gọi là những kẻ hướng đến con đường nhất xiển đề. Nếu kẻ phạm bốn trọng cấm, ngũ nghịch tội, tự biết nhất định phạm việc nặng như vậy mà lòng không chút kinh sợ, tủi thẹn, chẳng chịu phát lộ, đối với chánh pháp của Phật vĩnh viễn không có lòng hộ trì, nuối tiếc, kiến lập, lời nói hủy báng khinh miệt, nhiều tội lỗi. Những người như vậy cũng gọi là kẻ hướng về con đường nhất xiển đề. Nếu người nào nói không có Phật, Pháp, Tăng thì những người ấy cũng gọi là hướng về nhất xiển đề. Chỉ trừ bọn nhất xiển đề như thế này, ngoài ra những người bố thí khác, tất cả đều được khen ngợi.

Lúc bấy giờ, ông Thuần Ðà lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sở dĩ gọi là phạm giới thì nghĩa ấy thế nào?

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Như người phạm bốn trọng cấm và ngũ nghịch tội, bài báng chánh pháp... những người như vậy gọi là Phá Giới!

Ông Thuần Ðà lại hỏi:

- Kẻ phá giới như vậy có thể cứu vớt chăng?

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Nếu có nhân duyên thì có thể cứu vớt! Nếu người mặc pháp phục còn chưa rời bỏ mà lòng thường mang tủi thẹn, kinh sợ, tự khảo trách: “Chao ôi! Sao ta bị phạm trọng tội ấy! Lạ thay! Sao ta lại tạo nghiệp khổ ấy!”, rồi tự hối cải sâu sắc, sinh lòng hộ pháp muốn kiến tạo chánh pháp và nghĩ rằng: “Nếu có người hộ pháp thì ta sẽ cúng dường. Nếu có người đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa thì ta sẽ hỏi han thọ trì, đọc tụng, đã thông lợi rồi ta lại vì người khác phân biệt nói rộng rãi”. Ta nói (đức Phật nói) người đó chẳng gọi là Phá Giới. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Ví như mặt trời mọc có thể diệt trừ tất cả tối tăm của bụi che ngăn. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này xuất hiện, hưng thịnh ở đời cũng lại như vậy, có thể trừ hết mọi tội đã làm trong vô lượng kiếp của chúng sinh. Vậy nên Kinh này nói rằng, hộ trì chánh pháp được quả báo lớn, cứu vớt phá giới. Nếu có người hủy báng chánh pháp này mà có thể tự cải hối quay trở về với pháp, tự nghĩ rằng, việc làm tất cả điều bất thiện như người tự hại mình, lòng sinh ra khủng bố kinh sợ, tủi thẹn, trừ chánh pháp nay ra lại không có gì cứu hộ. Vậy nên cần phải quay trở về chánh pháp”. Nếu người có thể đúng như lời nói như vậy mà qui y thì bố thí cho người này được phước không lường, cũng gọi là bậc ứng thọ cúng dường của thế gian. Nếu người phạm tội nghiệp ác như trên mà hoặc qua một tháng hay mười lăm ngày, chẳng phát sinh lòng qui y, phát lồ. Nếu bố thí cho hạng người này thì quả báo rất ít. Người phạm ngũ nghịch cũng lại như vậy, có thể sinh lòng hối hận, bên trong mang tủi thẹn rằng: “Nay ta đã làm nghiệp bất thiện rất là khổ lắm! Ta sẽ kiến lập và hộ trì chánh pháp!” thì đó chẳng gọi là tội ngũ nghịch vậy. Nếu bố thí cho người này thì được phước không lường. Ðã phạm tội nghịch rồi chẳng sinh lòng hộ pháp, qui y thì có bố thí cho người đó thì pước chẳng đủ nói. Lại, này thiện nam tử! Về người phạm trọng tội thì ông nay hãy lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói rộng rãi! Ông nên sinh tâm này: “Gọi là Chánh pháp tức là vi mật tạng của Như Lai. Vậy nên ta phải hộ trì kiến lập”. Bố thí cho người này thì được thắng quả báo. Này thiện nam tử! Ví như người con gái mang thai gần sinh, gặp nước loạn lạc, tránh xa đến nước khác. Ở tại một ngôi miếu thờ trời, nàng liền sinh con và nuôi dưỡng. Về sau, nghe nước cũ yên ổn, giàu thịnh, nàng mang con mình muốn trở về quê cũ. Ðường đi phải qua sông Hằng, nước lớn chảy xiết mà phải bồng con, chẳng thể qua sông được, nàng liền tự nghĩ rằng: “Ta thà cùng con chung mạng chung một chỗ, chứ chẳng bỏ con mà qua sông một mình”. Nghĩ thế rồi nàng cùng con đều chìm chết. Sau khi mạng chung nàng liền sinh lên trời. Do từ niệm đến con, muốn khiến cho con được qua sông mà người con gái vốn tính tệ ác đó, nhờ lòng thương con nên được sinh lên trời. Người phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián mà sinh lòng hộ pháp cũng lại như vậy, tuy trước có làm nghiệp bất thiện, nhưng do hộ pháp nên được làm ruộng phước vô thượng của thế gian. Người hộ pháp này có phước báo không lường như vậy, v.v...

Ông Thuần Ðà lại bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu nhất xiển đề có thể tự cải hối cung kính, cúng dường, khen ngợi Tam bảo thì thí cho người như vậy có được đại quả báo không?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay chẳng nên nói lời như vậy! Này thiện nam tử! Ví như có người ăn trái cây Am La, nhả hạt xuống đất mà lại nghĩ rằng: “Trong hạt trái này chắc có vị ngọt!” Hắn liền lấy trở lại, đập vỡ mà ăn. Vị của hạt ấy rất đắng, lòng sinh ra hối hận. Hắn sợ mất giống trái cây liền thu thập lại những hạt vỡ ấy, rồi gieo vào đất, siêng năng gia công sửa trị, dùng váng sữa, dầu và sữa để tùy lúc tưới bón. Ý ông thế nào? Có chắc những hạt ấy mọc được không?

- Thưa đức Thế Tôn! Không vậy! Giả sử trời mưa xuống nước cam lộ vô thượng còn cũng chẳng mọc được!

- Này thiện nam tử! Nhất xiển đề kia cũng lại như vậy, đã thiêu đốt, tiêu diệt hết căn lành thì sẽ ở chỗ nào mà được trừ diệt tội. Này thiện nam tử! Nếu người sinh lòng thiện thì đó chẳng gọi là nhất xiển đề vậy. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên tất cả sự bố thí mà quả báo sở đắc chẳng phải không sai biệt. Vì sao vậy? Vì bố thí cho Thanh Văn thì quả báo sở đắc khác, bố thí cho Bích Chi Phật được quả báo cũng khác, chỉ có cúng dường cho Như Lai là thu hoạch được quả Vô thượng. Vậy nên nói rằng, tất cả sự bố thí chẳng phải không sai khác.

Ông Thuần Ðà lại nói rằng:

- Vì sao đức Như Lai nói bài kệ này?

Ðức Phật bảo ông Thuần Ðà rằng:

- Vì có nhân duyên nên ta nói bài kệ này! Trong thành Vương Xá có một người Ưu bà tắc, lòng không tịnh tín, phụng sự giáo phái Ni-Kiền mà đến hỏi ta về ý nghĩa của Bố thí. Do nhân duyên này nên ta nói bài kệ đó, ta cũng vì những vị đại Bồ tát nói nghĩa của bí tạng. Như bài kệ ấy thì nghĩa ấy thế nào? Tất cả là một phần ít tất cả! Ông phải biết rằng, đại Bồ tát là kẻ hùng trong loài người, nhiếp lấy kẻ trì giới mà bố thí sự cần dùng cho họ, xả bỏ kẻ phá giới như trừ bỏ cỏ bông kê.

Lại nữa, này thiện nam tử! Như ta thuở xưa đã nói kệ rằng:

Tất cả sông nước Ắt có khúc quanh

Tất cả rừng rậm Ắt cây có danh

Tất cả người nữ Ắt lòng dối quanh (siểm khúc)

Tất cả tự tại Ắt thọ an lành (lạc an).

Lúc bấy giờ, đại Bồ tát Văn Thù Sư Lợi liền đứng dậy, trật áo vai phải, gối phải quì xuống đất, trước lễ dưới chân đức Phật mà nói kệ rằng:

Chẳng phải mọi sông Khúc quanh ắt có

Chẳng phải mọi rừng Ðều có danh mộc

Chẳng phải nữ nhân Ðều dạ siểm khúc

Mọi Tự Tại Tôn Chẳng ắt thọ lạc.

Bài kệ đức Phật đã nói, nghĩa ấy có khác. Nguyện xin ngài rũ lòng thương xót nói lên cái nhân duyên ấy! Vì sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! Ở ba ngàn đại thiên thế giới này có châu tên là Câu Gia Ni. Châu ấy có sông ngay thẳng chẳng quanh co tên là Ta Bà Gia. Nó giống như sợi dây thẳng, chảy vào biển phía Tây. Như vậy tướng dòng sông này khác với trong Kinh mà đức Phật chưa từng nói. Nguyện xin đức Như Lai nhân trong Kinh Phương Ðẳng A Hàm này, nói có nghĩa khác khiến cho các Bồ tát tín giải sâu sắc vấn đề đó. Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người trước biết quặng vàng mà sau chẳng nhận thức được vàng. Ðức Như Lai cũng vậy, biết hết pháp rồi mà sự diễn nói có cái khác chẳng hết. Ðức Như Lai tuy nói lời nói khác như vậy nhưng cần phải phương tiện lý giải ý thú của vấn đề ấy. Tất cả rừng rậm nhất định là cây cối nhưng rừng đó cũng có cái khác. Vì sao vậy? Vì đủ thứ cây báu như vàng, bạc, lưu ly... đó cũng gọi là rừng. Tất cả nữ nhân nhất định mang lòng dua nịnh quanh co. Ðiều này cũng có khác. Vì sao vậy? Vì cũng có nữ nhân giỏi gìn giữ cấm giới, thành tựu công đức, có đại từ bi. Tất cả đấng tự Tại nhất định hưởng thọ an vui. Ðiều này cũng có khác. Vì sao vậy? Vì có đấng Tự Tại là vua Chuyển Luân Thánh, là pháp vương Như Lai chẳng thuộc phạm vi ma chết, chẳng thể diệt tận. Còn Phạm Vương, Ðế Thích, Chư Thiên... tuy được tự tại nhưng đều là vô thường. Nếu được thường trụ, không biến dị thì mới gọi là tự tại như là Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nay giỏi được biện tài lạc thuyết! Nhưng ông hãy dừng lại, lắng nghe! Này Văn Thù Sư Lợi! Ví như ông trưởng giả, thân mắc bệnh khổ. Lương y chẩn bệnh, rồi vì ông hòa hợp thuốc cao. Khi đó, người bịnh tham muốn uống nhiều thuốc. Vị lương y nói với người bệnh rằng: “Nếu người có thể tiêu hóa thì có thể uống tùy ý. Ông nay thân thể gầy yếu, chẳng nên uống nhiều. Ông phải biết thuốc cao này cũng gọi cam lộ mà cũng gọi là thuốc độc. Nếu uống nhiều mà chẳng tiêu hóa thì gọi là độc dược!”. Này thiện nam tử! Ông nay chớ cho là lời nói của vị thầy thuốc đó trái với nghĩa lý, làm tổn thất thế lực của thuốc cao. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, vì các quốc vương, hậu phi, thái tử, vương tử, đại thần... nhân vương tử, hậu phi... của vua Ba tư Nặc có lòng kiêu mạn mà vì muốn điều phục nên thị hiện sự khủng bố như vị lương y kia, nên nói kệ rằng:

Tất cả sông nước Ắt có khúc quanh

Tất cả rừng rậm Ắt cây có danh

Tất cả người nữ Ắt lòng dối quanh

Tất cả Tự Tại Ắt thọ an lành.

Này Văn Thù Sư Lợi! Ông nay phải biết, lời nói của Như Lai không có sai lầm. Như đất đai này có thể làm cho lật úp, nhưng lời nói của Như Lai nhất định không sai lầm! Do nghĩa này nên lời nói của Như Lai, tất cả hữu dư.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông biết ý nghĩa như vậy đã lâu nhưng vì thương xót tất cả, muốn khiến cho chúng sinh được trí tuệ nên rộng hỏi Như Lai về ý nghĩa của bài kệ như vậy!

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử lại ở trước đức Phật mà nói kệ rằng:

Với lời người khác Chẳng nghịch, thuận tùng

Cũng chẳng quán khác Tác dùng bất tác

Chỉ tự quán thân Hành thiện, bất thiện.

Như vậy, đức Thế Tôn nói pháp dược này chẳng phải là chánh thuyết mà chỉ đối với lời nói người khác thuận theo, chẳng nghịch lại thôi! Nguyện xin đức Như Lai rũ lòng thương nói lời chân chánh! Vì sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! Vì ngài thường nói, tất cả chín mươi lăm thứ ngoại học, đều hướng đến con đường ác. Các đệ tử Thanh Văn đều hướng về đường chánh như hộ trì cấm giới, nhiếp lấy oai nghi, giữ gìn cẩn thận các căn. Nhưng người như vậy ưa thích Ðại pháp sâu sắc, hướng đến Thiện đạo mà vì sao đức Như Lai ở trong chính bộ Kinh, thấy có người hủy báng người khác thì liền quở trách? Như vậy ý nghĩa bài kệ là hướng đến chỗ nào?

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Này thiện nam tử! Ta nói bài kệ này cũng chẳng vì hết tất cả chúng sinh! Bấy giờ ta chỉ vì vua A Xà Thế. Các đức Phật Thế Tôn, nếu không nhân duyên thì nhất định chẳng nói nghịch, vì có nhân duyên nên mới nói vậy! Này thiện nam tử! Vua A xà Thế hại cha ông ấy rồi đi đến chỗ của ta, muốn chiết phục ta mà hỏi như vầy: “Thưa đức Thế Tôn! Thế nào? Nhất thiết trí này chẳng phải là Nhất thiết trí sao? Nếu là Nhất thiết trí thì ông Ðiều Ðạt thuở xưa, trong vô lượng đời, thường mang lòng ác, theo đuổi đức Như Lai, muốn làm nghịch hại ngài mà vì sao đức Như Lai còn cho ông ấy xuất gia?” Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên ta vì vị vua đó mà nói kệ này:

Với lời người khác Chẳng nghịch, thuận tùng

Cũng chẳng quán khác Tác dùng bất tác

Chỉ tự quán thân Hành thiện, bất thiện.

Phật bảo rằng: “Này đại vương! Ông nay hại cha, đã tạo tác tội nghịch vô gián rất nặng nên phải phát lồ để cầu thanh tịnh thì còn duyên vào đâu mới lại thấy tội lỗi của người khác?” Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên ta vì vị vua đó mà nói bài kệ này. Lại nữa, này thiện nam tử! Cũng vì hộ trì người chẳng hủy cấm giới thành tựu uy nghi, thấy lỗi người khác mà ta nói bài kệ đó. Nếu lại có người thọ lời dạy bảo của người khác, xa lìa mọi ác, lại dạy người khác xa lìa mọi ác thì người như vậy tức là đệ tử của ta!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn vì ngài Văn Thù Sư Lợi, lại nói kệ rằng:

Tất cả sợ gậy, dao Không ai chẳng yêu mạng

Lấy mình mà suy ra Chớ giết, chớ đánh trượng.

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi lại ở trước đức Phật mà nói kệ rằng:

Phi tất cả sợ dao (gậy) Phi tất cả yêu mạng

(Phi tất cả: chẳng phải tất cả...)

Lấy mình mà suy ra Siêng làm Thiện phương tiện.

Ðức Như Lai nói ý nghĩa câu pháp này cũng là chưa hết! Vì sao vậy? Vì như A la hán, Chuyển Luân Thánh Vương, ngọc nữ, voi ngựa, chủ tạng đại thần mà những trời, người và A tu la cầm gươm bén có thể hại họ được thì không có điều này. Dũng sĩ, liệt nữ, vua ngựa, chúa thú, Tỳ kheo trì giới, tuy đến đối mặt nhau mà chẳng kinh sợ. Do nghĩa này nên đức Như Lai nói kệ cũng là hữu dư. Nếu nói rằng, suy mình ra có thể làm ví dụ thì tức là cũng hữu dư. Vì sao vậy? Vì nếu khiến A la hán lấy mình ví cho người kia thì có ngã tưởng và cả mạng tưởng. Nếu có ngã tưởng và cả mạng tưởng thì nên ủng hộ. Phàm phu cũng nên thấy A la hán đều là người tu hành. Nếu như vậy thì tức là tà kiến. Nếu có tà kiến thì mạng chung ứng sinh vào địa ngục A Tỳ. Lại, A la hán giả sử đối với chúng sinh phát sinh lòng hại thì không có điều này. Vô lượng chúng sinh cũng lại không thể hại A la hán.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nói ngã tưởng là nói đối với chúng sinh phát sinh lòng đại bi, không có tư tưởng giết hại; là nói A la hán có lòng bình đẳng. Ông chớ cho là đức Thế Tôn không có nhân duyên mà nói nghịch vậy. Ngày xưa ở trong thành Vương Xá của vị vua này có người thợ săn bậc thầy giết nhiều bầy nai, mời ta ăn thịt. Bấy giờ, ta tuy nhận lời mời của người đó, nhưng đối với các chúng sinh phát sinh lòng từ bi như thương La Hầu La mà nói kệ rằng:

Sẽ khiến ngươi trường thọ Mãi mãi trụ thế gian

Thọ trì pháp chẳng hại Như thọ mạng Thế Tôn.

Vậy nên ta nói bài kệ này:

Tất cả sợ gậy dao Không ai chẳng yêu mạng

Lấy mình mà suy ra Chớ giết, chớ đánh trượng.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này Văn Thù Sư Lợi! Ông vì các vị đại Bồ tát nên hỏi han Như Lai về mật giáo như vậy!

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi lại nói kệ rằng:

Sao gọi kính cha mẹ Thuận theo mà trọng tôn?

Pháp này sao tu tập Mà đọa ngục Vô gian (Vô gián)?

Ðến đây, đức Như Lai dùng kệ đáp:

Nếu mẹ là tham ái Vô minh lấy làm cha

Thuận theo tôn trọng đó Thì đọa ngục A tỳ.

Lúc bấy giờ, đức Như Lai lại vì ngài Văn Thù Sư Lợi, một lần nữa nói kệ rằng:

Tất cả thuộc người (lệ thuộc người khác) Thì gọi là khổ

Do mình tất cả Tự tại lạc an

Tất cả kiêu mạn Thế (lực) rất bạo tàn.

Những người hiền thiện Tất cả yêu thương.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Lời nói này của đức Như Lai cũng chẳng hết! Nguyện xin đức Như Lai lại rũ lòng thương xót nói về nhân duyên ấy. Vì sao vậy? Vì như con ông trưởng giả khi theo thầy học thì có bị lệ thuộc thầy không? Nếu lệ thuộc thầy thì nghĩa chẳng thành tựu, nếu chẳng lệ thuộc thì cũng chẳng thành tựu, nếu được tự tại cũng chẳng thành tựu. Vậy nên lời nói của Như Lai hữu dư! Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Ví như vị vương tử không có sự tập quen mọi việc, khi chạm đến việc thì chẳng thành. Ðó cũng là tự tại nhưng ngu tối thường khổ. Như vậy vương tử đó nếu nói tự tại thì nghĩa cũng chẳng thành, hoặc nói rằng lệ thuộc người khác thì nghĩa cũng chẳng thành. Do nghĩa này nên nghĩa của lời nói đức Phật gọi là hữu dư. Vậy nên tất cả lệ thuộc người khác chẳng nhất định là thọ khổ và tất cả tự tại chẳng nhất định là thọ lạc (vui). Tất cả kiêu mạn thế lực rất bạo ác là cũng hữu dư! Thưa đức Thế Tôn! Như các liệt nữ lòng kiêu mạn nên xuất gia học đạo, hộ trì cấm giới, thành tựu uy nghi, nhiếp giữ các căn chẳng cho dong ruỗi tán loạn. Vậy nên tất cả kiết sử kiêu mạn chẳng nhất định là bạo ác. Người hiền thiện được tất cả ái niệm là cũng hữu dư. Như người, bên trong phạm bốn trọng cấm rồi mà chẳng bỏ pháp phục, kiên trì uy nghi người hộ trì Chánh pháp thấy được rồi thì chẳng ái niệm người đó, sau khi mạng chung còn bị đọa vào địa ngục. Nếu có người tốt phạm bốn trọng cấm rồi mà người hộ pháp thấy liền đuổi ra, bãi đạo hoàn tục. Do nghĩa này nên tất cả hiền thiện chẳng nhất định là đều được ái niệm.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Có nhân duyên nên Như Lai nói đến nghĩa hữu dư này. Lại có nhân duyên nên các đức Phật Như Lai nói pháp này. Ở thành Vương xá có một người con gái tên là Thiện Hiền, trở về nhà cha mẹ, nhân đến chỗ ta, qui y với ta và Pháp cùng chúng Tăng mà nói lên rằng: “Thế của tất cả nữ nhân chẳng tự do còn tất cả nam tử tự tại vô ngại”. Bấy giờ, ta biết lòng của người con gái này, liền vì cô ấy tuyên nói bài kệ tụng như vậy. Này Văn Thù Sư Lợi! Hay thay! Hay thay! Ông nay có thể vì tất cả chúng sinh hỏi về mật ngữ như vậy của Như Lai!

Ngài Văn Thù Sư Lợi lại nói kệ rằng:

Tất cả những chúng sinh Ðều nương ăn uống sống (còn)

Tất cả có sức lớn (to) Lòng ấy không ghét ghen.

Tất cả nhân ăn uống Mà bịnh khổ vương mang.

Tất cả tu tịnh hạnh Mà được thọ lạc an.

Như vậy, thưa đức Thế Tôn! Hôm nay ngài thọ bữa ăn cúng dường của ông Thuần Ðà thì chúng sẽ không có sự kinh sợ cho đức Như Lai sao?

Bấy giờ, đức Thế Tôn lại vì ngài Văn Thù mà nói kệ rằng:

Chẳng phải mọi chúng sinh Ðều nương ăn uống sống.

Chẳng phải mọi sức lớn Lòng đều không ghét ghen.

Chẳng phải mọi nhân ăn Mà bị các khổ bệnh.

Chẳng phải mọi tịnh hạnh Ðều được thọ lạc an.

Này Văn Thù Sư Lợi! Nếu ông bị bệnh thì ta cũng như vậy, mà bịnh khổ theo. Vì sao vậy? Vì các A la hán và Bích Chi Phật, Bồ tát, Như Lai thật ra không có sự ăn uống, nhưng vì muốn hóa độ những chúng sinh kia nên thị hiện thọ dụng vô lượng vật bố thí của chúng sinh, khiến cho những người ấy đầy đủ Ðàn Ba la mật, cứu vớt địa ngục, súc sinh và ngã quỉ. Nếu nói rằng, Như Lai sáu năm khổ hạnh, thân hình gầy còm thì không có điều này. Các đức Phật Thế Tôn một mình cứu vớt các cõi mà chẳng đồng với hạng phàm phu thì sao mà được tấm thân gầy yếu vậy? Các đức Phật Thế Tôn tinh cần tu tập, thu hoạch được thân Kim Cương chẳng đồng với tấm thân nguy khốn dễ tan vỡ của người đời. Những đệ tử của ta cũng lại như vậy, chẳng thể nghĩ bàn, chẳng nương vào ăn uống. Tất cả đại lực không ghen ghét thì cũng là nghĩa hữu dư. Như người thế gian trọn đời vĩnh viễn không có lòng ganh ghét mà không có đại lực. Tất cả bệnh khổ nhân ăn uống có được thì cũng là nghĩa hữu dư. Vì ta cũng thấy có người bị bệnh do khách quan như là dao, gươm,, mâu, kích đâm chém. Tất cả người tịnh hạnh đều thọ yên vui thì cũng là nghĩa hữu dư. Thế gian cũng có người ngoại đạo tu hành phạm hạnh, chịu nhiều khổ não. Do nghĩa này nên lời nói của Như Lai tất cả là hữu dư. Ðó gọi là Như Lai chẳng phải không nhân duyên mà nói kệ này. Vì có nhân duyên nên nói! Ngày xưa ở nước Ưu Thiền Ni này, có vị Bà la môn tên là Cổ Ðê Ðức đi đến chỗ của ta, muốn thọ lần thứ tư pháp Bát Giới Trai. Lúc bấy giờ, ta vì ông ấy nói bài kệ này.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là nghĩa vô dư vậy? Sao gọi là nghĩa tất cả?

- Này thiện nam tử! Tất cả là chỉ trừ người trợ đạo, thường ưa thiện pháp. Ðó gọi là tất cả, cũng gọi là vô dư, là muốn khiến cho các thiện nam tử ưa pháp biết nghĩa hữu dư và vô dư này.

Bồ tát Ca Diếp, lòng rất vui mừng, hớn hở không lường, trước bạch đức Phật rằng:

- Rất lạ thay! Ðức Thế Tôn bình đẳng nhìn chúng sinh như La Hầu La!

Bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Sự thấy của ông hôm nay thậm thâm, vi diệu!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin đức Như Lai nói về công đức sở đắc của Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này!

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu có người được nghe danh tự kinh này thì công đức sở đắc chẳng phải là điều có thể tuyên nói của các Thanh Văn, Bích Chi Phật, chỉ có Phật mới có thể biết. Vì sao vậy? Vì chẳng thể nghĩ bàn, vì chính là cảnh giới của Phật. Huống gì là công đức của người thọ trì, đọc tụng thông lợi và ghi chép thành kinh quyển.

Lúc bấy giờ, chư thiên, người đời và A tu la liền ở trước đức Phật, khác miệng đồng âm, mà nói kệ rằng:

Chư Phật khó nghĩ bàn Pháp, Tăng lại cũng vậy

Vậy nên nay mời khuyên Nguyện xin chút dừng trụ

Ðợi tôn giả A Nan Và ngài Ðại Ca Diếp

Quyến thuộc hai chúng trên Chẳng bao lâu sẽ đến.

Cùng A Xà Thế Vương Quốc chủ nước Ma Kiệt

Kính tin Phật hết lòng Nơi này còn chưa đến

Nguyện xin Phật Thế Tôn Rũ lòng thương xót trụ,

Ở trong chúng này, xin Ðoạn con những nghi võng (lưới nghi).

Lúc bấy giờ, đức Như Lai vì các đại chúng mà nói kệ rằng:

Trưởng tử pháp Thế Tôn Tên là Ðại Ca Diếp

Và A Nan tinh cần Hay đoạn mọi nghi hoặc

Các ông xem kỹ càng A Nan đa văn sĩ

Tự nhiên sẽ giải thông Thường và vô thường đó!

Do vậy mà chẳng nên Lòng mang ưu não lớn!

Lúc bấy giờ, đại chúng đem đủ thứ đồ vật cúng dường đức Như Lai. Cúng dường đức Phật rồi, họ liền phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác và vô lượng vô biên hằng hà sa số những Bồ tát, v.v... được trụ ở bậc Sơ địa. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn cùng với ngài Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Ca Diếp và cùng với ông Thuần Ðà mà thọ ký biệt. Trao ký biệt xong, đức Phật nói như vầy:

- Này các thiện nam tử! Các ông hãy tự sửa lấy lòng mình, cẩn thận chớ buông lung! Bệnh đau lưng của ta hôm nay làm toàn thân đều đau nhức. Ta nay muốn nằm nghỉ như đứa trẻ kia và như người bệnh hoạn thường. Này Văn Thù! Các ông phải vì bốn bộ chúng diễn nói Ðại Pháp rộng rãi. Nay ta đem pháp này phó chúc cho ông! Cho đến khi Ca Diếp và A Nan đến thì ông lại phải đem chánh pháp như vậy phó chúc cho họ.

Bấy giờ, khi đức Như Lai nói lời này rồi, vì muốn điều phục các chúng sinh nên ngài hiện thân có bệnh, nghiêng hông phải mà nằm như người bệnh vậy.

PHẨM HIỆN BỆNH Thứ Mười Tám

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai đã khỏi tất cả bệnh tật, hoạn khổ đều trừ, không kinh sợ nữa. Thưa đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh có bốn mũi tên độc tức là nguyên nhân của bệnh. Những gì là bốn? Ðó là tham dục, sân nhuế, ngu si, kiêu mạn. Nếu có nguyên nhân bệnh thì có bệnh sinh ra. Như là bệnh phổi nóng thì hơi trên thổ ra nghịch, thân thể đau đớn, tâm thần mê loạn, bệnh lị, bệnh nôn ọe, bệnh tiểu tiện ra máu, bệnh đau một bên mắt và tai, bệnh lưng, bụng trương đầy, bệnh điên cuồng khô tiêu bị quỉ mỵ bắt... đủ thứ những bệnh về thân tâm như vậy mà các đức Phật Thế Tôn đều không có nữa. Hôm nay đức Như Lai vì duyên gì mà quay gọi Văn Thù Sư Lợi bảo rằng: “Ta nay đau lưng, các ông phải vì đại chúng nói pháp!” Theo con thì có hai nhân duyên, tức là ngài không có bệnh khổ. Những gì là hai? Một là thương xót tất cả chúng sinh. Hai là ngài muốn cung cấp bố thí cho người bệnh thuốc chữa bệnh. Ðức Như Lai thuở xưa, đã ở trong vô lượng ức kiếp, tu đạo Bồ tát, thường hành ái ngữ làm lợi ích chúng sinh, chẳng khiến họ khổ não, ngài đã bố thí cho người bệnh tật đủ thứ thuốc chữa bệnh thì vì nhân duyên gì đến hôm nay tự nói rằng, có bệnh? Thưa đức Thế Tôn! Người đời có bệnh, hoặc ngồi, hoặc nằm chẳng yên chỗ của mình, hoặc đi tìm đồ ăn thức uống, dạy bảo người nhà sửa trị sản nghiệp, còn vì sao đức Như Lai mặc nhiên mà nằm, chẳng dạy bảo những người đệ tử Thanh Văn về Thi Ba la mật, các thiền giải thoát Tam ma bạt đề, tu các chánh cần? Vì nhân duyên gì ngài chẳng nói Kinh điển Ðại Thừa thậm thâm như vậy? Vì sao đức Như Lai chẳng dùng vô lượng phương tiện dạy ngài Ðại Ca Diếp, bậc vua voi trong loài người và các bậc đại nhân, v.v... khiến cho những vị ấy chẳng thoái lui Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao đức Như Lai chẳng sửa trị các vị Tỳ kheo ác nhận nuôi tất cả vật bất tịnh. Thưa đức Thế Tôn! Quả thật ngài không có bệnh mà sao ngài mặc nhiên nghiêng hông phải mà nằm? Các Bồ tát, phàm đã cấp thí cho người bệnh thuốc chữa bệnh thì thiện căn thu được đều bố thí cho chúng sinh mà chung hồi hướng về Nhất Thiết Chủng Trí, vì trừ diệt những phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng của chúng sinh. Phiền não chướng là tham dục, sân nhuế, ngu si, phẩn nộ, triền cái, tiều não (thiêu đốt, não hại), tật đố, san lận, gian trá, dua nịnh, không tàm, không quí (không tủi thẹn), mạn, mạn mạn, chẳng như mạn, tăng thượng mạn ngã mạn, tà mạn, kiêu mạn, phóng dật, cống cao, oán giận, tranh tụng, tà mạng, nịnh hót, trá hiện tướng khác, lấy lợi cầu lợi, cầu xấu, cầu nhiều, không có cung kính, chẳng theo lời dạy bảo, gần gũi bạn xấu, tham lợi không chán, trói buộc khó mở, muốn với ác dục, tham với ác tham, thân kiến, hữu kiến và cả vô kiến, luôn bày tỏ vừa lòng, ngủ ngáp chẳng vui, ham muốn ăn uống, lòng ấy tối tăm, lòng duyên vào dị tưởng, chẳng khéo tư duy, thân miệng nhiều ác, ưa thích nhiều lời, các căn ám độn, phát ngôn nhiều hư dối, thường bị sự che trùm của dục giác, sân nhuế giác và độc hại giác... Ðó gọi là phiền não chướng. Nghiệp chướng là năm tội vô gián, bệnh trọng ác. Báo chướng là sinh tại địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, bài báng chánh pháp và nhất xiển đề (Ðại tà kiến). Ðó gọi là báo chướng. Ba chướng như vậy gọi là đại bệnh mà các Bồ tát, ở vô lượng kiếp, khi tu Bồ Ðề đã cấp cho tất cả người bệnh tật thuốc chữa trị, thường phát nguyện này: “Xin khiến cho các chúng sinh vĩnh viễn đoạn dứt bệnh nặng ba chướng này”! Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát khi tu Bồ Ðề cấp cho tất cả người bệnh thuốc trị bệnh thường phát nguyện này: “Nguyện khiến cho chúng sinh vĩnh viễn đoạn dứt các bệnh, được thành thân Như Lai Kim Cương”. Lại nguyên: “Vì tất cả vô lượng chúng sinh làm vua Diệu Dược, đoạn trừ tất cả những trọng bệnh ác. Nguyện cho các chúng sinh được thuốc A dà đà, nhờ dược lực này có thể trừ tất cả ác độc không lường”. Lại nguyện cho chúng sinh đối với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không có thoái chuyển, mau chóng được thành tựu Phật dược Vô thượng, tiêu trừ tất cả mũi tên độc phiền não. Lại nguyện cho chúng sinh siêng tu tinh tấn, thành tựu tâm Như Lai Kim Cương làm thuốc vi diệu trị liệu mọi thứ bệnh, chẳng khiến cho có người sinh ra tranh tụng tưởng. Cũng nguyện chúng sinh làm cây thuốc lớn trị liệu tất cả những trọng bệnh ác. Lại nguyện chúng sinh nhổ ra tên độc, được thành ánh sáng Vô thượng của Như Lai. Lại nguyện cho chúng sinh được vào pháp tạng vi mật đại dược trí tuệ của Như Lai. Thưa đức Thế Tôn! Bồ tát như vậy đã ở vô lượng trăm ngàn vạn ức na do tha kiếp phát thệ nguyện này, khiến cho những chúng sinh đều không có các bệnh thì vì duyên cớ gì đức Như Lai cho đến hôm nay xướng lên rằng: có bệnh. Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Người đời có bệnh thì chẳng thể ngồi dậy, cúi, ngước, tiến, dừng, ăn uống chẳng ngăn, nước uống chẳng xuống, cũng lại chẳng thể dạy răn các con sửa trị gia nghiệp. Bấy giờ, cha mẹ, vợ con, anh em, thân thuộc, bạn bè đều đối với người này sinh tư tưởng ắt chết. Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai hôm nay cũng lại như vậy, nghiêng bên phải mà nằm mà không có luận nói gì thì những người ngu của cõi Diêm phù đề này sẽ nghĩ rằng, đức Như Lai Chánh Giác ắt sẽ Niết Bàn mà sinh ra diệt tận tưởng. Nhưng mà tính Như Lai thật ra chẳng rốt ráo vào Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai thường trụ không biến dị. Do nhân duyên này, chẳng nên nói rằng, ta nay đau lưng.

Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Người đời có bệnh thì thân thể hao gầy, hoặc nằm, hoặc nghiêng thì nằm xuống giường nệm. Bấy giờ lòng mọi người sinh ra khinh rẻ, khởi lên tư tưởng ắt chết. Ðức Như Lai nay cũng lại như vậy, sẽ bị sự khinh nhờn của chín mươi lăm thứ ngoại đạo và phát sinh vô thường tưởng. Những ngoại đạo kia sẽ nói rằng: “Chẳng như chúng ta do tính của ngã nên người, tự tại, thời tiết, vi trần, các pháp, v.v... là thường trụ, không có biến dị. Sự biến thiên vô thường của ông Sa môn Cù Ðàm là pháp biến dị. Do nghĩa này nên, thưa đức Thế Tôn! Hôm nay ngài chẳng nên mặc nhiên nghiêng bên phải mà nằm. Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Người đời có bệnh thì bốn đại tăng tổn chẳng điều hòa thích hợp hổ tương nhau, gầy yếu thiếu thốn. Vậy nên người bệnh chẳng thể tùy ý ngồi dậy, nằm xuống giường nệm. Ðức Như Lai, bốn đại không gì chẳng điều hòa thích hợp, thân lực đầy đủ cũng không gầy yếu, tổn hao, thưa đức Thế Tôn! Như sức mười con trâu nhỏ chẳng bằng sức của một con trâu lớn. Sức mười con trâu lớn chẳng bằng sức của một con trâu xanh. Sức mười con trâu xanh chẳng bằng sức một con phàm tượng. Sức mười con voi thường chẳng bằng sức một con voi hoang. Sức mười con voi hoang chẳng bằng sức của một con voi hai ngà. Sức của mười con voi hai ngà chẳng bằng sức một con voi bốn ngà. Sức mười con voi bốn ngà chẳng bằng sức một con voi trắng của núi Tuyết. Sức mười con voi trắng núi Tuyết chẳng bằng sức một con Hương tượng. Sức mười con Hương tượng chẳng bằng sức một con voi xanh. Sức mười con voi xanh chẳng bằng sức một con voi vàng. Sức mười con voi vàng chẳng bằng sức một con voi đỏ. Sức mười con voi đỏ chẳng bằng sức một con voi trắng. Sức mười con voi trắng chẳng bằng sức một con voi núi. Sức mười con voi núi chẳng bằng sức một con voi Ưu bát la. Sức mười con voi Ưu bát la chẳng bằng sức một con voi Ba đầu ma. Sức mười con voi Ba đầu ma chẳng bằng sức một con voi Câu vật đầu. Sức mười con voi Câu vật đầu chẳng bằng sức một con voi Phân đà lợi. Sức mười con voi Phân đà lợi chẳng bằng sức một lực sĩ trong loài người. Sức mười lực sĩ trong loài người chẳng bằng sức một Bát kiện đề. Sức của mười Bát kiện đề chẳng bằng sức một bát tý (cánh tay) Na la diên. Sức của mười Na la diên tám tay chẳng bằng sức một chi tiết của một Bồ tát Thập trụ. Những chi tiết trong thân của tất cả phàm phu chẳng đụng đến nhau. Ðầu chi tiết của lực sĩ trong loài người đụng đến nhau. Các chi tiết trong thân của Bát kiện đề tiếp liền nhau. Ðầu chi tiết trong thân của Na la diên móc vào nhau. Những xương đốt của Bồ tát Thập trụ như rồng cuộn bung ra liên kết nhau. Vậy nên sức ấy của Bồ tát rất lớn. Khi thế giới thành, từ cõi bờ Kim cương dấy lên tòa ngồi Kim cương lên đến dưới gốc cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, đức Bồ tát ngồi rồi thì lòng tức thì chứng được mười lực. Ðức Như Lai hôm nay chẳng nên như đứa hài nhi trẻ nít kia. Hài nhi trẻ nít ngu si vô trí thì không gì có thể nói. Do nghĩa này nên trẻ nít tùy nằm nghiêng không người chê trách. Còn đức Như Lai Thế Tôn có đại trí tuệ soi sáng tất cả, con rồng lớn của loài người đầy đủ đại uy đức, thành tựu thần thông, bậc tiên nhân vô thượng đoạn trừ vĩnh viễn lưới nghi, đã nhổ bỏ mũi tên độc, tiến lùi an tường, uy nghi đầy đủ, được vô sở úy thì hôm nay ngài vì sao nghiêng hông phải mà nằm, khiến cho những người, trời sầu bi khổ não?

Lúc bấy giờ, Bồ tát Ca Diếp liền ở trước đức Phật mà nói kệ rằng:

Ðấng Cù Ðàm thánh đức Diệu pháp nguyện nói lên

Chẳng nên như đứa trẻ Người bệnh nằm trên giường.

Ðiều Ngự, Thiên Nhân Sư Nằm tựa Song Thọ gian

Phàm phu ngu hèn thấy Sẽ nói ắt Niết Bàn!

Chẳng biết điển Phương Ðẳng Sở hạnh Phật thậm thâm.

Chẳng thấy vi mật tạng Như mù chẳng thấy đường

Chỉ có các Bồ tát Như Văn Thù vân...vân..

Giải được thậm thâm đó Như người giỏi bắn tên.

Ba đời các đức Phật Ðại bi làm cội nguồn

Ðại từ bi như vậy Nay ở đâu Thế Tôn?

Nếu Ðại bi không có Thì chẳng gọi Thế Tôn (Phật)?

Niết Bàn nếu Phật quyết Thì chẳng gọi là thường.

Nguyện xin đấng Vô thượng Thương nhận thỉnh chúng con

Chúng sinh được lợi ích Ngoại đạo bị diệt tan.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, lòng đại bi xông tỏa, biết ý niệm của mỗi một những chúng sinh, sắp muốn thuận theo sự lợi ích rốt cùng. Ðức Phật liền trở dậy ngồi kiết già, nhan mạo tươi vui như vàng lỏng tụ lại, mặt mày đoan nghiêm giống như vầng trăng tròn đầy, hình dung thanh tịnh không có những cấu bẩn, phóng ra ánh sáng lớn soi đầy khắp hư không. Ánh sáng ấy thịnh đại hơn trăm ngàn mặt trời, soi đến các giới ở phương Ðông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng phương trên, phương dưới, ban cho chúng sinh đuốc Ðại Trí khiến cho họ diệt được hết vô minh hắc ám, khiến cho trăm ngàn ức na do tha an dừng ở tâm Bồ Ðề chẳng thoái lui. Lúc bấy giờ, lòng đức Thế Tôn không tư lự nghi ngờ như vua Sư tử, ngài dùng ba mươi hai tướng của bậc Ðại Nhân, tám mươi vẻ đẹp để trang nghiêm thân mình. Tất cả lỗ chân lông ở trên thân ấy mà mỗi một lỗ chân lông trổ ra một đóa hoa sen. Hoa ấy vi diệu đều đủ một ngàn cánh mà sắc thuần màu vàng ròng, thân bằng lưu ly, tua bằng Kim Cương, đài bằng ngọc mai khôi, hình dáng lớn tròn trịa giống như bánh xe. Những hoa sen đó đều phát đủ thứ màu sắc xen nhau như xanh, vàng, đỏ, trắng, tía, pha lê... Những ánh sáng đó đều soi khắp đến địa ngục A Tỳ, địa ngục Tưởng, địa ngục Hắc Thằng (dây đen), địa ngục Chúng Hợp, địa ngục Khiếu Hoán (kêu la), địa ngục Ðại Khiếu Hoán, địa ngục Tiều Nhiệt (đốt nóng), địa ngục Ðại Tiều Nhiệt. Chúng sinh trong tám địa ngục ấy thường bị sự bức thiết của các khổ như là đốt cháy, nung nấu, nướng trên lửa, chặt, đâm, lột da... Họ gặp ánh sáng ấy rồi thì mọi khổ như vậy diệt hết, không còn, yên ổn, mát mẻ, khoái lạc không cùng cực. Trong ánh sáng ấy tuyên nói tạng bí mật của Như Lai rằng, các chúng sinh đều có Phật tính. Chúng sinh nghe rồi liền mạng chung sinh vào trong cõi trời, người. Cho đến tám thứ địa ngục lạnh giá (bàn băng) như là địa ngục A Ba Ba, địa ngục A Tra Tra, địa ngục A La La, địa ngục A Ta Ta, địa ngục Ưu Bát La, địa ngục Ba Ðầu Ma, địa ngục Câu Vật Ðầu, địa ngục Phân Ðà Lợi. Chúng sinh trong những địa ngục đó thường bị sự bức bách não hại của khổ lạnh, như là cắt xé thân thể nát vụn, tàn hại lẫn nhau... Họ gặp ánh sáng ấy rồi thì những khổ như vậy cũng diệt không còn, liền được điều hòa ấm áp, thích hợp với thân thể. Trong ánh sáng này cũng nói tạng bí mật của Như Lai rằng, các chúng sinh đều có Phật tính. Chúng sinh nghe rồi, liền mạng chung sinh vào trong cõi người, trời. Lúc bấy giờ, ở cõi Diêm phù đề này và các thế giới khác mà có địa ngục thì đều trống không, không có người thọ tội, trừ nhất xiển đề. Ngã quỉ, súc sinh bị sự bức bách của đói khát, dùng tóc buộc thân, ở hàng trăm ngàn năm chưa từng nghe danh tự nước uống mà gặp ánh sáng ấy rồi thì đói khát liền tiêu trừ. Trong ánh sáng đó cũng nói lên tạng bí mật của Như Lai rằng, các chúng sinh đều có Phật tính. Chúng sinh nghe rồi, liền mạng chung sinh vào trong cõi người, trời, khiến cho loài ngã quỉ cũng đều trống không, trừ loài quỉ bài báng chánh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Chúng sinh súc sinh giết hại lẫn nhau, tương tàn ăn thịt nhau mà gặp ánh sáng ấy rồi thì lòng sân nhuế đều diệt. Trong ánh sáng đó cũng nói lên tạng bí mật của Như Lai rằng, các chúng sinh đều có Phật tính. Chúng sinh nghe rồi, liền mạng chung sinh vào trong cõi người, trời. Ðang khi ấy loài súc sinh cũng hết, trừ kẻ bài báng chánh pháp. Mỗi một hoa đó đều có một đức Phật với hào quang tròn tỏa sáng một tầm màu vàng rực rỡ, vi diệu đoan nghiêm, tối thượng vô tỷ. Thân các đức Phật đó trang nghiêm ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Những đức Thế Tôn đó, hoặc có vị ngồi, hoặc có vị đi, hoặc có vị nằm, hoặc có vị đứng hoặc dậy tiếng sấm, hoặc tuông mưa to, hoặc phóng ra ánh chớp, hoặc quát gió lớn, hoặc phát ra khói lửa thân như đám lửa, hoặc thị hiện bảy báu, những núi, ao, suối, sông, nước, núi rừng, cây cối..., hoặc lại thị hiện bảy báu, đất nước, thành ấp, tụ lạc, cung điện, nhà cửa, hoặc lại thị hiện voi, ngựa, sư tử, cọp, sói, khổng tước (công) phượng hoàng, các loài chim..., hoặc lại thị hiện khiến cho chúng sinh sẵn có trong cõi Diêm phù đề đều thấy địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, hoặc lại thị hiện sáu trời cõi Dục. Lại có đức Thế Tôn, hoặc nói ấm, giới, các nhập có nhiều những lỗi hoạn. Hoặc lại có vị nói pháp bốn Thánh Ðế. Hoặc lại có vị nói nhân duyên của các pháp. Hoặc có vị nói các nghiệp phiền não đều do nhân duyên sinh. Hoặc có vị nói ngã cùng vô ngã. Hoặc có vị nói hai pháp khổ và vui. Hoặc lại có vị nói thường, vô thường, v.v... Hoặc lại có vị nói tịnh cùng bất tịnh. Lại có đức Thế Tôn vì các vị Bồ tát diễn nói việc tu hành sáu Ba la mật. Hoặc lại có vị nói về công đức sở đắc của các vị Ðại Bồ tát. Hoặc lại có vị nói về công đức sở đắc của những đức Phật Thế Tôn. Hoặc lại có vị nói về công đức sở đắc của người Thanh Văn. Hoặc lại có vị nói thuận theo Nhất thừa. Hoặc lại có vị nói về Tam thừa thành đạo. Hoặc có đức Thế Tôn mà hông trái tuông ra nước, hông phải phát ra lửa. Hoặc có vị thị hiện: sơ sinh, xuất gia, ngồi ở dưới gốc cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, chuyển bánh xe diệu pháp, vào đến Niết Bàn. Hoặc có đức Thế Tôn tạo tiếng rống Sư tử khiến cho trong hội này có người được một quả, hai quả, ba quả cho đến quả thứ tư. Hoặc lại có vị nói lên vô lượng nhân duyên lìa khỏi sinh tử. Lúc bấy giờ, chúng sinh sẵn có trong cõi Diêm phù đề này gặp ánh sáng ấy rồi thì người mù thấy được hình sắc, người điếc nghe được tiếng, người câm có thể nói, người què có thể đi, người nghèo được của, người san tham có thể bố thí, người sân nhuế phát từ tâm, người chẳng tin thì tin... Như vậy thế giới không có một chúng sinh tu hành pháp ác, trừ nhất xiển đề. Lúc bấy giờ, tất cả trời, rồng, quỉ thần, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, la sát, kiền đà, ưu ma đà, a bà ma la, người, chẳng phải người, v.v... đều chung đồng thanh xướng lên rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ðấng Vô Thượng Thiên Tôn nhiều sự lợi ích!

Nói lời đó rồi, họ nhảy nhót vui mừng, hoặc ca, hoặc múa, hoặc thân chuyển động... dùng đủ loại hoa tung lên đức Phật và chúng Tăng. Những hoa đó là hoa Thiên Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phân đà lợi, hoa Mạn đà la, hoa đại Mạn đà la, hoa Mạn thù sa, hoa đại Mạn thù sa, hoa Tán đà na, hoa đại Tán đà na, hoa Lô chỉ na, hoa đại Lô chỉ na, hoa Hương, hoa Ðại hương, hoa Thích ý, hoa Ðại thích ý, hoa Ái kiến, hoa Ðại ái kiến, hoa Ðoan nghiêm, hoa Ðệ nhất đoan nghiêm. Họ lại còn tung lên các thứ hương như hương trầm thủy đa dà lâu, hương hòa hợp đủ thứ Chiên đàn uất kim, hương tụ bên bờ biển (long diên hương)... Họ lại dùng tràng phan bảo cái trên trời, các kỹ nhạc nhà trời như đàn tranh, sáo, sênh, đàn sắt, đàn không hầu... tấu thổi lên để cúng dường đức Phật mà nói kệ rằng:

Con nay cúi lạy Ðại Tinh Tấn

Vô thượng Chánh Giác Lưỡng Túc Tôn

Trời, người, đại chúng đều chẳng biết

Chỉ có Cù Ðàm mới hiểu thông.

Thế Tôn vì con nên thuở trước

Tu khổ hạnh nhiều kiếp không lường

Mà sao một sớm bỏ bổn thệ

Liền bỏ mạng thân vào Niết Bàn

Tất cả chúng sinh chẳng thể thấy

Bí mật tạng của Phật Thế Tôn

Do nhân duyên này khó ra khỏi

Ðường ác và sinh tử chuyển vần.

Như lời Phật nói, A la hán

Tất cả đều phải đến Niết Bàn

Hành xử Phật thậm thâm như vậy

Phàm phu ngu, ai có thể thông

Cho các chúng sinh pháp cam lộ

Vì họ đoạn trừ các não phiền

Nếu có người uống cam lộ ấy

Thì sinh, già, bịnh, chết chẳng còn.

Như Lai Thế Tôn đã trị liệu

Trăm ngàn chúng sinh nhiều không lường.

Khiến những trọng bệnh sở hữu ấy

Tất cả tiêu diệt hết, không còn.

Ðã lâu Thế Tôn xả bệnh khổ

Nên được gọi đệ thất Thế Tôn (đệ thất Phật)

Nguyện xin hôm nay mưa pháp vũ

Thấm nhuần giống công đức chúng con.

Các đại chúng và người, trời đó

Thỉnh như vậy rồi đứng mặc nhiên.

Khi nói bài kệ này thì tất cả các đức Phật trong đài hoa sen từ cõi Diêm phù đề khắp đến cõi trời Tịnh Cư đều nghe hết. Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông đã đầy đủ trí tuệ vi diệu thậm thâm như vậy thì chẳng bị sự phá hoại của những ma ngoại đạo. Này thiện nam tử! Ông đã an trụ chẳng bị sự khuynh động của tất cả những cơn gió tà ác. Này thiện nam tử! Ông đã thành tựu biện tài “lạc thuyết”, đã từng cúng dường vô lượng hằng hà sa số những đức Phật Thế Tôn đời quá khứ. Vậy nên ông có thể hỏi Như Lai Chánh Giác về cái nghĩa như vậy. Này thiện nam tử! Ta vào thuở xa xưa, vô lượng vô biên ức na do tha trăm ngàn vạn kiếp đã trừ hết bệnh căn, vĩnh viễn lìa khỏi dựa, nằm. Này Ca Diếp! Thuở quá khứ vô lượng A tăng kỳ kiếp, có đức Phật ra đời, hiệu là Vô Thượng Thắng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Ngài đã vì các Thanh Văn nói Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này, khai thị, phân biệt, hiển phát nghĩa của Kinh ấy. Ta vào lúc ấy cũng vì đức Phật đó mà làm Thanh Văn, thọ trì Kinh điển Ðại Niết Bàn như vậy. Ta đọc tụng thông lợi, ghi chép thành Kinh quyển, rộng vì người khác mà khai thị, phân biệt, giải nói nghĩa của Kinh ấy, rồi đem thiện căn này hồi hướng về Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Ta từ đó đến nay chưa từng có nghiệp duyên phiền não ác đọa vào ác đạo, bài báng Chánh pháp làm nhất xiển đề, thọ thân huỳnh môn, không có căn hay hai căn, phản nghịch cha mẹ, giết A la hán, phá tháp, hoại Tăng, làm chảy máu thân Phật, phạm bốn trọng cấm... Từ đó đến nay thân tâm ta yên ổn, không có các khổ não. Này Ca Diếp! Ta nay quả thật không có tất cả bệnh tật. Sở dĩ vì sao? Vì các đức Phật Thế Tôn xa lìa tất cả bệnh lâu rồi. Này Ca Diếp! Những chúng sinh chẳng biết lời mật giáo của Ðại Thừa Phương Ðẳng liền cho là Như Lai có bệnh chân thật.

Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai là sư tử trong loài người mà Như Lai thì thật chẳng phải là sư tử. Lời nói như vậy tức là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai là Ðại Long trong loài người, mà ta đã ở trong vô lượng kiếp đã lìa bỏ nghiệp này. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai là người, là trời, mà ta chân thật chẳng phải là người, chẳng phải là trời, cũng chẳng phải là quỉ thần, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, chẳng phải là Ngã, chẳng phải là mạng, chẳng phải có thể nuôi dưỡng, chẳng phải sĩ phu người, chẳng phải tác, chẳng phải bất tác, chẳng phải thọ, chẳng phải chẳng thọ, chẳng phải là Thế Tôn, chẳng phải là Thanh Văn, chẳng phải nói, chẳng phải chẳng nói... Những lời nói như vậy đều là lời dạy bí mật của Như Lai.

Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai giống như vua núi Tu Di, biển cả mà Như Lai thì thật chẳng phải vị mặn, đồng với núi đá. Ông phải biết, lời nói đó cũng là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai như hoa Phân Ðà Lợi, mà ta thật chẳng phải là hoa Phân Ðà Lợi. Lời nói như vậy tức là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai giống như cha mẹ, mà Như Lai thì thật chẳng phải là cha mẹ. Lời nói như vậy cũng là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai là Ðại Thuyền Sư (người lái thuyền giỏi) mà Như Lai thì thật chẳng phải là Thuyền sư. Lời nói như vậy cũng là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai giống như thương chủ (người chủ buôn bán), mà Như Lai thì thật chẳng phải là thương chủ. Lời nói như vậy cũng là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai có thể tiêu diệt, hàng phục ma, mà Như Lai thì thật không có ác tâm muốn khiến cho người khác phục. Lời nói như vậy đều là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như nói rằng, Như Lai có thể trị ung thư, ghẻ lớn, mà ta thật chẳng phải là thầy trị ung thư, ghẻ lở. Lời nói như vậy cũng là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Như lời nói trước đây của ta, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân giỏi có thể sửa trị nghiệp của thân, miệng, ý thì khi bỏ mạng, tuy có thân tộc thủ lấy thi hài của mình hoặc dùng lửa đốt, hoặc ném vào nước lớn, hoặc bỏ vào nghĩa địa... chồn, sói, cầm thú tranh nhau ăn nuốt, nhưng tâm ý thức liền sinh vào đường thiện. Tâm pháp đó thật không đi, lại, cũng không chỗ đến, những là trước sau tương tợ, nối tiếp nhau, hình mạo như nhau chẳng khác. Lời nói như vậy tức là lời dạy bí mật của Như Lai. Này Ca Diếp! Hôm nay ta nói bệnh cũng lại như vậy, cũng là lời dạy bí mật của Như Lai. Vậy nên, việc ta bảo với Văn Thù Sư Lợi, ta nay đau lưng, các ông hãy vì bốn chúng nói pháp, này Ca Diếp! Như Lai Chánh Giác thật không có bệnh, nghiêng hông phải mà nằm, cũng chẳng rốt cùng vào Niết Bàn. Này Ca Diếp! Ðại Niết Bàn này tức là Thiền định thậm thâm của chư Phật. Thiền định như vậy chẳng phải là hành xử của hàng Thanh Văn, Duyên Giác. Này Ca Diếp! Vấn đề ông hỏi ở trước là, vì sao đức Như Lai dựa nằm, chẳng dậy, chẳng đòi ăn uống, răn bảo gia thuộc sửa trị sản nghiệp? Này Ca Diếp! Tính của hư không cũng không ngồi dậy, tìm đòi ăn uống, dạy bảo gia thuộc sửa trị sản nghiệp, cũng không đi, lại, sinh-diệt, lão-tráng, hiện ra - mất đi, thương - phá, giải thoát - trói buộc, cũng chẳng tự nói, cũng chẳng nói người khác, cũng chẳng tự mở, cũng chẳng mở cho người khác, chẳng phải an, chẳng phải bệnh... Này thiện nam tử! Các đức Phật Thế Tôn cũng lại như vậy, giống như hư không thì làm sao sẽ có những bệnh khổ vậy?

Này Ca Diếp! Người đời có ba bệnh khó trị, một là bài báng Ðại Thừa, hai là tội ngũ nghịch, ba là nhất xiển đề. Trong đời, ba thứ bệnh như vậy rất nặng mà chẳng phải Thanh Văn, Duyên Giác có thể trị liệu được. Này thiện nam tử! Ví như có thứ bệnh nhất định chết không trị được, hoặc có xem bệnh tùy ý cho thuốc trị bệnh, hoặc không xem bệnh tùy ý cho thuốc trị bệnh như vậy nhất định chẳng thể chữa trị. Ông phải biết, người đó nhất định chết, chẳng nghi ngờ gì. Này thiện nam tử! Ba thứ người này cũng lại như vậy, nếu có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát hoặc thuyết pháp, hoặc chẳng thuyết pháp thì cũng chẳng thể khiến cho những người ấy phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này Ca Diếp! Ví như người bệnh, nếu có xem bệnh theo ý cho thuốc trị bệnh thì có thể khiến hết bệnh còn nếu không thì người này chẳng thể hết bệnh. Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy, theo Phật, Bồ tát được nghe pháp rồi liền có thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu họ chẳng nghe pháp thì chẳng thể phát tâm vậy. Này Ca Diếp! Ví như người bệnh, nếu có xem bệnh theo ý cho thuốc trị bệnh, hoặc không xem bệnh theo ý cho thuốc trị bệnh đều có thể hết bệnh. Có một thứ người cũng lại như vậy, hoặc gặp Thanh Văn hay chẳng gặp Thanh Văn, hoặc gặp Duyên Giác hay chẳng gặp Duyên Giác, hoặc gặp Bồ tát hay chẳng gặp Bồ tát, hoặc gặp Như Lai hay chẳng gặp Như Lai hoặc được nghe pháp hay chẳng được nghe pháp mà tự nhiên được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó là có người hoặc vì tự thân, hoặc vì thân người khác, hoặc vì bố úy (kinh sợ), hoặc vì lợi dưỡng, hoặc vì dua nịnh, hoặc vì lừa dối người khác mà ghi chép Kinh Ðại Niết Bàn như vậy rồi thọ trì, đọc tụng, cúng dường, cung kính vì người khác diễn nói.

Này Ca Diếp! Có năm thứ người có bệnh hành xử đối với Kinh điển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này mà chẳng phải là Như Lai. Những ai là năm? Một là người đoạn được ba kiết sử chứng quả Tu Ðà Hoàn, chẳng còn đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, trở lại cõi người, trời bảy lần rồi đoạn trừ vĩnh viễn các khổ mà vào với Niết Bàn. Này Ca Diếp! Ðó gọi là người thứ nhất có bệnh hành xử. Người này đời vị lai qua tám vạn kiếp sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này Ca Diếp! Người thứ hai là người đoạn dứt ba kiết sử, giảm bớt tham, sân, si, chứng quả Tư Ðà Hàm, một lần trở lại cõi người, trời rồi đoạn dứt các khổ mà vào với Niết Bàn. Này Ca Diếp! Ðó gọi là người thứ hai có bệnh hành xử. Người này vào đời vị lai qua sáu vạn kiếp sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Người thứ ba là người đoạn dứt năm hạ kết, chứng quả A na hàm, chẳng trở lại cõi này, đoạn trừ vĩnh viễn các khổ, vào với Niết Bàn. Ðó gọi là người thứ ba có bệnh hành xử. Người này vào đời vị lai, qua bốn vạn kiếp, sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này Ca Diếp! Người thứ tư là người đoạn trừ vĩnh viễn tham dục, sân nhuế, ngu si, chứng quả A la hán, phiền não không còn, vào với Niết Bàn, cũng chẳng phải là hạnh Kỳ lân độc nhất. Ðó gọi là người thứ tư có bệnh hành xử. Người này vào đời vị lai, qua hai vạn kiếp sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này Ca Diếp! Người thứ năm là người đoạn trừ vĩnh viễn tham dục, sân nhuế, ngu si, chứng được đạo Bích Chi Phật, phiền não không còn, vào với Niết Bàn, thật sự là hạnh Kỳ lân độc nhất. Ðó là người thứ năm có bệnh hành xử. Người này, vào đời vị lai, qua mười ngàn kiếp sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này Ca Diếp! Ðó gọi là người thứ năm có bệnh hành xử, chẳng phải là Như Lai vậy.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ mười hết -


11/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Một

PHẨM THÁNH HẠNH Thứ Mười Chín

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cần phải đối với kinh Ðại Bát Niết Bàn này, chuyên tâm suy nghĩ về năm thứ hạnh. Những gì là năm? Một là Thánh hạnh, hai là Phạm hạnh, ba là Thiên hạnh, bốn là Anh nhi hạnh (hạnh trẻ con), năm là Bệnh hạnh (hạnh người bệnh). Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát thường phải tu tập năm thứ hạnh này. Lại có một hạnh nữa là hạnh Như Lai, đó là Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn. Này Ca Diếp! Sao gọi là việc tu Thánh hạnh của Ðại Bồ tát? Ðại Bồ tát hoặc theo Thanh Văn, theo Như Lai, được nghe Kinh Ðại Niết Bàn như vậy mà nghe rồi thì sinh ra lòng tin, tin rồi thì nên làm theo suy nghĩ như vầy: “Các đức Phật Thế Tôn có đạo Vô thượng, có đại chánh pháp, có đại chúng chánh hạnh, lại có Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Ta nay vì yêu thích tham cầu Kinh Ðại thừa nên lìa bỏ sự yêu vợ con, quyến thuộc, chỗ ở, nhà cửa, vàng, bạc trân báu, chuỗi ngọc vi diệu, hương hoa, kỹ nhạc, nô bộc, cấp sứ, trai gái lớn nhỏ, voi, ngựa, xe cộ, trâu dê, gà, chó, heo lợn, v.v...” Ðại Bồ tát lại nghĩ rằng: “Gia cư bức bách giống như lao ngục. Tất cả phiền não do đó mà sinh ra. Xuất gia ở nơi nhàn tịnh khoáng đãng giống như hư không. Tất cả thiện pháp nhân đó mà tăng trưởng. Nếu tại gia cư thì chẳng được trọn đời tịnh tu phạm hạnh. Ta nay cần phải cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo!” Họ lại nghĩ rằng: “Ta nay nhất định phải xuất gia tu học đạo Bồ Ðề chân chính Vô thượng”. Khi Bồ tát muốn xuất gia như vậy thì thiên ma Ba Tuần phát sinh đại khổ não, nói rằng: “Bồ tát này lại phải cùng ta dấy cuộc chiến tranh lớn rồi!” Này thiện nam tử! Bồ tát như vậy thì sao gọi là sẽ lại cùng người chiến tranh? Lúc đó Bồ tát liền đi đến Tăng phường, nếu thấy Như Lai và đệ tử của Phật uy nghi đầy đủ, các căn tịch tịnh thì lòng Bồ tát ấy nhu hòa, thanh tịnh, tịch diệt, liền đến chỗ ấy mà xuất gia cầu đạo, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y. Ðã xuất gia rồi thì Bồ tát phụng trì cấm giới, oai nghi chẳng khiếm khuyết, tiến lùi an tường, không có sự xúc chạm, thậm chí tội dù nhỏ lòng cũng sinh kinh sợ. Lòng hộ giới giống như Kim cương. Này thiện nam tử! Ví như có người đeo giữ phao nổi muốn qua biển cả. Bấy giờ, trong biển có một quỉ la sát liền theo người này đòi xin cái phao nổi. Người ấy nghe rồi liền nghĩ rằng: “Ta nay nếu cho thì nhất định chìm chết” nên đáp rằng: “Này La sát! Người thà giết ta, chớ phao nổi chẳng thể cho được!” La sát lại nói rằng: “Ngươi nếu chẳng thể cho hết thì có thể cho nửa cái phao ấy”. Người đó do dự chẳng chịu cho. La sát lại nói rằng: “Ngươi nếu chẳng thể cho ta một nửa thì nguyện xin cho ta một phần ba”. Người đó chẳng chịu, quỉ La sát lại nói rằng: “Nếu chẳng thể thì cho ta chỗ bằng cánh tay”. Người đó chẳng chịu, La sát lại nói rằng: “Ngươi nay nếu lại chẳng thể cho ta chỗ như cánh tay thì ta nay đói cùng cực, mọi khổ bức bách. Nguyện xin ngươi sẽ cứu giúp ta một chỗ nhỏ như vi trần”. Người đó lại nói rằng: “Sự đòi hỏi của ngươi nay quả thật chẳng nhiều, nhưng hôm nay ta phải đi qua biển mà chẳng biết đường trước gần xa như thế nào? Nếu ta cho ngươi thì hơi sẽ thoát ra dần, nạn biển cả do đâu được thoát qua, có thể giữa đường chìm xuống nước mà chết”. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát hộ trì cấm giới cũng lại như vậy, như người qua biển kia tiếc giữ cái phao nổi. Khi Bồ tát thủ hộ giới như vậy thường có các ác La sát phiền não nói với Bồ tát rằng: “Ông phải tin ta, nhất định chẳng lừa dối nhau! Ông chỉ phá bốn trọng cấm, hộ trì những giới còn lại. Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn được vào Niết Bàn”. Bấy giờ, Bồ tát nên nói rằng:“Ta nay thà trì cấm giới như vậy mà vào ngục A Tỳ, nhất định chẳng chịu hủy phạm để mà sinh lên trời!” La sát phiền não lại nói rằng: “Ông nếu chẳng thể phá bốn trọng cấm thì có thể phá Tăng tàn! Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn được vào Niết Bàn!” Bồ tát cũng nên chẳng theo lời nói ấy. La sát lại nói rằng: “Ông nếu chẳng thể phạm Tăng tàn thì cũng có thể nên phạm tội Thâu La Già. Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn được vào Niết Bàn!” Bồ tát bấy giờ cũng lại chẳng theo. La sát lại nói rằng: “Ông nếu chẳng thể phạm Thâu Lan Già thì có thể phạm xả đọa. Do nhân duyên này ông có thể yên ổn được vào Niết Bàn!” Bồ tát bấy giờ cũng lại chẳng theo, La sát lại nói rằng: “Ông nếu chẳng thể phạm xả đọa thì có thể phá Ba Dạ Ðề. Do nhân duyên này khiến ông yên ổn được vào Niết Bàn!” Bồ tát bấy giờ cũng lại chẳng theo, La sát lại nói rằng: “Ông nếu chẳng thể phạm Ba Dạ Ðề thì may mắn có thể hủy phá giới Ðột Cát La. Do nhân duyên này ông có thể được yên ổn vào với Niết Bàn!” Bồ tát bấy giờ, lòng tự nghĩ rằng: “Ta nay nếu phạm tôi Ðột Cát La mà chẳng phát lồ sám hối thì chẳng thể qua bờ kia của sinh tử để mà được Niết Bàn”. Ðại Bồ tát ở trong những giới luật vi tiểu (nhỏ mọn) hộ trì kiên cố, lòng như Kim cương. Ðại Bồ tát hộ trì bốn trọng cấm và Ðột Cát La thì kính trọng, kiên cố, bình đẳng không sai khác. Bồ tát nếu có thể kiên trì như vậy thì tức là đầy đủ năm chi các giới. Ðó là đầy đủ: Bồ tát căn bản nghiệp thanh tịnh giới, tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới, Phi chư ác giác giác thanh tịnh giới, hộ trì chánh niệm niệm thanh tịnh giới, hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam Bồ Ðề giới.

Này Ca Diếp! Ðại Bồ tát này lại có hai thứ giới. Một là Thọ thế giáo giới, hai là được Chánh pháp giới. Bồ tát nếu được Chánh pháp giới thì nhất định chẳng làm ác. Thọ thế giới (giới răn của đời) là bạch bốn Yết-ma, rồi nhiên hậu mới được. Lại nữa, này thiện nam tử! Có hai thứ giới. Một là Tính trọng giới, hai là giới chấm dứt chê bai hiềm khích của đời. Tính trọng giới là bốn trọng cấm, dứt thế kỵ hiềm giới là chẳng làm những việc buôn bán, khinh trọng, nhỏ lớn, lừa dối... đối với người, nhân thế lực người khác mà lấy tài vật của người, lòng hại trói buộc, phá hoại thành công, thắp sáng mà nằm, ruộng đất gieo trồng, gia nghiệp bày ra. Chẳng nuôi voi, ngựa, xe cộ, trâu dê, lạc đà, lừa, gà, chó, khỉ đột, công (khổng tước) anh vũ, chim cộng mạng và chim câu chỉ la, sài lang, cọp báo, mèo, chồn, heo lợn... và những ác thú khác, đồng nam, đồng nữ, trai lớn, gái lớn, nô tỳ, đồng bộc... Chẳng tích trữ vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chân châu, xa cừ, mã não, san hô, bích ngọc, kha cụ (ngọc kha)... các thứ báu. Chẳng chứa đồng đỏ, bạch lạp, du thạch (hợp kim đồng-kẽm), chén bát, đồ đựng, thảm lông, chiếu lông, áo cắm lông vũ, tất cả lúa gạo, đậu mì lớn nhỏ, gạo tẻ, gạo nếp, mè, đồ ăn sống hay chín... Bồ tát thường thọ một bửa ăn trong ngày, chưa từng ăn lần hai, nếu đi khất thực và ăn trong tăng chúng, Bồ tát thường biết dừng đủ, chẳng nhận lời mời khác, chẳng ăn thịt, chẳng uống rượu, năm vật cay nồng đều chẳng ăn. Vậy nên thân người ấy không có mùi xú uế. Bồ tát thường được sự cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi của chư thiên và tất cả người đời. Ði chân xin mà ăn, nhất định chẳng nhận đồ ăn lâu dài. Việc nhận quần áo chỉ đủ che thân. Tiến, dừng thường cùng ba y bát là đủ nhất định chẳng lìa bỏ như hai cánh chim. Chẳng nuôi căn tử (rễ, con), hành tử (hành:thân thảo), tiếp tử (nối liền), tiếp tử, tử tử (con con), chẳng chứa bảo tàng hoặc vàng, hoặc bạc, đồ ăn, thức uống, nhà bếp, kho lẫm, quần áo, phục sức. Giường lớn cao rộng, giường ngà voi, giường vàng đan xen đủ màu đều chẳng ngồi, nằm. Chẳng chứa tất cả những loại chiếu nằm mềm mại. Chẳng ngồi lên cỏ voi, cỏ ngựa (cỏ của voi ngựa ăn). Chẳng dùng y phục thượng diệu mềm mại để trải giường nằm. Giường nghỉ ngơi ấy chẳng đặt hai gối? Cũng chẳng nhận chứa gối đỏ diệu hảo, an đặt gối gỗ vàng (huỳnh mộc). Nhất định chẳng nhìn xem đấu voi, đấu ngựa, đấu xe, đấu binh, hoặc nam, hoặc nữ, trâu, dê, gà, trĩ, anh vũ, v.v... đánh nhau. Cũng chẳng cố đến nhìn xem quân trận. Cũng chẳng cố nghe thổi vỏ sò, tù và, đánh trống, đàn cầm, đàn sắt, đàn không hầu, đàn tranh, sáo, tiếng ca xướng kỹ nhạc, trừ khi cúng dường Phật. Trò chơi sư bồ (một trò đánh bạc), cờ vay, ba la tắc, sư tử tượng đấu, cờ đạn, sáu cách đánh bạc, đá cầu, ném đá, quăng túi, dắt đường, tám đường đi thành... Tất cả sự vui chơi đều chẳng nên làm. Nhất định chẳng xem tướng tay, chân, mặt, mắt. Chẳng dùng chân súc vật, gương, cỏ chi, cành liễu, bát chén, đầu lâu mà làm bói quẻ. Cũng chẳng ngước xem hư không tinh tú, trừ khi muốn giải sự hôn thụy (ngủ mê). Chẳng làm sứ mạng qua lại của vương gia, đem đây nói cho đó, đem đó nói cho đây. Nhất định chẳng dua nịnh, tà mạng nuôi sống mình. Cũng chẳng tuyên nói việc vua tôi, đạo tặc, đấu tranh, ăn uống, đất nước đói kém kinh sợ hay giàu thịnh an vui. Này thiện nam tử! Ðó gọi là giới của Ðại Bồ tát chấm dứt sự chê bai hiềm khích ở đời (Tức thế kỵ hiềm giới). Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát kiên trì giới cấm ngăn chận như vậy cùng tính trọng giới bình đẳng không sai biệt.

Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát thọ trì những cấm giới như vậy rồi thì phát nguyện rằng: “Thà đem thân này gieo vào hầm sâu lửa cháy rực, nhất định chẳng hủy phạm việc chế cấm giới của chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại cùng con gái của Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ, v.v... mà làm việc bất tịnh”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng sắt nóng bó buộc giáp vòng thân thể, nhất định chẳng dám đem thân phá giới mà nhận lấy quần áo của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng miệng này nuốt hòn sắt nóng, nhất định chẳng dám dùng miệng hủy giới mà ăn đồ ăn, thức uống của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà thân này nằm trên sắt rất nóng, nhất định chẳng dám dùng thân phá giới thọ đồ trải giường nằm của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà đem thân này chịu ba trăm giáo nhọn đâm, nhất định chẳng dám đem thân hủy giới mà nhận thuốc chữa bệnh của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà đem thân này gieo vào vạc sắt nóng, nhất định chẳng dám đem thân phá giới nhận phòng xá nhà cửa của đàn việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng chùy sắt đánh nát thân này từ đầu đến chân khiến cho như vi trần, chẳng đem thân phá giới nhận sự cung kính lễ bái của những Sát lợi, Bà la môn, cư sĩ”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng que sắt nóng móc đôi mắt của mình, chẳng dùng nhiễm tâm nhìn sắc đẹp người khác”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng dùi sắt đâm khắp cùng tai, chẳng dùng nhiễm tâm nghe âm thanh hay”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng dao bén cắt bỏ mũi của mình; chẳng dùng nhiễm tâm ham ngửi các mùi thơm”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng dao bén cắt nát lưỡi của mình, chẳng dùng nhiễm tâm tham trước vị ngon”. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát lại phát nguyện này: “Thà dùng búa bén chém đứt thân mình, chẳng dùng nhiễm tâm tham trước những chạm xúc”. Vì sao vậy? Vì do nhân duyên này có thể khiến cho hành giả đọa vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Này Ca Diếp! Ðó gọi là Ðại Bồ tát hộ trì cấm giới. Ðại Bồ tát hộ trì cấm giới như vậy rồi thì đều đem bố thí cho tất cả chúng sinh. Do nhân duyên này nguyện khiến cho chúng sinh hộ trì cấm giới được giới thanh tịnh, giới thiện, giới chẳng khuyết, giới chẳng chiết (gẩy), giới Ðại Thừa, giới chẳng thoái, giới tùy thuận, giới rốt ráo (tất cảnh) và thành tựu đầy đủ giới Ba la mật. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát khi tu trì giới thanh tịnh như vậy thì liền được trụ ở Bất động địa đầu tiên. Sao gọi là Bất động địa vậy? Bồ tát trụ trong Bất động địa này thì chẳng động, chẳng đọa, chẳng thoái, chẳng tan. Này thiện nam tử! Ví như núi Tu Di, gió mạnh Tùy Lam chẳng thể làm cho lay động, rơi rớt, thoái, tan. Ðại Bồ tát trụ trong địa này cũng lại như vậy, chẳng bị sự lay động của sắc, thanh, hương, vị, chẳng đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, chẳng thoái lui địa vị Thanh Văn, Bích Chi Phật, chẳng bị tan theo gió tà kiến khác mà tạo tác tà mạng. Lại nữa, này thiện nam tử! Chẳng động lại là chẳng bị sự lay động của tham dục, sân nhuế, ngu si. Lại chẳng đọa là chẳng rơi vào bốn trọng cấm. Lại chẳng thoái là chẳng lui lại nhà. Lại chẳng tán là chẳng bị sự tan hoại theo người trái nghịch Kinh điển Ðại Thừa. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng vậy chẳng bị sự khuynh động của các phiền não ma, chẳng bị sự đày đọa của ấm ma... cho đến ngồi ở dưới cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, tuy có thiên ma nhưng chẳng thể làm cho Bồ tát ấy thoái lui Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cũng lại chẳng bị việc làm tan hoại của tử ma (ma chết). Này thiện nam tử! Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu tập Thánh hạnh. Này thiện nam tử! Sao gọi là Thánh hạnh? Thánh hạnh là sở hạnh của Phật và Bồ tát. Vậy nên gọi là Thánh hạnh. Do những gì mà gọi Phật, Bồ tát là Thánh nhân vậy? Những người như vậy có pháp Thánh, thường quán các pháp tánh không tịch. Do nghĩa này nên gọi là Thánh nhân. Người đó có giới Thánh nên gọi là Thánh nhân, có định huệ Thánh nên gọi là Thánh nhân. Người đó có bảy của cải Thánh là tín, giới, tàm quí, đa văn, trí tuệ, xả, ly nên gọi là Thánh nhân. Người đó có bảy Thánh giác nên gọi là Thánh nhân. Do nghĩa này nên lại gọi là Thánh hạnh.

Lại nữa, này thiện nam tử! Hạnh Thánh của Ðại Bồ tát là quan sát thân này từ đầu đến chân, trong ấy chỉ có tóc, lông, móng, răng chẳng sạch cấu bẩn, da, thịt, gân, xương, tỳ, thận, tim, phổi, gan, mật, ruột, bao tử sống chín hai tạng, đại tiểu tiện, nước mũi nước dãi, nước mắt, mỡ, mô não, tủy xương, mũ, máu, sọ não, các mạch. Khi Bồ tát chuyên tâm quán như vậy thì có cái gì là ta? Ta thuộc cái gì? Trụ ở chỗ nào? Cái gì thuộc về ta? Bồ tát lại nghĩ rằng: “Xương là ta ư? Lìa khỏi xương là gì vậy?” Khi Bồ tát trừ khử da thịt, chỉ quán xương trắng thì lại khởi ý niệm này: “Màu xương khác như là màu xanh, vàng, trắng, màu chim câu. Như vậy tướng xương cũng lại chẳng phải là ta. Vì sao vậy? Vì ta cũng chẳng phải màu xanh, vàng, trắng và cả màu chim câu”. Khi Bồ tát buộc lòng tác khởi sự quan sát này thì liền được đoạn trừ tất cả sắc dục. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Như vậy xương là từ nhân duyên sinh ra. Nương nhờ xương bàn chân để chống đỡ xương gót chân. Nương nhờ xương gót chân để chỗng đỡ xương ống chân. Nương nhờ xương ống chân để chống đỡ xương đầu gối. Nương nhờ xương đầu gối để chống đỡ xương đùi vế. Nương nhờ xương đùi vế để chống đỡ xương mông. Nương nhờ xương mông để chống đỡ xương lưng (eo). Nương nhờ xương lưng để chống đỡ xương sống. Nương nhờ xương sống để chống đỡ xương sườn. Lại nhân trên xương sống chống đỡ xương cổ. Nương nhờ xương cổ để chống đỡ xương hàm. Nương nhờ xương hàm để chống đỡ răng. Trên có đầu lâu. Lại nhân xương cổ để chống đỡ xương vai. Nương nhờ xương vai để chống đỡ xương cánh tay. Nương nhờ xương cánh tay để chống đỡ xương cổ tay. Nương nhờ xương cổ tay để chống đỡ xương bàn tay. Nương nhờ xương bàn tay để chống đỡ xương ngón tay. Khi Ðại Bồ tát quan sát như vậy thì số xương sở hữu của thân thể tất cả đều chia lìa. Bồ tát được cái quán này rồi thì liền đoạn trừ ba dục, một là hình mạo dục, hai là tư thái dục, ba là tế xúc dục. Khi Ðại Bồ tát quán xương xanh thì thấy đại địa này khắp Ðông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới đều là tướng màu xanh. Như quán màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu chim câu cũng lại như vậy. Khi Ðại Bồ tát tác khởi sự quan sát này thì vùng chân mày liền phát ra ánh sáng màu xanh, vàng, đỏ, trắng, màu chim câu, v.v... Ở trong mỗi một những ánh sáng này Bồ tát thấy có tượng Phật. Thấy rồi Bồ tát liền hỏi rằng: “Như thân này là bất tịnh, do nhân duyên hòa hợp chung thành mà sao lại được ngồi, dậy, đi, đứng, co, duỗi, cúi, ngước, nhìn, ngắm, hít thở, buồn khóc, vui cười? Trong việc này không có chủ thì ai sai khiến vậy?” Hỏi thế rồi thì các đức Phật trong ánh sáng bỗng nhiên biến mất. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Hoặc thức chính là ta nên khiến cho các đức Phật chẳng vì ta nói”. Bồ tát lại quan sát thức này theo thứ lớp sinh diệt giống như nước chảy thì cũng lại chẳng phải là ta. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Nếu thức chẳng phải là ta thì thở ra, hít vào hoặc có thể là ta”. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Thở ra hít vào này chính là tính của gió mà tính gió đó mới là tứ đại thì trong tứ đại cái gì là ta. Tính của đất chẳng phải là ta. Tính của nước, lửa, gió cũng lại chẳng phải là ta”. Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Thân này tất cả đều không có ta. Chỉ có gió tâm nhân duyên hòa hợp, thị hiện ra đủ thứ nghiệp sở tác, ví như sức chú thuật làm ra điều huyễn hóa, cũng như đàn không hầu (giống đàn sắt) theo ý phát ra âm thanh. Vậy nên thân này bất tịnh như vậy. Giả sử mọi nhân duyên hòa hợp chung thành thì sẽ ở chỗ nào mà sinh ra tham dục? Nếu bị mắng chửi hủy nhục thì lại ở chỗ nào mà sinh ra sân nhuế? Như thân này của ta gồm ba mươi sáu vật bất tịnh dơ bẩn hôi thối thì có chỗ nào nhận sự mạ nhục. Nếu nghe lời mạ nhục ấy thì Bồ tát liền suy nghĩ rằng: “Do âm thanh gì mà thấy mạ nhục vậy? Mỗi một âm thanh riêng rẻ chẳng thể thấy mạ nhục mà nếu một chẳng thấy thì nhiều cũng vậy thôi. Do nghĩa này nên chẳng nên sinh ra sân giận. Nếu người khác đánh đập thì cũng nên suy nghĩ rằng: “Như vậy đánh từ đâu mà sinh ra?” Bồ tát lại tác khởi ý niệm này: “Nhân có tay, dao gậy và cả thân ta nên được gọi là đánh. Ta nay vì duyên gì mà ngang ngược sân giận với người khác? Chính thân ta tự chuốc lấy lỗi lầm đó là do ta thọ tấm thân năm ấm này. Ví như nhân vào cái đích thì mới có trúng tên, thân ta cũng vậy, có thân thì có đánh. Ta nếu chẳng nhẫn thì lòng tán loạn. Nếu lòng tán loạn thì mất chánh niệm. Nếu mất chánh niệm thì chẳng thể quan sát nghĩa thiện và chẳng thiện. Nếu chẳng thể quan sát nghĩa thiện và chẳng thiện thì làm ác pháp. Nhân duyên ác pháp thì rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Khi Bồ tát tác khởi sự quan sát đó rồi thì được Tứ niệm xứ. Ðược Tứ niệm xứ rồi thì được trụ ở Kham nhẫn địa. Ðại Bồ tát trụ ở địa này rồi thì có thể kham nhẫn tham dục, sân nhuế, ngu si, cũng có thể kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, ruồi, muỗi, rận, rệp, gió bão, va chạm việc dữ, đủ thứ dịch bệnh, ác khẩu, mắng chửi, đánh đập, đánh bằng gậy... Thân tâm khổ não, tất cả đều có thể nhịn chịu. Vậy nên đó gọi là trụ ở Kham nhẫn địa.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Bồ tát chưa được trụ ở Bất Ðộng Ðịa, khi tịnh trì giới, như có nhân duyên thì có được phá giới không?

- Này thiện nam tử! Bồ tát chưa trụ ở Bất Ðộng địa nếu có nhân duyên thì có thể được phá giới.

Ngài Ca Diếp thưa rằng:

- Kính thưa đức Thế Tôn! Thế nào là được vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Ca Diếp! Nếu có Bồ tát biết dùng nhân duyên phá giới thì có thể khiến cho người thọ trì, yêu thích Kinh điển Ðại Thừa. Lại có thể khiến cho người ấy đọc tụng thông lợi, ghi chép kinh quyển, rộng vì người khác diễn nói chẳng thoái chuyển đối với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì như vậy nên Bồ tát được phá giới. Bấy giờ, Bồ tát nên khởi ý niệm này: “Ta thà một kiếp hay giảm một kiếp, rơi vào địa ngục A tỳ thọ tội báo này chỉ cần khiến cho người đó chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác!” Này Ca Diếp! Do nhân duyên này nên Ðại Bồ tát được hủy phạm tịnh giới!

Lúc bấy giờ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như có Bồ tát nhiếp lấy hộ trì người như vậy khiến cho chẳng thoái chuyển tâm Bồ Ðề mà vì sự hủy giới đó nếu đọa địa ngục A Tỳ thì không có điều này.

Bấy giờ đức Phật khen ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ðúng như lời nói của ông! Ta nhớ thuở xa xưa, ở cõi Diêm phù đề, ta làm đại quốc vương tên là Tiên Dự, yêu thích kính trọng Kinh điển Ðại Thừa. Tâm vua ấy thuần thiện, không có thô ác, tật đố, san lận. Miệng vua thường tuyên nói ái ngữ, thiện ngữ. Thân vua thường nhiếp hộ kẻ bần cùng, cô độc, bố thí tinh tấn không có ngưng bỏ. Thời thế không có Phật, Thanh Văn, Duyên Giác. Ta vào lúc bấy giờ yêu thích Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng, trong mười hai năm phụng sự Bà la môn, cung cấp sự cần dùng cho họ. Qua mười hai năm bố thí yên ổn xong rồi, taliền nói rằng: “Thưa các thầy, hôm nay các thầy nên phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác!” Bà la môn nói rằng: “Này Ðại vương! Tính Bồ Ðề là không sở hữu. Kinh điển Ðại Thừa cũng lại như vậy thì tại sao đại vương lại muốn khiến cho con người đồng với hư không”. Này thiện nam tử! Vào lúc bấy giờ, lòng ta trọng Ðại Thừa mà nghe Bà la môn bài báng Phương Ðẳng nên nghe xong ta tức thời giết chết người ấy. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên từ đó về sau ta chẳng rơi vào địa ngục.

Này thiện nam tử! Ủng hộ nhiếp trì Kinh điển Ðại Thừa mới có thế lực không lường như vậy. Lại nữa, này Ca Diếp! Lại có Thánh hạnh, gọi là bốn Thánh đế, Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Này Ca Diếp! Khổ là tướng bức bách. Tập là tướng năng sinh trưởng (có năng lực sinh trưởng). Diệt là tướng tịch diệt. Ðạo là tướng Ðại Thừa. Lại nữa, này thiện nam tử! Khổ là hiện tướng. Tập là chuyển tướng. Diệt là trừ tướng. Ðạo là năng trừ tướng (tướng có khả năng trừ diệt). Lại nữa, này thiện nam tử! Khổ thì có ba tướng là tướng khổ khổ, tướng hành khổ, tướng hoại khổ. Tập là hai mươi lăm cõi hữu. Diệt là diệt hai mươi lăm cõi hữu. Ðạo là tu Giới, Ðịnh, Tuệ. Lại nữa, này thiện nam tử! Pháp hữu lậu có hai thứ là có Nhân, có Quả. Pháp vô lậu cũng có hai thứ là có Nhân, có Quả. Quả hữu lậu thì gọi là Khổ. Nhân hữu lậu thì gọi là Tập. Quả vô lậu thì gọi là Diệt. Nhân vô lậu thì gọi là Ðạo. Lại nữa, này thiện nam tử! Tám tướng gọi là khổ như là: Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Có khả năng sinh ra tám khổ như vậy thì gọi là Tập. Không có tám điều khổ như vậy thì đó gọi là Diệt. Mười lực, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, Ðại bi... đó gọi là Ðạo. Này thiện nam tử! Sinh là tướng hiện ra, có năm thứ, một là sơ xuất, hai là chí chung (đến cuối cùng), ba là tăng trưởng, bốn là xuất thai (ra khỏi thai), năm là chủng loại sinh. Những gì là Lão? Lão có hai thứ, một là niệm niệm lão, hai là chung thân lão. Lại có hai thứ lão nữa, một là tăng trưởng lão, hai là diệt hoại lão. Ðó gọi là lão. Sao gọi là bệnh? Bệnh là gọi rắn độc bốn đại đắp đổi nhau chẳng điều hòa thích hợp, cũng có hai thứ, một là thân bệnh, hai là tâm bệnh. Thân bệnh có năm, một là nhân nước, hai là nhân gió, ba là nhân nóng, bốn là tạp bệnh, năm là khách bệnh. Khách bệnh (bệnh do nguyên nhân khách quan) có bốn, một là chẳng phải phận mà cưỡng làm, hai là quên lầm rơi rụng, ba là dao gậy gạch đá, bốn là sự bám lấy của quỉ mị. Tâm bệnh cũng có bốn thứ, một là nhảy nhót, hai là sợ hãi, ba là ưu sầu, bốn là ngu si. Lại nữa, này thiện nam tử! Bệnh của thân tâm thường có ba thứ. Những gì là ba? Một là nghiệp báo, hai là chẳng được lìa xa các ác đối tác, ba là thời tiết thay đổi. Chúng sinh ra những nhân duyên như vậy với tên gọi và sự phân biệt thọ bệnh. Nhân duyên của bệnh là gió, v.v... các bệnh. Tên gọi là lòng buồn bực, phổi trướng, khí lên, ho, tâm nghịch, đi lị... Thọ phân biệt là đau đầu, đau mắt, đau tay chân, v.v... Ðó gọi là bệnh. Những gì là chết? Chết là bỏ sự thọ thân. Bỏ sự thọ thân cũng có hai thứ, một là chết do mạng hết, hai là chết do ngoại duyên. Chết do mạng tận (hết) cũng có ba thứ, một là mạng hết chẳng phải là phước hết, hai là phước hết chẳng phải làmạng hết, ba là phước mạng đều hết. Chết do ngoại duyên cũng có ba thứ, một là chẳng phải số phận mà tự hại chết, hai là ngang ngược vì người khác mà chết, ba là đều chết. Lại có ba thứ chết, một là chết phóng dật (buông lung), hai là chết phá giới, ba là chết hoại mạng căn. Những gì gọi là chết phóng dật? Nếu có bài báng Ðại Thừa Phương Ðẳng Bát Nhã Ba la mật thì gọi là chết phóng dật. Sao gọi là chết phá giới? Hủy phạm sự chế cấm giới của chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại thì đó gọi là chết phá giới. Sao gọi là chết hoại mạng căn? Bỏ thân năm ấm thì đó gọi là chết hoại mạng căn. Như vậy gọi rằng chết là đại khổ. Sao gọi là ái biệt ly khổ? Vật yêu thích bị phá hoại lìa tan. Vật yêu thích bị phá hoại lìa tan cũng có hai thứ, một là trong người năm ấm hoại, hai là trong trời năm ấm hoại. Như vậy sự yêu thích năm ấm của người trời phân biệt tính kể có vô lượng thứ. Ðó gọi là ái biệt ly khổ. Sao gọi là oán tắng hội khổ? Việc chẳng yêu thích mà chung tụ tập. Việc chẳng yêu thích mà chung tụ tập cũng có ba thứ. Ðó là địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Như vậy ba đường phân biệt tính kể có vô lượng thứ. Như vậy thì gọi là oán tắng hội khổ. Sao gọi là cầu bất đắc khổ? Khổ cầu chẳng được cũng có hai thứ, một là điều mình hy vọng mà cầu chẳng thể được, hai là dùng nhiều công lực mà chẳng được quả báo. Như vậy thì gọi là cầu bất đắc khổ. Sao gọi là ngũ thịnh ấm khổ? Ngũ thịnh ấm khổ là sinh khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ. Vậy nên gọi là ngũ tịnh ấm khổ. Này Ca Diếp! Căn bản của sinh thường có bảy thứ khổ như vậy. Lão khổ... cho đến ngũ thịnh ấm khổ, này Ca Diếp! Bàn về lão suy thì chẳng phải tất cả có mà Phật và chư thiên nhất định là không còn trong loài người thì bất định, hoặc có, hoặc không. Này Ca Diếp! Thọ thân trong ba cõi không loài nào chẳng có sinh mà già thì chẳng nhất định. Vậy nên tất cả sinh là căn bản. Này Ca Diếp! Chúng sinh trong thế gian bị điên đảo che tâm mà tham trước tướng sinh, chán hoạn sinh tử. Bồ tát chẳng vậy, quan sát lúc mới sinh, đã thấy có lỗi hoạn. Này Ca Diếp! Như có người con gái vào ở nhà người khác. Người có gái này đoan chính, nhan mạo đẹp đẽ, trang nghiêm thân bằng chuỗi ngọc đẹp. Người chủ nhà thấy rồi liền hỏi rằng: “Nàng tên gì? Hệ thuộc ai?” Người con gái đáp rằng: “Thân ta tức là trời lớn Công Ðức (Công Ðức Ðại Thiên)”. Người chủ hỏi rằng: “Nàng làm gì chỗ nàng đến?” Trời nữ (nữ thiên đáp rằng: “Chỗ ta đến, ta có thể ban cho đủ thứ vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chân châu, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, bộc sứ...” Người chủ nghe rồi, lòng sinh vui mừng, nhảy nhót không lường mà nói rằng: “Ta nay có phước đức nên khiến cho nàng đi đến nhà cửa của ta!” Người chủ liền đốt hương, tung hoa cúng dường, cung kính lễ bái. Lại ở ngoài cửa, người ấy lại thấy một người con gái hình dung xấu xí, quần áo rách rưới, nhiều những cấu bẩn, da dẻ nứt nẻ mà màu trắng bệch. Thấy rồi, người chủ hỏi rằng: “Nàng tên gì? Hệ thuộc với ai?” Người con gái đáp rằng: “Tôi tên là Hắc Ám!” Người chủ lại hỏi: “Vì sao tên là Hắc Ám?” Người con gái đáp rằng: “Chỗ ta đến có thể khiến cho của báu sở hữu của nhà ấy, tất cả bị suy hao”. Người chủ nghe rồi liền cầm dao bén mà nói rằng: “Nàng nếu chẳng đi ta sẽ giết nàng!” Người con gái đáp rằng: “Ông rất ngu si, không có trí tuệ!” Người chủ hỏi rằng: “Vì sao gọi ta ngu si, không trí tuệ?”Người con gái đáp rằng: “Người trong nhà của ông tức là chị của ta. Ta thường cùng chị tiến, dừng chung cùng. Nếu ông đuổi ta thì cũng sẽ đuổi chị đó!” Người chủ quay lại vào hỏi trời Công Ðức rằng: “Bên ngoài có một người con gái nói là chị của nàng! Có thật thế không?” Trời Công Ðức nói rằng: “Quả thật là em của ta! Ta cùng người em này đi, đứng chung, chưa từng rời nhau theo chỗ sở trụ. Ta thường tạo tác cái tốt, người đó thường tạo tác cái xấu. Ta làm lợi ích, người đó làm suy tổn. Nếu ông yêu ta thì cũng nên yêu người đó. Nếu ông cung kính ta thì cũng nên cung kính người đó!” Người chủ liền nói rằng: “Nếu có sự tốt xấu như vậy thì ta đều chẳng dùng! Các nàng đều tùy ý mà đi!” Lúc đó hai người con gái liền cùng đem nhau trở về chỗ ở của họ. Bấy giờ người chủ thấy họ đã đi trở về, lòng sinh vui mừng, nhảy nhót không lường. Lúc đó, hai người con gái lại cùng nhau theo đến một nhà nghèo. Người nghèo thấy rồi, lòng phát sinh vui mừng, liền mời họ rằng: “Hai nàng đã đến, từ nay nguyện xin hai nàng hãy thường trụ ở nhà tôi!” Trời Công Ðức nói rằng: “Trước đây, chúng ta đã bị người khác xua đuổi vì nhân duyên gì ông lại đều mời chúng tôi ở?” Người nghèo đáp rằng: “Nàng nay nghĩ đến tôi! Tôi nhờ nàng nên lại phải cung kính nàng kia. Vậy nên tôi đều thỉnh hai vị trụ ở nhà tôi”. Này Ca Diếp! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, chẳng nguyện sinh lên trời vì có sinh thì sẽ có lão, bệnh, chết vậy. Do đó đều bỏ hết, từng không có thọ tâm (lòng thọ nhận). Người phàm phu ngu si chẳng biết những lỗi hoạn của già, bệnh, chết, v.v... nên tham thọ hai pháp sinh tử. Lại nữa, này Ca Diếp! Như đứa trẻ con ấu trĩ Bà la môn bị sự bức bách của đói khát, thấy trong phân người có trái cây Am La, liền thủ lấy. Có người trí nhìn thấy liền quở trách rằng: “Này Bà la môn! Ngươi chủng tính thanh tịnh mà vì sao thủ lấy trái cây bẩn chứa trong phân này?” Ðứa trẻ nghe rồi đỏ mặt thẹn tùng, liền đáp rằng: “Tôi thật chẳng ăn, muốn rửa sạch rồi lại bỏ nó đi!” Người trí nói rằng: “Ngươi rất ngu si! Nếu lại bỏ đi thì trước chẳng nên lấy!” Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, đối với phần sinh này chẳng nhận, chẳng bỏ như người trí kia quở trách đứa trẻ. Người phàm phu mừng sinh, ghét chết như đứa trẻ kia lấy quả, lại bỏ đi. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như có người ở đầu ngã tư đường lớn với dụng cụ đựng đầy đồ ăn sắc hương mỹ vị mà muốn bán. Có người từ xa đến, đói rỗng gầy yếu thấy đồ sắc hương vị của đồ ăn người ấy liền chỉ mà hỏi rằng: “Ðây là vật gì?” Người chủ đồ ăn đáp rằng: “Ðây là đồ ăn sắc hương vị thượng hạng! Nếu ăn món ăn này thì được sắc, được lực, có thể trừ đói khát, được thấy chư thiên, chỉ có bị một hoạn nạn là mạng chung”. Người đó nghe rồi liền nghĩ rằng: “Ta nay chẳng cần sắc lực hay thấy trời, cũng chẳng cần chết”. Hắn liền nói rằng: “Ăn món ăn này rồi nếu mạng chung thì ông hôm nay làm gì bán nó ở đây?” Người chủ đồ ăn đáp rằng: “Người có trí nhất định chẳng chịu mua, chỉ có người ngu chẳng biết việc này khen giá trị đồ ăn của ta, tham mà ăn đó thôi!” Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, chẳng nguyện sinh lên trời, được sắc, được lực và thấy chư thiên. Vì sao vậy? Vì những điều ấy chẳng khỏi được các khổ não. Kẻ phàm phu ngu si theo chỗ có sinh, đều tham ái vì họ chẳng thấy già, bệnh, chết vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như cây độc, rễ có thể giết người, cành, gốc, thân, đốt, vỏ, lá, hoa, trái đều cũng có thể giết. Này thiện nam tử! Việc thọ năm ấm ở chỗ thọ sinh của hai mươi lăm cõi hữu cũng lại như vậy, tất cả có thể giết hại. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như phân bẩn dù ít hay nhiều đều thối. Này thiện nam tử! Sinh cũng thế, giả sử sống lâu tám vạn xuống đến mười năm thì đều thọ khổ. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như trên bờ hiểm có cỏ che phủ. Ở bên bờ đó có nhiều cam lộ mà nếu có người ăn thì sống lâu một ngàn tuổi, vĩnh viễn tiêu trừ các bệnh, yên ổn khoái lạc. Người phàm phu ngu si tham ăn vị ấy nên chẳng biết bên dưới bờ ấy có hầm rất sâu, liền trước muốn lấy mà chẳng hay sa chân rơi vào hầm mà chết. Kẻ trí biết rồi lìa bỏ đi xa. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, còn chẳng muốn thọ món ăn thượng diệu của trời, huống lại là của trong loài người. Người phàm phu mới ở địa ngục nuốt hòn sắt nóng, huống lại là món ăn ngon lành thượng diệu của người trời mà có thể chẳng ăn. Này Ca Diếp! Do những thí dụ như vậy và vô lượng vô biên thí dụ khác nên ông phải biết là sinh quả thật là Ðại Khổ. Này Ca Diếp! Ðó gọi là Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn mà quan sát sinh khổ!

Này Ca Diếp! Sao gọi là Ðại Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn này mà quan sát lão khổ? Lão thì có thể bị ho, khí lên ngược, có thể hủy hoại dũng lực, nhớ nghĩ, tiến giữ những khoái lạc, kiêu mạn cống cao, yên ổn, mặc ý mình của thời trai tráng, có thể làm lưng còng, giải đãi lười biếng, bị sự khinh thường của người khác. Này Ca Diếp! Ví như trong ao nước đầy hoa sen nở phô bày vẻ tươi đẹp rất đáng yêu thích thì gặp phải trời mưa đá đều bị tan nát. Này thiện nam tử! Lão cũng như vậy, đều có thể phá hoại sắc đẹp của thời trai tráng. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như vị quốc vương có một bề tôi trí tuệ (trí thần) giỏi biết binh pháp. Có vua nước địch chống cự lại chẳng thuận theo. Nhà vua sai vị bề tôi giỏi này đến hỏi tội (thảo phạt) vị vua địch đó, và ông liền bắt được đem về cho vua. Già cũng như vậy, bắt giữ được hình sắc tráng kiện đem giao cho vua chết. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như cái trục xe gẫy không sao lại dùng được. Lão cũng như vậy, không sao lại dùng. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như đại phú gia có nhiều của báu như vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não... có những oán tặc, nếu chúng vào nhà người ấy thì liền có thể cướp đọat khiến cho rỗng không hết. Này thiện nam tử! Sắc đẹp trai trẻ cũng lại như vậy, thường bị sự cướp đọat của giặc Già (lão tặc) Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như người ngèo tham trước món ăn ngon, áo quần êm dịu. Tuy họ lại hy vọng nhưng mà chẳng thể được. Này thiện nam tử! Lão cũng như vậy, tuy có lòng tham muốn thọ giàu có an vui, năm dục thỏa lòng mình nhưng mà chẳng thể được. Lại nữa, này Ca Diếp! Lòng rùa đất thường nghĩ đến nước. Này thiện nam tử! Người cũng như vậy, đã bị sự khô héo của lão suy thì lòng thường nhớ nghĩ khi tráng kiện đã hưởng thụ niềm vui năm dục. Lại nữa, này Ca Diếp! Vào mùa thu, những hoa sen vốn đã được sự ưa ngắm nhìn của tất cả thì nay những hoa ấy héo vàng bị sự khinh ghét của mọi người. Này thiện nam tử! Tuổi trẻ tráng kiện cũng lại như vậy, đều được sự yêu thích của tất cả, khi Lão ấy đến thì bị sự khinh ghét của mọi người. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như cây mía đã bị ép lấy nước rồi thì không còn vị nữa. Tuổi trẻ tráng kiện cũng lại như vậy, đã bị lão (già) ép rồi thì không còn ba thứ vị, một là vị xuất gia, hai là vị đọc tụng, ba là vị ngồi thiền. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như đêm trăng tròn nhiều ánh sáng, ngày thì chẳng vậy. Này thiện nam tử! Người cũng như vậy, trai tráng thì đoan nghiêm, hình mạo đẹp đẽ, già thì suy yếu, hình mạo, thần thái khô héo, tiều tụy. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như có vị vua thường dùng chính pháp trị nước, an dân, chân thật không quanh co, thương xót ưa bố thí. Nhà vua vì sự phá hoại của nước địch lưu ly trốn chạy đến nước khác. Nhân dân nước khác thấy mà thương xót ngài, đều nói rằng: “Ðại vương thuở trước dùng Chính pháp trị nước, chẳng ép uổng bá tính (vạn tính) mà sao một sớm phải lưu ly đến đây?” Này thiện nam tử! Con người cũng như vậy, đã bị sự bại hoại của lão suy rồi thì thường khen việc tạo lập sự nghiệp thời trai tráng. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như bấc đèn chỉ nhờ dầu mỡ, dầu mỡ đã hết thì chẳng bao lâu phải dừng. Này thiện nam tử! Con người cũng như vậy, chỉ nhờ cậy vào mỡ tráng kiện, mỡ tráng kiện đã hết thì bấc đèn lão suy chẳng bao lâu sẽ dừng. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như dòng sông khô chẳng thể lợi ích cho người và chẳng phải người, chim bay, thú chạy. Này thiện nam tử! Con người cũng như vậy, bị sự khô cạn của lão thì chẳng thể lợi ích cho tất cả những tác nghiệp. Lại nữa, này Ca Diếp! Cây đại thọ đứng bên bờ sông lâm nguy nếu gặp gió dữ thì ắt ngã đổ. Này thiện nam tử! Con người cũng như vậy, đến bờ lão hiểm nguy mà gió chết đã đến thì thế chẳng được trụ. Lại nữa, này Ca Diếp! Như trục xe gẫy thì chẳng đủ sức chở nặng. Này thiện nam tử! Lão cũng như vậy, chẳng thể hỏi han, thính thọ tất cả thiện pháp. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như đứa trẻ con bị sự rẻ rúng của con người. Này thiện nam tử! Lão cũng như vậy, thường bị sự khinh chê của tất cả. Này Ca Diếp! Do những ví dụ đó và còn vô lượng vô biên ví dụ nữa nên ông phải biết rằng, lão thật là đại khổ. Này Ca Diếp! Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát Lão khổ.

Này Ca Diếp! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát bịnh khổ. Sở dĩ gọi bệnh là có thể hoại tan tất cả những việc vui yên ổn, ví như mưa đá làm thương tổn hủy hoại cây lúa. Lại nữa, này Ca Diếp! Như người có oán cừu, lòng thường lo buồn mà ôm lấy sợ hãi. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, thường sợ bệnh khổ, lòng ôm lo rầu. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như có người hình mạo đoan chính bị lòng dục của vợ vua ái mộ, đưa tin ép gọi đến cùng chung giao thông. Vị vua bắt được, liền sai người móc một mắt, cắt một tai, chặt một tay, một chân của người ấy. Người đó, bấy giờ hình dung đổi khác, bị người khinh ghét. Này thiện nam tử! Con người cũng vậy, trước tuy đoan chính, tai mắt đầy đủ, nhưng đã bị sự trói buộc bức bách của bệnh khổ rồi thì bị sự gớm ghiếc của mọi người. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như cây chuối, tre trúc, lau sậy và con La (loa) hễ có con thì chết. Này thiện nam tử! Con người cũng như vậy, hễ có bệnh thì chết. Lại nữa, này Ca Diếp! Như đại thần chủ binh của vua Chuyển Luân thường ở trước dẫn đường, còn vua theo sau mà đi. Cũng như vua cá, vua kiến, vua ốc, vua trâu, thương chủ đi ở trước thì như vậy các chúng đều đi theo, không rời bỏ. Này thiện nam tử! Vua Tử Chuyển Luân cũng lại như vậy, thường theo bệnh thần, chẳng lìa bỏ nhau. Vua bệnh cá, kiến, ốc, trâu, thương chủ cũng lại như vậy, thường bị sự theo đuổi của tử chúng. Này Ca Diếp! Bệnh nhân duyên là gọi sự khổ não, sầu lo, bi thán, thân tâm chẳng yên, hoặc là sự bức hại của oán tặc, phá hoại phao nổi, triệt phá cầu, cũng có thể cướp đoạt chánh niệm căn bản. Lại có thể là sự phá hoại sắc đẹp thịnh tráng, thế lực an lạc, trừ bỏ tàm quí. Có thể là vì thân tâm bị thiêu nóng rực cháy. Do những ví dụ này và còn vô lượng vô biên ví dụ khác nên ông phải biết, bệnh khổ chính là đại khổ. Này Ca Diếp! Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát bệnh khổ.

Này Ca Diếp! Sao gọi là Bồ tát tu hạnh Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát tử khổ. Sở dĩ gọi tử (chết) là có thể thiêu diệt vậy. Này Ca Diếp! Như tai họa lửa khởi lên thì có thể đốt cháy tất cả, chỉ trừ Nhị thiền sức lửa chẳng đến được. Này thiện nam tử! Lửa tử cũng vậy, có thể đốt cháy tất cả, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn thì thế lửa tử chẳng bì kịp. Lại nữa, này Ca Diếp! Như tai họa nước khởi lên thì tất cả trôi dạt chìm mất, chỉ trừ Tam Thiền, sức nước chẳng đến. Này thiện nam tử! Nước tử cũng vậy, làm trôi dạt chìm mất tất cả, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp! Như tai họa gió khởi lên thì có thể thổi tất cả khiến cho tan diệt hết, chỉ trừ Tứ thiền thì sức gió chẳng đến được. Này thiện nam tử! Gió tử cũng vậy, có thể thổi diệt tất cả sỡ hữu, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thiền thứ tư kia vì nhân duyên gì mà gió chẳng thể thổi, nước chẳng thể nổi, lửa chẳng thể cháy?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Thiền thứ tư đó, lỗi hoạn trong ngoài tất cả đều không có. Này thiện nam tử! Lỗi hoạn của Sơ thiền, bên trong có giác quán, bên ngoài có tai họa lửa. Lỗi hoạn của Nhị thiền, bên trong có hoan hỷ, bên ngoài có tai họa nước. Lỗi hoạn của Tam thiền, bên trong có hít thở, bên ngoài có tai họa gió. Này thiện nam tử! Ðệ Tứ thiền kia, lỗi hoạn trong ngoài, tất cả đều không. Vậy nên các tai họa chẳng thể theo kịp. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, an trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn thì lỗi hoạn trong ngoài, tất cả đều hết. Vậy nên vua Tử chẳng thể theo kịp. Lại nữa, này thiện nam tử! Như con chim cánh vàng có thể nuốt ăn, có thể tiêu hóa tất cả rồng, cá, vàng, bạc, các báu, v.v... chỉ trừ Kim cương nó chẳng thể khiến cho tiêu hóa. Này thiện nam tử! Con chim cánh vàng tử cũng lại như vậy, có thể ăn nuốt, có thể tiêu hóa tất cả chúng sinh, chỉ chẳng thể tiêu hóa được Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như cỏ cây sẵn có ở bờ sông, gặp nước lớn lênh láng thì nổi trôi theo vào với biển cả, chỉ trừ cây dương liễu vì cây ấy mềm mại. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, đều trôi xuôi vào với tử hải, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp! Như Na la diên có thể tiêu diệt, hàng phục tất cả lực sĩ, chỉ trừ gió lớn. Vì sao vậy? Vì không ngăn ngại vậy. Này thiện nam tử! Tử Na la diên cũng lại như vậy, có thể tiêu diệt hàng phục hết tất cả chúng sinh, chỉ trừ Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì không ngăn ngại vậy. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như có người ở trong oán ghét mà trá hiện sự thân thiện, thường truy đuổi nhau như bóng theo hình để dò tìm thuận tiện mà giết chết kẻ oán đó. Kẻ oán kia cẩn thận tự phòng bị chắc chắn nên khiến cho người đó chẳng thể giết được. Này thiện nam tử! Tử oán cũng vậy, thường theo dõi chúng sinh mà muốn giết hại họ, chỉ chẳng thể giết Ðại Bồ tát trụở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì Bồ tát đó chẳng buông lung vậy. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như mưa đá bỗng nhiên tuông xuống Kim cương lớn, phá hoại hết cây thuốc, cây cối, núi rừng, đất cát, gạch, đá, vàng, bạc, lưu ly... tất cả mọi vật, chỉ chẳng thể hủy hoại chân bảo Kim cương. Này thiện nam tử! Mưa Kim cương tử cũng lại như vậy, có thể phá hoại hết tất cả chúng sinh, chỉ trừ Bồ tát Kim Cương trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp! Như chim cánh vàng có thể ăn nuốt các rồng, chỉ chẳng thể ăn nuốt con đã thọ tam qui. Này thiện nam tử! Chim cánh vàng tử cũng lại như vậy, có thể ăn nuốt tất cả vô lượng chúng sinh, chỉ trừ Bồ tát trụ ở ba Ðịnh. Sao gọi là ba Ðịnh? Ðó là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Lại nữa, này Ca Diếp! Phàm nọc độc của con rắn độc Ma La, tuy có chú hay, thuốc tốt thượng diệu nhưng không làm gì được? Chỉ có chú A yết la tinh mới có khiến cho độc trừ khỏi. Này thiện nam tử! Nọc độc của tử độc cũng lại như vậy, tất cả phương thuốc trị độc không gì hiệu nghiệm, chỉ trừ Bồ tát trụ ở chú Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này Ca Diếp! Ví như có người bị vua giận. Người ấy, hoặc có thể dùng lời êm ái tốt lành hay cống dâng của báu thì có thể được thoát khỏi. Này thiện nam tử! Tử vương (vua chết) chẳng vậy, tuy dùng lời êm ái hay tiền của trân bảo mà cống dâng lên, nhưng cũng chẳng được thoát. Này thiện nam tử! Phàm người chết thì ở chỗ hiểm nạn không có của cải lương thực, đi đến chỗ xa mờ mà không có bạn bè, ngày đêm đi mãi chẳng biết bờ cõi, sâu thẳm tối tăm không có đèn sáng. Vào không cửa nẻo mà không có xứ sở, tuy không chỗ đau nhưng chẳng thể trị liệu, qua không ngăn chặn, đến chẳng được thoát, không có sự phá hoại, người thấy sầu độc, chẳng phải là ố sắc (màu sắc xấu bẩn) mà khiến cho người sợ, bầy ở bên thân mà chẳng thể hay biết. Này Ca Diếp! Do những thí dụ này và còn vô lượng vô biên thí dụ khác nên ông phải biết là, tử quả thật là Ðại Khổ. Này Ca Diếp! Ðó gọi là Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát tử khổ.

Này Ca Diếp! Sao gọi là Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn quan sát ái biệt ly khổ? Ái biệt ly khổ có thể là căn bản của tất cả mọi khổ, như kệ nói rằng:

Nhân ái sinh lo Ø Nhân ái sinh sợ

Với ái nếu lìa Có gì lo sợ.

Nhân duyên ái thì sinh ra ưu khổ. Do ưu khổ nên khiến cho chúng sinh sinh ra suy lão. Ái biệt ly khổ như là mạng chung. Này thiện nam tử! Do biệt ly nên có thể sinh ra đủ thứ những khổ vi tế. Nay ta sẽ vì ông phân biệt và hiển thị cho! Này thiện nam tử! Ðời quá khứ, khi con người thọ mạng không lường thì đời có vị vua tên là Thiện Trụ. Bấy giờ, vị vua ấy thời gian làm thân đồng tử, làm thái tử lo liệu việc và lên ngôi vua đều trải qua tám muôn bốn ngàn năm. Trên đỉnh đầu của vua sinh ra một nốt phỏng thịt. Nốt phỏng ấy mềm mại như lụa Ðâu La, mịn màng như Kiếp Bối, dần dần tăng trưởng mà chẳng gây ra hoạn. Ðủ tròn mười tháng nốt phỏng ấy liền mở banh sinh ra một đồng tử. Hình dung đồng tử ấy đoan chính kỳ lạ vô song. Sắc tướng phân minh số một trong loài người. Vua cha vui mừng đặt tên là Ðỉnh Sanh. Vua Thiện Trụ liền đem quốc sự giao phó cho Ðỉnh Sanh, xả bỏ cung điện, vợ con, quyến thuộc, vào núi học đạo trọn tám muôn bốn ngàn năm. Bấy giờ, Ðỉnh Sanh vào ngày mười lăm, ở tại lầu cao tắm gội, thọ trai thì tức thời ở phương Ðông có Kim Luân Bảo. Bánh xe ấy đầy đủ ngàn nan hoa, bầu, vành mà chẳng do thợ mộc chế tạo, tự nhiên thành tựu ứng đến. Ðại vương Ðỉnh Sanh liền nghĩ rằng: “Ta xưa từng nghe tiên ngũ thông nói, nếu vua Sát lợi vào ngày mười lăm ở tại cao lâu, tắm gội, thọ trai, nếu có bánh xe vàng ngàn nan hoa chẳng giảm, đầy đủ bầu, vành mà chẳng do thợ mộc làm, tự nhiên thành tựu ứng đến thì phải biết là vua này liền sẽ được làm Chuyển Luân Thánh Ðế”. Vua lại nghĩ rằng: “Ta nay sẽ thử!” Ông liền dùng tay trái nâng bánh xe báu này, tay phải cầm lư hương, quì gối phải xuống đất mà phát thệ rằng: “Kim Luân Bảo này nếu chân thật chẳng hư dối thì nên như việc làm đạo pháp của Chuyển Luân Thánh Vương đời quá khứ!” Nói lời thề này rồi, Kim Luân Bảo đó bay lên hư không, đi khắp mười phương, rồi trở lại trụ ở tay trái của vua Ðỉnh Sanh. Lúc bấy giờ Vua Ðỉnh Sanh, lòng phát sinh vui mừng, nhảy nhót không lường, lại nghĩ rằng: “Ta nay nhất định làm Chuyển Luân Thánh Vương. Sau ấy chẳng bao lâu, lại có tượng bảo, hình dáng đoan nghiêm như hoa sen trắng với bảy chi chống đất. Vua Ðỉnh Sanh thấy rồi lại nghĩ rằng: “Ta thuở xưa từng nghe tiên ngũ thông nói rằng, nếu vua Chuyển Luân vào ngày mười lăm, ở tại lầu cao, tắm gội, thọ trai mà nếu có tượng bảo hình dáng đoan nghiêm như hoa sen trắng, bảy chi chống đất ứng đến thì phải biết rằng, vị vua này tức là Thánh đế”. Vua lại nghĩ rằng: “Ta nay sẽ thử!” Ông liền nâng lư hương, quì gối phải xuống đất mà phát thệ rằng: “Bạch tượng bảo này nếu chân thật, chẳng hư dối thì nên như việc làm đạo pháp của Chuyển Luân Thánh Vương đời quá khứ”. Nói lời thề này rồi thì Bạch tượng bảo từ sáng đến chiều đi khắp cùng tám phương, đến tận bờ cõi biển cả, rồi trở về chỗ cũ. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh, lòng rất vui mừng, nhảy nhót không lường, lại nghĩ rằng: “Ta nay nhất định là Chuyển Luân Thánh Vương”. Sau ấy chẳng bao lâu, tiếp theo có mã bảo, sắc ngựa ấy xanh biếc đẹp đẽ, bờm, đuôi màu vàng, Vua Ðảnh Sanh thấy vậy liền nghĩ rằng: Ta nghe thuở xưa Tiên Ngũ Thông nói, nếu Vua Chuyển Luân Vương ngày rằm ở trên lầu cao tắm gội, trai tịnh, có ngựa báu sắc xanh, bờm, lông đuôi màu vàng tía đến, thì nên biết đó là Thánh Ðế. Vua lại nghĩ rằng: “Ta nay sẽ thử!” Ông liền cầm lư hương, quì gối phải xuống đất mà phát thệ rằng: “Mã bảo xanh biếc này nếu chân thật, chẳng hư dối thì nên như việc làm đạo pháp của Chuyển Luân Thánh Vương đời quá khứ”. Nói lời thề này rồi thì con Mã bảo xanh biếc đó, từ sáng đến chiều chạy cùng khắp tám phương, đến tận bờ cõi biển cả, rồi trở về ở chỗ cũ. Lúc bấy giờ vua Ðảnh Sanh, lòng rất vui mừng, nhảy nhót không lường, lại nói rằng: “Ta nay nhất định là Chuyển Luân Thánh Vương”. Sau ấy chẳng bao lâu, lại có nữ bảo, hình dung đoan chính vi diệu đệ nhất, chẳng dài, chẳng ngắn, chẳng trắng, chẳng đen, các lỗ chân lông trên thân thể tỏa ra mùi hương chiên đàn, hơi miệng thơm sạch như hoa sen xanh, mắt nữ bảo ấy nhìn thấy xa một do tuần, tai nghe, mũi ngửi cũng lại như vậy. Lưỡi của nữ bảo ấy rộng to, lè ra có thể che cả mặt, hình sắc mịn màng mong manh như lá đồng đỏ, tâm thức thông triết có trí tuệ lớn, đối với các chúng sinh thường có lời nói dịu dàng. Người con gái ấy khi dùng tay chạm vào áo vua thì liền biết thân vua an vui hay bệnh hoạn, cũng biết lòng vua duyên vào đâu. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại nghĩ rằng: “Nếu có người con gái có thể biết được lòng vua tức là nữ bảo”. Sau ấy chẳng bao lâu, ở trong cung vua, tự nhiên mà có ngọc bảo Ma ni, thuần màu xanh lưu ly, lớn như cái bầu của bánh xe, có thể ở trong tối chiếu xa đến một do tuần. Nếu trời tuông mưa mà giọt mưa lớn như trục bánh xe thì thế lực của ngọc này có thể tạo thành táng che lớn che được một do tuần, ngăn trận mưa lớn này, chẳng cho nước mưa lọt qua. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại nghĩ rằng: “Nếu vua Chuyển Luân được ngọc báu này thì nhất định là Thánh Ðế”. Sau ấy chẳng bao lâu, có chủ tạng thần tự nhiên mà xuất hiện với nhiều của báu, giàu to không lường, kho tàng đầy ắp, không gì thiếu thốn. Chủ tạng thần này được nhãn căn mà sức nhìn có thể thấy suốt tất cả kho tàng ẩn chứa sẵn có trong lòng đất, theo sở niệm của vua đều có thể bày biện cho vua. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại muốn thử thách ông ấy, liền ngồi chung thuyền đi vào biển cả và bảo tạng thần rằng: “Ta nay muốn được kỳ trân dị bảo!” Tạng thần nghe rồi liền dùng hai tay khoáy nước biển cả thì mười đầu ngón tay xuất hiện mười bảo tàng, đem dâng lên Thánh vương mà bạch với vua rằng: “Tâu Ðại vương! Cái ngài cần thì ngài tùy ý sử dụng đi! Của ấy còn lại thì phải ném trả cho biển cả”. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh, lòng rất vui mừng, nảy nhót không lường, lại nghĩ rằng: “Ta nay nhất định là Chuyển Luân Thánh Vương”. Sau ấy chẳng bao lâu, có Chủ Binh thần tự nhiên mà xuất hiện. Ông ấy dũng mãnh, thao lược, kế sách, mưu mô đệ nhất, giỏi biết bốn binh chủng. Nếu ông ấy gánh vác việc chiến đấu thì xuất hiện Thánh vương. Nếu ông chẳng gánh vác, thoái lui thì Thánh vương chẳng hiện. Kẻ chưa bị tiêu diệt hàng phục thì ông có thể tiêu diệt, hàng phục. Người đã tiêu diệt hàng phục thì sức có thể thủ hộ. Lúc bấy giờ, vua Ðỉnh Sanh lại nghĩ rằng: “Nếu vua Chuyển Luân được Binh bảo này thì phải biết nhất định là Chuyển Luân Thánh Vương”. Lúc đó, Chuyển Luân Thánh Ðế Ðỉnh Sanh bảo các đại thần rằng: “Các ông phải biết rằng, cõi Diêm Phù Ðề này yên ổn, giàu thịnh, vui sướng. Ta nay đã có bảy báu thành tựu, một ngàn đứa con trai đầy đủ. Ta lại đi đâu, làm gì?” Các bề tôi đáp rằng: “Thưa vâng! Thưa Ðại vương! Cõi Phất Bà Ðề ở phương Ðông còn chưa qui đức, đại vương nay nên đi đến!”. Lúc bấy giờ, Thánh Vương liền cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên không mà đi đến cõi Phất Bà Ðề ở phương Ðông. Nhân dân cõi đó vui mừng qui hóa. Vua lại bảo các đại thần rằng: “Cõi Diêm Phù Ðề và Phất Bà Ðề của ta yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, nhân dân đông đúc đều đến qui hóa, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì? Ở đâu nữa?” Các bề tôi đáp rằng: “Thưa vâng! Thưa đạivương! Cõi Cù Ðà Ni ở phương Tây còn chưa qui đức”. Bấy giờ, Thánh Vương lại cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Cù Ðà Ni. Nhà vua đã đến đó thì nhân dân cõi đó cũng lại qui phục. Vua lại bảo các đại thần rằng: “Cõi Diêm Phù Ðề, Phất Bà Ðề và Cù Ðà Ni này của ta yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, nhân dân đông đúc đều đã qui hóa, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì? Ở đâu?”. Các bề tôi tâu rằng: “Thưa vâng! Thưa Ðại vương! Cõi Uất Ðan Việt ở phương Bắc còn chưa qui hóa!” Bấy giờ, Thánh Vương lại cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Uất Ðan Việt ở phương Bắc. Vua đã đến đó thì nhân dân cõi đó vui mừng qui đức. Vua lại bảo các đại thần rằng: “Bốn thiên hạ của ta yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, nhân dân đông đúc đều đã qui đức, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì? Ở đâu?” Các bề tôi đáp rằng: “Thưa vâng! Thưa Thánh Vương! Cõi trời Ba Mươi Ba thọ mạng rất dài, yên ổn, khoái lạc. Thân hình của trời đó đoan nghiêm không gì sánh, cung điện chỗ ở, giường, ngọa cụ... đều là bảy báu. Trời ấy tự thị thiên phước chưa đến qui hóa. Nay nhà vua nên đến hỏi tội, khiến cho họ qui phục”. Bấy giờ Thánh Vương lại cùng bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không lên cõi trời Ðao Lợi. Vua thấy có một cây mà màu xanh biếc. Thánh vương thấy rồi liền hỏi đại thần rằng: “Ðây là sắc gì?” Ðại thần đáp rằng: “Ðây là cây Ba Lợi Chất Ða La, vào những ngày tháng ba mùa hạ, chư thiên của trời Ðao Lợi thường ở dưới cây ấy vui sướng hưởng thụ lạc”. Vua lại thấy sắc trắng giống như mây trắng, lại hỏi đại thần rằng: “Ðó là sắc gì?” Ðại thần đáp rằng: “Ðó là Thiện Pháp Ðường, chư thiên trời Ðao Lợi thường tập họp trong ấy, bàn luận việc nhân thiên”. Ðến đây, thiên chúa Thích Ðề Hoàn Nhân biết vua Ðỉnh Sanh đã đến ở bên ngoài, liền ra nghênh đón, gặp nhau rồi, nắm tay nhau thăng lên Thiện Pháp Ðường, chia tòa mà ngồi. Lúc đó, hai vua hình dung, tướng mạo như nhau, không có sai biệt, chỉ có cái nhìn là sai khác. Lúc này, Thánh Vương liền sinh ý niệm rằng: “Ta nay chắc có thể đẩy lùi vị vua kia tức là trụ trong cõi trời ấy làm vua trời chăng?” Này thiện nam tử! Lúc bấy giờ, Ðế Thích thọ trì, đọc tụng Kinh điển Ðại Thừa, khai thị, phân biệt vì người khác diễn nói, chỉ có đối với ý nghĩa sâu xa chưa thông đạt hết. Do sức nhân duyên đọc tụng, thọ trì, phân biệt, vì người khác diễn nói rộng rãi này nên có uy đức lớn. Này thiện nam tử! Vua Ðỉnh Sanh đó đối vị Ðế Thích này sinh ra ác tâm xong liền đọa lạc trở lại cõi Diêm Phù Ðề cùng với sự ái niệm, người trời ly biệt, phát sinh ra đại khổ não. Nhà vua lại gặp bệnh dữ, liền mạng chung. Ðế Thích lúc bấy giờ là đức Phật Ca Diếp đó! Vị Chuyển Luân Thánh Vương là thân ta đó! Này thiện nam tử! Ông phải biết, ái biệt ly như vậy thì rất là khổ lắm (đại khổ). Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát còn nhớ sự ái biệt ly khổ của những bậc như vậy đời quá khứ, huống gì là Bồ tát trụ ở Kinh Ðại thừa Ðại Bát Niết Bàn mà sẽ chẳng quan sát sự ái biệt ly khổ của đời hiện tại.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Niết Bàn, quan sát oán tắng hội khổ? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát này quan sát ở địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, trong loài người, trên cõi trời đều có oán tắng hội khổ như vậy. Ví như người quan sát lao ngục, trói buộc, giam giữ, cùm khóa, xiềng xích... lấy làm khổ lớn. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, quan sát năm đường, tất cả loài thọ sinh đều là oán ghét hợp hội rất khổ. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như có người thường sợ sự cùm khóa, xiềng xích của oán gia mà rời bỏ cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, trân bảo, sản nghiệp... trốn chạy xa. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, kinh sợ sinh tử mà tu hành đầy đủ sáu Ba la mật, vào với Niết Bàn. Này Ca Diếp! Ðó gọi là Bồ tát tu hành Kinh Ðại thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát oán tắng hội khổ.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Bồ tát tu hành Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát cầu bất đắc khổ? Cầu là tất cả cầu hết. Cầu hết có hai thứ, một là cầu thiện pháp, hai là cầu bất thiện pháp. Thiện pháp chưa được thì khổ. Ác pháp chưa lìa khỏi là khổ. Ðó là lược nói về năm thịnh ấm khổ. Này Ca Diếp! Ðó gọi là khổ đế.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của đức Phật thì nghĩa này của năm thịnh ấm khổ, chẳng phải vậy. Vì sao vậy? Như đức Phật thuở xưa bảo ông Thích Ma Nam rằng, nếu sắc khổ thì tất cả chúng sinh chẳng nên cầu sắc. Nếu có người cầu thì chẳng gọi là khổ. Như đức Phật bảo các Tỳ kheo rằng, có ba thứ thọ là thọ khổ, thọ lạc và thọ chẳng khổ chẳng lạc. Như đức Phật trước đã vì các Tỳ kheo nói rằng, nếu có người có thể tu hành thiện pháp thì được hưởng thọ lạc. Lại như đức Phật nói rằng, ở trong thiện pháp, sáu thứ tiếp xúc hưởng thọ lạc, như mắt thấy sắc đẹp thì đó gọi là vui (lạc), tai..., mũi..., lưỡi..., thân..., ý nghĩ pháp tốt cũng lại như vậy. Như đức Phật đã nói kệ:

Trì giới được lạc an Thân chẳng thọ mọi khổ

Ngủ nghĩ được bình yên Thức dậy lòng hoan hỷ

Nếu khi thọ mặc ăn Kinh hành mà tu tập

Một mình ở núi rừng Như vậy là tối lạc.

Có thể với chúng sinh Ngày đêm luôn từ ái

Nhân đó được vui thường Chẳng não hại người khác.

Vui thiểu dục, tri túc Vui phân biệt đa văn

Không trước A la hán (chấp trước) Cũng gọi thọ lạc an.

Bồ tát Ma ha tát Ðến bờ kia rốt cùng

Mọi việc đã làm xong Ðó gọi là Tối lạc.

Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói trong các Kinh thì hình tướng của Lạc, nghĩa nó là như vậy. Như lời đức Phật hôm nay thì làm sao sẽ cùng với nghĩa này tương ứng?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông có thể khéo léo hỏi han Như Lai ý nghĩa này! Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh ở trong hạ khổ (khổ ở tầng dưới cùng) mà ngược lại sinh ra lạc tưởng. Vậy nên lời nói của ta hôm nay về khổ tướng cùng với lời nói cũ chẳng khác.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Như lời nói của đức Phật, ở trong hạ khổ sinh ra lạc tưởng thì hạ sinh, hạ lão, hạ bệnh, hạ tử, hạ ái biệt ly, hạ cầu bất đắc, hạ oán tắng hội, hạ ngũ thịnh ấm, những khổ như vậy, v.v... cũng nên có lạc (vui). Thưa đức Thế Tôn! Hạ sinh là gọi ba đường ác, trung sinh là gọi trong loài người, thượng sinh là gọi trên trời. Nếu lại có người hỏi như vầy: “Nếu ở hạ lạc sinh ra khổ tưởng, ở trong trung lạc sinh ra vô khổ lạc tưởng, ở trong thượng lạc sinh ra lạc tưởng thì phải đáp ra sao? Thưa đức Thế Tôn! Nếu trong hạ khổ sinh ra lạc tưởng thì con chưa thấy có người phải chịu một nghìn hình phạt mà ngay khi lần hạ khổ đầu tiên đã sinh ra lạc tưởng. Nhưng nếu chẳng sinh thì sao nói rằng, ở trong hạ khổ mà sinh ra lạc tưởng?

Ðức Phật bảo ngài Ca Diếp rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời nói của ông! Do nghĩa này nên không có lạc tưởng. Vì sao vậy? Vì giống như người kia phải chịu một ngàn hình phạt mà đã chịu một lần hạ khổ rồi liền được thoát thì người đó bấy giờ liền sinh ra lạc tưởng. Vậy nên ông phải biết, ở trong vô lạc (không vui) vọng sinh ra lạc tưởng.

Ngài Ca Diếp nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Người đó chẳng do một lần hạ khổ sinh ra lạc tưởng mà do được thoát nên sinh ra lạc tưởng.

- Này Ca Diếp! Vậy nên lúc xưa ta vì Thích Ma Nam nói rằng, lạc (vui) trong năm ấm là thật chẳng phải hư dối vậy. Này Ca Diếp! Có ba thọ, ba khổ. Ba thọ là thọ lạc, thọ khổ, thọ chẳng khổ chẳng lạc. Ba khổ là khổ khổ, khổ hành, khổ hoại. Này thiện nam tử! Thọ khổ thì gọi là ba khổ, đó là khổ khổ, khổ hành, khổ hoại. Còn hai thọ là gọi khổ hành và khổ hoại. Này thiện nam tử! Do nhân duyên đó nên trong sinh tử thật có thọ lạc. Ðại Bồ tát vì tính của khổ lạc chẳng rời bỏ nhau nên nói rằng, tất cả đều khổ. Này thiện nam tử! Trong sinh tử thật không có lạc mà chỉ những Phật, Bồ tát vì thuận theo thế gian nên nói rằng có Lạc.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Các đức Phật Bồ tát nếu nói thuận theo thế tục thì tức là hư vọng chăng? Như lời nói đức Phật, người tu hành thiện thì thọ quả báo lạc, trì giới thì an lạc, thân chẳng thọ khổ... cho đến mọi việc đã biện thành thì đó là tối lạc. Như vậy việc nói hưởng thọ lạc của các Kinh là hư dối chăng? Nếu là hư vọng thì các đức Phật Thế Tôn từ lâu, ở trong vô lượng trăm ngàn vạn ức A tăng kỳ kiếp, tu đạo Bồ Ðề, đã lìa khỏi vọng ngữ mà hôm nay nóilời nói đó, ý nghĩa ấy ra sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như bài kệ nói về những thọ lạc ở trên tức là căn bản của đạo Bồ Ðề, cũng có thể nuôi lớn Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên ở trong Kinh trước nói về tướng lạc này. Này thiện nam tử! Ví như của cải sinh sống cần thiết của thế gian có thể là nguyên nhân của Lạc nên gọi là Lạc. Ðó là đắm say nữ sắc, uống rượu, đồ ăn ngon, vị ngọt... khi khát được nước, khi lạnh gặp lửa, quần áo, chuỗi ngọc, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, đồng bộc, vàng, bạc, lưu ly, san hô, chân châu, kho tàng, lúa gạo, v.v... Những vật cần dùng của thế gian như vậy, v.v... có thể là nguyên nhân của Lạc. Ðó gọi là Lạc. Này thiện nam tử! Những vật như vậy cũng có thể sinh ra khổ. Nhân vào nữ nhân sinh ra khổ của nam tử, ưu sầu buồn khóc thậm chí mất cả mạng sống. Nhân rượu, vị ngon... cho đến kho tàng, lúa gạo cũng có thể khiến cho con người sinh ra ưu bi, khổ não lớn. Do nghĩa này nên tất cả đều khổ, không có tướng vui. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát đối với tám cái khổ này giải thoát khổ, không có khổ. Này thiện nam tử! Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật.vv... chẳng biết nguyên nhân của Lạc. Vì những người như vậy, ở trong hạ khổ nói có tướng của lạc, chỉ có Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn mới có thể biết nhân của khổ, nhân của lạc này.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ mười một hết –


12/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Hai

PHẨM THÁNH HẠNH Thứ Mười Chín (tiếp theo)

Này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát Tập đế? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát quan sát Tập đế này chính là ấm nhân duyên. Sở dĩ gọi là Tập là trở lại Ái với Hữu. Ái có hai thứ, một là yêu thân mình, hai là yêu những thứ cần dùng. Ái lại có hai thứ, chưa được năm dục thì buộc lòng chuyên cầu, đã cầu được rồi thì kham nhẫn chuyên đắm trước. Ái lại có ba thứ là dục ái, sắc ái, vô sắc ái. Ái lại có ba thứ là nghiệp nhân duyên ái, phiền não nhân duyên ái, khổ nhân duyên ái. Người xuất gia có bốn thứ ái. Những gì là bốn? Ðó là y phục, ẩm thực, ngoạ cụ, thuốc thang. Ái lại có năm thứ là tham trước năm ấm. Theo những thứ cần dùng, ái trước tất cả, phân biệt tính toán vô lượng vô biên. Này thiện nam tử! Ái có hai thứ, một là thiện ái, hai là bất thiện ái. Bất thiện ái là sự cầu của phàm phu ngu si. Thiện pháp ái là cầu của các Bồ tát. Thiện pháp ái lại có hai thứ là chẳng thiện cùng thiện. Cầu Nhị thừa thì gọi là bất thiện. Cầu Ðại Thừa thì gọi là thiện. Này thiện nam tử! Ái của phàm phu thì gọi đó là Tập, chẳng gọi là Ðế. Bồ tát ái thì gọi là Thật Ðế, chẳng gọi là Tập. Vì sao vậy? Vì sở dĩ thọ sinh là vì độ chúng sinh, chứ chẳng do ái mà thọ sinh vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật Thế Tôn, ở trong các kinh còn lại, vì các chúng sinh mà nói nghiệp vì nhân duyên, hoặc nói kiêu mạn, hoặc nói sáu chạm xúc, hoặc nói vô minh vì năm thịnh ấm mà tạo tác nhân duyên. Nay đức Thế Tôn dùng cái nghĩa gì nói Tứ Thánh Ðế mà độc nhất dùng tính của ái làm nhân của năm ấm?

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðúng như lời nói của ông! Các nhân duyên chẳng phải là chẳng phải nhân nhưng chỉ có năm ấm là nhân duyên chủ yếu đối với ái. Này thiện nam tử! Ví như vị đại vương, nếu ra đi tuần du thì đại thần, quyến thuộc đều tùy tùng. Ái cũng như vậy, tùy theo chỗ hành của ái thì các kết này, v.v... cũng lại đi theo. Ví như áo bẩn có bụi bám theo, nếu mặc vào thì bụi ở theo. Ái cũng như vậy, tùy theo chỗ sở ái mà nghiệp kết cũng ở theo. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như đất ẩm thì có thể mọc mầm; ái cũng như vậy, có thể nảy sinh mầm phiền não của tất cả nghiệp. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát sâu ái này thì thường có chín thứ, một là như nợ có dư, hai là như vợ con La Sát, ba là như cành hoa đẹp có rắn độc, bốn là như thức ăn chẳng ưa thích mà buộc phải ăn, năm là như dâm nữ, sáu là như Ma lâu ca tử, bảy là như trúng thương lở thịt, tám là như gió dữ, chín là như sao Tuệ. Sao gọi là như nợ có dư? Này thiện nam tử! Ví như người nghèo cùng nhờ cậy tiền tài của người khác, tuy muốn đền trả hết nhưng còn chưa hết, như buộc tại ngục mà chẳng được thoát. Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy, do có dư khí của ái tập nên chẳng thể thành được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Ðó gọi là như nợ có dư. Này thiện nam tử! Sao gọi là như vợ con La Sát? Này thiện nam tử! Ví như có người được cưới con gái La Sát làm vợ. Con gái La Sát này theo lẽ sinh ra con, sinh rồi liền ăn con, ăn con đã hết lại ăn luôn cả chồng. Này thiện nam tử! Con gái La Sát Ái cũng lại như vậy, theo các chúng sinh sinh ra con thiện căn. Theo con sinh ra mà ăn thịt, con thiện căn đã hết, La Sát lại ăn luôn chúng sinh, khiến cho họ rơi vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là như vợ con gái La Sát. Này thiện nam tử! Sao gọi là như cành hoa đẹp có rắn độc quấn quanh? Ví như có người tính ưa thích hoa, chẳng thấy tai họa rắn độc của cành hoa, liền nắm lấy trước, nắm rồi bị nọc độc của rắn, bị nọc độc liền mạng chung. Tất cả phàm phu cũng lại như vậy, tham hoa năm dục, chẳng thấy tai họa của rắn độc ái mà liền thọ lấy, liền bị nọc độc của rắn ái mà mạng chung, liền đọa vào trong ba đường ác, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là như cành hoa đẹp có độc xà quấn quanh. Này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng tiện ăn mà cưỡng ép ăn? Ví như có người chẳng tiện ăn mà cưỡng ép phải ăn, ăn rồi bị bệnh đau bụng mà chết. Món ăn ái cũng như vậy, chúng sinh trong năm đường bị cưỡng ép ăn tham trước. Do nhân duyên này nên rơi vào ba đường ác, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là cái chẳng tiện ăn mà cướng ép phải ăn. Này thiện nam tử! Sao gọi là như dâm nữ? Ví như người ngu cùng với dâm nữ thông dâm mà dâm nữ kia khéo làm đủ thứ siễm mỵ, hiện bày thân mật để đọat hết tiền tài sở hữu của người đó, tiền tài đã hết lại liền đuổi đi! Dâm nữ ái cũng như vậy, người ngu không trí cùng nó giao thông. Dâm nữ ái này đọat hết tất cả thiện pháp sở hữu của người ấy, thiện pháp đã hết thì xua đuổi khiến cho rơi vào trong ba đường ác, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là như dâm nữ. Này thiện nam tử! Sao gọi là như hạt ma lâu ca? Ví như hạt ma lâu ca, nếu chim ăn rồi theo phân rơi xuống đất, hoặc nhân theo gió thổi đến ở dưới cây. Nó liền sinh trưởng, quấn quanh, trói buộc cây Ni câu la khiến cho cây ấy chẳng tăng trưởng mà khô chết. Hạt Ma lâu ca ái cũng lại như vậy, trói buộc thiện pháp sở hữu của phàm phu chẳng cho tăng trưởng, liền đi đến khô diệt. Ðã khô diệt rồi thì phàm phu sau khi mạng chung rơi vào ba đường ác, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là như hạt ma lâu ca. Này thiện nam tử! Sao gọi là như trúng thương lở thịt. Như người trúng thương lâu sinh ra lở thịt. Người ấy cần phải siêng năng hết lòng trị liệu, chớ sinh ra tâm bỏ phế. Nếu họ sinh lòng bỏ phế thì chỗ thịt lở lớn thêm, nhọt trùng lại sinh ra. Do nhân duyên này nên liền mạng chung. Ghẻ lở năm ấm của người phàm phu ngu si cũng lại như vậy, ái ở trong ấy mà bị lở thịt thì cần phải dốc lòng siêng trị liệu vết thịt lở ái. Nếu họ chẳng trị liệu thì mạng chung liền rơi vào trong ba đường ác, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là như trúng thương lở thịt. Này thiện nam tử! Sao gọi là như gió dữ? Ví như gió dữ có thể san bằng núi gò, nhổ bật cả rễ sâu. Gió dữ ái dục cũng lại như vậy, ở chỗ cha mẹ mà sinh ra ác tâm có thể nhổ bật căn bản Bồ Ðề sâu chắc vô thượng của bậc đại trí Xá Lợi Phất, v.v..., chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là như gió dữ. Này thiện nam tử! Sao gọi là như sao Tuệ? Ví như sao Tuệ xuất hiện dưới vòm trời thì tất cả nhân dân đói kém, bệnh tật, gầy mòn... mắc thêm những khổ não. Sao Tuệ ái cũng lại như vậy, có thể đoạn diệt tất cả hạt giống thiện căn, khiến cho người phàm phu cô độc, khốn cùng, đói kém sinh ra bệnh phiền não, lưu chuyển trong sinh tử, chịu đủ thứ khổ, chỉ trừ Bồ tát. Ðó gọi là sao tuệ. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn quan sát chín thứ ái kết như vậy. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên các người phàm phu có khổ Vô Ðế, Thanh Văn, Duyên Giác có khổ Hữu Khổ Ðế mà không Chân Ðế, các Bồ tát, v.v... lý giải khổ không khổ (vô khổ). Vậy nên không khổ mà có Chân Ðế. Các người phàm phu có Tập Vô Ðế, Thanh Văn, Duyên Giác có tập Hữu Tập Ðế. Các Bồ tát, v.v... lý giải Tập Không Tập (vô Tập). Vậy nên không tập mà có Chân Ðế, Thanh Văn, Duyên Giác có Diệt chẳng phải Chân. Ðại Bồ tát có Diệt có Chân Ðế. Thanh Văn, Duyên Giác có Ðạo chẳng phải Chân. Ðại Bồ tát có Ðạo có Chân Ðế.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn thấy Diệt, thấy Diệt Ðế? Ðó là đoạn trừ tất cả phiền não. Nếu phiền não đoạn trừ thì gọi là Thường. Diệt lửa phiền não thì gọi là tịch diệt. Phiền não diệt rồi thì được hưởng thọ lạc. Các đức Phật, Bồ tát cầu nhân duyên nên gọi là tịnh mà lại chẳng thọ hai mươi lăm cõi hữu nên gọi là xuất thế. Do xuất thế nên gọi là Ngã. Thường đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, v.v... hoặc nam, hoặc nữ, hoặc sinh, trụ, diệt, hoặc khổ, hoặc vui, chẳng khổ chẳng vui, chẳng thủ lấy tướng mạo... nên gọi là rốt ráo Tịch Diệt Chân Ðế. Này thiện nam tử! Bồ tát như vậy trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn mà quan sát Diệt Thánh Ðế. Này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn, quan sát Ðạo Thánh Ðế. Này thiện nam tử! Ví như trong tối nhờ đèn mà thấy được vật lớn, nhỏ. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn, nhờ tám Thánh Ðạo mà thấy tất cả pháp. Ðó là thường - vô thường, hữu vi - vô vi, có chúng sinh - chẳng phải chúng sinh, vật - chẳng phải vật, khổ - lạc, ngã - vô ngã, tịnh - chẳng tịnh, phiền não - chẳng phải phiền não, nghiệp - chẳng phải nghiệp, thật - chẳng thật, thừa - chẳng phải thừa, tri - vô tri, Ðà la phiếu - chẳng phải Ðà la phiếu, cầu na - chẳng phải cầu na, kiến - chẳng phải kiến, sắc - chẳng phải sắc, đạo - chẳng phải đạo, giải - chẳng phải giải...Này thiện nam tử! Bồ tát như vậy, trụ ở Ðại Thừa Ðại Bát Niết Bàn mà quan sát Ðạo Thánh Ðế.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tám Thánh Ðạo là Ðạo Thánh Ðế thì nghĩa chẳng tương ứng. Vì sao vậy? Vì đức Như Lai, hoặc nói rằng, lòng tin là đạo, có thể độ được các lậu. Hoặc có khi ngài nói rằng, Ðạo là chẳng phóng dật đó! Các đức Phật Thế Tôn chẳng phóng dật nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðạo cũng là pháp trợ đạo của Bồ tát. Hoặc có khi ngài nói rằng, tinh tấn là Ðạo. Như ngài bảo A Nan rằng, nếu có người có thể siêng tu tinh tấn thì được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hoặc có khi ngài nói rằng, Ðạo là quán thân niệm xứ, nếu có người buộc lòng mình tinh cần tu tập thân niệm xứ này thì được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hoặc có khi đức Phật nói rằng, Chánh Ðịnh là đạo, như ngài bảo đại đức Ðại Ca Diếp, phàm Chánh định thì chân thật là Ðạo, chẳng phải chẳng Chánh định mà là Ðạo vậy. Nếu vào Chánh định thì mới có thể tư duy sự sinh diệt của năm ấm, chẳng phải chẳng vào định mà có thể tư duy vậy. Hoặc đức Phật nói rằng, một pháp, nếu người tu tập thì có thể tịnh chúng sinh, diệt trừ tất cả lo buồn khổ não, kiến lập được chánh pháp - Pháp đó gọi là Niệm Phật tam muội. Hoặc đức Phật lại nói rằng, tu vô thường tưởng thì đó gọi là Ðạo. Như ngài bảo các Tỳ kheo rằng, có người có thể tu nhiều Vô thường tưởng thì có thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hoặc đức Phật nói rằng, ngồi một mình ở chỗ A lan nhã không tịch mà tư duy thì có thể mau chóng được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hoặc có khi đức Phật nói rằng, vì người diễn nói pháp thì đó gọi là Ðạo. Nếu nghe pháp rồi lưới nghi liền đoạn trừ mà lưới nghi đã đoạn trừ rồi thì được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hoặc có khi đức Phật nói rằng, trì giới là đạo, như ngài đã bảo ngài A Nan, nếu có người tinh cần tu trì cấm giới thì người đó qua khỏi khổ lớn sinh tử. Hoặc có khi đức Phật nói rằng, gần gũi bạn lành thì đó gọi là Ðạo, như ngài bảo ngài A Nan, nếu có người gần gũi bậc thiện tri thức thì an tịnh được giới. Nếu có chúng sinh có thể gần gũi ta thì được phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hoặc có khi đức Phật nói rằng, tu Từ (bi) là Ðạo. Người tu học Từ thì đoạn trừ các phiền não, được chỗ chẳng động (bất động xứ). Hoặc có khi đức Phật nói rằng, trí tuệ chính là Ðạo. Như đức Phật thuở xưa vì Tỳ kheo ni Ba Xà Ba Ðề nói rằng: “Này chị em! Như các Thanh Văn dùng dao trí tuệ có thể đoạn dứt các lậu phiền não của các dòng chảy”. Hoặc có khi đức Phật nói rằng, thí chính là Ðạo. Như thuở trước đức Phật bảo vua Ba Tư Nặc rằng: “Này Ðại vương! Ông phải biết, ta thuở xa xưa làm nhiều việc huệ thí. Do nhân duyên này nên ngày nay được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Thưa đức Thế Tôn! Nếu tám Thánh Ðạo là Ðạo Ðế thì như vậy các kinh điển há chẳng phải là hư vọng ư? Nếu những Kinh đó chẳng phải là hư vọng thì vì duyên gì trong những Kinh đó chẳng nói tám Thánh Ðạo là Ðạo Thánh Ðế. Nếu những Kinh đó chẳng nói thì thuở xưa vì sao đức Như Lai lầm lẫn? Nhưng con nhất định biết các đức Phật Như Lai từ lâu lìa khỏi sự lầm lẫn!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay muốn biết bí mật sở hữu trong Kinh điển vi diệu Ðại Thừa của Bồ tát thì nên hỏi vấn đề đó. Này thiện nam tử! Ðúng vậy, các Kinh điển đều vào Ðạo Ðế! Này thiện nam tử! Như trước ta đã nói, nếu có người tin đạo mà tin đạo như vậy là căn bản của niềm tin, là có thể tá trợ đạo Bồ Ðề. Vậy nên lời nói của ta không có lầm lẫn. Này thiện nam tử! Như Lai giỏi biết vô lượng phương tiện, muốn hóa độ chúng sinh nên tạo tác đủ thứ thuyết pháp như vậy. Này thiện nam tử! Ví như vị lương y nhận biết nguyên nhân đủ thứ bệnh của các chúng sinh, rồi tùy theo sự bệnh hoạn của họ mà vì họ hòa hợp thuốc, cùng sự cấm kỵ của thuốc, chỉ dùng một thứ nước, chẳng ở trong cấm lệ. Hoặc cho uống nước gừng, hoặc nước cam thảo, hoặc nước Tế tân, hoặc nước Hắc thạch mật, hoặc nước A ma lặc, hoặc nước Ni bà la, hoặc nước Bát trú la, hoặc uống nước lạnh, hoặc uống nước nóng, hoặc nước bồ đào, hoặc nước An thạch lựu. Này thiện nam tử! Như vậy vị lương y giỏi biết đủ thứ thuốc trị bệnh hoạn của chúng sinh tuy có nhiều nước cấm nhưng chẳng còn lệ thuộc. Như Lai cũng vậy, giỏi biết phương tiện, nhưng đối với pháp tướng tùy theo các chúng sinh mà phân biệt rộng nói đủ thứ danh tướng. Những chúng sinh kia theo lời nói mà thính thọ, thọ rồi tu tập đoạn trừ phiền não, như người bệnh kia theo lời dạy của lương y nên bệnh hoạn được tiêu trừ. Lại nữa, này thiện nam tử! Như có người giỏi lý giải mọi lời nói ở trong đại chúng. Những đại chúng này bị sự bức bách mà nóng khát, hoặc phát lên tiếng rằng: “Ta muốn uống nước! Ta muốn uống nước!” Người giỏi giải đó tức thời dùng nước trong mát, tùy theo chủng loại của những người khát ấy mà nói rằng: “Nước đây!”, hoặc nói rằng: “Ba ni!”, hoặc nói rằng: “Uất đặc!”, hoặc nói rằng: “Ta lợi lam!”, hoặc nói rằng: “Bà lợi!”, hoặc nói rằng: “Bà Gia!”, hoặc nói rằng: “Cam Lộ!”, hoặc nói rằng: “Sữa trâu!”. Người đó dùng vô lượng tên của nước như vậy mà vì đại chúng nói lên. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, dùng một Thánh Ðạo vì các Thanh Văn diễn nói đủ thứ, từ tín căn, v.v... đến tám Thánh Ðạo. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như người thợ bạc vàng bậc thầy dùng một thứ vàng mà tùy ý tạo tác đủ thứ chuỗi ngọc, như là kẹp, khóa, vòng ngọc, vòng xuyến, thoa cài tóc, mũ trời, dấu ấn cánh tay... Tuy có sự sai biệt chẳng đồng như vậy nhưng chẳng lìa khỏi vàng. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, dùng một Phật đạo tùy theo các chúng sinh, phân biệt đủ thứ mà vì họ nói cho. Hoặc nói một thứ, như là chư Phật một đạo không hai. Phật lại nói hai thứ, như là Ðịnh, Tuệ. Lại nói ba thứ, như là thấy trí tuệ. Lại nói bốn thứ, như là thấy đạo, tu đạo, không học đạo, Phật đạo. Lại nói năm thứ, như là tín hành đạo, pháp hành đạo, tín giải thoát đạo, kiến đáo đạo, thân chứng đạo. Lại nói sáu thứ, như là Tu Ðà Hoàn đạo, Tư Ðà hàm đạo, A na hàm đạo, A la hán đạo, Bích Chi Phật đạo, Phật đạo. Lại nói bảy thứ, như là niệm giác phận, trạch pháp giác phận, tinh tấn giác phận, hỷ giác phận, trừ giác phận, định giác phận, xả giác phận. Lại nói tám thứ, đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Lại nói chín thứ, đó là tám Thánh đạo và tín. Lại nói mười thứ, đó là mười lực. Lại nói mười một thứ, đó là mười lực và đại từ. Lại nói mười thứ, đó là mười lực và đại từ, đại bi. Lại nói mười ba thứ, đó là mười lực và đại từ, đại bi, niệm Phật tam muội. Lại nói mười sáu thứ, đó là mười lực, đại từ, đại bi, niệm Phật tam muội và ba chánh niệm xứ sở đắc của Phật. Lại nói hai mươi đạo, đó là mười lực, bốn vô sở úy, đại từ, đại bi, niệm Phật tam muội và ba chánh niệm xứ. Này thiện nam tử! Ðạo này là một thể, Như Lai ngày xưa vì chúng sinh nên phân biệt đủ thứ. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như nhân từ một thứ lửa đốt cháy lên mà được đủ thứ tên, như là lửa cây, lửa cỏ, lửa trấu, lửa rơm, lửa phân trâu ngựa... Này thiện nam tử! Phật đạo cũng vậy, chỉ một mà không hai, nhưng vì chúng sinh nên phân biệt đủ thứ. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như một thứ nhận thức mà phân biệt nói thành sáu thứ: Nếu đến với mắt thì gọi là nhãn thức (nhận biết của mắt)... cho đến ý thức cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ðạo cũng như vậy, chỉ một mà không hai, nhưng Như Lai vì giáo hóa các chúng sinh nên phân biệt ra đủ thứ. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như việc thấy của mắt về một sắc thì gọi là màu sắc. Cái nghe của tai thì gọi là Thanh (tiếng). Cái ngửi của mũi thì gọi là Hương. Cái nếm của lưỡi thì gọi là Vị. Cái hay biết của thân thì gọi là Xúc. Này thiện nam tử! Ðạo cũng như vậy, chỉ một mà không hai, nhưng Như Lai vì muốn giáo hóa chúng sinh nên phân biệt ra đủ thứ. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên Bát Thánh Ðạo phận tên là Ðạo Thánh Ðế. Này thiện nam tử! Bốn Thánh Ðế này, các đức Phật Thế Tôn theo thứ lớp nói đến. Do nhân duyên này nên vô lượng chúng sinh đã được khỏi sinh tử.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Một thuở trước đây, đức Phật ở trong rừng Thi Thủ bên bờ sông Hằng, bấy giờ, đức Như Lai lấy một ít lá cây rồi bảo các Tỳ kheo rằng: “Số lá cầm trong tay ta hôm nay nhiều hay số lá của tất cả cây cỏ mọc trên đất nhiều?” Các thầy Tỳ kheo bạch rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Số lá của tất cả cây cỏ mọc trên đất nhiều chẳng thể kể xiết, còn số lá của đức Như Lai nắm thì ít chẳng đủ nói”. “Này các Tỳ kheo! Sự hiểu biết của ta về tất cả pháp như những cỏ cây mọc khắp trên đất, nhưng những điều vì các chúng sinh tuyên nói thì như số lá nắm trong tay”. Ðức Thế Tôn, bấy giờ đã nói lời như vậy. Ðức Như Lai đã hiểu rõ vô lượng các pháp, nếu người vào bốn Ðế thì tức là đã nói, nếu người chẳng vào thì cần có năm Ðế?

Ðức Phật khen ngài Ca Diếp:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðiều hỏi của ông hôm nay có thể đem lại lợi ích, yên ổn, khoái lạc cho vô lượng chúng sinh. Này thiện nam tử! Như vậy các pháp đều đã thâu nhiếp tại trong bốn Ðế.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Những pháp như vậy, nếu ở tại bốn Ðế thì vì sao đức Như Lai xướng rằng, chẳng nói?

Ðức Phật nói rằng:

- Này thiện nam tử! Tuy lại vào trong nhưng còn chẳng gọi là nói. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì biết bốn Ðế có hai thứ trí, một là trung trí, hai là thượng trí. Trung trí là trí của Thanh Văn, Duyên Giác. Thượng trí là trí của các đức Phật, Bồ tát. Này thiện nam tử! Biết các ấm là khổ thì gọi là trung trí. Phân biệt các ấm có vô lượng tướng, đều là các khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là thượng trí. Này thiện nam tử! Những nghĩa như vậy, ta đối với những Kinh đó, trọn chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết các nhập thì gọi đó là cửa (môn), cũng gọi là Khổ. Ðó gọi là Trung trí. Phân biệt các nhập có vô lượng tướng đều chính là khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, ta đối với những Kinh đó, cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết các Giới thì gọi đó là phận, cũng gọi là tánh, cũng gọi là khổ. Ðó gọi là Trung trí. Phân biệt các giới có vô lượng tướng đều chính là các khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Này thiện nam tử! Những nghĩa như vậy, ta đối với Kinh đó, cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tướng hoại của sắc thì đó gọi là Trung trí. Phân biệt các sắc có vô lượng tướng đều chính là các khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, ta đối với Kinh đó, cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tướng thọ giác thì gọi là Trung Trí. Phân biệt các thọ có vô lượng tướng giác thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Này thiện nam tử! Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tưởng thủ tướng thì đó gọi là Trung trí. Phân biệt tưởng đó có vô lượng tướng thủ (lấy) thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tướng hành tác thì đó gọi là Trung trí. Phân biệt hành này có vô lượng tướng tác thì chẳng phải là sự hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Này thiện nam tử! Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tướng phân biệt của thức thì đó gọi là Trung trí. Phân biệt thức đó có vô lượng tướng biết thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Này thiện nam tử! Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết nhân duyên của ái có thể sinh ra năm ấm thì đó là Trung trí. Một người khởi lên ái vô lượng vô biên thì Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể biết. Nếu có thể biết sự khởi lên những ái như vậy của tất cả chúng sinh thì đó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết diệt phiền não thì đó gọi là Trung trí. Phân biệt phiền não chẳng thể xưng kể và Diệt cũng như vậy, chẳng thể xưng kể thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tướng của Ðạo đó có thể lìa khỏi phiền não thì đó gọi là Trung trí. Phân biệt tướng Ðạo có vô lượng vô biên và sự lìa khỏi phiền não cũng vô lượng vô biên thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết Thế Ðế thì gọi là Trung trí. Phân biệt Thế Ðế vô lượng vô biên chẳng thể xưng kể thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam tử! Biết tất cả hành vô thường, các pháp vô ngã, Niết Bàn tịch diệt là Ðệ nhất nghĩa thì đó gọi là Trung trí. Biết Ðệ nhất nghĩa vô lượng vô biên, chẳng thể xưng kể thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Ðó gọi là Thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với Kinh đó, ta cũng chẳng nói đến.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Lời nói của ngài về Thế Ðế, Ðệ nhất nghĩa thì nghĩa ấy ra sao? Thưa đức Thế Tôn! Trong Ðệ nhất nghĩa có Thế đế không? Trong Thế Ðế có Ðệ nhất nghĩa không? Như trong ấy có thì tức là Nhất Ðế. Như trong ấy không thì sẽ chẳng phải là lời nói của đức Như Lai hư dối sao?

- Này thiện nam tử! Thế đế tức là Ðệ nhất nghĩa đế!

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu vậy thì không có hai Ðế.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Có phương tiện khéo thuận theo chúng sinh thì nói có hai Ðế. Này thiện nam tử! Nếu thuận lời nói thì có hai thứ, một là thế pháp, hai là xuất thế pháp. Này thiện nam tử! Như sự hiểu biết của người xuất thế thì gọi là Ðệ nhất nghĩa đế mà của người đời thì gọi là Thế đế. Này thiện nam tử! Năm ấm hòa hợp thì xưng rằng: mỗ giáp (đại từ chỉ một thứ gì đó). Phàm phu chúng sinh theo sự xưng hô ấy thì đó là Thế đế. Lý giải các ấm không có tên, gọi mỗ giáp, lìa khỏi các ấm cũng không có tên gọi mỗ giáp. Người xuất thế có thể biết đúng như tánh tướng ấy thì gọi là Ðệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam tử! Hoặc lại có pháp có tên có thật, hoặc lại có pháp có tên không thật. Này thiện nam tử! Pháp có tên không thật thì tức là Thế đế, pháp có tên có thật thì đó là Ðệnhất nghĩa đế. Này thiện nam tử! Như ngã, chúng sinh, thọ mạng, tri kiến, dưỡng dục, trượng phu, tác giả, thọ giả, bốc cháy khi nóng, thành của Càn thát bà, lông rùa, sừng thỏ, bánh xe lửa xoay vần, các ấm, giới, nhập... thì đó gọi là Thế đế. Khổ, Tập, Diệt, Ðạo gọi là Ðệ nhất nghĩa đế. Này thiện nam tử! Thế pháp có năm thứ, một là danh thế, hai là cú thế (cú: câu), ba là phược thế, bốn là pháp thế, năm là chấp trước thế. Này thiện nam tử! Sao gọi là Danh thế? Trai, gái, bình, áo, xe cộ, nhà cửa, v.v... những vật như vậy thì đó gọi là Danh thế. Sao gọi là Cú thế? Một bài kệ bốn câu. Những bài kệ như vậy, v.v... thì đó gọi là Cú thế. Sao gọi là Phược thế? Vén cuốn, hợp lại, ràng buộc, câu kết, trói buộc, chắp tay... đó gọi là Phược thế. Sao gọi là Pháp thế? Như minh chùy tập họp Tăng, nghiêm tiếng trống răn bảo binh sĩ, thổi tù và báo biết thời gian... đó gọi là Pháp thế. Sao gọi là Chấp trước thế? Như trông xa thấy có người mặc nhiễm y thì sinh tư tưởng chấp trước rằng, chính là Sa môn, chẳng phải là Bà la môn. Thấy người có dây bện đeo ngang trên thân thì liền sinh ý niệm rằng, chính là Bà la môn, chẳng phải là Sa môn. Ðó gọi là Chấp trước thế. Này thiện nam tử! Như vậy gọi là năm thứ thế pháp. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh đối với năm thứ thế pháp như vậy mà lòng không điên đảo, biết đúng như thật thì đó gọi là Ðệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam tử! Hoặc đốt, hoặc cắt, hoặc chết, hoặc hoại... thì đó gọi là Thế đế. Không đốt, không cắt, không chết, không hoại... thì đó gọi là Ðệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam tử! Có tám tướng khổ gọi là Thế đế. Không sinh, không già, không bệnh, không chết, không ái biệt ly, không oán tắng hội, không cầu bất đắc, không năm thịnh ấm thì đó gọi là Ðệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như một người có nhiều khả năng. Nếu khi người ấy chạy thì gọi là người chạy. Nếu khi người ấy thu hoạch, cắt cỏ thì lại gọi là người ấy cắt cỏ. Nếu người ấy làm đồ ăn uống thì gọi là người nấu ăn. Nếu người ấy chế tác gỗ cây thì gọi là thợ mộc, khi rèn luyện vàng, bạc thì gọi là thợ vàng bạc. Như vậy một người có nhiều tên gọi, pháp cũng như vậy, kỳ thật là một mà có nhiều tên. Nương nhân cha mẹ hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Thế đế. Do mười hai nhân duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Ðệ nhất nghĩa đế.

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Cái nói rằng Thật đế thì nghĩa ấy ra sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nói rằng Thật đế thì gọi là Chân Pháp! Này thiện nam tử! Nếu pháp chẳng phải chân thật thì chẳng gọi là Chân đế. Này thiện nam tử! Thật đế thì không điên đảo mà không điên đảo thì mới gọi là Thật đế. Này thiện nam tử! Thật đế thì không có hư vọng. Nếu có hư vọng thì chẳng gọi là Thật đế. Này thiện nam tử! Thật đế thì gọi là Ðại Thừa. Chẳng phải Ðại Thừa thì chẳng gọi là Thật đế. Này thiện nam tử! Thật đế là lời nói của Phật, chẳng phải là lời nói của ma. Nếu là lời nói của ma, chẳng phải là lời nói của Phật thì chẳng gọi là Thật đế. Này thiện nam tử! Thật đế là một đạo thanh tịnh, không có hai vậy. Này thiện nam tử! Có Thường, có Lạc, có Ngã, có Tịnh thì đó gọi là nghĩa của Thật đế.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu lấy chân thật làm Thật đế thì pháp chân thật tức là Như Lai hư không, Phật tính. Nếu như vậy thì Như Lai hư không cùng với Phật tính không có sai biệt!

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Có Khổ có đế có thật, có Tập có đế có thật, có Diệt có đế có thật, có Ðạo có đế có thật. Này thiện nam tử! Như Lai chẳng phải khổ, chẳng phải đế mà là thật. Hư không chẳng phải khổ, chẳng phải đế mà là thật. Phật tính chẳng phải khổ, chẳng phải đế mà là thật. Này Văn Thù Sư Lợi! Cái gọi rằng Khổ là tướng vô thường, là tướng có thể đoạn. Ðó là Thật đế. Tính của Như Lai chẳng phải khổ, chẳng phải vô thường, chẳng phải tướng có thể đoạn. Vậy nên Như Lai là thật. Hư không, Phật tính cũng lại như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Cái gọi rằng Tập là có thể khiến cho năm ấm hòa hợp mà sinh ra, cũng gọi là khổ, cũng gọi là vô thường, là tướng có thể đoạn. Ðó là Thật tướng. Này thiện nam tử! Như Lai chẳng phải là tính của Tập, chẳng phải là nhân của ấm, chẳng phải tướng có thể đoạn. Vậy nên Như Lai là thật. Hư không, Phật tính cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Cái nói rằng Diệt là gọi phiền não diệt, cũng thường và vô thường. Sở đắc của Nhị thừa gọi là vô thường. Sở đắc của chư Phật thì gọi là Thường, cũng gọi là Chứng pháp. Ðó là Thật đế. Này thiện nam tử! Tính của Như Lai chẳng gọi là Diệt, có thể diệt phiền não, chẳng phải thường, vô thường, chẳng gọi là chứng biết, thường trụ không biến dị. Vậy nên Như Lai là Thật. Hư không, Phật tính cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ðạo có thể đoạn phiền não, cũng thường vô thường, là pháp có thể tu. Ðó gọi là Thật đế. Như Lai chẳng phải đạo có thể đoạn phiền não, chẳng phải thường, vô thường, chẳng phải pháp có thể tu mà thường trụ bất biến. Vậy nên là Thật. Hư không, Phật tính cũng lại như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Nói rằng Chân thật thì tức là Như Lai. Như Lai thì tức là Chân thật. Chân thật thì tức là Hư không. Hư không thì tức là Chân thật. Chân thật thì tức là Phật tính. Phật tính thì tức là Chân thật. Này Văn Thù Sư Lợi! Có khổ thì có nhân của khổ, có hết khổ, có đối tác của khổ mà Như Lai thì chẳng phải khổ... chẳng phải là đối tác của khổ. Vậy nên Như Lai là Thật, chẳng gọi là đế. Hư không, Phật tính cũng lại như vậy. Khổ là hữu vi, hữu lậu, không vui (vô lạc) còn Như Lai chẳng phải hữu vi, chẳng phải hữu lậu, sáng rỡ an vui, là thật chẳng phải là đế.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói đức Phật, chẳng điên đảo thì gọi là Thật đế. Nếu như vậy thì trong bốn đế có bốn điên đảo chăng? Trong đso nếu có thì tại sao nói không có điên đảo, gọi là thật đế, còn tất cả điên đảo thì chẳng gọi là thật?

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Tất cả điên đảo đều vào Khổ đế. Như tất cả chúng sinh có lòng điên đảo thì gọi là điên đảo. Này thiện nam tử! Ví như có người chẳng thọ lời dạy bảo của cha mẹ, bậc tôn trưởng hay tuy có thọ mà chẳng thể thuận theo tu hành thì người như vậy gọi là điên đảo. Như vậy điên đảo chẳng phải chẳng là khổ mà tức là khổ vậy.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Như lời nói của đức Phật, chẳng hư vọng thì tức là Thật đế. Nếu vậy thì phải biết hư vọng chẳng phải Thật đế.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Tất cả hư vọng đều vào Khổ đế. Như có chúng sinh lừa dối người khác. Do nhân duyên này nên đọa vào địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Những pháp như vậy, v.v... thì gọi là hư vọng. Như vậy hư vọng chẳng phải chẳng là khổ mà tức là khổ vậy. Thanh Văn, Duyên Giác, các đức Phật Thế Tôn xa lìa những hành động đó nên chẳng gọi là hư vọng. Như vậy hư vọng là sự đoạn trừ của các đức Phật và hàng Nhị thừa nên gọi là Thật đế.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Như lời nói của đức Phật, Ðại Thừa là Thật đế, thì phải biết Thanh Văn, Bích Chi Phật thừa là chẳng thật!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Văn Thù Sư Lợi! Hàng Nhị thừa kia là thật cũng chẳng thật. Thanh Văn, Duyên Giác đoạn các phiền não thì gọi là thật. Vô thường chẳng thường trụ là pháp biến dị thì đó gọi là chẳng thật.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Như lời đức Phật nói, nếu lời nói đức Phật gọi là thật thì phải biết lời nói của ma là chẳng thật. Thưa đức Thế Tôn! Như lời nói của ma thì Thánh đế có nhiếp lấy không?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Văn Thù Sư Lợi! Lời nói của ma thì được sự nhiếp lấy của hai đế là Khổ và Tập. Phàm là tất cả sự phi pháp, phi luật chẳng thể làm cho con người được lợi ích thì dù cho trọn ngày tuyên nói cũng không có người thấy Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt tu Ðạo. Ðó gọi là hư vọng. Như vậy hư vọng thì gọi là lời nói của ma.

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Như lời đức Phật nói, một đạo thanh tịnh, không có hai. Những ngoại đạo, v.v... cũng lại nói rằng: “Ta có một đạo thanh tịnh, không có hai”. Nếu nói rằng một đạo là Thật đế thì cùng với ngoại đạo kia có gì sai biệt? Nếu không sai biệt thì chẳng nên nói rằng, một đạo thanh tịnh.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Các ngoại đạo, v.v... có Khổ đế, Tập đế, không có Diệt đế, Ðạo đế. Chúng ở trong chẳng phải Diệt mà sinh ra Diệt tưởng, ở trong chẳng phải Ðạo mà sinh ra Ðạo tưởng, ở trong chẳng phải Quả mà sinh ra Quả tưởng, ở trong chẳng phải Nhân mà sinh ra Nhân tưởng. Do nghĩa này nên ngoại đạo kia không có “một đạo thanh tịnh không hai”.

Ngài Văn Thù Sư Lợi thưa rằng:

- Như lời đức Phật nói, có Thường, có Lạc, có Ngã, có Tịnh là thật nghĩa thì các ngoại đạo, v.v... nên có thật đế, trong Phật pháp thì không. Vì sao vậy? Vì những bọn ngoại đạo cũng lại nói rằng, các hành là Thường. Sao gọi là Thường? Vừa ý hay chẳng vừa ý thì các nghiệp báo đều phải thọ nhận, chẳng mất vậy. Vừa ý thì gọi là quả báo của thập thiện, chẳng vừa ý là quả báo của mười điều bất thiện. Nếu nói rằng, các hành đều vô thường mà người tác nghiệp ở đây đã diệt thì còn ai ở đó để thọ quả báo? Do nghĩa này nên các hành là Thường, nhân duyên sát sinh gọi là Thường. Thưa đức Thế Tôn! Nếu nói rằng, các hành đều là vô thường thì người giết (năng sát) người bị giết (sở sát) cả hai đều vô thường. Nếu vô thường thì ai ở địa ngục mà thọ tội báo. Nếu nói rằng, nhất định có người thọ báo ở địa ngục thì phải biết các hành thật chẳng phải vô thường. Thưa đức Thế Tôn! Buộc lòng chuyên niệm cũng gọi là thường như là điều nghĩ ngợi mười năm cho đến trăm năm cũng chẳng quên mất. Vậy nên đó là thường. Nếu vô thường thì việc thấy trước kia ai nhớ? Ai nghĩ? Do nhân duyên này nên tất cả các hành chẳng phải là vô thường vậy. Thưa đức Thế Tôn! Tất cả sự nhớ tưởng cũng gọi là thường. Có người lúc trước nhìn thấy các tướng chân, tay, đầu, cổ, v.v... của người khác thì về sau nếu gặp liền nhớ biết lại người đó. Nếu vô thường thì tướng cũ nên diệt đi! Thưa đức Thế Tôn! Những nghiệp sở tác do tu tập lâu, hoặc mới theo học, hoặc trải qua ba năm hay trải qua năm năm... rồi nhiên hậu mới hiểu biết hoàn thiện nên gọi là Thường. Thưa đức Thế Tôn! Pháp tính toán, từ một đến hai, từ hai đến ba... cho đến trăm ngàn. Nếu vô thường thì số một ban đầu nên diệt mà số một ban đầu nếu diệt thì cái gì lại đến hai? Như vậy là thường thì số một hết không có số hai? Do một chẳng diệt nên được đến hai... cho đến trăm, ngàn. Vậy nên gọi là Thường. Thưa đức Thế Tôn! Như phép đọc tụng, tụng một A Hàm, đến hai A Hàm cho đến ba, bốn A Hàm. Như A Hàm ấy vô thường thì việc đọc tụng nhất định chẳng đến bốn. Do nhân duyên tăng trưởng việc đọc tụng đó nên gọi là thường. Thưa đức Thế Tôn! Bình, áo, xe cộ... như của người mắc nợ, hình tướng đất đai, núi, sông, cây, rừng, thảo dược, lá cây mà chúng sinh trị bệnh đều là thường cũng lại như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Tất cả ngoại đạo đều nói lời này: Các hành là thường. Nếu đó là thường thì tức là Thật đế. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói rằng: “Có Lạc”. Làm sao mà biết vậy? Người thọ quả báo nhất định được vừa ý! Thưa đức Thế Tôn! Phàm người thọ lạc nhất định được sự an vui đó. Ðó là vua trời Ðại Phạm, trời Ðại Tự Tại, Thích Ðề Hoàn Nhân, trời Tỳ Nưỡu và những người, trời. Do nghĩa này nên nhất định có Lạc. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo nói rằng: “Có Lạc!” có thể khiến cho chúng sinh sinh ra cầu mong, người đói cầu ăn, người khát cầu uống, người lạnh cầu ấm, người nóng cầu mát, người cùng cực cầu dứt đi, người bệnh cầu khỏi bệnh, người tham dục cầu sắc... Nếu không có Lạc thì những người kia vì nhân duyên gì mà cầu? Do có người cầu nên biết là có Lạc. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói rằng: “Bố thí có thể được Lạc. Người thế gian ưa bố thí cho Sa môn, các Bà la môn bần cùng khốn khổ quần áo, đồ ăn, thức uống, ngọa cụ, thuốc chữa bệnh, voi, ngựa, xe cộ, hương bột, hương xoa, mọi thứ hoa, nhà cửa, nơi y chỉ, đèn sáng... Họ làm sự ban cho đủ thứ như vậy, v.v... là để cho đời sau của mình thọ được quả báo vừa ý. Vậy nên phải biết là nhất định có Lạc”. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói rằng: “Do nhân duyên nên phải biết là có Lạc. Như là người thọ lạc thì có nhân duyên nên gọi là Lạc xúc. Nếu người không có lạc thì làm sao được nhân duyên. Như không có sừng thỏ thì không có nhân duyên. Có nhân duyên của lạc thì biết là có lạc. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói rằng: “Thọ lạc có thượng, trung, hạ nên phải biết là có lạc. Hạ thọ lạc là Thích Ðề Hoàn Nhân. Trung thọ lạc là vua trời Ðại Phạm. Thượng thọ lạc là trời Ðại tự Tại. Do có thượng, trung, hạ như vậy nên phải biết là có lạc”. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói rằng: “Có Tịnh! Vì sao vậy? Nếu không có tịnh thì chẳng nên khởi dục mà nếu khởi dục thì phải biết là có Tịnh”. Họ lại nói rằng: “Vàng, bạc, trân bảo, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, chân châu, bích ngọc, kha bối, suối chảy, ao tắm, đồ ăn, thức uống, quần áo, hoa hương, hương bột, hương xoa, ánh sáng đèn, đuốc, v.v... những vật như vậy đều là tịnh pháp. Lại nữa, có tịnh! Gọi năm ấm thì tức là tịnh khí chứa đựng các tịnh vật như là người, trời, các tiên, A la hán, Bích Chi Phật, Bồ tát, chư Phật. Do nghĩa này nên gọi năm ấm đó là tịnh”. Thưa đức Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói rằng: “Có Ngã! Vì có sự nhìn thấy thì có thể tạo tác vậy. Ví như có người vào nhà của người thợ gốm, tuy chẳng thấy thân người thợ gốm, nhưng vì thấy bánh xe, sợi dây nên nhất định biết nhà ấy là thợ gốm. Ngã cũng như vậy, mắt thấy sắc rồi thì nhất định biết có Ngã. Nếu không Ngã thì ai có thể thấy sắc, nghe tiếng... cho đến xúc pháp cũng lại như vậy. Lại nữa, làm sao được biết có Ngã? - Nhân tướng nên biết! Những gì là tướng? Hít thở, nhìn ngắm, thọ mạng, lòng sai khiến, thọ các khổ vui, tham cầu, sân nhuế, v.v... những pháp như vậy đều là tướng của Ngã. Vậy nên phải biết là nhất định có Ngã. Lại nữa, có Ngã thì có thể phân biệt vị. Có người ăn trái cây, mới nhìn thấy đã biết vị. Vậy nên phải biết là nhất định có Ngã. Lại nữa, làm sao biết có ngã vậy? Do nghề nghiệp chấp tác vậy. Cầm liềm có thể cắt cỏ, cầm búa có thể bửa củi, cầm bình thì đựng nước, cầm xe thì có thể điều khiển, v.v... những việc như vậy thì Ngã có thể chấp tác. Vậy nên phải biết là nhất định có Ngã. Lại nữa, làm sao biết có Ngã vậy? Ngay lúc sinh ra là muốn được bú sữa nhân vốn đã quen vậy. Do đó phải biết là nhất định có Ngã. Lại nữa, làm sao biết có Ngã vậy? Hòa hợp lợi ích cho chúng sinh khác vậy. Ví như bình, quần áo, xe cộ, ruộng nhà, núi rừng, cây cối, voi, ngựa, trâu, dê... Những vật như vậy nếu hòa hợp thì có lợi ích. Bên trong này năm ấm cũng lại như vậy, mắt, v.v...các căn có hòa hợp thì lợi ích Ngã. Vậy nên phải biết là nhất định có Ngã. Lại nữa, làm sao biết có Ngã vậy? Có pháp ngăn chận vậy. Như có vật thì có sự ngăn chận, nếu vật không có thì không có ngăn chận. Nếu có ngăn chận thì biết là có Ngã. Vậy nên phải biết là nhất định có Ngã. Lại nữa, làm sao biết có Ngã vậy? Bạn - chẳng phải bạn, thân - chẳng phải thân chẳng phải là bạn bè, chánh pháp - tà pháp cũng chẳng phải bạn bè, trí cùng chẳng phải trí cũng chẳng phải bạn bè, Sa môn - chẳng phải Sa môn, Bà la môn - chẳng phải Bà la môn, con - chẳng phải con, ngày - chẳng phải ngày, đêm - chẳng phải đêm, ngã - chẳng phải ngã... những pháp như vậy là bạn, chẳng phải bạn. Vậy nên phải biết là nhất định có Ngã”. Thưa đức Thế Tôn! Những ngoại đạo, v.v... đã bằng đủ thứ để nói lên có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì phải biết là nhất định có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Thưa đức Thế Tôn! Do nghĩa này nên các ngoại đạo, v.v... cũng được nói rằng: “Ngã có chân đế”.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu có Sa môn, Bà la môn có Thường, có Lạc, có Ngã, có Tịnh thì đó chẳng phải là Sa môn, chẳng phải Bà la môn. Vì sao vậy? Vì mê ở sinh tử, lìa khỏi bậc Ðại Ðạo Sư Nhất Thiết Trí. Như vậy những Sa môn, Bà la môn đắm chìm trong các dục, thiện pháp tổn hao vậy. Những ngoại đạo này bị sự trói buộc tại ngục tù tham dục, sân nhuế, ngu si mà kham nhẫn yêu thích. Những ngoại đạo này tuy biết nghiệp quả, mình làm mình chịu nhưng mà còn chẳng thể xa lìa ác pháp. Những ngoại đạo này chẳng phải là tự sống bằng chánh pháp, chánh mạng. Vì sao vậy? Vì không có lửa trí tuệ nên chẳng thể tiêu trừ. Những ngoại đạo này tuy muốn tham trước năm dục thượng diệu nhưng nghèo nàn thiện pháp, chẳng siêng tu tập. Những ngoại đạo này tuy muốn đi đến trong Chánh giải thoát mà trì giới cụ túc thành tựu. Những ngoại đạo này tuy muốn cầu lạc mà chẳng thể cầu nhân duyên của lạc. Những ngoại đạo này tuy lại rất ghét tất cả những khổ nhưng hành động của họ chưa có thể xa lìa những nhân duyên của khổ. Những ngoại đạo này tuy bị sự trói buộc của rắn độc bốn đại nhưng còn hành động buông lung, chẳng thể cẩn thận. Những ngoại đạo này bị sự che phủ của vô minh, xa lìa bạn lành, ưa ở tại ba cõi trong lửa lớn vô thường rực cháy mà chẳng thể ra khỏi. Những ngoại đạo này gặp những bệnh phiền não khó khỏi mà lại chẳng cầu bậc lương y đại trí. Những ngoại đạo này vào đời vị lai sẽ phải lặn lội trên đường xa xôi, nguy hiểm vô biên mà chẳng biết dùng vốn liếng thiện pháp để tự trang nghiêm. Những ngoại đạo này thường bị sự hủy hoại của tai họa thâm độc của dâm dục mà ngược lại còn ôm giữ sương độc của năm dục. Những ngoại đạo này sân nhuế rừng rực mà ngược lại gần gũi bạn ác. Những ngoại đạo này thường bị sự che phủ của vô minh mà ngược lại còn tìm kiếm pháp tà ác. Những ngoại đạo này thường bị sự lừa dối mê hoặc của tà kiến mà ngược lại còn ở trong đó sinh ra tư tưởng thân thiện. Những ngoại đạo này mong được ăn trái ngọt mà lại trồng hạt đắng. Những ngoại đạo này ở trong nhà tối phiền não mà ngược lại xa lìa ánh sáng của ngọn đuốc đại trí. Những ngoại đạo này bị bệnh khát phiền não mà lại uống nước dục mặn. Những ngoại đạo này chìm nổi trong dòng sông lớn sinh tử vô biên mà lại xa lìa bậc lái thuyền Vô thượng. Những ngoại đạo này mê hoặc, điên đảo nói rằng, các hành thường. Các hành nếu thường là không có điều này.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ mười hai hết -


13/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Ba

PHẨM THÁNH HẠNH Thứ Mười Chín (tiếp theo)

Này thiện nam tử! Ta xem các hành đều là vô thường. Làm sao biết được vậy? Vì do nhân duyên vậy. Nếu có các pháp từ nhân duyên sinh ra thì biết là vô thường. Các ngoại đạo đó không có một pháp nào mà chẳng từ nhân duyên sinh ra. Này thiện nam tử! Phật tính không sinh, không diệt, không đi, không lại, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải nhân sở tác, chẳng phải không nhân sở tác, chẳng phải tác, chẳng phải tác giả, chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải có danh, chẳng phải không danh, chẳng phải danh, chẳng phải sắc, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải sự nhiếp trì của ấm, giới, nhập. Vậy nên gọi là thường. Này thiện nam tử! Phật tính tức là Như Lai, Như Lai tức là pháp, pháp tức là Thường. Này thiện nam tử! Thường tức là Như Lai, Như Lai tức là Tăng, Tăng tức là Thường. Do nghĩa này nên pháp từ nhân duyên sinh chẳng gọi là Thường. Các ngoại đạo này không có một pháp nào mà chẳng từ nhân duyên sinh. Này thiện nam tử! Những ngoại đạo này chẳng thấy Phật tính, Như Lai và Pháp. Vậy nên lời nói ra của ngoại đạo đều là nói dối, không có chân đế. Những người phàm phu trước thấy bình, quần áo, xe cộ, nhà cửa, thành quách, sông nước, núi rừng, nam nữ, voi ngựa, trâu dê... rồi sau thấy tương tợ thì liền nói rằng Thường. Phải biết thật ra những cái ấy chẳng phải là thường vậy. Này thiện nam tử! Tất cả hữu vi đều là vô thường. Hư không thì vô vi, vậy nên là Thường. Phật tính thì vô vi, vậy nên là Thường. Hư không tức là Phật tính, Phật tính tức là Như Lai, Như Lai tức là Vô vi, Vô vi tức là Thường. Thường tức là Pháp, Pháp tức là Tăng, Tăng tức là Vô vi, Vô vi tức là Thường. Này thiện nam tử! Pháp hữu vi thường có hai thứ là sắc pháp và phi sắc pháp. Phi sắc pháp là tâm, tâm số pháp. Sắc pháp là đất, nước, lửa, gió. Này thiện nam tử! Tâm gọi là Vô thường. Vì sao vậy? Vì tính của nó vin vào duyên mà tương ứng, phân biệt. Này thiện nam tử! Tính nhãn thức khác... cho đến tính ý thức khác. Vậy nên Vô thường. Này thiện nam tử! Cảnh giới của sắc khác... cho đến cảnh giới của pháp khác. Vậy nên vô thường. Này thiện nam tử! Tương ứng của nhãn thức khác... cho đến tương ứng của ý thức khác. Vậy nên vô thường. Này thiện nam tử! Tâm nếu thường thì nhãn thức ứng với xúc duyên tất cả pháp. Này thiện nam tử! Nếu nhãn thức khác... cho đến ý thức khác thì biết là vô thường. Do pháp tương tợ mà từng niệm, từng niệm sinh diệt nên người phàm phu thấy rồi cho đó là Thường. Này thiện nam tử! Các nhân duyên có thể phá hoại nhau nên cũng gọi là vô thường. Như là nhân mắt, nhân màu sắc, nhân ánh sáng, nhân suy nghĩ mà sinh ra nhãn thức (sự nhận biết của mắt). Khi nhĩ thức sinh thì các nhân duyên đều khác, chẳng phải là nhân duyên của nhãn thức... cho đến sự khác của ý thức cũng lại như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Phá hoại các hành thì nhân duyên khác nên tâm gọi là Vô thường. Như là tu Vô thường là tâm khác, tu Khổ, Không, Vô ngã là tâm khác. Tâm nếu Thường thì nên dùng Thường tu Vô thường mà còn chẳng được dùng để quan sát Khổ, Không, Vô ngã huống là lại được dùng để quan sát Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Do nghĩa này nên trong pháp của ngoại đạo chẳng thể nhiếp lấy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Này thiện nam tử! Ông phải biết rằng, tâm pháp nhất định là vô thường. Lại nữa, này thiện nam tử! Tâm tính khác nên gọi là Vô thường. Như là tâm tính của Thanh Văn khác, tâm tính của Duyên Giác khác, tính của tâm chư Phật khác. Tâm của tất cả ngoại đạo có ba thứ, một là tâm xuất gia, hai là tâm tại gia, ba là tâm xa lìa tại gia. Lạc tướng ứng với tâm khác, khổ tương ứng với tâm khác, chẳng khổ chẳng lạc tương ứng với tâm khác, tham dục tương ứng với tâm khác, sân nhuế tương ứng với tâm khác, ngu si tương ứng với tâm khác. Tâm của tất cả ngoại đạo cũng khác nhau. Như là ngu si tương ứng với tâm khác, nghi hoặc tương ứng với tâm khác, tà kiến tương ứng với tâm khác, uy nghi tiến dừng, tâm ấy cũng khác. Này thiện nam tử! Tâm nếu thường thì cũng lại chẳng thể phân biệt các sắc như là màu xanh, vàng, đỏ, trắng, tía... Này thiện nam tử! Nếu tâm thường thì các pháp nhớ nghĩ chẳng nên quên mất. Này thiện nam tử! Tâm nếu thường thì sự đọc tụng chẳng nên tăng trưởng. Lại nữa, này thiện nam tử! Tâm nếu thường thì chẳng nên nói rằng đã tác, nay tác, sẽ tác (làm). Nếu có đã tác, nay tác, sẽ tác thì phải biết rằng là tâm nhất định vô thường. Này thiện nam tử! Tâm nếu Thường thì không oán, không thân, chẳng phải oán, chẳng phải thân. Tâm nếu thường thì chẳng nên nói rằng, vật của ta hay vật của người khác, hoặc tử hay sinh. Tâm nếu Thường thì tuy có sở tác nhưng chẳng nên tăng trưởng. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên phải biết tính của tâm mỗi mỗi đều khác biệt mà có khác biệt thì phải biết là vô thường. Này thiện nam tử! Ta nay ở trong pháp chẳng phải sắc này, diễn nói vô thường, nghĩa ấy đã hiển hiện, lại phải vì ông nói sắc vô thường! Sắc này vô thường vốn không có sinh mà sinh rồi thì diệt vậy. Bên trong thân khi ở thai thì Ca la la vốn không có sinh mà sinh rồi thì biến đổi. Bên ngoài mầm chồi, thân cây vốn cũng không sinh mà sinh rồi thì biến đổi. Vậy nên phải biết, tất cả sắc pháp đều vô thường. Này thiện nam tử! Cái có bên trong sắc tùy lúc mà biến đổi, khi Ca la la khác, khi an phù đà khác, khi dà na khác, khi bế thủ (khép tay) khác, khi những nốt phỏng khác, khi mới sinh khác, khi con trẻ khác, khi đồng tử khác... cho đến khi già, mỗi mỗi đều đổi khác. Sở dĩ bên ngoài sắc cũng lại như vậy, mầm chồi khác, thân khác, cành khác, lá khác, hoa khác, trái khác. Lại nữa, này thiện nam tử! Bên trong vị cũng khác, từ khi Ca la la cho đến già, mỗi mỗi đều biến đổi khác. Bên ngoài vị cũng vậy, thân, cành, lá, hoa, quả vị đều khác. Khi Ca la la thì lực khác... cho đến khi già thì lực khác. Khi Ca la la thì hình dáng khác... cho đến khi già thì hình dáng cũng khác. Khi Ca la la thì quả báo khác... cho đến khi già thì quả báo cũng khác. Khi Ca la la thì tên gọi khác... cho đến khi già thì tên gọi cũng khác. Cái gọi là sắc bên trong hoại rồi thì trở lại hòa hợp nên biết là vô thường. Những cây cối bên ngoài cũng hoại rồi trở lại hợp, nên biết là vô thường. Theo thứ lớp mà sinh ra dần dần, nên biết là vô thường. Theo thứ lớp sinh ra, từ khi Ca la la cho đến khi già; theo thứ lớp sinh ra, từ mầm chồi cho đến trái, hạt. Vậy nên biết là vô thường. Các sắc có thể diệt, nên biết là vô thường. Khi Ca la la diệt khác... cho đến khi già diệt khác; khi mầm chồi diệt khác... cho đến khi quả trái diệt khác. Vậy nên biết là vô thường. Kẻ phàm phu vô trí thấy sinh ra tương tợ thì cho là thường. Do nghĩa này nên gọi là Vô thường mà nếu vô thường thì tức là Khổ mà nếu là khổ thì tức là bất tịnh. Này thiện nam tử! Ta nhân ông Ca Diếp trước hỏi việc này mà đối với ông đó đã đáp.

Lại nữa, này Thiện nam tử! Các hành vô ngã. Này thiện nam tử! Tóm lại tất cả pháp gọi là sắc chẳng phải sắc, sắc chẳng phải Ngã vậy. Vì sao vậy? Vì sắc có thể phá, có thể hoại, có thể xé, có thể bẻ, có sinh ra, có tăng trưởng, còn Ngã thì chẳng thể phá, hoại, xé, bẻ và sinh trưởng. Do nghĩa này nên biết sắc chẳng phải Ngã. Pháp chẳng phải sắc cũng lại chẳng phải Ngã. Vì sao vậy? Vì nhân duyên vậy! Này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do chuyên niệm nên biết có ngã thì tính của chuyên niệm thật chẳng phải là Ngã vậy. Nếu dùng chuyên niệm làm tính của Ngã thì việc của quá khứ có quên mất mà có quên mất nên nhất định biết là Vô ngã. Này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do tưởng nhớ nên biết có Ngã thì không nhớ tưởng nên nhất định biết là Vô ngã. Như nói, thấy người tay có sáu ngón liền hỏi rằng, ta trước thấy nhau ở đâu vậy? Nếu có Ngã thì chẳng nên hỏi nữa mà đã hỏi nhau nên nhất định biết là Vô ngã. Này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do có ngăn chận nên biết có Ngã thì này thiện nam tử! Do có ngăn chận nên nhất định biết là Vô ngã. Như nói rằng, Ðiều Ðạt nhất định chẳng nói rằng, chẳng phải Ðiều Ðạt. Ngã cũng lại như vậy, nếu nhất định là Ngã thì nhất định chẳng ngăn chận Ngã. Do ngăn chận Ngã nên nhất định biết là vô ngã. Nếu do ngăn chận nên biết có Ngã thì ông hôm nay chẳng ngăn chận nên nhất định Vô ngã. Này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do bạn, chẳng phải bạn nên biết có Ngã thì do không bạn nên ứng với không có Ngã. Có pháp không bạn, như là Như Lai, hư không, Phật tính. Ngã cũng như vậy, thật không có bạn. Do nghĩa này nên nhất định biết là Vô ngã. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do tên gọi nên biết có Ngã thì trong pháp Vô ngã cũng có tên của Ngã, như người nghèo hèn có tên gọi là Giàu Sang. Như nói rằng, Ngã chết. Nếu Ngã chết thì Ngã giết Ngã mà thật ra Ngã chẳng thể giết. Giả gọi là giết Ngã cũng như người thấp mà tên là cao. Do nghĩa này nên nhất định biết là Vô ngã. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo khi sanh cần sữa thì nên biét là có ngã. Này thiện nam tử! Nếu có Ngã thì tất cả trẻ con chẳng nên nắm lấy phân bẩn, rắn, thuốc độc. Do nghĩa này nên nhất định biết là Vô ngã. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh đối với ba pháp đều có đẳng trí, đó là dâm dục, ăn uống, khủng bố. Vậy nên có ngã. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do tướng mạo nên biết có Ngã thì này thiện nam tử! Có tướng mạo nên vô ngã mà vô tướng nên cũng vô ngã. Như khi người ngủ, chẳng thể tiến, dừng, cúi, ngữa, nhìn ngó, chẳng biết khổ, vui thì chẳng ứng có Ngã. Nếu do tiến, dừng, cúi, ngữa, nhìn ngó mà biết có Ngã thì người gỗ máy cũng ứng có Ngã. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, chẳng tiến, chẳng dừng, chẳng cúi, chẳng ngữa, chẳng nhìn, chẳng ngó, chẳng khổ, chẳng vui, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, chẳng hành... Như Lai như vậy là chân thật có Ngã. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu các ngoại đạo do thấy người khác ăn trái cây mà trong miệng chảy nước miếng nên biết là có Ngã thì, này thiện nam tử! Do nhớ nghĩ nên thấy thì chảy nước miếng mà nước miếng chẳng phải là Ngã, Ngã cũng chẳng phải nước miếng, chẳng phải vui, chẳng phải buồn, chẳng phải cười, chẳng phải khóc, chẳng phải nằm, chẳng phải dậy, chẳng phải đói, chẳng phải no... Do nghĩa này nên nhất định biết là Vô ngã. Này thiện nam tử! Những ngoại đạo này si dại như đứa trẻ con không phương tiện tuệ, chẳng thể thông đạt Thường cùng Vô thường, khổ - lạc, tịnh - bất tịnh, ngã - vô ngã, thọ mạng - chẳng phải thọ mạng, chúng sinh - chẳng phải chúng sinh, thật - chẳng phải thật, có - chẳng phải có. Ở trong Phật pháp, họ thủ lấy được chút ít nên hư vọng cho là có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh mà thật chẳng biết Thường Lạc Ngã Tịnh. Như người mù bẩm sinh chẳng biết màu của sữa liền hỏi người khác rằng: “Màu sữa giống màu gì?” Người khác đáp rằng: “Màu trắng như vỏ sò!” Người mù lại hỏi: “Màu sữa này như tiếng vỏ sò sao?” Ðáp rằng: “Chẳng phải vậy!” Lại hỏi: “Màu vỏ sò giống cái gì vậy?” Ðáp rằng: “Giống như hạt gạo lúa nước”. Người mù lại hỏi: “Màu sữa mềm mại như hạt gạo lúa nước sao? Hạt gạo lúa nước thì lại tương tợ cái gì?” Ðáp rằng: “Giống như mưa tuyết!” Người mù lại nói rằng: “Hạt gạo lúa nước kia lạnh như tuyết sao? Tuyết lại tương tợ cái gì?” Ðáp rằng: “Giống như con hạc trắng!” Người mù bẩm sinh tuy nghe bốn thứ ví dụ như vậy nhưng nhất định chẳng thể biết được màu sắc chân thật của sữa. Những ngoại đạo này cũng lại như vậy, nhất định chẳng thể nhận thức được Thường Lạc Ngã Tịnh. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên Ngã, trong Phật pháp, có Chân thật đế chứ chẳng phải ở trong ngoại đạo.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Hy hữu quá! Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai đến hôm nay sắp Bát Niết Bàn mới lại chuyển pháp luân Vô thượng, mới làm sự phân biệt Chân đế như vậy!

Ðức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Ông nay sao lại còn đối với Như Lai sinh ra Niết Bàn tưởng? Này thiện nam tử! Như Lai chân thật là thường trụ bất biến, chẳng Bát Niết Bàn! Này thiện nam tử! Nếu có người cho ta là Phật, ta thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, ta tức là Pháp mà Pháp là cái của ta, ta tức là Ðạo mà Ðạo là cái của ta, ta tức là Thế Tôn mà Thế Tôn là cái của ta, ta tức là Thanh Văn mà Thanh Văn là cái của ta, ta có thể nói pháp khiến cho người khác thỉnh thọ, ta chuyển pháp luân còn người khác thì chẳng thể chuyển... thì Như Lai nhất định chẳng kể là như vậy. Vậy nên Như Lai chẳng chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Nếu có người hư vọng cho là như vầy: Ngã tức là mắt mà mắt là Ngã sở (cái thuộc về Ngã), tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Ngã tức là sắc mà sắc là Ngã sở... cho đến Pháp cũng như vậy. Ngã tức là đất mà đất là ngã sở, nước, lửa, gió, v.v... cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, Ngã tức là tín mà tín là ngã sở, Ngã là đa văn mà đa văn là ngã sở, Ngã là Ðàn Ba la mật mà Ðàn Ba la mật tức là ngã sở, Ngã là Thi Ba la mật mà Thi Ba la mật tức là ngã sở, Ngã là Sằn đề Ba la mật mà Sằn đề Ba la mật tức là ngã sở, Ngã là Tỳ lê gia Ba la mật mà Tỳ lê gia Ba la mật tức là ngã sở, Ngã là Thiền Ba la mật mà Thiền Ba la mật tức là ngã sở, Ngã là Bát Nhã Ba la mật mà Bát Nhã Ba la mật tức là ngã sở, Ngã là bốn niệm xứ mà bốn niệm xứ tức là ngã sở, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác phận, tám Thánh đạo phận cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như Lai nhất định chẳng cho là như vậy. Vậy nên Như Lai chẳng chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Nếu nói rằng, thường trụ không có biến dị thì sao nói rằng, Phật chuyển pháp luân? Vậy nên nay ông chẳng nên nói rằng, Như Lai mới lại chuyển pháp luân Vô thượng. Này thiện nam tử! Ví như nhân mắt duyên với sắc, duyên với ánh sáng, duyên với tư duy rồi nhân duyên hòa hợp được sinh ra nhãn thức. Này thiện nam tử! Mắt chẳng nghĩ rằng, ta có thể sinh ra thức. Từ sắc cho đến tư duy nhất định chẳng nghĩ rằng, ta sinh ra nhãn thức. Nhãn thức cũng lại chẳng khởi ý nghĩ rằng, ta có thể tự sinh ra. Này thiện nam tử! Như vậy những pháp do nhân duyên hòa hợp được gọi là thấy (kiến). Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, nhân sáu Ba la mật, ba mươi bảy pháp trợ Bồ Ðề hiểu biết rõ các pháp, lại nhân yết hầu, lưỡi răng, môi, miệng, lời nói, âm thanh để vì ông Kiều Trần Như nói pháp đầu tiên, gọi là Chuyển pháp luân. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng gọi là Chuyển pháp luân vậy. Này thiện nam tử! Nếu chẳng chuyển thì tức gọi là Pháp mà Pháp tức là Như Lai. Này thiện nam tử! Ví như nhân đồ lấy lửa, nhân cái dùi, nhân tay, nhân phân trâu khô mà được sinh ra lửa. Ðồ lấy lửa cũng chẳng nói rằng, ta có thể sinh ra lửa. Cái dùi, tay, phân trâu khô đều chẳng nghĩ rằng, ta có thể sinh ra lửa. Lửa cũng chẳng nói rằng, ta có thể tự sinh ra. Như Lai cũng vậy, nhân sáu Ba la mật... cho đến Kiều Trần Như thì gọi là Chuyển pháp luân. Như Lai cũng lại chẳng sinh ý niệm rằng, ta Chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Nếu chẳng sinh thì đó gọi là Chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân này tức gọi là Như Lai. Này thiện nam tử! Ví như nhân cao sữa, nhân nước, nhân quậy đảo, nhân bình, nhân sợi dây, nhân tay người bắt lấy mà được có ra váng sữa. Váng sữa cũng chẳng nói rằng, ta có thể tự có ra. Cho đến tay của người cũng chẳng có thể nghĩ rằng ta có thể sinh ra ván sữa. Ván sữa cũng chẳng nói rằng ta có thể tự sinh.Do mọi duyên hòa hợp nên được có ra váng sữa (tô). Như Lai cũng vậy, nhất định chẳng nghĩ rằng, ta chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Nếu chẳng có ra thì đó gọi là Chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân này tức là Như Lai. Này thiện nam tử! Ví như nhân hạt giống, nhân đất, nhân nước, nhân lửa, nhân gió, nhân phân, nhân thời tiết, nhân con người tác nghiệp mà mầm được sinh ra. Này thiện nam tử! Hạt giống cũng chẳng nói rằng, ta có thể sinh ra mầm... cho đến con người tác nghiệp cũng chẳng nghĩ rằng, ta có thể sinh ra mầm. Mầm cũng chẳng nói rằng, ta có thể tự sinh ra. Như Lai cũng vậy, nhất định chẳng nghĩ rằng, ta chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Nếu chẳng làm thì đó gọi là Chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân này tức là Như Lai. Này thiện nam tử! Ví như nhân cái trống, nhân hư không, nhân da, nhân con người, nhân dùi trống hòa hợp phát ra tiếng. Trống chẳng nghĩ rằng, ta có thể phát ra tiếng... cho đến cái dùi trống cũng như vậy. Tiếng cũng chẳng nói rằng, ta có thể tự sinh ra. Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy, nhất định chẳng nghĩ rằng, ta chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Chuyển pháp luân thì gọi là chẳng làm mà chẳng làm thì tức là chuyển pháp luân. Chuyển pháp luân tức là Như Lai. Này thiện nam tử! Chuyển pháp luân thì mới là cảnh giới của các đức Phật Thế Tôn, chẳng phải là sự hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Hư không chẳng phải sinh, chẳng phải ra, chẳng phải làm, chẳng phải tạo, chẳng phải pháp hữu vi. Như Lai cũng vậy, chẳng phải sinh, chẳng phải ra, chẳng phải tác, chẳng phải tạo, chẳng phải pháp hữu vi. Như Như Lai tính, Phật tính cũng vậy, chẳng phải sinh, chẳng phải ra, chẳng phải tác, chẳng phải tạo, chẳng phải pháp hữu vi. Này thiện nam tử! Lời nói của các đức Phật Thế Tôn có hai thứ, một là lời nói thế gian, hai là lời nói xuất thế gian. Này thiện nam tử! Như Lai vì những Thanh Văn, Duyên Giác nói ra lời nói thế gian, vì các Bồ tát nói lời nói xuất thế gian. Này thiện nam tử! Những đại chúng này lại có hai hạng, một là hạng cầu Tiểu thừa, hai là hạng cầu Ðại Thừa. Ta ngày trước, ở thành Ba la Nại vì các Thanh Văn chuyển Pháp Luân. Hôm nay, bắt đầu ở thành Câu Thi Na này ta vì các Bồ tát chuyển Ðại Pháp Luân. Lại nữa, này thiện nam tử! Lại có hai hạng người là người trung căn và người thượng căn. Ta vì người trung căn, ở thành Ba La Nại chuyển pháp luân. Ta vì người thượng căn, hạng vua voi trong loài người, như Bồ tát Ca Diếp, v.v... nay ở thành Câu Thi Na này chuyển bánh xe Ðại pháp. Này thiện nam tử! Kẻ hạ căn cùng cực thì Như Lai nhất định chẳng vì họ mà chuyển pháp luân. Người hạ căn cùng cực tức là nhất xiển đề. Lại nữa, này thiện nam tử! Người cầu Phật đạo lại có hai hạng, một là hạng trung tinh tấn, hai là hạng thượng tinh tấn. Ở thành Ba la Nại, ta vì hạng trung tinh tấn mà chuyển pháp luân. Hôm nay ở thành Câu Thi Na này, ta vì hạng thượng tinh tấn mà chuyển bánh xe Ðại pháp. Lại nữa, này thiện nam tử! Ngày trước, ở thành Ba La Nại kia, lần đầu tiên ta chuyển pháp luân thì tám vạn trời, người được quả Tu Ðà Hoàn. Hôm nay, ở thành Câu Thi Na này, có tới tám mươi vạn ức người chẳng thoái chuyển đối với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại nữa, này thiện nam tử! Ở thành Ba La Nại vua trời Ðại Phạm cúi đầu thỉnh ta chuyển bánh xe pháp. Hôm nay, ở thành Câu Thi Na này, Bồ tát Ca Diếp cúi đầu thỉnh ta chuyển bánh xe Ðại pháp. Lại nữa, này thiện nam tử! Thuở trước, ở thành Ba La Nại kia, khi ta chuyển pháp luân thì nói về Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã. Hôm nay, ở thành Câu Thi Na này, khi ta chuyển pháp luân thì nói về Thường Lạc Ngã Tịnh.

Lại nữa, này thiện nam tử! Thuở trước, ở thành Ba La Nại kia, khi ta chuyển pháp luân thì âm thanh phát ra vang đến cõi trời Phạm. Hôm nay, ở thành Câu Thi Na, khi Như Lai chuyển pháp luân thì âm phát ra vang khắp cùng thế giới chư Phật nhiều bằng hai mươi lần cát sông Hằng ở phương Ðông và phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới cũng lại như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Các đức Phật Thế Tôn phàm có điều nói ra đều gọi là chuyển pháp luân vậy. Này thiện nam tử! Ví như Luân bảo (báu bánh xe) sở hữu của vị Thánh vương, đối với người chưa hàng phục thì có thể hàng phục, kẻ đã hàng phục thì có thể khiến cho yên ổn. Này thiện nam tử! Các đức Phật Thế Tôn phàm đã nói pháp thì cũng lại như vậy, người vô lượng phiền não chưa điều phục thì có thể khiến cho điều phục, người đã điều phục thì khiến cho họ sinh ra thiện căn. Này thiện nam tử! Ví như Luân bảo sở hữu của vị Thánh vương có thể tiêu diệt tất cả oán tặc. Như Lai diễn pháp cũng lại như vậy, có thể khiến cho tất cả các giặc phiền não đều tịch tịnh hết. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như Luân bảo sở hữu của vị Thánh vương hồi chuyển lên xuống. Như Lai nói pháp cũng lại như vậy, có thể khiến cho những chúng sinh ác của đường dưới sinh lên cõi người, trời... cho đến Phật đạo. Này thiện nam tử! Vậy nên nay ông chẳng nên khen rằng, Như Lai ở đây lại chuyển pháp luân.

Lúc bấy giờ, ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con đối với nghĩa này chẳng phải là chẳng biết. Sở dĩ con hỏi là muốn lợi ích cho các chúng sinh! Thưa đức Thế Tôn! Con từ lâu đã biết, chuyển pháp luân quả thật là cảnh giới của các đức Phật Thế Tôn, chẳng phải là sự theo kịp của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Ðó gọi là việc lành Thánh hạnh của Bồ tát trụ ở Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Lại do ý nghĩa gì nên gọi là Thánh hạnh?

- Này thiện nam tử! Thánh là gọi các đức Phật Thế Tôn. Do nghĩa này nên gọi là Thánh hạnh!

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu là sở hạnh của các đức Phật thì chẳng phải là hạnh có thể tu hành của hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát!

- Này thiện nam tử! Những vị Thế Tôn đó an trụ ở Ðại Bát Niết Bàn này mà làm như vậy để khai thị, phân biệt, diễn nói nghĩa ấy! Do nghĩa này nên gọi là Thánh hạnh. Hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ tát nghe như vầy rồi có thể phụng hành nên gọi là Thánh hạnh. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát này được hạnh đó rồi thì được trụ ở Vô Sở Úy Ðịa. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát được trụ ở Vô Sở Úy Ðịa như vậy thì chẳng còn sợ tham dục, sân nhuế, ngu si, sinh, già, bệnh, chết nữa, cũng lại chẳng sợ những đường ác, địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Này thiện nam tử! Ác có hai thứ, một là A tu la, hai là trong loài người. Trong loài người có ba loại ác, một là nhất xiển đề, hai là bài báng kinh điển Phương Ðẳng, ba là phạm bốn trọng cấm. Này thiện nam tử! Trụ ở trong Ðịa này, các Bồ tát, v.v... nhất định chẳng sợ rơi vào trong những ác như vậy cũng lại chẳng sợ Sa môn, Ba la mật, ngoại đạo tà kiến, Thiên ma Ba Tuần, cũng lại chẳng sợ sinh ở hai mươi lăm cõi hữu. Vậy nên Ðịa này gọi là Vô Sở Úy. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát trụ ở Vô Úy Ðịa được hai mươi lăm tam muội hoại hai mươi lăm cõi hữu. Này thiện nam tử! Các Ðại Bồ tát ấy được Vô Cấu tam muội có thể hoại Ðịa ngục hữu, được Vô Thoái tam muội có thể hoại súc sinh hữu, được Tâm lạc tam muội có thể hoại Ngã quỉ hữu, được Hoan hỷ tam muội có thể hoại A tu la hữu, được Nhật quang tam muội có thể đoạn Phất Bà Ðề hữu, được Nguyệt quang tam muội có thể đoạn Cù Gia Ni hữu, được Nhiệt viêm tam muội có thể đoạn Uất Ðan Việt hữu, được Như huyễn tam muội có thể đoạn Diêm Phù Ðề hữu, được Nhất thiết pháp bất động tam muội có thể đoạn Tứ Thiền Xứ hữu, được Nan phục tam muội có thể đoạn Tam Thập Tam Thiên Xứ hữu, được Duyệt Ý tam muội có thể đoạn Viêm Ma Thiên hữu, được Thanh sắc tam muội có thể đoạn Ðâu Suất Thiên hữu, được Hoàng sắc tam muội có thể đoạn Hóa Lạc Thiên hữu, được Xích sắc tam muội có thể đoạn Tha Hóa Tự Tại Thiên hữu, được Bạch sắc tam muội có thể đoạn Sơ Thiền hữu, được Chủng chủng tam muội có thể đoạn Phạm Thiên Vương hữu, được Song tam muội có thể đoạn Nhị Thiền hữu, được Lôi âm tam muội có thể đoạn Tam Thiền hữu, được Chú vũ tam muội có thể đoạn Tứ Thiền hữu, được Như hư không tam muội có thể đoạn Vô Tưởng hữu, được Chiếu Kinh (gương) tam muội có thể đoạn Tịnh Cư A na hàm hữu, được Vô ngại tam muội có thể đoạn Không Xứ hữu, được Thường tam muội có thể đoạn Thức Xứ hữu, được Lạc tam muội có thể đoạn Bất Dụng Xứ hữu, được Ngã tam muội có thể đoạn Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ hữu. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Bồ tát được hai mươi lăm tam muội đoạn trừ hai mươi lăm cõi hữu. Này thiện nam tử! Hai mươi lăm tam muội như vậy gọi là những vua tam muội. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát vào những vua tam muội như vậy, nếu muốn thổi tan vua núi Tu Di thì có thể theo ý mình, muốn biết ý nghĩ trong lòng của những chúng sinh sẵn có của ba ngàn đại thiên thế giới, cũng có thể biết hết, muốn đem số chúng sinh sẵn có của ba ngàn đại thiên thế giới vào trong một lỗ chân lông của thân mình thì có thể theo ý mình mà cũng khiến cho chúng sinh không có cảm tưởng bị dồn ép, muốn hóa làm vô lượng chúng sinh khiến cho đầy ắp trong ba ngàn đại thiên thế giới thì cũng có thể làm theo ý, có thể phân chia một thân ra làm nhiều thân, rồi lại hợp nhiều thân làm một thân. Bồ tát tuy tác khởi như vậy nhưng lòng không có sự nhiễm trước giống như hoa sen. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát được vào những vua tam muội như vậy rồi liền được trụ ở Tự Tại Ðịa. Bồ tát trụ ở Tự Tại Ðịa này được sức tự tại, tùy theo chỗ muốn sinh liền được vãng sinh. Này thiện nam tử! Ví như vị Thánh Vương thống lĩnh bốn thiên hạ, đi đâu tùy ý không thể chướng ngại. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, tất cả chỗ sinh nếu muốn sinh thì theo ý vãng sinh. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát, nếu thấy tất cả chúng sinh của địa ngục có thể giáo hóa khiến cho trụ ở thiện căn thì Bồ tát liền vãng sinh vào trong ấy. Bồ tát tuy sinh nhưng chẳng phải do nghiệp quả xưa mà do nhân duyên lực của Bồ tát trụ Tự Tại Ðịa nên sinh ra trong địa ngục ấy. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tuy ở tại địa ngục nhưng chẳng chịu những khổ như thân rực cháy, tan nát, v.v... Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát đã thành tựu công đức vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức như vậy còn chẳng thể nói, huống gì là công đức sở hữu của chư Phật mà sẽ có thể nói được sao?

Lúc bấy giờ, trong chúng có một vị Bồ tát tên là Vô Cấu Tạng Vương, có đại uy đức, thành tựu thần thông, được Ðại Tổng Trì tam muội đầy đủ, được Vô sở úy, liền đứng dậy, trịch áo vai phải, gối phải đặt xuống đất, quì dài, chắp tay bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, các đức Phật, Bồ tát đã thành tựu công đức trí tuệ vô lượng vô biên, trăm ngàn vạn ức, thật chẳng thể nói, nhưng theo ý con vẫn cho là chẳng bằng Kinh điển Ðại Thừa này! Vì sao vậy? Vì nhân vào sức của Kinh Ðại Thừa Phương Ðẳng này có thể sinh ra các đức Phật Thế Tôn Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Ðức Phật khen rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời ông nói! Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng này tuy lại thành tựu vô lượng công đức nhưng muốn sách Kinh này bằng thí dụ thì chẳng được, dù được nhân lên trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn vạn ức lần... cho đến thí dụ tính toán đã chẳng thể bì kịp. Này thiện nam tử! Ví như từ trâu ra sữa, từ sữa ra cao sữa, từ cao sữa ra váng sữa sống, từ váng sữa sống (sinh tô) ra váng sữa chín, từ váng sữa chín ra đề hồ. Ðề hồ là tối thượng, nếu có người uống thì mọi bệnh đều tiêu trừ, các thuốc sẵn có đều vào trong đề hồ ấy. Này thiện nam tử! Phật cũng như vậy, từ Phật ra mười hai bộ Kinh, từ mười hai bộ Kinh ra Tu đa la, từ Tu đa la ra Kinh Phương Ðẳng, từ Kinh Phương Ðẳng ra Bát nhã Ba la mật, từ Bát nhã Ba la mật ra Ðại Niết Bàn giống như đề hồ. Rằng đề hồ là dụ cho Phật tính mà Phật tính thì tức là Như Lai. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên nói rằng, công đức sở hữu của Như Lai nhiều vô lượng vô biên chẳng thể xưng kể.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật khen, Kinh Ðại Niết Bàn giống như Ðề hồ tối thượng vi diệu. Nếu có người có thể uống thì mọi bệnh đều tiêu trừ, tất cả các thuốc đều vào trong ấy. Con nghe thế rồi lại trộm suy nghĩ, nếu có người chẳng thể thính thọ Kinh này thì phải biết rằng, người này là kẻ đại ngu si, không có thiện tâm. Thưa đức Thế Tôn! Hôm nay con thật có thể kham nhẫn (chịu nhịn) lột da làm giấy, trích máu làm mực, dùng tủy làm nước, bẻ xương làm bút để ghi chép Kinh Ðại Niết Bàn này, chép rồi đọc tụng cho nhuần nhuyễn (thông lợi) Kinh ấy, rồi nhiên hậu vì người rộng nói nghĩa của Kinh ấy. Thưa đức Thế Tôn! Nếu có chúng sinh tham trước của cải thì con sẽ cho của cải, rồi nhiên hậu dùng Kinh Ðại Niết Bàn này khuyên họ đọc tụng. Nếu người tôn quí thì con trước dùng lời ái ngữ, thuận theo ý của họ, rồi nhiên hậu sẽ dần dần đem Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn này khuyên họ đọc tụng. Nếu là hạng dân dã thì con sẽ dùng uy thế ép họ đọc tụng. Nếu là người kiêu mạn thì con sẽ vì người ấy mà làm kẻ sai khiến, thuận theo ý họ khiến cho họ hoan hỷ, rồi nhiên hậu sẽ đem Ðại Bát Niết Bàn mà dạy bảo, dẫn đường cho họ. Nếu có người bài báng Kinh điển Ðại Thừa thì con sẽ dùng thế lực đánh đổ khiến cho họ phục tùng. Họ đã hàng phục rồi nhiên hậu con khuyên đọc tụng Ðại Niết Bàn. Nếu người ưa thích Kinh Ðại Thừa thì đích thân sẽ đến cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi.

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Hay thay! Hay thay! Ông rất yêu thích Kinh điển Ðại Thừa! Tham Kinh Ðại Thừa, thọ Kinh Ðại Thừa, nếm vị Kinh Ðại Thừa, tin, kính, tôn trọng, cúng dường Kinh Ðại Thừa! Này thiện nam tử! Ông nay do nhân duyên thiện tâm này nên sẽ được siêu việt vô lượng vô biên những Ðại Bồ tát nhiều như cát sông Hằng, hiện tại trước mắt được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ông cũng chẳng bao lâu lại sẽ như ta, rộng vì đại chúng diễn nói về Ðại Bát Niết Bàn, Như Lai, Phật tính, Tạng bí mật của lời nói chư Phật... như vậy. Này thiện nam tử! Ðời quá khứ, khi mặt trời Phật chưa xuất hiện, ta vào lúc đó, làm Bà la môn, tu hạnh Bồ tát, có thể thông đạt hết tất cả kinh luận sở hữu của ngoại đạo, tu hành Tịch Diệt, đầy đủ oai nghi. Tâm ấy thanh tịnh, chẳng bị sự phá hoại của dục tưởng ngoại lai sinh ra, diệt lửa sân nhuế, thọ trì pháp Thường Lạc Ngã Tịnh, tìm kiếm khắp cùng Kinh điển Ðại Thừa mà thậm chí chẳng nghe đến tên gọi Phương Ðẳng. Ta vào lúc ấy, trụ ở núi Tuyết, núi ấy thanh tịnh với suối chảy, ao tắm, cây rừng, dược thảo tràn đầy. Ðất ấy nơi nơi xen với đá có dòng nước trong với nhiều những hoa thơm nghiêm sức khắp cùng và nhiều loài chim, bầy thú chẳng thể xưng kể, quả ngọt nhiều thứ khó phân biệt kể ra. Nơi ấy lại có vô lượng rễ ngó sen, rễ ngọt, rễ Thanh mộc hương. Ta vào lúc bấy giờ, một mình ở trong chỗ ấy, chỉ ăn các loại trái cây, ăn rồi buộc lòng tư duy tọa thiền trải qua vô lượng năm cũng chẳng nghe có Như Lai ra đời và tên Kinh Ðại Thừa. Này thiện nam tử! Khi ta tu hạnh khổ như vậy thì Thích Ðề Hoàn Nhân, các trời, người, v.v...lòng rất kinh ngạc quái lạ, mỗi mỗi đều gọi nhau mà nói kệ rằng:

Ðều chung nhau bày chỉ Trong núi Tuyết sạch trong

Chúa tịch tịnh ly dục Công đức trang nghiêm vương

Ðã lìa tham, sân, mạn Ngu si đoạn dứt xong

Miệng mới chưa từng nói Lời thô ác vân vân...

Lúc bấy giờ, trong chúng có một thiên tử tên là Hoan Hỷ lại nói kệ rằng:

Người ly dục như vậy Siêng tinh tấn sạch trong

Mà chẳng cầu Ðế Thích Và địa vị chư thiên.

Người cầu đạo như vậy Các hạnh khổ tu hành

Người này muốn cầu chỗ Của Thích Ðề Hoàn Nhân.

Lúc bấy giờ, lại có một vị Tiên Thiên tử liền vì Ðế Thích mà nói kệ rằng:

Kiều Thi Ca thiên chúa Nghĩ này chẳng nên sanh

Ngoại đạo tu khổ hạnh Hà tất cầu Ðế Vương.

Nói kệ này rồi, ông lại nói rằng: “Này Kiều Thi Ca! Ở đời có bậc Ðại Sĩ vì chúng sinh nên chẳng tham thân mình, vì muốn lợi ích cho các chúng sinh nên tu đủ thứ khổ hạnh không lường. Như người này thấy những tội lỗi trong sinh tử nên giả sử có thấy trân bảo đầy trong đất đai, núi, rừng, biển cả này cũng chẳng sanh lòng tham trước mà như nhìn thấy nhỗ bãi nước bọt. Như vậy Ðại Sĩ xả bỏ của báu, sự yêu thương vợ con, đầu mắt, não tủy, tay chân, chi tiết, chỗ ở, nhà cửa, voi ngựa, xe cộ, nô tỳ, đồng bộc... cũng chẳng nguyện cầu sinh lên cõi trời mà chỉ cầu cho tất cả chúng sinh được hưởng thụ khoái lạc. Ðúng như sự lý giải của tôi, như vậy là Ðại Sĩ thanh tịnh không nhiễm ô, mọi kiết sử hết vĩnh viễn, chỉ muốn cầu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Thích Ðề Hoàn Nhân lại nói rằng: “Như lời ông nói thì người này là người nhiếp lấy tất cả chúng sinh của thế gian. Này Ðại Tiên! Nếu thế gian này có cây Phật thì có thể trừ diệt rắn độc phiền não của tất cả chư thiên, người đời và A tu la. Nếu những chúng sinh này trụ ở trong bóng mát của cây Phật đó thì những độc phiền não đều bị tiêu diệt hết. Này Ðại Tiên! Người này nếu trong đời vị lai làm bậc Thiện Thệ thì chúng ta đều sẽ được diệt hết vô lượng phiền não cháy rực. Việc như vậy thật là khó tin. Vì sao vậy? Vì vô lượng trăm ngàn những chúng sinh, v.v... phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thấy chút duyên nhỏ đối với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nên liền động chuyển. Như trăng trong nước, hễ nước động thì động theo, giống như vẽ tượng, khó thành mà dễ hư hoại, tâm Bồ Ðề cũng lại như vậy, khó phát mà dễ hoại. Này Ðại Tiên! Như có nhiều người dùng áo giáp đồng, binh khí tự trang bị chắc chắn, muốn tiến tới trước thảo trừ giặc mà lâm trận sợ hãi liền thoái lui tan rã. Vô lượng chúng sinh cũng lại như vậy, phát tâm Bồ Ðề, tự trang bị bền chắc, nhưng thấy tội lỗi sinh tử nên lòng sinh sợ hãi liền thoái lui, tiêu tan. Này Ðại Tiên! Tôi thấy vô lượng chúng sinh như vậy, sau khi phát tâm Bồ Ðề đều sinh ra động chuyển. Vậy nên tôi nay tuy thấy người này tu khổ hạnh, không não, không nhiệt, trụ ở hiểm đạo, hạnh người ấy thanh tịnh nhưng chưa có thể tin vậy. Tôi nay cần phải tự đến đó thử thách để biết người ấy có thật có thể đủ sức gánh vác gánh rất nặng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không? Này Ðại Tiên! Giống như xe có hai bánh thì có thể sử dụng chuyên chở, con chim có hai cánh thì đủ sức bay đi, khổ hạnh này cũng lại như vậy, tôi tuy thấy người ấy kiên trì cấm giới, nhưng chưa biết người ấy có thâm trí không. Nếu có thâm trí thì sẽ biết người ấy có thể đủ sức gánh vác gánh nặng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thưa ÐạiTiên! Ví như mẹ cá có nhiều trứng cá nhưng thành tựu cá thì ít. Như hoa của cây Am La thì nhiều mà thành trái thì ít. Chúng sinh phát tâm có đến vô lượng và số thành tựu ấy thì ít, chẳng đủ nói. Này Ðại Tiên! Tôi cùng ông đều đến thử thách ông ấy! Ví như vàng ròng, sau ba lần thử rồi mới biết vàng ấy chân thật, là đốt, đập, mài. Thử thách người khổ hạnh kia thì cũng phải như vậy”.

Lúc bấy giờ, Thích Ðề Hoàn Nhân tự biến thân mình làm hình dáng La sát, thân hình rất đáng sợ, xuống đến núi Tuyết, cách người tu ấy chẳng xa liền đứng lại. Lúc đó, La sát lòng không chút sợ hãi, mạnh mẽ khó đương, biện tài theo thứ lớp. Tiếng La sát ấy rất thanh nhã tuyên nói nửa bài kệ mà Phật đời quá khứ đã nói:

Các hạnh vô thường Là pháp sinh diệt.

Nói nửa bài kệ này rồi, La sát liền đứng trước người tu hành ấy, thị hiện hình mạo rất đáng kinh sợ, quay đầu liếc khắp, nhìn xem bốn phương. Người khổ hạnh này nghe nửa bài kệ đó, lòng sinh ra vui mừng. Ví như khách buôn ở chỗ hiểm nạn, đi đêm lạc bạn, sợ hãi tìm kiếm, gặp lại được bạn đồng hành mà lòng sinh ra vui mừng, nhảy nhót không lường. Cũng như người bệnh lâu mà chưa gặp lương y xem bệnh, cho thuốc tốt, về sau bỗng nhiên được gặp, như người chìm trong biển bỗng gặp thuyền bè, như người khát gặp nước trong mát, như người bị kẻ oán truy đuổi bỗng nhiên được giải thoát, như người bị trói buộc lâu bỗng nghe được thả ra, cũngnhư người nông phu đang bị hạn hán gặp được mưa, cũng như người đi trở về, được về, người nhà thấy rồi sinh ra đại hoan hỷ. Này thiện nam tử! Bấy giờ ta nghe nửa câu kệ này rồi trong lòng vui mừng cũng lại như vậy, liền đứng dậy dùng tay vén tóc, quay nhìn bốn phương rồi hướng về chỗ nghe kệ mà nói rằng: “Lời nói của ai đó?” Bấy giờ, ta cũng lại chẳng thấy còn ai khác, chỉ thấy La sát, liền nói rằng: “Ai mở cánh cửa Giải thoát như vậy? Ai có thể nổi sấm âm thanh của chư Phật? Ai ở trong giấc ngủ sinh tử mà một mình tỉnh thức xướng lên lời như vậy? Ai có thể ở đây hiển thị dắt dẫn chúng sinh cơ cẩn sinh tử được đạo vị Vô thượng? Vô lượng chúng sinh chìm trong biển sinh tử mà ai có thể ở trong đó làm bậc Ðại thuyền sư? Những chúng sinh này thường bị sự ràng buộc của bệnh nặng phiền não mà ai có thể ở trong họ làm lương y? Người nói nửa bài kệ này đã khai ngộ lòng ta giống như nửa tháng hoa sen nở dần dần”. Này thiện nam tử! Vào lúc bấy giờ, ta lại không thấy gì, chỉ thấy có La sát, lại nghĩ rằng: “Chắc là La sát nói kệ này ư?” Ta lại sinh nghi hoặc: “Chẳng phải là La sát ấy nói sao?’ Vì sao vậy? Vì người này hình dung rất đáng kinh sợ. Nếu có người được nghe câu kệ này thì tất cả sự xấu xí kinh tởm liền trừ hết mà sao người này có hình mạo như vậy lại có thể nói bài kệ này? Chẳng ứng trong lửa mọc ra hoa sen, chẳng phải trong ánh sáng mặt trời sinh ra nước lạnh đó sao?” Này thiện nam tử! Vào lúc bấy giờ, ta lại nghĩ rằng: “Ta nay vô trí mà La sát này hoặc có thể được thấy các đức Phật quá khứ và từ chỗ các đức Phật nghe được nửa câu kệ này. Ta nay phải hỏi”. Ta liền đến trước chỗ La sát đó mà nói như vầy: “Hay thay! Thưa Ðại sĩ! Ở đâu mà ông được lời nói nửa bài kệ của bậc Ly Bố Úy đời quá khứ này? Thưa Ðại sĩ! Ở đâu mà ông lại được nửa viên ngọc Như Ý như vậy! Thưa Ðại sĩ! Nghĩa của nửa câu kệ này là chánh đạo của các đức Phật Thế Tôn quá khứ, vị lai và hiện tại vậy. Tất cả thế gian, chúng sinh nhiều không lường thường bị sự che phủ của màn lưới các kiến, trọn đời ở trong pháp ngoại đạo này, ban đầu chẳng được nghe lời nói “không nghĩa” của đấng Thập Lực Thế Hùng ra khỏi thế gian như vậy”. Này thiện nam tử! Ta hỏi rồi thì La sát liền đáp lời ta rằng: “Này Ðại Bà la môn! Ông nay chẳng nên hỏi ta ý nghĩa đó! Vì sao vậy? Vì ta chẳng ăn đến nay đã trải qua nhiều ngày, tìm kiếm khắp nơi nơi mà chẳng thể được, đói khát khổ não, lòng rối loạn, nói xằng bậy, chẳng phải là sự hiểu biết của bản tâm ta. Ta nay, sức có thể bay đi trong hư không để đến cõi Uất Ðan Việt... cho đến lên cõi trời. Nhưng ở khắp nơi nơi tìm thức ăn cũng chẳng thể được. Do nghĩa này nên ta nói lời nói đó!” Ta liền nói với La sát rằng: “Này Ðại sĩ! Nếu ngài có thể vì tôi nói hết bài kệ này thì tôi sẽ trọn đời làm đệ tử của ngài! Thưa Ðại sĩ! Lời nói của ông thì tên gọi chẳng trọn, ý nghĩa cũng chẳng hết. Vì nhân duyên gì mà chẳng muốn nói vậy? Phàm tài thí thì có cạn kiệt hết, còn nhân duyên pháp thí chẳng thể hết vậy. Pháp thí vô tận đem nhiều lợi ích, ta nay nghe nửa bài kệ này rồi, lòng sinh ra kinh nghi. Ngài nay may mắn có thể vì tôi đoạn trừ cho mà nói trọn bày kệ này, tôi sẽ trọn đời làm đệ tử của ngài”. La sát đáp rằng: “Trí ông lớn quá chỉ tự lo cho thân mà quên chẳng thấy nghĩ đến ta đang bị sự bức bách của đói khổ, thật chẳng thể nói được”. Ta liền hỏi rằng: “Ðồ ăn của ngài là những vật gì?” La sát đáp rằng: “Ông chẳng hỏi lắm! Nếu ta nói thì khiến cho nhiều người sợ!” Ta lại hỏi rằng: “Trong này là chỗ riêng, lại không có người mà tôi thì chẳng sợ, vì sao ngài chẳng nói?” La sát đáp rằng: “Ðồ ăn của ta chỉ là thịt ấm (còn nóng) của người còn đồ uống thì chỉ là máu nóng của người! Tự ta bạc phước chỉ ăn đồ này mà khốn đốn tìm kiếm cùng khắp chẳng thể được. Ðời tuy có nhiều người nhưng họ đều có phước đức, lại thêm sự thủ hộ của chư Thiên mà ta không có sức nên chẳng thể giết được”. Này thiện nam tử! Ta lại nói rằng: “Ngài chỉ nói đầy đủ nửa thiếu của bài kệ này, tôi nghe kệ rồi sẽ đem thân này dâng cúng dường ngài! Thưa Ðại sĩ! Giả sử tôi mạng chung, như tấm thân này không dùng vào việc gì nữa mà sẽ bị sự ăn nuốt của cọp, sói, cú vọ, diều hâu... nhưng lại chẳng được một chút phước đức. Tôi này vì cầu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, bỏ thân chẳng bền chắc để đổi thân bền chắc”. La sát đáp rằng: “Ai sẽ tin lời nói như vậy của ông! Vì tám chữ mà bỏ thân yêu thích!” Này thiện nam tử! Ta liền đáp rằng: “Ngài quả thật là không trí! Ví như có người cho người khác đồ sành mà được đồ bằng bảy báu. Tôi cũng như vậy, bỏ thân chẳng bền chắc mà được thân Kim cương. Ngài nói rằng, ai sẽ tin thì tôi nay đã có chứng! Vua trời Ðại Phạm, Thích Ðề Hoàn Nhân và vua bốn trời có thể chứng việc này. Lại có những Bồ tát thiên nhãn vì muốn lợi ích cho vô lượng chúng sinh nên tu hành Ðại Thừa đủ lục độ, cũng có thể chứng biết. Lại có các đức Phật Thế Tôn của mười phương lợi cho chúng sinh cũng có thể chứng cho tôi vì tám chữ nên bỏ thân mạng này”. La sát lại nói rằng: “Ông nếu có thể xả thân như vậy thì hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông nói nửa bài kệ còn lại ấy”. Này thiện nam tử! Ta vào lúc bấy giờ, nghe lời nói này rồi trong lòng vui mừ