Kinh Ðại Bát Niết Bàn II Bản TK 375

Trích Đại Tạng Kinh Nhập Môn: Kinh này được đặt tên là “Đại Bát Niết Bàn Kinh” vì ghi lại những lời thuyết pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni một thời gian ngắn khi ngài nhập Niết Bàn.

Nguyên nghĩa chữ “Niết Bàn” là “tiêu diệt ngọn lửa dục vọng và đạt tới trạng thái giác ngộ.” Nếu xét theo nghĩa này thì khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đạt tới giác ngộ ở tuổi 35 thì lúc đó ngài đã nhập Niết Bàn. Nhưng vì không thể hoàn toàn diệt trừ những phiền não, dục vọng trong khi nhục thân vẫn còn tồn tại, cho nên sự nhập diệt của Đức Phật Thích Ca được gọi là Đại Bát Niết Bàn – mahaparinirvana – có nghĩa là “trạng thái đại an tịnh trong đó các ngọn lửa của dục vọng, phiền não đã hoàn toàn dập tắt”

Kinh điển này quan trọng là vì cả hai nguyên do: nó ghi lại những lời thuyết giảng của Đức Phật Thích Ca ở thời gian ngay trước khi ngài nhập diệt, và cũng vì nó bao gồm những sự tích liên quan tới những chuyện xảy ra trước và sau khi ngài nhập diệt, cho nên nó chứa đựng những tư liệu quan trọng về phương diện lịch sử.

Kinh Ðại Bát Niết Bàn I

Kinh Ðại Bát Niết Bàn II

Hán Dịch: Căn Cứ Bản Dịch Của Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm,

Sa Môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán, Và Tạ Linh Vân Sửa Lại, Đời Tống

Việt Dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ - Phan Rang

Chứng Nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

(Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tập 12, Niết bàn bộ, số hiệu 375, 36 quyển, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tống Tuệ Nghiêm đẳng y Nê Hoàn Kinh gia chi.

Bản này chúng tôi chỉ dò lại chính tả vì không có bản góc tiếng Việt, khi dò lại bản kinh này chúng tôi hơi buồn. Lý do khiến chúng tôi buồn vì còn rất nhiều kinh để dịch nhưng cư sĩ Tuệ Khai đã không dịch mà lại dịch bản kinh HT Trí Tịnh đã dịch rồi, không những vậy bản dịch của HT rất chuẩn và đầu đủ! Chúng tôi tin rằng bàn dịch của cư sĩ ra đời sau bản dịch của HT Trí Tịnh ít nhất 20 năm và có lẽ cư sĩ đã thấy bản dịch của HT Trí Tịnh rồi. Không biết với cách làm việc này bao giờ Phật Giáo Việt Nam mới có đủ trọn bộ Đại Tạng Kinh ? Nhìn chung Kinh sách dịch từ Hán sang tiếng Việt rất nhiều nhưng trùng rất nhiều. Có kinh lên đến 6 bản dịch khác nhau. Mặc dù những vị dịch trước đều là nổi tiếng, những bản dịch sau đều không bằng thậm chí còn tham khảo bản dịch trước. thienminh)

19/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Chín

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai

20/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

21/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Mốt

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

22/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Hai

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

23/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Ba

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

24/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Bốn

Phẩm Bồ Tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Đức Vương Thứ Hai Mươi Hai (Tiếp Theo)

25/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Lăm

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba

26/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Sáu

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

27/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Bảy

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

28/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Tám

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

29/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Chín

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

30/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi

Phẩm Bồ Tát Sư Tử Hống Thứ Thứ Hai Mươi Ba (Tiếp Theo)

31/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Mốt

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn.

32/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Hai

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn (Tiếp Theo)

33/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Ba

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn (Tiếp Theo)

34/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Bốn

Phẩm Bồ Tát Ca Diếp Thứ Hai Mươi Bốn (Tiếp Theo)

35/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Lăm

Phẩm Kiều Trần Như Thứ Hai Mươi Lăm

36/ Kinh Đại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Sáu

Phẩm Kiều Trần Như Thứ Hai Mươi Lăm (Tiếp Theo)

 

19/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Mười Chín

PHẨM BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG

Thứ Hai Mươi Hai

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu có Ðại Bồ tát tu hành Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì được mười việc công đức, chẳng cùng chung với Thanh Văn, Bích Chi Phật, chẳng thể nghĩ bàn, người nghe kinh lạ, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải khó, chẳng phải dễ, chẳng phải tướng, chẳng phải phi tướng, chẳng phải là thế pháp, không có tướng mạo, cái không có của thế gian. Những gì là mười?

- Một là có năm. Những gì là năm? Một là điều người chẳng nghe mà có thể được nghe. Hai là nghe rồi có thể làm lợi ích. Ba là có thể đoạn dứt lòng nghi hoặc. Bốn là lòng tuệ chánh trực không quanh co. Năm là có thể biết mật tạng của Như Lai. Ðó là năm. Những gì chẳng nghe mà có thể được nghe? Ðó là bí mật tạng vi diệu thậm thâm, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Phật pháp, chúng tăng không có sai biệt, tính tướng Tam Bảo Thường-Lạc-Ngã-Tịnh, tất cả các đức Phật không có rốt ráo vào Niết Bàn mà thường trụ bất biến, Như Lai Niết Bàn chẳng phải có - chẳng phải không, chẳng phải hữu vi - chẳng phải vô vi, chẳng phải hữu lậu - chẳng phải vô lậu, chẳng phải sắc - chẳng phải chẳng sắc, chẳng danh - chẳng phải chẳng danh, chẳng phải tướng - chẳng phải chẳng tướng, chẳng phải có - chẳng phải chẳng có, chẳng phải vật - chẳng phải chẳng vật, chẳng phải nhân - chẳng phải quả, chẳng phải đợi - chẳng phải chẳng đợi, chẳng phải sáng - chẳng phải tối, chẳng phải ra - chẳng phải chẳng ra, chẳng phải thường - chẳng phải chẳng thường, chẳng phải đoạn - chẳng phải chẳng đoạn, chẳng phải thỉ - chẳng phải chung, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải ấm - chẳng phải chẳng ấm, chẳng phải nhập - chẳng phải chẳng nhập, chẳng phải giới - chẳng phải chẳng giới, chẳng phải mười hai nhân duyên - chẳng phải chẳng mười hai nhân duyên. Những pháp thậm thâm vi mật như vậy, v.v... mà xưa chẳng được nghe thì có thể được nghe. Lại có cái chẳng được nghe như là Kinh sách của của tất cả ngoại đạo, bốn Tỳ Ðà luận, Tỳ Dà La luận, Vệ Thế Sư luận, Ca Tỳ La luận, tất cả chú thuật, phương thuốc trị bệnh, kỹ nghệ, Nhật nguyệt thực, tinh tú biến chuyển, đồ thư, sấm ký, v.v... Những Kinh như vậy ban đầu chưa từng nghe ý nghĩ bí mật, hôm nay đối với Kinh này mà được biết nghĩa của chúng. Lại có mười một bộ Kinh, trừ bộ Tỳ Phật Lược, cũng không biết nghĩa thậm thâm như vậy, nay nhân Kinh này mà được biết nghĩa đó. Này thiện nam tử! Ðó gọi là chẳng nghe mà có thể được nghe. Nghe rồi lợi ích là nếu có thể thính thọ Kinh Ðại Niết Bàn thì đều có thể biết đủ nghĩa vị thậm thâm của tất cả Kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng. Ví như trai gái ở trước tấm gương sáng sạch nhìn thấy sắc tượng của họ tỏ rõ phân minh. Gương Ðại Niết Bàn cũng lại như vậy, Bồ tát cầm lấy đều được thấy sáng nghĩa thậm thâm của kinh điển Ðại Thừa. Cũng như có người ở trong nhà tối, cầm đuốc lửa sáng thấy hết mọi vật, đuốc Ðại Niết Bàn cũng như vậy. Bồ tát cầm đuốc ấy thì được thấy nghĩa thâm áo của Ðại Thừa. Cũng như mặt trời mọc có hàng ngàn ánh sáng đều có thể soi rõ những núi u tối, khiến cho tất cả mọi người từ xa nhìn thấy mọi vật. Mặt trời tuệ thanh tịnh Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, soi rõ chỗ thâm thúy của Ðại Thừa, khiến cho người Nhị thừa từ xa thấy Phật đạo. Sở dĩ vì sao? Vì do họ có thể thính thọ được Kinh vi diệu Ðại Niết Bàn này. Này thiện nam tử! Nếu có Ðại Bồ tát thính thọ Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì được biết danh tự của tất cả các pháp. Nếu họ có thể ghi chép, đọc tụng thông lợi, vì người khác diễn nói rộng rãi, suy nghĩ ý nghĩa Kinh ấy thì biết nghĩa lý của tất cả các pháp. Này thiện nam tử! Người thính thọ Kinh ấy chỉ biết danh tự, chẳng biết nghĩa lý Kinh ấy mà nếu có thể ghi chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì có thể biết được nghĩa lý. Lại nữa, này thiện nam tử! Người nghe Kinh này, nghe có Phật tính, chưa có thể được thấy, nếu ghi chép, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì được thấy Phật tính. Người nghe Kinh này, nghe có dành tư Ðàn (Bố thí) chưa thể được thấy Ðàn Ba la mật, nếu ghi chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì có thể thấy Ðàn Ba la mật... Bát nhã Ba la mật cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát, nếu có thể nghe Kinh Ðại Niết Bàn này thì biết pháp, biết nghĩa đủ cả hai không ngại. Các vị Bồ tát này đối các Sa môn, Bà la môn, v.v... hoặc trời, ma, Phạm trong tất cả đời, được vô sở úy, khai thị, phân biệt mười hai bộ Kinh, diễn nói nghĩa những Kinh ấy không có sai trái. Các vị ấy chẳng theo nghe người khác mà có thể tự biết gần với Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Ðó gọi là nghe rồi có thể làm lợi ích. Ðoạn tâm nghi thì nghi có hai thứ, một là nghi danh, hai là nghi nghĩa. Người nghe Kinh này đoạn dứt được lòng nghi danh, người suy nghĩ về nghĩa thì đoạn được lòng nghi nghĩa. Lại nữa, này thiện nam tử! Nghi có năm thứ, một là nghi Phật có nhất định Niết Bàn không? Hai là nghi Phật có thường trụ không? Ba là nghi Phật có chân lạc không? Bốn là nghi Phật có chân tịnh không? Năm là nghi Phật có thật ngã không? Người nghe Kinh này nghi Phật Niết Bàn thì được đoạn dứt vĩnh viễn. Nếu họ ghi chép, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì bốn nghi còn lại đoạn dứt vĩnh viễn. Lại nữa, này thiện nam tử! Nghi có ba thứ, một là nghi Thanh Văn là có hay là không? Hai là nghi Duyên Giác là có hay là không? Ba là nghi Phật thừa là có hay là không? Người nghe Kinh này thì ba nghi như vậy diệt vĩnh viễn, không còn. Nếu người ấy ghi chép, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì có thể rõ biết tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh chẳng nghe kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì lòng nghi rất nhiều. Như là hoặc thường hay vô thường, hoặc lạc hay chẳng lạc, hoặc tịnh hay chẳng tịnh, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc mạng hay chẳng phải mạng, hoặc chúng sinh hay chẳng phải chúng sinh, hoặc rốt ráo hay chẳng rốt ráo, hoặc đời khác, hoặc đời đã qua, hoặc có, hoặc không, hoặc khổ hay chẳng phải khổ, hoặc tập hay chẳng phải tập, hoặc đạo hay chẳng phải đạo, hoặc diệt hay chẳng phải diệt, hoặc pháp hay chẳng phải pháp, hoặc thiện hay chẳng phải thiện, hoặc không hay chẳng phải không... người nghe Kinh này thì các nghi như vậy đều được đoạn trừ vĩnh viễn. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có người chẳng nghe Kinh như vậy thì lại có đủ thứ nhiều những nghi tâm. Như là sắc là ngã vậy? Thọ, tưởng, hành, thức là ngã vậy? Mắt có thể thấy hay ngã có thể thấy vậy?.. cho đến thức có thể biết hay ngã có thể biết vậy? Sắc thọ báo hay ngã thọ báo vậy?.. cho đến thức thọ báo hay ngã thọ báo vậy? Sắc đến đời khác hay ngã đến đời khác vậy?.. cho đến thức cũng như vậy. Pháp sinh tử có đầu có cuối hay không đầu không cuối vậy?.. Người nghe Kinh này thì những nghi như vậy cũng được trừ diệt vĩnh viễn. Lại có người nghi Nhất xiển đề, phạm bốn trọng cấm làm ngũ nghịch tội, bài báng Kinh Phương Ðẳng... những bọn như vậy có Phật tính hay không Phật tính vậy? Người nghe Kinh này thì những nghi như vậy, v.v... đều được đoạn trừ vĩnh viễn. Lại có người nghi, thế gian biên hay thế gian vô biên vậy? Có thế giới mười phương hay không thế giới mười phương vậy? Người nghe Kinh này thì những nghi như vậy, v.v... cũng được vĩnh viễn đoạn trừ. Ðó gọi là có thể đoạn trừ lòng nghi hoặc. Tuệ tâm chính trực không tà khúc là nếu tâm có nghi hoặc thì sở kiến chẳng chánh trực. Tất cả phàm phu nếu chẳng được nghe Kinh điển vi diệu Ðại Niết Bàn này thì sở kiến tà khúc thậm chí sở kiến của người Thanh Văn, Bích Chi Phật cũng quanh co. Sao gọi là sở kiến của tất cả phàm phu là tà khúc? Ở trong hữu lậu thấy Thường-Lạc-Ngã-Tịnh thì ở chỗ Như Lai thấy Vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã; thấy có chúng sinh, thọ mạng, tri kiến; kể cõi chẳng phải hữu tưởng, cõi chẳng phải vô tưởng là Niết Bàn; thấy trời Tự Tại có tám Thánh đạo, hữu kiến, đoạn kiến... Những sự thấy như vậy gọi là tà khúc. Ðại Bồ tát, nếu được nghe Kinh Ðại Niết Bàn này, tu hành hạnh Thánh thì được đoạn trừ những tà khúc như vậy. Sao gọi là cái thấy tà khúc của Thanh Văn, Duyên giác vậy? Thấy Bồ tát từ cõi trời Ðâu Suất hóa thân xuống, cỡi voi trắng, giáng thần vào thai mẹ, cha tên là Tịnh Phạn, mẹ tên là Ma Gia, ở tại thành Ca Tỳ La, ở trong thai đầy đủ mười tháng mà sinh ra, sinh ra chưa đến đất thì Ðế Thích đã tiếp bồng, vua rồng Nan Ðà và Bà Nan Ðà phun nước tắm ngài, vua quỉ thần lớn Ma Ni Bạt Ðà cầm bảo cái theo sau đứng hầu, thần đất hóa ra hoa để đỡ chân ngài, bốn phương đều đi đầy đủ bảy bước, đến với miếu thờ trời khiến cho tượng chư thiên đều đứng dậy nghinh đón, tiên A Tư Ðà ẳm để xem tướng, xem tướng xong ông đã sinh đại bi khổ, tự thương mình sẽ mạng chung chẳng nhìn thấy Phật hưng khởi, đến thầy học sách vở, tính toán, bắn cung, cưỡi ngựa, vẽ tranh, sấm ký, kỹ nghệ, ở tại thâm cung với sáu vạn thể nữ vui sướng hưởng lạc, ra thành du ngoạn, đến vườn Ca Tỳ La, trên đường thấy người già... cho đến thấy vị Sa môn mặc pháp phục mà đi, trở về đến trong cung, thấy các thể nữ, hình thể dáng vẻ giống như xương khô, cung điện sở hữu như mồ mã không khác, chán ghét xuất gia, nửa đêm vượt thành, đến chỗ các vị đại tiên Uất Ðà Già, Ca La La, v.v... nghe Thức xứ và Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Ðã nghe vậy rồi quan sát kỹ thấy xứ này là vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã. Bỏ đi đến dưới cây, tu đủ hạnh khổ đầy đủ sáu năm, biết khổ hạnh này chẳng thể được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lúc bấy giờ, Bồ tát lại đến trong dòng sông A Di La Bạt Ðề tắm gội, thọ sự dâng cháo sữa của người con gái chăn trâu, thọ rồi chuyển đến dưới cây Bồ Ðề, phá ma Ba Tuần, được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, ở thành Ba La Nại vì năm vị Tỳ kheo lần đầu tiên chuyển bánh xe pháp... cho đến ở thành Câu Thi Na này vào Bát Niết Bàn. Thấy những việc như vậy thì đó gọi là sự thấy quanh co của Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát thính thọ Kinh Ðại Niết Bàn này thì đều được đoạn trừ những kiến (thấy) như vậy. Nếu có thể ghi chép, đọc tụng thông lợi, vì người khác diễn nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì được sự thấy (kiến) chính trực không tà khúc. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu hành kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì chắc chắn biết là Bồ tát từ vô lượng kiếp đến nay chẳng từ cõi trời Ðâu Suất giáng thần vào thai mẹ... cho đến ở thành Câu Thi Na vào Bát Niết Bàn. Ðó gọi là thấy Chánh trực của Ðại Bồ tát. Có thể biết nghĩa thâm mật của Như Lai thì đó tức là Ðại Bát Niết Bàn, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, sám hối bốn trọng cấm, trừ tâm bài báng pháp, hết ngũ nghịch tội, diệt Nhất xiển đề, rồi nhiên hậu được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó gọi là nghĩa bí mật thậm thâm. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao lại gọi là nghĩa thậm thâm? Tuy biết chúng sinh thật không có ngã mà ở đời vị lai chẳng mất nghiệp quả. Tuy biết năm ấm đến đây diệt hết nhưng nghiệp thiện ác nhất định chẳng bại vong. Tuy có các nghiệp nhưng chẳng được tác giả. Tuy có chỗ đến nhưng không có người đi. Tuy có trói buộc nhưng không người chịu trói. Tuy có Niết Bàn nhưng cũng không người diệt. Ðó gọi là nghĩa bí mật thậm thâm.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa lời nói nghe chẳng nghe của đức Phật thì nghĩa này chẳng vậy! Vì sao vậy? Vì pháp, nếu có thì nên nhất định có. Pháp, nếu không thì nên nhất định không. Không chẳng nên sinh ra, có chẳng nên diệt đi. Như người nghe ấy thì tức là nghe, nếu người chẳng nghe thì tức là chẳng nghe. Vì sao mà nói rằng, nghe điều chẳng nghe? Thưa đức Thế Tôn! Nếu chẳng thể nghe thì đó là chẳng nghe. Nếu đã nghe thì lại cũng chẳng nghe. Vì sao vậy? Vì đã được nghe thì sao mà nói rằng, nghe điều chẳng nghe. Ví như người đi đã đến thì chẳng còn đi, đã còn đi thì chẳng đến. Cũng như sinh ra rồi thì chẳng còn sinh, chẳng còn sinh thì chẳng sinh. Ðược rồi thì chẳng còn được, chẳng còn được thì chẳng được. Nghe rồi thì chẳng còn nghe, chẳng còn nghe thì chẳng nghe... cũng lại như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Nếu chẳng nghe mà nghe thì tất cả chúng sinh chưa có Bồ Ðề thì nên có Bồ Ðề ngay, chưa được Niết Bàn cũng nên được Niết Bàn, chưa thấy Phật tính nên thấy Phật tính thì sao lại nói rằng, Bồ tát thập trụ tuy thấy Phật tính nhưng chưa được sáng tỏ? Thưa đức Thế Tôn! Nếu người nghe chẳng nghe thì đức Như Lai thuở xưa theo ai được nghe? Nếu nói được nghe thì vì sao trong đức Như Lai, ở trong Kinh A Hàm, lại nói rằng, vô sư? Nếu: chẳng nghe” thì chẳng nghe mà đức Như Lai được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì tất cả chúng sinh chẳng nghe mà chẳng nghe cũng nên được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thưa đức Như Lai! Nếu ngài chẳng nghe Kinh Ðại Niết Bàn này mà thấy Phật tính thì tất cả chúng sinh chẳng nghe Kinh này cũng nên được thấy! Thưa đức Thế Tôn! Phàm là sắc thì hoặc có thể thấy, hoặc chẳng thể thấy. Thanh cũng như thế hoặc có thể thấy, hoặc chẳng thể thấy. Ðại Niết Bàn này chẳng phải sắc, chẳng phải thanh thì sao mà nói rằng, có thể được thấy nghe? Thưa đức Thế Tôn! Quá khứ đã diệt thì chẳng thể nghe, vị lai chưa đến cũng chẳng thể nghe và hiện tại khi nghe thì chẳng gọi là nghe, khi nghe rồi thanh diệt lại chẳng thể nghe. Kinh Ðại Niết Bàn này cũng chẳng phải quá khứ, vị lai và hiện tại mà nếu chẳng phải ba đời thì chẳng thể nói. Nếu chẳng thể nói thì chẳng thể nghe thì sao mà nói rằng, Bồ tát tu Kinh Ðại Niết Bàn này nghe điều chẳng nghe?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay giỏi biết tất cả các pháp như huyễn, như lửa hừng, như thành của Càn thát bà, như dấu vẽ xuống nước, như bong bóng nước, cây chuối... rỗng không không có thật, chẳng phải mạng, chẳng phải ngã, không có khổ vui, đúng như sự thấy biết của Bồ tát Thập Trụ.

Trong đại chúng bỗng nhiên có ánh sáng lớn, chẳng phải xanh thấy xanh, chẳng phải vàng thấy vàng, chẳng phải đỏ thấy đỏ, chẳng phải trắng thấy trắng, chẳng phải sắc thấy sắc, chẳng phải sáng thấy sáng, chẳng phải thấy mà thấy. Bấy giờ, đại chúng gặp ánh sáng ấy rồi thì thân tâm khoái lạc, ví như Tỳ kheo vào định Sư Tử Vương. Khi ấy, ngài Văn Thù Sư Lợi Ðại Bồ tát bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Hôm nay ánh sáng này do ai phóng ra vậy?

Khi ấy đức Như Lai mặc nhiên chẳng nói. Bồ tát Ca Diếp lại hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi:

- Vì nhân duyên gì mà có ánh sáng này soi đến đại chúng?

Ngài Văn Thù Sư Lợi lặng thinh chẳng đáp. Bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân lại hỏi Bồ tát Ca Diếp:

- Hôm nay ánh sáng này là sở hữu của ai?

Bồ tát Ca Diếp lặng thinh chẳng nói. Bồ tát Tịnh Trụ Vương Tử lại hỏi Bồ tát Vô Biên Thân rằng:

- Vì nhân duyên gì trong đại chúng có ánh sáng này?

Bồ tát Vô Biên Thân lặng thinh chẳng nói... Cứ như vậy, năm trăm vị Bồ tát đều cũng hỏi như vậy. Tuy các vị hỏi han nhau nhưng không có người trả lời. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Này Văn Thù Sư Lợi! Vì nhân duyên gì trong đại chúng có ánh sáng này?

Ngài Văn Thù Sư Lợi đáp rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ánh sáng như vậy gọi là trí tuệ. Trí tuệ thì tức là thường trụ mà pháp thường trụ không có nhân duyên thì vì sao đức Phật hỏi, vì nhân duyên gì có ánh sáng này? Ánh sáng này gọi là Ðại Niết Bàn mà Ðại Niết Bàn thì gọi là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao đức Phật hỏi rằng, vì nhân duyên gì có ánh sáng này? Ánh sáng này tức là Như Lai mà Như Lai tức là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao đức Như Lai hỏi đến nhân duyên? Ánh sáng này gọi là Ðại Từ Ðại Bi mà Ðại Từ Ðại Bi thì gọi là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao đức Như Lai hỏi đến nhân duyên? Ánh sáng này tức là Niệm Phật mà Niệm Phật tức là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao đức Như Lai hỏi đến nhân duyên? Ánh sáng này tức là đạo Bất Cộng của tất cả Thanh Văn, Duyên Giác mà đạo Bất Cọng của Thanh Văn, Duyên Giác tức là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao đức Như Lai hỏi về nhân duyên? Thế Tôn cũng có nhân duyên! Nhân diệt vô minh thì được sáng rực đèn Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này Văn Thù Sư Lợi! Hôm nay ông chớ vào Ðệ nhất nghĩa đế thậm thâm của các pháp! Ông nên dùng thế đế mà giải nói điều đó!

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ở phương Ðông này, qua khỏi số thế giới nhiều bằng hai mươi lần cát sông Hằng, có thế giới Phật tên là Bất Ðộng, trụ xứ của đức Phật ấy ngang dọc bằng nhau đầy đủ một vạn hai ngàn do tuần. Ðất nơi ấy bằng bảy thứ báu, không có đất đá, bằng phẳng, mềm mại, không các ngòi rãnh, hầm hố. Những cây cối của cõi ấy do bốn thứ báu tạo thành là vàng, bạc, lưu ly và pha lê, hoa trái sum suê, không lúc nào chẳng có. Nếu có chúng sinh nghe mùi hương hoa ấy thì thân tâm an lạc, ví như Tỳ kheo vào thiền thứ ba. Giáp vòng cõi ấy lại có ba ngàn dòng sông lớn, nước sông ấy đầy đủ tám vị vi diệu. Nếu có chúng sinh tắm gội ở trong nước ấy thì được niềm hỷ lạc, ví như Tỳ kheo vào thiền thứ hai. Những dòng sông ấy có đủ thứ những loài hoa như hoa Ưu bát la, hoa Ba đầu ma, hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà lợi, hoa Hương, hoa Ðại hương, hoa Diệu hương, hoa Thường. Tất cả chúng sinh không che chở hoa. Hai bên bờ sông ấy cũng có nhiều loài hoa, như là hoa A Ðề mục đa dà, hoa Chiêm bà, hoa Ba tra la, hoa Bà sư la, hoa Ma lợi ca, hoa Ðại ma lợi ca, hoa Tân ma lợi ca, hoa Tu ma na, hoa Do đề ca, hoa Ðàn ca lợi, hoa thường... Tất cả chúng sinh không che chở hoa. Ðáy sông trải cát vàng, có bốn bực bệ bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê đủ màu. Có nhiều loài chim tập họp dạo trong những dòng sông ấy. Lại có vô lượng cọp, sói, sư tử... những loài chim, thú ác mà lòng chúng xem nhau giống như con đỏ. Trong thế giới đó, tất cả không có kẻ phạm trọng cấm, bài báng chánh pháp và Nhất xiển đề, tội nghũ nghịch, v.v... Cõi ấy điều hòa thích hợp, không có lạnh nóng, đói khát, khổ não, không có tham dục, sân nhuế, phóng dật, tật đố (ganh ghét) không có mặt trời, mặt trăng, ngày, đêm, thời tiết giống như trên trời thứ hai Ðao Lợi. Nhân dân cõi ấy đều có ánh sáng, mỗi mỗi đều không có lòng kiêu mạn, tất cả đều là bậc Ðại Sĩ Bồ tát, đều được thần thông, đầy đủ công đức lớn. Lòng họ đều tôn trọng Chánh pháp, theo về Ðại Thừa, ái niệm Ðại Thừa, ham thích Ðại Thừa, hộ tiếc Ðại Thừa, thành tựu đại tuệ, được đại Tổng trì. Lòng họ thường thương xót tất cả chúng sinh. Ðức Phật của thế giới ấy hiệu là Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Tùy theo chỗ sở trụ của ngài mà có sự giảng nói, tuyên dương. Chúng sinh của cõi ấy không gì chẳng được nghe. Ðức Phật ấy vì Ðại Bồ tát Lưu Ly Quang tuyên giảng Kinh Ðại Niết Bàn mà nói rằng: “Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát nếu có thể tu hành Kinh Ðại Niết Bàn thì điều chẳng nghe đều được nghe hết”. Ðại Bồ tát Lưu Ly Quang đó hỏi đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh cũng đúng như lời hỏi của Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương ở cõi này, không có khác. Ðức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh kia liền bảo Bồ tát Lưu Ly Quang rằng: “Này thiện nam tử! Phương Tây cách đây hai mươi lần cát sông Hằng cõi Phật, ở đó có thế giới tên là Ta bà. Cõi ấy có nhiều núi đồi, gò đống, đất cát, sỏi đá, gai góc bén nhọn... tràn đầy cùng khắp, thường có đói khát, lạnh nóng, khổ não. Nhân dân cõi ấy chẳng thể cung kính Sa môn, Bà la môn, cha mẹ, sư trưởng. Họ tham trước phi pháp, muốn ở trong phi pháp, tu hành tà pháp, chẳng tin Chánh pháp, có thọ mạng ngắn ngủi, có hành động gian trá. Vua thì cai trị họ. Vua tuy có nước, nhưng chẳng biết thỏa mãn, đối với sở hữu của người khác sinh lòng tham lợi, dấy binh chinh phạt nhau, kẻ chết oan uổng là dân chúng. Vua thì tu hành phi pháp như vậy, thiện thần bốn trời lòng không hoan hỷ nên giáng xuống tai họa, hạn hán, lúa gạo khan hiếm, nhân dân nhiều bệnh, khổ não không lường. Trong cõi đó có đức Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn, đại bi thuần hậu,thương xót chúng sinh. Ngài đang ở vùng Ta La Song Thọ của thành Câu Thi Na vì các đại chúng phu diễn Kinh Ðại Niết Bàn như vậy. Ở đó có vị Bồ tát tên là Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương, đã hỏi việc ấy như ông không khác. Ðức Phật hôm nay đang đáp vấn đề đó. Ông hãy mau chóng đi đến thì tự sẽ được nghe!” Bồ tát Lưu Ly Quang kia nghe việc đó rồi, cùng với tám muôn bốn ngàn Ðại Bồ tát muốn đến cõi kia, nên trước hết hiện những điềm lành, đó là nhân duyên, để có ánh sáng này, nên gọi là nhân duyên, cũng chẳng phải là nhân duyên. Lúc bấy giờ Bồ tát Lưu Ly Quang cùng với tám vạn bốn ngàn các Bồ tát đều mang những tràng, cái, hương hoa, chuỗi ngọc đủ thứ kỹ nhạc gấp bội hơn trước, cùng đi đến vùng Ta La Song Thọ ở thành Câu Thi Na, đem đồ cúng dường mang theo của mình mà cúng dường đức Phật, đầu mặt lễ dưới chân, chắp tay cung kính, đi nhiễu quanh bên phải ba vòng. Họ tu kính xong rồi, lùi về ngồi một phía.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi vị Bồ tát kia rằng:

- Này thiện nam tử! Ông vì đến mà lại hay vì chẳng đến mà lại?

Bồ tát Lưu Ly Quang đáp rằng:

- Ðến cũng chẳng lại, chẳng đến cũng chẳng lại. Con quan sát nghĩa này đều không có lại (lai). Thưa đức Thế Tôn! Các hành nếu thường cũng lại chẳng lại (đi lại), nếu là vô thường cũng không có lại. Nếu người thấy có tính chúng sinh thì có lại, chẳng lại. Con nay chẳng thấy định tính của chúng sinh thì sao phải nói rằng, có lại hay chẳng lại? Người có kiêu mạn thì thấy có đi, lại, người không kiêu mạn thì không đi, lại. Người có thủ hành thì thấy có đi lại, người không thủ hành thì không đi lại. Nếu thấy Như Lai rốt ráo Niết Bàn thì có đi lại, chẳng thấy Như Lai rốt ráo Niết Bàn thì không đi lại. Người chẳng nghe Phật tính thì có đi lại, người nghe Phật tính thì không đi lại. Nếu người thấy hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật có Niết Bàn thì có đi lại, người chẳng thấy hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật có Niết Bàn thì không đi lại. Nếu người thấy hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật Thường-Lạc-Ngã-Tịnh thì có đi lại, nếu người chẳng thấy thì không đi lại. Nếu người thấy Như Lai không Thường-Lạc-Ngã-Tịnh thì có đi lại, nếu người thấy Như Lai Thường-Lạc-Ngã-Tịnh thì không (khứ lai) đi lại. Thưa đức Thế Tôn! Vã lại đặt ra việc ấy là muốn có điều hỏi! Con nguyện xin ngài rủ lòng thương xót người ít gặp này mà hứa cho!

Ðức Phật nói rằng:

- Này thiện nam tử! Ông cứ tùy ý đặt vấn đề! Hôm nay chính là lúc đó! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói! Sở dĩ vì sao? Vì các đức Phật khó gặp như loài hoa Ưu Ðàm! Pháp cũng như vậy, khó có thể được nghe! Trong mười hai bộ Kinh, Phương Ðẳng lại khó hơn! Vậy nên ông cần phải chuyên tâm thính thọ!

Ðại Bồ tát Lưu Ly Quang đã được đức Phật hứa cho và gồm cả lời dạy bảo, liền bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Ðại Bồ tát có thể tu hành Kinh Ðại Niết Bàn thì nghe điều chẳng nghe?

Bấy giờ, đức Như Lai khen rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay muốn vào tận cùng biển Ðại Thừa Ðại Niết Bàn như vậy mà chính lại gặp được ta có thể giải nói hoàn thiện thì tên độc, lưới nghi sẵn có của ông hôm nay, ta sẽ làm đại lương y có thể khéo nhổ ra hết. Ông đối với Phật tính còn chưa sáng tỏ thì ta có đuốc tuệ, có thể vì ông soi sáng. Ông nay muốn đi qua dòng sông lớn sinh tử, ta có thể vì ông làm Ðại Thuyền Sư. Ông ở chỗ ta sinh tư tưởng kính như cha mẹ thì ta cũng đối với ông sinh lòng thương như con đỏ. Lòng ông hôm nay tham Chánh pháp bảo mà gặp ta có nhiều thì có thể ban cho nhau! Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Hãy suy nghĩ khéo léo! Ta sẽ vì ông phân biệt, tuyên nói, giải thích cho! Này thiện nam tử! Ông muốn nghe pháp thì hôm nay chính là lúc đó! Nếu nghe pháp rồi thì ông phải sinh niềm kính tín, chí tâm thính thọ, cung kính tôn trọng. Ðối với Chánh pháp chớ tìm kiếm lỗi lầm, chớ nghĩ tham dục, sân nhuế, ngu si, chớ tìm xem dòng họ pháp sư tốt xấu. Ðã nghe pháp rồi, ông chớ sinh kiêu mạn, chớ vì sự cung kính, danh dự, lợi dưỡng, phải vì pháp lợi độ thế cam lộ, cũng chớ sinh ra ý nghĩ rằng: “Ta nghe pháp rồi thì trước tự độ thân nhiên hậu độ người, trước tự giải thoát thân nhiên hậu giải thoát người, trước tự an thân nhiên hậu an người, trước tự Niết Bàn nhiên hậu khiến cho người được Niết Bàn. Ðối với Pháp và Tăng nên sinh bình đẳng tưởng. Ở trong sinh tử thì sinh đại khổ tưởng. Ðối với Ðại Niết Bàn nên sinh tư tưởng Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Trước vì người khác nhiên hậu vì bản thân. Phải vì Ðại Thừa chớ vì Nhị Thừa. Ðối với tất cả pháp phải không sở trụ, cũng chớ chuyên chấp tất cả pháp tướng. Ở trong các pháp chớ sinh ra tư tưởng tham mà thường sinh ra tư tưởng biết pháp, thấy pháp. Này thiện nam tử! Ông có thể chí tâm như vậy mà nghe pháp. Ðó gọi là nghe điều chẳng nghe. Này thiện nam tử! Có chẳng nghe nghe (bất văn văn), có chẳng nghe chẳng nghe (bất văn bất văn), có nghe chẳng nghe (văn bất văn), có nghe nghe (văn văn). Này thiện nam tử! Như chẳng sinh sinh, chẳng sinh chẳng sinh, sinh chẳng sinh, sinh sinh. Như chẳng đến đến (đáo), chẳng đến chẳng đến, đến chẳng đến, đến đến (đáo đáo).

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là chẳng sinh sinh?

- Này thiện nam tử! An trụ ở thế đế, khi mới ra khỏi thai thì đó gọi là chẳng sinh sinh.

- Sao gọi là chẳng sinh chẳng sinh?

- Này thiện nam tử! Ðại Niết Bàn này không có tướng sinh. Ðó gọi là chẳng sinh chẳng sinh!

- Sao gọi là sinh chẳng sinh

- Này thiện nam tử! Theo thế đế, khi chết thì đó gọi là sinh chẳng sinh!

- Sao gọi là sinh sinh?

- Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu thì gọi là sinh sinh. Vì sao vậy? Vì sinh sinh chẳng gián đoạn. Tất cả hữu lậu từng niệm từng niệm sinh ra. Ðó gọi là sinh sinh. Bồ tát tứ trụ gọi sinh chẳng sinh. Vì sao vậy? Vì sinh tự tại nên đó gọi sinh chẳng sinh. Này thiện nam tử! Ðó gọi là nội pháp. Sao gọi là ngoại pháp? Chưa sinh sinh, chưa sinh chưa sinh, sinh chưa sinh, sinh sinh! Này thiện nam tử! Ví như hạt giống khi chưa nảy mầm. Nó được bốn đại hòa hợp, công sức người gieo trồng (tác nghiệp), nhiên hậu mới mọc ra. Ðó gọi là chưa sinh sinh. Sao gọi là chưa sinh chưa sinh? Ví như hạt giống hư và chưa gặp duyên. Những nhóm như vậy gọi là chưa sinh chưa sinh. Sao gọi là sinh chưa sinh? Như mầm đã sinh ra rồi mà chẳng tăng trưởng. Ðó gọi là sinh chưa sinh. Sao gọi là sinh sinh? Ví như mầm cây tăng trưởng. Nếu sinh chẳng sinh thì không tăng trưởng. Như vậy tất cả hữu lậu gọi là sinh sinh ngoại pháp.

Ðại Bồ tát Lưu Ly Quang bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Pháp hữu lậu nếu có sinh thì tức là thường hay là vô thường vậy? Sinh nếu là thường thì pháp hữu lậu không có sinh. Sinh nếu vô thường thì hữu lậu là thường. Thưa đức Thế Tôn! Nếu sinh có thể tự sinh thì sinh không tự tính. Nếu nó có thể sinh ra cái khác thì vì nhân duyên gì chẳng sinh ra hữu lậu? Thưa đức Thế Tôn! Nếu khi chưa sinh mà có sinh thì sao đến hôm nay mới gọi là sinh? Nếu khi chưa sinh mà không sinh thì vì sao chẳng nói hư không là sinh?

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Chẳng sinh sinh chẳng thể nói! Sinh sinh cũng chẳng thể! Sinh chẳng sinh cũng chẳng thể nói! Chẳng sinh chẳng sinh cũng chẳng thể nói! Sinh cũng chẳng thể nói! Chẳng sinh cũng chẳng thể nói! Có nhân duyên nên cũng có thể được nói! Sao gọi là chẳng sinh sinh chẳng thể nói? Chẳng sinh gọi là sinh thì sao có thể nói! Vì sao vậy? Vì do sinh ấy vậy. Sao gọi là sinh sinh chẳng thể nói? Sinh sinh nên sinh, sinh sinh nên chẳng sinh, cũng chẳng thể nói. Sao gọi là sinh chẳng sinh chẳng thể nói? Sinh tức gọi là sinh, sinh chẳng tự sinh nên chẳng thể nói. Sao gọi là chẳng sinh chẳng sinh chẳng thể nói? Chẳng sinh thì gọi là Niết Bàn. Niết Bàn chẳng sinh nên chẳng thể nói. Vì sao vậy? Vì do tu đạo mà được vậy! Sao gọi là sinh cũng chẳng thể nói? Do sinh không có vậy! Sao gọi là chẳng sinh chẳng thể nói? Do có được vậy! Sao gọi là có nhân duyên nên cũng có thể được nói? Mười pháp nhân duyên làm tác nhân của sanh. Do nghĩa này nên cũng có thể được nói. Này thiện nam tử! Ông nay chớ vào Không định thậm thâm! Vì sao vậy? Vì đại chúng trì độn vậy. Này thiện nam tử! Pháp hữu vi sinh cũng là thường nhưng do trụ ở vô thường nên sinh cũng vô thường. Trụ cũng là thường nhưng sinh sinh nên trụ cũng vô thường. Dị cũng là thường nhưng do pháp vô thường nên dị cũng vô thường. Hoại cũng là thường nhưng do xưa không nay có nên hoại cũng vô thường. Này thiện nam tử! Do tính nên sinh-trụ-dị-hoại đều là thường. Nhưng từng niệm, niệm diệt nên chẳng thể nói thường. Ðại Niết Bàn này có khả năng đoạn diệt nên gọi là vô thường. Này thiện nam tử! Pháp hữu lậu khi chưa sinh đã có tính sinh nên sinh có thể sinh. Pháp vô lậu vốn không có tính sinh nên sinh chẳng thể sinh. Như lửa có bản tính gặp duyên thì dấy lên. Mắt có tính thấy, nhân màu sắc, nhân ánh sáng, nhân tấm lòng nên thấy. Pháp sinh của chúng sinh cũng lại như vậy, do vốn có tính nên gặp nhân duyên nghiệp, cha mẹ hòa hợp thì liền có sinh.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Lưu Ly Quang và tám muôn bốn ngàn Ðại Bồ tát nghe pháp này xong, liền vọt lên hư không cao bằng bảy cây Ða La, cung kính chắp tay mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nhờ đức Như Lai ân cần dạy bảo và nhân Ðại Niết Bàn mới được ngộ giải vấn đề nghe điều chẳng nghe; cũng khiến cho tám muôn bốn ngàn vị Bồ tát lý giải sâu sắc về các pháp chẳng sinh sinh, v.v... Thưa đức Thế Tôn! Con nay đã ngộ giải, đoạn dứt các lưới nghi hoặc. Nhưng trong hội này có một vị Bồ tát tên là Vô Úy lại muốn bẩm hỏi, nguyện xin đức Thế Tôn rũ lòng hứa cho!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Bồ tát Vô Úy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông cứ tùy ý nạn hỏi! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói!

Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Úy cùng tám muôn bốn ngàn các vị Bồ tát, v.v... đều đứng dậy, sửa lại y phục, quì dài, chắp tay mà bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng sinh cõi này phải tạo nghiệp mà được sinh về thế giới Bất Ðộng kia? Bồ tát cõi ấy làm sao mà được trí tuệ thành tựu, là vua voi trong loài người có uy đức lớn, tu đủ các hạnh, trí sắc bén nhanh nhẹn nghe thì có thể hiểu được?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:

Chẳng hại mạng chúng sinh Kiên trì các cấm giới

Chịu lời dạy Thế Tôn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Chẳng đoạt của tha nhân Thường ban cho tất cả

Tạo lập họp tăng phường Thì sinh nước bất Ðộng.

Chẳng phạm vợ tha nhân Chẳng phi thời với vợ

Thí trì giới đồ nằm Thì sinh nước Bất Ðộng.

Chẳng vì cầu lợi mình Mà khủng bố người khác

Cẩn thận chẳng vọng ngôn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Chớ hủy hoại bạn lành Xa lìa quyến thuộc ác

Lời miệng hòa hợp luôn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Các Bồ tát vân vân... Thường lìa khỏi ác khẩu

Nói, người nghe vui lòng Thì sinh nước Bất Ðộng.

Lúc cười đùa cũng nên Chẳng nói phi thời ngữ

Cẩn thận lời lúc thường Thì sinh nước Bất Ðộng.

Thấy lợi dưỡng tha nhân Thường sinh lòng hoan hỷ

Chẳng khởi kết ghét ghen Thì sinh nước Bất Ðộng.

Chẳng não hại chúng sinh Thường sinh lòng từ ái

Phương tiện ác chẳng sinh Thì sinh nước Bất Ðộng.

Tà kiến nói không ban (thí) Cha mẹ, và đi lại

Chẳng khởi kiến như trên Thì sinh nước Bất Ðộng.

Ðường trống làm giếng(nước) ngon Gieo trồng rừng cây trái

Thường thí người xin ăn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Nếu với Phật - Pháp -Tăng Hương đèn một lần cúng

Cho đến hiến cành bông Thì sinh nước Bất Ðộng.

Bị khủng bố kinh hoàng Lợi dưỡng và phước đức

Chép một kệ Niết Bàn (kinh này) Thì sinh nước Bất Ðộng.

Vì phước lợi cầu mong Trong một ngày có thể

Ðọc tụng kinh Niết Bàn (Kinh này) Thì sinh nước Bất Ðộng.

Nếu vì đạo không trên(vô thượng) Trong một ngày đêm suốt

Tám giới trai giữ gìn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Chẳng cùng một chỗ chung Với người phạm trọng cấm

Trách kẻ chê (kinh) Phương Ðẳng Thì sinh nước Bất Ðộng.

Nếu hay cho bệnh nhận Thậm chí chỉ một trái

Hoan hỷ mà ngắm nhìn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Chẳng phạm vật tăng man Khéo giữ vật cúng Phật

Tô quét đất Phật, Tăng Thì sinh nước Bất Ðộng.

Tạo tháp tượng Thế Tôn Giống như ngón tay cái

Thường sinh lòng vui mừng Thì sinh nước Bất Ðộng.

Nếu vì Kinh Niết Bàn Tự thân và của báu

Cúng người nói pháp chân Thì sinh nước Bất Ðộng.

Nếu nghe, chép thành văn Thọ trì và đọc tụng

Mật tạng các Thế Tôn Thì sinh nước Bất Ðộng.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Vô Úy bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nay đã biết sự tạo nghiệp duyên để được sinh đến nước Bất Ðộng kia. Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương này khắp vì thương xót tất cả chúng sinh nên trước đã hỏi han. Ðức Như Lai nếu nói thì có thể đem lại lợi ích an lạc cho người, trời, A tu la, Càn thát bà, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, v.v...

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền bảo Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông nay ở đây phải chí tâm lắng nghe! ta sẽ vì ông phân biệt giải nói: Có nhân duyên chưa đến chẳng đến, có nhân duyên nên chẳng đến đến, có nhân duyên nên đến chẳng đến, có nhân duyên nên đến đến (đáo đáo). Vì nhân duyên gì nên chưa đến chẳng đến? Này thiện nam tử! Phàm chẳng đến là Ðại Niết bàn thì phàm phu chưa đến, do có tham dục, sân nhuế, ngu si, nghiệp thân miệng ý chẳng thanh tịnh và thọ tất cả vật bất tịnh, phạm bốn trọng cấm, bài báng Phương Ðẳng, Nhất xiển đề, năm nghịch tội. Do nghĩa này nên chưa đến chẳng đến. Này thiện nam tử! Vì nhân duyên gì nên chẳng đến? Chẳng đến thì gọi là Ðại Niết Bàn. Vì nghĩa gì nên gọi là đến? Vĩnh viễn đoạn tham dục, sân nhuế, ngu si, thân, miệng ác, chẳng thọ tất cả vật bất tịnh, chẳng phạm bốn trọng cấm, chẳng bài báng Kinh Phương Ðẳng, chẳng làm Nhất xiển đề, chẳng làm tội ngũ nghịch. Do nghĩa này nên gọi là chẳng đến đến. Tu đà hoàn thì tám vạn kiếp đến, Tư đà hàm thì sáu vạn kiếp đến, A na hàm thì bốn vạn kiếp đến, A la hán thì hai vạn kiếp đến, Bích Chi Phật thì mười ngàn kiếp đến. Do nghĩa này nên gọi là chẳng đến đến. Này thiện nam tử! Vì nhân duyên gì nên gọi là đến chẳng đến? Ðến thì gọi là hai mươi lăm cõi Hữu. Tất cả chúng sinh thường bị sự che phủ của vô lượng những phiền não kết, qua lại chẳng rời giống như bánh xe quay. Ðó gọi là đến. Thanh Văn, Duyên Giác và các Bồ tát đã được vĩnh viễn lìa khỏi nên gọi là chẳng đến. Vì muốn hóa độ các chúng sinh nên thị hiện ở trong đó nên cũng gọi là đến. Này thiện nam tử! Vì nhân duyên gì nên gọi là đến đến. Ðến tức là hai mươi lăm cõi hữu. Nhân duyên phiền não của tất cả phàm phu, Tu đà hoàn cho đến A na hàm nên gọi là đến đến. Này thiện nam tử! Nghe điều chẳng nghe cũng lại như vậy, có chẳng nghe nghe, có chẳng nghe chẳng nghe, có nghe chẳng nghe, có nghe nghe. Sao gọi là chẳng nghe nghe? Này thiện nam tử! Chẳng nghe thì gọi là Ðại Niết Bàn. Vì sao chẳng nghe? Vì chẳng phải hữu vi, chẳng phải âm thanh, chẳng thể nói. Sao gọi là cũng nghe? Ðược nghe danh như là Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Do nghĩa này nên gọi là chẳng nghe nghe.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, Ðại Niết Bàn thì chẳng thể được nghe thì sao lại nói Thường-Lạc-Ngã-Tịnh mà có thể được nghe? Vì sao vậy? Thưa đức Thế Tôn! Ðoạn phiền não thì gọi là được Niết Bàn, nếu chưa đoạn thì gọi là chẳng được. Do nghĩa này nên tính của Niết Bàn trước không nay có. Nếu pháp thế gian trước không nay có thì gọi là vô thường, ví như cái bình, v.v... trước không nay có, đã có rồi trở lại không nên gọi là vô thường. Niết Bàn nếu vậy thì sao nói rằng, Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Phàm cái gì nhân trang nghiêm mà được thành thì đều gọi là vô thường. Niết Bàn nếu vậy thì nên là vô thường. Những gì là nhân duyên? Ðó là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sáu Ba la mật, bốn vô lượng tâm, quán đến tướng xương, A na ba na, sáu niệm xứ, phá gẫy sáu đại, v.v...những pháp như vậy đều là nhân duyên thành tựu Niết Bàn nên gọi là vô thường. Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Có gọi là vô thường, nếu Niết Bàn là có cũng nên vô thường. Như đức Phật trước ở trong Kinh A Hàm nói rằng, Thanh Văn, Duyên Giác các đức Phật Thế Tôn đều có Niết Bàn. Do nghĩa này nên gọi là vô thường. Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Pháp có thể thấy gọi là vô thường. Như đức Phật trước đã nói, thấy Niết Bàn thì được đoạn trừ tất cả phiền não. Lại nữa, thưa đức Thế Tôn! Ví như hư không đối với các chúng sinh đều không ngăn ngại nên gọi là vô thường. Nếu giả sử Niết Bàn là thường thì vì sao chúng sinh có người được, có người chẳng được? Niết Bàn nếu vậy, đối với các chúng sinh chẳng bình đẳng thì chẳng gọi là thường. Thưa đức Thế Tôn! Ví như một trăm người có chung một oán thù. Nếu hại được kẻ oán thù này thì nhiều người được hưởng thụ niềm vui. Nếu giả sử Niết Bàn là pháp bình đẳng thì khi một người được nên có nhiều người được, một người đoạn kết phiền não nên có nhiều người cũng đoạn trừ. Nếu chẳng như vậy thì làm sao gọi là thường. Ví như có người cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen quốc vương, vương tử, cha mẹ, sư trưởng thì được lợi dưỡng. Ðó chẳng gọi là thường. Niết Bàn cũng vậy, chẳng gọi là thường. Vì sao vậy? Vì như lúc trước đức Phật ở trong Kinh A hàm, bảo ngài A Nan rằng, nếu có người cung kính Niết Bàn thì được đoạn trừ kiết sử, thọ vô lượng vui. Do nghĩa này nên chẳng gọi là thường. Thưa đức Thế Tôn! Nếu trong Niết Bàn có tên Thường-Lạc-Ngã-Tịnh thì chẳng gọi là thường. Nếu điều ấy không thì sao có thể nói được?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Thể của Niết Bàn chẳng phải vốn không mà nay có. Nếu thể của Niết Bàn vốn không mà nay có thì chẳng phải là pháp vô lậu thường trụ. Có Phật, không Phật tính tướng thường trụ nhưng vì các chúng sinh bị phiền não che phủ nên chẳng thấy Niết Bàn liền cho là không có. Ðại Bồ tát dùng giới, định, tuệ huân tập tu hành tâm của mình, đoạn trừ phiền não rồi thì liền được thấy Niết Bàn đó. Ông phải biết rằng, Niết Bàn là pháp thường trụ, chẳng phải vốn không mà nay có. Vậy nên Niết Bàn là thường. Này thiện nam tử! Như trong ngôi nhà tối có cái giếng chứa đủ thứ bảy báu mà ai cũng biết vì tối nên chẳng thấy. Có người trí giỏi biết phương tiện, thắp đèn sáng lớn, đem đến soi sáng, thấy được hết những báu đó. Người này ở đây, chẳng sinh ra ý niệm nước và bảy báu vốn không nay có. Niết Bàn cũng vậy, vốn tự đã có, chẳng phải hôm nay vừa mới có vậy. Vì phiền não tối tăm nên chúng sinh chẳng thấy, đức Như Lai đại trí, dùng phương tiện, thắp đèn trí tuệ, khiến cho các Bồ tát được thấy Niết Bàn Thường-Lạc-Ngã-Tịnh. Vậy nên kẻ trí đối với Niết Bàn này chẳng nên nói rằng, vốn không mà nay có. Này thiện nam tử! Ông nói rằng, nhân trang nghiêm mà được thành Niết Bàn nên Niết Bàn vô thường thì đó cũng chẳng đúng vậy. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Thể của Niết Bàn chẳng phải sinh, chẳng phải ra, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải tác nghiệp sinh, chẳng phải là pháp hữu lậu hữu vi, chẳng phải nghe, chẳng phải thấy, chẳng phải đọa, chẳng phải tử, chẳng phải tướng biệt dị cũng chẳng phải tướng đồng, chẳng phải trụ, chẳng phải hoàn (trở lại), chẳng phải quá khứ, vị lai và hiện nay, chẳng phải một, chẳng phải nhiều, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải tròn, chẳng phải vuông, chẳng phải nhọn, chẳng tà (không nhọn), chẳng phải có tướng, chẳng phải không tướng, chẳng phải danh, chẳng phải sắc, chẳng phải nhân, chẳng phải quả, chẳng phải ngã và ngã sở... Do nghĩa này nên Niết Bàn là thường hằng chẳng biến dị. Ðó là do vô lượng A tăng kỳ kiếp tu tập thiện pháp để tự trang nghiêm, rồi nhiên hậu mới thấy. Này thiện nam tử! Ví như dưới đất có nước tám vị mà tất cả chúng sinh chẳng thể được. Có người trí thi công đào xuyên qua thì liền được nước đó. Niết Bàn cũng vậy. Ví như người mù chẳng thấy mặt trời, mặt trăng, được lương y trị liệu cho thì liền được thấy mà mặt trời, mặt trăng này chẳng phải là vốn không mà nay có. Niết Bàn cũng vậy, trước đã tự có rồi, chẳng phải vừa mới có hôm nay vậy. Này thiện nam tử! Ví như người có tội bị giam giữ lâu trong ngục mới được ra, trở về nhà được thấy cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, Niết Bàn cũng vậy. Này thiện nam tử! Ông nói rằng, vì là nhân duyên nên pháp Niết Bàn phải là vô thường, thì điều này cũng chẳng đúng vậy! Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì Nhân có năm thứ. Những gì là năm? Một là sinh nhân, hai là hòa hợp nhân, ba là trụ nhân, bốn là tăng trưởng nhân, năm là viễn nhân. Sao gọi là sinh nhân? Sinh nhân tức là nghiệp phiền não, v.v... và bên ngoài là hạt giống cỏ cây... Ðó gọi là sinh nhân. Sao gọi là hòa hợp nhân? Như cái thiện cùng lòng thiện hòa hợp, cái chẳng thiện cùng với lòng chẳng thiện hòa hợp, cái vô ký cùng với lòng vô ký hòa hợp. Ðó gọi là nhân hòa hợp. Sao gọi là trụ nhân? Như bên dưới có trụ chống thì nhà chẳng sập, núi, sông, cây cối nhân vào đất đai mà được đứng vững. Bên trong có bốn đại, vô lượng phiền não nên chúng sinh được trụ. Ðó gọi là trụ nhân. Sao gọi là tăng trưởng nhân? Nhân duyên quần áo, ăn uống, v.v... nên khiến cho chúng sinh tăng trưởng. Như bên ngoài, hạt giống chẳng bị lửa đốt cháy, chẳng bị chim ăn mất thì nó được tăng trưởng. Như các Sa môn, Bà la môn, v.v... nương vào nhân Hòa thượng, Thiện tri thức, v.v... mà được tăng trưởng. Như nhân cha mẹ thì con được tăng trưởng. Ðó gọi là nhân tăng trưởng. Sao gọi là viễn nhân (nhân xa)? Ví như nhân thần chú mà quỉ chẳng thể hại đọc, chẳng thể trúng. Nương tựa quốc vương thì không có đạo tặc. Như mầm cây nương nhờ đất nước lửa gió, v.v... Như người tích góp nước là nhân xa của cao sữa. Như sắc sáng, v.v... là nhân xa của nhận thức. Tinh huyết cha mẹ là nhân xa của chúng sinh. Như thời tiết, v.v... đều gọi là viễn nhân. Này thiện nam tử! Thể của Niết Bàn chẳng phải là sự tạo thành của năm thứ nhân như vậy thì sao phải nói rằng, đó là nhân vô thường? Lại nữa, này thiện nam tử! Lại có hai thứ nhân, một là tác nhân, hai là liễu nhân. Như bánh xe, sợi dây của người thợ gốm thì đó gọi là tác nhân. Như đèn đuốc, v.v... chiếu soi vật trong tối thì đó gọi là liễu nhân (nhân làm rõ). Này thiện nam tử! Ðại Niết Bàn thì chẳng từ tác nhân mà có, chỉ từ liễu nhân thôi! Liễu nhân thì đó là ba mươi bảy pháp trợ đạo, sáu Ba la mật... Ðó gọi là Liễu nhân. Này thiện nam tử! Bố thí là nhân Niết Bàn, chẳng phải nhân của Ðại Niết Bàn. Ðàn Ba la mật (Thí độ vô cực) mới được gọi là nhân của Ðại Niết Bàn. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là nhân của Niết Bàn, chẳng phải là nhân của Ðại Niết Bàn. Vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp tu hành pháp Bồ Ðề thì mới được gọi là nhân của Ðại Niết Bàn.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi bố thí chẳng được gọi là Ðàn Ba la mật? Sao gọi là bố thí mà được gọi là Ðàn Ba la mật?.. cho đến Bát nhã sao chẳng được gọi là Bát nhã Ba la mật? Sao được gọi là Bát nhã Ba la mật? Sao gọi là Niết Bàn? Sao gọi là Ðại Niết Bàn?

Ðức Phật dạy rằng:

- Ðại Bồ tát tu hành Phương Ðẳng Ðại Bát Niết Bàn thì chẳng nghe bố thí, chẳng thấy bố thí, chẳng nghe Ðàn Ba la mật, chẳng thấy Ðàn Ba la mật... cho đến chẳng nghe Bát nhã, chẳng thấy Bát nhã, chẳng nghe Bát nhã Ba la mật, chẳng thấy Bát nhã Ba la mật, chẳng nghe Niết Bàn, chẳng thấy Niết Bàn, chẳng nghe Ðại Niết Bàn, chẳng thấy Ðại Niết Bàn. Ðại Bồ tát tu hành Ðại Niết Bàn thì thấy biết pháp giới, hiểu rõ thật tướng rỗng không, không có sở hữu, không có tướng hiểu biết hòa hợp, được tướng vô lậu, tướng không sở tác, tướng như huyễn hóa, tướng cháy lên khi nóng, tướng rỗng không của thành Càn thát bà. Bấy giờ, được những tướng như vậy Bồ tát không tham sân si, chẳng nghe, chẳng thấy. Ðó gọi là tướng chân thật của Ðại Bồ tát, an trụ thật tướng. Ðại Bồ tát tự biết đây là Ðàn, đây là Ðàn Ba la mật... cho đến đây là Bát Nhã, đây là Bát nhã Ba la mật, đây là Niết Bàn, đây là Ðại Niết Bàn.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Thí chẳng phải là Ba la mật? Thấy có người xin, nhiên hậu mới cho thì đó gọi thí, chẳng phải là Ba la mật. Nếu không có người xin mà mở lòng tự thí thì đó gọi là Ðàn Ba la mật. Nếu thời thời thí (cho từng lúc từng lúc) thì đó gọi là thí chẳng phải là Ba la mật. Nếu tu thường thí thì gọi là Ðàn Ba la mật. Nếu thí cho người rồi trở lại sinh lòng hối thì gọi là thí, chẳng phải là Ba la mật. Thí rồi chẳng hối thì đó gọi là Ðàn Ba la mật. Ðại Bồ tát ở trong của cải sinh ra bốn tâm lo sợ là vua, giặc, nước, lửa mà hoan hỷ thí cho thì đó gọi là Ðàn Ba la mật, còn nếu hy vọng quả báo bố thí thì gọi là thí, chẳng phải là Ba la mật. Bố thí chẳng mong báo đáp thì gọi là Ðàn Ba la mật. Nếu bố thí vì khủng bố, vì danh tiếng, vì lợi dưỡng, vì phép nhà nối nhau, vì năm dục trên trời, vì kiêu mạn, vì thắng mạn, vì tình bạn, vì quả báo đời sau... theo như phép trao đổi ở chợ. Này thiện nam tử! Như người trồng cây vì được bóng mát, vì được hoa trái và cây gỗ... Nếu người tu hành thí như vậy, v.v... thì gọi là thí chẳng phải là Ba la mật.

Ðại Bồ tát tu hành Ðại Niết Bàn này thì chẳng thấy người thí, người nhận thí và của bố thí, chẳng thấy thời tiết, chẳng thấy ruộng phước và chẳng phải ruộng phước, chẳng thấy nhân, chẳng thấy duyên, chẳng thấy quả báo, chẳng thấy người làm, chẳng thấy người nhận, chẳng thấy nhiều, chẳng thấy ít, chẳng thấy tịnh, chẳng thấy bất tịnh, chẳng khinh người nhận tài vật của thân mình, chẳng thấy người thấy, chẳng thấy người chẳng thấy, chẳng kể của mình, của người... mà chỉ vì pháp thường trụ của Phương Ðẳng Ðại Bát Niết Bàn nên tu hành bố thí, vì lợi ích cho tất cả chúng sinh mà làm việc bố thí, vì đoạn trừ phiền não của tất cả chúng sinh nên làm bố thí, vì các chúng sinh chẳng thấy người nhận, người cho, tài vật cho nên làm bố thí. Này thiện nam tử! Ví như có người rơi xuống nước biển cả mà bão trì được thây chết thì được độ thoát. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn khi làm bố thí cũng lại như vậy, như tử thi kia. Này thiện nam tử! Ví như có người bị giam ở tại ngục sâu, cửa nẻo chắc chắn, chỉ có lỗ nhà xí, liền từ trong đó đi ra, đến chỗ không ngăn ngại. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn khi làm bố thí cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như người cao quí bị khủng bố nguy cấp lại không chỗ nhờ cậy, nương vào Chiên đà la. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn, làm bố thí cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như người bệnh vì trừ khỏi bệnh khổ nên ăn uống bất tịnh. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn làm bố thí cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như Bà la môn gặp lúc lương thực khan hiếm, vì thọ mạng nên ăn thịt chó. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn làm bố thí cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Trong Ðại Niết Bàn, những việc như vậy, từ vô lượng kiếp đến nay, chẳng nghe mà nghe. Thi la, Thi la Ba la mật (Trì giới, Trì giới Ba la mật)... cho đến Bát nhã, Bát nhã Ba la mật... như Phật đã rộng nói trong Kinh Tạp Hoa.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn chẳng nghe mà nghe? Mười hai bộ Kinh, ý nghĩa thâm thúy từ xưa đến giờ chẳng nghe, nay nhân kinh này được nghe đầy đủ. Trước tuy được nghe nhưng chỉ nghe danh tự mà nay ở Kinh Ðại Niết Bàn này mới được nghe nghĩa. Thanh Văn, Duyên Giác chỉ nghe danh tự mười hai bộ kinh mà chẳng nghe được nghĩa của Kinh ấy thì nay nhân kinh này được nghe đầy đủ. Ðó gọi là chẳng nghe mà nghe. Này thiện nam tử! Trong tất cả kinh của Thanh Văn, Duyên Giác, chẳng từng nghe Phật có Thường-Lạc-Ngã-Tịnh, chẳng rốt ráo diệt, Tam Bảo, Phật tính không có tướng sai biệt và phạm bốn trọng cấm, bài báng Kinh Phương Ðẳng, tạo tội ngũ nghịch, Nhất xiển đề đều có Phật tính. Hôm nay ở Kinh này mà được nghe những điều đó. Ðó gọi là chẳng nghe mà nghe.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ mười chín hết -


20/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi

PHẨM BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG

Thứ Hai Mươi Hai (tiếp theo)

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu người phạm trọng cấm, bài báng Kinh Phương Ðẳng, làm tội ngũ nghịch, nhất xiển đề, v.v... mà có Phật tính thì những người đó lại đọa vào địa ngục? Thưa đức Thế Tôn! Giả sử nếu những người này có Phật tính thì sao lại nói rằng họ không có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh? Thưa đức Thế Tôn! Nếu đoạn dứt thiện căn gọi là nhất xiển đề thì khi đoạn thiện căn sao chẳng đoạn Phật tính sở hữu? Phật tính đoạn thì sao nói rằng Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Như thiện căn ấy chẳng đoạn thì vì sao gọi là nhất xiển đề vậy? Thưa đức Thế Tôn! Phạm bốn trọng cấm gọi là bất định. Bài báng Kinh Phương Ðẳng, tạo tội ngũ nghịch và nhất xiển đề đều gọi là bất định. Những loại như vậy, nếu quyết định thì làm sao được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Từ Tu đà hoàn cho đến Bích Chi Phật cũng gọi là bất định. Nếu từ Tu đà hoàn đến Bích Chi Phật là quyết định thì cũng chẳng nên thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thưa đức Thế Tôn! Nếu người phạm bốn trọng cấm chẳng quyết định thì từ Tu đà hoàn cho đến Bích Chi Phật cũng chẳng quyết định. Như vậy bất định thì các đức Phật Như Lai cũng lại bất định. Nếu Phật bất định thì thể tính Niết Bàn cũng lại bất định, đến tất cả pháp cũng lại bất định. Sao gọi là bất định? Nếu nhất xiển đề trừ nhất xiển đề thì thành Phật đạo. Các đức Phật Như Lai cũng nên như vậy, vào Niết Bàn rồi thì cũng nên trở ra, chẳng vào Niết Bàn. Nếu như vậy thì tính của Niết Bàn là bất định chẳng quyết định thì phải biết không có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh thì sao nói rằng, nhất xiển đề, v.v... sẽ được Niết Bàn?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Vì muốn lợi ích cho vô lượng chúng sinh, khiến cho họ được an vui, thương xót từ niệm các thế gian, vì muốn tăng trưởng sự phát tâm Bồ Ðề cho các Bồ tát nên ông đã đặt câu hỏi như vậy! Này thiện nam tử! Ông đã gần gũi vô lượng các đức Phật Thế Tôn đời quá khứ, ở chỗ các đức Phật ấy gieo trồng các căn lành. Ông đã thành tựu công đức Bồ Ðề lâu rồi, đã hàng phục mọi ma khiến cho chúng thoái tan. Ông đã giáo hóa vô lượng vô biên chúng sinh đều khiến cho họ được đến Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ông đã thông đạt tạng bí mật thậm thâm sở hữu của các đức Phật Như Lai lâu rồi, đã hỏi nghĩa vi mật thậm thâm như vậy với vô lượng vô biên hằng hà sa số các đức Phật Thế Tôn đời quá khứ. Ta đều chẳng thấy tất cả thế gian, hoặc người, hoặc trời, hoặc Sa môn, hoặc Bà la môn, hoặc ma, hoặc Phạm... có thể hỏi han Như Lai về nghĩa này. Hôm nay ông phải thành tâm lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt diễn nói. Này thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng chẳng quyết định. Nếu quyết định thì nhất xiển đề này trọn chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà do chẳng quyết định nên có thể được. Như lời ông nói, Phật tính chẳng đoạn thì làm sao nhất xiển đề đoạn thiện căn? Này thiện nam tử! Thiện căn có hai thứ, một là nội, hai là ngoại. Phật tính chẳng phải nội, chẳng phải ngoại. Do nghĩa này nên Phật tính chẳng đoạn. Thiện căn lại có hai thứ, một là hữu lậu, hai là vô lậu. Phật tính chẳng phải là hữu lậu, chẳng phải là vô lậu. Vậy nên Phật tính chẳng đoạn. Thiện căn lại có hai thứ, một là thường, hai là vô thường. Phật tính chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. Vậy nên Phật tính chẳng đoạn. Nếu là đoạn thì nên được trở lại mà nếu chẳng được trở lại thì gọi là chẳng đoạn. Nếu đoạn rồi mà được thì gọi là nhất xiển đề. Phạm bốn trọng cấm cũng là bất định. Nếu quyết định thì phạm bốn trọng cấm nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bài báng Kinh Phương Ðẳng cũng lại bất định. Nếu quyết định thì người bài báng Chánh pháp nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Tạo tội ngũ nghịch cũng lại bất định. Nếu quyết định thì người tạo tội ngũ nghịch nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Sắc cùng tướng của sắc cả hai đều bất định. Tướng hương, vị xúc, tướng sinh đến tướng vô minh, tướng ấm, nhập giới, tướng hai mươi lăm cõi hữu, bốn sinh cho đến tất cả các pháp đều cũng bất định. Này thiện nam tử! Ví như nhà huyễn thuật, ở trong đại chúng, hóa làm bốn thứ binh là xe, bộ, voi, ngựa, tạo tác những chuỗi ngọc, đồ trang sức thân, tạo ra thành ấp, tụ lạc, núi rừng, cây cối, suối ao, sông giếng. Ở trong chúng đó có các tiểu nhi, không có trí tuệ, khi nhìn thấy những thứ đó đều cho là thật. Kẻ trí trong chúng ấy biết những thứ kia là hư dối, do sức huyễn thuật nên mê hoặc mắt người. Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu cho đến Thanh Văn, Bích Chi Phật, v.v... đối với tất cả pháp thấy có định tướng. Lại cũng như vậy. Chư Phật Bồ tát đối với tất cả pháp không thấy định tướng. Này thiện nam tử! Ví như đứa trẻ con vào tháng mùa hè khi thấy nóng bốc lửa thì gọi đó là nước. Người có trí đối với lửa nóng cháy này nhất định chẳng sinh ra tư tưởng nước thật mà chỉ là lửa bốc lừa dối mắt người chẳng phải thật là nước. Tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác thấy tất cả pháp cũng lại như vậy, đều cho là thật. Các đức Phật, Bồ tát, đối với tất cả pháp chẳng thấy định tướng. Này thiện nam tử! Ví như hang núi nhân tiếng có âm vang. Trẻ con nghe âm vang cho là tiếng thật. Người có trí biết được đó không thật mà chỉ có tướng của tiếng lừa dối nhận thức của tai. Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác đối với tất cả pháp cũng lại như vậy, thấy có định tướng các vị Bồ tát hiểu rõ các pháp đều không định tướng mà là tướng vô thường, tướng không tịch, tướng không sinh diệt, v.v... Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát thấy tất cả pháp là tướng vô thường. Này thiện nam tử! Cũng có định tướng. Sao gọi là định? Thường - Lạc - Ngã - Tịnh! Ở tại đâu vậy? Chỗ gọi là Niết Bàn! Này thiện nam tử! Quả Tu đà hoàn cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua tám vạn kiếp mới được tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Quả Tư đà hàm cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua sáu vạn kiếp mới được tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Quả A na hàm cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua bốn vạn kiếp mới được tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Quả A la hán cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua hai vạn kiếp mới được tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðạo Bích Chi Phật cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua mười ngàn kiếp mới được tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Như Lai hôm nay ở trong vùng Ta La Song Thọ tại thành Câu Thi Na thị hiện nằm tựa vào giường Sư Tử, muốn vào Niết Bàn khiến cho những chúng đệ tử chưa được quả A la hán, v.v... và các lực sĩ sinh ra đại khổ não, cũng khiến cho trời, người, A tu la, Càn thát bà, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, v.v... thiết đại lễ cúng dường và muốn khiến cho mọi người dùng một ngàn tấm vải trắng ràng bọc tấm thân ấy, dùng bảy báu làm áo quan đựng đầy dầu thơm, gom chứa gỗ thơm, dùng lửa để thiêu đốt (trà tỳ), chỉ trừ hai tấm chẳng thể được đốt, một là tấm bọc xác thân, hai là tấm ở ngoài cùng, cũng vì các chúng sinh phân tán Xá Lợi làm tám phần. Tất cả đệ tử Thanh Văn sở hữu đều nói rằng, Như Lai vào với Niết Bàn, ông phải biết Như Lai cũng chẳng nhất định vào với Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai thường trụ bất biến vậy. Do nghĩa này nên Như Lai Niết Bàn cũng lại bất định. Này thiện nam tử! Ông phải biết là, Như Lai cũng lại bất định. Như Lai chẳng phải trời. Vì sao vậy? Vì có bốn thứ trời, một là trời thế gian, hai là trời sinh, ba là trời tịnh, bốn là trời nghĩa. Trời thế gian thì như các quốc vương. Trời sinh thì từ Tứ Thiên Vương cho đến trời Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng. Trời tịnh là từ Tu đà hoàn đến Bích Chi Phật. Trời nghĩa là Bồ tát Ma ha tát Thập trụ, v.v... Vì nghĩa gì nên Bồ tát Thập Trụ gọi là trời nghĩa? Do Bồ tát Thập Trụ có thể giỏi giải nghĩa các pháp vậy. Sao gọi là Nghĩa? Thấy tất cả pháp chính là “Không nghĩa”. Này thiện nam tử! Như Lai chẳng phải vua cũng chẳng phải bốn trời cho đến trời Phi Hữu Tưởng Phi Vô tưởng, chẳng phải từ Tu đà hoàn đến Bích Chi Phật, Bồ tát Thập Trụ. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng phải là Trời. Nhưng các chúng sinh cũng lại xưng Phật là đấng Thiên Trung Thiên. Vậy nên Như Lai chẳng phải trời chẳng phải Phi thiên, chẳng phải người chẳng phải phi nhân, chẳng phải quỉ chẳng phải phi quỉ, chẳng phải địa ngục súc sinh ngã quỉ, chẳng phải phi địa ngục súc sinh ngã quỉ, chẳng phải chúng sinh chẳng phải phi chúng sinh, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp, chẳng phải sắc chẳng phải phi sắc, chẳng phải trường chẳng phải phi trường, chẳng phải đoản chẳng phải phi đoản, chẳng phải tướng chẳng phải phi tướng, chẳng phải tâm chẳng phải phi tâm, chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi, chẳng phải thường chẳng phải vô thường, chẳng phải huyễn chẳng phải phi huyễn, chẳng phải danh chẳng phải phi danh, chẳng phải định chẳng phải phi định, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải thuyết chẳng phải phi thuyết, chẳng phải Như Lai chẳng phải chẳng Như Lai... Do nghĩa này nên Như Lai bất định. Này thiện nam tử! Vì sao Như Lai chẳng gọi là trời thế gian? Trời thế gian tức là các vì vua. Như Lai từ lâu, ở trong vô lượng kiếp, đã bỏ vương vị. Vậy nên Như Lai chẳng phải là vua. Chẳng phải phi vương là Như Lai sinh ra trong vương gia Tịnh Phạn ở thành Ca Tỳ La. Vậy nên Như Lai chẳng phải phi vương. Chẳng phải trời Sinh là Như Lai từ lâu đã lìa khỏi các hữu. Vậy nên Như Lai chẳng phải trời Sinh. Chẳng phải phi Sinh Thiên. Vì sao vậy? Vì Như Lai lên trời Ðâu Suất, xuống cõi Diêm phù đề vậy. Vậy nên Như Lai chẳng phải là phi Sinh Thiên, cũng chẳng phải trời Tịnh. Vì sao vậy? Vì Như Lai chẳng phải là Tu đà hoàn cho đến Bích Chi Phật. Vậy nên Như Lai chẳng phải là trời Tịnh, cũng chẳng phải phi Tịnh Thiên. Vì sao vậy? Vì chẳng thể bị nhiễm tám pháp của thế gian, giống như hoa sen chẳng thọ nước vẩn đục. Vậy nên Như Lai chẳng phải phi Tịnh Thiên, cũng chẳng phải trời Nghĩa. Vì sao vậy? Vì Như Lai chẳng phải là Bồ tát Thập Trụ. Vậy nên Như Lai chẳng phải là trời Nghĩa cũng chẳng phải phi Nghĩa Thiên. Vì sao vậy? Vì Như Lai thường tu mười tám “không nghĩa”. Vậy nên Như Lai chẳng phải là phi Nghĩa Thiên. Như Lai chẳng phải người. Vì sao vậy? Vì Như Lai từ lâu, ở trong vô lượng kiếp, đã lìa khỏi cõi hữu của loài người. Vậy nên Như Lai chẳng phải người, cũng chẳng phải phi nhân. Vì sao vậy? Vì Như Lai sinh ra ở thành Ca Tỳ La nên chẳng phải là phi nhân. Như Lai chẳng phải quỉ. Vì sao vậy? Vì chẳng hại tất cả chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải quỉ, cũng chẳng phải phi quỉ. Vì sao vậy? Vì cũng dùng hình dạng quỉ để giáo hóa chúng sinh nên Như Lai chẳng phải phi quỉ. Như Lai cũng chẳng phải địa ngục súc sinh ngã quỉ. Vì sao vậy? Vì Như Lai từ lâu đã lìa khỏi các nghiệp ác. Vậy nên Như Lai chẳng phải địa ngục súc sinh ngã quỉ, cũng chẳng phải phi địa ngục súc sinh ngã quỉ. Vì sao vậy? Vì Như Lai cũng lại thị hiện thọ thân của ba đường ác để hóa độ chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải phi địa ngục súc sinh ngã quỉ, cũng chẳng phải chúng sinh. Vì sao vậy? Vì Như Lai từ lâu xa lìa tính chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải chúng sinh, cũng chẳng phải phi chúng sinh. Vì sao vậy? Vì hoặc khi diễn nói Như Lai mang tướng chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải phi chúng sinh. Như Lai chẳng phải pháp. Vì sao vậy? Vì các pháp mỗi mỗi đều có tướng sai biệt mà Như Lai chẳng vậy, chỉ có một tướng. Vậy nên Như Lai chẳng phải pháp, cũng chẳng phải phi pháp. Vì sao vậy? Vì Như Lai là pháp giới nên Như Lai chẳng phải phi pháp. Như Lai chẳng phải sắc. Vì sao vậy? Vì mười sắc nhập Như Lai chẳng nhiếp lấy. Vậy nên Như Lai chẳng phải sắc, cũng chẳng phải phi sắc. Vì sao vậy? Vì thân có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp nên Như Lai chẳng phải phi sắc. Như Lai chẳng phải trường (dài). Vì sao vậy? Vì đoạn trừ các sắc nên Như Lai chẳng phải trường, cũng chẳng phải phi trường. Vì sao vậy? Vì tất cả thế gian không có ai có thể thấy tướng đảnh kế. Vậy nên Như Lai chẳng phải phi trường. Như Lai chẳng phải đoản. Vì sao vậy? Vì từ lâu, Như Lai đã xa lìa kiết sử kiêu mạn nên Như Lai chẳng phải đoản, cũng chẳng phải phi đoản. Vì sao vậy? Vì Như Lai vì ông trưởng giả Cù Sư La thị hiện thân ba thước nên chẳng phải phi đoản. Như Lai chẳng phải tướng. Vì sao vậy? Vì từ lâu Như Lai đã xa lìa các tướng của tướng. Vậy nên Như Lai chẳng phải tướng, cũng chẳng phải phi tướng. Vì sao vậy? Vì Như Lai giỏi biết các tướng nên chẳng phải phi tướng. Như Lai chẳng phải tâm. Vì sao vậy? Vì là tướng hư không. Vậy nên Như Lai chẳng phải tâm, cũng chẳng phải phi tâm. Vì sao vậy? Vì có tâm pháp mười lực, cũng có thể biết lòng của chúng sinh khác. Vậy nên Như Lai chẳng phải phi tâm. Như Lai chẳng phải hữu vi. Vì sao vậy? Vì Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Vậy nên Như Lai chẳng phải hữu vi, cũng chẳng phải vô vi. Vì sao vậy? Vì Như Lai có đi, lại, ngồi, nằm và thị hiện Niết Bàn. Vậy nên Như Lai chẳng phải vô vi. Như Lai chẳng phải Thường. Vì sao vậy? Vì thân có phân biệt nên chẳng phải thường. Sao gọi là thường? Do có biết mà thường pháp thì không biết giống như hư không. Như Lai có biết nên chẳng phải thường. Sao gọi là phi thường? Có lời nói mà thường pháp thì không lời nói giống như hư không. Như Lai có lời nói nên là vô thường, có dòng họ nên gọi rằng vô thường. Pháp không dòng họ mới gọi là thường. Hư không thường nên không có dòng họ. Như Lai có họ là họ Cù Ðàm Thị nên vô thường, có cha mẹ nên gọi là vô thường. Không cha mẹ thì mới gọi là thường. Hư không thường nên không có cha mẹ. Phật có cha mẹ nên là vô thường. Có bốn oai nghi gọi là vô thường, không bốn oai nghi mới gọi là thường. Hư không thường nên không bốn oai nghi, Phật có bốn oai nghi nên là vô thường. Pháp thường trụ không có phương sở (địa phương xứ sở). Hư không thường nên không có phương sở. Như Lai xuất hiện tại đất Ðông Thiên Trúc, trụ ở thành Xá Bà Ðề hay thành Vương Xá nên vô thường. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng phải thường, cũng chẳng phải phi thường. Vì sao vậy? Vì sự sinh đoạn trừ vĩnh viễn. Pháp có sinh gọi là vô thường. Pháp không sinh mới gọi là thường. Như Lai không sinh vậy nên là thường. Thường pháp không tính, pháp có tính thì gọi là vô thường. Như Lai không sinh, không tính (họ) mà không sinh, không tính nên là thường. Pháp hữu thường khắp cùng tất cả chỗ giống như hư không không chỗ nào chẳng có. Như Lai cũng vậy, cùng khắp tất cả chỗ. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp vô thường, hoặc nói đây có, hoặc nói kia không. Như Lai chẳng vậy, chẳng thể nói rằng, chỗ này có, chỗ kia không. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp vô thường có khi là có, có khi là không. Như Lai chẳng vậy, có khi là có, có khi là không. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp thường trụ không danh, không sắc. Hư không thường nên không danh không sắc. Như Lai cũng vậy không danh không sắc. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp thường trụ không nhân không quả, hư không thường nên không nhân không quả. Như Lai cũng vậy, không nhân không quả, vậy nên là thường. Pháp thường trụ ba đời chẳng nhiếp lấy. Như Lai cũng vậy, ba đời chẳng nhiếp lấy. Vậy nên Như Lai là thường. Như Lai chẳng phải huyễn. Vì sao vậy? Vì vĩnh viễn đoạn trừ tất cả lòng hư dối. Vậy nên Như Lai chẳng phải huyễn cũng chẳng phải phi huyễn. Vì sao vậy? Vì Như Lai, hoặc khi phân một thân này làm vô lượng thân. Rồi thân vô lượng lại làm thành một thân, đi ra xuyên qua tường vách mà không có chướng ngại, đi trên nước như trên đất, vào trong đất như trong nước, đi giữa hư không như trên mặt đất, thân tuông ra khỏi lửa như đám lửa lớn, mây sấm chấn động, âm thanh đáng sợ. Hoặc làm ra thành ấp, tụ lạc, nhà cửa, núi sông, cây cối, hoặc tạo nên thân lớn, hoặc hóa làm thân nhỏ, thân trai, thân gái, thân bé trai, thân bé gái... Vậy nên Như Lai cũng chẳng phải phi huyễn. Như Lai chẳng phải định. Vì sao vậy? Vì Như Lai ở vùng Ta La Song Thọ tại thành Câu Thi Na thị hiện vào Niết Bàn. Vậy nên Như Lai chẳng phải định, cũng chẳng phải phi định. Vì sao vậy? Vì Thường - Lạc - Ngã - Tịnh nên Như Lai chẳng phải phi định. Như Lai chẳng phải hữu lậu. Vì sao vậy? Vì Như Lai đoạn trừ ba lậu nên chẳng phải là hữu lậu. Ba lậu là, tất cả phiền não của Dục giới trừ vô minh thì đó gọi là Dục lậu. Tất cả phiền não của Sắc giới và Vô sắc giới trừ vô minh thì đó gọi là Hữu lậu. Vô minh của ba cõi gọi là vô minh lậu. Như Lai đoạn trừ vĩnh viễn ba lậu, vậy nên phi lậu. Lại nữa, tất cả phàm phu chẳng có hữu lậu. Sao gọi là phàm phu chẳng thấy hữu lậu? Tất cả phàm phu ở đời vị lai đều có nghi tâm (lòng nghi hoặc) thì trong đời vị lai họ sẽ được thân hay chẳng được thân vậy? Trong đời quá khứ, thân vốn có hay vốn không vậy? Trong đời hiện tại thân này có hay thân này không vậy? Nếu có ngã thì chính là sắc hay chẳng phải sắc vậy? Là sắc chẳng phải sắc hay chẳng phải sắc chẳng phải phi sắc vậy? Tưởng hay chẳng phải tưởng vậy? Tưởng chẳng phải tưởng hay chẳng phải tưởng chẳng phải phi tưởng vậy? Thân này thuộc người khác hay chẳng thuộc người khác vậy? Thuộc chẳng thuộc hay chẳng phải thuộc chẳng phải phi thuộc vậy? Có mạng không thân hay có thân không mạng vậy? Có thân có mạng hay không thân không mạng vậy? Thân cùng với mạng có thường hay vô thường vậy? Thường vô thường hay chẳng phải thường chẳng phải vô thường vậy? Thân cùng với mạng tự tại tạo tác hay thời tiết tạo tác vậy? Vô nhân tạo tác hay thế tánh tạo tác vậy? Vi trần tạo tác hay pháp phi pháp tạo tác, sĩ phu tạo tác? Phiền não tạo tác hay cha mẹ tạo tác vậy? Ngã trụ ở tâm hay trụ trong mắt vậy? Hay đầy khắp trong thân vậy? Ngã từ đâu lại rồi đi đến đâu vậy? Ai sinh ra? Ai chết vậy? Ngã ở quá khứ là dòng Bà la môn? Là dòng Sát lợi? Là dòng Tỳ Xá? Là dòng Thủ đà la vậy? Ở đời vị lai ngã sẽ được dòng gì vậy? Thân này của ta, lúc quá khứ là thân nam? Là thân nữ? Là thân súc sinh vậy? Nếu ta sát sinh thì sẽ có tội hay sẽ không có tội vậy?.. Cho đến uống rượu thì sẽ có tội hay sẽ không có tội vậy? Ta tự làm hay vì người khác làm vậy. Ta thọ báo hay thân thọ báo vậy? Vô lượng phiền não của những nghi kiến như vậy che phủ lòng của chúng sinh. Nhân những nghi kiến này nên sinh ra sáu thứ tâm: Quyết định có ngã, quyết định không ngã, ngã thấy ngã, ngã thấy vô ngã, vô ngã thấy ngã, ngã tác, ngã thọ, ngã tri. Ðó gọi là tà kiến. Như Lai vĩnh viễn bứng bỏ cội rễ (căn bản) của vô lượng kiến lậu như vậy. Vậy nên Như Lai chẳng phải lậu. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát ở trong Ðại Niết Bàn tu thánh hạnh thì cũng được vĩnh viễn đoạn trừ những lậu như vậy. Các đức Phật Như Lai thường tu Thánh hạnh nên vô lậu.

Này thiện nam tử! Phàm phu chẳng thể khéo nhiếp lấy năm căn thì có ba lậu, bị sự ác dẫn dắt đến chỗ bất thiện. Này thiện nam tử! Ví như con ngựa dữ, tính ngang bướng của nó có thể khiến cho người đi xe đến chỗ hiểm ác. Người chẳng thể khéo nhiếp lấy năm căn cũng lại như vậy, khiến cho người xa lìa thiện đạo Niết Bàn đi đến chỗ ác. Ví như con voi dữ, chưa điều thuận mà có người cưỡi nó thì chẳng đi được theo ý, lìa xa thành ấp, đi đến chỗ trống không. Người chẳng thể khéo nhiếp lấy năm căn này cũng lại như vậy, sẽ đem người lìa xa thành ấp Niết Bàn đi đến chỗ đồng hoang sinh tử. Này thiện nam tử! Ví như người nịnh thần dạy vua làm ác. Nịnh thần năm căn cũng lại như vậy, thường dạy chúng sinh tạo ác không lường. Này thiện nam tử! Ví như người con ác chẳng chịu sự dạy bảo của cha mẹ, sư trưởng thì không ác nào chẳng tạo. Chẳng điều phục năm căn cũng lại như vậy, chẳng chịu lời dạy bảo thiện của sư trưởng thì không ác nào chẳng tạo. Này thiện nam tử! Người phàm phu chẳng nhiếp lấy năm căn thường bị sự giặc hại của địa ngục, súc sinh và ngã quỉ, cũng như oán trộm hại đến người tốt. Này thiện nam tử! Người phàm phu chẳng nhiếp lấy năm căn dong ruỗi theo năm trần thì ví như người chăn trâu chẳng khéo giữ gìn để xâm phạm lúa má của người. Người phàm phu chẳng nhiếp lấy năm căn thường ở tại các cõi hữu, chịu nhiều khổ não. Này thiện nam tử! Khi Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn hành thánh hạnh thì thường có thể giỏi điều phục nhiếp giữ năm căn, kinh sợ tham dục, sân nhuế, ngu si, kiêu mạn, tật đố... làm được tất cả các thiện pháp. Này thiện nam tử! Nếu người có thể khéo giữ năm căn này thì có thể nhiếp lấy tâm. Nếu có thể nhiếp lấy tâm thì nhiếp được năm căn. Ví như có người ủng hộ vua thì ủng hộ đất nước, người ủng hộ đất nước thì ủng hộ vua. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, nếu được nghe Kinh Ðại Niết Bàn thì được trí tuệ mà được trí tuệ thì được chuyên niệm. Năm căn nếu niệm tán loạn thì có thể dừng. Vì sao vậy? Vì là niệm tuệ vậy. Này thiện nam tử! Ví như người chăn trâu giỏi, giả sử trâu đây đó ăn lúa má của người khác thì liền có thể ngăn chận lại, chẳng cho xâm phạm. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, nhân duyên niệm tuệ nên nhiếp giữ năm căn chẳng cho dong ruỗi, tán loạn. Ðại Bồ tát có niệm tuệ thì chẳng thấy tướng của ngã, chẳng thấy tướng của ngã sở, chẳng thấy chúng sinh và sự thọ dụng, thấy tất cả pháp đồng tướng pháp tính. Sinh ra tướng đất, đá, sành, sỏi. Ví như nhà cửa từ mọi duyên sinh ra, không có định tính. Ðại Bồ tát thấy các chúng sinh là sự thành lập của bốn đại, năm ấm, truy tìm ra không có định tính. Vì không định tính nên Bồ tát ở trong đó chẳng sinh ra tham trước. Tất cả phàm phu thấy có chúng sinh nên khởi lên phiền não. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn có niệm tuệ nên đối với các chúng sinh chẳng sinh ra tham trước. Lại nữa, Ðại Bồ tát tu tập Kinh Ðại Niết Bàn thì chẳng tham trước tướng chúng sinh, làm đủ thứ pháp tướng. Này thiện nam tử! Ví như nhà họa sư dùng mọi thứ màu sắc vẽ ra mọi hình tượng, hoặc nam, hoặc nữ, hoặc trâu, hoặc ngựa... Kẻ phàm phu không biết, nhìn thấy những hình tượng đó thì sinh ra tướng trai gái, v.v... Còn họa sư rõ biết là không có trai, gái... Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, đối với tướng khác của pháp vẫn xem thấy một tướng, nhất định chẳng sinh ra tướng chúng sinh. Vì sao vậy? Vì Bồ tát có niệm tuệ. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết bàn, hoặc khi nhìn thấy người con gái đoan chính nhất định chẳng sinh lòng tham trước. Vì sao vậy? Vì khéo quan sát tướng. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát biết pháp ngũ dục không có hoan lạc, chẳng được tạm dừng như chó gặm xương khô, như người cầm lửa đi ngược gió, như rắn độc trong hòm, như trong mơ sở đắc cây trái ven đường bị nhiều người ném, cũng như miếng thịt bị nhiều chim tranh nhau giành, như bọt trên nước, như nét vẽ xuống nước, như sợi chỉ dọc hết, như người tù đi đến chợ, giống như giả mượn thế lực chẳng được lâu... Quan sát dục nhiều những lỗi xấu như vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát quan sát các chúng sinh vì nhân duyên sắc, hương, vị, xúc nên từ vô lượng vô số kiếp xưa đến nay thường chịu khổ não. Mỗi một chúng sinh, trong một kiếp đã tích góp xương của bản thân như núi Tỳ Phú La ở thành Vương Xá, đã uống nước sữa như nước bốn biển, máu của thân chảy ra lại nhiều như nước bốn biển, cha mẹ anh em vợ con quyến thuộc mạng chung mà nước mắt khóc thương tuông ra nhiều như nước bốn biển lớn, chặt hết cỏ cây trên đất làm thẻ để tính số cha mẹ cũng chẳng thể hết, từ vô lượng kiếp đến nay, hoặc ở tại địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, đã chịu hành khổ chẳng thể kể xiết. Vo tròn đại địa này giống như quả táo thì dễ có thể cùng cực, nhưng sinh tử không lường chẳng thể hết được! Ðại Bồ tát như vậy quán sâu tất cả chúng sinh vì dục nhân duyên nên thọ khổ không lường. Bồ tát quan sát sinh tử hành khổ này nên chẳng mất niệm tuệ. Này thiện nam tử! Ví như thế gian có một số người rất đông, đứng đầy cả hai mươi lăm dặm. Nhà vua ra lệnh một người bề tôi bưng một bát dầu, đi qua hết trong số người ấy mà không cho nghiêng đổ. Nếu người đó làm rớt ra một giọt dầu thì phải bị chém. Vua lại sai một người bạt đao theo sau mà khủng bố người bưng dầu. Người bề tôi nhận lời dạy của vua hết lòng kiên trì, trải qua trong đại chúng ấy. Tuy thấy năm tà dục vừa ý, v.v... nhưng lòng luôn nghĩ rằng: “Nếu ta buông lung đắm trước những tà dục kia, phải bỏ sự kiên trì thì mạng chẳng được an toàn”. Người đó nhờ nhân duyên sợ này nên thậm chí chẳng làm rớt một giọt dầu. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, ở trong sinh tử, chẳng đánh mất niệm tuệ. Do chẳng đánh mất nên Bồ tát tuy thấy năm dục nhưng lòng chẳng tham trước, hoặc thấy tịnh sắc chẳng sinh ra sắc tướng, chỉ quan sát khổ tướng... Cho đến thức tướng cũng lại như vậy, chẳng làm ra tướng sinh, chẳng làm ra tướng diệt, chẳng làm ra tướng nhân duyên mà quan sát tướng hòa hợp. Bồ tát bấy giờ, năm căn thanh tịnh mà căn thanh tịnh thì hộ căn giới đầy đủ. Tất cả phàm phu, năm căn chẳng tịnh, chẳng thể giỏi giữ gìn thì gọi là căn lậu. Bồ tát đoạn trừ vĩnh viễn điều đó nên vô lậu. Như Lai nhổ bạt ra cội rễ, đoạn trừ vĩnh viễn, vậy nên chẳng phải lậu (phi lậu). Lại nữa, này thiện nam tử! Lại có Ly lậu (lìa khỏi lậu). Ðại Bồ tát muốn vì quả Phật cam lộ vô thượng nên lìa khỏi ác lậu. Sao gọi là Ly (lìa)? Nếu có thể tu hành Kinh Ðại Niết Bàn, ghi chép, thọ trì, đọc tụng, giải nói, tư duy thì đó gọi là Ly. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì ta đều chẳng thấy mười hai bộ Kinh có thể lìa khỏi ác lậu như Kinh Phương Ðẳng Ðại Niết Bàn này. Này thiện nam tử! Ví như vị lương y dạy các đệ tử. Trong các đệ tử có người thọ giáo, lòng chẳng tạo ác. Ðại Bồ tát tu kinh điển vi diệu Ðại Niết Bàn vi diệu cũng lại như vậy, lòng chẳng tạo ác. Này thiện nam tử! Ví như thế gian có thứ chú thuật hay, nếu có người nghe một lần mà bảy năm sau chẳng bị trúng tất cả thuốc độc, rắn độc chẳng thể cắn. Nếu có người tụng chú ấy thì cho đến trọn đời, không có mọi thứ ác. Này thiện nam tử! Kinh Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, nếu có chúng sinh, một lần nghe Kinh thì bảy kiếp về sau chẳng rơi vào đường ác. Nếu có người ghi chép, đọc tụng, giải nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì nhất định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thanh tịnh thấy Phật tính như vị Thánh Vương kia được vị cam lộ. Này thiện nam tử! Kinh Ðại Niết Bàn này có vô lượng công đức như vậy, v.v... Này thiện nam tử! Nếu có người có thể sao chép Kinh này, đọc tụng, giải nói, vì người khác trình bày và suy nghĩ nghĩa Kinh ấy thì phải biết người đó chân thật là đệ tử của ta, giỏi chịu lời dạy bảo của ta. Ðó là sở kiến của ta, sở niệm của ta. Người đó biết chắc chắn là ta chẳng Niết Bàn. Tùy theo chỗ sở trụ của người như vậy, hoặc thành ấp, tụ lạc, núi rừng, đồng hoang, nhà cửa, ruộng đất, lâu các, điện đường... ta cũng thường trụ ở trong những chỗ đó, chẳng di dời. Ta đối với người này thường làm người thọ thí, hoặc làm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Bà la môn, Phạm chí, người đi xin nghèo cùng... thì làm sao phải khiến cho người đó được biết Như Lai nhận đồ vật bố thí ấy? Này thiện nam tử! Người đó, ở trong đêm ngủ nằm mơ, mơ thấy hình dáng đức Phật, hoặc thấy hình dáng trời, hình dáng Sa môn, hình dáng quốc chủ, Thánh Vương, vua Sư Tử, hình dáng hoa sen, hình dáng hoa ưu đàm, hoặc thấy núi lớn hay nước biển cả, hoặc thấy mặt trời, mặt trăng, hoặc thấy hình dáng voi trắng và hình dáng ngựa trắng, hoặc thấy cha mẹ, hoặc thấy được hoa, được trái, được vàng, bạc, lưu ly, pha lê... các thứ báu, được năm thứ vị của trâu. Bấy giờ thì phải biết là Như Lai đã nhận sự bố thí của người ấy. Người đó tỉnh dậy rồi, liền được đủ thứ vật cần dùng, lòng chẳng nghĩ ác, ưa tu thiện pháp. Này thiện nam tử! Kinh Ðại Niết Bàn này có thể thành tựu vô lượng A tăng kỳ chẳng thể nghĩ bàn vô biên công đức như vậy. Này thiện nam tử! Ông nay nên phải tin thọ lời nói của ta! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn thấy ta, muốn cung kính ta, muốn đồng pháp tính mà thấy được ta, muốn được “không định”, muốn thấy thật tướng, muốn được tu tập Thủ Lăng Nghiêm định, Sư Tử Vương định, muốn phá tám ma. Tám ma đó là bốn ma vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, muốn được niềm vui trong loài người trên cõi trời... thì thấy có người thọ trì Kinh Ðại Niết Bàn, sao chép, đọc tụng, vì người khác giải nói, suy nghĩ nghĩa lý, phải đi đến thân cận, nương kề, hỏi han thính thọ, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi... vì người đó rửa tay chân, bố thí giường chiếu, tứ sự cúng dường cung cấp khiến cho người đó không gì thiếu thốn. Nếu người đó từ xa đi lại thì nên tổ chức nghênh đón trước mười do tuần đường. Vì Kinh này nên phải dùng những vật quí trọng để hiến dâng. Nếu như thiện nam, tín nữ ấy không có thì nên tự bán thân. Vì sao vậy? Vì Kinh này khó gặp hơn cả hoa Ưu Ðàm. Này thiện nam tử! Ta nghĩ về quá khứ, vô lượng vô biên na do tha kiếp, bấy giờ thế giới tên là Ta Bà, có đức Phật Thế Tôn hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn, vì các đại chúng tuyên nói Kinh Ðại Niết Bàn như vậy. Ta, lúc bấy giờ, từ chỗ bạn lành mà nghe được đức Phật đó sẽ vì đại chúng nói Kinh Ðại Niết Bàn. Ta nghe thế rồi; trong lòng hoan hỷ, muốn thiết lễ cúng dường nhưng nhà nghèo không có vật gì. Ta muốn tự bán thân nhưng bạc phước chẳng bán được, liền muốn trở về nhà. Trên đường về, gặp một người, ta liền nói rằng: “Tôi muốn bán thân, ngài có thể mua chăng?” Người ấy đáp rằng: “Người làm việc cho nhà ta, không ai kham được! Ông giả sử có thể vì ta thì ta sẽ mua ông!” Ta liền hỏi rằng: “Người phải làm việc gì mà không thể kham được?” Người ấy đáp rằng: “Ta có ác bệnh, lương y xử lý thuốc là cần phải mỗi ngày ăn ba lạng thịt người. Ông nếu có thể ngày ngày lấy ba lạng thịt của thân cung cấp cho ta thì ta sẽ cho ông năm xâu tiềng vàng”. Khi ta nghe rồi trong lòng hoan hỷ, liền nói rằng: “Ngài cho tôi tiền và cho tôi hẹn lại sau bảy ngày, khi công việc cần làm xong, tôi trở lại gặp nhau”. Người kia đáp rằng: “Bảy ngày thì chẳng thể! Xét ra có thể hẹn lại cho ông một ngày!” Này thiện nam tử! Khi ấy, ta liền nhận lấy tiền, đến trở lại chỗ đức Phật, đầu mặt lễ dưới chân, đem hết tiền sẵn có ấy mà hiến dâng lên, rồi nhiên hậu thành tâm thính thọ Kinh này. Ta thì ám độn, tuy được nghe Kinh nhưng chỉ có thể thọ trì câu văn của một bài kệ:

Như Lai chứng Niết Bàn Vĩnh viễn đoạn sinh tử

Nếu lắng nghe hết lòng Thường được vô lượng lạc.

Nhận bài kệ này rồi, ta liền trở lại đến nhà người bệnh kia. Này thiện nam tử! Khi ta tuy lại ngày ngày cho ba lạng thịt nhưng do nhân duyên niệm kệ nên chẳng lấy làm đau đớn, ngày ngày chẳng bỏ, đủ đầy một tháng. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này mà bệnh ông ấy được chửa khỏi, thân ta bình phục, cũng không lở loét. Ta thấy thân đầy đủ, hoàn bị liền phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lực của một bài kệ mà còn như vậy, huống gì là thọ trì đọc tụng đầy đủ. Ta thấy Kinh này có lợi như vậy lại phát tâm bội phần. Ta nguyện vào đời vị lai, khi thành Phật đạo có tự hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Này thiện nam tử! Do lực của nhân duyên bài kệ này nên khiến cho ta ngày hôm nay, ở trong đại chúng, vì những trời, người tuyên nói đầy đủ. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên Kinh Ðại Niết Bàn chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu vô lượng vô biên công đức và mới là tạng bí mật thậm thâm của các đức Phật Như Lai. Do nghĩa này nên người hay thọ trì thì đoạn lìa ác lậu. Chỗ gọi là ác như là chỗ trụ của voi ác, ngựa ác, trâu ác, chó ác (dữ), rắn độc..., đất đai, ác độc, ven núi cheo leo, bờ sông nguy hiểm, nước mạnh chảy xoáy, người ác, nước ác, thành ác, nhà ác, bạn ác, v.v... Những bọn như vậy nếu trở thành nhân lậu thì Bồ tát liền lìa khỏi, nếu chẳng thể làm thì chẳng xa lìa. Nếu tăng thêm hữu lậu thì liền lìa khỏi, nếu chẳng tăng thêm thì chẳng xa lìa. Nếu làm pháp ác thì liền lìa khỏi, nếu có thể làm thiện thì chẳng xa lìa. Sao gọi là lìa (ly)? Chẳng nắm giữ dao gậy, thường dùng phương tiện chánh tuệ mà xa lìa những thứ đó. Vậy nên gọi là chánh tuệ xa lìa, vì sinh thiện pháp thì xa lìa ác pháp. Ðại Bồ tát tự quan sát thân mình như bệnh, như ghẻ lở, như ung nhọt, như oán thù, như tên cắm vào thân thể... chính là chỗ gom đại khổ, đều chính là căn bản của tất cả thiện ác. Thân này tuy bất tịnh như vậy nhưng Bồ tát còn cố ngắm nhìn nuôi nấng. Vì sao vậy? Chẳng phải vì tham thân mà vì thiện pháp vậy, vì đến với Niết Bàn chẳng vì sinh tử, vì Thường - Lạc - Ngã - Tịnh mà chẳng vì vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, vì đạo Bồ Ðề chẳng vì đạo hữu vi, vì Nhất thừa chẳng vì Tam thừa, vì thân ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp vi diệu mà chẳng vì thân... cho đến thân của trời Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng, vì pháp Luân Vương chẳng vì Chuyển Luân Vương. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát luôn phải hộ thân. Vì sao vậy? Vì nếu chẳng hộ thân thì chẳng toàn mạng. Mạng nếu chẳng toàn thì chẳng thể được sao chép Kinh này để thọ trì, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa Kinh ấy. Vậy nên Bồ tát nên khéo hộ thân. Do nghĩa này nên Bồ tát được lìa khỏi tất cả ác lậu. Này thiện nam tử! Như muốn qua được nước thì phải khéo hộ giữ thuyền bè, người đi đường khéo hộ ngựa tốt, nhà nông gieo trồng khéo hộ phân dơ, như vì chữa khỏi độc thì khéo hộ giữ rắn độc, như người vì của cải hộ giữ Chiên đà la, vì phá giặc nên nuôi hộ kiện tướng, cũng như người lạnh thích hộ với lửa, như người bệnh hủi thì cầu thuốc độc... Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, tuy thấy thân này bất tịnh không lường, sung mãn đầy đủ, nhưng vì muốn thọ trì Kinh Ðại Niết Bàn nên còn ưa nuôi hộ, chẳng cho nó thiếu thốn. Ðại Bồ tát quan sát con voi dữ và bạn xấu ngang bằng nhau không có hai. Vì sao vậy? Vì chúng đều hủy hoại thân. Ðại Bồ tát đối với voi dữ, v.v... lòng không kinh sợ nhưng đối với bạn xấu thì sinh lòng kinh sợ. Vì sao vậy? Vì con voi dữ này, v.v... chỉ có thể hoại thân, chẳng có thể hoại tâm còn bạn xấu (ác tri thức) thì hủy hoại cả hai. Coi voi dữ này... chỉ hoại một thân, còn người bạn xấu thì hủy hoại vô lượng thân, vô lượng tâm. Con voi dữ này chỉ có thể phá hoại tấm thân thối bất tịnh, còn người bạn xấu thì có thể hoại thân thanh tịnh và cả tâm thanh tịnh. Con voi dữ này có thể hoại nhục thân (thân bằng thịt) còn ác tri thức thì hoại đến pháp thân. Bị voi dữ giết chết thì chẳng đến ba đường, còn bị bạn xấu giết thì nhất định đến ba đường. Voi dữ này chỉ bị thân oán, còn bạn xấu thì bị thiện pháp oán... Vậy nên Bồ tát thường phải xa lìa những ác tri thức (bạn xấu). Những lậu như vậy, v.v... phàm phu chẳng lìa khỏi. Vậy nên họ sinh ra lậu. Bồ tát lìa khỏi những lậu đó thì chẳng sinh ra lậu. Như vậy Bồ tát còn không có lậu, huống là đối với Như Lai. Vậy nên Như Lai chẳng phải lậu. Sao gọi là thân cận lậu? Tất cả phàm phu nhận lấy y thực, ngọa cụ, y dược. Vì niềm vui của thân tâm nên họ cầu những vật như vậy, tạo ra đủ thứ ác, chẳng biết lỗi hoạn (nạn) luân hồi ba đường. Vậy nên gọi là lậu. Ðại Bồ tát thấy lỗi hoạn như vậy thì liền lìa xa. Nếu khi cần áo thì Bồ tát liền nhận lấy, chẳng vì bản thân mà chỉ vì pháp, chẳng lớn kiêu mạn, lòng thường hạ thấp, chẳng vì nghiêm sức chỉ vì xấu hổ, ngăn những lạnh nóng, gió độc, mưa dữ, trùng độc, muỗi, nhặng, ruồi, bọ chét, nọc rắn độc. Bồ tát tuy nhận ăn uống nhưng lòng không tham trước, chẳng vì thân thường vì chánh pháp, chẳng vì hình thể bề ngoài chỉ vì chúng sinh, chẳng vì kiêu mạn mà vì thân lực, chẳng vì oán hại mà vì trị bệnh đói. Tuy được vị ngon nhưng lòng không tham trước. Bồ tát thọ lấy phòng, nhà cũng lại như vậy, những kiết sử tham trước, kiêu mạn chẳng cho ở trong lòng. Vì nhà Bồ Ðề ngăn chận giặc kiết sử, ngăn gió mưa dữ nên Bồ tát nhận lấy nhà cửa. Bồ tát cầu y dược thì lòng không tham trước, kiêu mạn, chỉ vì chánh pháp, chẳng vì thọ mạng, vì mạng thường trụ vậy. Này thiện nam tử! Như người bệnh ghẻ lở, lấy lương khô trát lên, dùng áo bó lại. Vì chảy máu mủ làm kết dính bột lương khô làm ghẻ lở bớt nên dùng bột thuốc tra vào, vì gió dữ nên ở tận trong nhà sâu. Bồ tát Ma ha tát cũng lại như vậy, quan sát thân là đồ ghẻ lở nên dùng áo che đậy, vì chín lỗ thẩm lậu nên tìm kiếm ăn uống, vì gió mưa hung dữ nên nhận lấy nhà cửa, vì bốn độc phát ra nên tìm tòi y dược. Bồ tát nhận lấy tứ sự cúng dường là vì đạo Bồ Ðề, chẳng phải vì thọ mạng. Vì sao vậy? Vì Ðại Bồ tát dấy khởi ý nghĩ này: “Ta, nếu chẳng nhận bốn việc cúng dường này thì thân bị tiêu diệt, chẳng được bền chắc. Nếu thân chẳng bền chắc thì chẳng nhịn được khổ (chịu đựng khổ). Nếu chẳng nhịn được khổ thì chẳng thể được tu tập thiện pháp. Nếu có thể chịu đựng được khổ thì được tu tập vô lượng thiện pháp. Ta nếu chẳng thể đủ sức chịu đựng mọi khổ thì đối với việc thọ khổ sinh lòng sân nhuế, đối với việc thọ lạc sinh lòng tham trước. Nếu cầu lạc (vui) chẳng được thì sinh ra vô minh. Vậy nên phàm phu đối với bốn việc cúng dường sinh ra hữu lậu”. Ðại Bồ tát có thể quan sát sâu nên chẳng sinh ra lậu. Vậy nên Bồ tát gọi là Vô lậu thì làm sao Như Lai phải gọi là hữu lậu được? Vậy nên Như Lai chẳng gọi là hữu lậu.

Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả phàm phu tuy khéo hộ thân nhưng lòng còn cố sinh ra ba thứ ác giác. Do nhân duyên này nên tuy đoạn trừ phiền não, được sinh lên cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, nhưng còn phải trở lại rơi vào trong ba đường ác. Này thiện nam tử! Ví như có người qua khỏi biển cả, sắp đến bờ kia nhưng chìm nước mà chết. Người phàm phu cũng lại như vậy, sắp tận cùng ba cõi nhưng trở lại rơi vào ba đường. Vì sao vậy? Vì không có thiện giác. Những gì là thiện giác? Ðó là sáu niệm xứ. Người phàm phu, thiện tâm còm cõi, tất bất thiện bừng bừng. Thiện tâm còm cõi nên lòng tuệ mỏng manh. Tuệ tâm mỏng manh nên tăng trưởng các lậu. Ðại Bồ tát, tuệ nhãn thanh tịnh thấy lỗi lầm ba giác. Biết ba ác giác này có đủ thứ hoạn, thường cùng với chúng sinh tạo tác oán của ba thừa. Nhân duyên ba giác mới khiến cho vô lượng chúng sinh phàm phu chẳng thấy Phật tính. Họ ở trong vô lượng kiếp sinh ra lòng điên đảo, cho là Phật Thế Tôn không Thường - Lạc - Ngã mà chỉ có một Tịnh thôi, Như Lai rốt ráo vào Niết Bàn. Tất cả chúng sinh vô thường vô lạc vô ngã vô tịnh, nhưng lòng họ điên đảo nên nói rằng có Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Thật ra không có Tam thừa nhưng lòng họ điên đảo nên nói rằng có Tam thừa. Ðạo Nhất Thật là chân thật chẳng hư dối, nhưng lòng họ điên đảo nên nói rằng không có đạo Nhất Thật. Ba ác giác này thường bị sự quở trách của các đức Phật và các vị Bồ tát. Ba ác giác này thường hại đến ta hay cũng hại đến người khác. Có ba ác giác này thì tất cả các ác thường đến làm tùy tùng. Ba ác giác này tức là ba sự trói buộc, nối liền chúng sinh với vô biên sinh tử. Ðại Bồ tát thường tạo tác sự quan sát ba ác giác như vậy. Hoặc khi Bồ tát có nhân duyên ứng sinh dục giác thì mặc nhiên chẳng thọ. Ví như người đoan chính tịnh khiết chẳng nhận tất cả phân bẩn bất tịnh, như người không nhận lấy hòn sắt nóng, như dòng Bà la môn chẳng nhận thịt trâu, như người no đủ chẳng nhận đồ ăn xấu, như vua Chuyển Luân chẳng cùng tất cả Chiên đà la đồng ngồi một giường. Ðại Bồ tát đối với giặc ác ba giác chẳng nhận, chẳng nếm cũng lại như vậy. Vì sao vậy? Vì Bồ tát suy nghĩ rằng: “Chúng sinh biết ta là ruộng phước tốt thì ta làm sao mà thọ nhận những pháp ác này. Nếu ta thọ ác giác thì chẳng nhận làm ruộng phước của chúng sinh. Ta tự chẳng nói là ruộng phước tốt mà chúng sinh thấy tướng liền nói rằng, ta là ruộng phước tốt. Ta nay nếu khởi lên ác giác như vậy thì tức là lừa dối tất cả chúng sinh. Ta vào thuở xa xưa, vì lừa dối nên đãở trong vô lượng kiếp lưu chuyển sinh tử, rơi vào ba đường ác. Ta nếu dùng ác tâm để thọ tín thí của người thì tất cả trời, người, tiên nhân ngũ thông đều sẽ chứng biết mà quở trách. Ta nếu ác giác mà thọ tín thí của người thì, hoặc khiến cho quả báo của thí chủ giảm thiểu, hoặc rỗng không, không có quả báo. Ta nếu ác tâm mà thọ thí của đàn việt thì cùng với thí chủ mà kết làm oán thù. Tất cả thí chủ luôn ở chỗ ta khởi xích tử tưởng (tưởng như đứa con yêu) thì ta làm sao lừa dối họ để mà oán tưởng (tưởng như kẻ oán thù). Vì sao vậy? Vì hoặc khiến cho thí chủ chẳng được quả báo, hoặc ít quả báo. Ta thường tự xưng là người xuất gia mà luận về xuất gia thì chẳng nên khởi ác, nếu khởi ác thì chẳng phải là xuất gia. Người xuất gia thì thân miệng tương ứng, nếu chẳng tương ứng thì chẳng phải là xuất gia. Ta bỏ cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè... xuất gia tu đạo chính là khi tu tập các thiện giác, chẳng phải là lúc tu tập bất thiện giác. Ví như có người vào biển tìm của báu chẳng chọn lấy chân châu mà chọn lấy thủy tinh, cũng như có người bỏ nghe âm nhạc vi diệu mà dạo chơi chỗ phân dơ bẩn, như bỏ đi người con gái quí báu mà yêu nghĩ đến hạng thấp hèn, như bỏ đồ bằng vàng mà dùng chén sành, như bỏ cam lộ mà uống thuốc độc, như bỏ thầy thuốc giỏi hiền lành thân thiết mà lại theo kẻ oán ghét xin thuốc trị liệu cho mình. Ta cũng như vậy, lìa bỏ cam lộ pháp vị của đại sư Như Lai Thế Tôn mà uống đủ thứ ác giác của ma oán. Thân người khó được như hoa Ưu Ðàm mà ta nay đã được. Như Lai khó gặp hơn cả hoa Ưu đàm mà ta nay đã gặp. Pháp bảo thanh tịnh khó được thấy nghe mà ta nay đã được nghe giống như con rùa mù gặp lỗ miếng gỗ nổi trên biển. Mạng người chẳng dừng qua nhanh như nước chảy xuống núi. Ngày hôm nay tuy còn ánh sáng nhưng cũng khó bảo tồn. Như thế thì sao ta lại buông lòng khiến trụ ở ác pháp? Hình sắc khỏe mạnh chẳng dừng, giống như ngựa chạy nhanh thì sao mà cậy thế sinh ra kiêu mạn? Giống như loài quỉ ác rình rập tìm lỗi lầm của người, ác quỉ bốn đại cũng lại như vậy, thường đến rình rập tìm lỗi lầm của ta thì sao lại để cho ác giác phát khởi? Ví như ngôi nhà mục nát, nóc nhà sắp đổ vỡ, mạng ta cũng vậy thì sao mà khởi ác? Ta mang danh là Sa môn mà người Sa môn gọi là học thiện giác. Ta nay dấy khởi giác bất thiện thì làm sao được gọi là Sa môn. Ta mang danh là xuất gia mà người xuất gia gọi là người tu thiện đạo. Ta nay làm ác thì sao được gọi là xuất gia? Ta nay mang danh là chân Bà la môn mà Bà la môn thì gọi là người tu tịnh hạnh. Ta nay lại làm ác giác bất tịnh thì sao sẽ được gọi là Bà la môn. Ta nay cũng mang danh là dòng họ lớn Sát lợi mà dòng Sát lợi thì có thể diệt trừ oán địch. Ta nay chẳng thể trừ diệt oán địch ác thì làm sao sẽ được gọi là dòng Sát lợi. Ta mang danh là Tỳ kheo mà người Tỳ kheo thì gọi là người phá phiền não. Ta nay chẳng phá được phiền não ác giác thì sao sẽ được gọi là Tỳ kheo. Ðời có sáu chỗ khó có thể gặp gỡ được mà ta nay đã được thì sao còn để cho ác giác ở trong lòng? Những gì là sáu chỗ? Một là đời có Phật khó gặp, hai là Chánh pháp khó nghe, ba là lòng sợ khó khởi, bốn là khó sinh giữa nước, năm là thân người khó được, sáu là các căn khó đủ. Sáu việc khó được như vậy đã được. Vậy nên chẳng nên khởi lên ác giác” Bồ tát bấy giờ, tu hành Kinh Ðại Niết Bàn như vậy, thường siêng quan sát những tâm ác này. Tất cả phàm phu chẳng thấy lỗi hoạn của tâm ác như vậy nên thọ ba giác, gọi là thọ lậu. Bồ tát thấy rồi nên chẳng thọ lấy, chẳng tham trước, buông bỏ, chẳng hộ trì mà nương vào tám Thánh đạo xô đuổi chúng đi, chặt đứt chúng. Vậy nên Bồ tát không có thọ lậu thì làm sao lại nói rằng, Như Lai có lậu? Do nghĩa này nên Như Lai Thế Tôn cũng phải là có lậu.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi hết –


21/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Mốt

PHẨM BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG Thứ Hai Mươi Hai (tiếp theo)

Lại nữa, này thiện nam tử! Kẻ phàm phu nếu gặp thân tâm khổ não thì khởi lên đủ thứ ác. Nếu bị thân bệnh hay bị tâm bệnh thì khiến cho thân miệng ý tạo tác đủ thứ ác. Do tạo tác ác nên luân chuyển trong ba đường, chịu đủ các khổ. Vì sao vậy? Vì người phàm phu không có niệm tuệ. Vậy nên họ sinh ra đủ thứ những lậu; đó gọi là niệm lậu. Ðại Bồ tát thường tự suy nghĩ rằng: “Ta từ thuở xa xưa, vô số kiếp đến nay, vì chính thân tâm này tạo ra đủ thứ ác. Do nhân duyên này nên lưu chuyển sinh tử ở tại ba đường ác, chịu đủ mọi thứ khổ, khiến cho ta rời xa chánh lộ Tam Thừa”. Bồ tát do nhân duyên ác này nên đối với thân tâm mình sinh ra rất kinh sợ, lìa bỏ mọi nẻo ác, hướng về đường thiện. Này thiện nam tử! Ví như có vị vua đem bốn con rắn độc đựng trong một cái hòm nhỏ, sai người nuôi dưỡng trông nom, ngủ dậy xoa rửa thân chúng. Nếu khiến cho một con rắn nỗi giận thì vua sẽ theo đúng pháp giết chết nơi đô thị. Lúc bấy giờ, người ấy nghe lệnh bức thiết của vua thì lòng sinh hoảng sợ, bỏ cái hòm nhỏ, chạy trốn. Nhà vua lại sai năm người Chiên đà la vung đao đuổi theo. Người ấy quay nhìn lại thấy năm người đuổi theo sau thì bỏ chạy nhanh hơn. Lúc đó, năm người dùng phương tiện ác, che giấu việc cầm dao kín đáo, sai một người trá làm thân thiện mà nói với kẻ trốn đó rằng: “Ông nên trở về lại!” Người ấy chẳng tin, lao vào một tụ lạc (thôn xóm), muốn ẩn kín mình. Ðã vào trong xóm rồi, người ấy nhìn thấy mọi nhà đều chẳng thấy người, cầm các dụng cụ đựng đồ lên xem đều không có vật. Ðã chẳng thấy người, tìm vật chẳng được, người ấy liền ngồi xuống đất thì nghe tiếng trong hư không rằng: “Hỡi ôi! Này nam tử! Xóm này trống rỗng, không có dân xư, đêm nay sẽ có sáu tên giặc lớn đến mà giả sử ngươi gặp phải thì mạng sẽ chẳng toàn. Ông sẽ làm sao mà được khỏi?” Lúc bấy giờ, nỗi kinh sợ của người ấy liền tăng thêm, người ấy lại bỏ đi. Trên đường đi, người ấy lại gặp một dòng sông mà nước sông chảy mạnh, lại không có thuyền bè. Vì kinh sợ nên người ấy liền lấy đủ thứ cỏ cây làm bè và lại suy nghĩ rằng: “Ta giả sử đứng ở đây thì sẽ bị năm Chiên đà la rắn độc mà một tên trá giả thân thiện và sự nguy hại của sáu tên giặc lớn. Nếu qua sông này mà bè chẳng thể nương nhờ thì ta sẽ phải chìm chết dưới nước. Ta thà chìm chết dưới nước, nhất định chẳng để bị hại do rắn độc và giặc kia”. Người ấy liền đẩy bè cỏ đặt vào trong nước, thân dựa trên bè ấy, vận động tay chân, cắt dòng nước chảy mà đi. Ðã đến bờ bên kia rồi, người ấy yên ổn, không còn hoạn nạn, lòng dạ hanh thông, sợ hãi tiêu trừ.

Ðại Bồ tát được nghe, thọ trì Kinh Ðại Niết Bàn, quán thân như cái hòm nhỏ, đất nước lửa gió như bốn con rắn độc. Thấy độc, chạm độc, hơi độc, cắn độc, tất cả chúng sinh gặp bốn thứ độc này nên mất mạng. Bốn đại của chúng sinh cũng lại như vậy, hoặc thấy là ác, hoặc chạm là ác, hoặc hơi là ác, hoặc cắn là ác. Do những nhân duyên này nên xa lìa mọi thiện. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát quan sát bốn con rắn độc có bốn dòng giống là Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, Thủ đà. Rắn bốn đại này cũng lại như vậy, có bốn thứ tính là tính cứng, tính ẩm ướt, tính nóng, tính động. Vậy nên bốn đại cùng bốn độc xà đồng chung chủng tính ấy. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát quán bốn đại này như bốn con rắn độc. Sao gọi là quán? Bốn con rắn độc này thường rình rập tiện nghi của con người, khi nào phải nhìn? Khi nào phải chạm? Khi nào phải hà hơi? Khi nào phải cắn? Rắn độc bốn đại cũng lại như vậy, thường rình rập chúng sinh tìm cầu sở đoản, khuyết lậu của họ. Nếu bị sự giết hại của bốn con rắn độc thì nhất định chẳng đến ở trong ba đường ác, còn nếu bị sự giết hại của bốn đại thì ắt đến ba đường ác, chẳng có gì nghi ngờ. Bốn con rắn độc này tuy lại được trông nom nuôi dưỡng nhưng cũng muốn giết người. Bốn đại cũng vậy, tuy thường được cung cấp nhưng cũng thường dẫn dắt con người làm mọi việc ác. Bốn con rắn độc này, nếu một con giận lên thì có thể giết người. Tính bốn đại cũng lại như vậy, nếu một đại phát ra cũng có thể hại người. Bốn con rắn độc này tuy ở đồng một chỗ nhưng bốn tâm đều khác nhau. Rắn độc bốn đại cũng lại như vậy, tuy đồng một chỗ nhưng tính đều khác biệt. Bốn con rắn độc này tuy lại cung kính nhưng khó có thể thân cận. Rắn độc bốn đại cũng lại như vậy, tuy lại cung kính nhưng cũng khó thân cận. Bốn con rắn độc này nếu khi hại người mà hoặc có Sa môn, Bà la môn, v.v... dùng chú hay thuốc thì có thể trị liệu được. Bốn đại giết người, tuy có Sa môn, Bà la môn, v.v... dùng thần chú, thuốc hay đều chẳng thể trị liệu. Như người tự vui lòng nghe hơi hám bốn con độc xà có thể gớm thì liền xa lìa. Các đức Phật, Bồ tát cũng lại như vậy, nghe mùi bốn đại thì liền lìa xa. Bấy giờ, Bồ tát lại suy nghĩ về rắn độc bốn đại, rồi sinh ra rất kinh sợ, quay lưng chạy nhanh, lo tu tám Thánh đạo.

Chiên đà la tức là năm ấm. Sao gọi là Bồ tát quán năm ấm như Chiên đà la? Người Chiên đà la thường hay khiến cho con người ân ái, biệt ly, oán tắng, tập hội. Năm ấm cũng vậy, khiến cho con người tham lam, thân cận với pháp bất thiện, xa lìa tất cả pháp thuần thiện. Lại nữa, này thiện nam tử! Như Chiên đà la tự trang nghiêm đủ thứ binh khí như dao, hoặc thuẩn, hoặc cung, hoặc tên, hoặc áo giáp đồng, hoặc giáo dài... để có thể hại người. Năm ấm cũng vậy, dùng các phiền não tự trang nghiêm chắc chắn, hại những người si dại, khiến cho họ rơi vào các cõi hữu. Này thiện nam tử! Như Chiên đà la có người lỗi là được dịp hại họ. Năm ấm cũng vậy, có những lỗi kết là thường có thể hại người. Vậy nên Bồ tát quán sâu năm ấm như Chiên đà la. Lại nữa, Bồ tát quán sát năm ấm như Chiên đà la. Người Chiên đà la không có lòng từ mẫn, kẻ oán người thân đều hại. Năm ấm cũng vậy, không có lòng từ mẫn thiện ác đều hại. Như Chiên đà la làm não lòng tất cả mọi người. Năm ấm cũng vậy, do những phiền não thường làm não lòng tất cả chúng sinh sinh tử. Vậy nên Bồ tát quán năm ấm như Chiên đà la. Lại nữa, Bồ tát quan sát năm ấm như Chiên đà la. Người Chiên đà la thường ôm lòng hại. Năm ấm cũng vậy, thường mang các kiết sử não hại trong lòng. Như người mà không có chân, dao, gậy, thị tùng thì phải biết nhất định bị sự giết hại của người Chiên đà la. Chúng sinh cũng vậy, không có chân, dao, không có thị tùng thì bị sự giết hại của năm ấm. Chân gọi là giới, dao gọi là tuệ, thị tùng gọi là thiện tri thức vậy. Không có ba việc này nên bị sự giết hại của năm ấm. Vậy nên Bồ tát quán năm ấm như Chiên đà la. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát quan sát năm ấm quá hơn Chiên đà la. Vì sao vậy? Vì nếu chúng bị sự giết hại của Chiên đà la thì chẳng rơi vào địa ngục, còn người bị năm ấm giết thì rơi vào địa ngục. Do nghĩa này nên Bồ tát quán năm ấm quá hơn Chiên đà la. Bồ tát tác khởi sự quan sát này rồi mà phát nguyện rằng: “Ta thà trọn đời gần Chiên đà la, chẳng thể tạm thời gần gũi năm ấm”. Người Chiên đà la chỉ có thể hại người ngu si của cõi Dục, còn giặc năm ấm này hại khắp chúng sinh phàm phu của ba cõi. Người Chiên đà la chỉ có thể giết chết người có tội, còn giặc năm ấm chẳng hỏi chúng sinh có tội hay không tội, đều có thể hại hết. Người Chiên đà la chẳng hại người già yếu, phụ nữ, trẻ con, còn giặc năm ấm này chẳng cần hỏi chúng sinh ai già cả, phụ nữ, trẻ con yếu đuối, tất cả đều hại hết. Vậy nên Bồ tát quan sát sâu năm ấm này quá hơn Chiên đà la. Vậy nên Bồ tát phát nguyện rằng, thà phải trọn đời gần Chiên đà la, chẳng thể tạm thời gần gũi năm ấm. Lại nữa, này thiện nam tử! Người Chiên đà la chỉ hại người khác, nhất định chẳng hại mình. Giặc năm ấm thì hại mình và hại cả người khác. Người Chiên đà la có thể dùng lời nói tốt, tiền tài, của báu để cầu xin mà được thoát. Năm ấm chẳng vậy, chẳng thể miễn cưỡng dùng lời nói khéo, dụ dỗ, tiền tài, của báu để cầu mà được thoát. Người Chiên đà la ở trong tứ thời (bốn mùa), chẳng nhất định phải thường giết hại. Năm ấm chẳng vậy, luôn ở trong từng niệm, từng niệm hại chúng sinh. Người Chiên đà la chỉ ở tại một chỗ nên có thể chạy trốn. Năm ấm chẳng vậy, ở khắp mọi chỗ nên không thể chạy trốn. Người Chiên đà la tuy lại hại người, hại mình rồi nhưng chẳng theo đuổi. Năm ấm chẳng vậy, giết hại chúng sinh rồi còn theo đuổi chẳng rời. Vậy nên Bồ tát thà trọn đời gần Chiên đà la, chẳng thể tạm thời gần gũi năm ấm. Người có trí dùng phương tiện khéo léo được thoát khỏi năm ấm. Phương tiện khéo léo tức là tám Thánh đạo, sáu Ba la mật, bốn Vô lượng tâm... Nhờ phương tiện này mà kẻ trí được Giải thoát, thân tâm chẳng bị sự giết hại của năm ấm. Vì sao vậy? Vì thân như Kim Cương, lòng như hư không. Vậy nên thân tâm khó có thể ngăn trở, hủy hoại. Do nghĩa này nên Bồ tát quan sát thấy ấm thành tựu đủ thứ những pháp bất thiện nên sinh ra rất kinh sợ mà tu tám Thánh đạo. Cũng như người kia sợ bốn con rắn độc, năm Chiên đà la mà lặn lội trên đường, đi không quay nhìn lại.

Người trá thân thiện thì gọi là tham ái. Ðại Bồ tát quán sâu ái kết như kẻ oán trá hiện người thân. Nếu biết người thật thì không thể làm gì, nếu chẳng biết thì nhất định bị hại. Tham ái cũng vậy, nếu biết tính chúng thì chẳng thể khiến cho chúng sinh luân chuyển trong sinh tử, như chẳng biết tính ấy thì luân chuyển sáu đường, chịu đủ mọi khổ. Vì sao vậy? Vì ái là bệnh khó lìa bỏ như kẻ oán trá hiện người thân khó có thể xa lìa. Kẻ oán trá hiện thân thiện thường rình rập tiện nghi của con người, khiến cho họ ái biệt ly, oán tắng hợp hội. Ái cũng như vậy, khiến cho con người xa lìa tất cả thiện pháp, gần gũi với tất cả pháp bất thiện. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát quán sâu tham ái như oán trá hiện thân thiện. Thấy chẳng thấy, nghe chẳng nghe thì như người phàm phu thấy lỗi sinh tử, tuy có trí tuệ nhưng vì ngu si che phủ nên về sau trở lại chẳng thấy. Thanh Văn, Duyên Giác cũng lại như vậy, tuy thấy nhưng chẳng thấy, tuy nghe nhưng chẳng nghe. Vì sao vậy? Vì do tâm ái vậy. Sở dĩ vì sao? Vì thấy lỗi sinh tử nhưng chẳng thể mau chóng đến được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát quán ái kết này như oán trá hiện thân thiện. Sao gọi là tướng oán trá hiện thân thiện? Như oán, chẳng thật mà trá hiện tướng thật, chẳng thể thân cận mà trá hiện tướng thân cận, thật là chẳng thiện mà trá hiện tướng thiện, thật là chẳng ái mà trá hiện tướng ái (yêu). Vì sao vậy? Vì luôn rình rập tiện nghi của con người muốn làm hại họ. Ái cũng như vậy, thường vì chúng sinh, chẳng phải thật mà trá hiện thật, chẳng phải thân cận mà trá hiện thân cận, chẳng phải thiện mà trá hiện thiện, chẳng phải ái mà trá hiện ái... luôn lừa dối tất cả sinh tử luân hồi. Do nghĩa này nên Bồ tát quan sát ái như oán trá hiện thân thiện. Kẻ oán trá hiện thân thiện thì chỉ thấy thân miệng, chẳng nhìn thấy lòng họ. Vậy nên họ có thể lừa dối. Ái cũng như vậy, chỉ là hư dối, thật chẳng thể được. Vậy nên có thể mê hoặc tất cả chúng sinh. Kẻ oán trá hiện thân thiện thì có thỉ có chung, dễ có thể xa ìa. Ái chẳng như vậy, không thỉ không chung, khó có thể lìa xa. Kẻ oán trá hiện thân thiện ở xa thì khó biết, đến gần thì dễ biết. Ái chẳng như vậy, gần còn khó biết, huống lại là xa vậy? Do nghĩa này nên Bồ tát quán ái quá hơn oán trá hiện thân thiện. Tất cả chúng sinh do ái kết nên xa Ðại Niết Bàn, gần với sinh tử, xa Thường - Lạc - Ngã - Tịnh, gần vô thường - khổ - vô ngã - bất tịnh. Vậy nên ta, ở mọi chỗ trong Kinh, nói là ba cấu đối với việc hiện tại do vô minh, chẳng thấy lỗi hoạn thì chẳng thể lìa bỏ. Oán ái mà trá hiện thân thiện nhất định chẳng thể hại người có trí. Vậy nên Bồ tát quán sâu ái này thì sinh ra kinh sợ mà tu tám Thánh đạo giống như người kia sợ bốn con rắn độc, năm Chiên đà la và một người trá hiện thân thiện mà lặn lội trên đường, đi chẳng trở lại.

Tụ lạc trống không tức là sáu nhập bên trong. Ðại Bồ tát quán sáu nhập này rỗng không, không sở hữu, giống như tụ lạc trống rỗng, như người sợ kia đã vào tụ lạc rồi thì thậm chí chẳng thấy có một người ở, tìm trong đồ đựng chẳng được một vật gì. Bồ tát cũng vậy, quan sát kỹ càng sáu nhập trống rỗng, không sở hữu, chẳng thấy cái thật của một vật chúng sinh. Vậy nên Bồ tát quan sát sáu nhập bên trong trống rỗng, không sở hữu như tụ lạc trống rỗng kia. Này thiện nam tử! Tụ lạc trống rỗng kia, bọn giặc trông ngóng từ xa nhất định chẳng sinh ra tư tưởng rỗng không. Người phàm phu cũng lại như vậy, đối với tụ lạc sáu nhập chẳng sinh không tưởng. Do họ chẳng thể sinh không tưởng nên sinh tử luân hồi, chịu khổ không lường. Này thiện nam tử! Bọn giặc đã đến nơi mới sinh ra không tưởng. Bồ tát cũng vậy, quan sát sáu nhập này thường sinh ra không tưởng, sinh ra không tưởng thì chẳng sinh tử luân hồi, chịu khổ. Ðại Bồ tát đối với sáu nhập này thường không điên đảo. Không điên đảo nên chẳng lại sinh tử luân hồi. Lại nữa, này thiện nam tử! Như có bọn giặc vào tụ lạc trống rỗng này thì được an vui. Các giặc phiền não cũng lại như vậy, vào sáu nhập này thì được an vui. Như giặc trụ ở tụ lạc trống rỗng, lòng không sở úy. Bọn giặc phiền não cũng lại như vậy, trụ ở sáu nhập này cũng không sở úy, như tụ lạc trống rỗng kia mới là chỗ ở của sư tử, cọp sói... đủ thứ ác thú. Nội lục nhập này cũng lại như vậy, là chỗ trụ của tất cả ác thú mọi phiền não ác. Vậy nên Bồ tát quán sâu sáu nhập rỗng không, không sở hữu, thuần là chỗ trú của tất cả điều bất thiện. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát quan sát nội lục nhập rỗng không, không sở hữu như tụ lạc trống rỗng kia. Vì sao vậy? Vì xử sự lừa dối chẳng thật, rỗng không không sở hữu mà tác khởi tư tưởng “có” vậy. Thật không có vui mà tác khởi lạc tưởng, thật không có người mà tác khởi nhân tưởng. Nội lục nhập cũng lại như vậy, rỗng không không sở hữu mà tác khởi hữu tưởng, thật không có vui mà tác khởi lạc tưởng, thật không có người mà tác khởi nhân tưởng. Chỉ có người trí mới có thể biết được sự chân thật ấy. Lại nữa, này thiện nam tử! Như tụ lạc trống rỗng, hoặc khi có người, hoặc khi không có người. Sáu nhập chẳng vậy, chỉ một hướng là không người. Vì sao vậy? Vì tính luôn rỗng không. Sự nhận biết của người trí chẳng phải là mắt thấy. Vậy nên Bồ tát quan sát nhiều những oán hại của nội lục nhập mà tu tám Thánh đạo chẳng ngưng, chẳng nghỉ, giống như người kia sợ bốn con rắn độc, năm người Chiên đà la, một kẻ trá hiện thân thiện và sáu tên đại tặc mà mãi miết theo đường chính.

Sáu đại tặc tức là sáu trần bên ngoài (ngoại lục trần). Ðại Bồ tát quan sát sáu trần này như sáu tên đại tặc. Vì sao vậy? Vì nó có thể cướp tất cả các thiện pháp, như sáu tên đại tặc có thể cướp tất cả của báu của nhân dân. Giặc sáu trần này cũng lại như vậy, có thể cướp tất cả của cải thiện của chúng sinh. Như sáu tên đại tặc, nếu vào nhà người thì có thể cướp đoạt sở hữu của nhà hiện có, chẳng phân biệt tốt xấu, khiến cho người cự phú bỗng nhiên thành bần cùng. Giặc lục trần này cũng lại như vậy, nếu vào căn (cơ quan) của người thì cũng có thể cướp đoạt tất cả thiện pháp. Thiện pháp đã hết thì trở nên bần cùng cô lộ, thành nhất xiển đề. Vậy nên Bồ tát quan sát chắc chắn sáu trần như sáu tên đại tặc. Lại nữa, này thiện nam tử! Như sáu tên đại tặc khi muốn cướp đoạt của người thì cốt yếu nhờ người ở bên trong. Nếu không người bên trong thì liền trở về không. Giặc sáu trần này cũng lại như vậy, muốn cướp thiện pháp cốt nhờ bên trong có chúng sinh thấy biết tướng Thường - Lạc - Ngã - Tịnh, chẳng rỗng không, v.v...Nếu bên trong không có những tướng như vậy thì giặc ác sáu trần chẳng thể cướp được tất cả thiện pháp. Người có trí bên trong không có tướng này mà kẻ phàm phu thì có. Vậy nên sáu trần thường đến chiếm đoạt của cải thiện pháp. Vì chẳng khéo hộ trì nên kẻ phàm phu bị sự cướp đoạt ấy. Cái để hộ trì gọi là tuệ. Người có trí có thể khéo phòng hộ nên chẳng bị cướp. Vậy nên Bồ tát quán sáu trần này như sáu tên đại tặc ngang bằng không sai khác. Lại nữa, này thiện nam tử! Như sáu tên đại tặc có thể làm cho thân tâm nhân dân khổ não. Giặc sáu trần này cũng lại như vậy, thường làm cho thân tâm chúng sinh khổ não. Sáu tên đại tặc thì chỉ có thể cướp tài vật hiện tại của con người, còn giặc sáu trần này thường cướp thiện tài của chúng sinh ba đời. Sáu tên đại tặc, ban đêm thì vui sướng. Giặc ác sáu trần này cũng lại như vậy, ở chỗ vô minh tối tăm thì được hoan lạc. Sáu tên đại tặc này chỉ có các vị vua mới có thể ngăn chận. Giặc ác sáu trần cũng lại như vậy, chỉ có Phật, Bồ tát mới có thể ngăn chận. Sáu tên đại tặc này phàm muốn cướp đoạt thì chẳng lựa chọn dòng họ, đoan chính, thông triết, đa văn, bác học, giàu sang, nghèo hèn... Giặc ác sáu trần cũng lại như vậy, muốn cướp thiện pháp cũng chẳng chọn lựa đoan chính... cho đến nghèo hèn. Sáu tên đại tặc này tuy có các vị vua chặt tay chân chúng nhưng còn chẳng thể khiến cho lòng chúng dứt được. Giặc ác sáu trần cũng lại như vậy, tuy Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm chặt tay chân chúng cũng chẳng thể khiến cho chúng chẳng cướp thiện pháp. Như người mạnh mẽ mới có thể tiêu diệt hàng phục sáu tên đại tặc này. Các đức Phật Bồ tát cũng lại như vậy, mới có thể tiêu diệt hàng phục giặc ác sáu trần. Ví như có người có nhiều những dòng họ, phe đảng đông đúc thì chẳng thể bị sự cướp đoạt của sáu tên giặc. Chúng sinh cũng vậy, có thiện tri thức thì chẳng bị sự cướp đoạt giặc ác sáu trần. Sáu tên giặc lớn này nếu thấy vật của người thì có thể trộm cướp. Giặc sáu trần chẳng vậy, nếu thấy hoặc biết, hoặc nghe, hoặc ngửi, hoặc chạm xúc, hoặc hay biết (giác) chúng đều có thể cướp. Sáu tên đại tặc thì chỉ có thể cướp đoạt của cải người Dục giới, chẳng thể cướp đoạt ở Sắc giới và Vô sắc giới. Giặc ác sáu trần thì chẳng như vậy, chúng có thể cướp đoạt tất cả thiện bảo của ba cõi. Vậy nên Bồ tát quan sát chắc chắn sáu trần quá hơn sáu tên đại tặc kia. Tạo tác sự quán tưởng này rồi, Bồ tát tu tám Thánh đạo, đi thẳng chẳng trở lại. Như người sợ kia sợ bốn con rắn độc, năm tên Chiên đà la, một kẻ trá hiện thân thiện và sáu tên đại tặc bỏ tụ lạc trống không, lặn lội trên đường mà đi.

Trên đường gặp một dòng sông thì tức là phiền não. Sao gọi là Bồ tát quán phiền não này giống như dòng sông lớn? Như dòng sông chảy xiết đó có thể cuốn trôi con Hương tượng (một loài voi có mùi thơm). Dòng sông phiền não chảy xiết cũng lại như vậy, có thể cuốn trôi Duyên Giác. Vậy nên Bồ tát quán sâu phiền não giống như dòng sông chảy xiết. Sâu khó đến được đáy nên gọi là sông. Bờ chẳng thể đến được nên gọi là lớn. Trong sông lớn ấy có nhiều loài cá ác đủ chủng loại. Dòng sông lớn phiền não cũng lại như vậy, chỉ Phật, Bồ tát mới có thể đến được đáy nên gọi rất sâu, chỉ Phật, Bồ tát mới đến được bờ kia nên gọi là rộng lớn, thường hại tất cả chúng sinh ngu si nên gọi là cá ác. Vậy nên Bồ tát quán phiền não này giống như dòng sông lớn. Như nước dòng sông lớn có thể nuôi lớn tất cả cỏ cây, rừng rậm. Dòng sông lớn phiền não cũng lại như vậy, có thể làm lớn hai mươi lăm cõi của chúng sinh. Vậy nên Bồ tát quán phiền não này giống như dòng sông lớn. Ví như có người rơi xuống nước dòng sông lớn mà không có tàm quí (xấu hổ). Chúng sinh cũng vậy, rơi vào dòng sông phiền não mà không có tàm quí. Như người rơi vào dòng sông mà chưa đến được đáy sông liền mạng chung. Rơi vào dòng sông phiền não cũng lại như vậy, chưa đến tận đáy sông đã quay trở lại luân chuyển hai mươi lăm cõi. Cái nói rằng đáy thì gọi là tướng không. Nếu có người chẳng tu tướng không như vậy thì phải biết người này chẳng ra khỏi hai mươi lăm cõi. Tất cả chúng sinh chẳng thể khéo tu tướng không nên thường bị sự cuốn trôi của dòng sông phiền não chảy xiết. Như dòng sông lớn kia chỉ có thể hoại thân, chẳng thể cuốn trôi mất tất cả thiện pháp. Dòng sông lớn phiền não thì chẳng như vậy, có thể hoại tất cả thiện pháp của thân và tâm. Dòng sông lớn hung dữ chỉ có thể cuốn trôi, nhận chìm con người trong cõi Dục. Dòng sông lớn phiền não mới có thể cuốn trôi, nhận chìm người trời của ba cõi. Dòng sông lớn thế gian vận động tay chân thì đến bờ kia, còn dòng sông lớn phiền não chỉ có Bồ tát nhân vào sáu Ba la mật mới có thể qua được. Như nước dòng sông lớn khó có thể qua được, dòng sông lớn phiền não cũng lại như vậy, khó có thể qua được. Sao gọi là khó có thể qua được? Cho đến nhưng Ðại Bồ tát hàng Thập Trụ còn chưa có thể qua được rốt ráo, chỉ có các đức Phật mới qua khỏi rốt ráo. Vậy nên gọi là khó có thể qua được. Ví như có người bị sự cuốn trôi của dòng sông mà chẳng thể tu tập một chút xíu thiện pháp. Chúng sinh cũng vậy, bị sự cuốn trôi chìm mất của dòng sông phiền não thì cũng lại chẳng thể tu tập thiện pháp như người rơi xuống sông bị nước cuốn trôi, trừ người có sức thì có thể cứu vớt. Người rơi vào dòng sông phiền não làm nhất xiển đề thì Thanh Văn, Duyên Giác cho đến các đức Phật cũng chẳng thể cứu vớt. Những dòng sông lớn thế gian khi kiếp tận thì bảy mặt trời đều chiếu có thể khiến cho khô cạn. Dòng sông lớn phiền não thì chẳng như vậy, Thanh Văn, Duyên Giác tuy tu bảy giác ý nhưng còn chẳng thể làm khô cạn được. Vậy nên Bồ tát quán tưởng các phiền não giống như dòng sông hung dữ.

Ví như người kia sợ bốn con rắn độc, năm người Chiên đà la một kẻ trá hiện thân thiện và năm tên đại tặc bỏ tụ lạc trống không, theo đường mà đi, đã đến trên dòng sông, gom cỏ làm bè. Bồ tát cũng vậy, sợ rắn bốn đại, Chiên đà la năm ấm, ái trá hiện thân thiện, tụ lạc trống không sáu nhập, giặc ác sáu trần đi đến dòng sông phiền não, tu giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, sáu Ba la mật, ba mươi bảy phẩm trợ pháp... dùng làm thuyền bè. Rồi Bồ tát nương theo bè này qua dòng sông phiền não để đi đến bờ Thường Lạc Niết Bàn kia. Bồ tát tu hành Ðại Niết Bàn thì khởi lên suy nghĩ này: “Ta, nếu chẳng thể nhẫn thọ thân khổ, tâm khổ như vậy thì chẳng thể khiến cho tất cả chúng sinh qua khỏi dòng sông phiền não”. Do suy nghĩ này, Bồ tát tuy có thân tâm khổ não như vậy, nhưng mặc nhiên nhẫn thọ. Do nhẫn thọ nên chẳng sinh ra lậu. Bồ tát như vậy còn không có các lậu, huống là Phật Như Lai mà phải có lậu sao? Vậy nên các đức Phật chẳng gọi là hữu lậu. Sao gọi là Như Lai chẳng phải vô lậu vậy? Như Lai thường hành trong hữu lậu mà hữu lậu tức là hai mươi lăm cõi hữu. Vậy nên người phàm phu, Thanh Văn, nói rằng, Phật có lậu. Nhưng các đức Phật Như Lai chân thật vô lậu.

Này thiện nam tử! Do nhân duyên này, các đức Phật Như Lai không có định tướng. Này thiện nam tử! Vậy nên việc phạm bốn trọng cấm, bài báng Kinh Phương Ðẳng và Nhất xiển đề đều chẳng định.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương nói rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời dạy của đức Thánh. Tất cả các pháp đều chẳng định. Vì chẳng định nên phải biết rằng, Như Lai cũng chẳng rốt ráo vào với Niết Bàn. Như trước đức Phật đã nói, Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn, nghe chẳng nghe. Trong đó có Niết Bàn, có Ðại Niết Bàn. Sao gọi là Niết Bàn? Sao gọi là Ðại Niết Bàn?

Lúc bấy giờ, đức Phật khen Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát được niệm Tổng trì thì mới có thể hỏi han được như ông. Này thiện nam tử! Như người đời thường nói, có biển thì có biển lớn, có sông thì có sông lớn, có núi thì có núi lớn, có đất thì có đất lớn, có thành thì có thành lớn, có chúng sinh thì có chúng sinh lớn, có vua thì có vua lớn, có người thì có người lớn, có trời thì có đấng Thiên Trung Thiên, có đạo thì có đạo lớn. Niết Bàn cũng vậy, có Niết Bàn thì có Ðại Niết Bàn. Sao gọi là Niết Bàn? Này thiện nam tử! Như người đói được ít cơm ăn thì gọi là an vui mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn. Như người bệnh được khỏi thì gọi là an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn. Như người sợ hãi được chỗ nương về thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn. Như người nghèo cùng nhặt được vật Thất bảo thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn. Như người quan sát xương khô chẳng khởi lên tham dục thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn. Những Niết Bàn như vậy chẳng được gọi là Ðại Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì đói khát, bệnh, sợ, nghèo, sanh tham trước... đó gọi là Niết Bàn chẳng phải là Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Nếu người phàm phu và tất cả Thanh Văn hoặc nhân thế tục, hoặc nhân Thánh đạo đoạn được kiết sử cõi Dục thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn, chẳng được gọi Ðại Niết Bàn. Họ có thể đoạn những kiết sử từ sơ thiền... cho đến cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết Bàn, chẳng được gọi là Ðại Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì còn trở lại sinh phiền não, có tập khí. Sao gọi là phiền não tập khí? Thanh Văn, Duyên Giác có phiền não khí như là thân ta, áo ta, ta đi, ta lại, ta nói, ta nghe, các đức Phật Như Lai vào với Niết Bàn, tính của Niết Bàn là vô ngã, vô lạc, chỉ có thường Tịnh... Ðó gọi là phiền não tập khí, Phật, Pháp, Tăng có tướng sai khác, Như Lai rốt ráo vào với Niết Bàn, Niết Bàn sở đắc của Thanh Văn, Duyên Giác, các đức Phật Như Lai bình đẳng không sai biệt... Do nghĩa này nên sở đắc của hàng Nhị thừa chẳng phải là Ðại Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì không Thường - Lạc - Ngã - Tịnh. Thường - Lạc - Ngã - Tịnh mới được gọi là Ðại Niết Bàn vậy.

Này thiện nam tử! Ví như có nơi có thể nhận mọi dòng nước gọi là biển lớn. Theo đó, có chỗ sở nhập của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát, các đức Phật Như Lai thì gọi là Ðại Niết Bàn. Bốn Thiền, ba Tam muội, tám Bối xả, tám Thắng xứ, mười Nhất thiết xứ... mà người theo có thể nhiếp lấy vô lượng những pháp thiện như vậy thì gọi là Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như có dòng sông mà con hương tượng đệ nhất chẳng thể đến được đáy thì gọi là Lớn. Thanh Văn, Duyên Giác đến Bồ tát Thập Trụ chẳng thấy Phật tính gọi là Niết Bàn, chẳng phải là Ðại Niết Bàn. nếu có thể thấy tỏ rõ Phật tính thì được gọi là Ðại Niết Bàn. Ðại Niết Bàn này chỉ Ðại Tượng vương có thể tận cùng được đáy. Ðại Tượng vương là gọi các đức Phật vậy. Này thiện nam tử! Như Ðại Na Dà và Bát Kiền Ðà mà đại lực sĩ, v.v... trải qua nhiều thời gian mà chẳng thể lên đến đỉnh thì mới gọi là núi lớn. Ðại na dà Thanh Văn, Duyên Giác và các Bồ tát mà đại lực sĩ, v.v... chẳng thể thấy thì như vậy mới gọi là Ðại Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Tùy theo, có chỗ sở trụ của tiểu vương thì gọi là thành nhỏ, chỗ sở trụ của Chuyển Luân Thánh Vương mới gọi là thành lớn. Trụ cứ của Thanh Văn, Duyên Giác tám vạn, sáu vạn, bốn vạn hai vạn, một vạn thì gọi là Niết Bàn. Chỗ trụ của đấng Vô thượng Pháp Chủ Thánh Vương mới được gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Do vậy, nên gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như có người thấy bốn thứ binh chẳng sinh kinh sợ thì phải biết người đó gọi là đại chúng sinh. Nếu có chúng sanh đối với nghiệp ác phiền não của ba đường ác, chẳng sinh ra sợ hãi mà có thể ở trong đó rộng độ chúng sinh thì phải biết người đó được Ðại Niết Bàn. Nếu có người có thể cúng dường cha mẹ, cung kính Sa môn và Bà la môn, sửa trị thiện pháp, lời nói thành thật, không có lừa dối, có thể nhẫn nhịn các ác, huệ thí nghèo thiếu... thì gọi là Ðại Trượng Phu. Bồ tát cũng vậy, có đại từ bi, thương xót tất cả, đối với các chúng sinh giống như cha mẹ, có thể đưa chúng sinh qua khỏi dòng sông sinh tử, khắp bày ra cho chúng sinh đạo Nhất thật. Ðó gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ðại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Nếu chẳng thể nghĩ bàn là điều chẳng thể tin của tất cả chúng sinh thì đó gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Chỉ là sở kiến của Phật, Bồ tát nên gọi là Ðại Niết Bàn. Do nhân duyên gì lại gọi là Ðại? Do vô lượng nhân duyên, nhiên hậu mới được nên gọi là Ðại. Này thiện nam tử! Như sở đắc của người thế gian do nhiều nhân duyên thì gọi là Ðại (lớn). Niết Bàn cũng vậy, sở đắc do nhiều nhân duyên nên gọi là Ðại. Sao lại gọi là Ðại Niết Bàn? Có Ðại Ngã nên gọi là Ðại Niết Bàn, còn Niết Bàn thì vô ngã. Có Ðại tự tại nên gọi là Ðại Ngã. Sao gọi là Ðại tự tại vậy? Có tám tự tại thì gọi là Ngã. Những gì là tám? Một là có thể thị hiện một thân lấy làm nhiều thân. Số thân lớn nhỏ giống như vi trần tràn đầy mười phương vô lượng thế giới. Thân Như Lai thật chẳng phải vi trần, do tự tại nên hiện thân vi trần. Như vậy tự tại tức là Ðại ngã. Hai là thị hiện một thân vi trần đầy ở ba ngàn đại thiên thế giới. Thân Như Lai thật chẳng đầy ở ba ngàn đại thiên thế giới. Vì sao vậy? Vì do vô ngại, những do tự tại nên đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Như vậy Tự tại gọi là Ðại Ngã. Ba là có thể dùng thân đầy ba ngàn đại thiên thế giới này nhẹ nhàng cất lên bay vào hư không đi qua những thế giới Phật nhiều bằng hai mươi lần cát sông Hằng mà không ngăn ngại. Thân Như Lai thật không nặng, nhẹ, do tự tại nên có thể làm nặng, nhẹ. Như vậy tự tại gọi là Ðại Ngã. Bốn là do tự tại nên được tự tại. Sao gọi là tự tại? Như Lai một lòng an trụ chẳng động mà đã có thể thị hiện hóa ra vô lượng hình loại đều khiến cho chúng có tâm. Như Lai có khi, hoặc tạo ra một việc mà khiến cho chúng sinh mỗi mỗi đều biện thành. Thân Như Lai thường trụ ở một cõi mà khiến cho cõi khác, tất cả đều thấy. Như vậy Tự tại gọi là Ðại Ngã. Năm là Căn tự tại. Sao gọi là Căn tự tại vậy? Một căn của Như Lai cũng có thể thấy sắc, nghe tiếng, ngửi hương, phân biệt vị, giác xúc, biết pháp. Sáu căn của Như Lai cũng chẳng thấy sắc, nghe tiếng, ngửi hương, phân biệt vị, giác xúc, biết pháp. Do tự tại nên khiến cho căn tự tại. Như vậy Tự tại gọi là Ðại Ngã. Sáu là do tự tại nên được tất cả pháp. Tâm Như Lai cũng không được tưởng. Vì sao vậy? Vì không sở đắc vậy. Nếu là có thì có thể gọi là được (đắc), nhưng thật ra không sở hữu. Sao gọi là được? Nếu giả sử Như Lai kể là có được tưởng thì tức là các đức Phật chẳng được Niết Bàn. Do không được nên gọi là được Niết Bàn. Do tự tại nên được tất cả pháp mà được các pháp nên gọi là Ðại Ngã. Bảy là nói tự tại nên Như Lai diễn nói ý nghĩa một bài kệ trải qua vô lượng kiếp mà ý nghĩa cũng chẳng thể hết. Ðó là như giới, hoặc định, hoặc thí, hoặc tuệ... Như Lai bấy giờ đều chẳng phát ý niệm, ta nói người kia nghe, cũng lại chẳng sinh ý tưởng về một bài kệ. Theo người thế gian thì bốn câu là một bài kệ, Như Lai theo thế tục nói ra nên gọi là kệ. Tất cả pháp tánh cũng không có điều để nói nhưng do tự tại nên Như Lai diễn nói. Do diễn nói nên gọi là Ðại Ngã. Tám là Như Lai cùng khắp tất cả mọi nơi giống như hư không. Tính hư không chẳng thể được thấy. Như Lai cũng vậy, chẳng thể thấy. Do tự tại nên khiến cho tất cả thấy. Như vậy tự tại gọi là Ðại Ngã. Như vậy Ðại Ngã gọi là Ðại Niết Bàn. Do ý nghĩa này nên gọi là Ðại Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như bảo tàng với nhiều những đồ trân quí kỳ lạ, hàng trăm thứ đầy đủ nên gọi là đại tạng. Tạng rất thâm áo của các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, nhiều những thứ kỳ lạ, đầy đủ không khiếm khuyết nên gọi là Ðại Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Vật vô biên mới gọi là đại. Niết Bàn vô biên, vậy nên gọi là đại. Lại nữa, này thiện nam tử! Có đại lạc nên gọi là Ðại Niết Bàn, còn Niết Bàn thì không lạc. Do bốn thứ lạc nên gọi là Ðại Niết Bàn. Những gì là bốn? Một là đoạn dứt những niềm vui (lạc). Chẳng đoạn dứt vui thì tức là khổ mà nếu có khổ thì chẳng gọi là đại lạc (vui lớn). Do đoạn dứt vui thì không có khổ mà không khổ, không lạc mới gọi là Ðại Lạc. Tính của Niết Bàn không khổ, không lạc. Vậy nên Niết Bàn gọi là Ðại Lạc. Do nghĩa này nên gọi là Ðại Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Lạc có hai thứ, một là lạc của phàm phu, hai là lạc của chư Phật. Lạc của phàm phu thì vô thường, bại hoại. Vậy nên không có lạc. Chư Phật thì thường lạc không có biến dị nên gọi là Ðại Lạc. Lại nữa, này thiện nam tử! Có ba thứ thọ, một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ. Chẳng khổ chẳng vui cũng là khổ. Niết Bàn tuy đồng chẳng khổ, chẳng vui, nhưng gọi là Ðại Lạc. Do Ðại Lạc nên gọi là Ðại Niết Bàn. Hai là Ðại Tịch Tịnh nên gọi là Ðại Lạc. Tính Niết Bàn là Ðại Tịch Tịnh. Vì sao vậy? Vì xa lìa tất cả pháp rối loạn, ồn ào. Do Ðại Tịch Tịnh nên gọi là Ðại Niết Bàn. Ba là biết tất cả nên gọi là Ðại Lạc. Chẳng phải biết tất cả thì chẳng gọi là Ðại Lạc. Các đức Phật Như Lai biết tất cả nên gọi là Ðại Lạc. Do Ðại Lạc nên gọi là Ðại Niết Bàn. Bốn là thân chẳng hoại nên gọi là Ðại Lạc. Thân nếu có thể hoại thì chẳng gọi là Lạc. Thân của Như Lai là thân Kim Cương không hoại, chẳng phải là thân phiền não, là thân vô thường nên gọi là Ðại Lạc. Do Ðại Lạc nên gọi là Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Danh tự (tên) của thế gian, hoặc có nhân duyên, hoặc không nhân duyên. Có nhân duyên là như ông Xá Lợi Phất có mẹ tên là Xá Lợi rồi nhân tên mẹ đặt tên con nên gọi là Xá Lợi Phất. Như đạo nhân Ma Du La sinh ra ở nước Ma Du La, rồi nhân nước mà đặt tên nên gọi là đạo nhân Ma Du La. Như ông Mục Kiền Liên, Mục Kiền Liên tức là họ, rồi nhân họ đặt tên nên gọi là Mục Kiền Liên. Như ta sinh ra ở dòng họ Cù Ðàm, rồi nhân họ đặt tên, xưng là Cù Ðàm. Như đạo nhân Tỳ Xá Khư, Tỳ Xá Khư tức là tên một vì sao. Nhân lấy sao làm tên nên gọi là Tỳ Xá Khư. Như tay có sáu ngón, nhân sáu ngón nên gọi là người sáu ngón. Như kẻ làm tôi cho Phật, làm tôi cho trời, nhân Phật, nhân trời nên gọi kẻ đó là Phật nô, Thiên nô. Nhân ẩm thấp sinh ra nên gọi là thấp sinh. Như nhân âm thanh nên tên là Ca Ca La, tên Cứu Cứu La, Ðán Ðán La. Những tên như vậy, v.v... gọi là tên nhân duyên. Tên không nhân duyên là như: hoa sen, đất nước, lửa, gió, hư không. Như Mạn Ðà Bà thì một là tên, hai là thật. Một là gọi điện đường, hai là gọi nước uống. Nhà chẳng uống nước cũng lại được gọi là Mạn Ðà Bà. Như Tát Ba Xa Ða tên là Xà Cái mà thật chẳng phải là xà cái. Ðó gọi là tên không nhân duyên mà chỉ cưỡng đặt tên gọi. Như Ðể La Bà Di tên là Thực Du nhưng thật ra chẳng ăn dầu, chỉ là khiên cưỡng đặt tên gọi là Thực Du. Ðó gọi là áp đặt tên gọi không có nhân duyên. Này thiện nam tử! Ðại Niết Bàn này cũng lại như vậy, không có nhân duyên mà là áp đặt tên gọi. Này thiện nam tử! Ví như hư không chẳng nhân cái tiểu không mà gọi là đại vậy. Niết Bàn cũng thế, chẳng nhân tiểu tướng mà gọi Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như có pháp chẳng thể xưng lường, chẳng thể nghĩ bàn nên gọi là đại (lớn). Niết Bàn cũng vậy, chẳng thể xưng lường, chẳng thể nghĩ bàn nên được gọi là Ðại bát Niết Bàn. Do thuần tịnh nên gọi là Ðại Niết Bàn. Sao gọi là thuần tịnh? Tịnh có bốn thứ? Những gì là bốn? Một là hai mươi lăm cõi hữu gọi là bất tịnh mà có thể vĩnh viễn đoạn tuyệt nên được gọi là tịnh. Tịnh tức là Niết Bàn mà Niết Bàn như vậy cũng được gọi là có. Nhưng Niết Bàn này thật chẳng phải là có. Các đức Phật Như Lai theo thế tục nên nói Niết Bàn có. Ví như người đời, chẳng phải cha mà nói rằng cha, chẳng phải mẹ mà nói rằng mẹ. Thật chẳng phải là cha mẹ mà nói rằng cha mẹ. Niết Bàn cũng vậy, theo thế tục nên chư Phật nói rằng, có Ðại Niết Bàn. Hai là Nghiệp thanh tịnh. Nghiệp của tất cả phàm phu chẳng thanh tịnh nên không Niết Bàn. Nghiệp của các đức Phật Như Lai thanh tịnh nên gọi là Ðại tịnh. Do Ðại tịnh nên gọi là Ðại Niết Bàn. Ba là thân thanh tịnh. Thân nếu vô thường thì gọi là bất tịnh. Thân Như Lai thường nên gọi là Ðại tịnh. Do đại tịnh nên gọi là Ðại Niết Bàn. Bốn là tâm thanh tịnh. Tâm nếu có lậu thì gọi là bất tịnh. Tâm Phật vô lậu nên gọi là đại tịnh. Do đại tịnh nên gọi là Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ðó gọi là, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân tu hành Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì thành tựu đầy đủ công đức phân đầu.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi mốt hết -


22/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Hai

PHẨM BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG Thứ Hai Mươi Hai (tiếp theo)

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu công đức thứ hai đầy đủ? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì cái xưa chẳng được mà nay được, cái xưa chẳng thấy mà nay thấy, cái xưa chẳng nghe mà nay nghe, cái xưa chẳng đến mà nay đến, cái xưa chẳng biết mà nay biết. Sao gọi là cái xưa chẳng được mà nay được? Ðó là thần thông, cái xưa chẳng được mà nay mới được. Thần thông có hai thứ, môt là nội, hai là ngoại. Cái gọi là ngoại thì cùng chung với ngoại đạo. Nội lại có hai, một là thần thông của Nhị thừa, hai là thần thông của Bồ tát. Thần thông sở đắc của Bồ tát tu hành Kinh Ðại Niết Bàn chẳng cùng chung với Thanh Văn, Bích Chi Phật. Sao gọi là chẳng cùng chung với Thanh Văn, Bích Chi Phật? Sự tạo tác biến hóa thần thông của Nhị thừa là một tâm chỉ làm ra một, chẳng làm được nhiều. Bồ tát chẳng vậy, ở trong một tâm thì có thể hiện đầy đủ thân năm đưòng. Sở dĩ vì sao? Vì do thế lực của Kinh Ðại Niết Bàn như vậy. Ðó gọi là cái xưa chẳng được mà nay được. Lại nữa, sao gọi là cái xưa chẳng được mà nay được? Ðó là thân được tự tại, tâm được tự tại. Vì sao vậy? Vì việc có thân tâm của tất cả phàm phu chẳng được tự tại mà hoặc tâm theo thân, hoặc thân theo tâm. Sao gọi là tâm theo thân? Ví như người say thì rượu ở trong thân, bấy giờ thân động thì tâm cũng động theo. Cũng như thân lười thì tâm cũng lười theo. Ðó gọi là tâm theo thân. Lại như, đứa trẻ con, thân nó trẻ nhỏ thì tâm cũng nhỏ theo, còn người lớn thì thân lớn nên tâm cũng lớn theo. Lại như có người, thân thể thô ráp, lòng thường suy nghĩ muốn được dầu mỡ thấm nhuần làm cho mềm mại. Ðó gọi là tâm tùy theo thân. Sao gọi là thân tùy theo tâm. Ðó là đi, lại, ngồi, nằm, tu hành Thí, Giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn. Thân người sầu não thì gầy còm, tiều tụy. Thân người hoan hỷ béo mập, tươi tốt. Thân thể người kinh sợ run rẩy, chao động. Người chuyên tâm nghe pháp thì thân tươi vui. Người buồn khổ thì nước mắt tuông rơi. Ðó gọi là thân tùy theo tâm. Bồ tát chẳng vậy, ở trong thân tâm đều được tự tại. Ðó gọi là cái xưa chẳng được mà nay được. Lại nữa, này thiện nam tử! Thân tướng thị hiện của Ðại Bồ tát giống như vi trần. Do thân vi trần này nên đều có thể đến khắp vô lượng vô biên những thế giới Phật nhiều như cát sông Hằng, không có sự ngăn ngại mà tâm thường định chỗ ban đầu chẳng di động. Ðó gọi là tâm chẳng tùy theo thân. Ðó cũng gọi là cái xưa chẳng đến mà nay có thể đến. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, v.v... đã chẳng thể đến, còn Bồ tát thì có thể đến (đáo). Vậy nên gọi là cái xưa chẳng đến mà nay có thể đến. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, v.v... tuy dùng thần thông nhưng chẳng thể biến thân nhỏ như vi trần đến khắp vô lượng những thế giới Phật nhiều như cát sông Hằng. Thân của Thanh Văn, Duyên Giác nếu khi động thì tâm cũng động theo. Bồ tát chẳng vậy, tâm tuy chẳng động nhưng thân thì không đâu chẳng đến. Ðó gọi là tâm Bồ tát chẳng tùy theo thân. Lại nữa, này thiện nam tử! Bồ tát hóa thân giống như ba ngàn đại thiên thế giới, rồi dùng thân lớn này vào một thân vi trần mà lòng Bồ tát ấy, bấy giờ cũng chẳng nhỏ theo. Thanh Văn, Duyên Giác tuy có thể hóa thân khiến cho lớn như ba ngàn đại thiên thế giới nhưng mà chẳng thể dùng thân lớn này vào thân vi trần. Ở trong việc này còn tự chẳng thể được, huống là có thể khiến cho tâm chẳng động theo. Ðó gọi là tâm Bồ tát chẳng tùy theo thân. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát dùng một âm thanh có thể khiến cho chúng sinh của ba ngàn đại thiên thế giới đều nghe mà tâm chẳng nghĩ, làm cho âm thanh này khắp các thế giới, khiến cho điều các chúng sinh xưa chẳng nghe mà nay được nghe. Bồ tát này ban đầu cũng chẳng nói rằng, ta khiến cho chúng sinh, cái xưa chẳng nghe mà nay được nghe. Bồ tát, nếu nói rằng, nhân ta nói pháp nên khiến cho các chúng sinh chẳng nghe được nghe, thì phải biết người này nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao vậy? Vì tất cả chúng sinh chẳng nghe ta là người nói. Như tâm này là tâm sinh tử thì tất cả Bồ tát tâm đó đã hết. Do nghĩa này nên thân tâm sở hữu của Ðại Bồ tát chẳng theo đuổi nhau. Này thiện nam tử! Thân tâm của tất cả phàm phu theo nhau. Bồ tát chẳng vậy, vì hóa độ chúng sinh nên tuy hiện thân nhỏ nhưng tâm cũng chẳng nhỏ. Vì sao vậy? Vì tâm tính sở hữu của các Bồ tát... thường rộng lớn nên tuy hiện thân lớn nhưng tâm cũng chẳng lớn. Sao gọi là thân lớn? Thân như ba ngàn đại thiên thế giới. Sao gọi là tâm nhỏ? Làm hành động trẻ con. Do nghĩa này nên tâm chẳng tùy theo thân. Ðại Bồ tát đã ở vô lượng A tăng kỳ kiếp xa rượu chẳng uống mà tâm cũng động, lòng không bi khổ mà thân cũng chảy nước mắt, thật không kinh sợ mà thân cũng run lẩy bẩy. Do nghĩa này nên phải biết là, thân tâm của Bồ tát tự tại chẳng theo đuổi nhau. Ðại Bồ tát chỉ hiện một thân mà các chúng sinh mỗi mỗi đều thấy khác. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe? Ðại Bồ tát trước tiên chọn lấy tướng của tiếng như là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng người, tiếng ốc, tiếng trống, tiếng tiêu, tiếng địch (sáo), tiếng ca, tiếng khóc, v.v... mà tu tập. Do tu tập nên Bồ tát có thể nghe âm thanh của địa ngục sẵn có trong ba ngàn đại thiên thế giới. Bồ tát lại tu tập chuyển đổi được nhĩ căn khác, khác với tai của Thanh Văn, Duyên Giác và trời. Vì sao vậy? Vì nhĩ căn thanh tịnh sở đắc của Nhị thừa nếu vương vào bốn đại tịnh diệu của sơ thiền thì chỉ nghe sơ thiền, chẳng nghe Nhị thiền cho đến Tứ thiền cũng lại như vậy. Họ tuy có thể cùng một lúc được nghe âm thanh sở hữu của ba ngàn đại thiên thế giới mà chẳng thể nghe được âm thanh của vô lượng vô biên hằng hà sa số thế giới. Do nghĩa này nên sở đắc của Bồ tát khác với nhĩ căn của Thanh Văn, Duyên Giác. Do sự khác này nên điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe, tuy nghe âm thanh mà lòng bắt đầu không nghe tướng của âm thanh, chẳng tạo tác tướng có, tướng thường, tướng lạc, tướng ngã, tướng tịnh, tướng chủ, tướng y (nương), tướng tác, tướng nhân, tướng định, tướng quả. Do nghĩa này nên các Bồ tát, v.v... điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe.

Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương thưa rằng:

- Như lời đức Phật nói, chẳng tạo tác tướng định, chẳng tạo tác tướng quả thì ý nghĩa này chẳng đúng vậy! Vì sao vậy? Vì đức Như Lai trước đã nói rằng, nếu ngươi chưa nghe được một câu, một chữ của Kinh Ðại Niết Bàn này thì nhất định được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðức Như Lai hôm nay sao lại nói rằng, không định, không quả? Nếu được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì tức là định tướng, tức là quả tướng thì sao mà nói rằng, không định, không quả? Nghe tiếng ác thì sinh tâm ác. Sinh tâm ác thì đến tam đồ. Nếu đến tam đồ tức là định là quả thì sao nói rằng, không định không quả?

Lúc bấy giờ, đức Như Lai khen rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông mới có thể hỏi câu hỏi này! Nếu giả sử, các đức Phật nói rằng, các âm thanh có tướng định quả, thì chẳng phải là tướng của các đức Phật Thế Tôn mà là tướng ma vương, tướng sinh tử, tướng xa Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì phàm là sự diễn nói của tất cả các đức Phật thì không có tướng định, quả. Này thiện nam tử! Ví như trong lưỡi dao soi dáng mặt người, dựng đứng dao thì thấy mặt người dài, cầm ngang dao thì thấy mặt người rộng. Nếu có tướng định thì sao mà dựng đứng thì thấy dài, cầm ngang thì thấy rộng? Do nghĩa này nên phàm sự diễn nói của các đức Phật Thế Tôn không có tướng định, quả. Này thiện nam tử! Luận về Niết Bàn thì chân thật chẳng phải là kết quả của âm thanh. Nếu giả sử Niết Bàn là kết quả của âm thanh thì phải biết Niết Bàn chẳng phải là Thường pháp. Này thiện nam tử! Ví như thế gian, từ nhân duyên sinh ra pháp, có nhân thì có quả, không nhân thì không quả. Nhân vô thường nên quả cũng vô thường. Sở dĩ vì sao? Vì nhân cũng làm ra quả mà quả cũng làm ra nhân. Do nghĩa này nên tất cả các pháp không có định tướng. Nếu giả sử Niết Bàn từ nhân sinh ra mà nhân vô thường thì quả cũng vô thường. Nhưng Niết Bàn này chẳng từ nhân sinh ra nên thể của Niết Bàn này chẳng phải là quả. Vậy nên Niết Bàn này là thường. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên thể của Niết Bàn không định không quả. Này thiện nam tử! Luận về Niết Bàn thì cũng có thể nói định, cũng có thể nói quả. Sao gọi là định? Niết Bàn Thường - Lạc - Ngã - Tịnh là sở hữu của tất cả các đức Phật. Vậy nên là định. Niết Bàn không sinh, lão, hoại. Vậy nên là định. Nhất xiển đề, những kẻ phạm bốn trọng cấm, bài báng Phương Ðẳng tạo tác tội ngũ nghịch mà trừ bỏ bản tâm thì nhất định được Niết Bàn. Vậy nên là định! Này thiện nam tử! Như lời ông nói, nếu người nghe ta nói một chữ, một câu của Ðại Niết Bàn thì được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ông đối với nghĩa lời nói này còn chưa giải rõ. Ông hãy lắng nghe! Ta sẽ vì ông lại phân biệt! Này thiện nam tử! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe một chữ, một câu của Kinh Ðại Niết Bàn mà chẳng tác khởi tướng chữ, chẳng tác khởi tướng câu, chẳng tác khởi tướng nghe, chẳng tác khởi tướng Phật, chẳng tác khởi tướng nói... Nghĩa như vậy thì gọi là tướng Vô tướng. Do tướng vô tướng nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Như lời ông nói, nghe tiếng ác nên đến ba đường, thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì chẳng phải do tiếng ác mà đến ba đường. Ông phải biết, kết quả này chính là do tâm ác. Sở dĩ vì sao? Vì có thiện nam tử, thiện nữ nhân, v.v... tuy nghe tiếng ác nhưng tâm chẳng sinh ra ác. Vậy nên ông phải rằng, chẳng phải nhân tiếng ác mà sinh ra trong ba đường. Các chúng sinh nhân phiền não kết, tâm ác nhiều thêm nên sinh ba đường ác, chẳng phải nhân tiếng ác. Nếu tiếng có định tướng thì những người có nghe đều ứng sinh ra tâm ác, nhưng lại có người sinh, có không sinh. Vậy nên phải biết rằng, tiếng không có định tướng, tuy lại nhân vào đó nhưng chẳng sinh ra ác tâm.

- Thưa đức Thế Tôn! Tiếng nếu không định thì vì sao điều Bồ tát xưa chẳng nghe mà nay được nghe?

- Này thiện nam tử! Tiếng không định tưởng. Ðiều xưa chẳng nghe mà khiến cho các Bồ tát nay được nghe. Do nghĩa này nên ta nói lời này, điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe. Này thiện nam tử! Sao gọi là cái xưa chẳng thấy mà nay được thấy? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu tập Kinh Ðại Niết Bàn vi diệu thì trước tiên chọn lấy tướng ánh sáng như là ánh sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú, lửa sân nhà (đình liệu) đèn, đuốc, hỏa châu, dược thảo, v.v... Do tu tập nên được nhãn căn khác, khác với sở đắc của Thanh Văn, Duyên Giác. Những gì là khác? Thiên nhãn thanh tịnh sở đắc của hàng Nhị thừa, nếu nương vào Nhãn căn bốn đại của Dục giới thì chẳng thấy sơ thiền, nếu nương sơ thiền thì chẳng thấy đất cõi trên, thậm chí mắt mình còn chẳng thể thấy, như muốn thấy nhiều, đến cùng cực ba ngàn đại thiên thế giới. Ðại Bồ tát chẳng tu thiên nhãn, thấy sắc thân đẹp đều là tướng xương. Bồ tát tuy thấy sắc tướng của hằng hà sa số thế giới ở phương khác nhưng chẳng tác khởi sắc tướng, chẳng tác khởi thường tướng, hữu tướng, vật tướng, danh tự tướng, tướng tạo tác nhân duyên, v.v... Chẳng tác khởi tướng thấy, chẳng nói rằng, tướng mắt vi diệu thanh tịnh mà chỉ thấy tướng nhân duyên chẳng phải nhân duyên. Sao gọi là nhân duyên? Sắc là duyên của mắt. Nếu giả sử sắc này chẳng phải nhân duyên thì tất cả phàm phu chẳng ứng sinh ra tướng thấy sắc. Do nghĩa này nên sắc gọi là nhân duyên. Chẳng phải nhân duyên là Ðại Bồ tát tuy lại thấy sắc nhưng chẳng sinh ra sắc tướng. Vậy nên chẳng phải là duyên. Do nghĩa này nên thiên nhãn thanh tịnh sở đắc của Bồ tát khác với sở đắc của Thanh Văn, Duyên Giác. Do sự khác này nên cùng một lúc thấy khắp các đức Phật hiện tại của mười phương thế giới. Ðó gọi là điều xưa Bồ tát chẳng thấy mà nay được thấy. Do sự khác này nên có thể thấy vi trần, cái mà Thanh Văn, Duyên Giác chẳng thể thấy. Do sự khác này nên tuy thấy nhưng mắt mình đầu tiên không thấy tướng, thấy tướng vô thường, thấy thân phàm phu tràn đầy ba mươi sáu vật bất tịnh như xem quả A ma lạc trong lòng bàn tay. Do nghĩa này nên nói điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy. Nếu thấy sắc tướng sở hữu của chúng sinh thì biết căn người ấy đại thừa hay tiểu thừa. Nếu chạm vào áo cũng biết các căn sai biệt thiện, ác của người đó. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Do sự biết này nên điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Do sự biết này nên điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là điều xưa Bồ tát chẳng biết mà nay được biết? Ðại Bồ tát tuy biết lòng của phàm phu tham, sân, si nhưng ban đầu chẳng tác khởi tướng tâm và tâm số, chẳng tác khởi tướng chúng sinh và cả tướng vật, tu Ðệ nhất nghĩa rốt ráo không tướng. Vì sao vậy? Vì tất cả Bồ tát thường khéo tu tập tướng không tính. Do tu tập “không” nên điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Sao gọi là biết? Biết không có ngã, không có ngã sở, biết các chúng sinh đều có Phật tính. Do Phật tính nên Nhất xiển đề, v.v... lìa bỏ bản tâm thì đều sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những điều này đều là điều chẳng thể biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là điều xưa chẳng biết mà nay được biết? Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu, nghĩ đến đời sống, dòng họ, cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè, oán ghét của tất cả chúng sinh đời quá khứ. Ở trong một niệm được trí khác lạ, khác với trí tuệ của Thanh Văn, Duyên Giác. Sao gọi là khác? Trí tuệ sở hữu của Thanh Văn, Duyên Giác nghĩ đến dòng họ, cha mẹ... cho đến kẻ oán ghét của chúng sinh sở hữu trong đời quá khứ mà tác khởi tướng chủng tính... cho đến tướng oán ghét. Bồ tát chẳng vậy, tuy nghĩ đến dòng họ, cha mẹ... cho đến kẻ oán ghét ở đời quá khứ nhưng nhất định chẳng sinh ra tướng dòng họ, tướng cha mẹ... tướng oán ghét, v.v... thường tác khởi pháp tướng, tướng không tịch. Ðó gọi là điều xưa Bồ tát chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là điều xưa chẳng biết mà nay được biết? Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu được trí Tha Tâm (trí biết tâm người khác) khác với sở đắc của Thanh Văn, Duyên Giác. Sao gọi là khác? Khi Thanh Văn, Duyên Giác dùng một niệm trí để biết lòng người thì chẳng thể biết tâm của địa ngục, súc sinh, ngã quỉ và trời. Bồ tát chẳng vậy, ở trong một niệm biết khắp lòng của chúng sinh trong sáu đường. Ðó gọi là điều xưa Bồ tát chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam tử! Lại có sự biết khác. Ðại Bồ tát ở trong một tâm, biết từ tâm đầu tiên của Tu đà hoàn, rồi lần lượt đến mười sáu tâm. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Ðó là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ hai.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ ba? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn bỏ Từ được Từ (Từ Bi), khi được Từ chẳng Từ nhân duyên. Sao gọi là bỏ Từ được Từ? Này thiện nam tử! Từ là gọi thế đế. Ðại Bồ tát bỏ Từ thế đế, được đệ nhất nghĩa từ. Ðệ nhất nghĩa Từ chẳng từ duyên mà được. Lại nữa, sao gọi là bỏ Từ được Từ? Từ nếu có thể bỏ thì gọi là Từ phàm phu. Từ nếu có thể được thì tức là Từ không duyên của Bồ tát. Bỏ Từ nhất xiển đề, Từ phạm trọng cấm, Từ bài báng Phương Ðẳng, Từ tạo ngũ nghịch để được Từ lân mẫn, được Từ Như Lai, Từ Thế Tôn, Từ không nhân duyên. Sao lại gọi là bỏ Từ được Từ. Bỏ Từ của bọn Huỳnh môn, Từ của người không căn, người hai căn, người nữ, Từ của đồ tể, thợ săn, người nuôi dưỡng gà, heo, v.v... cũng bỏ Từ của Thanh Văn, Bích Chi Phật để được Từ không nhân duyên của những Bồ tát. Hành giả chẳng thấy Từ của mình, chẳng thấy từ của người khác, chẳng thấy trì giới, chẳng thấy phá giới. Tuy tự thấy “bi” nhưng chẳng thấy chúng sinh. Tuy có khổ thọ nhưng chẳng thấy người thọ. Vì sao vậy? Vì do tu Ðệ nhất chân thật nghĩa. Ðó gọi là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ ba.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tư? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tư thì có mười việc. Những gì là mười? Một là rễ (căn) sâu khó có thể nhổ bật. Hai là tự thân sinh quyết định tưởng. Ba là chẳng quan sát phước điền và chẳng phải phước điền. Bốn là tu cõi Phật thanh tịnh. Năm là diệt trừ “hữu dư”. Sáu là đoạn trừ nghiệp duyên. Bảy là tu thân thanh tịnh. Tám là rõ biết các duyên. Chín là lìa các oán địch. Mười là đoạn trừ nhị biên. Sao gọi là rễ sâu khó nhổ bật. Cái gọi là rễ (căn) tức là gọi chẳng phóng dật. Chẳng phóng dật là căn gì? Ðó là căn của Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Những căn bản thiện của tất cả chư Phật đều là chẳng phóng dật. Chẳng phóng dật nên các thiện căn khác đắp đổi thêm lớn. Do nó có thể làm tăng trưởng các thiện căn nên ở trong các thiện, là tối thù thắng. Này thiện nam tử! Như trong các dấu chân thì dấu chân voi là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thù thắng. Này thiện nam tử! Như trong các ánh sáng thì ánh sáng mặt trời là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thù thắng. Này thiện nam tử! Như trong các vì vua thì vua Chuyển Luân Thánh là tối đệ nhất. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là tối đệ nhất. Này thiện nam tử! Như trong các dòng chảy thì bốn dòng sông là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là trên hết. Này thiện nam tử! Như trong các núi thì núi vua Tu Di là tối đệ nhất. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là tối đệ nhất. Này thiện nam tử! Như trong loài hoa sinh trong nước thì hoa sen xanh là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là trên hết. Này thiện nam tử! Như trong loài hoa sinh trên đất thì hoa Bà Lợi Sư là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện là tối thượng. Này thiện nam tử! Như trong các loài thú thì sư tử là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử! Như trong loài chim bay thì vua chim cánh vàng là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử! Như trong loài thân lớn thì vua A tu la La Hầu là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử! Như trong tất cả chúng sinh, hoặc loài hai chân, bốn chân, nhiều chân hay không không chân thì Như Lai là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, ở trong các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử! Như trong các chúng thì Phật, Tăng là trên. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, ở trong các thiện pháp là tối thượng. Này thiện nam tử! Như trong Phật pháp thì pháp Ðại Niết Bàn này là tối thượng. Pháp chẳng phóng dật cũng lại như vậy, đối với các pháp thiện, là tối thượng. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên rễ (căn) chẳng phóng dật thâm sâu, bền chắc khó bứng lên được. Sao gọi là chẳng phóng dật mà được tăng trưởng? Như là tín căn, giới căn, thí căn, tuệ căn, nhẫn căn, văn (nghe) căn, tấn căn, niệm căn, định căn, thiện tri thức căn... Những căn như vậy mà chẳng phóng dật thì được tăng trưởng. Do chúng tăng trưởng nên thâm sâu bền chắc khó bứng lên được. Do nghĩa này nên gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì căn thâm sâu khó bứng lên được.

Sao gọi là đối với thân tạo tác quyết định tưởng? Ðối với tự thân đã sinh tâm quyết định rằng: “Thân này của ta hôm nay ở đời vị lai, nhất định sẽ làm pháp khí Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Tâm cũng như vậy, chẳng tác khởi nhỏ hẹp, chẳng tác khởi biến dị, chẳng tác khởi tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật, chẳng tác khởi tâm ma và tâm tự lạc, tâm ưa sinh tử. Ta luôn vì chúng sinh cầu tâm Từ Bi”. Ðó gọi là Bồ tát, ở trong tự thân, sinh ra tâm quyết định “Ta ở đời vị lai sẽ làm pháp khí Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì ở trong tự thân sinh ra quyết định tưởng.

Sao gọi là Bồ tát chẳng quán phước điền (ruộng phước) và chẳng phải phước điền? Sao gọi là phước điền? Kẻ ngoại đạo trì giới... lên đến các đức Phật thì đó gọi là phước điền. Nếu có người nghĩ rằng, những bọn như vậy là chân phước điền thì phải biết tâm này là hẹp hòi, hèn yếu. Ðại Bồ tát đều quán tất cả vô lượng chúng sinh không chẳng phải phước điền. Vì sao vậy? Vì do khéo tu tập niệm xứ khác. Có niệm xứ khác khéo tu tập là: quán các chúng sinh không có trì giới và cả hủy giới, thường quán lời nói của các đức Phật Thế Tôn. Thí tuy có bốn thứ nhưng đều được quả báo thanh tịnh. Những gì là bốn? Một là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh. Hai là thí chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh. Ba là người thí, kẻ thọ thí đều thanh tịnh. Bốn là cả hai đều bất tịnh. Sao gọi là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh? Thí chủ có đủ giới, đa văn, trí tuệ, biết có huệ thí và cả quả báo. Kẻ thọ thí phá giới, chuyên chấp trước tà kiến, không huệ thí, không quả báo. Ðó gọi là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh. Sao gọi là người thọ thí thanh tịnh, thí chủ bất tịnh? Thí chủ phá giới, chuyên chấp trước tà kiến, nói rằng không huệ thí và cả quả báo. Kẻ thọ thí trì giới, đa văn, trí tuệ, biết có huệ thí và quả báo thí. Ðó gọi là thí chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh. Sao gọi là người thí, kẻ thọ đều thanh tịnh? Người thí, kẻ thọ đều có trì giới, đa văn, trí tuệ, biết có huệ thí và quả báo thí. Ðó gọi là kẻ thí, người thọ cả hai đều thanh tịnh. Sao gọi là cả hai đều bất tịnh? Người thí, kẻ thọ đều phá giới, tà kiến và nói rằng, không có thí và quả báo thí. Nếu như vậy thì sao lại gọi rằng, được tịnh quả báo? Do không thí, không quả báo nên gọi là thanh tịnh. Này thiện nam tử! Nếu có người chẳng thấy bố thí và quả báo thí thì phải biết người này chẳng gọi phá giới, chuyên chấp trước tà kiến. Nếu nương vào Thanh Văn mà nói rằng, chẳng thấy bố thí và quả báo thí thì đó gọi là phá giới, tà kiến. Nếu y vào Kinh Ðại Niết Bàn như vậy mà chẳng thấy huệ thí và quả báo thí thì đó gọi là trì giới, chánh kiến. Ðại Bồ tát có niệm xứ khác để tu tập nên chẳng thấy chúng sinh trì giới, phá giới, người thí, kẻ thọ và quả báo thí. Vậy nên được gọi là trì giới, chánh kiến. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát chẳng quán phước điền và chẳng phải phước điền.

Sao gọi là đất nước Phật thanh tịnh? Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm giết hại. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho các chúng sinh được thọ mạng lâu dài, có thế lực lớn, được đại thần thông. Do sức của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước được thọ mạng lâu dài, có đại thế lực, được đại thần thông. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm trộm cắp. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho sở hữu đất đai của đất nước chư Phật thuần là bảy báu, chúng sinh giàu có đầy đủ, sở dục thỏa lòng mình. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì đất nước sở đắc thuần là bảy báu, chúng sinh giàu có đầy đủ, sở dục thỏa lòng mình. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm dâm dục. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật không có tâm tham dục, sân nhuế, ngu si, cũng không có hoạn nạn đói khát khổ não. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì chúng sinh trong đất nước mình xa lìa tâm tham dâm, sân nhuế, ngu si và tất cả không có đói khát khổ não. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm vọng ngữ. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho các cõi Phật thường có rừng sum suê cây trái, hương hoa, chúng sinh sở hữu được âm thanh vi diệu. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì đất nước sở hữu thường có rừng sum suê cây trái, hương hoa. Chúng sinh trong cõi ấy đều được âm thanh thượng diệu thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa nói hai lưỡi. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật thường chung hòa hợp giảng nói chánh pháp. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước mình đều chung hòa hợp giảng luận pháp yếu. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa ác khẩu. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho đất của các cõi Phật bằng phẳng như bàn tay, không cát đá, gai góc ác nhọn... Chúng sinh sở hữu của những cõi ấy, lòng bình đẳng. Do lực nhân duyên của thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì đất đai của đất nước sở đắc bằng phẳng như bàn tay, không có cát đá, gai gọc nhọn ác và chúng sinh sở hữu thì lòng họ bình đẳng. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi lời nói vô nghĩa. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật không có khổ não. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước không có khổ não. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa tham tật (tham lam ganh ghét). Ðem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho tất cả chúng sinh của các cõi Phật không có tham tật, não hại, tà kiến. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của đất nước đều không tham tật, não hại, tà kiến. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa não hại. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho sở hữu của các cõi Phật đều chung tu tập đại từ đại bi; được địa vị nhất tử. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh sở hữu của thế giới đều chung tu tập đại từ đại bi, được địa vị nhất tử. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu vì Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa tà kiến. Rồi đem thiện căn này nguyện cùng chung với tất cả chúng sinh. Nguyện cho chúng sinh sở hữu của các cõi Phật đều được Ma ha Bát Nhã Ba la mật. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì chúng sinh của thế giới đều được thọ trì Ma ha Bát Nhã Ba la mật. Ðó gọi là Bồ tát tu tịnh Phật thổ.

Sao gọi là Ðại Bồ tát diệt trừ hữu dư? Hữu dư có ba, một là phiền não dư báo, hai là dư nghiệp, ba là dư hữu. Này thiện nam tử! Sao gọi là phiền não dư báo? Nếu có chúng sinh quen gần tham dục mà quả báo này thành thục thì đọa vào địa ngục. Từ địa ngục ra thì thọ thân súc sinh như là bồ câu, chim sẻ, uyên ương, anh vũ, kỳ bà kỳ bà, chim Xá lợi dà, thanh tước, cá, rùa, khỉ, nai... Nếu được thân người thì thọ hình dáng huỳnh môn, nữ nhân, người hai căn hay không căn, dâm nữ. Nếu được xuất gia thì phạm giới nặng đầu tiên. Ðó gọi là dư báo. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh đem lòng ân trọng quen gần sân nhuế. Quả báo này thành thục nên rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra thọ thân súc sinh như là rắn độc đủ bốn thứ độc: thấy độc, chạm độc, cắn độc, lìa hơi độc, hoặc là sư tử, cọp, sói, gấu, mèo, chồn, chim ưng, diều hâu, v.v... Nếu được thân người thì đầy đủ mười sáu những luật nghi ác. Nếu được xuất gia thì phạm trọng giới thứ hai. Ðó gọi là dư báo. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có người tu tập ngu si thì khi quả báo này thành thục, rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc sinh như là voi, heo, trâu, dê, trâu nước, rận, bọ chét, nhặng, kiến, v.v... Nếu được thân người thì điếc, mù, câm, ngọng, tàn phế, lưng gù... các căn chẳng đủ, chẳng thể thọ pháp. Nếu được xuất gia thì các căn ám độn, ưa phạm trọng giới... cho đến tội thấp hèn. Ðó gọi là dư báo. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có người tu tập kiêu mạn thì khi quả báo thành thục, rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc sinh như là trùng phân, lạc đà, lừa, chó, ngựa. Nếu sinh ra trong loài người thì thọ thân nô tỳ, nghèo cùng, ăn xin. Hoặc được xuất gia thì thường bị sự khinh miệt của chúng sinh và phá giới thứ tư. Ðó gọi là dư báo. Những điều như vậy, v.v... gọi là phiền não dư báo. Những dư báo như vậy, Ðại Bồ tát nhờ tu tập Kinh Ðại Niết Bàn nên đều được trừ diệt. Sao gọi là dư nghiệp? Ðó là gọi nghiệp của tất cả phàm phu, nghiệp của tất cả Thanh Văn, người Tu đà hoàn thọ bảy hữu nghiệp, người Tư đà hàm thọ hai hữu nghiệp, người A na hàm thọ sắc hữu nghiệp. Ðó gọi là dư nghiệp. Những dư nghiệp như vậy, Ðại Bồ tát nhờ khả năng tu tập Kinh Ðại Niết Bàn nên đều được đoạn trừ. Sao gọi là dư hữu? A la hán được quả A la hán, Bích Chi Phật được quả Bích Chi Phật, không nghiệp không kết mà chuyển thành hai quả. Ðó gọi là dư hữu. Ba thứ pháp hữu dư này, Ðại Bồ tát tu tập kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn nên được diệt trừ. Ðó gọi là Ðại Bồ tát diệt trừ hữu dư.

Sao gọi là Bồ tát tu thanh tịnh thân? Ðại Bồ tát tu giới bất sát có năm thứ tâm là hạ, trung, thượng, thượng trung và thượng thượng... cho đến tu Chánh kiến cũng lại như vậy. Năm mươi thứ tâm này gọi là tâm sơ phát (tâm phát đầu tiên). Ðầy đủ quyết định thành năm mươi tâm thì gọi là mãn túc (đủ đầy). Một trăm như vậy gọi là một trăm phước đức. Ðầy đủ một trăm phước đức thì thành được một tướng. Cứ như vậy đắp đổi thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng thì gọi thân thanh tịnh. Sở dĩ vì sao lại tu tám mươi vẻ đẹp? Ðời có chúng sinh thờ tám mươi vị thần. Những gì là tám mươi? Ðó là mười hai mặt trời, mười hai đại thiên, năm vì tinh tú lớn là sao Bắc Ðẩu, sao Mã thiên, sao Hành Ðạo thiên, sao Bà La Ðọa Bạt Xà thiên, sao Công Ðức thiên, hai mươi tám vì sao, Ðịa thiên, Phong thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phạm thiên, Lâu Ðà thiên, Nhân Ðề thiên, Câu Ma La thiên, Bát Tý thiên, Ma Ê Thủ La thiên, Bán Xà La thiên, Quỷ Tử Mẫu thiên, Tứ Thiên Vương thiên, Tạo Trú thiên, Bà Tẩu thiên, (18 trời). Ðó gọi là tám mươi. Bồ tát vì chúng sinh này tu tám mươi vẻ đẹp để tự trang nghiêm. Ðó gọi là thân Bồ tát thanh tịnh. Vì sao vậy? Vì tám mươi trời đó được sự tín phục của tất cả chúng sinh. Vậy nên Bồ tát tu tám mươi vẻ đẹp mà thân ấy chẳng động khiến cho chúng sinh theo sự tin ấy, mỗi mỗi đều được thấy. Thấy rồi họ đều tôn kính và phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát tu thân thanh tịnh. Này thiện nam tử! Ví như có người muốn thỉnh vị vua lớn thì cần phải trang nghiêm nhà cửa sở hữu cho cực kỳ thanh tịnh, bày biện đủ thứ trăm món ăn ngon lành, rồi nhiên hậu mới thỉnh vua đến. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, muốn thỉnh vua Pháp Luân Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì trước phải sửa thân cho cực kỳ thanh tịnh, rồi vua pháp Vô thượng mới sẽ đến ở đó. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát cần phải tu thân thanh tịnh. Này thiện nam tử! Ví như có người muốn uống cam lộ thì trước phải tịnh thân. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, muốn uống pháp vị cam lộ Vô thượng Bát Nhã Ba la mật thì cần phải trước dùng tám mươi vẻ đẹp mà thanh tịnh thân ấy. Này thiện nam tử! Ví như bảo khí bằng vàng bạc tốt đẹp đựng nước sạch thì trong ngoài đều sạch. Thân thanh tịnh ấy của Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, đựng nước Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì trong ngoài đều thanh tịnh. Này thiện nam tử! Như áo lụa trắng Ba la nại dễ chịu nhuộm màu. Vì sao vậy? Vì tính bạch tịnh vậy. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, do thân thanh tịnh nên mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát tu thân thanh tịnh. Sao gọi là Ðại Bồ tát rõ biết các duyên? Ðại Bồ tát chẳng thấy sắc tướng, chẳng thấy sắc duyên, chẳng thấy sắc thể, chẳng thấy sắc sinh, chẳng thấy sắc diệt, chẳng thấy một tướng, chẳng thấy dị tướng (tướng khác), chẳng thấy người thấy, chẳng thấy tướng mạo, chẳng thấy người thọ. Vì sao vậy? Vì rõ nhân duyên vậy. Như sắc, tất cả pháp cũng như vậy. Ðó gọi là Bồ tát rõ biết các duyên.

Sao gọi là Bồ tát loại các oán địch? Tất cả phiền não là oán của Bồ tát nên đại Bồ tát thường xa lìa. Ðó gọi là Bồ tát hoại các oán địch. Bồ tát ngũ trụ nhìn thấy các phiền não chẳng gọi là oán địch. Sở dĩ vì sao? Vì nhân phiền não nên Bồ tát có sinh, do có sinh nên có thể đắp đổi giáo hóa chúng sinh. Do nghĩa này nên chẳng gọi là oán. Những gì là oán? Ðó là người bài báng Kinh Phương Ðẳng Bồ tát tùy theo chỗ sinh ra, chẳng sợ địa ngục, súc sinh, ngã quỹ mà chỉ sợ người bài báng Phương Ðẳng như vậy. Tất cả Bồ tát có tám thứ ma gọi là oán gia, xa lìa tám ma này gọi là lìa khỏi oán gia. Ðó gọi là Bồ tát lìa các oán địch.

Sao gọi là Bồ tát xa lìa nhị biên? Nói nhị biên là gọi hai mươi lăm cõi hữu và ái phiền não. Bồ tát thường lìa khỏi hai mươi lăm cõi hữu và ái phiền não thì đó gọi là Bồ tát lìa nhị biên. Ðó gọi là Ðại Bồ tát tu Ðại Niết bàn thành tựu đầy đủ công đức theo thứ tự.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quanh Minh Biến Chiếu Cao Quý Ðức Vương bạch rằng:

- Như lời đức Phật nói, nếu có Bồ tát tu tập Kinh Ðại Niết Bàn thì đều tạo tác mười việc công đức. Như vậy thì sao đức Như Lai chỉ tu chín việc mà chẳng tu tịnh thổ (Cõi thanh tịnh)?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ta, vào thuở xưa, cũng thường tu đủ mười việc như vậy. Tất cả Bồ tát và các đức Như Lai không ai chẳng tu đủ mười việc như vậy. Nếu giả sử thế giới bất tịnh mà tràn đầy các đức Phật Thế Tôn xuất hiện trong đó thì không có việc này. Này thiện nam tử! Ông nay cho rằng, các đức Phật xuất hiện ở thế giới bất tịnh. Ông phải biết tấm lòng này chẳng tốt, hẹp hòi, hèn yếu. Ông nay phải biết, Ta thật chẳng xuất hiện ở cõi Diêm Phù Ðề. Ví như có người nói rằng, cõi này độc nhất có mặt trời, mặt trăng, thế giới phương khác không có mặt trời, mặt trăng. Lời nói như vậy không có nghĩa lý. Nếu có Bồ tát phát ngôn như vầy: “Thế giới Phật này uế ác bất tịnh, cõi Phật phương khác thanh tịnh trang nghiêm thì cũng lại như vậy”. Này thiện nam tử! Phương Tây, cách thế giới Ta bà này độ ba mươi hai lần cát sông Hằng những cõi Phật, tại đó có thế giới tên là Vô Thắng. Cõi đó vì sao tên là Vô Thắng? Vì việc trang nghiêm sở hữu của cõi ấy đều bình đẳng, không có sai biệt giống như thế giới An Lạc ở phương Tây, cũng như thế giới Mãn Nguyệt ở phương Ðông. Ta ở cõi Vô Thắng đó xuất hiện ở đời. Vì hóa độ chúng sinh nên ta ở trong cõi Diêm Phù Ðề này thị hiện chuyển bánh xe pháp. Chẳng phải chỉ độc một mình thân ta, ở trong cõi này, thị hiện chuyển pháp luân. Tất cả các đức Phật cũng ở trong cõi này mà chuyển bánh xe pháp. Do nghĩa này nên các đức Phật Thế Tôn chẳng phải chẳng tu hành mười việc như vậy. Này thiện nam tử! Bồ tát Từ Thị do thệ nguyện nên đời đương lai sẽ khiến cho thế giới này thanh tịnh trang nghiêm. Do nghĩa này nên tất cả thế giới sở hữu của chư Phật không đâu chẳng nghiêm tịnh.

Lại nữa, này Thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ năm? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu Kinh Ðại Niết bàn thành tựu đầy công đức thứ năm thì có năm việc. Những gì là năm? Một là các căn đầy đủ, hai là chẳng sinh ra ở vùng biên địa, ba là chư Thiên ái niệm, bốn là thường được sự cung kính của trời, ma, Sa môn, Sát lợi, Bà la môn, v.v..., năm là được trí túc mạng. Bồ tát do lực của nhân duyên Ðại Niết Bàn này nên đầy đủ năm việc công đức như vậy.

Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Ðức Vương bạch rằng:

- Như lời đức Phật nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân tu bố thí thì được thành tựu đầy đủ năm việc công đức, thì sao hôm nay Ngài nói rằng: Nhân Ðại Niết Bàn được năm việc này?

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Việc như vậy, ý nghĩa của nó đều khác. Hôm nay ta sẽ vì ông phân biệt, giải nói. Bố thí được năm việc là chẳng định, chẳng thường, chẳng tịnh, chẳng thắng và chẳng khác. Ðó chẳng phải là vô lậu, chẳng thể lợi ích, an lạc, thương xót tất cả chúng sinh. Nếu nương vào Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì năm việc sở đắc là định, là thường, là tịnh, là thắng là khác. Ðó là vô lậu có thể lợi ích, an lạc, thương xót tất cả chúng sinh. Này thiện nam tử! Luận về bố thí thì được lìa khỏi đói khát. Kinh Ðại Niết Bàn có thể khiến cho chúng sinh đều được lìa khỏi bệnh khát ái (khao khát ái dục) của hai mươi lăm cõi hữu. Nhân duyên bố thí khiến cho sinh tử nối tiếp nhau. Kinh Ðại Niết Bàn có khiến cho sinh tử đoạn trừ, chẳng nối tiếp nhau. Nhân sinh tử nên chịu pháp phàm phu, nhân đại Niết Bàn được làm Bồ tát. Nhân duyên bố thí có thể đoạn trừ tất cảbần cùng khổ não, Kinh Ðại Niết Bàn có thể đoạn trừ tất cả sự nghèo thiện pháp. Nhân duyên bố thí có phân biệt, có quả báo, nhân duyên Ðại Niết Bàn được Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, không phân biệt, không quả báo. Ðều gọi là Ðại Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ năm.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ sáu? Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn được Kim Cương tam muội. Bồ tát an trụ trong tam muội này đều có thể phá tan tất cả các pháp, thấy tất cả pháp đều là Vô thường, đều là động tướng, nhân duyên của khủng bố, bệnh khổ, trộm cướp, từng niệm từng niệm diệt hoại không có chân thật, tất cả đều là cảnh giới của ma, không thể thấy tướng. Ðại Bồ tát trụ ở tam muội này, tuy bố thí cho chúng sinh nhưng thậm chí chẳng thấy một chúng sinh thật. Vì chúng sinh nên tinh cần tu tập Thí Ba la mật (trì giới độ vô cực)... cho đến tu tập Bát nhã Ba la mật cũng lại như vậy, nếu Bồ tát thấy có một chúng sinh chẳng thể rốt ráo thành tựu đầy đủ Ðàn Ba la mật cho đến Bát nhã Ba la mật. Này thiện nam tử! Ví như chỗ mô phỏng theo Kim cương. Không gì chẳng tan nát mà chính Kim cương không có gẫy tổn. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, pháp không theo không gì chẳng tan nát mà chính tam muội không có gẫy tổn. Này thiện nam tử! Như trong các báu Kim cương là tối thắng. Kim cương tam muội sở đắc của Bồ tát cũng lại như vậy, đối với các tam muội là tối đệ nhất. Vì sao vậy? Vì đại Bồ tát tu tam muội này thì tất cả tam muội đều đến qui thuộc. Này thiện nam tử! Như các tiểu vương đều đến qui thuộc Chuyển luân Thánh vương. Tất cả tam muội cũng lại như vậy đều đến qui thuộc Kim cương tam muội. Này thiện nam tử! Ví như có người là oán thù của nước, là sự chán ghét tai họa của người. Nếu có người giết hắn thì tất cả người đời không ai chẳng xưng tán công đức người này. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, Bồ tát tu tập có thể hoại oán địch của tất cả chúng sinh. Vậy nên thường được tôn kính của tất cả tam muội. Này thiện nam tử! Ví như có người mà sức rất mạnh mẽ không ai đương cự được. Nhưng lại có người mà sức có thể hàng phục được người đó thì phải biết người này được đời khen ngợi. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, sức có thể tiêu diệt, hàng phục pháp khó hàng phục. Do nghĩa này nên tất cả tam muội đều đến qui thuộc. Này thiện nam tử! Ví như có người tắm ở tại biển lớn thì phải biết người này đã sử dụng nước của những dòng sông, dòng suối và ao. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, tu tập Kim cương tam muội như vậy thì phải biết là đã tu tập tất cả các tam muội còn lại. Này thiện nam tử! Như trong núi Hương Sơn có một dòng nước suối tên là A nậu đạt. Suối ấy đầy đủ nước tám vị. Có người uống nước suối ấy thì không có các bệnh khổ. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, đủ tám chánh đạo mà Bồ tát tu tập thì đoạn trừ những trọng bệnh ghẻ lở phiền não. Này thiện nam tử! Như người cúng dường trời Ma ê thủ la thì phải biết người này đã là cúng dường tất cả chư thiên. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, nếu có người tu tập thì phải biết người này đã tu tập tất cả các tam muội còn lại. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát an trụ ở Kim cương tam muội như vậy thì thấy tất cả pháp không có chướng ngại như xem quả Amalặc ở trong lòng bàn tay. Bồ tát tuy lại được thấy như vậy nhưng nhất định chẳng tác khởi tư tưởng thấy tất cả pháp. Này thiện nam tử! Ví như có người ngồi ngã tư đường thấy các chúng sinh đi, lại, ngồi, nằm. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, thấy tất cả pháp sinh, diệt, hiện ra, mất đi. Này thiện nam tử! Ví như núi cao, có người leo lên đó, trông xa các phương đều tỏ rõ. Núi định Kim cương cũng lại như vậy, Bồ tát leo lên đó xa trông các pháp, không pháp nào chẳng sáng tỏ. Này thiện nam tử! Ví như tháng mùa Xuân trời tuông mưa ngọt. Những giọt mưa ấy đan xen không chỗ trống, người mắt sáng thấy chúng rõ ràng. Bồ tát cũng vậy, được mắt thanh tịnh Kim cương định, thấy từ xa những thế giới sở hữu của phương Ðông. Trong số ấy, hoặc có đất nước thành hay hoại... tất cả đều thấy rõ ràng không ngăn ngại... cho đến mười phương cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như núi Do Càn Ðà, khi bảy mặt trời đồng thời xuất hiện thì cây cối, rừng rậm sở hữu của núi ấy, tất cả đều cháy hết. Bồ tát tu tập Kim cương tam muội cũng lại như vậy, tất cả rừng rậm phiền não sở hữu tức thời tiêu diệt. Này thiện nam tử! Ví như Kim cương tuy có thể diệt phá tất cả vật nhưng nhất định chẳng sinh ra ý niệm: “Ta có thể diệt phá”. Kim cương tam muội cũng lại như vậy, Bồ tát tu rồi có thể phá phiền não nhưng nhất định chẳng sinh ý niệm: “Ta có thể hoại tan kiết sử”. Này thiện nam tử! Ví như đại địa có thể trì giữ vạn vật, nhưng nhất định chẳng sinh ý niệm: “Sức ta có thể trì giữ”. Lửa cũng chẳng nghĩ: “Ta có thể đốt cháy vật”. Nước cũng chẳng nghĩ: “Ta có thể thấm nhuần”. Gió cũng chẳng nghĩ: “Ta có thể lay động vật”. Không cũng chẳng nghĩ: “Ta có thể dung thọ hết”. Niết bàn cũng lại chẳng sinh ra ý nghĩ rằng: “Ta khiến cho chúng sinh được diệt độ”. Kim Cương tam muội cũng lại như vậy, tuy có thể diệt trừ tất cả phiền não mà đầu tiên không có lòng nói rằng: “Ta có thể diệt”. Nếu có Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy thì ở trong một niệm, biến thân Phật mà số ấy không lường, đầy khắp hằng hà sa số thế giới chư Phật trong mười phương. Bồ tát này tuy làm sự biến hóa này nhưng tâm Bồ tát ấy đầu tiên không có tư tưởng kiêu mạn. Vì sao vậy? Vì Bồ tát thường nghĩ: “Ai có định này thì có thể làm sự biến hóa đó? Chỉ có Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy mới có thể làm vậy”. Ðại Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy thì ở trong một niệm, đi đến khắp mười phương hằng hà sa số thế giới của chư Phật, rồi trở lại chỗ cũ của mình. Bồ tát tuy có lực này nhưng cũng chẳng nghĩ rằng: “Ta có thể như vậy”. Vì sao vậy? Vì do lực của nhân duyên tam muội vậy. Ðại Bồ tát an trụ ở Kim Cương tam muội như vậy thì ở trong một niệm, có thể đoạn trừ phiền não sở hữu của chúng sinh trong mười phương hằng hà sa số thế giới mà tâm đầu tiên không có tư tưởng đoạn trừ phiền não của các chúng sinh. Vì sao vậy? Vì do lực của nhân duyên tam muội này vậy. Bồ tát trụ ở Kim Cương tam muội này thì dùng một âm thanh sở hữu diễn nói mà tất cả chúng sinh tùy theo chủng loại đều được giải rõ, thị hiện một sắc mà tất cả chúng sinh mỗi mỗi đều thấy đủ thứ sắc tướng, an trụ một chỗ thân chẳng di dịch mà có thể khiến cho chúng sinh tùy theo phương diện của mình, mỗi mỗi đều thấy, diễn nói một pháp hoặc là giới hay nhập thì tất cả chúng sinh đều tùy theo sự lý giải của mình mà được nghe hết. Bồ tát an trụ ở tam muội như vậy, tuy thấy chúng sinh mà tâm ban đầu không có tướng chúng sinh, tuy thấy nam nữ mà không tướng nam nữ, tuy thấy sắc pháp mà không có tướng sắc... cho đến thấy thức cũng không tướng thức, tuy thấy ngày đêm mà không tướng ngày đêm, tuy thấy tất cả mà không có tướng tất cả, tuy thấy các kết của tất cả phiền não mà cũng không có tướng của tất cả phiền não, tuy thấy tám Thánh đạo mà không tướng Thánh đạo, tuy thấy Bồ Ðề mà không tướng Bồ Ðề, tuy thấy Niết bàn mà không tướng Niết Bàn. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì tất cả các pháp vốn không có tướng vậy. Bồ tát do lực của tam muội này nên thấy tất cả pháp như vốn không tướng. Vì sao gọi là Kim Cương tam muội? Này thiện nam tử! Ví như Kim Cương ở tại trong ngày thì màu sắc chẳng định. Kim Cương tam muội cũng lại như vậy, ở tại đại chúng thì sắc cũng chẳng định. Vậy nên gọi là Kim Cương tam muội. Này thiện nam tử! Ví như Kim Cương thì tất cả người đời chẳng thể đánh giá (bình giá). Kim Cương tam muội cũng lại như vậy, công đức sở hữu của tam muội này thì tất cả người, trời chẳng thể đánh giá, đo lường. Vậy nên lại gọi là Kim Cương tam muội. Này thiện nam tử! Ví như người nghèo được báu Kim Cương thì được xa lìa bần cùng khốn khổ, ác quỷ tà độc. Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, được tam muội này thì có thể xa lìa phiền não, các khổ, các ma tà độc. Vậy nên lại gọi là Kim Cương tam muội. Ðó gọi là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ sáu.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi hai hết -


23/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Ba

PHẨM BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG Thứ Hai Mươi Hai (tiếp theo)

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ bảy? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu tác khởi suy nghĩ này: “Pháp nào có thể vì Ðại Bát Niết Bàn mà tạo tác nhân gần?” thì liền biết có bốn thứ pháp vì Ðại Niết Bàn mà làm nhân gần. Nếu nói rằng, siêng tu tất cả khổ hạnh là nhân duyên gần Ðại Niết Bàn thì nghĩa này chẳng đúng. Sở dĩ vì sao? Vì nếu lìa khỏi bốn pháp mà được Niết Bàn thì không có điều này. Những gì là bốn pháp? Một là thân cận bạn lành, hai là chuyên tâm nghe pháp, ba là buộc ý niệm tư duy, bốn là như pháp tu hành. Này thiện nam tử! Ví như có người, thân mắc mọi thứ bệnh hoặc nóng, hoặc lạnh, ho lao, sốt rét và mọi thứ tà quỉ độc hại... đi đến chỗ thầy thuốc giỏi. Thầy thuốc giỏi liền vì người ấy, theo bệnh nói toa thuốc. Người này chí tâm khéo thọ lời dạy của thầy thuốc, rồi theo lời dạy hòa hợp thuốc, theo đúng như pháp uống thuốc, uống xong bệnh khỏi, thân được an vui. Người có bệnh là ví các Bồ tát. Vị đại lương y là ví cho thiện tri thức. Lời nói của lương y là ví kinh Phương Ðẳng. Khéo thọ lời dạy của thầy thuốc là ví cho sự khéo suy nghĩ nghĩa của kinh Phương Ðẳng. Theo lời dạy hòa hợp thuốc là ví cho việc theo đúng như pháp tu hành ba mươi bảy pháp trợ đạo. Bịnh trừ khỏi là ví cho việc diệt phiền não. Ðược an vui là ví cho việc được Niết Bàn Thường Lạc Ngã Tịnh. Này thiện nam tử! Ví như có vị vua muốn theo đúng như pháp cai trị khiến cho dân an vui. Ngài hỏi các bề tôi trí tuệ, pháp ấy là gì? Các bề tôi liền đem pháp xưa của tiên vương mà vì vua nói ra. Vua đã nghe rồi, chí tâm tin làm, đúng như pháp trị nước, không có các oán địch. Vậy nên khiến cho dân an vui, không hoạn nạn. Này thiện nam tử! Vua là ví các vị Bồ tát. Các bề tôi trí tuệ là ví thiện tri thức. Lời nói pháp trị của bề tôi trí tuệ vì vua là ví mười hai bộ kinh. Vua đã nghe rồi chí tâm tin làm là ví các vị Bồ tát ràng buộc lòng suy nghĩ thậm thâm sở hữu của mười hai bộ kinh. Theo đúng như pháp trị nước là ví các Bồ tát theo đúng như pháp tu hành như là sáu Ba la mật. Do có thể tu tập sáu Ba la mật nên không các oán địch là vì các Bồ tát đã lìa khỏi những ác tặc phiền não kết. Ðược an vui là ví các Bồ tát được Ðại Niết Bàn Thường Lạc Ngã Tịnh. Này thiện nam tử! Ví như có người mắc bệnh hủi. Có người thiện tri thức nói với ông rằng: “Ngươi nếu có thể đến bên núi Tu Di thì bệnh có thể được khỏi. Sở dĩ vì sao? Vì ở đó có thuốc hay, vị như cam lộ. Nếu có thể được uống thì bệnh không gì chẳng khỏi”. Người bệnh ấy chí tâm tin việc này, rồi liền đi đến núi đó, tìm uống cam lộ thì bệnh ấy trừ khỏi, thân được an vui. Người bệnh hủi ví cho các phàm phu. Thiện tri thức ví cho các Ðại Bồ tát, v.v... Chí tâm tín thọ ví cho bốn vô lượng tâm. Núi Tu Di ví cho tám Thánh đạo. Vị cam lộ ví cho Phật tính. Bệnh hủi trừ khỏi ví cho diệt phiền não. Ðược yên vui ví cho được Niết Bàn Thường Lạc Ngã Tịnh. Này thiện nam tử! Ví như có người nuôi các đệ tử thông minh đại trí. Người này ngày đêm thường dạy bảo họ chẳng mệt mỏi. Các Bồ tát, v.v... cũng lại như vậy, tất cả chúng sinh có tin hay chẳng tin đều thường giáo hóa không có mệt chán. Này thiện nam tử! Thiện tri thức là gọi Phật, Bồ tát, Bích Chi Phật, Thanh Văn, kẻ tin Phương Ðẳng trong loài người. Vì sao gọi là thiện tri thức vậy? Thiện tri thức thì có thể dạy bảo chúng sinh xa lìa mười ác, tu hành mười thiện. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa, thiện tri thức là theo đúng như pháp mà nói, theo đúng như nói mà làm. Sao gọi là theo đúng như pháp mà nói, theo đúng như lời nói mà làm? Tự chẳng sát sinh, dạy người chẳng sát sinh... cho đến tự làm theo chánh kiến, dạy người chánh kiến. Người nếu có thể như vậy thì được gọi là chân thiện tri thức. Tự tu Bồ Ðề, cũng dạy người tu hành Bồ Ðề, do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Tự có thể tu hành Tín, Giới, Bố thí, Ða văn, Trí tuệ... cũng có thể dạy người Tín, Giới, Bố thí, Ða văn, Trí tuệ... lại do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Người thiện tri thức thì có thiện pháp vậy. Những gì là thiện pháp? Việc mình làm chẳng cầu vui cho mình, thường vì chúng sinh mà cầu an vui. Thấy người khác có lỗi chẳng nói ra sở đoản của họ. Miệng thường tuyên nói toàn là việc thiện. Do những nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Này thiện nam tử! Như vầng trăng trong không từ ngày mùng một đầu tiên đến ngày mười lăm tăng trưởng dần dần. Thiện tri thức cũng lại như vậy, khiến cho những người học xa dần ác pháp, tăng trưởng thiện pháp. Này thiện nam tử! Nếu có người thân cận thiện tri thức mà vốn chưa có giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến thì liền có những thứ đó, chưa đầy đủ thì được rộng thêm. Vì sao vậy? Vì do thân cận thiện tri thức ấy. Nhân sự thân cận này được liễu đạt nghĩa thậm thâm của mười hai bộ kinh. Nếu người có thể nghe nghĩa thậm thâm của mười hai bộ kinh này thì gọi là Thính pháp (nghe pháp).

Nghe pháp thì tức là nghe kinh điển Ðại Thừa Phương Ðẳng này. Nghe kinh Phương Ðẳng thì gọi là chân thính pháp. Chân thính pháp thì tức là thính thọ kinh Ðại Niết Bàn. Trong kinh Ðại Niết Bàn nghe có Phật tính, Như Lai rốt ráo chẳng Bát Niết Bàn. Vậy nên gọi là chuyên tâm thính pháp mà chuyên tâm thính pháp gọi tám Thánh đạo. Do tám Thánh đạo có thể đoạn trừ tham dục, sân nhuế, ngu si nên gọi là Thính pháp. Luận về thính pháp thì gọi là mười một không. Do những không này đối với tất cả pháp chẳng tạo tác tướng mạo. Luận về thính pháp thì gọi sự bắt đầu phát tâm đến rốt ráo tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nhân tâm ban đầu mà được Ðại Niết Bàn, chẳng do nghe được Ðại Niết Bàn mà do tu tập nên được Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như người bệnh tuy nghe lời dạy bảo của thầy thuốc và tên các vị thuốc thì chẳng thể khỏi bệnh mà cần phải uống thuốc mới được trừ khỏi bệnh. Tuy nghe pháp mười hai nhân duyên thậm thâm thì chẳng thể đoạn diệt tất cả phiền não mà cần phải ràng buộc ý niệm khéo suy nghĩ mới có thể được đoạn trừ. Ðó gọi là ràng buộc tư duy thứ ba.

Lại nữa, do nghĩa gì gọi là ràng buộc ý niệm tư duy? Ðó gọi là ba tam muội: Không tam muội, Vô tướng tam muội, Vô tác tam muội. Không là đối với hai mươi lăm cõi hữu chẳng thấy một cái gì thật cả. Vô tác là đối với hai mươi lăm cõi hữu chẳng tác khởi nguyện cầu. Vô tướng là không có mười tướng, là sắc tướng, thanh tướng, hương tướng, vị tướng, xúc tướng, sinh tướng, trụ tướng, diệt tướng, nam tướng, nữ tướng. Tu tập ba tam muội như vậy thì đó gọi là Bồ tát ràng buộc ý niệm tư duy.

Sao gọi là đúng như pháp tu hành? Như pháp tu hành tức là tu Ðàn Ba la mật... cho đến bát nhã Ba la mật, biết tướng chân thật của ấm, giới, nhập cũng biết Thanh Văn, Duyên Giác và chư Phật đồng ở một đạo, mà pháp Niết Bàn tức là Thường Lạc Ngã Tịnh, chẳng sinh, chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, chẳng đói, chẳng khát, chẳng khổ, chẳng não, chẳng thoái, chẳng mất. Này thiện nam tử! Giải được nghĩa thậm thâm của Ðại Niết Bàn thì biết các đức Phật nhất định chẳng rốt ráo vào Niết Bàn.

Này thiện nam tử! Thiện tri thức chân thật đệ nhất là gọi Bồ tát chư Phật Thế Tôn. Vì sao vậy? Vì các ngài thường dùng ba thứ thiện để điều ngự. Những gì là ba? Một là lời nói êm dịu rốt ráo, hai là lời quở trách rốt ráo, ba là lời êm dịu quở trách. Do nghĩa này nên Bồ tát, chư Phật tức là thiện tri thức rốt ráo vậy. Lại nữa, này thiện nam tử! Phật và Bồ tát là bậc Ðại y (thầy thuốc) nên gọi là Thiện tri thức. Vì sao vậy? Vì các vị biết bệnh, biết thuốc và ứng với bệnh mà cho thuốc. Ví như vị lương y giỏi tám thứ thuật; trước tiên xem tướng của bệnh. Tướng bệnh có ba thứ. Những gì là ba? Ðó là phong, nhiệt, thủy. Người bệnh về phong (gió) thì trao cho tô du (dầu váng sữa). Người bệnh về nhiệt thì trao cho thạch mật (đường táng). Người bệnh về nước thì trao cho nước nấu gừng. Do biết căn bệnh cho thuốc được khỏi nên gọi là lương y. Phật và Bồ tát cũng lại như vậy, biết bệnh của các phàm phu có ba thứ, một là tham dục, hai là sân nhuế, ba là ngu si. Người bệnh tham dục thì dạy quán tướng xương khô. Người bệnh sân nhuế thì dạy quán tướng từ bi. Người bệnh ngu si thì dạy quán tướng mười hai nhân duyên. Do nghĩa này nên các đức Phật Bồ tát gọi là thiện tri thức. Này thiện nam tử! Ví như vị thuyền sư giỏi đưa người nên gọi là Ðại thuyền sư. Các đức Phật, Bồ tát cũng lại như vậy, đưa các chúng sinh qua biển lớn sinh tử. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa, này thiện nam tử! Nhân Phật, Bồ tát khiến cho các chúng sinh tu được đầy đủ căn bản thiện pháp nên này thiện nam tử! Ví như núi Tuyết mới là chỗ của đủ thứ cội rễ thượng dược vi diệu. Phật và Bồ tát cũng lại như vậy, đều là chỗ căn bản của tất cả thiện căn. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Này thiện nam tử! Trong núi Tuyết có thứ thượng hương dược tên là Tatta mà có người nhìn thấy nó thì được sống lâu không lường, không có bệnh khổ, tuy có bốn thứ độc nhưng chẳng thể gây tổn thương. Nếu có người chạm đến nó thì tăng trưởng thọ mạng đầy một trăm hai mươi năm. Nếu có người nghĩ đến nó thì được trí túc mạng (trí biết đời trước). Vì sao vậy? Vì thế lực của thuốc vậy. Các đức Phật Bồ tát cũng lại như vậy, nếu có người thấy liền đoạn trừ tất cả phiền não, tuy có bốn ma nhưng chẳng thể can loạn. Nếu có người chạm được thì mạng chẳng thể chết yểu, chẳng sinh, chẳng chết, chẳng thoái, chẳng mất. Như là người chạm xúc, nếu ở bên đức Phật thính thọ diệu pháp. Nếu có người nghĩ đến thì được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên các đức Phật, Bồ tát gọi là thiện tri thức. Này thiện nam tử! Như trong núi Hương có cái ao A nậu đạt. Do cái ao này nên có bốn dòng sông lớn, gọi là Hằng Hà, Tân Ðầu, Tư Ðà, Bác Xoa. Chúng sinh ở thế gian thường nói rằng: “Nếu người có tội tắm ở bốn dòng sông này thì mọi tội được trừ diệt”. Ông phải biết là lời nói này hư dối chẳng thật. Trừ việc đã qua này, thì những gì là thật? Các đức Phật, Bồ tát mới chính là thật. Sở dĩ vì sao? Vì nếu người thân cận các vị ấy thì được diệt trừ tất cả mọi tội. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa, này thiện nam tử! Ví như những thứ thuộc sở hữu của đại địa như cây thuốc, tất cả rừng rậm, trăm thứ lúa, mía đường, hoa quả... gặp thời tiết nóng hạn lớn, sắp muốn khô chết. Vua rồng Nan Ðà và Bà Nan Ðà thương xót chúng sinh, từ biển cả xuất hiện, tuông xuống mưa cam lộ thì tất cả rừng rậm, trăm thứ lúa, cỏ cây thấm nhuần mà sống trở lại. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, sở hữu thiện căn của họ sắp muốn tiêu diệt. Các đức Phật Bồ tát phát sinh đại từ bi, từ biển trí tuệ, tuông mưa cam lộ, khiến cho các chúng sinh trở lại được đầy đủ mười pháp thiện. Do nghĩa này nên các đức Phật, Bồ tát gọi là thiện tri thức. Này thiện nam tử! Ví như vị lương y giỏi tám thứ thuật, thấy các người bệnh, chẳng quan sát phân biệt dòng họ, đoan chính, xấu hèn, tiền tài, của báu... mà đều vì họ trị liệu. Vậy nên đời xưng tụng là bậc đại lương y. Các đức Phật, Bồ tát cũng lại như vậy, thấy các chúng sinh có bệnh phiền não, chẳng cần quan sát dòng họ, đoan chính, xấu hèn, tiền tài, của báu đều sinh lòng thương xót vì họ nói pháp. Chúng sinh nghe rồi, bệnh phiền não tiêu trừ. Do nghĩa này nên các đức Phật, Bồ tát gọi là thiện tri thức. Do nhân duyên gần gũi bạn lành này nên được gần với Ðại Bát Niết Bàn.

Sao gọi là nhân duyên Bồ tát nghe pháp mà được gần với Ðại Bát Niết Bàn? Tất cả chúng sinh do nghe pháp nên đủ tín căn mà được tín căn nên ưa hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ... được quả Tu đà hoàn... cho đến quả Phật. Vậy nên phải biết rằng, được các thiện pháp đều là thế lực của nhân duyên thính pháp này. Này thiện nam tử! Ví như ông trưởng giả chỉ có một đứa con. Ông sai con đi đến nước khác để trao đổi những điều cần thiết. Ông đưa con ra chỗ đường giao thông đông đúc mà lại răn dạy rằng, nếu gặp dâm nữ thì dè chừng chớ thân ái. Nếu thân ái thì chôn thân mất mạng và cả của báu! Người tệ ác cũng chớ giao du. Người con ấy kính thuận lời dạy bảo của cha nên thân tâm yên ổn, thu hoạch được nhiều của cải quí báu. Ðại Bồ tát vì các chúng sinh phu diễn pháp yếu cũng lại như vậy, hiện bày cho các chúng sinh và bốn bộ chúng sự thông suốt hay tắc nghẽn của các con đường để những chúng này, do nghe pháp nên xa lìa các ác, đầy đủ thiện pháp. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe pháp thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như gương sáng soi dáng mặt người thì không gì chẳng sáng rõ. Gương sáng nghe pháp cũng lại như vậy, có người soi vào đó thì thấy thiện, ác rõ ràng, không bị ngăn che. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe pháp thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như người thương nhân muốn đến bến báu mà chẳng biết đường đi, có người chỉ đường, người ấy theo lời chỉ liền đến được bến báu, thu hoạch được nhiều trân bảo chẳng thể kể xiết. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, muốn đến chỗ thiện để thu nhặt lấy sự quí báu của đạo mà chẳng biết tướng thông suốt hay tắt nghẽn của con đường ấy, được Bồ tát bày đường, chúng sinh theo rồi được đến chỗ thiện, thu hoạch được báu Ðại Niết Bàn Vô Thượng. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe pháp thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như con voi say điên cuồng lồng lộn, bạo ác muốn giết hại nhiều. Có người quản tượng dùng móc sắt lớn, thiện nghệ móc vào đỉnh đầu voi ấy thì tức thời nó điều thuận, lòng ác hết sạch. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, vì say mê tham dục, sân nhuế, ngu si nên muốn tạo nhiều việc ác. Các vị Bồ tát dùng móc nghe pháp, khéo léo móc lấy khiến cho họ trụ dừng, lại chẳng được khởi tâm tạo các việc ác. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe pháp thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Vậy nên ở khắp nơi nơi trong kinh, ta nói rằng, đệ tử của ta chuyên tâm thính thọ mười hai bộ kinh thì lìa khỏi năm ấm, tu thất giác phận. Do tu tập bảy giác phận nên được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Do nghe pháp nên người Tu đà hoàn lìa khỏi các khủng bố. Sở dĩ vì sao? Vì như ông trưởng giả Tu Ðạt, thân gặp trọng bệnh, lòng buồn rầu lo sợ. Ông nghe ông Xá Lợi Phất nói về Tu đà hoàn có bốn công đức và mười thứ an ủi dỗ dành. Nghe những điều này rồi, thì sự khủng bố liền trừ diệt. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe pháp thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì ông được mở pháp nhãn vậy. Ðời có ba loại người, một là người không mắt, hai là người một mắt, ba là người hai mắt. Người không mắt thì thường chẳng nghe pháp. Người một mắt thì tuy tạm nghe pháp nhưng lòng họ chẳng trụ. Người hai mắt thì chuyên tâm thính thọ, theo đúng điều đã nghe mà thực hành. Do nghe pháp nên được biết ba loại người như vậy của thế gian. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe pháp thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Như ta thuở trước khi ở thành Câu Thi Na, ông Xá Lợi Phất, thân gặp bệnh khổ. Khi ta để lại lời dặn dò Tỳ kheo A Nan, rộng vì mọi người nói pháp. Ông Xá Lợi Phất nghe việc này rồi, bảo bốn người đệ tử rằng: “Các ông hãy khiêng giường của ta đi đến chỗ đức Phật, ta muốn nghe pháp!” Bốn người đệ tử vâng lệnh khiêng đến, ông đã nghe được pháp, nhờ lực nghe pháp nên bệnh khổ trừ khỏi, thân được yên ổn. Do nghĩa này nên nhân duyên nghe được gần với Ðại Bát Niết Bàn.

Sao gọi là Bồ tát nhân duyên tư duy mà được với Ðại Bát Niết Bàn? Nhân tư duy này mà lòng được giải thoát. Vì sao vậy? Vì tất cả chúng sinh thường bị sự trói buộc của năm dục nhờ tư duy nên được giải thoát. Do nghĩa này nên nhân duyên tư duy thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh thường bị sự điên đảo của bốn pháp Thường Lạc Ngã Tịnh. Do tư duy nên được thấy các pháp vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Thấy như vậy rồi thì bốn điên đảo liền đoạn trừ. Do nghĩa này nên nhân duyên tư duy thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả các pháp có bốn thứ tướng. Những gì là bốn? Một là sinh tướng, hai là lão tướng, ba là bệnh tướng, bốn là diệt tướng. Do bốn tướng này có thể khiến cho tất cả chúng sinh phàm phu cho đến Tu đà hoàn sinh ra đại khổ não. Nếu người có thể ràng buộc ý niệm khéo tư duy thì tuy gặp bốn tướng này nhưng chẳng sinh ra mọi khổ não. Do nghĩa này nên nhân duyên tư duy thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Tất cả thiện pháp không gì chẳng nhân tư duy này mà được. Vì sao vậy? Vì có người tuy ở vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp chuyên tâm nghe pháp, nhưng nếu chẳng tư duy thì nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên nhân duyên tư duy thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh tin Phật, Pháp, Tăng không có biến dịch mà sinh lòng cung kính thì phải biết đều chính là sức của nhân duyên ràng buộc ý niệm tư duy và nhân được đoạn trừ tất cả phiền não. Do nghĩa này nên nhân duyên tư duy thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn.

Sao gọi là Bồ tát như pháp tu hành? Này thiện nam tử! Ðoạn trừ ác pháp, tu tập thiện pháp. Ðó gọi là Bồ tát như pháp tu hành. Lại nữa, sao gọi là như pháp tu hành? Thấy tất cả pháp trống rỗng, không sở hữu, vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Do sự thấy này nên thà xả bỏ thân mạng, chẳng phạm cấm giới. Ðó gọi là Bồ tát như pháp tu hành. Lại nữa, sao gọi là như pháp tu hành? Tu có hai thứ, một là chân thật, hai là chẳng thật. Chẳng thật thì chẳng biết Niết Bàn, Phật tính, Như Lai, Pháp, Tăng thật tướng, hư không, v.v... Ðó gọi là chẳng thật. Sao gọi là chân thật? Có thể biết Niết Bàn, Phật tính, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, hư không, v.v... Ðó gọi là chân thật. Sao gọi là biết tướng Niết Bàn? Tướng Niết Bàn, phàm có tám việc. Những gì là tám? Một là tận (hết), hai là thiện tính, ba là thật, bốn là chân, năm là thường, sáu là lạc, bảy là ngã, tám là tịnh. Ðó gọi là Niết Bàn. Lại có tám việc. Những gì là tám? Một là giải thoát, hai là thiện tính, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chân, năm là vô thường, sáu là vô lạc, bảy là vô ngã, tám là vô tịnh. Lại có sáu tướng, một là giải thoát, hai là thiện tính, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chân, năm là an lạc, sáu là thanh tịnh. Nếu có chúng sinh nương theo đạo thế tục, đoạn trừ phiền não thì Niết Bàn như vậy có tám việc giải thoát chẳng thật. Vì sao vậy? Vì chẳng thường vậy. Do vô thường nên không có thật, không có thật thì không có chân; tuy đoạn phiền não nhưng rồi sẽ khởi trở lại nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Ðó gọi là tám việc giải thoát của Niết Bàn. Sao gọi là sáu tướng? Thanh Văn, Duyên Giác đoạn được phiền não nên gọi là giải thoát mà chưa có thể được Vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nên gọi là chẳng thật. Do chẳng thật nên gọi là chẳng chân, đời vị lai sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nên gọi là vô thường. Do được tám Thánh đạo vô lậu nên gọi là tịnh lạc. Này thiện nam tử! Nếu biết như vậy thì chính là biết Niết Bàn, chẳng gọi là Phật tính, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tính, hư không. Sao gọi là Bồ tát biết Phật tính? Phật tính có sáu. Những gì là sáu? Một là thường, hai là tịnh, ba là thật, bốn là thiện, năm là sẽ thấy, sáu là chân. Lại có bảy việc, một là khả chứng, sáu cái còn lại như trên. Ðó gọi là Bồ tát biết đến Phật tính. Sao gọi là Bồ tát biết tướng Như Lai? Như Lai tức là tướng giác, tướng thiện, Thường Lạc Ngã Tịnh, giải thoát, chân thật thị hiện đạo có thể thấy. Ðó gọi là Bồ tát biết tướng Như Lai. Sao gọi là Bồ tát biết tướng của pháp? Pháp thì hoặc thiện hay chẳng thiện, hoặc thường hay chẳng thường, hoặc lạc hay chẳng lạc (vui), hoặc ngã hay vô ngã, hoặc tịnh hay bất tịnh, hoặc biết hay chẳng biết, hoặc giải hay chẳng giải, hoặc chân hay chẳng chân, hoặc tu hay chẳng tu, hoặc thầy (sư) hay chẳng phải thầy, hoặc thật hay chẳng thật. Ðó gọi là Bồ tát biết đến tướng của pháp. Sao gọi là Bồ tát biết đến tướng của Tăng? Tăng thì hoặc là Thường, lạc, ngã, tịnh, là tướng đệ tử, tướng có thể thấy, thiện, chân, chẳng thật. Vì sao vậy? Vì tất cả Thanh Văn đều đắc Phật đạo vậy. Vì sao gọi là chân? Vì giác ngộ pháp tính. Ðó gọi là Bồ tát biết đến tướng của Tăng. Sao gọi là Bồ tát biết đến thật tướng? Thật tướng thì hoặc thường hay vô thường, hoặc lạc hay vô lạc, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc tịnh hay vô tịnh, hoặc thiện hay bất thiện, hoặc có hay không, hoặc Niết Bàn hay chẳng phải Niết Bàn, hoặc giải thoát hay chẳng phải giải thoát, hoặc biết hay chẳng biết, hoặc đoạn hay chẳng đoạn, hoặc chứng hay chẳng chứng, hoặc tu hay chẳng tu, hoặc thấy hay chẳng thấy. Ðó gọi là thật tướng, chẳng phải là Niết Bàn, Phật tính, Như Lai, Pháp, Tăng, hư không. Ðó gọi là Bồ tát nhân tu Ðại Niết Bàn như vậy nên biết được Niết Bàn, Phật tính, Như Lai, Pháp, Tăng, thật tướng, hư không., v.v... tướng pháp sai biệt. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu chẳng thấy hư không. Vì sao vậy? Vì Phật và Bồ tát tuy có năm mắt nhưng đã chẳng thấy. Chỉ có tuệ nhãn mới có thể thấy hư không đó. Sự thấy của tuệ nhãn là không có pháp có thể thấy. Vậy nên gọi là thấy. Nếu thấy không có vật gọi là hư không thì hư không như vậy mới gọi là thật. Do sự thật này nên gọi là vô thường. Do vô thường nên không lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam tử! Trống không gọi là không có pháp, không có pháp gọi là trống không (không). Ví như thế gian không có vật gọi là trống không. Tính hư không cũng lại như vậy, không sở hữu nên gọi là hư không. Này thiện nam tử! Tính của chúng sinh cùng tính hư không đều không thật tính. Vì sao vậy? Vì như người nói rằng, trừ diệt vật có, nhiên hậu làm ra không, nhưng mà hư không này thật chẳng thể làm. Vì sao vậy? Vì không sở hữu vậy. Do không có nên phải biết là không có không. Tính của hư không này nếu có thể làm thì gọi là vô thường mà nếu vô thường thì chẳng gọi là hư không. Này thiện nam tử! Như người thế gian nói rằng, hư không không sắc, không ngăn ngại, thường trụ chẳng biến dịch. Vậy nên đời xưng pháp hư không là “đại” thứ năm. Này thiện nam tử! Mà hư không này thật không có tính. Do ánh sáng nên gọi là hư không, thật ra không có hư không. Giống như thế đế thật ra không có tính ấy, nhưng vì chúng sinh nên nói có thế đế. Này thiện nam tử! Thể của Niết Bàn cũng lại như vậy, không có trụ xứ, những là chỗ đoạn phiền não của các đức Phật nên gọi là Niết Bàn. Niết Bàn tức là Thường, lạc, ngã, tịnh. Niết Bàn tuy lạc nhưng chẳng phải thọ lạc mới là niềm vui Tịch diệt thượng diệu. Các đức Phật Như Lai có hai thứ lạc, một là Tịch diệt lạc, hai là Giác tri lạc. Thể của Thật tướng có ba thứ lạc, một là Thọ lạc, hai là Tịch diệt lạc, ba là Giác tri lạc. Phật tính có một lạc, do thường kiến nên khi được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì gọi là Bồ Ðề lạc.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu chỗ đoạn phiền não là Niết Bàn thì việc này chẳng vậy! Vì sao? Vì đức Như Lai thuở trước mới thành đạo Phật, đến bên dòng sông Ni Liền Thiền. Bấy giờ, ma vương cùng quyến thuộc đến chỗ đức Phật mà nói lên rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Thời gian Niết Bàn đến rồi! Vì sao đức Phật chẳng vào Niết Bàn?” Ðức Phật bảo rằng: “Này ma vương! Ta nay chưa có nhiều đệ tử đa văn, giỏi giữ gìn cấm giới, trí thông minh, linh lợi, có thể giáo hóa chúng sinh. Vậy nên ta chẳng vào!” Nếu nói rằng, chỗ đoạn phiền não là Niết Bàn thì các Bồ tát, v.v... ở vô lượng kiếp đã đoạn dứt phiền não thì vì sao chẳng được xưng là Niết Bàn. Cùng đều là chỗ đoạn nhưng vì duyên gì độc xưng chư Phật có Niết Bàn còn Bồ tát thì không vậy? Nêu đoạn phiền não chẳng phải Niết Bàn thì vì sao đức Như Lai thuở trước bảo ông Bà la môn Sinh Danh rằng: “Thân này của ta hôm nay tức là Niết Bàn!” Lại khi đức Như Lai ở tại nước Tỳ Xá Ly, Ma vương lại khải thỉnh đức Như Lai, thuở xưa vì chưa có đệ tử đa văn, trì giới, trí thông minh, linh lợi có thể giáo hóa chúng sinh nên chẳng vào Niết Bàn, nay đã đầy đủ vì sao chẳng vào? Bấy giờ, đức Như Lai liền bảo Ma rằng: “Ông nay chớ sinh tư tưởng lo chậm! Lùi về sau ba tháng nữa, ta sẽ vào Niết Bàn!” Thưa đức Thế Tôn! Nếu giả sử diệt độ chẳng phải là Niết Bàn thì vì sao đức Như Lai tự hẹn ba tháng sẽ Bát Niết Bàn? Thưa đức Thế Tôn! Nếu đoạn phiền não là Niết Bàn thì đức Như Lai thuở trước mới ở tại dưới cây Bồ Ðề Ðạo Tràng, khi đoạn trừ phiền não liền chính là Niết Bàn thì vì sao nay lại nói lùi về sau ba tháng, sẽ bát Niết Bàn? Thưa đức Thế Tôn! Nếu giả sử, bấy giờ Niết Bàn thì sao mới vì các lực sĩ của thành Câu Thi Na mà nói rằng, hậu dạ sẽ Bát Niết Bàn? Ðức Như Lai thành thật mà sao phát ra lời nói hư dối này?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu nói rằng, Như Lai được tướng Quảng trường thiệc thì phải biết Như Lai ở vô lượng kiếp đã lìa khỏi vọng ngữ. Tất cả các đức Phật và các vị Bồ tát, phàm đã nói ra là thành thật chắc chắn, không hư dối. Này thiện nam tử! Như lời ông nói, ma Ba Tuần thuở trước, khải thỉnh ta vào Niết Bàn, này thiện nam tử! Nhưng mà vua ma này chân thật chẳng biết định tướng của Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì ý của Ba Tuần cho là chẳng giáo hóa chúng sinh, mặc nhiên mà trụ tức là Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như người đời thấy người chẳng nói, không có sự tạo tác liền cho là người này như chết, không khác. Ma Ba Tuần cũng lại như vậy, ý cho là Như Lai chẳng hóa độ chúng sinh; lặng thinh không lời nói thì liền cho là Như Lai vào Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Như Lai chẳng nói Phật, Pháp, chúng Tăng không tướng sai biệt mà chỉ nói hai pháp Thường trụ, Thanh tịnh không sai biệt vậy. Này thiện nam tử! Phật cũng chẳng nói, Phật và Phật tính, Niết Bàn không có tướng sai biệt mà chỉ nói, thường hằng, bất biến không sai biệt vậy. Này thiện nam tử! Phật cũng chẳng nói, Niết Bàn Thật tướng không có tướng sai biệt mà chỉ nói, thường có thật chẳng biến dịch không sai biệt vậy. Này thiện nam tử! Lúc bấy giờ, các đệ tử Thanh Văn của ta sinh ra tranh tụng như các Tỳ kheo ác của Câu Ðàm Di trái phản lời dạy của ta, phạm nhiều cấm giới, nhận vật bất tịnh, tham cầu lợi dưỡng, hướng về những người bạch y mà tự ngợi khen rằng: “Ta được vô lậu, gọi là quả Tu đà hoàn”... cho đến “Ta được quả A la hán”, hủy nhục người khác, đối với Phật, Pháp, Tăng, giới luật, hòa thượng chẳng sinh lòng cung kính. Ông ở trước ta nói rằng, những vật như vầy đức Phật cho phép nuôi chứa, những vật như vầy đức Phật cho phép nuôi chứa. Ta cũng nói rằng, những vật như vậy ta quả thật chẳng cho phép. Họ lại phản lời ta rằng, những vật như vậy quả thật là Phật cho phép. Những người ác như vậy chẳng tin lời nói của ta. Vì những người này nên ta bảo ma Ba Tuần: “Người chớ lo chậm, lui về sau ba tháng, ta sẽ bát Niết Bàn!” Này thiện nam tử! Nhân những ác Tỳ kheo như vậy nên khiến cho những đệ tử Thanh Văn thọ học chẳng thấy thân ta, chẳng nghe pháp của ta, liền nói rằng, đức Như Lai vào với Niết Bàn. Chỉ có các Bồ tát có thể thấy thân ta thường trụ, nghe pháp của ta nên chẳng nói rằng, ta vào Niết Bàn. Ðệ tử Thanh Văn tuy lại phát ra lời rằng, Như Lai Niết Bàn. Nhưng mà ta thật chẳng vào với Niết Bàn. Này thiện nam tử! Nếu đệ tử Thanh Văn sở hữu của ta, có người nói rằng, Như Lai vào Niết Bàn thì phải biết người này chẳng phải là đệ tử của ta, đó là bè đảng của ma, là người ác tà kiến, chẳng phải là chánh kiến vậy. Nếu có người nói rằng, Như Lai chẳng vào Niết Bàn thì phải biết người đó là chân đệ tử của ta, chẳng phải là bè đảng của ma, là người chánh kiến, chẳng phải là tà kiến vậy. Này thiện nam tử! Ta ban đầu chẳng thấy trong đệ tử có người nói rằng, Như Lai chẳng giáo hóa chúng sinh, mặc nhiên mà trụ gọi là Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như ông trưởng giả có nhiều vợ con, bỏ đi đến phương khác mà chưa được khoảnh khắc trở về. Các con đều cho là người cha đã đi mãi mà ông trưởng giả này thật chẳng chết mất. Các con ông điên đảo đều sinh ra tư tưởng chết mất. Ðệ tử Thanh Văn cũng lại như vậy, chẳng thấy ta nên liền cho là Như Lai đã ở vùng Ta La Song Thọ của thành Câu Thi Na mà Bát Niết Bàn, nhưng ta thật chẳng Bát Niết Bàn mà đệ tử Thanh Văn sinh ra Niết Bàn tưởng. Này thiện nam tử! Ví như đèn sáng, có người che nó, người còn lại không biết, cho là đèn đã tắt. Nhưng ánh sáng đèn này thật ra cũng chẳng tắt mà do chẳng biết nên sinh tư tưởng đèn tắt đó thôi. Ðệ tử Thanh Văn cũng lại như vậy, tuy có tuệ nhãn nhưng do phiền não che khuất nên khiến cho tâm điên đảo, chẳng thấy chân thân mà liền vọng sinh ra tư tưởng diệt độ. Nhưng ta chân thật chẳng rốt ráo diệt độ. Này thiện nam tử! Như người mù bẩm sinh chẳng thấy mặt trời, mặt trăng. Do chẳng thấy nên họ chẳng biết tướng ngày đêm, sáng tối. Do chẳng biết nên họ liền nói không có mặt trời, mặt trăng chân thật. Thật sự có mặt trời mặt trăng mà người mù chẳng thấy. Do chẳng thấy mà sinh ra tư tưởng điên đảo nên họ nói rằng, không mặt trời, mặt trăng. Ðệ tử Thanh Văn cũng lại như vậy, như người mù bẩm sinh kia, chẳng thấy Như Lai, liền cho là Như Lai vào với Niết Bàn. Nhưng Như Lai thật chẳng vào Niết Bàn, do điên đảo tưởng nên họ sinh tâm như vậy. Này thiện nam tử! Ví như mây mù che khuất mặt trời, mặt trăng. Người ngu si liền nói rằng, không có mặt trời mặt trăng mà mặt trời mặt trăng là thật có, nhưng vì bị che khuất nên chúng sinh chẳng thấy đó thôi. Ðệ tử Thanh Văn cũng lại như vậy, vì các phiền não che khuất mắt trí tuệ nên chẳng thấy Như Lai, liền nói rằng Như Lai vào với Diệt Ðộ vậy. Này thiện nam tử! Chính là Như Lai thị hiện hạnh Anh nhi chẳng phải là Diệt độ. Này thiện nam tử! Như khi mặt trời của cõi Diêm phù đề lặn thì chúng sinh chẳng thấy vì núi Ðen ngăn che. Nhưng mặt trời này, tính chân thật, không lặn mất, do chúng sinh chẳng thấy nên sinh ra tư tưởng lặn mất. Ðệ tử Thanh Văn cũng lại như vậy, bị sự chê phủ của những núi phiền não nên chẳng thấy thân ta. Do chẳng thấy nên họ liền đối với Như Lai sinh ra tư tưởng Diệt độ mà ta chân thật chẳng rốt ráo diệt độ mãi. Vậy nên, ở thành Tỳ Xá Ly, ta bảo ma Ba Tuần rằng: “Lùi về sau ba tháng nữa, ta sẽ Niết Bàn!” Này thiện nam tử! Như Lai huyền kiến (thấy thông qua lẽ huyền bí, thấy trước) Bồ tát Ca Diếp lùi về sau ba tháng thì căn lành sẽ thành thục, cũng thấy trước ông Tu Bạt Ðà La ở núi Hương an cư xong rồi sẽ đến chỗ ta. Vậy nên ta bảo vua ma Ba Tuần, lùi về sau ba tháng sẽ vào Niết Bàn. Này thiện nam tử! Có các lực sĩ mà số họ đến năm trăm người trọn xong ba tháng nữa, cũng sẽ được phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ta vì những điều đó nên bảo với Ba Tuần rằng, lùi về sau ba tháng sẽ Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Như ông Thuần Ðà, v.v... và năm trăm người con gái Ly Xa Am La quả, lùi về sau ba tháng thì thiện căn của đạo tâm Vô Thượng sẽ thành thục. Vì những người đó nên ta bảo Ba Tuần, lùi về sau ba tháng sẽ Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ông Tu Na Sát Ða gần gũi ngoại đạo Ni Kiền Tử, v.v... Ta vì người đó nói pháp trọn mười hai năm mà người đó tà kiến chẳng tin, chẳng thọ. Ta biết rễ cây tà kiến của người này lùi về sau ba tháng nhất định có thể nhổ đứt. Ta vì việc này nên bảo với Ba Tuần rằng, lùi về sau ba tháng sẽ Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Vì nhân duyên gì mà thuở trước, ở bên dòng sông Ni Liên, ta bảo với ma Ba Tuần, ta nay chưa có đệ tử nhiều trí tuệ, vậy nên chẳng được vào Niết Bàn? Khi ta muốn vì năm vị Tỳ kheo, v.v... ở thành Ba La Nại chuyển pháp luân. Tiếp theo ta lại muốn vì năm vị Tỳ kheo, v.v... như là Gia Xa, Phú Na, Tỳ Ma La Xà, Kiều Phạm Ba Ðề, Tu Bà Hầu, tiếp theo lại muốn vì bọn ông trưởng giả Úc Dà gồm năm mươi người, v.v... thứ đến lại muốn vì vua Tần Bà Ta La của nước Ma Dà Ðà cũng vô lượng người trời, v.v... thứ đến lại muốn vì Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp với môn đồ gồm năm trăm Tỳ kheo, thứ đến lại muốn vì hai người anh em Na Ðề Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp và năm trăm đệ tử, thứ đến lại muốn vì ông Xá Lợi Phất, ông Mục Kiền Liên với hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo, v.v... chuyển bánh xe diệu pháp. Vậy nên ta bảo vua ma Ba Tuần rằng, chẳng Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Có cái tên là Niết Bàn chẳng phải Ðại Niết Bàn. Sao gọi là Niết Bàn chẳng phải Ðại Niết Bàn? Do chẳng thấy Phật tính nên vô thường, vô ngã, chỉ có lạc và tịnh. Do nghĩa này nên tuy đoạn phiền não nhưng chẳng được gọi là Ðại Niết Bàn. Nếu thấy Phật tính, có thể đoạn phiền não thì đó gọi là Ðại Bát Niết Bàn. Do thấy Phật tính nên được gọi là Thường Lạc Ngã Tịnh. Do nghĩa này nên đoạn trừ phiền não thì cũng được xưng là Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Niết là nói rằng “chẳng”. Bàn là nói rằng “Diệt”. Nghĩa Chẳng Diệt (Bất Diệt) gọi là Niết Bàn. Lại chữ Bàn nghĩa là che (phú). Nghĩa Chẳng Che (Bất Phú) mới gọi là Niết Bàn. Bàn nghĩa là khứ lai, chẳng khứ, chẳng lai mới gọi là Niết Bàn. Bàn nghĩa là thủ (lấy), chẳng thủ mới gọi là Niết Bàn. Bàn nghĩa là bất định, định không bất định mới gọi là Niết Bàn. Bàn nghĩa là mới (tâm), không mới nên mới gọi là Niết Bàn. Bàn nghĩa là chướng ngại, nghĩa không chướng ngại mới gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử! Có đệ tử Ưu Lâu Ca Ca Tỳ La, v.v... nói rằng, Bàn là gọi tướng nghĩa không tướng thì mới gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử! Bàn là nói có, nghĩa không có mới gọi là Niết Bàn. Bàn gọi là hòa hợp, nghĩa không hòa hợp mới gọi là Niết Bàn. Bàn là nói khổ, nghĩa không khổ mới gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ðoạn trừ phiền não thì chẳng gọi là Niết Bàn, chẳng sinh ra phiền não mới gọi là Niết Bàn. Này thiện nam tử! Các đức Phật Như Lai chẳng khởi phiền não thì đó gọi là Niết Bàn. Trí tuệ sở hữu đối với pháp không ngăn ngại thì đó là Như Lai. Như Lai chẳng phải là phàm phu, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát thì đó gọi là Phật tính. Thân tâm trí tuệ của Như Lai đầy khắp vô lượng vô biên A tăng kỳ cõi, không có sự chướng ngại thì đó gọi là hư không. Như Lai thường trụ không có biến dịch thì gọi rằng Thật tướng. Do nghĩa này nên Như Lai chân thật chẳng rốt ráo Niết Bàn. Ðó gọi là Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ bảy.

Này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ tám? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì đoạn trừ năm việc, lìa xa năm việc, thành tựu sáu việc, tu tập năm việc, thủ hộ một việc, thân cận bốn việc, tin thuận một sự thật, lòng giỏi giải thoát, tuệ khéo giải thoát. Này thiện nam tử! Sao gọi là Bồ tát đoạn trừ năm việc? Ðó là đoạn trừ năm ấm, sắc, thọ, tưởng, hành thức. Cái gọi là ấm, nghĩa ấy thế nào? Có thể khiến cho chúng sinh, sinh tử nối tiếp nhau, chẳng lìa khỏi gánh nặng, phân tán tụ hợp bị sự nhiếp lấy của ba đời, tìm cầu nghĩa thật của nó rõ ràng chẳng thể được... do những nghĩa này nên gọi là ấm. Ðại Bồ tát tuy thấy sắc ấm nhưng chẳng thấy tướng của sắc ấy. Vì sao vậy? Vì ở trong mười sắc mà tìm kiếm tính của nó đều chẳng thể được. Vì thế giới nên nói rằng là ấm. Thọ có một trăm lẻ tám. Tuy thấy Thọ ấm nhưng đầu tiên không có thọ tướng. Vì sao vậy? Thọ tuy một trăm lẻ tám nhưng lý không nhất định chân thật. Vậy nên Bồ tát chẳng thấy Thọ ấm. Tưởng, Hành, Thức, v.v... cũng lại như vậy. Ðại Bồ tát thấy sâu năm ấm chính là nơi phát sinh ra căn bản của phiền não vậy. Do nghĩa này nên dùng phương tiện khiến cho chúng đoạn trừ. Sao gọi là Bồ tát xa lìa năm việc? Ðó là xa lìa năm kiến. Những gì là năm? Một là thân kiến, hai là biên kiến, ba là tà kiến, bốn là giới thủ (giới là cấm giới), năm là kiến thủ (thủ là lấy). Nhân năm kiến này sinh ra sáu mươi hai kiến. Nhân những kiến này mà sinh tử chẳng dứt. Vậy nên Bồ tát phòng hộ chẳng gần gũi. Sao gọi là Bồ tát thành tựu sáu việc? Ðó là sáu niệm xứ. Những gì là sáu? Một là niệm Phật, hai là niệm Pháp, ba là niệm Tăng, bốn là niệm Thiên, năm là niệm Thí (bố thí), sáu là niệm Giới (giới cấm). Ðó gọi là Bồ tát thành tựu sáu việc. Sao gọi là Bồ tát tu tập năm việc? Ðó là tu tập năm định, một là Tri định, hai là Tịch định, ba là thân tâm thọ khoái lạc định, bốn là Vô lạc định, năm là Thủ Lăng Nghiêm định. Tu tập năm thứ định tâm như vậy thì được gần với Ðại Bát Niết Bàn. Vậy nên Bồ tát lòng phải siêng năng tu tập. Sao gọi là Bồ tát thủ hộ một việc? Ðó là thủ hộ tâm Bồ Ðề. Ðại Bồ tát thường phải siêng thủ hộ tâm Bồ Ðề, giống như người đời thủ hộ con một, cũng như kẻ chột hộ giữ một mắt còn lại, như người đi giữa đồng trống thủ hộ kẻ dẫn đường. Bồ tát thủ hộ tâm Bồ Ðề cũng lại như vậy. Nhân thủ hộ tâm Bồ Ðề như vậy nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nhân được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nên Thường Lạc Ngã Tịnh đầy đủ mà có, tức là Ðại Bát Niết Bàn Vô Thượng. Vậy nên Bồ tát thủ hộ một pháp. Sao gọi là Bồ tát thân cận bốn việc? Ðó là bốn vô lượng tâm. Những gì là bốn? Một là Ðại Từ, hai là Ðại Bi, ba là Ðại Hỷ, bốn là Ðại Xả. Nhân bốn tâm này có thể khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh phát tâm Bồ Ðề. Vậy nên Bồ tát bộc lòng thân cận. Sao gọi là Bồ tát tin thuận một thật? Bồ tát biết rõ tất cả chúng sinh đều về một đạo. Một đạo là gọi Ðại Thừa vậy. Các đức Phật, Bồ tát vì chúng sinh nên phân thừa đó làm ba. Vậy nên Bồ tát tin thuận chẳng nghịch lại. Sao gọi là Bồ tát, tâm giỏi giải thoát? Tâm tham, sân, si đoạn diệt vĩnh viễn thì đó gọi là tâm Bồ tát giỏi giải thoát. Sao gọi là Tuệ Bồ tát giỏi giải thoát? Ðại Bồ tát đối với tất cả pháp biết không có chướng ngại. Ðó gọi là tuệ Bồ tát giỏi giải thoát. Nhân tuệ giải thoát nên điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe, điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy, nơi xưa chẳng đến mà nay được đến.

Lúc bấy giời, Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, tâm giải thoát thì nghĩa chẳng vậy! Vì sao vậy? Vì tâm vốn không ràng buộc. Sở dĩ vì sao? Vì tâm này vốn tính chẳng bị sự trói buộc của các kết tham dục,, sân nhuế, ngu si. Nếu vốn không ràng buộc thì sao mà nói rằng, tâm khéo giải thoát? Thưa đức Thế Tôn! Nếu bản tính của tâm chẳng bị sự ràng buộc của tham kết thì nhờ nhân duyên gì mà có thể buộc? Như người bấu vào sừng mà sừng vốn không tướng sữa thì tuy thêm công lực, sữa cũng không từ đó ra. Người bấu vào vú thì chẳng như vậy, sữa tuy ít nhưng thêm công lực thì ra nhiều. Tâm cũng như vậy, vốn không tham thì sao nay lại có? Nếu tâm vốn không tham mà sau mới có thì các đức Phật, Bồ tát vốn không tướng tham thì nay đều nên có! Thưa đức Thế Tôn! Ví như người con gái bằng đá vốn không tướng con, tuy thêm nhiều công lực với vô lượng nhân duyên nhưng con chẳng thể được. Tâm cũng như vậy, vốn không tướng tham thì tuy tạo đủ mọi duyên nhưng tham không từ đó sinh ra. Thưa đức Thế Tôn! Như dùi gỗ ẩm ướt thì lửa chẳng thể được. Tâm cũng như vậy, tuy dùi cầu tham nhưng chẳng thể được... thì sao gọi là tham kết có thể ràng buộc tâm? Thưa đức Thế Tôn! Ví như ép cát thì dầu chẳng thể được. Tâm cũng như vậy, tuy lại ép tâm nhưng tham chẳng thể được. Phải biết rằng, tham và tâm hai lý đều khác mà giả sử lại có tham đó thì đâu có thể làm bẩn tâm? Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người mắc áo ở hư không thì nhất định chẳng trụ, đặt tham vào tâm cũng lại như vậy, dù cho đủ thứ nhân duyên cũng chẳng thể khiến cho tham ràng buộc được tâm. Thưa đức Thế Tôn! Nếu tâm không tham gọi là giải thoát thì các đức Phật, Bồ tát vì sao chẳng nhổ gai nhọn trong hư không. Thưa đức Thế Tôn! Tâm đời quá khứ chẳng gọi là giải thoát, tâm đời vị lai cũng không gọi là giải thoát, tâm đời hiện tại chẳng cùng chung đạo thì tâm của những đời nào gọi là được giải thoát? Thưa đức Thế Tôn! Như vậy đèn quá khứ chẳng thể diệt tối, đèn đời vị lai cũng chẳng diệt tối, đèn đời hiện tại lại chẳng diệt chẳng diệt tối. Vì sao vậy? Vì ánh sáng cùng bóng tối, cả hai chẳng tồn tại đồng thời. Tâm cũng lại như vậy thì làm sao mà nói rằng, tâm được giải thoát? Thưa đức Thế Tôn! Tham cũng là có, nếu tham không có thì khi thấy tướng nữ chẳng nên sinh tham. Nếu nhân tướng nữ mà được sinh ra thì phải biết là tham chân thật là có và do có tham nên đọa ba đường ác. Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người thấy bức vẽ hình người con gái cũng lại sinh tham. Do sinh ra tham nên được đủ thứ tội. Nếu vốn không tham thì sao thấy bức họa mà sinh ra tham? Nếu tâm không tham thì sao đức Như Lai nói rằng, tâm Bồ tát được giải thoát? Nếu tâm có tham thì sao thấy tướng rồi nhiên hậu mới sanh? Còn chẳng thấy tướng thì chẳng sinh ra vậy? Con nay hiện thấy có quả báo ác thì phải biết là có tham dục, sân nhuế, ngu si cũng lại như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Ví như chúng sinh có thân vô ngã mà các phàm phu ngang ngược kể ngã tưởng, tuy có ngã tưởng nhưng chẳng đọa ba đường thì sao người tham đối với không tướng nữ mà khởi lên nữ tưởng thì đọa ba đường ác? Thưa đức Thế Tôn! Ví như dùi cây mà sinh ra lửa. Nhưng tính lửa này trong mọi duyên không có thì do nhân duyên gì mà được sinh ra vậy? Thưa đức Thế Tôn! Tham cũng như vậy, trong sắc không có tham và hương, vị, xúc, pháp cũng lại không tham thì sao đối với sắc, hương, vị, xúc, pháp mà sinh ra tham vậy? Nếu trong mọi duyên đều không tham thì sao chỉ một mình chúng sinh sinh ra tham, còn các đức Phật, Bồ tát mà chẳng sinh vậy? Thưa đức Thế Tôn! Tâm cũng chẳng định. Nếu tâm định thì không có tham dục, sân nhuế, ngu si. Nếu tâm chẳng định thì làm sao mà nói rằng, tâm được giải thoát? Tham cũng chẳng định mà nếu chẳng định thì làm sao nhân đó sinh ra ba đường ác? Tham và cảnh giới, cả hai đều bất định. Vì sao vậy? Vì đều duyên vào một sắc rồi hoặc sinh ra tham, hoặc sinh ra sân, hoặc sinh ra ngu si. Vậy nên tham cùng với cảnh giới, cả hai đều bất định. Nếu chúng đều bất định thì vì sao đức Như Lai nói rằng, Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì tâm được giải thoát?

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Tâm cũng chẳng bị sự ràng buộc của tham kết, cũng chẳng phải chẳng ràng buộc, chẳng phải là giải thoát, chẳng phải chẳng giải thoát, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải hiện tại - chẳng phải quá khứ - chẳng phải vị lai. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì tất cả các pháp không tự tính. Này thiện nam tử! Có các ngoại đạo nói rằng: “Nhân duyên hòa hợp thì có kết quả sinh ra. Nếu trong mọi duyên vốn không tính sinh mà có thể sinh ra quả thì hư không chẳng sinh cũng ứng sinh ra quả. Hư không chẳng sinh chẳng phải là nhân mà do trong mọi duyên vốn có tính quả. Vậy nên tập hợp mà được sinh ra quả. Sở dĩ vì sao? Vì như Ðề Bà Ðạt muốn tạo tường vách thì lấy bùn đất chẳng lấy màu sắc, muốn tạo bức tượng vẽ thì gom màu sắc chẳng lấy cỏ cây, làm thì lấy vải lụa chẳng lấy bùn cây, làm nhà thì lấy bùn chẳng lấy vải lụa... Do người lấy nên phải biết là trong đó đều có thể sinh ra quả. Do có thể sinh ra quả nên phải biết là trong nhân nhất định trước có tính. Nếu không tính thì trong một vật cần phải sinh ra tất cả các vật. Nếu đó có thể lấy, có thể tạo tác, có thể sinh ra thì phải biết là trong đó nhất định có quả trước. Nếu không có quả thì người chẳng lấy, chẳng làm, chẳng sinh ra mà chỉ có hư không không lấy, không làm nên có thể sinh ra tất cả vạn vật. Do có nhân nên như hạt Ni câu đà trụ ở cây Ni câu đà, trong sữa có đề hồ, trong tơ có vải, trong bùn có bình”. Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu mù tối vô minh tạo tác ra định thuyết này: Sắc có nghĩa tham trước, tâm có tính tham, lại nói rằng, tâm phàm phu có tính tham, cũng có tính giải thoát, gặp nhân duyên tham thì tâm sinh ra tham, nếu gặp giải thoát thì tâm giải thoát. Tuy họ làm ra lý thuyết này nhưng nghĩa đó chẳng đúng. Có những phàm phu lại nói rằng: “Trong tất cả nhân đều không có quả. Nhân có hai thứ, một là vi tế, hai là thô đại. Tế (nhỏ) tức là thường, thô (to) thì vô thường. Từ nhân vi tế chuyển thành nhân thô đại, rồi từ nhân thô này chuyển lại thành quả. Nhân thô vô thường nên quả cũng vô thường”. Này thiện nam tử! Có các phàm phu lại nói rằng: “Tâm cũng không nhân, tham cũng không nhân. Do thời tiết nên sinh ra tâm tham”. Bọn người như vậy do chẳng thể biết nhân duyên của tâm nên luân hồi trong sáu đường, chịu đủ sinh tử. Này thiện nam tử! Ví như con chó bị cột vào trụ, trọn ngày chạy quanh cây trụ, chẳng thể được rời khỏi. Tất cả phàm phu cũng lại như vậy, bị gông vô minh trói buộc vào trụ sinh tử, chạy quanh hai mươi lăm cõi hữu, chẳng thể được rời khỏi. Này thiện nam tử! Ví như có người rơi vào nhà xí (nhà cầu) đã được ra khỏi rồi mà lại trở vào, như người khỏi bệnh mà lại bị mầm bệnh, như người đi đường gặp nơi hoang vắng, đã qua được rồi mà lại quay trở lại, lại như rửa sạch rồi trở lại trét bùn đất. Tất cả phàm phu cũng lại như vậy, đã được giải thoát chỗ không sở hữu, chỉ chưa được thoát khỏi Phi Phi Tưởng Xứ mà lại đi đến trở lại ba đường ác. Vì sao vậy? Vì tất cả phàm phu chỉ quan sát ở kết quả, chẳng quan sát nhân duyên. Như con chó đuổi theo hòn đất, chẳng đuổi theo người. Người phàm phu cũng lại như vậy, chỉ quan sát kết quả, chẳng quan sát nhân duyên. Do chẳng quan sát nhân duyên nên từ Phi Tưởng lùi trở lại ba đường ác. Này thiện nam tử! Các đức Phật, Bồ tát trọn chẳng định nói, trong nhân có quả, trong nhân không quả và có không quả, chẳng phải có chẳng phải không quả. Nếu nói rằng, trong nhân trước tiên định có quả và định không quả, định có không quả, định chẳng phải có chẳng phải không quả thì phải biết những người này đều là bè đảng của ma, hệ thuộc với ma, tức là ái nhân mà ái nhân như vậy thì chẳng thể đoạn trừ vĩnh viễn sự ràng buộc của sinh tử, chẳng biết tướng của tâm và cả tướng của tham. Này thiện nam tử! Các đức Phật, Bồ tát hiển bày Trung đạo. Vì sao vậy? Vì các ngài tuy nói các pháp chẳng phải có, chẳng phải không mà chẳng quyết định. Sở dĩ vì sao? Vì nhân mắt, nhân sắc, nhân ánh sáng, nhân tâm, nhân niệm thì thức được sinh ra. Thức này quyết định chẳng ở trong mắt, trong sắc, trong ánh sáng, trong tâm, trong niệm, cũng chẳng phải trung gian, chẳng phải có, chẳng phải không, từ duyên sinh ra nên gọi đó là hữu (có), không tự tính nên gọi đó là vô (không). Vậy nên Như Lai nói rằng, các pháp chẳng phải có, chẳng phải không. Này thiện nam tử! Các đức Phật, Bồ tát trọn chẳng định nói, tâm có tịnh tính và bất tịnh tín. Tâm tịnh hay bất tịnh không trụ xứ, từ duyên sinh ra tham nên nói rằng, chẳng phải không; vốn không tính tham nên nói rằng, chẳng phải có. Này thiện nam tử! Từ nhân duyên nên tâm sinh ra tham, từ nhân duyên nên tâm giải thoát. Này thiện nam tử! Nhân duyên có hai, một là theo với sinh tử, hai là theo Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Có nhân duyên nên tâm chung với tham sinh ra, chung với tham diệt hết. Có nhân duyên nên tâm chung với tham sinh ra, chẳng chung với tham diệt. Có nhân duyên nên tâm chẳng chung với tham sinh ra, chung với tham đều diệt. Có nhân duyên nên tâm chẳng chung với tham sinh ra, chẳng chung với tham diệt. Sao gọi là tâm chung với tham sinh ra, chung với tham đều diệt? Này thiện nam tử! Nếu có phàm phu chưa đoạn trừ tâm tham, tu tập tâm tham thì người như vậy, tâm chung với tham sinh ra, tâm chung với tham diệt. Tất cả chúng sinh chẳng đoạn tâm tham thì tâm chung với tham sinh ra, tâm chung với tham diệt. Như chúng sinh cõi Dục, tất cả đều có vị thiền sơ địa, hoặc tu hay chẳng tu thường được thành tựu, gặp nhân duyên nên liền được ngay, nói nhân duyên là gọi hỏa tai vậy. Tất cả phàm phu cũng lại như vậy, hoặc tu hay chẳng tu, thì tâm chung với tham sinh, tâm chung với tham diệt. Vì sao vậy? Vì chẳng đoạn trừ tham vậy. Sao gọi là tâm chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt? Ðệ tử Thanh Văn có nhân duyên nên sinh ra tâm tham. Rồi họ sợ tâm tham nên tu quán tưởng xương trắng. Ðó gọi là tâm chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt. Lại có tâm chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt. Như người Thanh Văn chưa chứng được bốn quả, có nhân duyên nên sinh ra tâm tham, khi chứng bốn quả thì tâm tham được diệt. Ðó gọi là tâm chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt. Bậc Ðại Bồ tát khi được Bất Ðộng Ðịa thì tâm chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt. Sao gọi là tâm chẳng chung với tham sinh, chung với tham đều diệt? Nếu Ðại Bồ tát đoạn trừ tham tâm, rồi vì chúng sinh nên thị hiện có tham. Do thị hiện nên có thể khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh hỏi han thính thọ thiện pháp, thành tựu đầy đủ. Ðó gọi là chẳng chung với tham sinh, chung với tham đều diệt. Sao gọi là chẳng chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt? Ðó là A la hán, Duyên Giác, chư Phật, Bồ tát trừ hàng Bất Ðộng địa. Ðó gọi là chẳng chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt. Do nghĩa này nên các đức Phật, Bồ tát chẳng quyết định nói rằng, tâm thì tính vốn tịnh, tính vốn chẳng tịnh. Này thiện nam tử! Tâm này chẳng cùng với tham kết hòa hợp, cũng lại chẳng cùng với sân si hòa hợp. Này thiện nam tử! Ví như mặt trời, mặt trăng bị sự che phủ của khói, bụi, mây, mù và A tu la. Do nhân duyên này khiến cho các chúng sinh chẳng thể được thấy. Tuy họ chẳng thể thấy tính của mặt trời, mặt trăng nhưng nhất định chúng chẳng cùng năm sự che chắn kia hòa hợp. Tâm cũng như vậy, do nhân duyên nên sinh ra tham kết. Chúng sinh tuy nói tâm cùng với tâm hòa hợp nhưng mà tính của tâm này thật chẳng cùng hòa hợp. Nếu tâm tham này tức là tính tham hay tâm chẳng tham này tức là tính chẳng tham thì tâm chẳng tham chẳng thể là tham và tâm tham kết chẳng thể chẳng tham. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên tham dục kết chẳng thể làm bẩn tâm. Các đức Phật, Bồ tát phá hoại vĩnh viễn tham kết. Vậy nên nói rằng, tâm được giải thoát. tất cả chúng sinh từ nhân duyên nên sinh ra tham kết, từ nhân duyên nên tâm được giải thoát. Này thiện nam tử! Ví như núi Tuyết, chỗ cheo leo cao chót vót, người cùng vượn đều chẳng thể đi, hoặc lại có chỗ vượn có thể đi, người chẳng thể đi, hoặc lại có chỗ người cùng vượn, cả hai có thể đi. Này thiện nam tử! Chỗ người cùng vượn có thể đi là như nơi các thợ săn thuần dùng nhựa keo đặt lên đó dùng để bẫy bắt vượn. Con vượn dại nên đưa tay chạm vào, chạm rồi dính tay. Vượn muốn thoát tay nên lấy chân đạp thì chân lại mắc vào theo. Muốn thoát chân nên vượn dùng miệng cắn vào đó thì miệng lại dính luôn. Như vậy năm chỗ đều không được giải thoát. Ðến đây, người thợ săn dùng gậy xâu qua con vượn khiêng trở về nhà. Chỗ cao của núi Tuyết ví cho sự được chánh đạo của Phật, Bồ tát. Nhỉ hầu (vượn) là ví các phàm phu. Thợ săn là ví ma Ba Tuần. Nhựa keo là ví tham dục kết. Người cùng vượn đều chẳng thể đi là ví những phàm phu, ma vương Ba Tuần đều chẳng thể đi. Vượn có thể đi, người chẳng thể đi là ví những người có trí tuệ của ngoại đạo, những ác ma, v.v... tuy do năm dục nhưng chẳng thể ràng buộc. Người cùng vượn đều có thể đi là ví tất cả phàm phu và ma Ba Tuần thường ở trong sinh tử, chẳng thể tu hành. Người phàm phu bị năm dục trói buộc, khiến cho ma Ba Tuần tự tại đem đi như người thợ săn kia đánh bẫy nhựa bắt vượn khiêng về nhà. Này thiện nam tử! Ví như vị quốc vương an trụ ở nước mình thì thân tâm an vui, nếu đến cõi khác thì bị mọi khổ sở. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, nếu có thể tự trụ ở cảnh giới của mình thì được an vui, nếu đến cảnh giới khác thì gặp ác ma chịu những khổ não. Tự cảnh giới là gọi bốn niệm xứ. Cảnh giới khác là gọi năm dục vậy. Sao gọi là hệ thuộc với ma? Có những chúng sinh, vô thường thấy thưòng - thường thấy vô thường, khổ thấy ra vui - vui thấy ra khổ, chẳng tịnh thấy tịnh - tịnh thấy chẳng tịnh, vô ngã thấy ngã - ngã thấy vô ngã, chẳng phải thật giải thoát dối thấy giải thoát - chân thật giải thoát thấy chẳng phải giải thoát, chẳng phải Thừa thấy Thừa - Thừa thấy chẳng phải Thừa... Người như vậy gọi là hệ thuộc ma mà hệ thuộc ma thì lòng chẳng thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu thấy các pháp chân thật là có định tướng riêng biệt thì phải biết người này khi thấy sắc thì liền tạo ra sắc tướng... cho đến thấy thức cũng tạo ra thức tướng, thấy nam tạo ra nam tướng, thấy nữ tạo ra nữ tướng, thấy ngày tạo ra tướng ngày, thấy tháng tạo ra tướng tháng, thấy năm tạo ra tướng năm, thấy ấm tạo ra tướng ấm, thấy nhập tạo ra tướng nhập, thấy giới tạo ra tướng giới. Người thấy như vậy thì gọi hệ thuộc ma mà hệ thuộc ma thì tâm chẳng thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu thấy ngã là sắc, trong sắc có ngã, trong ngã có sắc và sắc thuộc về ngã... cho đến thấy ngã là thức, trong thức có ngã, trong ngã có thức và thức thuộc về ngã... thì người thấy như vậy là hệ thuộc với ma, chẳng phải là đệ tử của ta. Này thiện nam tử! Ðệ tử Thanh Văn của ta xa lìa mười hai bộ kinh của Như Lai, tu tập đủ thứ kinh sách của ngoại đạo, chẳng tu nghiệp xuất gia tịch tịnh, toàn kinh doanh việc tại gia thế tục. Những gì gọi là việc tại gia? Nhận nuôi chứa tất cả vật bất tịnh như nô tỳ, điền trạch, voi ngựa, xe cộ, la lừa, gà trỉ, chó vượn, heo dê, đủ thứ lúa, mì..., xa lìa Sư Tăng, gần gũi bạch y, trái phản lời dạy của Thánh và hướng về những người bạch y nói rằng: “Ðức Phật cho phép Tỳ kheo nhận nuôi chứa đủ thứ vật bất tịnh. Ðó gọi là tu tập việc tại gia. Có các đệ tử chẳng vì Niết Bàn, chỉ vì lợi dưỡng mà thân cận thính thọ mười hai bộ kinh. Vật của Chiêu Ðề tăng và vật của tăng mạn, áo mặc, ăn tham như tự của mình có, san tham tiếc rẻ của nhà người khác, khen ngợi gần gũi quốc vương và các vương tử, bói quẻ cát hung, tính vận đầy vơi (giàu nghèo), cờ vay, đánh bạc, đánh sư bồ (một lối đánh bạc), ném bầu (một cách đánh bạc), gần gũi Tỳ kheo ni và những xử nữ (gái chưa chồng), nuôi hai sa di, thường giao du với nhà thợ săn, đồ tể, bán rượu và chỗ ở của bọn chiên đà la, đủ thứ buôn bán, tay tự làm ăn, nhận sự sai khiến của lân quốc, thông báo tin tức... Những người hành động như vậy thì phải biết là quyến thuộc của ma, chẳng phải đệ tử của ta. Do nhân duyên này nên tâm chung với tham sinh, tâm chung với tham diệt... cho đến tâm chung với si sinh, tâm chung với si diệt (si và tâm chung sinh, chung diệt) cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên tính của tâm chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh. Vậy nên ta nói rằng, tâm được giải thoát. Nếu có người chẳng nhận, chẳng nuôi chứa tất cả vật bất tịnh, vì Ðại Niết Bàn thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, sao chép, giải nói thì phải biết những người đó là đệ tử chân chính của ta, chẳng hành động theo cảnh giới của ác ma Ba Tuần tức là tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Do tu tập nên họ chẳng chung với tham sinh, chẳng chung với tham diệt. Ðó gọi là Bồ tát tu kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ tám.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi ba hết –


24/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Bốn

PHẨM BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÍ ÐỨC VƯƠNG Thứ Hai Mươi Hai (tiếp theo)

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là Ðại Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ chín? Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu, đầu tiên phát khởi năm việc đều được thành tựu. Những gì là năm? Một là Tín, hai là Trực tâm, ba là Giới (cấm), bốn là thân cận bạn lành, năm là đa văn. Sao gọi là Tín? Ðại Bồ tát tin vào bố thí Tam bảo có quả báo, tin vào đạo Nhất Thừa hai đế, lại không đường khác nhưng vì muốn cho chúng sinh mau được giải thoát nên các đức Phật Bồ tát phân biệt làm ba, tin đệ nhất nghĩa đế, tin thiện phương tiện... Ðó gọi là tín. Người tin như vậy thì hoặc các Sa môn, hoặc Bà la môn, hoặc Thiên ma, Phạm thiên, tất cả chúng sinh chẳng thể hoại họ. Nhân sự tin này nên được tính của Thánh nhân. Tu hành bố thí hoặc nhiều hay ít đều được gần với Ðại Bát Niết Bàn, chẳng rơi vào sinh tử. Giới cấm, đa văn, trí tuệ cũng lại như vậy. Ðó gọi là Tín. Tuy có tín này mà cũng chẳng thấy. Ðó gọi là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu việc đầu tiên.

Sao gọi là Trực tâm? Ðại Bồ tát đối với các chúng sinh tác khởi tâm chất trực (ngay thẳng chân chất). Tất cả chúng sinh nếu gặp nhân duyên thì sinh ra nịnh hót quanh co còn Bồ tát chẳng vậy. Vì sao vậy? Vì giỏi lý giải các pháp đều do nhân duyên. Ðại Bồ tát tuy thấy những tội lỗi ác của chúng sinh nhưng nhất định chẳng nói ra. Vì sao vậy? Vì sợ họ sinh ra phiền não mà nếu sinh phiền não thì rơi vào đường ác. Như vậy Bồ tát nếu thấy có ít việc thiện của chúng sinh thì khen ngợi họ. Sao gọi là thiện? Ðó gọi là Phật tính, khen ngợi Phật tính nên khiến cho các chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Bấy giờ Ðại Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, Ðại Bồ tát khen Phật tính khiến cho vô lượng chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thì nghĩa này chẳng phải vậy. Vì sao vậy? Vì đức Như Lai lúc ban đầu khai Kinh Niết Bàn, nói có ba thứ. Một là nếu có người bệnh mà được lương y, thuốc và người xem bệnh thì bệnh dễ khỏi. Như người bệnh ấy chẳng được thì chẳng thể lành bệnh. Hai là nếu được hay chẳng được đều chẳng thể khỏi bệnh. Ba là nếu được hay chẳng được đều có thể khỏi bệnh. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, nếu gặp bạn lành, các đức Phật, Bồ tát nghe nói diệu pháp thì có thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Như những chúng sinh ấy chẳng gặp thì chẳng thể phát tâm như là Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chi Phật. Hai là tuy người ấy gặp bạn lành, các đức Phật, Bồ tát, nghe nói diệu pháp cũng chẳng thể phát tâm, hoặc họ chẳng gặp nên cũng chẳng thể phát tâm như là bọn Nhất xiển đề. Ba là hoặc gặp hay chẳng gặp, tất cả đều có thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác như là Bồ tát. Nếu nói rằng, gặp cùng chẳng gặp đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì đức Như Lai hôm nay làm sao nói rằng, nhân khen Phật tính khiến cho các chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Thưa đức Thế Tôn! Nếu gặp bạn lành, các đức Phật, Bồ tát, nghe nói diệu pháp và cả chẳng gặp mà đều chẳng thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì phải biết nghĩa này cũng lại chẳng phải vậy. Vì sao vậy? Vì người như vậy sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bọn Nhất xiển đề do có Phật tính nên hoặc nghe hay chẳng nghe đều cũng sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói thì những gì gọi là Nhất xiển đề vậy? Ðó là kẻ đoạn dứt thiện căn. Nghĩa như vậy cũng lại chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì chẳng đoạn dứt Phật tính. Như vậy là lý Phật tính chẳng thể đoạn thì làm sao đức Phật nói đoạn các thiện căn. Như đức Phật thuở trước nói mười hai bộ kinh, thiện có hai thứ, một là Thường, hai là Vô thường. Thường là chẳng đoạn, vô thường thì có thể đoạn nên đọa địa ngục. Thường chẳng thể đoạn thì vì sao chẳng ngăn chận? Phật tính chẳng đoạn thì chẳng phải Nhất xiển đề mà vì sao đức Như Lai nói như vậy là Nhất xiển đề? Thưa đức Thế Tôn! Nếu nhân Phật tính phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì vì sao đức Như Lai rộng vì chúng sinh nói mười hai bộ Kinh? Thưa đức Thế Tôn! Ví như bốn dòng sông, xuất phát từ ao A Nậu Ðạt. Nếu có trời, người, các đức Phật Thế Tôn nói rằng những dòng sông này chẳng chảy vào biển cả mà sẽ trở lại nguồn cũ thì không có điều này. Tâm Bồ Ðề cũng lại như vậy, nếu người có Phật tính thì hoặc nghe hay chẳng nghe, hoặc giới (cấm) hay chẳng phải giới, hoặc thí hay chẳng phải thí, hoặc tu hay chẳng phải tu, hoặc trí hay chẳng phải trí... đều nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thưa đức Thế Tôn! Như mặt trời từ trong núi Ưu Ðà Diên hiện ra đi đến hướng chánh Nam. Nếu mặt trời nghĩ rằng, ta chẳng đến phương Tây mà trở lại phương Ðông thì không có điều này. Phật tính cũng vậy, nếu chẳng nghe, chẳng giới, chẳng thí, chẳng tu, chẳng trí... chẳng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì không có điều này. Thưa đức Thế Tôn! Các đức Phật Như Lai nói rằng, tính của nhân quả chẳng phải có, chẳng phải không, nghĩa như vậy cũng chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì như trong sữa ấy không có tính cao sữa thì không có cao sữa (lạc), hạt Ni câu đà không tính năm trượng thì chẳng thể sinh chất cây năm trượng. Nếu trong Phật tính không cây Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì làm sao sinh ra cây Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác được? Do nghĩa này nên lời nói, nhân quả chẳng phải có, chẳng phải không thì nghĩa như vậy làm sao tương ứng?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ðời có hai loại người rất là hiếm có như hoa Ưu đàm. Một là người chẳng làm pháp ác, hai là người có tội có thể sám hối. Người như vậy rất là hiếm có. Lại có hai loại người, một là làm ơn, hai là nghĩ đến ơn. Lại có hai loại người, một là người hỏi han thính thọ pháp mới, hai là người ôn cũ chẳng quên. Lại có hai hạng người, một là người tạo ra cái mới, hai là người sửa cái cũ. Lại có hai loại người, một là người ưa nghe pháp, hai là người ưa nói pháp. Lại có hai loại người, một là người giỏi vấn nạn, hai là người giỏi giải đáp. Người giỏi vấn nạn là thân ông đó! Người giỏi giải đáp gọi là Như Lai vậy! Này thiện nam tử! Nhân sự khéo hỏi này, ta liền được chuyển bánh xe pháp Vô Thượng, có thể làm khô cây đại thọ mười hai nhân duyên, có thể độ vô biên dòng sông lớn sinh tử, có thể cùng ma vương Ba Tuần chung chiến đấu, có thể xô ngã sự kiến lập thắng tràng của Ba Tuần. Này thiện nam tử! Như trước ta đã nói, ba thứ mà người bệnh gặp là lương y, người xem bệnh, thuốc tốt và cả việc chẳng gặp được thì bệnh đều được khỏi. Nghĩa này ra sao? Nghĩa này là nếu được hay chẳng được gọi là định thọ mạng. Sở dĩ vì sao? Vì người này đã ở trong vô lượng đời, tu ba thứ thiện là thượng, trung, hạ. Do tu ba thứ thiện như vậy nên được định thọ mạng như người Uất Ðan Việt thọ mạng một ngàn năm. Có người gặp bệnh, nếu được lương y, thuốc tốt, người coi bệnh và cả việc chẳng được đều được khỏi bệnh. Vì sao vậy? Vì đã được định mệnh. Này thiện nam tử! Như lời ta nói, nếu có người bệnh được gặp lương y, thân tốt, người trông bệnh thì bệnh được trừ khỏi, nếu chẳng gặp thì chẳng được khỏi. Nghĩa này ra sao? Này thiện nam tử! Người như vậy thọ mạng chẳng định, mạng tuy chẳng tận nhưng có chín nhân duyên có thể làm chết yểu thọ mạng ấy. Những gì là chín? Một là biết ăn chẳng yên mà lại ăn. Hai là ăn nhiều. Ba là đồ ăn trước chưa tiêu mà lại ăn nữa. Bốn là đi đại tiểu tiện lợi chẳng theo thời tiết. Năm là khi bệnh chẳng theo lời dạy của thầy thuốc. Sáu là chẳng theo lời dạy bảo của người coi bệnh. Bảy là cố cưỡng lại chẳng thổ ra. Tám là đi đêm, do đi đêm nên bị ác quỷ đánh. Chín là phòng nhà lỗi sai. Do những nhân duyên này nên ta nói người bệnh nếu gặp lương y, thuốc tốt thì bệnh có thể khỏi còn nếu chẳng gặp thì chẳng thể bớt. Này thiện nam tử! Như trước ta nói, nếu gặp hay chẳng gặp đều chẳng thể khỏi. Nghĩa này ra sao? Có người mạng tận, nếu gặp hay chẳng gặp đều chẳng thể khỏi. Vì sao vậy? Vì mạng đã hết vậy. Do nghĩa này nên ta nói người bệnh, nếu gặp lương y, thuốc tốt và cả chẳng gặp đều chẳng thể được khỏi. Chúng sinh cũng vậy, người phát tâm Bồ Ðề nếu gặp bạn lành, các đức Phật, Bồ tát hỏi han, thính thọ thâm pháp hay chẳng gặp được thì đều sẽ thành tựu. Vì sao vậy? Vì người ấy có thể phát tâm Bồ Ðề như người Uất Ðan Việt được định thọ mạng. Như lời ta nói, từ Tu đà hoàn đến Bích Chi Phật nếu nghe lời nói thâm pháp của bạn lành, các đức Phật, Bồ tát thì phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, còn nếu chẳng gặp các đức Phật, Bồ tát nghe nói thâm pháp thì chẳng thể phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Như người mạng bất định vì chín nhân duyên nên mạng chết yểu. Như người bệnh đó gặp lương y, thuốc tốt thì bệnh được khỏi còn nếu chẳng gặp thì bệnh chẳng khỏi. Vậy nên ta nói gặp Phật, Bồ tát, nghe nói thâm pháp thì có thể phát tâm, còn nếu chẳng gặp thì chẳng thể phát tâm. Như ta trước đã nói, nếu gặp bạn lành, các đức Phật, Bồ tát, nghe nói thâm pháp và nếu chẳng gặp cũng đều chẳng thể phát tâm thì nghĩa này ra sao? Này thiện nam tử! Bọn Nhất xiển đề nếu gặp bạn lành, các đức Phật, Bồ tát nghe nói thâm pháp và cả chẳng gặp đều chẳng được lìa khỏi tâm Nhất xiển đề. Vì sao vậy? Vì đoạn thiện pháp vậy. Còn sở dĩ vì sao bọn Nhất xiển đề cũng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Nếu chúng có thể phát tâm Bồ Ðề thì chẳng lại gọi là Nhất xiển đề. Này thiện nam tử! Do nhân duyên gì nói rằng, Nhất xiển đề được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Bọn Nhất xiển đề thật chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác như người mạng tận tuy gặp lương y, thuốc tốt, người coi bệnh nhưng chẳng thể được khỏi. Vì sao vậy? Vì mạng hết vậy. Này thiện nam tử! Nhất siển gọi là tin, đề gọi là chẳng đủ. Tin chẳng đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải tin, chúng sinh chẳng phải đủ. Do chẳng đủ nên sao gọi là có thể đoạn? Nhất siển gọi là thiện phương tiện, đề gọi là chẳng đủ. Tu thiện phương tiện chẳng đầy đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải là tu thiện phương tiện, chúng sinh chẳng phải đủ. Do chẳng đủ nên sao gọi là có thể đoạn? Nhất siển gọi là tấn, đề gọi là chẳng đủ. Tấn chẳng đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải tấn, chúng sinh chẳng phải đủ. Do chẳng đủ nên sao gọi là có thể đoạn? Nhất siển gọi là niệm, đề gọi là chẳng đủ. Niệm chẳng đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải niệm, chúng sinh chẳng phải đủ. Do chẳng đủ nên sao gọi là có thể đoạn? Nhất siển gọi là định, đề gọi là chẳng đủ. Ðịnh chẳng đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải định, chúng sinh chẳng phải đủ. Do chẳng đủ nên sao gọi là có thể đoạn? Nhất siển gọi là tuệ, đề gọi là chẳng đủ. Tuệ chẳng đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải tuệ, chúng sinh chẳng phải đủ. Do chẳng đủ nên sao gọi là có thể đoạn? Nhất siển gọi là vô thường thiện, đề gọi là chẳng đủ. Do vô thường thiện chẳng đủ nên gọi là Nhất xiển đề. Phật tính chẳng phải vô thường thiện chẳng phải bất thiện. Vì sao vậy? Vì pháp yếu thiện từ phương tiện mà được mà Phật tính này chẳng phải phương tiện được. Vậy nên chẳng phải thiện. Vì sao lại gọi là chẳng phải bất thiện vậy? Vì có thể được thiện quả vậy. Thiện quả tức là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại thiện pháp thì sinh rồi được mà Phật tính này chẳng phải sinh rồi được. Vậy nên chẳng phải thiện. Do đoạn trừ sinh mà được các thiện pháp nên gọi là Nhất xiển đề. Này thiện nam tử! Như lời ông nói, nếu Nhất xiển đề có Phật tính thì sao chẳng ngăn chận tội địa ngục? Này thiện nam tử! Trong Nhất xiển đề có Phật tính. Này thiện nam tử! Ví như có vị vua nghe tiếng đàn không hầu. AÂm thanh đàn ấy thanh diệu, lòng liền đắm trước, tình ái niệm vui thích, không rời bỏ, liền bảo vị đại thần rằng: “AÂm thanh vi diệu như vậy từ đâu phát ra?” Vị đại thần đáp rằng: “AÂm thanh vi diệu như vậy từ cây đàn không hầu phát ra!” Nhà vua lại nói rằng: “Hãy đem âm thanh đó lại đây!” Lúc bấy giờ vị đại thần liền mang cây đàn không hầu đặt ở trước đức vua mà nói rằng: “Thưa đại vương! Ngài phải biết, đây tức là âm thanh”. Nhà vua nói rằng: “Ðàn không hầu hãy phát ra tiếng! Hãy phát ra tiếng!” Nhưng mà tiếng đàn không hầu cũng chẳng phát ra. Lúc bấy giờ, vị đại vương liền cắt đứt dây của đàn ấy mà tiếng cũng chẳng phát ra. Ông đem da, gỗ của đàn ấy chẻ, xé ra hết để tìm kiếm tiếng đàn ấy mà cuối cùng chẳng thể được. Bấy giờ, vị đại vương liền giận vị đại thần, sao mà nói dối như vậy? Vị đại thần bạch vua rằng: “Bàn về việc thử lấy âm thanh thì phương pháp chẳng như vậy mà nên dùng mọi duyên và phương tiện khéo léo thì âm thanh mới phát ra vậy. Chúng sinh, Phật cũng lại như vậy, không có trụ xứ, do phương tiện khéo nên có thể được thấy. Do có thể thấy nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bọn Nhất xiển đề chẳng thấy Phật tính thì làm sao có thể ngăn chận tội của ba đường ác. Này thiện nam tử! Nếu Nhất xiển đề tin có Phật tính thì phải biết người này chẳng đến ba đường, người này cũng chẳng gọi là Nhất xiển đề vậy. Do chẳng tự tin có Phật tính nên liền rơi vào ba đường mà rơi vào ba đường nên gọi là Nhất xiển đề.

Này thiện nam tử! Như lời ông nói, nếu sữa không tính của váng sữa thì chẳng nên sinh ra váng sữa, hạt cây Ni câu đà không tính năm trượng thì chẳng nên có chất năm trượng. Người ngu si nói lời như vậy, còn kẻ trí thì nhất định chẳng phát ngôn như vậy. Vì sao vậy? Vì do vô tính vậy. Này thiện nam tử! Như trong sữa có tính cao sữa thì chẳng cần lại nhờ sức mọi duyên. Này thiện nam tử! Như sữa và nước đá nằm xen nhau đến cả tháng cũng nhất định chẳng thành cao sữa. Nếu dùng một giọt nước nhựa cây pha cầu cho vào trong sữa liền trở thành cao sữa. Nếu sữa vốn có cao sữa thì vì sao phải đợi duyên. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy, nhờ mọi duyên nên liền có thể thấy, nhờ mọi duyên nên được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu cái đợi mọi duyên, rồi nhiên hậu mới thành thì tức là vô tính. Do vô tính nên có thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát thường khen cái thiện của con người và chẳng ca tụng cái khiếm khuyết của họ. Ðó gọi là tâm chất trực.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là lòng Bồ tát chất trực vậy? Ðại Bồ tát thường chẳng phạm ác. Giả sử các vị có lỗi lầm thì tức thời sám hối, đối với thầy, bạn đồng học nhất định chẳng che giấu, xấu hổ tự trách, chẳng dám làm nữa, ở trong tội nhẹ sinh ra tư tưởng tội rất nặng, nếu có người cật vấn thì đáp rằng, thật sự phạm tội. Người lại hỏi: “Tội này là tốt hay chẳng tốt?” thì đáp rằng: “Chẳng tốt!” Người lại hỏi: “Tội này là thiện hay bất thiện?” Ðáp rằng: “Bất thiện!” Người lại hỏi: “Tội này là thiện quả hay bất thiện quả?” Ðáp rằng: “Là tội thật chẳng phải là thiện quả!” Người lại hỏi: “Ai đã tạo ra tội này? Chắc chẳng phải là sở tác của Phật, Pháp, Tăng?” Ðáp rằng: “Chẳng phải của Phật, Pháp, Tăng mà là sở tác của ta vậy. Ðó là sự tập hợp cấu thành của phiền não”. Do trực tâm nên tin có Phật tính mà tin Phật tính thì chẳng bị gọi là Nhất xiển đề. Do trực tâm nên gọi là đệ tử của Phật. Nếu thọ y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược của chúng sinh, mỗi thứ đều ngàn vạn mà chẳng đủ cho là nhiều. Ðó là tâm chất trực của Bồ tát vậy.

Sao gọi là Bồ tát tu trì giới? Ðại Bồ tát thọ trì cấm giới chẳng vì để sinh lên trời, chẳng vì khủng bố... cho đến chẳng thọ giới chó, giới gà, giới trâu, giới trĩ, chẳng tạo tác phá giới, chẳng làm khuyết giới, chẳng làm giả giới, chẳng làm tạp giới, chẳng làm Thanh Văn giới mà thọ trì Ðại Bồ tát giới, Thi Ba la mật giới, được cụ túc giới, chẳng sinh ra kiêu mạn. Ðó gọi là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn, đủ giới thứ ba.

Sao gọi là Bồ tát thân cận bạn lành? Ðại Bồ tát thường vì chúng sinh nói về thiện đạo, chẳng nói ác đạo, nói ác đạo chẳng phải là quả báo thiện. Này thiện nam tử! Thân ta tức là chân thiện tri thức của tất cả chúng sinh. Vậy nên ta có thể đoạn trừ tà kiến sở hữu của Bà la môn Phú Dà La. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh thân cận ta thì tuy có nhân duyên ứng sinh vào địa ngục, nhưng liền được sinh lên trời. Như Tu na sát đa, v.v... ứng đọa vào địa ngục, do thấy ta nên liền được đoạn trừ nhân duyên địa ngục, sinh lên cõi trời Sắc. Tuy có Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, v.v... nhưng chẳng gọi là thiện tri thức chân thật của chúng sinh. Vì sao vậy? Vì nhân duyên sinh tâm Nhất xiển đề. Này thiện nam tử! Thuở trước, ta trụ ở nước Ba La Nại, ông Xá Lợi Phất dạy hai người đệ tử, một người quán tưởng xương trắng, một người dạy cho quán sổ tức (phép quán đếm hơi thở). Trải qua nhiều năm cả hai đều chẳng được định. Do nhân duyên này liền sinh ra tà kiến nên nói rằng: “Không có pháp Niết Bàn vô lậu. Nếu pháp ấy có thì ta nên được. Vì sao vậy? Vì ta có thể giỏi trì sự thọ giới vậy”. Vào lúc ấy, ta thấy những Tỳ kheo đó sinh ra tà tâm này nên gọi ông Xá Lợi Phất mà quở trách rằng: “Ông chẳng khéo dạy! Thế nào mới làm hai người đệ tử này điên đảo nói pháp? Hai người đệ tử của ông, tính của họ đều khác. Một người là chủ giặt quần áo, một người là thợ vàng. Người thợ vàng nên dạy họ sổ tức, người giặt quần áo nên dạy họ quán tưởng bạch cốt. Do ông dạy nhầm nên khiến cho hai người này sinh ra tà ác”. Lúc bấy giờ, ta vì hai người này, đúng như sự đáp ứng của họ mà nói pháp. Hai người nghe rồi, được quả A la hán. Vậy nên ta là chân thiện tri thức của tất cả chúng sinh, chứ chẳng phải ông Xá Lợi Phất, ông Mục Kiền Liên, v.v... Nếu giả sử chúng sinh có kết rất nặng mà được gặp ta thì ta dùng phương tiện liền vì họ đoạn trừ. Như ông Nan Ðà em ta có ái dục rất nặng, ta dùng đủ thứ phương tiện khéo léo mà vì ông ấy đoạn trừ. Ông Ương Quật Ma La có sân nhuế nặng nhờ thấy ta nên sân nhuế liền đoạn trừ. Vua A Xà Thế có ngu si nặng, nhờ thấy ta nên lòng ngu si liền diệt. Như ông trưởng giả Bà Hy Dà, ở vô lượng kiếp, tích tập, thành tựu phiền não rất nặng, nhờ thấy ta nên liền đoạn diệt. Giả sử có người hạ tiện tệ ác mà gần gũi với ta làm đệ tử thì do nhân duyên này nên được tất cả người, trời cung kính, ái niệm. Tà kiến của ông Thi Lợi Cúc Ða xí thạnh, nhân thấy ta nên tà kiến liền diệt, nhân thấy ta nên đoạn trừ nhân của địa ngục, tạo tác duyên sinh lên trời. Như người Chiên đà la nghẹn thở, khi mạng sắp hết, nhân thấy ta nên trở lại được thọ mạng. Như ông Kiều Thi Ca, cuồng tâm thác loạn, nhân thấy ta nên trở lại được tâm như cũ. Như Cù Ðàm Di gầy ốm, con của nhà đồ tể, thường làm nghiệp ác, nhờ thấy ta nên liền lìa bỏ. Như Siển đề Tỳ kheo nhân thấy ta nên thà bỏ thân mạng, chẳng hủy phạm cấm giới. Như Tỳ kheo buộc cỏ (mặc áo cỏ?) mà do nghĩa này nên Tỳ kheo A Nan nói là bán phạm hạnh, gọi là Thiện tri thức. Ta nói rằng, chẳng vậy! Phải đầy đủ phạm hạnh mới gọi là Thiện tri thức. Ðó là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn đầy đủ thân cận thiện tri thức thứ tư.

Sao gọi là Bồ tát đầy đủ đa văn? Ðại Bồ tát vì Ðại Niết Bàn, mười hai bộ Kinh mà sao chép, đọc tụng, phân biệt, giải nói. Ðó gọi là Bồ tát đầy đủ đa văn. Trừ mười một bộ kinh mà chỉ thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói kinh Tỳ Phật Lược thì cũng gọi là Bồ tát đầy đủ đa văn. Trừ mười hai bộ kinh, nếu Bồ tát có thể thọ trì Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu, ghi chép, đọc tụng, phân biệt, giải nói thì đó cũng gọi là Bồ tát đầy đủ đa văn. Trừ toàn thể đầy đủ Kinh điển này mà nếu Bồ tát có thể thọ trì một bài kệ bốn câu, lại trừ luôn bài kệ này mà nếu Bồ tát có thể thọ trì câu: Như Lai thường trụ, tính không biến dịch thì đó gọi là Bồ tát đầy đủ đa văn. Lại trừ luôn việc này mà nếu hành giả biết là: Như Lai thường chẳng nói pháp, thì cũng gọi là Bồ tát đầy đủ đa văn. Vì sao vậy? Vì pháp vô tính vậy. Như Lai tuy nói tất cả các pháp nhưng thường không có điều gì để nói. Ðó gọi là Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ đa văn thứ năm.

Này thiện nam tử! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân vì Ðại Niết Bàn thành tựu đầy đủ năm việc như vậy thì việc khó làm có thể làm, điều khó nhẫn có thể nhẫn (nhịn), của khó thí có thể thí (cho). Sao gọi là việc Bồ tát khó làm có thể làm? Như nghe có người ăn một hạt mè mà được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì tin lời nói này nên cho đến vô lượng A tăng kỳ kiếp, thường ăn một hạt mè. Hoặc nghe nói, vào lửa được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì ở vô lượng kiếp, ở tại địa ngục A tỳ để vào đám lửa hừng hực. Ðó gọi là việc khó làm Bồ tát có thể làm. Sao gọi là điều khó nhẫn Bồ tát có thể nhẫn? Nếu nghe nhân duyên chịu khổ tay, gậy, dao, đá..., chặt, đánh mà được Ðại Niết Bàn thì liền ở vô lượng A tăng kỳ kiếp, thân chịu đủ những thứ đó mà chẳng lấy làm khổ sở. Ðó gọi là việc khó nhẫn Bồ tát có thể nhẫn. Sao gọi là của khó thí Bồ tát có thể thí? Như nghe nói, có thể dùng đất nước, thành quách, vợ con, đầu mắt, não tủy ban cho người mà được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì liền ở vô lượng A tăng kỳ kiếp, dùng đất nước, thành quách, vợ con, đầu mắt, não tủy sở hữu của mình mà ban cho người. Ðó gọi là của khó thí Bồ tát có thể thí. Bồ tát tuy lại có thể làm việc khó làm nhưng nhất định chẳng nghĩ rằng: “Chính là việc làm của ta!”... cho đến của khó cho có thể cho cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như cha mẹ chỉ có một đứa con yêu thương rất nặng tình, dùng quần áo đẹp, đồ ăn ngon thượng diệu, tùy thời nuôi dưỡng, không gì thiếu thốn. Giả sử đứa con ấy đối với cha mẹ đã dấy khởi lòng khinh mạn, ác khẩu mạ nhục, nhưng cha mẹ vì yêu thương nên chẳng sinh ra sân hận, cũng chẳng nghĩ rằng: “Ta cho đứa trẻ này quần áo, đồ ăn, thức uống...” Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, nhìn các chúng sinh giống như đứa con một. Nếu đứa con gặp bệnh thì cha mẹ cũng bệnh theo. Vì con cầu thầy thuốc, siêng năng gia công trị liệu, cứu chữa. Khi bệnh đã khỏi rồi, cha mẹ nhất định chẳng sinh ý niệm: “Ta vì đứa trẻ này trị liệu bệnh khổ!” Bồ tát cũng vậy, thấy các chúng sinh gặp bệnh phiền não, sinh lòng ái niệm mà vì họ nói pháp. Chúng sinh nhờ nghe pháp nên các phiền não được đoạn trừ. Phiền não đoạn rồi, Bồ tát nhất định chẳng nghĩ rằng: “Ta vì chúng sinh đoạn trừ phiền não!” Nếu Bồ tát phát sinh ý niệm này thì nhất định chẳng được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Bồ tát chỉ tác khởi ý niệm này: “Không một chúng sinh được ta vì họ nói pháp khiến cho họ được đoạn trừ phiền não”. Ðại Bồ tát đối với các chúng sinh chẳng giận, chẳng mừng. Vì sao vậy? Vì giỏi có thể tu tập Không tam muội vậy. Bồ tát nếu tu Không tam muội thì sẽ sinh giận, sinh mừng đối với ai đây? Này thiện nam tử! Ví như rừng núi bị lửa dữ đốt cháy hoặc con người đốn chặt hay bị nước cuốn trôi thì rừng cây này sẽ sinh ra giận, sinh ra mừng với ai đây? Ðại Bồ tát cũng lại như vậy, đối với các chúng sinh, không giận, không mừng. Vì sao vậy? Vì tu Không tam muội vậy.

Bấy giờ Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Tính của tất cả các pháp tự Không sao? Không không nên không? Nếu tính tự Không thì chẳng cần tu Không, rồi nhiên hậu thấy Không. Sao đức Như Lai nói rằng, do tu Không mà thấy Không vậy? Nếu tính tự chẳng Không thì tuy tu Không nhưng chẳng thể khiến cho nó không!

- Này thiện nam tử! Tính của tất cả các pháp vốn tự Không. Vì sao vậy? Vì tính của tất cả pháp chẳng thể được vậy. Này thiện nam tử! Tính của sắc chẳng thể được. Sao gọi là tính của sắc? Tính của sắc chẳng phải là đất, nước lửa, gió, chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, chẳng phải có, chẳng phải Không thì sao sẽ nói rằng, sắc có tự tính. Do tính chẳng thể được nên nói là Không. Tất cả các pháp cũng lại như vậy. Do sự giống nhau, tiếp nối nhau nên các phàm phu thấy rồi mà nói rằng, tính các pháp chẳng không tịch. Ðại Bồ tát đầy đủ năm việc nên thấy tính của pháp vốn không tịch. Này thiện nam tử! Nếu Sa môn và Bà la môn thấy tính của tất cả pháp chẳng không thì phải biết người đó chẳng phải là Sa môn, chẳng phải là Bà la môn, chẳng được tu tập Bát nhã Ba la mật, chẳng được vào với Ðại Bát Niết Bàn, chẳng được hiện thấy các đức Phật, Bồ tát mà họ là quyến thuộc của ma. Này thiện nam tử! Tính của tất cả các pháp vốn tự không và cũng nhân Bồ tát tu tập không nên thấy các pháp không. Này thiện nam tử! Như tính của tất cả pháp vô thường nên diệt có thể diệt nó. Nếu nó chẳng phải vô thường thì diệt chẳng thể diệt. Pháp hữu vi có tướng sinh nên sinh có thể sinh ra nó, có tướng diệt nên diệt có thể diệt nó. Tất cả các pháp có tướng khổ nên khổ có thể khiến cho nó khổ. Này thiện nam tử! Như tính của muối mặn có thể làm mặn vật khác, tính của đường ngọt có thể làm ngọt vật khác, tính rượu đắng rót trả lại có thể rót trả lại vật khác, gừng vốn tính cay có thể làm cay vật khác, quả Ha lê lặc đắng có thể làm đắng vật khác, quả Am la nhạt có thể làm nhạt vật khác, tính độc có thể hại khiến cho vật khác hại, tính của cam lộ khiến cho người chẳng chết, nếu đem hòa hợp với vật khác cũng có thể chẳng chết. Bồ tát tu không cũng lại như vậy, do tu không nên thấy tính của tất cả pháp đều không tịch.

Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương lại nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu muối có thể khiến cho chẳng phải mặn trở thành mặn mà tu Không tam muội nếu như vậy thì phải biết định này chẳng phải thiện, chẳng phải diệu, tính định ấy điên đảo. Nếu Không tam muội chỉ thấy không mà không là không có pháp thì thấy cái gì?

- Này thiện nam tử! Không tam muội này thấy pháp chẳng không có thể khiến cho nó không tịch nhưng chẳng phải điên đảo. Như muối làm cho vật chẳng phải mặn trở thành mặn. Tam muội Không này cũng lại như vậy, pháp chẳng không làm trở thành không. Này thiện nam tử! Tham là hữu tính, chẳng phải là không tính. Tham nếu là không thì chúng sinh chẳng nên vì nhân duyên này mà rơi vào địa ngục. Nếu rơi vào địa ngục thì sao gọi tính tham sẽ là không vậy? Này thiện nam tử! Tính của sắc là có thì những tính gì gọi là điên đảo? Do điên đảo nên chúng sinh sinh ra tham. Nếu tính sắc này chẳng phải điên đảo thì sao có thể khiến cho chúng sinh sinh ra tham? Do sinh ra tham nên phải biết tính của sắc chẳng phải chẳng có. Do nghĩa này nên tu Không tam muội chẳng phải là điên đảo. Này thiện nam tử! Tất cả phàm phu nếu thấy nữ nhân liền sinh ra nữ tướng. Bồ tát chẳng vậy, tuy thấy nữ nhân nhưng chẳng sinh ra nữ tướng. Do chẳng sinh ra nữ tướng nên tham chẳng sinh ra mà tham chẳng sinh nên chẳng phải điên đảo. Do người thế gian thấy có nữ nên Bồ tát theo đó nói rằng, có nữ nhân. Còn nếu khi thấy nam mà nói là nữ thì đó là điên đảo. Vậy nên ta vì ông Xà Ðề nói rằng: “Này ông Bà la môn! Nếu lấy ngày làm đêm thì tức là điên đảo, lấy đêm làm ngày thì cũng là điên đảo. Ngày là tướng ngày, đêm là tướng đêm thì sao gọi điên đảo được? Này thiện nam tử! Tất cả Bồ tát trụ ở chín địa thấy pháp có tính mà do sự thấy này nên chẳng thấy Phật tính. Nếu thấy Phật tính thì chẳng lại thấy tính của tất cả pháp. Do tu Không tam muội như vậy nên chẳng thấy tính của pháp mà do chẳng thấy nên thấy Phật tính. Các đức Phật, Bồ tát có hai thứ nói, một là hữu tính, hai là vô tính. Vì chúng sinh nên nói có pháp tính, vì các hiền thánh nên nói không pháp tính. Vì chẳng “Không” thì thấy pháp không nên tu không tam muội khiến cho được thấy “Không”. Không pháp tính thì cũng tu Không nên không. Do nghĩa này nên tu không thì thấy không. Này thiện nam tử! Ông nói rằng, thấy không không là không có pháp thì thấy cái gì? Này thiện nam tử! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðại Bồ tát quả thật không sở kiến. Không sở kiến thì tức là không sở hữu không sở hữu thì tức là tất cả pháp. Ðại Bồ tát tu Ðại Niết Bàn thì đối với tất cả pháp đều không sở kiến. nếu có thấy thì chẳng thấy Phật tính, chẳng thể tu tập Bát nhã Ba la mật, chẳng được vào với Ðại Bát Niết Bàn. Vậy nên Bồ tát thấy tính của tất cả pháp không sở hữu. Này thiện nam tử! Bồ tát chẳng những chỉ nhân thấy tam muội mà thấy không, Bát nhã Ba la mật cũng không, Thiền Ba la mật cũng không, Tỳ lê gia Ba la mật cũng không, Sằn đề Ba la mật cũng không, Thi Ba la mật cũng không, Ðàn Ba la mật cũng không, sắc cũng không, nhãn cũng không, thức cũng không, Như Lai cũng không, Ðại Bát Niết Bàn cũng không... Vậy nên Bồ tát thấy tất cả pháp đều là không. Vậy nên khi ta ở tại thành Ca Tỳ La có bảo ông A Nan rằng: “Ông chớ sầu não kêu gào khóc lóc!” Ông A Nan liền đáp rằng: “Thưa đức Như Lai Thế Tôn! Thân thuộc của con hôm nay đều bị diệt hết thì con làm sao chẳng buồn khóc vậy? Ðức Như Lai cùng con đều sinh ra ở thành này, cùng đồng họ Thích, thân thích, quyến thuộc mà sao đức Như Lai một mình chẳng sầu não, nét mặt sáng ngời?” Này thiện nam tử! Ta lại bảo rằng: “Này A Nan! Ông thấy thành Ca Tỳ La chân thật là có, còn ta thấy không tịch, không sở hữu! Ông thấy dòng họ Thích là thân thích, còn ta tu Không nên đều không sở kiến! Do nhân duyên này nên ông sinh ra sầu khổ, còn thân ta thì dung nhan lại ngời sáng. Các đức Phật, Bồ tát tu tập Không tam muội như vậy nên chẳng sinh ra sầu não. Ðó gọi là Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ chín. Này thiện nam tử! Sao gọi là Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ mười sau cùng? Này thiện nam tử! Bồ tát tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo, vào Ðại Niết Bàn Thường Lạc Ngã Tịnh, vì các chúng sinh phân biệt giải nói kinh Ðại Niết Bàn, hiển bày Phật tính. Nếu Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chi Phật, Bồ tát tin lời nói này thì đều được vào với Ðại Bát Niết Bàn. Nếu họ chẳng tin thì luân hồi sinh tử.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những chúng sinh nào đối với kinh này chẳng sinh lòng cung kính?

- Này thiện nam tử! Sau khi ta Niết Bàn, có đệ tử Thanh Văn ngu si, phá giới, ưa sinh ra tranh cãi, bỏ mười hai bộ Kinh mà đi đọc tụng đủ thứ sách điển của ngoại đạo, làm văn khen ngợi, tự tay ghi chép. Họ nhận nuôi chứa tất cả vật bất tịnh mà nói là Phật cho phép. Người như vậy đem chiên đàn tốt đổi lấy gỗ thường, đem vàng đổi lấy đá quặng, bạc đổi lấy bạch lạp (hợp kim thiếc pha chì), lụa đổi vải sô, đem vị cam lộ đổi lấy ác độc. Sao gọi là chiên đàn đổi lấy gỗ thường? Như đệ tử của ta vì sự cúng dường nên hướng về những người bạch y, diễn nói kinh pháp. Tính tình buông thả, chẳng ưa nghe pháp, bạch y ở trên cao, Tỳ kheo ở dưới thấp, thêm dùng đủ thứ đồ ăn ngon mà cung cấp cho họ mà họ còn chẳng chịu nghe. Ðó gọi là đem chiên đàn đổi lấy gỗ thường. Sao gọi là đem vàng đổi lấy đá quặng? Ðá quặng ví cho sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vàng đem ví cho Giới. Các đệ tử của ta dùng nhân duyên sắc phá sự thọ giới. Ðó gọi là đem vàng đổi lấy quặng đá. Sao gọi là đem bạc đổi lấy bạch lạp. Bạc ví cho mười thiện, bạch lạp ví cho mười ác. Các đệ tử của ta buông bỏ mười thiện, làm mười pháp ác. Ðó gọi là đem bạc đổi lấy bạch lạp. Sao gọi là đem lụa đổi lấy vải thô. Vải thô ví cho không tàm không quí, lụa ví cho tàm quí (hổ thẹn). Các đệ tử của ta buông bỏ tàm quí, tập quen không tàm quí. Ðó gọi là đem lụa đổi lấy vải thô. Sao gọi là cam lộ đổi lấy độc dược. Ðộc dược là ví cho đủ thứ lợi dưỡng, cam lộ là ví cho các pháp vô lậu. Các đệ tử của ta vì lợi dưỡng nên hướng về các bạch y mà tự khen mình rằng, được vô lậu. Ðó gọi là đem cam lộ đổi lấy độc dược. Do những ác Tỳ kheo như vậy nên đang khi Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này lưu hành trải rộng cõi Diêm Phù Ðề mà có các đệ tử thọ trì, đọc tụng, sao chép kinh này và diễn nói, lưu bố thì bị những Tỳ kheo ác như vậy giết hại họ. Những ác Tỳ kheo đó cùng nhau tụ hội, chung nhau lập định chế nghiêm ngặt: “Nếu có người thọ trì kinh Ðại Niết Bàn, sao chép, đọc tụng, phân biệt, diễn nói thì tất cả chẳng được ở chung, ngồi chung đàm luận nói năng. Vì sao vậy? Vì Kinh Niết Bàn chẳng phải là của Phật, là sự tạo ra của tà kiến mà người tà kiến tức là Lục sư ngoại đạo. Lời nói của lục sư thì chẳng phải là Kinh điển của Phật. Sở dĩ vì sao? Vì tất cả các đức Phật đều nói là các pháp vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh. Nếu nói rằng, các pháp Thường Lạc Ngã Tịnh thì đâu phải là lời nói Kinh của Phật. Các đức Phật, Bồ tát cho phép các Tỳ kheo nuôi chứa đủ thứ vật, còn lời nói của Lục sư thì chẳng cho phép đệ tử nuôi chứa tất cả vật. Nghĩa như vậy thì đâu phải là lời nói của Phật. Các đức Phật, Bồ tát chẳng cấm chế đệ tử đoạn dứt năm vị của trâu và cả ăn thịt máu, còn Lục sư chẳng cho phép ăn năm thứ muối, năm thứ vị của trâu và cả mỡ, máu. Nếu đoạn dứt điều đó thì đâu phải là chánh điển của Phật. Các đức Phật, Bồ tát diễn nói ba thừa mà trong Kinh này thuần nói Nhất thừa, gọi là Ðại Niết Bàn. Như lời nói Kinh này thì đâu phải là chánh điển của Phật. Các đức Phật rốt ráo vào với Niết Bàn, còn Kinh này nói rằng, Phật Thường Lạc Ngã Tịnh chẳng vào Niết Bàn. Kinh này chẳng ở trong số mười hai bộ Kinh tức là lời nói của ma, chẳng phải là lời nói của Phật”. Này thiện nam tử! Người như vậy tuy là đệ tử của ta nhưng chẳng thể tin thuận Kinh Niết Bàn này. Này thiện nam tử! Ðương lúc ấy, nếu có chúng sinh tin Kinh điển này, thậm chí chỉ nửa câu kệ thì phải biết người này là chân đệ tử của ta. Nhân họ tin như vậy nên liền thấy Phật tính vào với Niết Bàn.

Bấy giờ, Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quí Ðức Vương bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Hay thay! Hay thay! Ngày hôm nay đức Như Lai khéo có thể khai thị Kinh Ðại Niết Bàn! Thưa đức Thế Tôn! Con nhân việc này liền được giải ngộ từng nửa câu, từng câu của Kinh Ðại Niết Bàn. Do giải được một câu đến nửa câu nên thấy ít Phật tính! Như lời đức Phật nói thì con cũng sẽ được vào Ðại Niết Bàn. Ðó gọi là Bồ tát tu Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ mười.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi bốn hết -


25/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Lăm

PHẨM BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG Thứ Hai Mươi Ba

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo tất cả đại chúng rằng:

- Này các thiện nam tử! Nếu các ông nghi ngờ có Phật hay không Phật, có pháp hay không pháp, có Tăng hay không Tăng, có khổ hay không khổ, có tập hay không tập, có diệt hay không diệt, có đạo hay không đạo, có thật hay không thật, có ngã hay không ngã, có vui hay không vui, có tịnh hay không tịnh, có thường hay không thường, có thừa hay không thừa, có tính hay không tính, có chúng sinh hay không chúng sinh, có hữu hay không hữu, có chân hay không chân, có nhân hay không nhân, có quả hay không quả, có tác hay không tác, có nghiệp hay không nghiệp, có báo hay không báo, thì nay ta cho mặc ý ông hỏi. Ta sẽ vì các ông phân biệt giải nói! Này thiện nam tử! Ta thật chẳng thấy hoặc trời, hoặc người, hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc Sa môn, hoặc Bà la môn có đến hỏi mà ta chẳng thể đáp!

Lúc bấy giờ, trong hội có một vị Bồ tát tên là Sư Tử Hống, liền đứng dậy, thu liễm dung nhan, sửa sang y phục, trước lễ dưới chân đức Phật, quì dài, tréo tay bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con vừa muốn hỏi thì đức Như Lai đại từ đã rũ lòng thương cho phép!

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các đại chúng rằng:

- Này các thiện nam tử! Nay các ông phải đối với vị Bồ tát này sinh lòng cung kính sâu sắc, tôn trọng, khen ngợi, phải dùng đủ thứ hương hoa, kỹ nhạc, chuỗi ngọc, tràng phan, bảo cái, quần áo, đồ ăn uống, ngọa cụ, y dược, phòng nhà, điện đường... mà cúng dường, rước đến, đưa đi. Sở dĩ vì sao? Vì người này đã ở chỗ các đức Phật quá khứ, trồng sâu căn lành, thành tựu phước đức. Vậy nên hôm nay, ở trước ta ông muốn rống tiếng sư tử. Này thiện nam tử! Như vua sư tử tự biết thân lực, nanh vuốt nhọn hoắt, bốn chân chống đất, an trụ trong hang nghiêm bị, đập đuôi phát ra tiếng. Nếu sư tử có đủ các tướng như vậy thì phải biết nó có thể rống tiếng sư tử. Vua sư tử chân thật sáng sớm ra khỏi hang, vươn vai ngáp dài, quay nhìn bốn hướng, phát ra tiếng rống chấn động vì mười một việc. Những gì là mười một? Một là vì muốn hoại chẳng phải sư tử thật mà giả làm sư tử. Hai là muốn thử thách thân lực của mình. Ba là vì muốn chỗ ở sạch. Bốn là vì muốn các con biết chỗ ở. Năm là vì muốn bày đàn không lòng kinh sợ. Sáu là vì muốn người ngủ được thức tỉnh. Bảy là vì muốn tất cả các loài thú phóng dật chẳng buông lung. Tám là vì muốn các loài thú đến nhờ nương cận kề. Chín là vì muốn điều phục các con hương tượng. Mười là vì muốn dạy bảo những vợ con. Mười một là vì muốn trang nghiêm quyến thuộc của mình. Tất cả loài cầm thú nghe tiếng rống sư tử thì loài sống dưới nước lặn chìm vực sâu, loài đi trên đất giấu mình trong hang động, loài bay trên không rơi rớt xuống. Những con hương tượng lớn sợ chạy vãi phân... Này thiện nam tử! Như loài dã thú kia cho dù có đuổi theo sư tử đến hàng trăm năm thì nhất định chẳng thể tạo được tiếng rống của sư tử. Nếu sư tử bắt đầu tròn ba tuổi thì có thể kêu rống như vua sư tử. Này thiện nam tử! Thân đầy đủ nanh vuốt trí tuệ, bốn như ý túc, sáu Ba la mật của Như Lai với mười lực hùng mạnh, đại Bi làm đuôi, an trụ trong hang thanh tịnh Tứ Thiền, Như Lai vì các chúng sinh mà rống tiếng sư tử, diệt phá ma quân, mười lực thị chúng, mở hành xứ của Phật, vì các tà kiến làm chỗ quy y, an ủi vỗ về chúng sinh kinh sợ sinh tử, thức tỉnh chúng sinh trong giấc ngủ vô minh, người làm ác pháp vì họ tạo tác lòng hối hận, khai thị tất cả chúng sinh tà kiến khiến cho họ biết hàng Lục Sư chẳng phải là sư tử hống, phá lòng kiêu mạn của Phú lan na. Vì khiến cho hàng Nhị thừa sinh lòng hối hận, vì dạy các Bồ tát năm trụ, v.v... sinh tâm đại Lực, vì khiến cho bốn bộ chúng chánh kiến đối với bốn bộ đồ đảng tà kiến kia chẳng sinh ra sợ hãi... nên từ trong hang động Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh vươn vai mà ra. Vì muốn khiến cho những chúng sinh đó, v.v... phá kiêu mạn nên ngáp dài. Vì khiến cho các chúng sinh, v.v... sinh ra thiện pháp nên quay nhìn bốn hướng. Vì khiến cho chúng sinh được bốn ngại nên bốn chân chống đất. Vì khiến cho chúng sinh an trụ đầy đủ ở Thi Ba la mật nên rống tiếng sư tử. Tiếng rống sư tử gọi là lời nói quyết định, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như Lai thường trụ không có biến dịch. Này thiện nam tử! Thanh Văn, Duyên Giác tuy lại theo đuổi Như Lai Thế Tôn đến vô lượng trăm ngàn A tăng kỳ kiếp mà cũng chẳng thể làm nên tiếng rống sư tử. Bồ tát Thập Trụ nếu có thể tu hành ba hành xứ này thì phải biết là có thể rống tiếng sư tử. Này các thiện nam tử! Ðại Bồ tát Sư Tử Hống này hôm nay muốn rống lên tiếng sư tử lớn như vậy. Vậy nên thâm tâm các ông cần phải cúng dường cung kính, tôn trọng khen ngợi!

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ðại Bồ tát Sư Tử Hống rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu ông muốn hỏi thì hôm nay có thể tùy ý!

Ðại Bồ tát Sư Tử Hống bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Phật tính? Do ý nghĩa gì nên gọi là Phật tính? Vì sao lại gọi là Thường Lạc Ngã Tịnh? Nếu tất cả chúng sinh có Phật tính thì vì sao chẳng thấy Phật tính sở hữu của tất cả chúng sinh? Bồ tát Thập Trụ trụ ở những pháp gì mà chẳng thấy rõ ràng? Phật trụ ở những pháp gì mà thấy rõ ràng? Bồ tát Thập Trụ dùng những mắt gì mà chẳng thấy rõ ràng? Phật dùng mắt gì mà thấy rõ ràng?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Hay thay! Hay thay! Nếu có người có thể vì pháp hỏi han thì được đầy đủ hai thứ trang nghiêm, một là trí tuệ, hai là phước đức. Nếu có Bồ tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy thì biết được Phật tính và cũng giải biết sao gọi là Phật tính... cho đến có thể biết Bồ tát Thập Trụ dùng mắt gì để thấy, các đức Phật Thế Tôn dùng mắt gì để thấy!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Trí Tuệ trang nghiêm? Sao gọi là phước đức trang nghiêm?

- Này thiện nam tử! Tuệ trang nghiêm là gọi từ Nhất Ðịa cho đến Thập Ðịa. Ðó gọi là Tuệ trang nghiêm. Phước đức trang nghiêm là gọi từ Ðàn Ba la mật cho đến Bát nhã, chẳng phải là Bát nhã Ba la mật. Lại nữa, tuệ trang nghiêm là gọi các đức Phật, Bồ tát. Phước đức trang nghiêm là gọi Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát cữu trụ.

Lại nữa, này thiện nam tử! Phước đức trang nghiêm là hữu vi, hữu lậu, có hữu, có quả báo, có ngăn ngại, chẳng phải thường... là những pháp phàm phu. Tuệ trang nghiêm là vô vi, vô lậu, không hữu, không quả báo, không ngăn ngại, thường trụ. Này thiện nam tử! Nay ông đầy đủ hai thứ trang nghiêm này nên có thể hỏi diệu nghĩa thậm thâm. Ta cũng đầy đủ hai thứ trang nghiêm này nên có thể đáp nghĩa đó.

Ðại Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu có Bồ tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy, thì chẳng nên hỏi một thứ, hai thứ... thì sao đức Thế Tôn nói rằng có thể đáp một thứ, hai thứ. Sở dĩ vì sao? Vì tất cả các pháp không một, hai thứ. Một thứ, hai thứ là tướng của phàm phu.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát không có hai thứ trang nghiêm thì chẳng thể biết một thứ, hai thứ. Nếu có Bồ tát đủ hai thứ trang nghiêm thì có thể giải biết một thứ, hai thứ. Nếu nói rằng các pháp không một, hai thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao vậy? Nếu không một, hai thì làm sao được nói tất cả các pháp không một, không hai... Này thiện nam tử! Nếu nói rằng, một, hai là tướng của phàm phu thì đó mới gọi là Bồ tát Thập Trụ, chẳng phải phàm phu. Vì sao vậy? Vì một là gọi Niết Bàn, hai là gọi sinh tử. Vì sao một thì gọi là Niết Bàn? Vì một ấy thường! Vì sao hai thì gọi là sinh tử? Vì thọ vô minh. Thường Niết Bàn thì chẳng phải tướng phàm phu. Sinh tử là hai thì cũng chẳng phải tướng phàm phu. Do nghĩa này nên người đủ hai trang nghiêm thì có thể hỏi, có thể đáp. Này thiện nam tử! Ông hỏi, sao gọi là Phật tính? Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt giải nói! Này thiện nam tử! Phật tính là gọi Ðệ Nhất Nghĩa Không. Ðệ Nhất Nghĩa Không gọi là trí tuệ. Sở dĩ nói không là chẳng thấy không cùng chẳng không. Người trí tuệ thấy không và cùng chẳng không, thường cùng vô thường, khổ cùng vui, ngã cùng vô ngã. Không là tất cả sinh tử, chẳng không thì gọi là Ðại Niết Bàn... cho đến vô ngã tức là sinh tử. Ngã thì gọi là Ðại Niết Bàn. Thấy tất cả không, chẳng thấy chẳng không chẳng gọi là trung đạo... cho đến thấy tất cả vô ngã, chẳng thấy ngã thì chẳng gọi là trung đạo. Trung đạo thì gọi là Phật tính. Do nghĩa này nên Phật tính thường hằng không có biến dịch, vì vô minh che nên khiến cho chúng sinh chẳng thể được thấy. Thanh Văn, Duyên Giác thấy tất cả không, chẳng thấy chẳng không... cho đến thấy tất cả vô ngã, chẳng thấy được ngã. Do nghĩa này nên họ chẳng được đệ nhất nghĩa không. Chẳng được Ðệ nhất nghĩa không nên chẳng hành trung đạo. Không trung đạo nên chẳng thấy Phật tính. Này thiện nam tử! Người chẳng thấy trung đạo thì thường có ba hạng, một là Ðịnh Lạc hạnh, hai là Ðịnh Khổ hạnh, ba là Khổ Lạc hạnh. Ðịnh Lạc hạnh là gọi Ðại Bồ tát thương xót tất cả chúng sinh nên tuy ở tại địa ngục A tỳ nhưng như niềm vui Tam thiền. Ðịnh khổ hạnh là gọi các phàm phu. Khổ lạc hạnh là gọi Thanh Văn, Duyên Giác. Thanh Văn, Duyên Giác hành theo khổ lạc, tác khởi tư tưởng trung đạo. Do nghĩa này nên tuy có Phật tính mà chẳng thể thấy. Như lời ông đã hỏi, do nghĩa gì nên gọi là Phật tính? Này thiện nam tử! Phật tính thì tức là chủng tử trung đạo của tất cả các đức Phật Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðạo có ba thứ là hạ, thượng, trung. Hạ là Phạm thiên, vô thường lầm thấy là thường. Hạ là sinh tử vô thường lầm thấy là thường, Tam Bảo là thường mà ngang ngược kể là vô thường. Sao gọi là Thượng? Có thể được tối thượng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Trung thì gọi là Ðệ nhất nghĩa không, vô thường thấy vô, thường thấy là thường. Ðệ nhất nghĩa không chẳng gọi là hạ. Vì sao vậy? Vì điều chẳng thể được của tất cả phàm phu nên chẳng gọi là Thượng. Vì sao vậy? Vì tức là Thượng vậy. Ðạo tu hành của các đức Phật, Bồ tát chẳng thượng, chẳng hạ. Do nghĩa này nên gọi là trung đạo vậy.

Lại nữa, này thiện nam tử! Này thiện nam tử! Bản tế của sinh tử thường có hai thứ, một là vô minh, hai là hữu ái. Trung gian của hai thứ này thì có khổ, sinh, già, bệnh, chết. Ðó gọi là Trung đạo. Như vậy trung đạo có thể phá sinh tử nên gọi là trung. Do nghĩa này nên pháp trung đạo gọi là Phật tính. Vậy nên Phật tính Thường Lạc Ngã Tịnh. Do các chúng sinh chẳng thể thấy nên cho là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Phật tính thật chẳng phải vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Này thiện nam tử! Ví như nhà người nghèo có bảo tàng mà người đó chẳng thấy. Do chẳng thấy nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Có người thiện tri thức nói với người đó rằng: “Trong nhà ông có Kim bảo tàng (kho báu chứa vàng) mà vì sao ông bần cùng khốn khổ, vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh như vậy?” Người này liền dùng phương tiện khiến cho người nghèo kia thấy được. Do được thấy nên người đó liền được Thường Lạc Ngã Tịnh. Phật tính cũng vậy, chúng sinh chẳng thấy mà do chẳng thấy nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Có thiện tri thức các đức Phật, Bồ tát dùng phương tiện lực, đủ thứ lời dạy bảo khiến cho những chúng sinh đó được thấy. Do được thấy nên chúng sinh liền được Thường Lạc Ngã Tịnh.

Lại nữa, này thiện nam tử! Chúng sinh khởi kiến thường có hai thứ, một là thường kiến, hai là đoạn kiến. Hai kiến như vậy chẳng gọi là trung đạo, vô thường vô đoạn mới gọi là trung đạo. Vô thường vô đoạn tức là trí quán chiếu mười hai duyên. Trí quán như vậy thì gọi là Phật tính. Người Nhị thừa tuy quán nhân duyên nhưng còn cũng chẳng được gọi là Phật tính. Phật tính tuy thường do các chúng sinh bị vô minh che nên chẳng thể được thấy, lại chưa có thể qua khỏi dòng sông mười hai duyên, giống như con thỏ, con ngựa. Vì sao vậy? Vì chẳng thấy Phật tính vậy. Này thiện nam tử! Trí tuệ quán mười hai nhân duyên này tức là hạt giống Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tính. Này thiện nam tử! Ví như nấm hồ gọi là bệnh nóng. Vì sao vậy? Vì nó có thể vì bệnh nóng làm nhân duyên. Mười hai nhân duyên cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Phật tính thì có nhân, có nhân của nhân, có quả, có quả của quả. Có nhân tức là mười hai nhân duyên. Nhân của nhân thì tức là trí tuệ. Có quả thì tức là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Quả của quả tức là Vô Thượng Ðại Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như vô minh là nhân, các hành là quả, hành là nhân, thức là quả. Do nghĩa này nên thể của vô minh đó cũng là nhân cũng là nhân của nhân và thức cũng là quả, cũng là quả của quả. Phật tính cũng vậy. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên chẳng sinh ra, chẳng diệt đi, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng lại, chẳng đi, chẳng nhân, chẳng phải quả. Này thiện nam tử! Nhân này chẳng phải quả. Như Phật tính là quả chẳng phải nhân. Như Ðại Niết Bàn là nhân, là quả. Như pháp sở sinh của mười hai nhân duyên chẳng phải nhân, chẳng phải quả nên gọi là Phật tính, chẳng phải nhân quả nên thường hằng không biến dịch. Do nghĩa này nên trong kinh ta nói mười hai nhân duyên, nghĩa ấy thậm thâm, không biết, không thấy, chẳng thể nghĩ bàn, là cảnh giới của các đức Phật, Bồ tát, chẳng phải các Thanh Văn, Duyên Giác bì kịp. Do nghĩa gì nên rất sâu rất sâu? Nghiệp hành của chúng sinh chẳng thường, chẳng đoạn mà được quả báo, tuy niệm niệm diệt mà không có gì mất, tuy không tác giả mà có tác nghiệp, tuy không người thọ mà có quả báo. Người thọ tuy diệt nhưng quả chẳng bại vong, tuy không có nghĩ biết, hòa hợp mà có tất cả chúng sinh, tuy cùng mười hai nhân duyên hành động chung mà chẳng thấy biết mà chẳng thấy biết nên không có đầu, cuối. Bồ tát Thập Trụ chỉ thấy cuối nghiệp hành ấy, chẳng thấy đầu của nghiệp hành ấy. Các đức Phật Thế Tôn thì thấy đầu, thấy cuối. Do nghĩa này nên các đức Phật được thấy Phật tính rõ ràng. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh chẳng thể thấy đến mười hai nhân duyên nên bị luân chuyển. Này thiện nam tử! Như con tằm làm kén tự sinh, tự chết. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, chẳng thấy Phật tính nên tự tạo kết nghiệp lưu chuyển sinh tử giống như đá cầu. Này thiện nam tử! Vậy nên ở trong các Kinh ta nói rằng, nếu có người thấy mười hai nhân duyên thì tức là thấy pháp mà thấy pháp tức là thấy Phật. Phật tức là Phật tính. Vì sao vậy? Vì tất cả các đức Phật lấy Phật tính này làm tính. Này thiện nam tử! Trí quán mười hai nhân duyên thường có bốn thứ, một là hạ, hai là trung, ba là thượng, bốn là thượng thượng. Người hạ trí quán chẳng thấy Phật tính. Do chẳng thấy nên họ được đạo Thanh Văn. Người trung trí quán thì chẳng thấy Phật tính mà do chẳng thấy nên được đạo Duyên Giác. Người thượng trí quán thì thấy Phật tính chẳng rõ ràng mà thấy chẳng rõ ràng nên trụ ở Thập Trụ Ðịa. Người thượng thượng trí quán thì thấy Phật tính rõ ràng nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tính. Phật tính tức là Ðệ nhất nghĩa không. Ðệ nhất nghĩa không gọi là trung đạo. Trung đạo tức là Phật mà Phật gọi là Niết Bàn.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Sư Tử Hống bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu Phật cùng Phật tính không sai khác thì tất cả chúng sinh cần gì phải tu đạo?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như lời ông hỏi thì nghĩa này chẳng đúng! Phật cùng Phật tính tuy không sai khác, nhưng các chúng sinh đều chưa đầy đủ. Này thiện nam tử! Ví như có người ác tâm hại mẹ, hại rồi sinh ra hối hận. Nghiệp thứ hai tuy tốt nhưng người này gọi là người địa ngục. Vì sao vậy? Vì người này nhất định phải đọa địa ngục. Người này tuy không địa ngục, ấm, giới, các nhập nhưng còn được gọi là người địa ngục. Này thiện nam tử! Vậy nên ở trong các Kinh ta nói rằng, nếu thấy có người tu hành thiện thì gọi là thấy trời người. Người tu hành ác thì gọi là thấy địa ngục. Vì sao vậy? Vì nhất định thọ báo. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh nhất định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Tất cả chúng sinh chân thật chưa có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Do nghĩa này nên ở Kinh này ta nói bài kệ này:

Trước có nay không Trước không nay có

Pháp ba đời có Ðiều này là không.

Này thiện nam tử! Có thì thường có ba thứ, một là vị lai có, hai là hiện tại có, ba là quá khứ có. Tất cả chúng sinh đời vị lai sẽ có Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó gọi là Phật tính. Tất cả chúng sinh hiện tại đều có những kết phiền não nên hiện tại không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tất cả chúng sinh đời quá khứ mà có đoạn trừ phiền não nên hiện tại được thấy Phật tính. Do nghĩa này nên ta thường tuyên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, thậm chí nhất xiển đề, v.v... cũng có Phật tính. Nhất xiển đề, v.v... không có thiện pháp mà Phật tính cũng thiện. Do đời vị lai sẽ có nên Nhất xiển đề, v.v... đều có Phật tính. Vì sao vậy? Vì nhất xiển đề, v.v... nhất định sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Ví như có người, trong nhà có cao sữa. Có người hỏi hắn rằng: “Ông có váng sữa không vậy?” Ðáp rằng: “Ta có cao sữa, thật chẳng phải váng sữa. Nhưng ta dùng phương tiện khéo thì nhất định sẽ có được nên nói rằng, có váng sữa”. Chúng sinh cũng vậy, họ đều có tâm mà phàm có tâm thì nhất định sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên ta thường tuyên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Này thiện nam tử! Rốt ráo (tất cánh) có hai thứ, một là trang nghiêm rốt ráo, hai là cứu cánh rốt ráo. Một là thế gian rốt ráo, hai là xuất thế gian rốt ráo. Trang nghiêm rốt ráo là sáu Ba la mật. Cứu cánh rốt ráo là tất cả chúng sinh được Nhất thừa. Nhất Thừa thì gọi là Phật tính. Do nghĩa này nên ta nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tất cả chúng sinh đều có Nhất thừa nhưng vì vô minh che lấp nên chẳng thể được thấy. Này thiện nam tử! Như quả báo ba mươi ba trời cõi Uất Ðan Việt bị che khuất nên chúng sinh của thế gian này chẳng thể được thấy. Phật tính cũng vậy, các kiết sử che khuất nên chúng sinh chẳng thấy. Lại nữa, này thiện nam tử! Phật tính tức là Thủ Lăng Nghiêm tam muội, tính như Ðề hồ tức là mẹ của tất cả các đức Phật. Do sức lực của Thủ Lăng Nghiêm tam muội mà khiến cho các đức Phật Thường Lạc Ngã Tịnh. Tất cả chúng sinh đều có Thủ Lăng Nghiêm tam muội, nhưng vì chẳng tu hành nên chẳng được thấy. Vậy nên chẳng thể được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Thủ Lăng Nghiêm tam muội có năm thứ tên, một là Thủ Lăng Nghiêm tam muội, hai là Bát nhã Ba la mật, ba là Kim Cương tam muội, bốn là Sư Tử Hống tam muội, năm là Phật tính. Tùy theo sở tác của tam muội ấy khắp nơi nơi mà được danh xưng. Này thiện nam tử! Như một tam muội được đủ thứ tên: Như Thiền gọi là Tứ Thiền, căn gọi là Ðịnh Căn, lực gọi là Ðịnh Lực, giác gọi là Ðịnh Giác, chính gọi là Ðịnh Chính, Bát đại nhân giác gọi là Ðịnh Giác. Thủ Lăng Nghiêm định cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh đầy đủ ba định là Thượng, Trung, Hạ. Thượng định thì gọi là Phật tính. Do đó nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Trung định là tất cả chúng sinh đầy đủ sơ thiền, khi có nhân duyên thì có thể tu tập, nếu không có nhân duyên thì chẳng thể tu tập. Nhân duyên có hai thứ, một gọi là hỏa tai (tai họa lửa), hai gọi là phá kiết sử của dục giới. Do đó nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều đủ Trung định. Hạ định là trong mười Ðại Ðịa, tâm số định vậy. Do đó nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều đủ hạ định. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính nhưng vì phiền não che khuất nên chẳng thể được thấy. Bồ tát Thập Trụ tuy thấy Nhất Thừa nhưng chẳng biết Như Lai là pháp thường trụ. Do đó nên nói rằng, Bồ tát Thập Trụ tuy thấy Phật tính mà chẳng sáng tỏ. Này thiện nam tử! Thủ Lăng Nghiêm thì gọi là Rốt ráo tất cả. Nghiêm gọi là Kiên, tất cả rốt ráo mà được kiên cố thì gọi là Thủ Lăng Nghiêm. Do đó nên nói rằng, Thủ Lăng Nghiêm tam muội định gọi là Phật tính.

Này thiện nam tử! Một thuở, ta ở cạnh sông Ni Liên Thiền, bảo ông A Nan rằng: “Ta nay muốn tắm, ông hãy lấy áo và cả bát gỗ múc nước tắm!” Ta đã vào nước rồi thì tất cả loài chim bay, các loài thuộc dưới nước, trên đất đều đến xem ta. Bấy giờ lại có năm trăm vị Phạm Chí đến tại bờ sông. Nhân đến chỗ ta tắm, họ đều nói với nhau rằng: “Làm sao mà được tấm thân Kim Cương? Nếu giả sử ông Cù Ðàm chẳng nói đoạn kiến thì ta sẽ từ ấy khải thọ Trai pháp!” Này thiện nam tử! Lúc bấy giờ, ta dùng trí Tha Tâm biết được điều nghĩ của lòng Phạm Chí này nên bảo Phạm Chí rằng: “Sao gọi là ta nói đến Ðoạn Kiến?” Ông Phạm Chí đó nói rằng: “Thưa ông Cù Ðàm! Trước đây ở mọi chỗ trong Kinh, ông nói các chúng sinh đều không có ngã. Ðã nói rằng vô ngã thì sao gọi là chẳng phải Ðoạn kiến vậy? Nếu vô ngã thì người trì giới là ai? Người phá giới là ai?” Phật nói rằng: “Ta cũng chẳng nói tất cả chúng sinh đều không có ngã mà ta thường tuyên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Phật tính thì há chẳng phải là ngã sao? Do nghĩa này nên ta chẳng nói Ðoạn. Tất cả chúng sinh chẳng thấy Phật tính nên vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh. Như thế thì gọi là nói Ðoạn Kiến vậy”. Các Phạm Chí nghe nói Phật tính tức là ngã nên liền phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đồng thời xuất gia tu đạo Bồ Ðề. Tất cả các loài thuộc loại chim bay, sống dưới nước, ở trên đất cũng phát tâm Bồ Ðề Vô Thượng. Ðã phát tâm rồi thì chúng liền được xả thân. Này thiện nam tử! Phật tính này thật ra chẳng phải ngã, nhưng vì chúng sinh nên ta nói danh xưng là ngã. Này thiện nam tử! Như Lai có nhân duyên nên nói rằng, vô ngã là ngã mà chân thật là vô ngã. Tuy ta nói lời này nhưng không có hư vọng. Này thiện nam tử! Vì có nhân duyên nên nói ngã là vô ngã mà chân thật có ngã. Vì thế giới nên tuy nói vô ngã mà không hư vọng. Phật tính không ngã Như Lai nói ngã vì là thường vậy. Như Lai là ngã mà nói vô ngã được tự tại vậy.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Sư Tử Hống bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sinh đều có Phật tính như lực sĩ Kim Cương thì vì nghĩa gì mà tất cả chúng sinh chẳng thể được thấy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ví như sắc pháp tuy có khác về màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, về tính chất hình dáng dài ngắn... nhưng người mù chẳng thấy. Tuy họ chẳng thấy nhưng cũng chẳng được nói rằng, sắc pháp không có tính chất, hình dáng dài, ngắn, xanh, vàng, đỏ, trắng. Vì sao vậy? Vì tuy người mù chẳng thấy, nhưng người sáng mắt thì thấy. Phật tính cũng vậy, tất cả chúng sinh tuy chẳng thể thấy nhưng Bồ tát Thập Trụ thấy một phần ít, Như Lai thấy hoàn toàn. Bồ tát Thập Trụ thấy Phật tính như ban đêm thấy sắc. Việc thấy Phật tính của Như Lai thì như ban ngày thấy sắc. Này thiện nam tử! Ví như người mù lòa thấy sắc chẳng rõ. Có vị lương y trị liệu cho ông ấy, nhờ sức lực của thuốc nên được thấy rõ ràng. Bồ tát Thập Trụ cũng lại như vậy, tuy thấy Phật tính chẳng thể rõ ràng nhưng do lực của Thủ Lăng Nghiêm tam muội nên có thể được sáng tỏ. Này thiện nam tử! Nếu có người thấy tất cả pháp vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh và thấy chẳng phải tất cả pháp cũng vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh thì người như vậy chẳng thấy Phật tính. Tất cả thì gọi là sinh tử. Chẳng phải tất cả thì gọi là Tam Bảo. Thanh Văn, Duyên Giác thấy tất cả pháp vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh và chẳng phải tất cả pháp cũng thấy vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh. Do nghĩa này nên họ chẳng thấy Phật tính. Bồ tát Thập Trụ thấy tất cả pháp vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh, thấy chẳng phải tất cả pháp một phần ít Thường Lạc Ngã Tịnh. Do nghĩa này nên trong mười phần được thấy một phần. Các đức Phật Thế Tôn thấy tất cả pháp vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh, thấy chẳng phải tất cả pháp là Thường Lạc Ngã Tịnh. Do nghĩa này nên thấy Phật tính như xem trái A ma lặc trong lòng bàn tay. Do nghĩa này nên Thủ Lăng Nghiêm định gọi là Rốt ráo (tất cánh). Này thiện nam tử! Ví như trăng ngày đầu tiên tuy chẳng thể thấy nhưng chẳng được nói là không. Phật tính cũng vậy, tất cả phàm phu tuy chẳng được thấy nhưng cũng chẳng được nói là không có Phật tính vậy.

Này thiện nam tử! Phật tính thì như là mười lực, bốn vô sở úy, đại Bi, ba niệm xứ. Tất cả chúng sinh đều có ba thứ phá phiền não rồi nhiên hậu được thấy nhất xiển đề. Phá nhất xiển đề, rồi nhiên hậu được mười lực, bốn vô sở úy, đại Bi, ba niệm xứ. Do nghĩa này nên ta thường tuyên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính.

Này thiện nam tử! Mười hai nhân duyên thì tất cả chúng sinh đều chung có cả bên trong lẫn bên ngoài. Những gì là mười hai? Phiền não quá khứ gọi là vô minh, nghiệp quá khứ thì gọi là hành. Trong đời hiện tại khi bắt đầu thọ thai thì gọi là Thức. Vào thai mà năm phần tư căn chưa đủ thì gọi là Danh Sắc. Ðầy đủ bốn căn chưa gọi là Xúc thì đó gọi là Lục Nhập. Chưa phân biệt khổ vui thì đó gọi là Xúc. Nhiễm tập một ái thì gọi là Thọ. Quen gần năm dục thì đó gọi là Ái. Tham cầu trong, ngoài thì đó gọi là Thủ. Vì việc trong ngoài mà khởi lên nghiệp thân, miệng, ý thì gọi là Hữu. Thức của đời hiện tại gọi là vị lai Sinh. Danh sắc, lục nhập, xúc, thọ hiện tại gọi là Lão bệnh tử đời vị lai. Ðó gọi là mười hai nhân duyên. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh tuy có mười hai nhân duyên như vậy nhưng hoặc có loại chưa đủ. Như khi Ca la la chết thì không mười hai, từ sinh cho đến chết, được kể đủ mười hai. Chúng sinh cõi sắc không ba thứ thọ, ba thứ xúc, ba thứ ái, không có lão bệnh thì cũng được gọi là đầy đủ mười hai. Chúng sinh cõi Vô Sắc không sắc... cho đến không có lão tử mà cũng được gọi là đầy đủ mười hai. Do họ nhất định được nên gọi là chúng sinh bình đẳng có đủ mười hai nhân duyên. Này thiện nam tử! Phật tính cũng vậy, tất cả chúng sinh nhất định sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Này thiện nam tử! Núi Tuyết có thứ cỏ tên là Nhẫn Nhục, trâu ăn vào thì cho ra đề hồ. Ở đó lại có thứ cỏ khác, trâu nếu ăn thì không có đề hồ. Tuy không đề hồ nhưng chẳng thể nói rằng, trong núi Tuyết không có cỏ Nhẫn Nhục. Phật tính cũng vậy, núi Tuyết là gọi Như Lai, cỏ Nhẫn Nhục là gọi Ðại Niết Bàn, cỏ khác là mười hai bộ Kinh. Chúng sinh nếu có thể thính thọ, hỏi han, gợi mở Ðại Bát Niết Bàn thì thấy Phật tính. Trong mười hai bộ Kinh, tuy chẳng nghe nói có nhưng chẳng thể nói rằng, không Phật tính vậy.

Này thiện nam tử! Phật tính là cũng sắc, phi sắc, phi sắc phi phi sắc, cũng tướng, phi tướng, phi tướng phi phi tướng, cũng nhất (một), phi nhất, phi nhất phi phi nhất, phi thường, phi đoạn, phi phi thường, phi phi đoạn, cũng có, cũng không, chẳng phải có, chẳng phải không, cũng là tận, phi tận, phi tận phi phi tân, cũng nhân, cũng quả, chẳng phải nhân, chẳng phải quả, cũng là nghĩa, phi nghĩa, phi nghĩa phi phi nghĩa, cũng là tự (chữ), phi tự, phi tự phi phi tự. Sao gọi là sắc? Thân Kim Cương. Sao gọi là phi sắc? Mười tám pháp phi sắc bất cộng. Sao gọi là phi sắc phi phi sắc? Sắc phi sắc không có định tướng. Sao gọi là tướng. Ba mươi hai tướng. Sao gọi là phi tướng? Tướng của tất cả chúng sinh chẳng hiện ra. Sao gọi là phi tướng phi phi tướng? Tướng chẳng phải tướng chẳng quyết định. Sao gọi là nhất? Tất cả chúng sinh đều Nhất thừa. Sao gọi là phi nhất? Nói về Ba Thừa. Sao gọi là phi nhất phi phi nhất? Vô số pháp. Sao gọi là phi thường? Từ nhân duyên mà thấy. Sao gọi là đoạn? Lìa khỏi đoạn kiến. Sao gọi là phi phi thường, phi phi đoạn? Không thỉ chủng vậy. Sao gọi là hữu? Tất cả chúng sinh đều là hữu. Sao gọi là vô? Từ phương tiện khéo mà được thấy. Sao gọi là phi hữu phi vô? Tính của hư không vậy. Sao gọi là tận? Ðược Thủ Lăng Nghiêm tam muội. Sao gọi là phi tận? Vì tam muội ấy thường vậy. Sao gọi là phi tận phi phi tận? Tất cả tướng tận đoạn hết. Sao gọi là nhân? Vì rõ nhân vậy! Sao gọi là quả? Vì quả quyết định vậy. Sao gọi là phi nhân, phi quả? Vì nhân quả ấy thường. Sao gọi là nghĩa? Có thể nhiếp lấy hết nghĩa không ngại. Sao gọi là phi nghĩa? Chẳng thể nói vậy. Sao gọi là phi nghĩa phi phi nghĩa? Rốt ráo rỗng không vậy. Sao gọi là Tự (chữ)? Có danh xưng vậy. Sao gọi là phi tự? Tên không tên vậy. Sao gọi là phi tự phi phi tự? Ðạon dứt tất cả tự. Sao gọi là phi khổ phi lạc? Ðoạn dứt tất cả Thọ. Sao gọi là phi ngã? Chưa có thể đủ được tám tự tại. Sao gọi là phi phi ngã? Do ngã ấy thường. Sao gọi là phi ngã phi phi ngã? Chẳng tác, chẳng thọ vậy. Sao gọi là không? Ðệ nhất nghĩa không. Sao gọi là phi không? Do không ấy thường vậy. Sao gọi là phi không phi phi không? Có thể vì thiện pháp tạo tác chủng tử vậy. Này thiện nam tử! Nếu có người có thể suy nghĩ giải rõ nghĩa của Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì phải biết người này thấy được Phật tính. Phật tính chẳng thể nghĩ bàn mới chính là cảnh giới của các đức Phật Như Lai, chẳng phải là điều hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Phật tính chẳng phải là ấm, giới, nhập, chẳng phải vốn không nay có, chẳng phải đã có rồi trở lại không, từ nhân duyên thiện mà chúng sinh được thấy. Ví như sắt đen cho vào lửa thì đỏ, lấy ra lạnh thì trở lại đen, màu đen này chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài mà do nhân duyên nên có Phật tính cũng vậy, lửa phiền não diệt thì tất cả chúng sinh được nghe thấy. Này thiện nam tử! Như hạt giống diệt rồi thì mầm được sinh mà tính của mầm này chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài... cho đến hoa quả cũng lại như vậy, từ duyên nên có. Này thiện nam tử! Knh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này thành tựu đầy đủ vô lượng công đức. Phật tính cũng vậy, đều là sự thành tựu vô lượng vô biên công đức.

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Bồ tát thành tựu đầy đủ bao nhiêu pháp để được thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng? Các đức Phật thành tựu bao nhiêu pháp mà được thấy rõ ràng?

- Này thiện nam tử! Bồ tát thành tựu đầy đủ mười pháp tuy thấy Phật tính mà chẳng sáng tỏ. Những gì là mười? Một là thiểu dục, hai là tri túc, ba là tịch tịnh, bốn là tinh tấn, năm là chánh niệm, sáu là chánh định, bảy là chánh tuệ, tám là giải thoát, chín là khen ngợi giải thoát, mười là dùng Ðại Niết Bàn giáo hóa chúng sinh!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Thiểu dục và tri túc có gì sai biệt?

- Này thiện nam tử! Thiểu dục là chẳng cầu, chẳng lấy. Tri túc là khi được ít lòng chẳng hối hận. Thiểu dục là ít có sự ham muốn. Tri túc là chỉ vì pháp sự, lòng chẳng sầu não. Này thiện nam tử! Dục có ba thứ, một là ác dục, hai là đại dục, ba là dục dục. Ác dục là nếu có Tỳ kheo, lòng sinh tham dục muốn làm thượng thủ của tất cả chúng sinh, khiến cho tất cả chúng Tăng đuổi theo sau mình, khiến cho những bốn bộ chúng đều cúng dường, cung kính, khen ngợi, tôn trọng mình, mình trước vì bốn chúng nói pháp đều khiến cho tất cả tin thọ lời dạy của mình, cũng muốn khiến cho quốc vương, đại thần, trưởng giả đều cung kính mình, khiến cho mình được nhiều y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, nhà cửa đẹp đẽ... là dục của sinh tử. Ðó gọi là ác dục. Sao gọi là Ðại dục? Nếu có Tỳ kheo sinh ra dục tâm: “Làm sao sẽ khiến cho bốn bộ chúng đều biết ta được Sơ trụ địa... cho đến Thập Trụ địa? Ðược Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Ðược quả A la hán cho đến quả Tu đà hoàn? Ta được Tứ thiền cho đến vô ngại trí?” để vì lợi dưỡng. Ðó gọi là Ðại Dục. Dục dục là nếu có Tỳ kheo muốn sinh làm Phạm thiên, Ma thiên, Tự Tại thiên, Chuyển Luân Tánh Vương, hoặc Sát lợi, hoặc Bà la môn đều được tự tại là vì lợi dưỡng nên đó gọi là dục dục. Nếu chẳng bị sự hại của ba thứ ác dục này thì đó gọi là thiểu dục. Dục là gọi hai mươi lăm thứ yêu thích (ái). Không có hai mươi lăm thứ yêu thích như vậy thì đó gọi là thiểu dục. Chẳng cầu việc sở dục chưa đến thì đó gọi là thiểu dục. Ðược mà chẳng đắm trước thì đó gọi là tri túc. Chẳng cầu cung kính, đó gọi là thiểu dục. Ðược chẳng tích tụ, đó gọi là tri túc. Này thiện nam tử! Cũng có thiểu dục chẳng gọi là tri túc, có tri túc chẳng gọi là thiểu dục, cũng có thiểu dục cũng tri túc, có chẳng tri túc chẳng thiểu dục. Thiểu dục là gọi Tu đà hoàn, tri túc là gọi Bích Chi Phật, thiểu dục tri túc là gọi A la hán, chẳng thiểu dục chẳng tri túc là gọi Bồ tát. Này thiện nam tử! Thiểu dục tri túc lại có hai thứ, một là thiện, hai là chẳng thiện. Chẳng thiện là gọi phàm phu. Thiện là thánh nhân Bồ tát. Tất cả Thánh nhân tuy được đạo quả nhưng chẳng tự xưng nói. Chẳng xưng nói nên lòng chẳng não hận. Ðó gọi là tri túc. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu tập Kinh Ðại Thừa Ðại Niết Bàn muốn thấy Phật tính nên tu tập thiểu dục tri túc. Sao gọi là tịch tịnh? Tịch tịnh có hai, một là tâm tịch tịnh, hai là thân tịch tịnh. Thân tịch tịnh thì nhất định chẳng tạo tác ba thứ ác của thân. Tâm tịch tịnh thì cũng chẳng tạo tác ba thứ ác của ý. Ðó gọi là thân tâm tịch tịnh. Thân tịch tịnh là chẳng thân cận bốn chúng, chẳng can dự vào sự nghiệp sở hữu của bốn chúng. Tâm tịch tịnh là nhất định chẳng tu tập tham dục, sân nhuế, ngu si. Ðó gọi là thân tâm tịch tịnh. Hoặc có Tỳ kheo, thân tuy tịch tịnh mà tâm chẳng tịch tịnh, có tâm tịch tịnh mà thân chẳng tịch tịnh, có thân tâm tịch tịnh, lại có thâm tâm đều chẳng tịch tịnh. Thân tịch tịnh tâm chẳng tịch tịnh là, hoặc có Tỳ kheo ngồi thiền chỗ tịch tịnh, xa lìa bốn chúng mà tâm thường tích tập tham dục, sân nhuế, ngu si. Ðó gọi là thân tịch tịnh, tâm chẳng tịch tịnh. Tâm tịch tịnh thân chẳng tịch tịnh là, hoặc có Tỳ kheo thân cận bốn chúng, quốc vương, đại thần mà đoạn trừ tham, sân, si. Ðó gọi là tâm tịch tịnh thân chẳng tịch tịnh. Thân tâm tịch tịnh là gọi các đức Phật, Bồ tát. Thân tâm chẳng tịch tịnh là gọi các phàm phu. Vì sao vậy? Vì người phàm phu tuy thân tâm có tịch tịnh nhưng chẳng thể quan sát sâu vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Do nghĩa này nên người phàm phu chẳng thể tịch tịnh nghiệp của thân, miệng, ý. Bọn nhất xiển đề phạm bốn trọng cấm, tạo nên tội ngũ nghịch... người như vậy cũng chẳng được gọi là thân tâm tịch tịnh. Sao gọi là tinh tấn? Nếu có Tỳ kheo muốn khiến cho nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh, xa lìa tất cả các nghiệp bất thiện, tu tập tất cả các nghiệp thiện thì đó gọi là tinh tấn. Người đủ tinh tấn thì luôn nghĩ đến sáu chỗ là Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Trời. Ðó gọi là Chánh niệm. Người đủ Chánh niệm thì sở đắc tam muội. Ðó gọi là Chánh định. Người đủ Chánh định thì xem thấy các pháp giống như hư không. Ðó gọi là Chánh tuệ. Người đủ Chánh tuệ thì xa lìa các kết của tất cả phiền não. Ðó gọi là giải thoát. Người được giải thoát vì các chúng sinh khen ngợi giải thoát rằng, giải thoát này thường hằng bất biến. Ðó gọi là tán thán giải thoát. Giải thoát tức là Vô Thượng Ðại Bát Niết Bàn. Niết Bàn tức là lửa các kết phiền não diệt. Lại, Niết Bàn gọi là nhà cửa. Vì sao vậy? Vì có thể ngăn chận gió mưa phiền não ác. Lại, Niết Bàn gọi là bến bãi. Vì sao vậy? Vì bốn dòng sông dữ chẳng thể cuốn trôi. Những gì là bốn? Một là Dục bạo, hai là Hữu bạo, ba là Kiến bạo, bốn là Vô minh bạo (bạo ác, dữ). Vậy nên Niết Bàn gọi là bến bãi. Lại, Niết Bàn gọi là Về rốt ráo. Vì sao vậy? Vì có thể được tất cả niềm vui rốt ráo. Nếu có Ðại Bồ tát thành tựu đầy đủ mười pháp như vậy thì tuy thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam tử! Người xuất gia có bốn thứ bệnh nên chẳng được bốn quả Sa môn. Những gì là bốn bệnh? Ðó là bốn ác dục, một là y dục, hai là thực dục, ba là ngọa cụ dục, bốn là hữu dục. Ðó gọi là bốn ác dục. Bốn bệnh xuất gia này có bốn thứ thuốc hay có thể trị liệu chúng. Ðó là, Phấn tảo y có thể trị liệu Tỳ kheo bị bệnh y ác dục, Khất thực có thể phá bệnh thực ác dục, thọ hạ (ở dưới cây) có thể phá bệnh ngọa cụ ác dục, thân tâm tịch tịnh có thể phá trừ Tỳ kheo bị bệnh hữu ác dục. Nhờ bốn thứ thuốc này trừ được bốn bệnh đó. Bốn thứ thuốc này gọi là Thánh hạnh. Những hạnh Thánh như vậy được gọi là Thiểu dục tri túc. Tịch tịnh thì có bốn niềm vui. Những gì là bốn? Một là niềm vui xuất gia, hai là niềm vui tịch tịnh, ba là niềm vui vĩnh diệt, bốn là niềm vui rốt ráo. Ðược bốn niềm vui này gọi là Tịch Tịnh. Ðủ bốn tinh tấn nên gọi là Tinh Tấn. Ðủ bốn niệm xứ nên gọi là Chánh niệm. Ðủ bốn thiền nên gọi là Chánh định. Thấy bốn Thánh Thật nên gọi là Chánh tuệ. Ðoạn trừ vĩnh viễn tất cả phiền não kết nên gọi là giải thoát. Quở trách tất cả lỗi phiền não nên gọi là khen ngợi giải thoát. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát an trụ đầy đủ mười pháp như vậy thì tuy thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát nghe Kinh này rồi thì gần gũi tu tập, xa lìa tất cả việc của thế gian. Ðó gọi là thiểu dục. Ðã xuất gia rồi thì chẳng sinh lòng hối hận. Ðó gọi là Tri túc. Ðã tri túc rồi thì gần chỗ không nhàn, xa lìa ồn ào, rối loạn. Ðó gọi là tịch tịnh. Người chẳng biết tri túc thì chẳng ưa không nhàn. Phàm người tri túc thì thường ưa không tịch. Họ ở chỗ thường tác khởi ý niệm này: “Tất cả thế gian đều cho là ta được đạo quả Sa môn, nhưng ta nay thật ra chưa có thể được. Nay ta làm sao mà lừa dối, mê hoặc mọi người được?” Tác khởi ý niệm này rồi, họ tinh cần tu tập đạo quả Sa môn. Ðó gọi là Tinh tấn. Thân cận tu tập Ðại Niết Bàn thì đó gọi là Chánh niệm. Thuận theo thiên hạnh thì đó gọi là Chánh định. An trụ ở định này mà chánh kiến, chánh tri thì đó gọi là Chánh tuệ. Thấy biết chân chính thì có thể được xa lìa sự trói buộc của phiền não kết. Ðó gọi là giải thoát. Bồ tát Thập Trụ vì chúng sinh nên xưng nói tốt Niết Bàn thì đó gọi là khen ngợi Giải thoát. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát an trụ đầy đủ mười pháp như vậy thì tuy thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam tử! Luận về thiểu dục thì như có Tỳ kheo trụ ở chỗ không tịch, ngồi ngay ngắn, chẳng nằm. Hoặc Tỳ kheo trụ ở gốc cây, hoặc tại nghĩa địa, hoặc tại chỗ trống trải, tùy theo chỗ đất có cỏ mà ngồi lên, xin đồ ăn mà ăn, tùy theo đồ ăn xin được mà cho là đủ, hoặc một lần ngồi ăn chẳng quá một món ăn, chỉ cất giữ ba áo mà là áo phấn tảo cũ mục. Ðó gọi là thiểu dục. Ðã làm việc này mà lòng chẳng sinh ra hối hận thì đó gọi là Tri túc. Tu Không tam muội, đó gọi là Tịch tịnh. Ðược bốn quả rồi mà đối với tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác chẳng ngưng nghỉ thì đó gọi là Tinh tấn. Lòng luôn luôn suy nghĩ, Như Lai thường hằng không có biến dịch thì đó gọi là Chánh niệm. Tu tám Giải thoát thì đó gọi là Chánh định. Ðược bốn vô ngại thì đó gọi là Chánh tuệ. Xa lìa bảy lậu thì đó gọi là Giải thoát. Xưng nói tốt Niết Bàn không có mười tướng thì gọi là khen ngợi Giải thoát. Mười tướng là sinh, lão, bệnh, tử, sắc, thanh, hương, vị, xúc, vô thường. Xa lìa mười tướng thì gọi là Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Ðại Bồ tát an trụ đầy đủ mười pháp như vậy, tuy thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam tử! Vì nhiều dục nên gần gũi quốc vương, đại thần, trưởng giả, Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, Thủ đà và tự xưng là: “Ta được quả Tu đà hoàn... cho đến quả A la hán”. Vì lợi dưỡng nên đi, đứng, ngồi, nằm thậm chí cả khi đi đại, tiểu tiện lợi mà nếu thấy đàn việt còn hành lễ cung kính, tiếp dẫn, nói năng. Phá ác dục thì gọi là Thiểu dục. Tuy chưa có thể phá hoại hết các kết phiền não mà có thể đồng hành xứ với Như Lai. Ðó gọi là tri túc. Này thiện nam tử! Hai pháp như vậy mới là nhân duyên gần của Niệm Ðịnh thường được sự khen ngợi của người đồng học theo tông phái của thầy. Ta cũng thường ở khắp nơi nơi trong Kinh, xưng nói tốt đẹp, khen ngợi hai pháp như vậy. Nếu người có thể đầy đủ hai pháp này thì được gần với cửa Ðại Niết Bàn và năm thứ vui. Ðó gọi là tịch tịnh. Người kiên trì giới thì gọi là tinh tấn. Người có tàm quí thì gọi là Chánh niệm. Chẳng thấy tâm tướng thì gọi là Chánh định. Chẳng cầu nhân duyên tính tướng các pháp thì gọi là Chánh tuệ. Không có tướng thì phiền não đoạn trừ. Ðó gọi là giải thoát. Xưng nói tốt đẹp Kinh Ðại Niết Bàn như vậy thì gọi là tán thán giải thoát. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Ðại Bồ tát an trụ ở mười pháp, tuy thấy Phật tính mà chẳng rõ ràng. Này thiện nam tử! Như lời ông hỏi, Bồ tát Thập Trụ dùng mắt gì, tuy thấy Phật tính mà chẳng tỏ rõ? Các đức Phật Thế Tôn dùng mắt gì mà thấy Phật tính được sáng tỏ? Này thiện nam tử! Các Bồ tát đó dùng tuệ nhãn thấy nên chẳng được sáng tỏ. Chư Phật dùng Phật nhãn thấy nên được sáng tỏ. Vì Bồ Ðề hạnh thì chẳng tỏ rõ, nếu không có hạnh thì được tỏ rõ. Trụ ở Thập Trụ nên tuy thấy mà chẳng rõ, chẳng trụ chẳng đi thì được tỏ rõ. Nhân trí tuệ của Ðại Niết Bàn nên thấy chẳng tỏ rõ. Các đức Phật Thế Tôn đoạn trừ nhân quả nên thấy rõ ràng. Nhất thiết giác (hiểu biết hết tất cả) thì gọi là Phật tính. Bồ tát Thập Trụ chẳng được gọi là Nhất Thiết Giác. Vậy nên Bồ tát đó tuy thấy mà chẳng sáng tỏ. Này thiện nam tử! Thấy có hai thứ, một là mắt thấy, hai là nghe thấy. Các đức Phật Thế Tôn mắt thấy Phật tính như xem quả A ma lặc ở trong lòng bàn tay. Bồ tát Thập Trụ nghe thấy Phật tính nên chẳng rõ ràng. Bồ tát Thập Trụ chỉ có thể tự biết nhất định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà chẳng thể biết tất cả chúng sinh đều có Phật tính.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi lăm hết -


26/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Sáu

PHẨM BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG THỨ Thứ Hai Mươi Ba (tiếp theo)

Này thiện nam tử! Lại có mắt thấy, các đức Phật Như Lai và Bồ tát Thập Trụ mắt thấy Phật tính. Lại có nghe thấy, tất cả chúng sinh cho đến Bồ tát Cữu Ðịa nghe thấy Phật tính. Bồ tát nếu nghe tất cả chúng sinh đều có Phật tính mà lòng chẳng sinh ra niềm vui thì chẳng gọi là nghe thấy.

Này thiện nam tử! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn thấy Như Lai thì cần phải tu tập mười hai bộ Kinh, thọ trì, đọc tụng, sao chép, giải nói.

Ðại Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh chẳng thể được biết tâm tướng của Như Lai thì phải quan sát thế nào mà được biết vậy?

- Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh thật chẳng thể biết tâm tướng của Như Lai! Nếu muốn quan sát mà được biết thì có hai nhân duyên, một là mắt thấy, hai là nghe thấy. Nếu thấy thân nghiệp sở hữu của Như Lai thì phải biết chính đó là Như Lai. Ðó gọi là mắt thấy. Nếu quan sát khẩu nghiệp sở hữu của Như Lai thì phải biết chính đó là Như Lai. Ðó gọi là nghe thấy. Nếu thấy sắc mạo không cùng ngang bằng với tất cả chúng sinh thì phải biết chính đó là Như Lai. Ðó gọi là mắt thấy. Nếu nghe âm thanh vi diệu tối thắng chẳng đồng với âm thanh sở hữu của chúng sinh thì phải biết đó là Như Lai. Ðó gọi là nghe thấy. Nếu thấy thần thông sở tác của Như Lai là vì chúng sinh hay vì lợi dưỡng. Nếu vì chúng sinh chẳng vì lợi dưỡng thì phải biết chính đó là Như Lai. Ðó gọi là mắt thấy. Nếu khi quan sát Như Lai dùng trí Tha Tâm quan sát chúng sinh là để vì lợi dưỡng hay vì chúng sinh nói pháp. Nếu vì chúng sinh, chẳng vì lợi dưỡng thì phải biết chính là Như Lai. Ðó gọi là nghe thấy. Nếu quan sát sao gọi là Như Lai mà thọ thân này? Vì sao thọ thân? Vì ai thọ thân? Ðó gọi là mắt thấy. Nếu quan sát Như Lai, sao gọi là nói pháp? Vì sao nói pháp? Vì ai nói pháp? Ðó gọi là nghe thấy. Dùng nghiệp ác thân gia hại mà chẳng sân hận thì phải biết đó là Như Lai. Ðó gọi là mắt thấy. Dùng nghiệp ác miệng gia hại mà chẳng sân hận thì phải biết đó là Như Lai. Ðó gọi là nghe thấy. Nếu thấy khi Bồ tát mới sinh, ở mười phương diện đều đi bảy bước, đại tướng quỉ thần Ma Ni Bạt Ðà, Phú Na Bạt Nan Ðà cầm tràng phan, bảo cái, chấn động vô lượng vô biên thế giới, ánh sáng vàng chói sáng cùng khắp trong hư không. Vua rồng Nan Ðà và Bạt Nan Ðà dùng sức thần thông tắm rửa thân Bồ tát, hình tượng chư thiên nghênh đón, lễ bái, tiên A Từ Ðà chắp tay cung kính, tuổi trẻ bỏ dục như nhổ bỏ nước bọt, chẳng bị sự mê hoặc của thế lạc, xuất gia tu đạo, ưa thích nhàn tịch, vì phá tà kiến nên sáu năm khổ hạnh, đối với các chúng sinh bình đẳng không hai, lòng thường ở tại định, trước không tán loạn, tướng tốt nghiêm lệ, trang sức thân mình, chỗ ngồi đi qua gò đống đều bằng phẳng, y phục rời thân bốn tấc chẳng rơi, khi đi nhìn thẳng, chẳng quay nhìn trái, phải, vật ngài đã ăn là vật,chỗ ngồi đứng dậy cỏ chẳng động chẳng rối, vì điều phục chúng sinh nên đến nói pháp mà lòng không kiêu mạn... Ðó gọi là mắt thấy. Nếu nghe Bồ tát đi bảy bước đã xướng lên rằng: “Thân này của ta hôm nay là biên sau cùng”. Nghe tiên A Tư Ðà chắp tay nói rằng: “Ðại vương phải biết, thái tử Tất Ðạt nhất định được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, nhất định chẳng ở nhà làm Chuyển Luân Vương! Vì sao vậy? Vì tướng sáng tỏ, còn tướng của Chuyển Luân Thánh Vương chẳng sáng tỏ. Thân tướng của thái tử Tất Ðạt sáng tỏ. Vậy nên nhất định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Nghe Bồ tát thấy lão, bệnh, tử nói rằng: “Tất cả chúng sinh rất đáng thương xót! Họ thường cùng với sanh, già, bệnh, chết như vậy chung đuổi theo nhau mà chẳng thể quan sát! Họ thường đi với khổ, ta sẽ đoạn trừ!” Từ tiên nhân ngũ thông A La La thọ Vô tưởng định, sau khi đã thành tựu rồi thì nói rằng: “Ðịnh ấy chẳng phải!” Từ tiên nhân Uất Ðà thọ phi hữu tưởng phi vô tưởng định, khi đã thành tựu rồi thì nói rằng: “Chẳng phải Niết Bàn mà là pháp sinh tử!” Tu sáu năm khổ hạnh không có sự thu hoạch, liền nói rằng: “Tu hạnh khổ này rỗng không không sở đắc. Nếu là thật thì ta nên được. Nhưng do hư vọng nên ta không sở đắc. Ðó gọi là tà thuật, chẳng phải chánh đạo vậy”. Bồ tát đã thành đạo rồi, Phạm thiên khuyến thỉnh: “Nguyện xin đức Như Lai vì chúng sinh mở rộng cam lộ, nói pháp Vô Thượng”. Ðức Phật nói rằng: “Này Phạm vương! Tất cả chúng sinh thường bị sự ngăn che của phiền não, chẳng thể thọ lời nói chánh pháp của ta!” Phạm vương lại lại nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh thường có ba loại là lợi căn, trung căn, độn căn. Hạng lợi căn có thể thọ, nguyện xin ngài vì họ diễn nói!” Ðức Phật dạy rằng: “Này Phạm vương! Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta nay sẽ vì tất cả chúng sinh mở cửa cam lồ”. Phật liền ở nước Ba La Nại, chuyển bánh xe chánh pháp, tuyên nói trung đạo. Tất cả chúng sinh chẳng phải phá các kết, chẳng phải chẳng thể phá. Chẳng phải phá, chẳng phải chẳng phá nên gọi là Trung đạo. Chẳng độ chúng sinh, chẳng phải chẳng độ thì đó gọi là Trung đạo. Chẳng phải tất cả thành, cũng chẳng phải chẳng thành thì đó gọi là Trung đạo. Phàm có lời nói mà chẳng tự nói rằng thầy, chẳng nói rằng đệ tử thì đó gọi là Trung đạo. Nói chẳng vì lợi mà chẳng phải chẳng được quả thì đó gọi là Trung đạo. Chánh ngữ, Thật ngữ, Thời ngữ, Chân ngữ, nói chẳng phát ra trống rỗng mà vi diệu đệ nhất... Những pháp như vậy thì gọi là nghe thấy. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn thấy Như Lai thì nên phải nương vào hai thứ nhân duyên này!

Lúc bấy giờ, Ðại Bồ tát Sư Tử Hống bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như trước ngài đã nói, quả Am La dụ cho bốn thứ người, v.v... Có người hành động tinh tế mà lòng chẳng chính thật, có người lòng tinh tế mà hành động chẳng chánh thật; có người lòng tinh tế mà hành động cũng chánh thật, có người lòng chẳng tinh tế mà hành động cũng chẳng chánh thật. Hai thứ người đầu này làm sao có thể biết? Như lời đức Phật nói, chỉ nương vào hai thứ nhân duyên đó chẳng thể được biết.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Quả Am La dụ cho hai thứ người, v.v... thì thật khó có thể biết. Do khó biết nên trong Kinh ta nói rằng, phải cùng cộng trụ. Nếu trụ mà chẳng biết thì phải cùng ở lâu. Ở lâu mà chẳng biết thì phải dùng trí tuệ. Trí tuệ mà chẳng biết thì phải quan sát sâu. Do quan sát sâu nên biết kẻ trì giới và người phá giới. Này thiện nam tử! Ðủ bốn việc này: Cộng trụ, ở lâu, trí tuệ, quan sát, nhiên hậu được biết trì giới hay phá giới. Này thiện nam tử! Giới có hai thứ, người trì cũng có hai thứ, một là cứu cánh, hai là chẳng cứu cánh. Có người do nhân duyên nên thọ trì cấm giới. Người trí phải quan sát, người này trì giới là vì lợi dưỡng hay là cứu cánh trì? Này thiện nam tử! Giới cấm của Như Lai thì không có nhân duyên. Vậy nên được gọi là cứu cánh giới. Do nghĩa này nên Bồ tát tuy bị sự tổn hại của các chúng sinh ác nhưng sinh ra sân si. Vậy nên Như Lai được gọi là thành tựu trì giới rốt cùng, trì giới cứu cánh. Này thiện nam tử! Một thuở trước đây, ông Xá Lợi Phất và năm trăm đệ tử đều chung dừng trụ ở đại thành Chiêm Bà của nước Ma Dà Ðà, có người thợ săn truy đuổi một con bồ câu. Con bồ câu này kinh sợ đến núp bóng ông Xá Lợi Phất mà còn run lẩy bẩy như cây chuối. Nó đến núp trong bóng của ta thì thân tâm yên ổn, nỗi kinh sợ được trừ khỏi. Vậy nên phải biết rằng, Như Lai Thế Tôn rốt ráo trì giới, thậm chí bóng của thân còn có sức lực này. Này thiện nam tử! Chẳng cứu cánh giới còn chẳng thể được Thanh Văn, Duyên Giác, huống gì là có thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại có hai thứ, một là vì lợi dưỡng, hai là vì chánh pháp. Vì lợi dưỡng nên thọ trì cấm giới thì phải biết giới này chẳng thấy Phật tính và cả Như Lai. Tuy chỉ nghe danh Phật tính và Như Lai thôi mà còn chẳng được danh để nghe thấy. Nếu vì chánh pháp thọ trì cấm giới thì phải biết giới này có thể thấy Phật tính và cả Như Lai. Ðó gọi mắt thấy, cũng gọi là nghe thấy. Lại có hai thứ, một là rễ sâu khó nhổ, hai là rễ cạn dễ lay (động). Nếu có thể tu tập Không, Vô tướng, Vô nguyện thì đó gọi là rễ sâu khó nhổ. Nếu chẳng tu tập ba tam muội này thì tuy lại tu tập vì hai mươi lăm cõi hữu thì đó gọi là rễ cạn dễ lay. Lại có hai thứ, một là vì tự thân, hai là vì chúng sinh. Vì chúng sinh thì có thể thấy Phật tính và cả Như Lai. Người trì giới lại có hai thứ, một là tính tự có thể trì, hai là cần sự dạy bảo của người khác. Nếu thọ giới rồi mà trải qua vô lượng đời, ban đầu chẳng lỗi lầm gì, rồi hoặc gặp đất nước ác, gặp ác tri thức, lúc ác, đời ác, nghe pháp tà ác, ở chung với tà kiến... Bấy giờ tuy không thọ giới pháp, vẫn tu trì như cũ, không có sự hủy phạm. Ðó gọi là tính tự có thể trì. Nếu gặp sư tăng, bạch bốn yết ma, rồi nhiên hậu được giới. Tuy được giới rồi nhưng cần nhờ cậy Hòa Thượng, các thầy, bạn lành đồng học dạy bảo dỗ dành mới biết tấn chỉ (tiến dừng), nghe pháp, nói pháp để hoàn bị các oai nghi. Ðó gọi là cần sự dạy bảo của người khác. Này thiện nam tử! Tính có thể trì là mắt thấy Phật tính và cả Như Lai, cũng gọi là nghe thấy. Giới lại có hai, một là Thanh Văn giới, hai là Bồ tát giới. Từ lúc mới phát tâm cho đến khi được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó gọi là Bồ tát giới. Như từ quan sát xương trắng cho đến chứng được quả A la hán. Ðó gọi là Thanh Văn giới. Nếu có người thọ trì Thanh Văn giới thì phải biết người đó chẳng thấy Phật tính và cả Như Lai. Nếu có người thọ trì Bồ tát giới thì phải biết người đó sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, có thể thấy Phật tính, Như Lai, Niết Bàn!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà thọ trì cấm giới?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Vì lòng chẳng hối vậy! Vì sao chẳng hối? Vì thọ lạc vậy! Vì sao thọ lạc? Vì viễn ly (xa lìa) vậy! Vì sao viễn ly? Vì yên ổn vậy! Vì sao yên ổn? Vì Thiền định vậy! Vì sao Thiền định? Vì tri kiến chân thật vậy! Vì sao vì tri kiến chân thật? Vì thấy những tội lỗi hoạn nạn của sinh tử! Vì sao vì thấy lỗi hoạn của sinh tử? Vì lòng chẳng tham trước! Vì sao vì lòng chẳng tham trước? Vì được giải thoát! Vì sao vì được giải thoát? Vì được Vô Thượng Ðại Niết Bàn! Vì sao vì được Ðại Niết Bàn? Vì được pháp Thường Lạc Ngã Tịnh. Vì sao vì được Thường Lạc Ngã Tịnh? Vì được chẳng sinh, chẳng diệt. Vì sao vì được chẳng sinh chẳng diệt? Vì thấy Phật tính! Vậy nên tính Bồ tát tự có thể trì cứu cánh tịnh giới. Này thiện nam tử! Tỳ kheo trì giới tuy chẳng phát nguyện cầu lòng chẳng hối, nhưng lòng chẳng hối tự nhiên mà được. Vì sao vậy? Vì pháp tính vậy nên tuy Tỳ kheo trì giới chẳng cầu lạc, viễn ly, yên ổn, thiền định, thật tri kiến, thấy lỗi hoạn sinh tử, lòng chẳng tham trước, giải thoát, Niết Bàn, Thường Lạc Ngã Tịnh, chẳng sinh chẳng diệt, thấy Phật tính mà tự nhiên được. Vì sao vậy? Vì pháp tính vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu nhân trì giới được quả bất hối (chẳng hối hận), nhân giải thoát được quả Niết Bàn thì Giới không có nhân, Niết Bàn không có quả. Giới nếu không nhân thì gọi là Thường. Niết Bàn không có nhân thì chính là Vô thường. Nếu vậy thì Niết Bàn là vốn không nay có. Nếu là vốn không nay có thì chính là vô thường, giống như thắp đèn. Niết Bàn nếu vậy thì làm sao được gọi là Ngã Lạc Tịnh vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Hay thay! Hay thay! Ông đã từng ở vô lượng chỗ Phật, gieo trồng căn lành, mới có thể hỏi Như Lai nghĩa lý sâu như vậy! Này thiện nam tử! Ông chẳng mất ý niệm xưa mới hỏi được như vậy! Ta nhớ thuở xa xưa, qua vô lượng kiếp, tại thành Ba La Nại, có đức Phật ra đời hiệu là Thiện Ðắc. Bấy giờ, trong ba ức năm, đức Phật đó diễn nói Kinh Ðại Niết Bàn như vậy. Ta cùng với ông đều ở tại pháp hội đó, ta đã vì việc này mà hỏi han đức Phật đó. Bấy giờ đức Như Lai vì chúng sinh nên chánh thọ tam muội, chưa giải đáp nghĩa này. Hay thay! Này Ðại sĩ! Ông mới có thể nhớ nghĩ việc cũ như vậy! Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông diễn nói! Giới cũng có nhân gọi là nghe chánh pháp. Nghe chánh pháp là cũng có nhân gọi là gần bạn lành. Gần bạn lành thì cũng có nhân gọi là tín tâm. Có tín tâm thì cũng có nhân. Nhân có hai thứ, một là nghe pháp, hai suy nghĩ nghĩa. Này thiện nam tử! Tín tâm là nhân đối với thính pháp. Thính pháp là nhân đối với tín tâm. Hai pháp như vậy cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân, cũng là quả mà cũng là quả của quả. Này thiện nam tử! Ví như bọn ni càn đứng nâng đỡ cái bình, vì nhân quả đắp đổi họ chẳng được lìa nhau. Này thiện nam tử! Như vô minh duyên hành, hành duyên vô minh. Vô minh, hành này cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân. Chúng cũng là quả mà cũng là quả của quả... cho đến sinh duyên lão tử, lão tử duyên sinh. Sinh, Lão tử này cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân. Chúng cũng là quả mà cũng là quả của quả. Này thiện nam tử! Sinh có thể sinh ra pháp nhưng chẳng thể tự sinh. Chẳng tự sinh nên do sinh mà sinh ra sinh. Sinh ra sinh chẳng tự sinh mà nhờ sinh nên sinh. Vậy nên hai sinh cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân. Chúng cũng là quả mà cũng là quả của quả. Này thiện nam tử! Tín tâm và thính pháp cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Quả này chẳng phải là nhân, gọi là Ðại Niết Bàn thì vì sao gọi là quả? Là Thượng quả? Quả của Sa môn? Quả của Bà la môn? Ðoạn trừ sinh tử, phá tan phiền não, vậy nên gọi là quả. Bị sự quở trách của các phiền não, vậy nên Niết Bàn gọi là quả. Phiền não thì gọi là tội lỗi của tội lỗi. Này thiện nam tử! Niết Bàn không nhân mà thể chính là quả. Vì sao vậy? Vì không sinh diệt, không sở tác, chẳng phải hữu vi, chính là vô vi, thường trụ bất biến, không xứ sở, không chung thỉ. Này thiện nam tử! Nếu Niết Bàn có nhân thì chẳng được xưng là Niết Bàn. Bàn là nói nhân. Bát Niết là nói Không. Không có nhân nên xưng là Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Như lời đức Phật nói, Niết Bàn không nhân thì nghĩa này chẳng vậy! Nếu nói rằng không thì phải hợp sáu nghĩa. Một là rốt ráo không nên gọi đó là không, như tất cả pháp không ngã, không ngã sở. Hai là có lúc không nên gọi đó là không, như người đời nói rằng, sông ao không nước, không có mặt trời, mặt trăng. Ba là ít nên gọi đó là không, như người đời nói rằng, trong đồ ăn ít mặn nên gọi là không mặn, nước uống ít ngọt nên gọi là không ngọt. Bốn là không thọ nhận nên gọi đó là không, như Chiên đà la chẳng thể thọ trì pháp của Bà la môn nên gọi là Không Bà la môn. Năm là thọ pháp ác nên gọi đó là không, như người đời nói rằng, người thọ pháp ác thì chẳng gọi là Sa môn, Bà la môn. Vậy nên gọi là không có Sa môn và Bà la môn. Sáu là chẳng đối nên gọi đó là không. Ví như không trắng thì gọi đó là đen, không có sáng nên gọi đó là vô minh. Thưa đức Thế Tôn! Niết Bàn cũng vậy, có lúc không nhân nên gọi là Niết Bàn.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nay ông đã nói sáu nghĩa như vậy, vì sao ông chẳng dẫn rốt ráo không để dụ cho Niết Bàn mà chọn lấy “có lúc không” vậy? Này thiện nam tử! Thể của Niết Bàn là rốt ráo không nhân giống như không ngã và không ngã sở. Này thiện nam tử! Thế pháp và Niết Bàn nhất định chẳng đối nhau. Vậy nên sáu việc chẳng được làm ví dụ. Này thiện nam tử! Tất cả các pháp đều không có ngã mà Niết Bàn này chân thật có Ngã. Do nghĩa này nên Niết Bàn không nhân mà thể chính là quả. Nhân này chẳng phải quả mà gọi là Phật tính. Chẳng phải nhân sinh ra nên nhân này chẳng phải quả. Chẳng phải quả của Sa môn nên gọi là chẳng phải quả. Vì sao gọi là nhân? Vì do rõ nhân vậy! Này thiện nam tử! Nhân có hai thứ, một là sinh nhân, hai là liễu nhân. Có thể sinh ra pháp thì gọi là sinh nhân. Ðèn có thể làm rõ vật nên gọi là Liễu nhân. Các kết phiền não gọi là nhân sinh, cha mẹ chúng sinh gọi là Liễu nhân. Như hạt lúa gọi là sinh nhân, đất nước, phân, v.v... thì gọi là liễu nhân. Lại có sinh nhân là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác của sáu Ba la mật. Lại có liễu nhân là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác của Phật tính. Lai có Liễu nhân là Phật tính của sáu Ba la mật. Lại có sinh nhân là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác của Thủ Lăng Nghiêm tam muội. Lại có Liễu nhân là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác của tám Chánh đạo. Lại có sinh nhân là sáu Ba la mật của tín tâm.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, thấy đối với Như Lai và cả Phật tính là nghĩa làm sao? Thưa đức Thế Tôn! Thân Như Lai không có tướng mạo, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải trắng, chẳng phải đen, không có địa phương, xứ sở, chẳng ở tại ba cõi, chẳng phải tướng hữu vi, chẳng phải sự nhận biết của nhãn thức thì làm sao có thể thấy Phật tính vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Thân Phật có hai thứ, một là Thường, hai là Vô Thường. Thân vô thường là vì muốn độ thoát tất cả chúng sinh nên phương tiện thị hiện. Ðó gọi là thân mắt thấy. Thân thường là thân giải thoát của Như Lai Thế Tôn, cũng gọi là thân mắt thấy, cũng gọi là thân nghe thấy. Phật tính cũng có hai, một là có thể thấy, hai là chẳng thể thấy. Có thể thấy là Bồ tát Thập Trụ, các đức Phật Thế Tôn. Chẳng thể thấy là tất cả chúng sinh. Mắt thấy là gọi mắt của Bồ tát Thập Trụ, các đức Phật Như Lai Phật tính sở hữu của chúng sinh. Nghe thấy là tất cả chúng sinh, Bồ tát Cữu Trụ nghe có Phật tính. Thân Như Lai lại có hai, một là sắc, hai là chẳng phải sắc. Sắc là Như Lai Giải thoát. Chẳng phải sắc là Như Lai vĩnh viễn đoạn trừ các sắc tướng. Phật tính có hai thứ, một là sắc, hai là chẳng phải sắc. Sắc là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Chẳng phải sắc là từ phàm phu cho đến Bồ tát Thập Trụ. Bồ tát Thập Trụ thấy Phật tính chẳng rõ ràng nên gọi là chẳng phải sắc. Này thiện nam tử! Phật tính lại có hai thứ, một là sắc, hai là chẳng phải sắc. Sắc là gọi Phật, Bồ tát. Chẳng phải sắc là tất cả chúng sinh. Sắc thì gọi là mắt thấy. Chẳng phải sắc thì gọi là nghe thấy. Phật tính thì chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài. Tuy chẳng phải bên trong, bên ngoài nhưng Phật tính chẳng phải mất hoại nên gọi là chúng sinh đều có Phật tính.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính như trong sữa có lạc (cao sữa). Phật tính của chư Phật và Kim Cương lực sĩ như Ðề hồ trong sạch thì làm sao đức Như Lai nói rằng, Phật tính chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ta cũng chẳng nói trong sữa có lạc. Lạc từ sữa sinh ra nên nói rằng có lạc (cao sữa).

- Thưa đức Thế Tôn! Tất cả pháp sanh đều có thời gian tiết độ?

- Này thiện nam tử! Khi sữa không lạc cũng không sinh ra tô (váng sữa) sống, tô chín và đề hồ thì tất cả chúng sinh cũng gọi là sữa. Vậy nên ta nói rằng, trong sữa không có lạc. Như trong sữa ấy có thì vì sao chẳng được gọi tên hai thứ như người làm được hai thứ thì có thể nói rằng, thợ vàng sắt? Khi lạc không sữa, tô sống, tô chín và cả đề hồ thì chúng sinh cũng gọi là lạc chẳng phải sữa, tô sống, tô chín và cả đề hồ... cho đến đề hồ cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Nhân có hai thứ, một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Chánh nhân là như sữa sinh ra lạc. Duyên nhân là như men, hơi ấm, v.v... từ sữa sinh ra nên nói rằng, trong sữa mà có tính của lạc.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu sữa không có tính của lạc thì trong sừng cũng không. Vì sao lạc chẳng từ trong sừng sinh ra vậy?

- Này thiện nam tử! Sừng cũng sinh ra lạc! Vì sao vậy? Vì ta cũng nói rằng, duyên nhân có hai thứ, một là men, hai là hơi ấm. Tính của sừng ấm nên cũng có thể sinh ra lạc!

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu sừng có thể sinh ra lạc thì người cầu lạc vì sao cầu sữa mà chẳng chọn lấy sừng?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Vậy nên ta nói, chánh nhân và duyên nhân.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Nếu giả sử trong sữa vốn không có tính của lạc mà nay mới có thì trong sữa vốn không có cây Am ma la, vì sao nay chẳng sinh ra? Vì cả hai đều không vậy.

- Này thiện nam tử! Sữa cũng có thể sinh ra cây Am ma la, nếu dùng sữa tưới thì trong một đêm, tăng trưởng năm thước. Do nghĩa này nên ta nói có hai nhân. Này thiện nam tử! Nếu tất cả pháp do một nhân sinh ra thì khó có thể được nói rằng, trong sữa vì sao chẳng thể sinh ra cây Am ma la. Này thiện nam tử! Giống như “Bốn Ðại” vì tất cả sắc mà tạo tác nhân duyên, nhưng sắc đều khác sai biệt, chẳng đồng. Do nghĩa này nên trong sữa chẳng sinh cây Am ma la.

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, có hai thứ nhân, chánh nhân và duyên nhân thì chúng sinh và Phật tính là nhân gì đây?

- Này thiện nam tử! Chúng sinh và Phật tính cũng có hai thứ nhân, một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Chánh nhân là gọi các chúng sinh, duyên nhân là gọi sáu Ba la mật.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nay quyết định biết sữa có tính của lạc. Vì sao vậy? Vì con thấy người cầu sữa ở thế gian chỉ chọn lấy sữa nhất định chẳng chọn lấy nước. Vậy nên phải biết sữa có tính của lạc!

- Này thiện nam tử! Như lời ông hỏi thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì ví như có người muốn thấy hình dáng của mặt mình liền chọn lấy lưỡi dao.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Do nghĩa này nên sữa có tính của lạc. Nếu dao không có hình dáng của mặt thì vì sao người ta chọn lấy dao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu trong dao này nhất định có hình dáng của mặt thì vì sao điên đảo, đựng đứng thì thấy mặt dài ra, để ngang thì thấy mặt rộng bành ra. Nếu là mặt mình thì vì sao thấy dài? Nếu là mặt người khác thì sao được xưng rằng, đó là hình dáng mặt của mình. Nếu nhân mặt mình thấy mặt khác thì vì sao chẳng thấy hình dáng mặt lừa, mặt ngựa?

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ánh sáng của mắt đến mặt đó nên thấy mặt dài!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Mà ánh sáng mắt này thật ra chẳng đến mặt đó. Vì sao vậy? Vì gần hay xa đều cùng một lúc nhìn thấy mà chẳng thấy vật sở hữu trung gian. Này thiện nam tử! Ánh sáng nếu đến mặt đó mà được thấy thì tất cả chúng sinh đều thấy đến lửa thì vì sao lửa chẳng đốt cháy? Như người từ xa thấy vật trắng chẳng nên sinh nghi là ngỗng trời chăng? Phướng chăng? Người chăng? Cây chăng? Nếu ánh sáng đến thì làm sao được thấy vật trong thủy tinh, cá và đá trong vực sâu? Nếu ánh sáng chẳng đến thì vì sao được thấy vật trong thủy tinh mà chẳng được thấy hình sắc ngoài tường vách. Vậy nên nếu nói rằng, ánh sáng của mắt đến mặt đó mà thấy dài ra thì nghĩa này chẳng đúng! Này thiện nam tử! Như lời ông nói, sữa có lạc thì vì sao người bán sữa chỉ chọn lấy giá trị của sữa, chẳng kể đến giá trị của lạc. Người buôn bán ngựa chỉ chọn lấy giá trị của ngựa chẳng kể đến giá trị của ngựa con. Này thiện nam tử! Người thế gian không vợ con nên cưới vợ. Người vợ nếu mang thai chẳng được nói rằng là con gái. Nếu nói rằng, người con gái này có tính con nên cần cưới thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì nếu có tính con thì cũng nên có cháu mà nếu có cháu thì tức là anh em. Vì sao vậy? Vì một bụng sinh ra vậy. Vậy nên ta nói rằng người con gái không có tính con. Nếu trong sữa ấy có tính lạc (cao sữa) thì vì sao chẳng thấy năm vị cùng một lúc. Nếu trong hạt cây có chất năm trượng của cây Ni câu đà thì vì sao chẳng thấy những hình sắc khác của mầm, thân, cành, lá, hoa, trái? Này thiện nam tử! Khi màu sữa khác, vị khác, quả khác... cho đến đề hồ cũng lại như vậy thì làm sao có thể nói sữa có tính lạc? Này thiện nam tử! Ví như có người buổi sáng phải dùng tô (ăn váng sữa) nhưng nay đã bị hôi. Nếu nói rằng, trong sữa nhất định có lạc cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như có người có bút giấy mực thì hòa hợp thành ra chữ mà trong giấy này vốn không có chữ. Do vốn không nên mượn duyên mà thành. Nếu vốn có thì sao cần đến các duyên. Ví như xanh, vàng hợp thành duyên sắc. Phải biết rằng, hai cái này vốn không có tính duyên. Nếu chúng vốn có thì đâu cần phải hợp thành? Này thiện nam tử! Ví như chúng sinh nhân ăn được thọ mạng mà trong thức ăn này thật không có mạng. Nếu vốn có mạng thì khi chưa ăn, thức ăn nên có mạng này. Này thiện nam tử! Tất cả các pháp vốn không có tính. Do nghĩa này nên ta nói kệ rằng:

Trước (vốn) không nay có Trước có nay không

Ba đời hữu pháp Ðiều này thì không.

Này thiện nam tử! Tất cả các pháp do nhân duyên nên sinh, do nhân duyên nên diệt. Này thiện nam tử! Nếu bên trong chúng sinh có Phật tính thì tất cả chúng sinh nên có thân Phật như ta hôm nay vậy. Phật tính của chúng sinh chẳng phá, chẳng hoại, chẳng điều khiển, chẳng nắm bắt, chẳng trói, chẳng buộc như sở hữu hư không trong chúng sinh. Tất cả chúng sinh đều có hư không, không ngăn ngại mà đều chẳng tự thấy có hư không này. Nếu giả sử chúng sinh không có hư không thì không đi lại, đi đứng ngồi nằm, chẳng sinh ra, chẳng lớn lên. Do nghĩa này nên trong Kinh ta nói, tất cả chúng sinh có hư không giới. Hư không giới thì gọi là hư không. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy. Bồ tát Thập Trụ có thể thấy ít Phật tính đó như viên ngọc Kim Cương. Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh là cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh Văn, Duyên Giác. Tất cả chúng sinh chẳng thấy Phật tính. Vậy nên họ thường bị sự trói buộc của phiền não nên lưu chuyển trong sinh tử. Thấy được Phật tính rồi thì các kết phiền não đã chẳng thể trói buộc, giải thoát khỏi sinh tử, được Ðại Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh có Phật tính như lạc tính trong sữa. Nếu sữa không lạc tính thì làm sao đức Phật nói có hai thứ nhân, một là chánh nhân, hai là duyên nhân? Duyên nhân thì một là men, hai là hơi ấm? Hư không không có tính nên không duyên nhân!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu giả sử trong sữa nhất định có lạc tính thì đâu cần duyên nhân?

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Do có tính nên cần duyên nhân. Vì sao vậy? Vì muốn thấy sáng vậy! Duyên nhân tức là liễu nhân. Thưa đức Thế Tôn! Ví như trong tối có các đồ vật trước, vì muốn thấy nên dùng đèn soi rõ. Nếu trước không có thì đèn soi vào đâu? Như trong bùn có bình nên cần có người, nước, bánh xe, sợi dây, cây gậy, v.v... mà làm liễu nhân. Như hạt Ni câu đà cần có đất, nước, phân mà làm liễu nhân. Trong sữa cần có men, hơi ấm cũng lại như vậy để làm liễu nhân. Vậy nên tuy trước có tính nhưng cần nhờ liễu nhân, rồi nhiên hậu được thấy. Do nghĩa này nên nhất định biết trong sữa có tính của lạc trước!

- Này thiện nam tử! Nếu giả sử trong sữa nhất định có lạc tính thì tức là liễu nhân. Nếu liễu nhân thì lại đâu cần làm rõ? Này thiện nam tử! Nếu tính của liễu (rõ) nhân này là rõ thì thường nên tự rõ. Nếu tự mình chẳng rõ thì sao có thể rõ người khác. Nếu nói rằng, liễu nhân có hai thứ tính, một là tự rõ, hai là rõ người khác thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì liễu nhân một pháp thì làm sao có hai được? Nếu có hai thì sữa cũng nên có hai. Nếu giả sử trong sữa không hai tướng thì làm sao một mình liễu nhân có hai tướng?

Bồ tát Sư Tử Hống đáp rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như người đời nói rằng, ta chung tám người. Liễu nhân cũng vậy, tự liễu và liễu tha!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Liễu nhân nếu vậy thì chẳng phải liễu nhân. Vì sao vậy? Vì tính thì có thể tính sắc của mình, sắc của người khác nên được nói rằng tám mà tính của sắc này tự không rõ tướng. Vì không rõ tướng nên cần phải có tính của trí mới tính được mình và người khác. Vậy nên liễu nhân chẳng thể tự liễu (rõ về mình) cũng chẳng liễu tha (rõ về người khác). Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh có Phật tính thì vì sao phải tu tập vô lượng công đức? Nếu nói rằng, tu tập liễu nhân này thì đã đồng với sự hư hoại của cao sữa (lạc). Nếu nói rằng, trong nhân nhất định có quả thì giới, định, trí tuệ không tăng trưởng. Ta thấy người đời vốn không có cấm giới, thiền định, trí tuệ, rồi theo thầy thọ lấy mà dần dần tăng trưởng thêm. Nếu nói rằng, thầy dạy là liễu nhân thì khi thầy dạy, người thọ phải chưa có giới, định, trí tuệ. Nếu liễu này ứng với liễu chưa có thì làm sao mới liễu giới, định, trí tuệ, khiến cho chúng được tăng trưởng?

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu liễu nhân không thì làm sao được gọi là có sữa có lạc?

- Này thiện nam tử! Thế gian đáp khó thường có ba thứ: Một là chuyển đáp. Như trước ta đã nói, vì sao gọi là giới? Do chẳng hối hận... cho đến vì được Ðại Niết Bàn. Hai là mặc nhiên đáp. Như có vị Phạm chí đến hỏi ta rằng: “Ngã là thường chăng?” thì ta mặc nhiên. Ba là nghi đáp. Như trong Kinh này, nếu liễu nhân có hai thì vì sao trong sữa chẳng được có hai. Này thiện nam tử! Ta nay chuyển đáp, như người đời nói rằng, có sữa nhất định được lạc. Vậy nên gọi là có sữa có lạc. Phật tính cũng vậy, có chúng sinh, có Phật tính rồi sẽ thấy vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói thì nghĩa này chẳng vậy! Quá khứ diệt rồi, vị lai chưa đến thì vì sao gọi là có? Nếu nói rằng, sẽ có gọi là có thì nghĩa này chẳng đúng! Như người thế gian thấy không vợ con liền nói rằng, không con. Tất cả chúng sinh không Phật tính thì làm sao nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tính?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Quá khứ gọi là có. Ví như trồng cây quít, mầm mọc ra thì hạt diệt mất. Mầm cũng vị ngọt... cho đến quả sống vị cũng như vậy, quả chín rồi mới thành giấm. Này thiện nam tử! Mà vị dấm này, từ hạt, mầm cho đến trái sống, đều không theo gốc. Khi chín thì hình sắc, tướng mạo của nó sinh ra vị dấm mà vị dấm này vốn không nay có. Tuy vị dấm này vốn không nay có nhưng chẳng phải là chẳng nhân vào gốc. Như vậy hạt giống gốc này tuy lại là quá khứ nhưng được gọi là có. Do nghĩa này nên quá khứ gọi là có. Sao lại gọi vị lai là có? Ví như có người gieo trồng mè (Hồ ma). Có người hỏi rằng: “Vì sao trồng thứ này?” Ðáp rằng: “Vì có dầu!” Thật ra chưa có dầu. Mè chín rồi lấy hạt rang, hấp, giã, ép mới được dầu. Nhưng phải biết lời người này chẳng phải là hư vọng. Do nghĩa này nên gọi là vị lai có. Sao lại gọi là quá khứ có? Này thiện nam tử! Ví như có người lén lút mắng vua mà trải qua nhiều năm vua mới nghe được. Vua nghe rồi liền hỏi: “Vì sao dám mắng?” Người đó đáp rằng: “Thưa đại vương! Con chẳng mắng! Vì sao vậy? Vì người mắng đã diệt!” Nhà vua nói rằng: “Người mắng và thân ta cả hai đều tồn tại mà sao nói rằng diệt?” Do nhân duyên này nên người đó mất thân mạng. Này thiện nam tử! Hai điều này chân thật không mà quả chẳng diệt. Ðó gọi là quá khứ có. Sao gọi là vị lai có vậy? Ví như có người đi đến chỗ thợ gốm hỏi: “Có bình không?” Ðáp rằng: “Có bình!” mà người thợ gốm này thật chưa có bình. Nhưng do có bùn nên thợ gốm nói rằng: “Có bình” thì phải biết là người này chẳng phải nói dối. Trong sữa có lạc, chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy, muốn thấy Phật tính cần phải quan sát thời tiết, hình sắc. Vậy nên ta nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, là chân thật chẳng hư dối.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Tất cả chúng sinh không Phật tính thì làm sao mà được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Do nhờ Chánh duyên nên khiến cho chúng sinh được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Cái gì là Chánh nhân? Ðó là Phật tính! Thưa đức Thế Tôn! Nếu hạt Ni câu đà không có cây Ni câu đà thì vì sao gọi là hạt Ni câu đà mà chẳng gọi là hạt Khư đà la? Thưa đức Thế Tôn! Như họ Cù Ðàm chẳng được xưng là họ A để gia, họ A để gia cũng lại chẳng được xưng là họ Cù Ðàm. Hạt Ni câu đà cũng lại như vậy, chẳng được xưng là hạt Khư đà la, hạt Khư đà la chẳng được xưng là hạt Ni câu đà, giống như đức Thế Tôn chẳng được lìa bỏ dòng họ Cù Ðàm. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Do nghĩa này nên phải biết, chúng sinh đều có Phật tính.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu nói rằng, trong hạt có Ni câu đà thì nghĩa này chẳng đúng! Như Ni câu đà ấy có thì vì sao chẳng thấy? Này thiện nam tử! Như vật của thế gian có nhân duyên nên chẳng thể được thấy. Sao gọi là nhân duyên? Như là xa chẳng thể thấy như dấu chim trong không, gần chẳng thể thấy như người nhắm nắt. Hoại nên chẳng thấy như cơ quan của mắt bại hoại. Loạn tưởng nên chẳng thấy như lòng chẳng chuyên nhất. Nhỏ nên chẳng thấy như tiểu vi trần. Ngăn nên chẳng thấy như sao ngoài mây. Nhiều nên chẳng thấy như mè trong đống gạo. Tương tợ nên chẳng thấy như đậu ở tại đống đậu. Cây Ni câu đà chẳng đồng như tám thứ nhân duyên như vậy. Như cây ấy có thì vì sao chẳng thấy? Nếu nói rằng, nhỏ nên chẳng thấy thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì tướng của cây thô. Nếu nói rằng, tính nhỏ thì làm sao tăng trưởng? Nếu nói rằng, ngăn nên chẳng thể thấy thì thường (luôn luôn) nên chẳng thấy. Nếu vốn không tướng thô mà nay thì thấy thô thì phải biết thô này vốn không có tính thấy. Vốn không tính thấy mà nay thì có thể thấy thì phải biết sự thấy này cũng vốn không có tính. Hạt cũng như vậy, vốn không có cây mà nay có thì phải có lỗi sao?

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Như lời đức Phật nói, có hai thứ nhân, một là Chánh nhân, hai là Liễu nhân. Hạt Ni câu đà lấy đất, nước, phân làm liễu nhân nên khiến cho nhỏ được to (thô).

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu đã vốn có thì đâu cần liễu nhân. Nếu vốn không có tính thì liễu chỗ liễu nào? Nếu trong Ni câu đà vốn không có tướng to mà do liễu nhân nên mới sinh ra to thì vì sao chẳng sinh ra cây Khư đà la? Vì cả hai đều không vậy. Này thiện nam tử! Nếu nhỏ chẳng thể thấy thì to nên có thể thấy, ví như một hạt bụi chẳng thể thấy thì nhiều bụi hòa hợp lại nên có thể thấy. Như vậy trong hạt cái thô có thể thấy. Vì sao vậy? Vì trong hạt này đã có mầm, thân, hoa, trái. Trong mỗi một trái có vô lượng hạt, trong mỗi một hạt có vô lượng cây. Vậy nên gọi là thô mà có cái thô này nên có thể thấy. Này thiện nam tử! Nếu hạt Ni câu đà có tính Ni câu đà mà sinh ra cây thì mắt thấy hạt này bị sự đốt cháy của lửa. Như vậy tính đốt cũng nên vốn có. Nếu vốn có thì cây chẳng nên sinh ra. Nếu tất cả pháp vốn có sinh diệt thì vì sao trước sinh sau diệt chẳng cùng một lúc vậy? Do nghĩa này nên phải biết là không có tính.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu hạt Ni câu đà vốn không có tính cây mà sinh ra cây thì hạt này vì sao chẳng cho ra dầu? Cả hai đều không vậy. Này thiện nam tử! Như trong hạt này cũng sinh ra dầu thì tuy kông có tính nhưng do nhân duyên nên có.

Sư Tử Hống nói rằng:

- Vì sao chẳng gọi là dầu mè vậy?

- Này thiện nam tử! Vì chẳng phải mè vậy! Này thiện nam tử! Như duyên lửa sinh ra lửa, duyên nước sinh ra nước, tuy đều từ duyên nhưng chẳng thể có nhau. Hạt Ni câu đà và dầu mè cũng lại như vậy, tuy đều từ duyên nhưng đều chẳng sinh ra nhau. Tính của hạt Ni câu đà có thể trị lạnh. Dầu mè thì tính có thể trị gió. Này thiện nam tử! Ví như mía nhờ nhân duyên nên sinh ra đường cát, đường đen. Tuy chúng đều một duyên nhưng sắc tướng đều khác. Ðường cát trị nóng, đường đen trị lạnh.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như trong sữa ấy không có tính của cao sữa (lạc), mè không có tính của dầu, hạt Ni câu đà không có tính của cây, bùn không có tính của bình, tất cả chúng sinh không có Phật tính mà như lời đức Phật trước đã nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Vậy nên ứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì người, trời không có tính. Do không tính nên người có thể làm trời, trời có thể làm người. Do nghiệp duyên nên chẳng thể do tính vậy. Ðại Bồ tát do nghiệp duyên nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu các chúng sinh có Phật tính thì vì nhân duyên gì nhất xiển đề, v.v... đoạn dứt các thiện căn, đọa vào địa ngục? Nếu tâm Bồ Ðề là Phật tính thì nhất xiển đề, v.v... chẳng nên có thể đoạn mà nếu có thể đoạn thì làm sao có thể được nói rằng, Phật tính là thường? Nếu chẳng phải Thường thì chẳng gọi là Phật tính. Nếu các chúng sinh có Phật tính thì vì sao gọi là đầu tiên phát tâm vậy? Làm sao mà nói rằng là Tỳ bạt thí (Thoái chuyển) và A Tỳ bạt thí (bất thoái chuyển)? Tỳ bạt thí thì phải biết người này không có Phật tính. Thưa đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát một lòng hướng về Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, Ðại từ Ðại bi, thấy lỗi hoạn sinh lão tử phiền não, quan sát Ðại Niết Bàn không các tội lỗi phiền não sinh tử, tin vào Tam bảo và nghiệp quả báo, thọ trì cấm giới... Những pháp như vậy gọi là Phật tính. Nếu lìa khỏi những pháp này thì người có Phật tính đâu cần pháp này mà tạo tác nhân duyên? Thưa đức Thế Tôn! Như sữa chẳng mượn duyên nhất định sẽ thành cao sữa (lạc). Váng sữa sống (sinh tô) chẳng vậy, cần phải đợi nhân duyên, đó là nhân công, nước, bình, xoay, sợi dây... chúng sinh cũng vậy, người có Phật tính nên lìa khỏi nhân duyên để được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu nhất định có thì vì sao hành nhân thấy ba ác khổ, sinh lão bệnh tử mà sinh ra thoái tâm? Cũng chẳng cần tu sáu Ba la mật vẫn được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác! Như sữa chẳng phải duyên mà được thành Lạc. Nhưng mà chẳng phải chẳng nhân sáu Ba la mật mà được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên phải biết, chúng sinh đều không có Phật tính. Như đức Phật trước đã nói, Tăng bảo là thường. Như thường ấy tức là chẳng phải vô thường mà chẳng phải vô thường thì làm sao được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Tăng bảo nếu thường thì làm sao lại nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính? Thưa đức Thế Tôn! Nếu giả sử chúng sinh từ trước đến nay không có tâm Bồ Ðề cũng không có tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà sau mới có thì Phật tính của chúng sinh cũng nên trước không nay có như vậy. Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh nên không có Phật tính.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông biết nghĩa lý của Phật tính đã lâu, nhưng vì chúng sinh nên đặt câu hỏi như vậy! Tất cả chúng sinh chân thật có Phật tính! Ông nói rằng, chúng sinh nếu có Phật tính thì chẳng nên nói rằng, có người mới phát tâm. Này thiện nam tử! Tâm chẳng phải Phật tính. Vì sao vậy? Tâm là vô thường, Phật tính là Thường! Ông nói rằng, vì sao có người thoái tâm? Thật ra tâm không thoái vì nếu tâm có thoái thì nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do chậm được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác nên gọi đó là Thoái. Tâm Bồ Ðề này chân thật chẳng phải Phật tính. Vì sao vậy? Vì Nhất xiển đề, v.v... đoạn dứt căn lành, rơi vào địa ngục. Nếu tâm Bồ Ðề là Phật tính thì bọn nhất xiển đề chẳng được gọi là nhất xiển đề và tâm Bồ Ðề cũng chẳng được gọi là vô thường. Vậy nên quyết định biết là, tâm Bồ Ðề thật chẳng phải là Phật tính.

Này thiện nam tử! Ông nói rằng, chúng sinh nếu có Phật tính thì chẳng nên mượn nhờ duyên như sữa thành cao sữa. Nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì, nếu nói rằng, do năm duyên thành ra váng sữa sống (tô) thì phải biết rằng, Phật tính cũng lại như vậy. Ví như mọi thứ đá có vàng, có bạc, có đồng, có sắt... đều bẩm thụ bốn đại, một tên gọi, một thật tế mà cái chúng cho ra mỗi mỗi chẳng đồng. Chúng phải nhờ đến mọi duyên như phước đức chúng sinh, lò đúc, nhân công... rồi nhiên hậu mới sinh ra. Vậy nên phải biết rằng, vốn không có tính vàng. Phật tính của chúng sinh chẳng gọi là Phật mà do các công đức nhân duyên hòa hợp nên được thấy Phật tính, rồi nhiên hậu mới được Phật.

Ông nói rằng, chúng sinh đều có Phật tính, vì sao chẳng thấy? Nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì do các nhân duyên chưa hòa hợp. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên ta nói hai nhân, chánh nhân và duyên nhân. Chánh nhân thì gọi là Phật tính, duyên nhân là phát tâm Bồ Ðề. Do hai nhân duyên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác như đá cho ra vàng.

Này thiện nam tử! Ông nói rằng, Tăng thường thì tất cả chúng sinh không Phật tính. Này thiện nam tử! Tăng gọi là hòa hợp. Hòa hợp có hai, một là đời hòa hợp, hai là Ðệ nhất nghĩa hòa hợp. Ðời hòa hợp là gọi Thanh Văn tăng, Ðệ nhất nghĩa hòa hợp là gọi tăng Bồ tát. Tăng của đời thì vô thường mà Phật tính là Thường. Như Phật tính Thường thì Ðệ nhất nghĩa tăng cũng vậy. Lại nữa, có tăng gọi là pháp hòa hợp. Pháp hòa hợp là gọi mười hai bộ kinh mà mười hai bộ kinh Thường vậy nên ta nói rằng, Pháp, Tăng là Thường. Này thiện nam tử! Tăng gọi là hòa hợp. Hòa hợp là gọi mười hai nhân duyên. Trong mười hai nhân duyên cũng có Phật tính. Mười hai nhân duyên thường, Phật tính cũng vậy. Vậy nên ta nói rằng, Tăng có Phật tính. Lại nữa, Tăng là chư Phật hòa hợp. Vậy nên ta nói rằng, Tăng có Phật tính.

Này thiện nam tử! Ông nói rằng, chúng sinh nếu có Phật tính thì sao có người thoái, người chẳng thoái? Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt, giải nói. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát có mười ba pháp làm cho thoái chuyển. Những gì là mười ba? Một là lòng chẳng tin, hai là lòng bất tác, ba là lòng nghi, bốn là tham tiếc thân mạng của cải, năm là ở trong Niết Bàn sinh ra sợ hãi lớn làm sao khiến cho chúng sinh diệt mãi, sáu là lòng chẳng kham nhẫn, bảy là lòng chẳng điều nhu, tám là sầu não, chín là chẳng vui, mười là phóng dật, mười một là tự khinh thân mình, mười hai là tự thấy phiền não, không thể hoại, mười ba là chẳng ưa tiến đến pháp Bồ Ðề. Này thiện nam tử! Ðó là mười ba pháp khiến cho các Bồ tát thoái chuyển Bồ Ðề. Lại có sáu pháp hoại tâm Bồ Ðề. Những gì là sáu? Một là tham lận pháp, hai là đối với các chúng sinh dấy lòng bất thiện, ba là thân cận bạn ác, bốn là chẳng siêng tinh tấn, năm là tự đại kiêu mạn, sáu là kinh doanh nghề nghiệp của đời. Sáu pháp như vậy có thể phá hoại lòng Bồ Ðề. Này thiện nam tử! Có người được nghe các đức Phật Thế Tôn là thầy của người trời, ở trong chúng sinh là bậc Tối Thượng Vô Tỷ, thắng hơn Thanh Văn, Bích Chi Phật, v.v... Pháp nhãn sáng tỏ, thấy pháp không ngăn ngại, có thể độ chúng sinh qua biển đại khổ. Họ nghe rồi liền lại phát đại thệ nguyện rằng: “Như thế gian ấy có người như vậy thì ta cũng sẽ được!” Do nhân duyên phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác này, hoặc lại được sự dạy bảo phát tâm Bồ Ðề của người khác, hoặc nghe Bồ tát qua A tăng kỳ kiếp tu hành hạnh khổ, rồi nhiên hậu mới được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nghe rồi, người ấy suy nghĩ rằng: “Ta nay chẳng kham được những hạnh khổ như vậy thì làm sao có thể được”. Vậy nên có thoái lui. Này thiện nam tử! Lại có năm pháp làm thoái tâm Bồ Ðề. Những gì là năm? Một là ưa theo ngoại đạo xuất gia, hai là chẳng tu tâm Ðại Từ, ba là ưa cầu tìm lỗi xấu của pháp sư, bốn là thường ưa ở tại sinh tử, năm là chẳng thích thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ kinh. Ðó gọi là năm pháp thoái tâm Bồ Ðề. Lại có hai pháp thoái tâm Bồ Ðề. Những gì là hai? Một là tham lạc năm dục, hai là chẳng thể cung kính tôn trọng Tam bảo. Do những nhân duyên như vậy nên thoái tâm Bồ Ðề.

Sao gọi là tâm chẳng thoái? Có người nghe Phật có thể độ sinh già bệnh chết của chúng sinh, chẳng theo thầy học hỏi mà tự nhiên tu tập được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác... Rồi nghĩ rằng: “Nếu đạo Bồ Ðề là có thể được thì ta sẽ tu tập nhất định làm cho được”. Do nhân duyên phát tâm Bồ Ðề này, việc tạo tác công đức hoặc nhiều hay ít đều đem hồi hướng về Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Người đó tác khởi thệ nguyện rằng: “Nguyện cho ta thường được gần gũi các đức Phật và đệ tử của Phật, thường nghe thâm pháp, năm tình đầy đủ, nếu gặp khổ nạn, chẳng mất tâm này!” Lại nguyện: “Các đức Phật và đệ tử của Phật thường ở chỗ của ta sinh tâm hoan hỷ, đủ năm căn lành. Nếu các chúng sinh chặt phạt thân ta, chém đứt tay chân đầu mắt, chi tiết thì ta sẽ đối với người này sinh tâm Ðại từ, tự mừng vui sâu sắc.Những người như vậy đã vì ta làm tăng trưởng nhân duyên Bồ Ðề. Nếu không có người này thì ta sẽ nhờ duyên gì mà được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác!” Lại phát nguyện rằng: “Chớ khiến cho ta được không căn, hai căn và thân nữ nhân, chẳng bị hệ thuộc người, chẳng gặp người chủ ác, chẳng thuộc về vua ác, chẳng sinh vào nước ác. Nếu được thân đẹp, dòng họ chân chính, có nhiều của báu thì chẳng sinh ra kiêu mạn, nguyện khiến cho ta thường được nghe mười hai bộ kinh, thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói. Nếu vì chúng sinh diễn nói thì nguyện khiến cho người thính thọ kính tin không nghi hoặc, thường ở chỗ của ta chẳng sinh ra tâm ác. Ta thà nghe ít mà lý giải được nghĩa vị nhiều, chẳng nguyện nghe nhiều mà đối với nghĩa chẳng rõ. Nguyện làm thầy của tâm, chẳng học theo tam. Nghiệp thân miệng ý chẳng cùng với ác giao du. Có thể ban cho tất cả chúng sinh an vui. Thân giới, tâm tuệ chẳng động như núi. Vì muốn thọ trì chánh pháp vô thượng, đối với thân mạng của cải chẳng sinh lòng san lận. Vật bất tịnh chẳng lấy làm nghiệp phước. Chánh mạng tự sinh sống, lòng không tà bậy dua nịnh. Thọ ơn luôn nghĩ: ơn nhỏ phải báo đền lớn. Giỏi biết nghề khéo, công việc sở hữu trong đời. Khéo giải lời nói phương tục của chúng sinh. Ðọc tụng, ghi chép mười hai bộ kinh chẳng sinh lòng lười biếng giải đãi. Nếu các chúng sinh chẳng ưa thính thọ thì dùng phương tiện tiếp dẫn khiến cho họ thích nghe. Lời nói thường nhu nhuyến, miệng chẳng tuyên dương điều ác. Chúng chẳng hòa hợp có thể làm cho hòa hợp. Có người lo sợ thì làm sao lìa khỏi lo sợ. Ðời đói kém thì khiến cho được giàu có no đủ. Ðời dịch bệnh thì làm Ðại y vương với thuốc bệnh cần dùng, của cải, vật báu tự tại... khiến cho tật bệnh đều được trừ khỏi. Ở kiếp đao binh thì có đại thế lực đoạn dứt sự tàn hại ấy khiến cho không còn nữa. Có thể đoạn diệt đủ thứ sự bố úy của chúng sinh như là: sợ chết, sợ giam cầm, trói buộc, đánh đập, ném vào nước lửa, giặc vua, nghèo cùng, phá giới, ác danh, ác đạo, v.v... Những việc kinh sợ như vậy đều sẽ đoạn trừ hết. Ðối với cha mẹ, sư trưởng thâm tâm sinh cung kính. Ở trong oán ghét phát sinh lòng đại từ. Thường tu sáu niệm, “Không tam muội” môn, mười hai nhân duyên sinh diệt, v.v... Quán tưởng thở ra hít vào (sổ tức), tu tập Thiên hạnh, Phạm hạnh và cả Thánh hạnh, Kim Cương tam muội, Thủ Lăng Nghiêm định... Ở chỗ không có Tam Bảo thì khiến cho ta tự được tâm tịch tịnh. Nếu khi thân tâm ấy chịu đại khổ vẫn không mất tâm Vô Thượng Bồ Ðề, không vì tâm Thanh Văn, Bích Chi Phật mà sinh ra tri túc. Ở chỗ không có Tam Bảo, thường ở trong pháp ngoại đạo xuất gia nhưng vì phá tà kiến nên chẳng tu tập đạo ấy mà được pháp tự tại, được tâm tự tại. Ðối với pháp hữu vi thấy lỗi rõ ràng khiến cho ta kinh sợ đạo quả Nhị thừa như người tiếc mạng sống kinh sợ xả thân. Vì chúng sinh nên ưa ở ba đường ác như chúng sinh ưa cõi trời Ðao Lợi. Vì mỗi một người mà ở vô lượng kiếp thọ khổ địa ngục lòng không hề sinh hối hận. Thấy người khác được lợi chẳng sinh lòng ganh ghét, thường sinh vui mừng như tự mình được niềm vui. Nếu gặp Tam Bảo thì sẽ dùng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, nhà cửa, y dược, đèn sáng, hoa hương, kỹ nhạc, tràng phan, bảo cái, bảy báu cúng dường. Nếu thọ giới cấm của Phật thì kiên cố hộ trì nhất định chẳng sinh tư tưởng hủy phạm. Nếu nghe hạnh khổ Bồ tát khó làm thì lòng mình vui mừng chẳng sinh ra hối hận. Tự nhận thức được việc túc mạng đời xa xưa (đã qua) nhất định chẳng tạo tác nghiệp tham sân, si, chẳng bị quả báo mà tập nhân duyên. Ðối với niềm vui hiện tại chẳng sinh lòng tham trước. Này thiện nam tử! Nếu có người có thể phát nguyện như vậy thì đó gọi là Bồ tát nhất định chẳng thoái mất tâm Bồ Ðề, cũng gọi là Thí chủ, có thể thấy Như Lai, sáng tỏ Phật tính, có thể điều phục chúng sinh, độ thoát sinh tử, khéo có thể hộ trì chánh pháp vô thượng, có thể được đầy đủ sáu Ba la mật. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên tâm chẳng thoái chẳng gọi là Phật tính.

Này thiện nam tử! Ông chẳng thể căn cứ vào tâm có thoái mà nói rằng các chúng sinh không có Phật tính. Ví như hai người đều nghe ở tha phương có núi Thất bảo, núi ấy có dòng suối trong, vị ngon ngọt. Người có thể đến đó thì đoạn dứt vĩnh viễn sự nghèo cùng và uống nước suối ấy thì tăng tuổi thọ vạn năm. Nhưng chỉ có điều là đường đi xa xôi, hiểm trở nhiều khó khăn. Hai người kia đều muốn cùng chung đi đến đó. Một người thì trang bị đủ thứ đồ đi đường, còn một người thì đi đến tay không, không mang theo thứ gì cả. Trên đường cùng nhau tiến về phía trước, họ gặp một người mang theo nhiều của báu, đầy đủ báy thứ trân quí. Hai người liền hỏi trước rằng: “Thưa ngài! Cõi đó thật có núi bảy báu sao?” Người kia đáp rằng: “Thật có chẳng hư dối! Ta đã thu hoạch được của báu, đã uống nước dòng suối ấy! Nhưng chỉ lo đường đi hiểm trở, có nhiều đạo tặc, cát sỏi, gai nhọn, thiếu thốn nước cỏ... Người đi đến có hàng ngàn vạn mà người đạt được rất ít”. Nghe việc đó rồi, một người liền hối hận, mà nói rằng: “Ðường đi đã xa côi, gian nan chẳng phải một, người đi đến nhiều không lường mà người đạt được không bao nhiêu, thì ta làm sao sẽ có thể đến đó được? Sản nghiệp to lớn của ta hôm nay tự cung cấp đủ! Nếu ta lặn lội trên con đường ấy, hoặc mất thân mạng mà thân mạng chẳng toàn thì trường thọ chỗ nào?” Một người lại nói rằng: “Có người có thể qua thì ta cũng có thể qua được! Nếu kết quả đạt được thì ta được đúng như nguyện, thu lấy trân bảo, uống nước suối ngọt. Như nguyện ấy chẳng đạt thì lấy cái chết làm kỳ hẹn!” Lúc đó, hai người, một người thì hối hận thoái lui, một người thì nhắm đường trước tiến tới. Ði đến núi đó, người này thu hoạch được nhiều của cải trân bảo. Ðúng như nguyện, người này uống nước suối, mang theo nhiều trân bảo sở hữu trở về chỗ ở của mình để phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp cho bà con. Người hối hận trở về thấy việc này rồi thì trong lòng sinh ra nóng nảy nghĩ rằng: “Người kia đi đã trở về thì ta làm sao ở yên được?” Người đó liền trang bị đồ đi đường mà ra đi. Núi Thất Bảo là ví cho Ðại Niết Bàn. Nước ngon ngọt là ví cho Phật tính. Hai người ấy là dụ cho hai vị Bồ tát mới phát tâm. Ðường hiểm ác là ví cho sinh tử. Người gặp trên đường đi là ví cho Phật Thế Tôn. Có đạo tặc là dụ cho bốn ma. Cát sỏi, gai nhọn là dụ cho các phiền não. Không nước cỏ là dụ cho chẳng tu tập đạo Bồ Ðề. Một người trở về là dụ cho Bồ tát thoái chuyển. Người đi thẳng đến là dụ cho Bồ tát chẳng thoái chuyển. Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh thường trụ bất biến. Còn con đường hiểm kia chẳng thể nói rằng, người hối quay trở lại nên khiến cho con đường vô thường. Phật tính cũng vậy, này thiện nam tử! Trong đạo Bồ Ðề nhất định không có người thoái lui! Này thiện nam tử! Như người hối hận quay về thấy người bạn trước kia thu hoạch báu trở về với thế lực tự tại, cúng dường cha mẹ, cấp đủ bà con, thụ hưởng nhiều an lạc. Thấy việc này rồi, trong lòng sinh ra nóng nảy, người này liền lại trang bị, trở lại con đường mà ra đi nữa. Chẳng tiếc thân mạng kham nhẫn gian nan, người này liền đến được trong núi Thất Bảo kia. Bồ tát thoái chuyển cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh quyết định sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên trong Kinh ta nói rằng, tất cả chúng sinh thậm chí ngũ nghịch, phạm bốn trọng cấm và nhất xiển đề đều có Phật tính.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Bồ tát có thoái chuyển và chẳng thoái chuyển?

- Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát tu tập nhân duyên nghiệp của ba mươi hai tướng Như Lai thì được gọi là chẳng thoái (Bất thoái), được gọi là Ðại Bồ tát, gọi là chẳng động chuyển, gọi là lân mẫn tất cả chúng sinh, gọi là thắng tất cả Thanh Văn, Duyên Giác, gọi là A tỳ bạt trí (Bất thoái chuyển)! Này thiện nam tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát trì giới chẳng động, thí tâm chẳng dời, an trụ ở thật ngữ như núi Tu Di. Do duyên nghiệp này nên được dưới chân bằng như tướng của đáy hộp gương. Nếu Ðại Bồ tát ở chỗ cha mẹ, hòa thượng, sư trưởng... cho đến súc sinh theo đúng như pháp đem của cải cúng dường cung cấp thì do duyên nghiệp này sẽ được thành tướng ngàn nan hoa bánh xe dưới chân.

Nếu Ðại Bồ tát chẳng sát sinh thì chẳng trộm cắp, đối với cha mẹ, sự trưởng thường sinh ra vui mừng thì do duyên nghiệp này được thành ba tướng, một là ngón tay nhỏ dài, hai là gót chân dài, ba là thân ấy vuông thẳng. Ba tướng như vậy đồng một duyên nghiệp. Nếu Ðại Bồ tát tu bốn nhiếp pháp, nhiếp lấy chúng sinh thì do duyên nghiệp này nên được ngón tay có màn lưới như vua bạch nga (ngỗng trắng). Nếu Ðại Bồ tát, khi cha mẹ, sư trưởng bị bệnh khổ mà tự tắm rửa, lau chùi, nắm giữ, xoa bóp thì do duyên nghiệp này nên được tay chân mềm mại. Nếu Ðại Bồ tát trì giới, bố thí, nghe pháp không chán thì do duyên nghiệp này nên được đốt xương, các khớp đầy đặn, lông trên thân đẹp đẽ. Nếu Ðại Bồ tát chuyên tâm nghe pháp, diễn nói chánh giáo thì do duyên nghiệp này nên được tướng đùi nai chúa. Nếu Ðại Bồ tát đối với các chúng sinh chẳng sinh lòng giết hại, ăn uống tri túc, thường ưa ban cho xem bệnh cấp thuốc thì do duyên nghiệp này nên được thân viên mãn như cây Ni câu đà, đứng lên tay quá gối, đỉnh đầu có nhục kế, không ai thấy đỉnh tướng. Nếu Ðại Bồ tát thấy người sợ hãi mà vì họ tạo sự cứu hộ, thấy kẻ trần truồng ban cho quần áo thì do duyên nghiệp này nên được âm tàng tướng. Nếu Ðại Bồ tát thân cận người trí, xa lìa người ngu, khéo vừa lòng hỏi đáp, quét dọn đường đi do những duyên nghiệp này nên được da dẻ mềm mại, lông trên thân xoáy về bên phải. Nếu Ðại Bồ tát thường dùng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, hương hoa, đèn sáng cho người thì do duyên nghiệp này nên được thân Kim sắc, thường phát ánh sáng rực rỡ. Nếu Ðại Bồ tát, khi hành thí, mà vật trân quí có thể xả bỏ chẳng tiếc nuối, chẳng cần quan sát là phước điền hay chẳng phải phước điền thì do duyên nghiệp này nên được tướng bảy chỗ đầy đặn. Nếu Ðại Bồ tát, khi Bố thí mà lòng chẳng sinh nghi ngờ thì do duyên nghiệp này nên được âm thanh êm dịu. Nếu Ðại Bồ tát theo đúng như pháp tìm cầu của cải rồi đem dùng bố thí thì do duyên nghiệp này nên được xương khuyết đầy tràn, thân phần trên như sư tử, cánh tay thon dài. Nếu Bồ tát xa lìa lưỡng thiệc, ác khẩu, lòng sân giận thì do duyên nghiệp này nên được bốn mươi cái răng trắng, sạch, bằng và kín. Nếu Ðại Bồ tát đối với các chúng sinh tu đại từ bi thì do duyên nghiệp này nên được tướng hai ngà. Nếu Ðại Bồ tát thường tác khởi lời nguyện này, có người đến cầu xin, cấp cho theo ý thì do duyên nghiệp này nên được tướng hai má sư tử. Nếu Ðại Bồ tát tùy theo sự ăn uống cần dùng của chúng sinh mà đều ban cho cả thì do duyên nghiệp này nên được thượng vị trong các vị ngon. Nếu Ðại Bồ tát tự tu mười điều thiện, kiêm thêm đem giáo hóa cho người thì do duyên nghiệp này nên được tướng Quảng Trường Thiệc (Lưỡi dài rộng). Nếu Ðại Bồ tát chẳng nói lên sở đoản của người khác, chẳng bài báng chánh pháp thì do duyên nghiệp này nên được âm thanh của trời Phạm. Nếu Ðại Bồ tát thấy các điều oán ghét mà sinh ra lòng mừng thì do duyên nghiệp này nên được lông mi màu xanh biếc. Nếu Ðại Bồ tát chẳng che giấu đức của người khác mà xưng dương cái tốt của họ thì do duyên nghiệp này nên được tướng Bạch hào. Này thiện nam tử! Khi Ðại Bồ tát tu tập nhân duyên nghiệp của ba mươi hai tướng thì được tâm Bồ Ðề.

Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới của chư Phật nghiệp quả và Phật tính cũng chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao vậy? Vì bốn pháp như vậy đều là thường mà do sự thường này nên chẳng thể nghĩ bàn. Phiền não của tất cả chúng sinh ngăn che nên gọi là thường mà đoạn dứt thường của phiền não nên gọi là vô thường. Nếu nói rằng, tất cả chúng sinh thường thì vì sao tu tập tám Thánh đạo phận là đoạn được mọi khổ. Mọi sự khổ nếu đoạn thì gọi là vô thường. Niềm vui đã thọ thì gọi là thường. Vậy nên ta nói rằng, phiền não của tất cả chúng sinh ngăn che, chẳng thấy Phật tính mà do chẳng thấy nên chẳng được Niết Bàn.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi sáu hết –


27/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Bảy

PHẨM BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG THỨ Thứ Hai Mươi Ba (tiếp theo)

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, tất cả các pháp có hai thứ nhân, một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Do hai nhân này nên không có trói buộc hay cởi mở. Năm ấm này thì từng niệm từng niệm sinh diệt. Như sự sinh diệt ấy thì ai trói? Ai mở? Thưa đức Thế Tôn! Nhân năm ấm này sinh ra năm ấm sau. Ấm này tự diệt chẳng đến ấm kia. Tuy chẳng đến ấm kia nhưng có thể sinh ra ấm kia. Như nhân hạt sinh ra mầm mà hạt chẳng đến mầm. Tuy hạt chẳng đến mầm mà có thể sinh ra mầm. Chúng sinh cũng vậy thì sao gọi là trói hay mở?

- Này thiện nam tử! Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt, giải nói! Này thiện nam tử! Như khi người bỏ mạng chịu khổ lớn thì bà con vay quanh gào khóc áo não. Người ấy sợ hãi không biết y cứu vào đâu. Tuy có năm tình nhưng người ấy không hay biết gì, chi tiết rúng động, chẳng thể tự giữ gìn, thân thể trống lạnh, hơi ấm muốn hết, thấy trước tướng báo ứng của việc tu thiện, ác. Này thiện nam tử! Như mặt trời lặn xuống thì bóng núi, đồi, gò, đống hiện ngã về đông, không ngã về tây. Nghiệp quả chúng sinh cũng lại như vậy, khi ấm này diệt thì ấm kia nối tiếp sinh, như đèn thắp lên thì bóng tối diệt, đèn tắt thì tối sinh ra. Này thiện nam tử! Như dấu sáp ong in vào đất bùn, con dấu cùng đất bùn hợp lại, nếu con dấu diệt thì hoa văn hiện thành. Nhưng con dấu sáp chẳng biến mất tại đất bùn, hoa văn chẳng phải do đất bùn sinh ra, chẳng ở chỗ khác đến mà do nhân duyên dấu sáp sinh ra hoa văn này. Ấm hiện tại diệt thì ấm của trung ấm sinh. Ấm hiện tại này nhất định chẳng biến làm năm ấm của trung ấm. Năm ấm của trung ấm cũng chẳng phải tự sinh ra, chẳng từ chỗ khác đến mà nhân ấm hiện tại sinh ra ấm trung ấm, như dấu sáp in vào bùn mà dấu hoại thì hoa văn thành. Tên gọi tuy không sai mà thời tiết đều khác. Vậy nên ta nói rằng, năm ấm của trung ấm chẳng phải mắt thịt nhìn thấy mà là cái thấy của mắt trời. Trong Trung ấm này có ba thứ ăn, một là tư thực (ăn bằng tư tưởng), hai là xúc thực (ăn bằng chạm xúc), ba là ý thực. Trung ấm có hai thứ, một là thiện nghiệp quả, hai là ác nghiệp quả. Nhân thiện nghiệp nên được thiện giác quán. Nhân ác nghiệp nên được ác giác quán. Khi cha mẹ giao hội ly hợp thì tùy theo nhân duyên nghiệp, một hướng về chỗ thọ sinh, đối với mẹ sinh yêu thương thì đối với cha sinh sân giận. Khi tinh cha ra thì gọi là đã có. Ðã thấy rồi, lòng mừng mà sinh ra hoan hỷ. Do ba thứ nhân duyên phiền não này nên ấm của Trung ấm hoại đi mà sinh ra năm ấm sau, như dấu in vào đất bùn mà dấu hoại thì hoa văn sinh ra. Khi sinh ra các căn có đủ hay chẳng đủ. Người đủ thì thấy sắc nên sinh ra tham mà sinh ra tham thì gọi là Ái. Rồ dại (cuồng nên sinh ra tham thì đó gọi là vô minh.Do hai nhân duyên tham ái, vô minh nên sự nhìn thấy cảnh giới đều điên đảo: vô thường thấy thường, vô ngã thấy ngã, vô lạc thấy lạc, vô tịnh thấy tịnh. Do bốn điên đão nên tạo tác hạnh thiện, ác, phiền não tạo tác nghiệp, nghiệp tạo tác phiền não... Ðó gọi là trói buộc. Do nghĩa này nên gọi là Năm Ấm sinh. Người này nếu được thân cận với Phật và đệ tử của Phật, các thiện tri thức thì liền được nghe thọ mười hai bộ kinh. Do được nghe pháp nên quan sát cảnh giới thiện. Quan sát cảnh giới thiện nên được đại trí tuệ. Người Ðại trí tuệ thì gọi là Chánh tri kiến. Ðược Chánh tri kiến nên ở trong sinh tử mà sinh lòng hối hận. Do sinh lòng hối hận nên chẳng sinh ra hoan lạc. Chẳng sinh ra hoan lạc nên có thể phá được lòng tham. Phá lòng tham nên tu Bát chánh đạo. Tu Bát chánh đạo nên được không sinh tử mà không sinh tử nên gọi là được giải thoát. Như lửa chẳng gặp được củi gọi là lửa tắt, diệt sinh tử nên gọi là diệt độ. Do nghĩa này nên gọi là năm ấm diệt.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Trong hư không không có gai nhọn sao nói rằng nhổ? Ấm không ràng buộc thì sao gọi là trói buộc?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Do khóa phiền não trói buộc năm ấm, lìa năm ấm rồi không biệt phiền não, lìa phiền não rồi không biệt năm ấm! Này thiện nam tử! Như cây trụ chống giữ nhà, lìa nhà không có trụ, lìa trụ không có nhà! Chúng sinh ngũ ấm cũng lại như vậy, có phiền não nên gọi là trói buộc, không phiền não nên gọi là giải thoát. Này thiện nam tử! Như nắm tay, chắp tay, trói buộc, v.v... cả ba hợp tan, sinh diệt lại không có biệt pháp. Năm ấm chúng sinh cũng lại như vậy, có phiền não nên gọi là trói buộc, không phiền não nên gọi là giải thoát. Này thiện nam tử! Như nói danh sắc trói buộc chúng sinh. Danh sắc nếu biệt thì không chúng sinh, lìa danh sắc rồi không biệt chúng sinh, lìa chúng sinh rồi không biệt danh sắc nên cũng gọi là danh sắc trói buộc chúng sinh, cũng gọi là chúng sinh trói buộc danh sắc.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như mắt chẳng tự thấy, ngón tay chẳng tự chạm xúc, lưỡi dao chẳng tự cắt, người thọ chẳng tự thọ thì làm sao đức Như Lai nói rằng, danh sắc trói buộc danh sắc? Vì sao vậy? Vì nói danh sắc thì tức là chúng sinh, nói chúng sinh thì tức là danh sắc. Nếu nói rằng, danh sắc trói buộc chúng sinh tức là danh sắc trói buộc danh sắc.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như khi hai tay hợp lại thì không có pháp khác đến hợp. Danh cùng với sắc cũng lại như vậy. Do nghĩa này nên ta nói rằng, danh sắc trói buộc chúng sinh. Nếu lìa khỏi danh sắc thì được giải thoát nên ta nói rằng, chúng sinh giải thoát.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu có danh sắc là trói buộc thì các A la hán chưa lìa khỏi danh sắc cũng ứng ràng buộc?

- Này thiện nam tử! Giải thoát có hai thứ, một là tử đoạn (đoạn hạt nhân), hai là quả đoạn (đoạn kết quả). Nói Tử đoạn là gọi đoạn phiền não. A la hán, v.v... đã đoạn phiền não, mọi kết tan rã hủy hoại. Vậy nên sử kết của hạt nhân chẳng thể trói buộc. Chưa đoạn kết quả nên gọi là quả trói buộc. Các A la hán chẳng thấy Phật tính. Do chẳng thấy nên chẳng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do nghĩa này nên có thể nói rằng, quả ràng buộc, chẳng thể nói rằng, danh sắc ràng buộc. Này thiện nam tử! Ví như khi thắp đèn mà dầu chưa hết thì ánh sáng chẳng diệt. Nhưng nếu dầu hết thì ánh sáng diệt không gì nghi ngờ! Này thiện nam tử! Cái gọi rằng dầu là dụ cho các phiền não, đèn lại dụ cho chúng sinh. Tất cả chúng sinh vì dầu phiền não nên chẳng vào Niết Bàn. Nếu có người đoạn được thì vào Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðèn với dầu cả hai tính đều khác còn chúng sinh, phiền não thì chẳng như vậy. Chúng sinh tức là phiền não, phiền não tức là chúng sinh, chúng sinh gọi là năm ấm, năm ấm gọi là chúng sinh, năm ấm gọi là phiền não, phiền não gọi là năm ấm thì làm sao đức Như Lai đem dụ nó với đèn?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Dụ có tám thứ, một là thuận dụ, hai là nghịch dụ, ba là hiện dụ, bốn là phi dụ, năm là tiên (trước) dụ, sáu là hậu dụ, bảy là tiên hậu dụ, tám biến dụ (biến: khắp).

Sao gọi là thuận dụ? Như trong kinh nói rằng, trời tuông mưa lớn suối khe tràn đầy nên hầm nhỏ đầy, hầm nhỏ đầy nên hầm lớn đầy, hầm lớn đầy nên suối nhỏ đầy, suối nhỏ đầy nên suối lớn đầy, suối lớn đầy nên ao nhỏ đầy, ao nhỏ đầy nên ao lớn đầy, ao lớn đầy nên sông nhỏ đầy, sông nhỏ đầy nên sông lớn đầy, sông lớn đầy nên biển cả đầy. Mưa pháp của Như Lai cũng lại như vậy, chúng sinh giới (cấm) đầy, giới đầy đủ nên lòng chẳng hối đầy, lòng chẳng hối đầy nên hoan hỷ đầy, hoan hỷ đầy nên viễn ly đầy, viễn ly đầy nên yên ổn đầy, yên ổn đầy nên Tam muội đầy, Tam muội đầy nên chánh tri kiến đầy, chánh tri kiến đầy nên yếm ly (chán lìa) đầy, yếm ly đầy nên quở trách đầy, quở trách đầy nên giải thoát đầy, giải thoát đầy nên Niết Bàn đầy. Ðó gọi là thuận dụ.

Sao gọi là nghịch dụ? Biển cả có gốc là sông lớn, sông lớn có gốc gọi là sông nhỏ, sông nhỏ có gốc gọi là ao lớn, ao lớn có gốc gọi là ao nhỏ, ao nhỏ có gốc gọi là suối lớn, suối lớn có gốc gọi là suối nhỏ, suối nhỏ có gốc gọi là hầm lớn, hầm lớn có gốc gọi là hầm nhỏ, hầm nhỏ có gốc gọi là suối khe, suối khe có gốc gọi là mưa lớn... Niết Bàn có gốc gọi là giải thoát, giải thoát có gốc gọi là quở trách, quở trách có gốc gọi là yếm ly, yếm ly có gốc gọi là chánh tri kiến, chánh tri kiến có gốc gọi là Tam muội, Tam muội có gốc gọi là yên ổn, yên ổn có gốc gọi là viễn ly, viễn ly có gốc gọi là hỷ tâm, hỷ tâm có gốc gọi là chẳng hối, chẳng hối có gốc gọi là trì giới, trì giới có gốc gọi là pháp vũ. Ðó gọi là nghịch dụ.

Sao gọi là hiện dụ? Như trong kinh nói tâm tính chúng sinh giống như con khỉ đột. Tính khỉ đột bỏ buông bắt không dừng một, lấy một. Tâm tính chúng sinh cũng lại như vậy, tham lấy sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không khi nào tạm đứng lại. Ðó gọi là hiện dụ. Sao gọi là phi dụ? Như thuở trước ta bảo vua Ba Tư Nặc rằng: “Này Ðại vương! Có người thân tín từ bốn phương đến đều nói lời này, thưa đại vương! Có bốn núi lớn từ bốn phương đến muốn hại nhân dân. Nếu nhà vua nghe thì phải thiết lập kế gì?”. Nhà vua đáp rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Giả sử có điều này đến, không tìm chỗ chạy trốn, chỉ phải chuyên chuyên tâm trì giới, bố thí!” Ta liền khen ngợi rằng: “Hay thay! Này đại vương! Ta nói bốn núi tức là sự sinh già bệnh chết của chúng sinh. Sinh già bệnh chết thường đến bức thiết con người thì làm sao đại vương chẳng tu trì giới, bố thí?”. Nhà vua bạch rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Trì giới, bố thí thì được những quả gì?” Ta đáp rằng: “Này đại vương! Ở trong người trời hướng thọ nhiều khoái lạc!” Nhà vua bạch rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Cây Ni câu đà có trì giới, bố thí đâu mà cũng ở với người trời hưởng thọ an lạc vậy?” Ta nói rằng: “Thưa đại vương! Cây Ni câu đà chẳng thể trì giới, tu hành bố thí. Như cây ấy có thể trì giới, bố thí thì hưởng thọ khoái lạc không khác người, trời”. Ðó gọi là phi dụ.

Sao gọi là tiên dụ? Trong Kinh ta nói, ví như có người tham trước hoa đẹp, khi hái hoa bị nước cuốn trôi. Chúng sinh cũng vậy, tham trước năm dục bị cuốn trôi mất của sinh, già, chết. Ðó gọi là tiên dụ.

Sao gọi là hậu dụ? Như kinh pháp cú nói rằng:

Chớ khinh ác nhỏ Là không tai ương

Giọt nước tuy nhỏ Chậu lớn dần tràn.

Ðó gọi là hậu dụ.

Sao gọi là tiên hậu dụ? Ví như cây chuối ra trái thì chết. Người ngu được lợi dưỡng cũng lại như vậy, như con la mang thai thì sinh mạng chẳng an toàn lâu.

Sao gọi là biến dụ? Như trong Kinh nói, trời thứ ba mươi ba có cây Ba lợi chất đa, rễ nó vào sâu trong đất đến năm do tuần, cao đến hàng trăm do tuần, cành lá trải rộng bốn phía đến năm mươi do tuần. Lá chín thì vàng, chư thiên thấy rồi lòng sinh ra hoan hỷ, lá này chẳng bao lâu ắt rơi rụng. Lá ấy đã rơi thì chư thiên lại sinh ra hoan hỷ. Cành cây này chẳng bao lâu ắt đổi sắc mà cành đã đổi sắc thì chư thiên lại sinh hoan hỷ. Sắc này chẳng bao lâu sẽ sinh những nốt phồng lên mà chư thiên thấy rồi lại sinh hoan hỷ. Nốt phồng này chẳng lâu ắt sẽ nhú những mõm nhọn mà chư thiên thấy rồi lại mừng. Mõm nhọn này chẳng bao lâu ắt sẽ nở ra mà khi nó nở ra thì hơi thơm lan cùng khắp năm mươi do tuần, ánh sáng soi chiếu xa đến tám mươi do tuần. Bấy giờ là thời gian ba tháng mùa hạ, chư thiên ở dưới cây này, hưởng thụ khoái lạc. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta cũng lại như vậy. Màu lá vàng là dụ cho ý niệm của đệ tử ta muốn xuất gia. Lá ấy rụng là dụ cho đệ tử ta cạo bỏ râu tóc. Sắc ấy biến đổi là dụ cho đệ tử của ta bạch bốn yết ma, thọ cụ túc giới. Nốt phồng lên mới sinh là dụ cho đệ tử của ta mới phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Mõm nhọn là dụ cho Bồ tát Thập Trụ được thấy Phật tính. Mõm nhọn nở ra là dụ cho Bồ tát được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hương thơm là dụ cho vô lượng chúng sinh ở mười phương thọ trì cấm giới. Ánh sáng là dụ cho danh hiệu của Như Lai châu biến mười phương không ngăn ngại. Ba tháng hạ là dụ cho Tam muội. Trời Ba mươi ba hưởng thụ khoái lạc là dụ cho các đức Phật tại Ðại Niết Bàn được Thường Lạc Ngã Tịnh. Ðó gọi là Biến dụ. Này thiện nam tử! Phàm việc dẫn dụ thì chẳng nhất định phải lấy hết mà hoặc lấy một phần ít, hoặc lấy phần nhiều, hoặc lại lấy toàn phần. Như nói rằng, mặt Như Lai như trăng đầy thì đó gọi là phần ít. Này thiện nam tử! Ví như có người, đầu tiên chẳng thấy sữa mà chuyển hỏi người khác rằng, sữa là loại gì? Người kia đáp rằng: “Như nước, mật và vỏ sò!” Nước thì tướng ẩm ướt, mật thì tướng ngọt, vỏ sò thì tướng màu. Tuy dẫn ba dụ nhưng chưa là sữa thật. Này thiện nam tử! Ta nói ví dụ đèn để dụ cho chúng sinh cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Rời khỏi nước thì không có sông, chúng sinh cũng vậy, lìa khỏi năm ấm rồi không biệt chúng sinh (không có chúng sinh khác). Này thiện nam tử! Như lìa khỏi thùng xe, bánh xe, nan hoa bánh xe, trục xe, vành bánh xe thì lại không có cái xe khác (biệt xa). Chúng sinh cũng vậy. Này thiện nam tử! Nếu muốn được hợp với cái ví dụ đèn đó thì ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta nay sẽ vì ông nói! Bấc (tim) đèn là dụ cho hai mươi lăm cõi hữu, dầu là dụ cho ái, ánh sáng dụ cho trí tuệ, phá trừ đen tối là dụ cho phá vô minh, hơi ấm dụ cho Thánh đạo. Như đèn hết dầu thì ánh sáng diệt, chúng sinh hết ái thì thấy Phật tính. Tuy có danh sắc nhưng chẳng thể trói buộc! Tuy lại ở tại hai mươi lăm cõi hữu nhưng chẳng bị sự ô nhiễm của các hữu!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng sinh ngũ ấm rỗng không, không sở hữu thì có ai thọ giáo tu tập đạo?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh đều có tâm niệm, tâm tuệ, tâm phát, tâm siêng tinh tấn, tâm tín, tâm định... Những pháp như vậy tuy từng niệm từng niệm sinh diệt nhưng giống như cũ, tương tợ nối tiếp nhau, chẳng đoạn dứt nên gọi là tu đạo.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những pháp như vậy đều từng niệm từng niệm diệt. Từng niệm từng niệm diệt này cũng tương tợ nối tiếp nhau thì làm sao tu tập?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðèn tuy từng niệm từng niệm diệt mà có ánh sáng phá trừ tối tăm. Các pháp từng niệm, v.v... cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như chúng sinh ăn tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng cũng khiến cho người đói mà được no đủ. Ví như thuốc tốt nhất tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng cũng có thể khỏi bệnh. Ánh sáng mặt trời mặt trăng tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng cũng có thể làm tăng trưởng rừng cây, thảo mộc. Này thiện nam tử! Ông nói rằng, từng niệm từng niệm diệt thì làm sao tăng trưởng? Thì tâm chẳng đoạn nên gọi là tăng trưởng. Này thiện nam tử! Ví như người đọc sách. Việc đọc chữ câu chẳng được cùng một lúc, trước chẳng đến giữa, giữa chẳng đến sau. Người đọc cùng chữ và cả tâm tưởng đều từng niệm từng niệm diệt, rồi do tu lâu nên được thông lợi. Này thiện nam tử! Ví như người thợ vàng, từ lúc mới tập cho đến lúc bạc đầu, tuy từng niệm từng niệm diệt, trước chẳng đến sau, nhưng do tích tập nên việc làm trở nên khéo đẹp. Vậy nên được xưng là thợ vàng giỏi bậc thầy. Ðọc tụng kinh sách cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như hạt giống, đất cũng chẳng dạy nó rằng: “Ngươi phải nảy mầm!” Nhưng do tính của pháp nên mầm tự sinh ra. Cho đến hoa đất cũng chẳng dạy người: “Người phải kết trái!” Nhưng do tính của pháp nên trái tự sinh ra. Chúng sinh tu đạo cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như phép tính mà một chẳng đến hai, hai chẳng đến ba... tuy niệm niệm diệt mà đến ngàn vạn. Chúng sinh tu đạo cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ðèn từng niệm từng niệm diệt, ánh sáng mới diệt chẳng bảo ánh sáng sau rằng: “Ta diệt, người sinh ra phải phá các tối tăm!” Này thiện nam tử! Ví như con trâu nghé sinh ra liền tìm sữa. Trí tìm sữa thật không có người dạy, tuy từng niệm diệt mà ban đầu đói, về sau no. Vậy nên phải biết, chẳng nên tương tợ. Nếu tương tợ thì chẳng nên sinh khác. Chúng sinh tu đạo cũng lại như vậy, ban đầu tuy chưa tăng trưởng nhưng do tu lâu nên có thể phá hoại tất cả phiền não.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, người Tu đà hoàn được quả chứng rồi, tuy sinh vào đất nước ác nhưng còn cố giữ giới, chẳng sát sinh, trộm cắp, dâm dục, lưỡng thiệc, uống rượu thì Tu đà hoàn ấm liền ở chỗ này diệt, chẳng đến đất nước ác. Tu đạo cũng vậy, chẳng đến đất nước ác. Nếu tương tợ thì vì sao chẳng sinh đến đất nước thanh tịnh vi diệu? Nếu ấm của đất nước ác chẳng phải là ấm của Tu đà hoàn thì làm sao mà được chẳng tạo tác nghiệp ác?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Người Tu đà hoàn tuy sinh ở nước ác nhưng nhất định chẳng mất danh xưng Tu đà hoàn và ấm chẳng tương tợ nên ta dẫn con trâu nghé làm ví dụ. Người Tu đà hoàn tuy sinh ở nước ác nhưng do đạo lực nên chẳng tạo tác nghiệp ác. Này thiện nam tử! Ví như núi Hương có vua Sư Tử. Vậy nên tất cả loài chim bay, thú chạy tuyệt tích ở núi này, chẳng dám đến gần. Có lúc vua Sư tử này đến trong núi Tuyết, tất cả loài chim thú còn chẳng trụ. Người Tu đà hoàn cũng lại như vậy, tuy chẳng tu đạo nhưng do đạo lực nên chẳng làm các ác. Này thiện nam tử! Ví như có người ăn uống cam lộ. Cam lộ tuy diệt nhưng nhờ thế lực của nó nên khiến cho người này chẳng sinh, chẳng chết. Này thiện nam tử! Như núi Tu Di có thuốc thượng diệu tên là Lăng Dà Lợi. Có người uống nó, tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng do dược lực nên chẳng gặp hoạn khổ. Này thiện nam tử! Như chỗ ngồi của vua Chuyển Luân, tuy nhà vua chẳng ở tại đó nhưng không ai dám gần. Vì sao vậy? Vì uy lực của nhà vua. Người Tu đà hoàn cũng lại như vậy, tuy sinh ở nước ác, chẳng tu tập đạo nhưng do đạo lực nên chẳng làm nghiệp ác. Này thiện nam tử! Ấm của người Tu đà hoàn ở đây mà diệt thì tuy sinh ra ấm khác còn chẳng mất ấm của Tu đà hoàn. Này thiện nam tử! Ví như chúng sinh vì quả trái nên ở trong hạt giống đã làm nhiều việc như bón phân, tưới nước. Chưa được quả trái mà hạt lại diệt và cũng được gọi là nhân hạt được quả. Ấm của Tu đà hoàn cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như có người của cải giàu to mà chỉ có một người con mà đã chết trước. Người con ấy có con nhưng lại ở nước khác. Người nhà giàu ấy bỗng nhiên vội mạng chung. Người cháu nghe tin này đã trở về thu lấy sản nghiệp, tuy biết của cải chẳng phải là sở tác của người ấy, nhưng người ấy thâu lấy không ai ngăn giữ. Vì sao vậy? Vì do cùng một họ vậy. Ấm của Tu đà hoàn cũng lại như vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Như bài kệ đức Phật đã nói:

Tỳ kheo nếu tu tập

Giới, định, tuệ ba môn

Phải biết là chẳng thoái

Gần gũi Ðại Niết Bàn.

Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi tu Giới? Sao gọi là tu Ðịnh? Sao gọi là tu Tuệ?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu có người thọ trì cấm giới chỉ vì tự lợi, làm người trời thụ hưởng an vui, chẳng vì độ thoát tất cả chúng sinh, chẳng vì hộ trì chánh pháp Vô Thượng, chỉ vì lợi dưỡng, sợ ba đường ác, vì sắc lực của mạng sống, an vô ngại biện, sợ sệt vương pháp, danh xấu, tiếng dơ, vì sự nghiệp thế gian... Hộ trì giới như vậy thì chẳng được gọi là tu tập giới. Này thiện nam tử! Sao gọi là tu tập giới chân thật? Khi thọ trì giới, nếu vì độ thoát tất cả chúng sinh, vì hộ chánh pháp, vì độ người chưa độ, giải thoát kẻ chưa giải thoát đưa về người chưa về, người chưa vào Niết Bàn khiến cho vào... Khi tu như vậy chẳng thấy giới, chẳng thấy tướng của giới, chẳng thấy người trì giới, chẳng thấy quả báo, chẳng quan sát kẻ hủy phạm. Này thiện nam tử! Nếu có thể như vậy thì đó gọi là tu tập giới vậy.

Sao gọi là tu tập Tam muội? Khi tu Tam muội mà vì tự độ, vì lợi dưỡng, chẳng vì chúng sinh, chẳng vì hộ pháp, vì thấy lỗi tham dục, ăn bẩn, v.v..., căn nam nữ, v.v... chín lỗ chẳng sạch, chiến đấu, tranh tụng, đánh đâm, sát hại lẫn nhau... Nếu vì những việc này mà tu Tam muội thì đó chẳng gọi là tu tập Tam muội. Này thiện nam tử! Sao gọi là tu tập Tam muội chân thật? Nếu vì chúng sinh tu tập Tam muội, ở trong chúng sinh được lòng bình đẳng, vì khiến cho chúng sinh được pháp bất thoái, vì khiến cho chúng sinh được tâm của Thánh, vì khiến cho chúng sinh được Ðại Thừa, vì muốn hộ trì pháp Vô Thượng, vì khiến cho chúng sinh chẳng thoái tâm Bồ Ðề, vì khiến cho chúng sinh được Thủ Lăng Nghiêm, vì khiến cho chúng sinh được Kim Cương Tam muội, vì khiến cho chúng sinh được Ðà la ni, vì khiến cho chúng sinh được bốn vô ngại, vì khiến cho chúng sinh thấy Phật tính... khi làm hạnh này, hành giả chẳng thấy Tam muội, chẳng thấy tướng Tam muội, chẳng thấy người tu, chẳng thấy quả báo. Này thiện nam tử! Nếu có thể như vậy thì đó gọi là tu tập Tam muội.

Sao gọi là tu Trí tuệ? Nếu có người tu suy nghĩ rằng: “Ta nếu tu tập trí tuệ như vậy thì được giải thoát, qua khỏi ba đường ác. Phật ra đời khó như hoa Ưu Ðàm, ta nay có thể đoạn các kết phiền não, nhất định được giải thoát. Vậy nên ta phải siêng tu trí tuệ, mau chóng đoạn phiền não, sớm được độ thoát”. Người tu như vậy chẳng được gọi là tu tập trí tuệ. Sao gọi là người tu tập trí tuệ chân thật? Nếu người đó quan sát khổ sinh, già, chết, tất cả chúng sinh bị vô minh che phủ, chẳng biết tu tập đạo Vô Thượng chân chính mà phát nguyện rằng: “Ta nguyện đem thân này thay cho chúng sinh thọ đại khổ não! Tâm bần cùng, hạ tiện, phá giới và nghiệp tham sân, si... sẵn có của chúng sinh, ta nguyện đến gom hết về thân ta! Nguyện các chúng sinh chẳng sinh ra tham thủ (lấy), chẳng bị sự trói buộc của danh sắc! Nguyện cho các chúng sinh sớm qua khỏi sinh tử, khiến cho ta ở đó một mình mà chẳng chán! Nguyện khiến cho tất cả đều được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Khi tu như vậy, hành giả chẳng thấy trí tuệ, chẳng thấy tướng của trí tuệ, chẳng thấy người tu, chẳng thấy quả báo. Ðó gọi là tu tập trí tuệ.

Này thiện nam tử! Tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ như vậy thì đó gọi là Bồ tát. Chẳng thể tu Giới, Ðịnh, Tuệ như vậy thì đó gọi là Thanh Văn.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao lại gọi là tu tập Giới? Nếu là người có thể phá hoại mười sáu luật nghi ác của tất cả chúng sinh. Những gì là mười sáu? Một là vì lợi mà nuôi dê con cho béo rồi đem bán. Hai là vì lợi mà mua nó về giết mổ. Ba là vì lợi mà nuôi dưỡng heo cho béo rồi đem bán. Bốn là vì lợi mua nó về giết mổ. Năm là vì lợi mà nuôi dưỡng trâu nghé cho béo rồi đem bán. Sáu là vì lợi mua nó về giết mổ. Bảy là vì lợi nuôi gà cho mập béo rồi đem bán. Tám là vì lợi mua nó về giết mổ. Chín là câu cá. Mười là làm thợ săn. Mười một là cướp đọat. Mười hai là làm kẻ đầu nậu nem chả. Mười ba là giăng lưới bắt loài chim bay. Mười bốn là nói hai lưỡi. Mười lăm là làm ngục tốt. Mười sáu là nguyền rủa loài rồng (chú rồng?). Nếu hành giả có thể vì chúng sinh đoạn trừ vĩnh viễn mười sáu nghiệp ác như vậy thì đó gọi là Tu Giới.

Sao gọi là tu Ðịnh? Nếu có thể đoạn tất cả Tam muội của thế gian, như là vô thân Tam muội có thể khiến cho chúng sinh sinh tâm điên đảo cho là Niết Bàn. Lại như là vô biên tâm Tam muội, Tịnh tụ Tam muội, Thế biên Tam muội, Thế đoạn Tam muội, Thế tính Tam muội, Thế trượng phu Tam muội, Phi tưởng phi phi tưởng Tam muội... Những định như vậy có thể khiến cho chúng sinh sinh lòng điên đảo cho là Niết Bàn. Nếu có thể đoạn trừ vĩnh viễn những Tam muội như vậy thì đó gọi là tu tập Tam muội.

Sao gọi là tu tập Trí tuệ? Là có thể phá hết ác kiến sở hữu của thế gian. Tất cả chúng sinh đều có ác kiến, như gọi sắc tức là ngã cũng là ngã sở, trong sắc có ngã trong ngã có sắc... cho đến thức cũng như vậy, sắc tức là ngã mà sắc diệt ngã tồn tại, sắc tức là ngã mà sắc diệt ngã diệt. Lại có người nói rằng, tác giả gọi là ngã, người thọ nhận gọi là sắc. Lại có người nói rằng, tác giả gọi là sắc, người thọ gọi là ngã. Lại có người nói rằng, không người làm, kẻ thọ mà tự sinh, tự diệt đều chẳng phải là nhân duyên. Lại có người nói rằng, không tác không thọ mà đều là sự tạo tác của Tự tại. Lại có người nói rằng, không có người làm, không có người thọ, tất cả đều là sự tạo tác của thời tiết. Lại có người nói rằng, tác giả thọ giả đều không sở hữu, địa, thủy, hỏa, phong, không, năm đại, gọi là chúng sinh. Này thiện nam tử! Nếu có thể phá hoại tất cả những ác kiến như vậy của chúng sinh thì đó gọi là tu tập Trí tuệ.

Này thiện nam tử! Tu tập Giới là vì thân thanh tịnh. Tu tập Tam muội là vì tâm thanh tịnh. Tu tập Trí tuệ là vì phá hoại tâm nghi hoặc. Hủy hoại tâm nghi hoặc là vì tu tập đạo. Tu tập đạo là để thấy Phật tính. Thấy Phật tính là để được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðược Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác là để được Vô Thượng Ðại Niết Bàn. Ðược Ðại Niết Bàn là để đoạn trừ tất cả sinh tử, tất cả phiền não, tất cả các hữu, tất cả các giới, tất cả các đế của chúng sinh. Ðoạn trừ được sinh tử... cho đến đoạn các đế là được pháp Thường - Lạc - Ngã - Tịnh vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, nếu chẳng sinh diệt thì gọi là Ðại Niết Bàn. Sinh cũng như vậy, chẳng sinh chẳng diệt thì vì sao chẳng được gọi là Niết Bàn?

- Này thiện nam tử! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời ông nói! Sinh này tuy lại chẳng sinh, chẳng diệt mà có đầu có cuối.

- Thưa đức Thế Tôn! Pháp sinh tử này cũng không đầu cuối. Nếu nó không đầu cuối thì gọi là thường mà thường tức là Niết Bàn thì vì sao chẳng gọi sinh tử là Niết Bàn vậy?

- Này thiện nam tử! Pháp sinh tử này đều có nhân quả mà có nhân quả nên chẳng được gọi là Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì thể của Niết Bàn không có nhân quả.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Luận về Niết Bàn thì cũng có nhân quả, như lời đức Phật nói:

Từ nhân nên sinh thiên Từ nhân rời đường ác

Từ nhân nên Niết Bàn Vậy nên có nhân hết!

Như thuở trước, đức Phật bảo các vị Tỳ kheo rằng: “Ta nay sẽ nói về đạo quả Sa môn!” Nói Sa môn là gọi người có thể tu đủ Giới, Ðịnh, Trí tuệ. Ðạo là gọi tám Thánh đạo. Sa môn quả là gọi Niết Bàn. Thưa đức Thế Tôn! Niết Bàn như vậy há chẳng phải là quả sao? Sao đức Phật nói rằng, thể của Niết Bàn không nhân, không quả?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ta sở dĩ tuyên nói nhân của Niết Bàn thì gọi là Phật tính. Nhưng tính của Phật tính chẳng sinh ra Niết Bàn, nên ta nói rằng, Niết Bàn không nhân, có thể phá hoại phiền não nên gọi là đại quả, chẳng từ đạo sinh ra nên gọi là không quả. Vậy nên Niết Bàn không nhân, không quả.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng sinh Phật tính là đều có chung hay là mỗi mỗi có riêng? Nếu có chung thì một người khi được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì tất cả chúng sinh cũng nên đồng được hết. Thưa đức Thế Tôn! Như hai mươi người đồng có một kẻ oán, nếu một người có thể diệt trừ thì mười chín người còn lại đều cũng đồng trừ khỏi. Phật tính nếu vậy thì khi một người được thì những người còn lại cũng nên được. Nếu mỗi mỗi đều có riêng thì là vô thường. Vì sao vậy? Vì có thể tính toán. Nhưng lời Phật nói rằng, chúng sinh Phật tính chẳng một, chẳng hai. Nếu mỗi mỗi đều có riêng thì chẳng nên nói rằng, các đức Phật bình đẳng! Cũng chẳng nên nói, Phật tính như hư không!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Chúng sinh Phật tính chẳng một, chẳng hai, các đức Phật bình đẳng giống như hư không, tất cả chúng sinh đồng có chung Phật tính đó. Nếu có người có thể tu tám Thánh đạo thì phải biết người này đã được minh kiến (sự thấy sáng suốt). Này thiện nam tử! Núi Tuyết có thứ cỏ tên là Nhẫn nhục. Nếu trâu ăn nó thì thành đề hồ, chúng sinh Phật cũng lại như vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Như lời đức Phật nói, cỏ Nhẫn nhục là một hay nhiều vậy? Như cỏ ấy một thì trâu ăn hết. Như cỏ ấy nhiều thì làm sao mà nói rằng, chúng sinh Phật tính cũng như vậy được? Như lời đức Phật nói, nếu có người tu tập tám Thánh đạo thì thấy Phật tính, nghĩa này chẳng phải vậy! Vì sao vậy? Vì nếu đạo một thì như cỏ Nhẫn nhục nếu có tận. Như đạo ấy có tâm mà một người tu rồi thì những kẻ còn lại không có phần. Ðạo nếu nhiều thì làm sao được nói rằng, tu tập đầy đủ, cũng chẳng được gọi là trí Tát Bà Nhã (Nhất Thiết Chúng Trí).

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như đường đi bằng phẳng. Tất cả chúng sinh đều đi ở trong đó không chướng ngại gì. Giữa đường có cây mà bóng của nó che mát mẻ. Người đi dường dừng xe ngựa nghỉ ngơi ở dưới bóng cây. Nhưng bóng cây ấy thường trụ chẳng dời, cũng chẳng tiêu hoại, không giữ người đi. Ðường đi dụ cho Thánh đạo, cây dụ cho Phật tính. Này thiện nam tử! Ví như ngôi thành lớn có một cửa. Tuy có nhiều người qua đó vào ra mà đều không ai có thể làm chướng ngại, cũng lại không có người phá hủy mà mang đi theo. Này thiện nam tử! Ví như cây cầu mà người đi qua nhờ nó, cũng không có người ngăn chận, chướng ngại, hủy hoại lấy đem đi. Này thiện nam tử! Ví như vị lương y trị liệu mọi thứ bệnh, cũng không có ai có thể ngăn chận vị lương y này trị người này bỏ người kia. Thánh đạo Phật tính cũng lại như vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Việc dẫn các ví dụ, ý nghĩa chẳng như vậy. Vì sao vậy? Vì người trước ở tại đường thì người sau bị cản ngại thì làm sao mà nói không có chướng ngại được? Các ví dụ còn lại cũng đều vậy! Thánh đạo Phật tính nếu như vậy thì khi một người tu thì làm cản ngại những người còn lại.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như lời ông nói là, nghĩa chẳng tương ứng. Lời dụ của ta về đạo là thiểu phần dụ, chẳng phải tất cả. Này thiện nam tử! Ðạo của thế gian thì có chướng ngại, đây, đó khác biệt, không có bình đẳng. Ðạo vô lậu thì chẳng như vậy, có thể khiến cho chúng sinh không có chướng ngại, bình đẳng không hai, không có địa phương, xứ sở đây, đó khác biệt. Chánh đạo như vậy có thể vì Phật tính của tất cả chúng sinh mà làm liễu nhân, chẳng làm sinh nhân giống như đèn sáng soi rõ được vật. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh đều đồng “vô minh” nhân duyên với “hành” nên chẳng thể nói rằng, một người “vô minh” nhân duyên với “hành” rồi thì những người còn lại ấy nên không có. Tất cả chúng sinh đều có “vô minh” nhân duyên với “hành”. Vậy nên nói rằng, mười hai nhân duyên tất cả bình đẳng. Việc tu chánh đạo vô lậu của chúng sinh cũng lại như vậy, bình đẳng đoạn tuyệt phiền não, tứ sinh (bốn cách sinh ra của các loài vật), các giới, đạo hữu vi của chúng sinh. Do nghĩa này nên gọi là bình đẳng. Trong số ấy có người chứng thấy biết đó, đây không có chướng ngại. Vậy nên được gọi là Nhất thiết trí.

Bồ tát Sư Tử Hống nói rằng:

- Thân của tất cả chúng sinh chẳng một chủng loại, hoặc có thân trời, hoặc có thân người, thân súc sinh, thân ngã quỉ, thân địa ngục. Như vậy là nhiều thân sai khác, chẳng phải là một thì làm sao mà nói rằng, Phật tính là một?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ví như có người để độc vào trong sữa thì cho đến đề hồ đều có độc. Sữa chẳng gọi là lạc, lạc chẳng gọi là sữa... cho đến đề hồ cũng lại như vậy, danh tự tuy biến đổi nhưng tính độc chẳng mất mà ở khắp trong năm vị đều như vậy. Nếu uống đề hồ đó cũng có thể giết người mà thật ra chẳng để độc ở trong đề hồ. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy, tuy chúng sinh năm đường, thọ thân khác biệt mà Phật tính này thường một không biến đổi.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Mười sáu nước lớn, có sáu thành lớn như là: thành Xá Bà Ðề, thành Bà Chỉ Ða, thành Chiêm Bà, thành Tỳ Xá Ly, thành Ba La Nại, thành Vương Xá. Sáu thành như vậy rất lớn trong đời vì sao đức Như Lai bỏ đi hết mà ở tại ngôi thành nhỏ Câu Thi Na nơi vùng biên địa tệ ác rất nhỏ hẹp này để vào Bát Niết Bàn?

- Này thiện nam tử! Ông chẳng nên nói rằng, thành Câu Thi Na là nơi biên địa tệ ác rất nhỏ hẹp mà nên nói rằng, thành này được trang nghiêm công đức vi diệu. Vì sao vậy? Vì là chỗ sở hành của các đức Phật, Bồ tát vậy! Này thiện nam tử! Ví như nhà người hèn mà nếu vua ở qua thì nên khen ngợi là nhà này nghiêm lệ, phước đức thành tựu mới khiến cho đại vương quay xe đoái hoài đến! Này thiện nam tử! Như người bệnh nặng uống thuốc dơ bẩn tệ ác mà uống xong, thì bệnh khỏi, liền ứng lên vui mừng, khen ngợi là thuốc tối thượng, tối diệu có thể trị khỏi bệnh của mình. Này thiện nam tử! Như người đi thuyền ở trong biển lớn. Thuyền ấy bỗng nhiên hư hoại, không có gì nương tựa nên nhân nhờ vào thây chết mà được đến bờ kia. Ðến bờ kia rồi, người ấy vui mừng khen ngợi thây chết này rằng: “Ta nhờ gặp nhau với thây chết mà được yên ổn”. Câu Thi Na thành cũng lại như vậy, nơi đó mới chính là hành xứ của các đức Phật, Bồ tát thì làm sao mà nói rằng, thành nhỏ nơi biên địa tệ ác nhỏ hẹp được? Này thiện nam tử! Ta nhớ thuở xa xưa qua hằng hà sa số kiếp, có kiếp tên là Thiện Giác có vị Thánh vương họ Kiều Thi Ca với bảy báu thành tựu, ngàn đứa con đầy đủ. Vị vua ấy, người đầu tiên tạo lập ngôi thành này, giáp vòng ngang dọc mười hai do tuần, đất trang nghiêm bằng bảy báu, có nhiều dòng sông mà nước trong sạch, ngon ngọt, êm dịu. Ðó là sông Ni Liên Thiền, sông Y La Bạt Ðề, sông Hy Liên Thiên, sông Y Sưu Mạt Ðể, sông Tỳ Bà Xá Na, v.v... Những sông như vậy có đến năm trăm dòng. Bờ của những con sông này cây cối rậm rạp hoa trái tươi sạch. Thời bấy giờ thọ mạng của nhân dân không lường, lúc vị Chuyển Luân Thánh Vương qua tuổi một trăm rồi thì xướng lên rằng: “Như lời đức Phật nói, tất cả các pháp đều vô thường, nếu ai có thể tu tập mười pháp thiện thì có thể đoạn trừ đại khổ vô thường như vậy”. Nhân dân nghe rồi đều chung phụng tu mười pháp thiện. Ta lúc bấy giờ nghe danh hiệu đức Phật, thọ trì mười pháp thiện, suy nghĩ tu tập, mới phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Phát tâm này rồi, ta lại đem pháp này chuyển giáo cho vô lượng vô biên chúng sinh mà nói rằng, tất cả pháp vô thường, biến hoại. Vậy nên ta hôm nay tiếp tục ở chỗ này cũng nói về các pháp vô thường biến hoại, chỉ nói rằng, thân Phật là pháp thường trụ. Ta nhớ nhân duyên đã làm thuở xa xưa nên hôm nay đến tại đây mà Niết Bàn và cũng muốn thù báo ơn xưa của đất này. Do nghĩa này nên trong kinh ta nói rằng, quyến thuộc ta thọ ân có thể báo đáp! Lại nữa, này thiện nam tử! Thuở xưa, khi chúng sinh thọ mạng không lường, bấy giờ thành này tên là Câu Xá Bạt Ðề, giáp vòng ngang dọc năm mươi do tuần, cư dân cõi Diêm phù đề sống gần gũi tiếp giáp nhau mà gà bay kịp đến, có vị vua Chuyển Luân tên là Thiện Kiến với bảy báu thành tựu, ngàn người con đầy đủ, làm vua bốn thiên hạ. Vị thái tử thứ nhất suy nghĩ về chánh pháp được thành Bích Chi Phật. Vua Chuyển Luân thấy vị thái tử ấy thành Bích Chi Phật với uy nghi tường tự, thần thông hiếm có. Thấy việc này rồi, ông liền bỏ ngôi vua như bỏ bãi nước bọt, xuất gia ở tại vùng Ta La song thọ này, tu tập Từ tâm trong tám vạn năm và Bi tâm, Hỷ tâm, Xả tâm cùng đều tu mỗi thứ tám vạn năm. Này thiện nam tử! Ông muốn biết Thánh Vương Thiện Kiến bấy giờ? Chính là thân ta đó. Vậy nên ta nay thường ưa vận dụng bốn pháp như vậy. Bốn pháp này gọi là Tam muội. Do nghĩa này nên thân Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh. Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên hôm nay ta đến tại vùng Ta La song thọ của thành Câu Thi Na này mà Tam muội chánh thọ. Này thiện nam tử! Ta nhớ thuở xa xưa qua vô lượng kiếp, thành này bấy giờ tên là Ca Tỳ La Vệ. Thành ấy có vị vua tên là Bạch Phạn. Phu nhân của vua ấy tên là Ma Gia. Nhà vua có một người con tên là Tất Ðạt Ða. Lúc bấy giờ, vị vương tử chẳng do thầy dạy, tự nhiên suy nghĩ mà được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, có hai vị đệ tử, một tên là Xá Lợi Phất, hai tên là Mục Kiền Liên và người đệ tử hầu hạ tên là A Nan. Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở tại vùng Song Thọ diễn nói kinh Ðại Niết Bàn như vậy. Ta khi đó ở tại pháp hội được dự việc ấy, nghe nói các chúng sinh đều có Phật tính. Nghe điều này rồi, ta liền đối với Bồ Ðề được Bất Thoái Chuyển, liền tự phát nguyện rằng: “Nguyện vào đời vị lai, khi thành Phật thì cha mẹ, đất nước, tên họ, đệ tử, người thị giả, nói pháp, giáo hóa... đều như đức Thế Tôn hôm nay, không có khác. Do nhân duyên này nên hôm nay ta đến tại đây tuyên dương diễn nói kinh Ðại Niết Bàn!

Này thiện nam tử! Khi ta mới xuất gia chưa được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vua Tần Bà Ta La sai sứ đến nói rằng: “Thưa thái tử Tất Ðạt! Nếu ngài làm Thánh vương thì tôi sẽ là thần thuộc! Nếu ngài chẳng ưa ngôi vua, xuất gia được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì nguyện xin ngài đi đến thành Vương Xá này trước để nói pháp độ người, thọ sự cúng dường của tôi!” Ta mặc nhiên nhận lời mời của vị vua đó.

Này thiện nam tử! Khi ta mới được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, ta đã hướng về nước Kiệt Xà thì ở dòng sông Y Liên Thiền, có vị Bà la môn dòng họ Ca Diếp cùng với năm trăm đệ tử sống tại cạnh dòng sông đó, cầu đạo Vô Thượng. Ta vì người này nên đến nói pháp. Ông Ca Diếp nói rằng: “Này ông Cù Ðàm! Ta nay tuổi đã hơn một trăm hai mươi. Nhân dân trong nước Ma Dà Ðà và đại vương Tần Bà Ta La của nước ấy đều cho là ta đã chứng quả La Hán. Ta nay nếu ở trước ông thính thọ pháp thì tất cả nhân dân, hoặc sinh lòng điên đảo nghĩ rằng: “Ðại đức Ca Diếp chẳng phải là La Hán sao?”. Nguyện cầu ông Cù Ðàm mau chóng đi đến chỗ khác! Nếu nhân dân ở đây quyết định biết công đức của ông Cù Ðàm hơn ta thì chúng ta không được họ cúng dường nữa!” Ta đáp rằng: “Này Ca Diếp! Nếu ông đối với ta chẳng sinh ra sân hận to lớn nặng nề thì hãy cho ta nghỉ lại một đêm, sáng mai sẽ đi sớm!” Ông Ca Diếp nói rằng: “Này ông Cù Ðàm! Lòng ta không đối với người khác ái trọng nhau lắm, chỉ vì chỗ ở của ta có một con độc long mà tính khí hung dữ, sợ nguy hại nhau thôi!” Ta nói rằng: “Này Ca Diếp! Ðộc long độc chẳng gì hơn ba độc mà ta nay đã đoạn trừ thì độc của thế gian ta chẳng sợ gì!” Ông Ca Diếp lại nói rằng: “Nếu ngài có thể chẳng sợ thì hay thay! Xin mời ngài trụ!” Này thiện nam tử! Ta vào lúc ấy cố vì ông Ca Diếp thị hiện mười tám sự biến hóa, như trong Kinh đã nói. Bấy giờ ông Ca Diếp và bọn năm trăm quyến thuộc của ông ấy đã thấy nghe thế rồi chứng quả La Hán. Lúc đó, ông Ca Diếp lại có hai người em, một người tên Dà Gia Ca Diếp, hai tên là Na Ðề Ca Diếp. Thầy trò quyến thuộc lại có năm trăm người, cũng đều chứng được quả A la hán. Ðồ chúng của Lục sư trong thành Vương Xá nghe việc này rồi liền đối với ta sinh ra lòng đại ác. Khi ta đến dự sự tín thọ vua kia thỉnh đến thành Vương Xá, chưa đến trung lộ thì nhà vua cùng với vô lượng trăm ngàn chúng đều đến phụng nghinh. Ta vì họ mói pháp. Nghe pháp rồi thì tám vạn sáu ngàn chư thiên Dục giới phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Mười hai vạn người của vua Tần Bà Ta La đem đi theo đều được quả Tu đà hoàn. Vô lượng chúng sinh thành tựu tâm Nhẫn. Ðã vào thành rồi, ta độ cho ông Xá Lợi Phất, ông Ðại Mục Kiền Liên và hai trăm năm mươi người quyến thuộc họ, khiến cho những người ấy bỏ tấm lòng xưa, xuất gia học đạo. Ta liền trụ ở thành đó, nhận sự cúng dường của nhà vua. Bọn lục sư ngoại đạo cùng nhau tụ tập, đi đến thành Xá Vệ.

Trong thành đó có một ông trưởng giả tên là Tu Ðạt Ða, vì con đi hỏi vợ nên đến thành Vương Xá. Ðã đến được thành đó rồi, ông ở nhờ nhà của ông trưởng giả San Ðàn Na. Ông trưởng giả này nửa đêm thức dậy bảo các quyến thuộc rằng: “Các ông hãy dậy đi! Hãy mau chóng cùng nhau trang nghiêm, quét dọn nhà cửa, bày biện đủ đồ ăn ngon lành!” Ông Tu Ðạt nghe rồi liền tự suy nghĩ rằng: “Họ sắp chẳng phải muốn thỉnh vua Ma Dà sao? Hay là có hội hoan lạc hôn nhân ư?”. Suy nghĩ vậy rồi liền hỏi rằng: “Thưa đại sĩ! Ngài muốn thỉnh đức vua nước Ma Dà Ðà, Tần Bà Ta La chăng? Hay là có hội hoan lạc hôn nhân ư? Việc gì mà gấp gáp chẳng an đến như vậy?”. Ông trưởng giả đáp rằng: “Chẳng phải vậy! Thưa cư sĩ! Ngày mai tôi thỉnh đức Phật, đấng Pháp Vương Vô Thượng!”. Ông trưởng giả Tu Ðạt mới nghe đến danh hiệu Phật thì lông của thân đều dựng đứng, lại liền hỏi rằng: “Sao gọi là Phật?”. Ông trưởng giả đáp rằng: “Ông chẳng nghe sao? Ở thành Ca Tỳ La có người con dòng họ Thích, tự là Tất Ðạt Ða, dòng họ Cù Ðàm, cha tên là Bạch Phạn. Vị ấy sinh chưa lâu, thầy tướng xem tướng quyết định ngài sẽ làm Chuyển Luân Thánh Vương, như quả Am La đã ở trong tay. Nếu tâm nguyện ngài chẳng ưa mà bỏ đi xuất gia thì không thầy dạy bảo, tự giác ngộ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, tận diệt tham, sân, si, thường trụ không biến đổi, chẳng sinh, chẳng diệt, không có lo sợ, đối với các chúng sinh lòng ngài bình đẳng, giống như cha mẹ bình đẳng nhìn xem con một, đối với thân tâm sở hữu là tối thắng trong mọi người, tuy hơn tất cả mà không kiêu mạn, bồi đắp tổn hại hai việc lòng ngài không hai, trí tuệ thông đạt đối với pháp không ngăn ngại, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, năm trí Tam muội, đại từ đại bi và ba niệm xứ... Vậy nên hiệu là Phật. Sáng mai này ngài nhận lời mời của tôi đến đây. Vậy nên vội vội vàng vàng chưa rảnh rổi ngắm nhìn nhau (thăm hỏi nhau)”. Ông Tu Ðạt Ða nói rằng: “Hay thay! Thưa đại sĩ! Ðấng gọi là Phật công đức Vô Thượng, nay ở chỗ nào?”. Ông trưởng giả đáp rằng: “Nay ở tại đại thành Vương Xá này! Ngài đang trụ ở tinh xá Trúc Lâm Ca Lan Ðà!” Ông Tu Ðạt Ða một lòng nghĩ đến công đức sở hữu của đức Phật, mười lực, bốn vô sở úy, năm trí Tam muội, đại từ đại bi và ba niệm xứ. Khi tác khởi ý niệm này, ông bỗng nhiên thấy ánh sáng lớn. Ánh sáng ấy mạnh mẽ giống như mặt trời trắng, ông liền tìm theo ánh sáng, ra đến dưới cửa thành. Nhờ thần lực của đức Phật nên cửa tự nhiên mở ra. Ðã ra khỏi cửa rồi, trên đường đi có miếu thờ trời, ông Tu Ðạt đi qua lễ bái cung kính thì liền trở lại tối đen, lòng sinh kinh sợ, lại muốn quay trở về chỗ nghỉ. Ở cửa thành đó, có một vị Thiên Thần bảo ông Tu Ðạt rằng: “Ngài nếu đến chỗ của đức Như Lai thì được nhiều thiện lợi!”. Ông Tu Ðạt nói rằng: “Sao gọi là thiện lợi?”. Vị trời nói rằng: “Này trưởng giả! Giả sử có người bảo quấn quanh, tuấn mã trăm thớt, hương tượng trăm đầu, xe báu trăm chiếc, đúc vàng làm người số ấy lại cả trăm, nữ nhân đoan chính đeo chuỗi ngọc với mọi báu lấp đầy khoảng trống, cung trạch điện đường thượng diệu, nhà cửa mái hiên chạm khắc hoa văn, chậu vàng đựng gạo bạc, chậu bạc đựng gạo vàng, số ấy mỗi thứ một trăm đem thí cho một người. Cứ như vậy mà đắp đổi thí cho hết cõi Diêm Phù Ðề thì sở đắc công đức chẳng bằng có người phát ý nghĩ một bước đi đến chỗ đức Như Lai!” Ông Tu Ðạt Ða nói rằng: “Này thiện nam tử! Ông là ai vậy?”. Vị trời đáp rằng: “Này trưởng giả! Ta là con của Bà la môn Thắng Tướng, là thiện tri thức của ông thuở xưa. Ta nhân ngày trước gặp được ngài Xá Lợi Phất và Ðại Mục Kiền Liên, lòng sinh ra vui mừng nên khi xả thân được làm con của vua trời Tỳ Sa môn, chuyên coi việc thủ hộ thành Vương Xá này. Ta nhân lễ bái ngài Xá Lợi Phất, v.v... sinh lòng vui mừng mà còn được thân diệu hảo như vậy, huống là sẽ được diện kiến đức đại sư Như Lai để lễ bái cúng dường!”. Ông trưởng giả Tu Ðạt nghe việc này rồi liền quay trở lại đường đi đến chỗ của ta. Ðến nơi rồi, ông ấy đầu mặt kính lễ dưới chân ta, ta liền vì ông mà nói pháp. Ông trưởng giả nghe rồi được quả Tu đà hoàn, đã được quả chứng, lại thỉnh ta rằng: “Ðức Như Lai đại từ! Nguyện xin ngài đoái hoài đến thành Xá Vệ thọ nhận sự cúng dường nhỏ nhoi của con!”. Ta liền hỏi rằng: “Thành Xá Vệ của ông, vã có tinh xá dung thọ được nhau chăng?”. Ông Tu Ðạt Ða đáp rằng: “Nếu đức Phật thương xót quyết định rũ lòng đoái hoài đến thì con sẽ tự hết sức kiến tạo thành lập”. Vào thời bấy giờ, ta mặc nhiên thọ thỉnh (nhận lời mời). Ông Tu Ðạt trưởng giả đã được hứa rồi liền bạch với ta rằng: “Con từ xưa đến nay chưa làm việc ấy! Nguyện xin đức Như Lai sai ngài Xá Lợi Phất chỉ dẫn, trao đổi nghi thức, phép tắc cho con!” Ta liền giao phó lệnh bảo ông Xá Lợi Phất đi giúp đỡ xây dựng. Ông Xá Lợi Phất cùng ông Tu Ðạt Ða ngồi chung một xe, đi đến thành Xá Vệ. Nhờ thần lực của ta nên trải qua một ngày đêm đã đến nơi, ông Tu Ðạt Ða bạch ông Xá Lợi Phất rằng: “Thưa đại đức! Ở bên ngoài thành này, chỗ nào có đất chẳng gần, chẳng xa lắm suối nhiều ao, có rừng cây đẹp, hoa quả xum suê, thanh tịnh, nhàn nhã, khoáng đãng thì tôi sẽ trong đó vì đức Phật Thế Tôn và Tỳ kheo Tăng mà tạo lập tinh xá?”. Ngài Xá Lợi Phất nói rằng: “Có vườn cây ông Kỳ Ðà là chẳng gần, chẳng xa, thanh tịnh, tịch mịch, có nhiều dòng suối, cây cối, hoa trái theo mùa mà có. Chỗ này tối thắng có thể tạo lập tinh xá!”. Ông Tu Ðạt Ða nghe lời nói này rồi liền đến chỗ của ông trưởng giả Kỳ Ðà, nói với ông Kỳ Ðà rằng: “Tôi nay muốn vì đấng Pháp Vương Vô Thượng tạo lập tăng phường mà chỉ khu đất vườn của ngài là có thể tạo lập được. Tôi nay muốn mua, ngài có thể cho mua không?”. Ông Kỳ Ðà đáp rằng: “Giả sử ông dùng vàng trải khắp đất ấy ta còn chẳng cho nhau!”. Ông Tu Ðạt Ða nói rằng: “Hay thay! Thưa ngài Kỳ Ðà! Ðất rừng thuộc về tôi, còn ngài thì nhận lấy vàng”. Ông Kỳ Ðà đáp rằng: “Vườn ta chẳng bán thì làm sao nhận lấy vàng?”. Ông Tu Ðạt Ða nói rằng: “Nếu ý ngài chẳng rõ thì chúng ta sẽ đi chung đến chỗ của người quyết đoán việc (phân xử)!”. Hai ông trưởng giả liền cùng chung đi đến, người phân xử nói rằng: “Vườn thuộc về ông Tu Ðạt, ông Kỳ Ðà nhận lấy vàng!”. Ông trưởng giả Tu Ðạt tức thời sai người, xe ngựa chở, vát theo gom lại, rồi trải ra đất, trong một ngày mà chỉ còn năm trăm bước là vàng chưa cùng khắp. Ông Kỳ Ðà nói rằng: “Thưa trưởng giả! Nếu ngài hối hận thì tùy ý, ngài được dừng lại!”. Ông Tu Ðạt nói rằng: “Tôi chẳng hối hận! Ðang tự suy nghĩ sẽ xuất kho nào cho đủ vàng đây?”. Ông Kỳ Ðà nghĩ rằng:”.Ðấng Như Lai Pháp Vương chân thật là vô thượng! Lời nói diệu pháp của ngài thanh tịnh vô nhiễm nên đã khiến cho người ấy khinh của báu đến vậy!”, nên liền nói với ông Tu Ðạt rằng: “Chỗ còn chưa khắp, ngài chẳng cần lấy vàng nữa! Mời ngài nhận lấy đất! Tôi tự vì đức Phật tạo lập môn lâu (cửa có lầu) luôn khiến cho đức Như Lai đi qua cửa ấy mà vào, ra!”. Ông trưởng giả Kỳ Ðà tự tạo lập môn lâu. Ông trưởng giả Tu Ðạt thì trong bảy ngày, thành lập phòng lớn đủ ba trăm gian, thiền phường, chỗ vắng lặng, sáu mươi ba chỗ, nhà nghỉ đông, điện đường mùa hạ mỗi mỗi đều khác biệt, chỗ nấu ăn, nhà tắm, nơi rửa chân, nhà xí (chỗ tiểu tiện) đại tiểu tiện... không gì chẳng đầy đủ. Xây dựng xong rồi, ông liền bưng lư hương, hướng về thành Vương Xá, từ xa nói lên rằng: “Việc xây dựng đã xong rồi, con nguyện xin đức Như Lai từ ai lân mẫn vì các chúng sinh thọ nhận trú xứ này!”. Ta huyền diệu biết được lòng của ông trưởng giả này nên liền cùng với đại chúng bắt đầu đi khỏi thành Vương Xá, ví như khoảnh khắc người tráng sĩ co duỗi cánh tay, thì chúng ta đã đến tinh xá của Tu Ðạt trong vườn cây của ông Kỳ Ðà ở tại thành Xá Vệ. Khi ta đã đến rồi thì ông Tu Ðạt trưởng giả đem cơ sở xây dựng ấy dâng cho ta. Khi ta nhận rồi liền ở luôn trong tinh xá ấy.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi bảy hết -


28/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Tám

PHẨM BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG THỨ Thứ Hai Mươi Ba (tiếp theo)

Lúc bấy giờ, lòng của Lục sư ngoại đạo sinh ra ganh ghét nên chúng đều tập hợp lại đi đến chỗ vua Ba Tư Nặc mà nói rằng:

- Thưa đại vương! Ngài phải biết, cảnh đất nước của vua thanh bình, nhàn tịnh, chân thật là chỗ trụ dừng của người xuất gia. Vậy nên chúng tôi vì việc ấy mà đi đến đây. Thưa đại vương! Ngài dùng chính pháp cai trị, vì dân trừ hoạn nạn. Ông Sa môn Cù Ðàm tuổi còn ấu trĩ, ngày học lại cạn, đạo thuật không thi thố. Ðất nước này trước có những bậc túc đức kỳ cựu, nhưng ông ấy tự cậy vào dòng giống vua, chẳng sinh lòng cung kính. Nếu là dòng giống vua thì theo pháp nên cai trị dân, còn như ông ấy xuất gia thì nên cung kính bậc túc đức. Ðại vương giỏi nghe biết. Ông Sa môn Cù Ðàm chân thật chẳng sinh ra trong dòng dõi vua. Sa môn Cù Ðàm nếu có cha mẹ thì vì sao cướp đoạt cha mẹ người khác? Thưa đại vương! Trong Kinh của ta nói rằng, qua một ngàn năm rồi có một điều quái lạ, vật huyễn hóa xuất hiện, là gọi ông Sa môn Cù Ðàm đó. Vậy nên phải biết là ông Sa môn Cù Ðàm không cha không mẹ. Nếu có cha mẹ thì làm sao ông nói rằng, các pháp Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, Vô tác, Vô thọ. Ông dùng huyễn thuật lừa dối mê hoặc chúng sinh, kẻ ngu tín thọ, người trí bỏ đi. Thưa đại vương! Phàm là nhân vương (vua loài người) thì trời xuống làm cha mẹ. Như cái cân, như đất, như gió, như lửa, như đường, như sông, như cầu, như đèn, như mặt trời, như mặt trăng... cứ như pháp mà quyết đoán sự việc, chẳng chọn lựa kẻ oán, người thân. Ông Sa môn Cù Ðàm chẳng cho tôi sống, theo chỗ tôi đi mà truy đuổi cha bỏ. Nguyện xin đại vương cho phép tôi cùng ông đó thi đấu đạo lực. Nếu ông đó thắng tôi thì tôi sẽ thuộc về ông đó. Nếu tôi thắng ông đó thì ông đó sẽ thuộc về tôi.

Nhà vua nói rằng:

- Thưa đại đức! Các ông mỗi mỗi đều tự có pháp tu hành, chỗ dừng ở cũng đều chẳng đồng. Ta nay nhất định biết đức Như Lai Thế Tôn đối với các ông không phương hại gì!

Lục sư đáp rằng:

- Sao gọi là không phương hại? Ông Sa môn Cù Ðàm dùng phép huyễn thuật dụ dỗ lừa dối mọi người và Bà la môn qui phục hết rồi. Nhà vua nếu cho phép tôi cùng ông ấy thi đấu đạo lực thì thiện danh của nhà vua sẽ lưu bố tám phương. Như ông ấy chẳng thi đấu thì tiếng xấu đầy đường!

Nhà vua nói rằng:

- Này đại đức! Các ông chưa biết đạo lực của đức Như Lai uy thần lồng lộng nên cầu xin thi đấu! Nếu các ông định biết rồi thì sợ chẳng thể cầu xin đâu!

- Thưa đại vương! Ngài nay đã thọ nhận sự huyễn hóa của ông Cù Ðàm rồi sao? Nguyện xin Ðại vương quan tâm cho phép và giám sát, chớ khinh chúng tôi! Việc chưa rõ mà nói suông chẳng bằng kiểm nghiệm bằng sự thật!

Nhà vua nói rằng:

- Hay thay! Hay thay!

Bọn Lục sư vui mừng mà ra về.

Vua Ba Tư Nặc liền ra lệnh nghiêm chỉnh xa giá đi đến chỗ của ta, đầu mặt lễ kính, nhiễu quanh bên phải ba vòng, lui về ngồi một bên mà bạch với ta rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Lục sư hướng đến Như Lai cầu thi đấu đạo lực mà con chẳng lượng độ đã dám hứa với họ rồi!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này đại vương! Hay thay! Hay thay! Chỉ lại ở nước này, khắp nơi nơi sẽ tạo lập Tăng phường. Vì sao vậy? Vì nếu ta cùng bọn thi đấu thần lực thì trong chúng đó, người chịu sự giáo hóa nhiều lên mà chỗ này nhỏ hẹp thì làm sao dung thọ hết.

Này thiện nam tử! - Ðức Phật nói với Bồ tát Sư Tử Hống - Vào lúc bấy giờ, ta vì bọn Lục sư nên từ ngày mùng một đến ngày mười lăm thị hiện thần thông biến hóa rất hy hữu. Ðang khi đó thì vô lượng chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vô lượng chúng sinh ở chỗ Tam Bảo phát sinh niềm tin, chẳng nghi ngờ. Số đồ chúng của Lục sư ấy nhiều vô lượng, phá tâm tà kiến, theo chánh pháp xuất gia. Vô lượng chúng sinh ở trong đạo Bồ Ðề được tâm bất thoái. Vô lượng chúng sinh được Ðà la ni, các tam muội môn. Vô lượng chúng sinh được từ quả Tu đà hoàn đến quả A la hán.

Lúc bấy giờ, nội tâm của Lục sư xấu hổ, cùng nhau vay quanh kéo đến thành Bà Chỉ Ða, dạy nhân dân ở đó tín thọ tà pháp là: Sa môn Cù Ðàm chỉ nói về việc rỗng không. Này thiện nam tử! Khi ta vì mẹ ở dưới cây Ba-lợi-chất-đa trên trời Ðao Lợi an cư nói pháp thì lúc đó tâm trạng của bọn Lục sư rất vui mừng, xướng lên rằng: “Hay thay! Huyễn thuật của ông Cù Ðàm nay đã diệt mất!” Chúng lại dạy cho vô lượng vô số chúng sinh tăng trưởng tà kiến. Lúc bấy giờ, vua Tần Bà Ta La vua Ba Tư Nặc và bốn bộ chúng bạch ông Mục Kiền Liên rằng: “Thưa đại đức! Cõi Diêm phù đề này tà kiến tăng trưởng, chúng sinh có thể lo làm những việc rất đen tối! Nguyện xin đại đức đi lên cõi trời đó, cúi đầu trước đấng Thế Tôn và bạch như lời chúng tôi rằng: “Ví như con trâu nghé mới sinh chưa lâu, nếu chẳng được sữa thì nhất định phải chết không gì nghi ngờ. Chúng sinh chúng con cũng lại như vậy, nguyện xin đức Như Lai thương xót chúng sinh trở về đến trụ nơi đây?”. Ông Mục Kiền Liên lặng thinh mà hứa, rồi trong khoảnh khắc như vị đại lực sĩ co duỗi cánh tay, ông đi lên cõi trời đó, đến chỗ đức Thế Tôn, bạch đức Phật rằng: “Bốn chúng sở hữu trong cõi Diêm phù đề khát khao, ngưỡng mộ đức Như Lai, nhớ nghĩ mong gặp nghe pháp! Vua Tần Bà Ta La, vua Ba Tư Nặc và bốn chúng, v.v... cúi đầu dưới chân. Chúng sinh sở hữu của cõi Diêm phù đề này, tà kiến tăng trưởng, hành động rất đen tối, rất đáng thương xót. Ví như con trâu nghé sinh ra chưa lâu, nếu chẳng được sữa thì nhất định phải chết, chẳng nghi ngờ gì! Chúng con cũng vậy, nguyện xin đức Như Lai vì chúng sinh mà trở lại ở trong cõi Diêm phù đề này!”. Phật bảo ông Mục Kiền Liên rằng: “Ông hãy mau trở về cõi Diêm phù đề bảo các vị quốc vương và bốn bộï chúng là lui về sau bảy ngày, ta sẽ trở xuống! Nhưng vì bọn Lục sư nên ta lại phải đến thành Bà Chỉ Ða kia”. Qua bảy ngày rồi, Phật cùng với Thích thiên, Phạm thiên, Ma thiên, vô lượng thiên tử và tất cả trời người của hội Thủ Ðà, vay quanh trước sau đi đến thành Bà Chỉ Ða, rống tiếng Ðại sư tử mà nói lên rằng: “Chỉ độc nhất trong pháp của ta mới có Sa môn và Bà la môn! Tất cả các pháp vô thường vô ngã còn Niết Bàn thì tịch tịnh lìa các lỗi hoạn. Nếu nói rằng, pháp khác cũng có Sa môn và Bà la môn, có Thường, có Ngã, có Niết Bàn thì không có điều này. Lúc bấy giờ, vô lượng vô biên chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Khi đó Lục sư đều nói với nhau rằng: “Nếu trong pháp ta thật không có Sa môn, Bà la môn thì làm sao mà được sự cúng dường của thế gian. Ðến đây thì bọn Lục sư lại tụ tập nhau đi dến Tỳ Xá Ly.

Này thiện nam tử! Vào một thuở, ta trụ ở vùng rừng Am La của Tỳ Xá Ly, có người con gái Am La biết ta ở trong đó nên muốn đến chỗ của ta. Vào lúc ấy, ta bảo các Tỳ kheo phải quán niệm xứ, giỏi tu trí tuệ, theo việc tu tập tâm chớ buông lung (phóng dật)! Sao gọi là quán niệm xứ? Nếu có Tỳ kheo quan sát nội thân chẳng thấy ngã và cả ngã sở, quan sát ngoại thân và nội ngoại thân chẳng thấy ngã và cả ngã sở, quan sát thọ tâm pháp cũng lại như vậy thì đó gọi là niệm xứ. Sao gọi là tu tập trí tuệ? Nếu có Tỳ kheo chân thật mà thấy khổ, tập, diệt, đạo thì đó gọi là Tỳ kheo tu tập trí tuệ. Sao gọi là tâm chẳng phóng dật? Nếu có Tỳ kheo niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm xả, niệm trời thì đó gọi là Tỳ kheo tâm chẳng phóng dật. Ngay khi đó thì người con gái Am La liền đến chỗ của ta đầu mặt làm lễ, nhiễu quanh bên phải ba vòng, tu kính xong rồi, lui về ngồi một phía. Này thiện nam tử! Ta vào lúc ấy, vì người con gái Am La đúng theo yêu cầu mà nói pháp. Người con gái này nghe rồi liền phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Trong thành đó có năm trăm Lê xa tử đi đến chỗ ta đầu mặt làm lễ, nhiễu quanh bên phải ba vòng, tu kính xong rồi, lui về ngồi một phía. Ta lại vì các Lê xa tử theo đúng yêu cầu mà nói pháp như vầy: “Này các thiện nam tử! Bàn về phóng dật có năm việc quả báo. Những gì là năm? Một là chẳng được tự tại về tài lợi. Hai là tiếng xấu lưu bố ra bên ngoài. Ba là chẳng ưa ban cho bần cùng thiếu thốn. Bốn là chẳng ưa thấy bốn chúng. Năm là chẳng được thân chư thiên. Này các thiện nam tử! Nhân chẳng phóng dật có thể sinh ra pháp thế gian, pháp xuất thế gian. Nếu có người muốn được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì nên phải siêng tu pháp chẳng phóng dật. Phàm người phóng dật lại được mười ba quả báo. Những gì là mười ba? Một là ưa vì thế gian tác nghiệp. Hai là ưa nói lời nói vô ích. Ba là thường ưa nằm ngủ nghỉ lâu. Bốn là ưa nói việc thế gian. Năm là thường ưa gần gũi bạn xấu. Sáu là lười biếng uể oải. Bảy là thường bị sự khinh rẻ của người khác. Tám là tuy có điều nghe biết nhưng lại liền quên mất. Chính là ưa ở chỗ biên địa. Mười là chẳng thể điều phục các căn. Mười một là ăn chẳng biết đủ. Mười hai là chẳng ưa không tịch. Mười ba là việc thấy chẳng chính. Này thiện nam tử! Phàm người phóng dật tuy được gần Phật và đệ tử của Phật nhưng còn rất là xa!”. Các Lê xa tử bạch rằng: “Chúng con tự biết là người phóng dật! Vì sao vậy? Vì như chúng con chẳng phóng dật thì đấng Như Lai Pháp Vương sẽ ra khỏi cõi của con!”. Trong đại hội có con của một Bà la môn tên là Vô Thắng nói với các Lê xa rằng: “Hay thay! Hay thay! Ðúng như lời ông nói! Vua Tần Bà Ta La đã thu hoạch đại lợi. Ðức Như Lai Thế Tôn xuất hiện ở đất nước vua ấy giống như ao lớn mọc lên hoa sen đẹp, tuy mọc lên tại trong nước nhưng nước chẳng thể làm dơ bẩn. Này các Lê xa tử! Ðức Phật cũng như vậy, tuy sinh ở nước đó nhưng chẳng bị sự trệ ngại của pháp thế gian. Các đức Phật Thế Tôn không ra không vào nhưng vì chúng sinh nên xuất hiện ở đời mà chẳng bị sự trệ ngài của pháp thế gian. Các ông tự đam mê phóng túng theo năm dục, chẳng biết thân cận đến chỗ đức Như Lai nên mới gọi là người phóng túng, chứ chẳng phải đức Phật xuất hiện ở nước Ma Dà Ðà mà gọi là phóng dật vậy. Vì sao vậy? Vì đức Như Lai Thế Tôn giống như mặt trời mặt trăng chẳng phải vì một người, hai người mà ra đời!” Các Lê xa nghe lời nói đó rồi liền phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, họ lại nói lên rằng: “Hay thay! Hay thay! Thưa đồng tử Vô Thắng! Ông khéo nói lời nói thiện diệu như vậy!”. Các Lê xa, từng người từng người đều cởi một cái áo đang mặc trên người, đem hiến thí cho đồng tử Vô Thắng. Vô Thắng nhận rồi chuyển dâng lên cho ta và lại nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Con từ Lê xa được số áo này, nguyện xin đức Như Lai thương xót chúng sinh mà nhận sự hiến dâng của con!” Vào lúc ấy, ta thương đồng tử Vô Thắng đó nên liền nạp thọ. Các Lê xa đồng thời chắp tay nói lên lời như vầy: “Nguyện xin đức Như Lai ở đất nước này mà an cư một thời gian, nhận sự cúng dường nhỏ nhoi của con!” Ta mặc nhiên nhận lời mời của các Lê xa.

Lúc đó, bọn Lục sư nghe việc như vậy rồi thì thầy trò cùngnhau đi đến thành Ba La Nại. Bấy gờ, ta lại sang thành Ba La Nại, trụ ở bên dòng sông Ba La. Ở Ba La Nại có con ông trưởng giả tên là Bảo Xứng đam mê phóng túng theo năm dục mà chẳng biết chẳng phải là thường. Do ta đến nên ông ấy tự nhiên được pháp Bạch Cốt quán. Ông thấy điện đường, nhà cửa, cung nhân, thể nữ đều là xương trắng, lòng sinh ra kinh sợ như thấy dao bén, rắn độc, như giặc, như lửa nên liền ra khỏi nhà đi đến chỗ ta. Theo đường đi ông kêu lên rằng: “Ông Sa môn Cù Ðàm ơi! Tôi nay như bị sự truy đuổi của giặc rất là kinh sợ! Nguyện xin được ngài cứu tế cho!”. Phật nói rằng: “ Này thiện nam tử! Phật Pháp Tăng yên ổn không sợ!”. Con ông trưởng giả nói rằng: “Nếu trong Tam Bảo không có sự sợ hãi thì con hôm nay cũng sẽ được không sở úy!”. Ta liền cho ông ấy xuất gia làm đạo. Con ông trưởng giả lại có năm mươi người đồng bạn, từ xa nghe tin bạn Bảo Xứng chán lìa xuất gia liền chung hòa thuận cùng nhau xuất gia.

Bọn Lục sư nghe rồi, đắp đổi lại đi đến đại thành Chiêm Bà. Tất cả nhân dân nước Chiêm Bà đều chung phụng sự đồ chúng Lục sư, ban đầu chưa nghe tên Phật Pháp Tăng, có nhiều những người tạo tác nghiệp cực ác. Vào lúc ấy, ta vì chúng sinh nên đến thành Chiêm Bà. Trong thành đó có ông Ðại trưởng giả không có người nối dõi nên cúng dường phụng sự Lục sư để cầu con. Về sau chẳng bao lâu, vợ ông ấy mang thai, ông trưởng giả biết rồi đi đến chỗ của Lục sư, vui mừng mà nói rằng: “Vợ tôi mang thai là trai hay gái vậy?” Lục sư đáp rằng: “Sinh ra nhất định là gái!”. Ông trưởng giả nghe rồi, lòng sinh sầu não. Lại có người bạn đến hỏi ông trưởng giả: “Vì sao mà sầu não đến như vậy?”. Ông trưởng giả đáp rằng: “Vợ tôi mang thai chưa biết trai hay gái nên đến hỏi Lục sư thì Lục sư thấy nói là như pháp tướng của ta, sinh ra nhất định là con gái. Tôi nghe lời nói này rồi tự nghĩ mình tuổi già, của cải giàu có không lường, như đứa bé ấy chẳng phải là con trai thì không biết phú chúc (giao phó lại) cho ai nên tôi buồn”. Người bạn lại nói rằng: “Ông không trí tuệ, trước chẳng nghe sao? Anh em ông Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp là đệ tử của ai? Của Phật hay là của Lục sư vậy? Nếu Lục sư là Nhất Thiết Trí thì ông Ca Diếp vì sao bỏ đi làm đệ tử của đức Phật. Lại, ông Xá Lợi Phất, ông Mục Kiền Liên, v.v... và các quốc vương như Tần Bà Ta La, v.v... các phu nhân của vua như Mạt Lợi phu nhân, v.v... trưởng giả các nước như ông Tu Ðạt Ða, v.v... Những người như vậy chẳng phải là đệ tử của đức Phật sao? Khoáng dã quỉ thần, vua A Xà Thế, vua say Hộ Tài, Ương Quật Ma La, lòng ác hừng hực muốn hại mẹ mình... Những bọn như vậy chẳng phải đã được đức Như Lai điều phục rồi sao? Thưa trưởng giả! Ðức Như Lai Thế Tôn đối với tất cả pháp thấy biết không ngăn ngại nên gọi là Phật, lời nói ra không hai nên gọi là Như Lai, đã đoạn trừ phiền não nên gọi là A La Ha. Lời nói của đức Thế Tôn nhất định không có hai, còn Lục sư chẳng vậy nên làm sao có thể tin được? Ðức Như Lai nay ở gần tại đây, nếu muốn biết thật thì phải đến chỗ đức Phật!”. Lúc bấy giờ ông trưởng giả liền cùng với người đó đi đến chỗ của ta, đầu mặt làm lễ, nhiễu quanh bên phải ba vòng, chắp tay, quì dài mà bạch rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Ngài đối với các chúng sinh bình đẳng không hai, oán thân một tướng! Con bị sự trói buộc của ái kết nên đối với oán thân chưa thể không hai, nay con muốn hỏi đức Như Lai việc đời mà thân tâm tự thẹn và sợ nên chưa dám phát ngôn! Thưa đức Thế Tôn! Vợ con mang thai, thầy tướng Lục sư nói rằng, sinh ra nhất định là con gái, việc này ra sao?”. Phật nói rằng: “Này trưởng giả! Vợ ông mang thai là con trai, không gì nghi ngờ! Ðứa bé ấy sinh ra rồi thì phước đức không ai sánh kịp!”. Bấy giờ, ông trưởng giả nghe lời nói này rồi, phát sinh đại hoan hỷ liền lui ra, quay về nhà. Bấy giờ, bọn Lục sư nghe ta huyền ký đứa bé sinh ra nhất định là con trai có phước đức lớn thì lòng họ phát sinh ganh ghét, dùng quả Am La hòa hợp với thuốc độc, mang đến nhà ông trưởng giả ấy và nói với ông rằng: “Giỏi thay! Ông Cù Ðàm khéo nói tướng của con ông!” Vợ ông tới tháng sinh có thể uống thứ thuốc này! Uống thuốc này rồi thì đứa trẻ đoan chính, sản phụ không hoạn nạn!”. Ông trưởng giả vui mừng nhận thứ thuốc độc ấy, đem cho vợ mình bảo uống. Vợ ông trưởng giả uống xong liền chết, bọn Lục sư vui mừng đi cùng khắp thành thị, cao giọng xướng lên rằng: “Ông Sa môn Cù Ðàm huyền ký cho vợ ông trưởng giả kia sẽ sinh ra con trai. Ðứa trẻ ấy phước đức cả thiên hạ không ai hơn. Nay đứa trẻ chưa sinh mà người mẹ đã mất mạng”. Bấy giờ ông trưởng giả lại ở chỗ ta, sinh lòng chẳng tin, liền y theo phép thế gian tẩn liệm vào áo quan, đưa đến bên ngoài thành, chất nhiều củi khô, dùng lửa đốt. Ta dùng đạo nhãn thấy rõ việc này, ra lệnh cho ông A Nan lấy áo lại cho ta, ta muốn đến chỗ đó tiêu diệt tà kiến. Vua trời Tỳ Sa môn bảo đại tướng Ma Ni Bạt Ðà rằng: “Ðức Như Lai hôm nay muốn đến nơi tha ma kia (nghĩa địa). Ông hãy mau đến đó dọn quét sạch sẽ, làm bằng phẳng, đặt tòa ngồi sư tử, tìm kiếm hương hoa đẹp mà trang nghiêm đất ấy”. Lúc bấy giờ, bọn Lục sư từ xa thấy ta đến, đều nói với nhau rằng: “Ông Sa môn Cù Ðàm đến bãi tha ma này, muốn ăn thịt sao?”. Bấy giờ có nhiều người chưa được pháp nhãn, các Ưu bà tắc đều ôm lòng thẹn sợ mà bạch với ta rằng: “Người đàn bà đó đã chết rồi, nguyện xin ngài chẳng nên đến đó!”. Lúc ấy ông A Nan nói với mọi người rằng: “Hãy đợi giây lát! Chẳng bao lâu nữa, đức Như Lai sẽ siển khai rộng rãi cảnh giới rộng rãi của chư Phật!”. Khi ta đến rồi, ngồi vào tòa sư tử thì ông trưởng giả nói khó với ta rằng: “Lời nói không hai nên gọi là Thế Tôn, nay người mẹ đã chết mất thì làm sao sinh con đây?”. Ta nói rằng: “Này trưởng giả! Vào lúc ấy, ta chẳng thấy ông hỏi về mạng người mẹ ngắn hay dài mà chỉ hỏi thai đang mang là trai hay gái thôi! Các đức Phật Như Lai lời nói ra không hai! Vậy nên ông phải biết, nhất định được con trai!” Lúc đó tử thi bị lửa đốt cháy, bụng nứt ra, đứa con từ trong đó xuất hiện ngồi ngay thẳng trong đám lửa giống như chim uyên ương ở trên đài hoa sen. Bọn Lục sư thấy rồi lại nói lên rằng: “Yêu mị thay! Ông Cù Ðàm khéo làm huyễn thuật!”. Ông trưởng giả thấy rồi, lòng lại vui mừng, quở trách bọn Lục sư: “Nếu nói là huyễn thì sao các ông chẳng làm!”. Ta vào lúc ấy liền bảo ông Kỳ Bà: “Ông đến trong đám lửa bồng đứa bé đó lại đây!”. Ông Kỳ Bà sắp đi đến thì bọn Lục sư trước đã mở lời nói với ông Kỳ Bà rằng: “Việc tạo tác huyễn thuật của ông Cù Ðàm chưa chắc là thường vậy. Hoặc có thể hay chẳng thể bồng ra, nếu đứa trẻ ấy chẳng thể thoát được thì có thể ông bị cháy hại lay! Ông nay làm sao có thể tín thọ lời nói của ông ấy?”. Ông Kỳ Bà đáp rằng: “Ðức Như Lai sai vào địa ngục A Tỳ, lửa dữ ở đó còn chẳng thiêu đốt huống là lửa của thế gian!”. Bấy giờ, ông Kỳ Bà vào trước đám lửa như là vào trong nước dòng sông mát mẻ, bồng đem đứa trẻ đó trở về đến chỗ của ta và trao đứa bé cho ta. Ta nhận đứa bé rồi bảo ông trưởng giả rằng: “Thọ mạng của tất cả chúng sinh bất định như bọt trên nước. Chúng sinh nếu có quả báo nghiệp nặng thì lửa chẳng thể đốt, độc chẳng thể hại. Quả báo nghiệp của đứa bé này chẳng phải là sự tạo tác của ta!”. Ông trưởng giả bạch rằng: “Hay thay! Thưa đức Thế Tôn! Ðứa trẻ này nếu được tận thiên mệnh của nó thì nguyện xin đức Như Lai vì nó mà đặt tên cho!”

Ðứa Phật dạy rằng:

- Ðứa trẻ này sinh ra trong lửa mạnh mà lửa gọi là thọ đề nên tên là Thọ Ðề!

Lúc bấy giờ, trong chúng hội thấy thần hóa của ta, vô lượng chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Lúc bấy giờ, bọn Lục sư đi cùng khắp sáu thành mà chẳng được dừng chân, cúi đầu xấu hổ, lại đi đến thành Câu Thi Na này. Ðã đến đây rồi, họ xướng lên rằng: “Mọi người phải biết rằng, ông Sa môn Cù Ðàm là một nhà đại huyễn thuật, lừa dối mê hoặc thiên hạ khắp sáu ngôi đại thành. Ví như nhà huyễn thuật huyễn tác bốn thứ binh như là binh xe, binh ngựa, binh voi, binh bộ. Lại nữa, ông huyễn tác ra đủ thứ chuỗi ngọc, thành quách, cung điện, nhà cửa, sông ao, cây cối... ông Sa môn Cù Ðàm cũng lại như vậy, huyễn tác thân vua rồi vì vua nói pháp. Hoặc làm ra thân Sa môn, Bà la môn, thân nam, thân nữ, thân lớn, thân nhỏ, hoặc làm ra thân súc sinh, thân quỉ thần. Ông ấy hoặc nói vô thường, hoặc nói có thường, hoặc nói khổ hay nói vui, hoặc nói có ngã hay nói không ngã, hoặc nói có tịnh hay nói không tịnh, hoặc nói có hay nói không... Những điều đó là hư vọng nên gọi là huyễn. Ví như nhân hạt, tùy theo hạt mà được trái, ông Sa môn Cù Ðàm cũng lại như vậy, người mẹ sinh ra ông ấy là Ma Gia đã là huyễn thì ông ấy là con chẳng được coi là chẳng phải huyễn. Ông Sa môn Cù Ðàm không có tri kiến chân thật. Các thầy Bà la môn từng trải nhiều năm tháng, tu tập khổ hạnh, hộ trì cấm giới, còn nói ra chưa có tri kiến chân thật. Huống gì là ông Cù Ðàm tuổi trẻ, học cạn, chẳng tu khổ hạnh thì làm sao mà có tri kiến chân thật? Nếu ông ấy có thể đủ đầy bảy năm khổ hạnh, vẫn thấy còn chẳng nhiều, huống là việc tu tập chẳng trọn sáu năm? Người ngu không trí mới tín thọ lời dạy của ông ấy. Như bậc thầy lớn về huyễn thuật lừa dối mê hoặc kẻ ngu, ông Sa môn Cù Ðàm cũng lại như vậy”. Này thiện nam tử! Như vậy, bọn Lục sư ở trong thành lớn này vì chúng sinh tăng trưởng tà kiến. Này thiện nam tử! Ta thấy việc này, lòng sinh thương xót, dùng thần lực ấy triệu thỉnh những Ðại Bồ tát trong mười phương vân tập về khu rừng này, đầy dẫy cùng khắp cả bốn mươi do tuần. Hôm nay, ở trong rừng này ta rống tiếng đại sư tử. Này thiện nam tử! Tuy đối với “không xứ” mà có nhiều lời nói thì chẳng được gọi là Sư Tử Hống. Nhưng ở trong đại chúng gồm những người trí này thì chân thật được gọi là Ðại Sư Tử Hống. Sư Tử Hống là nói: Tất cả pháp đều vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh và chỉ nói: Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh.

Lúc bấy giờ, bọn Lục sư lại nói lời này: “Nếu ông Cù Ðàm có ngã thì ta cũng có ngã. Sở dĩ nói ngã là thấy thì gọi là ngã. Thưa ông Cù Ðàm, ví như có người hướng về trông thấy vật thì ngã cũng như vậy. Hướng là dụ cho mắt, thấy là dụ cho ngã”. Ðức Phật bảo: “Này Lục sư! Nếu nói rằng, thấy gọi là ngã thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì sự dẫn dụ của các ông là nhân hướng thấy thì con người ở tại một hướng, sáu căn đều sử dụng. Nếu nhất định có ngã nhân mắt thấy thì sao chẳng như trong một căn đó đều dò tìm các trần? Nếu trong một căn chẳng thể cùng một lúc nghe thấy sáu trần thì phải biết là không ngã. Sự dẫn dụ “hướng”, tuy trải qua trăm năm thấy thì sự thấy của nhân không khác và nhãn căn ngần ấy năm già đi thì căn thục (chín) cũng nên không khác. Con người hướng khác nên thấy trong, thấy ngoài. Nhãn căn nếu vậy thì cũng nên trong ngoài cùng một lúc đều thấy. Nếu chẳng thấy thì sao gọi là có ngã?”. Bọn Lục sư lại nói rằng: “Thưa ông Cù Ðàm! Nếu không Ngã thì ai có thể thấy vậy?”. Ðức Phật nói rằng: “Có hình sắc, có ánh sáng, có tâm, có mắt, bốn thứ này hòa hợp nên gọi là thấy. Trong đó thật không có người thấy và cái để thấy. Chúng sinh điên đão nói rằng, có người thấy và cả cái để thấy. Do nghĩa này nên sở kiến tất cả chúng sinh là điên đảo còn sở kiến của các đức Phật, Bồ tát là chân thật. Này Lục sư! Nếu nói sắc là ngã thì điều đó cũng chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì sắc thật chẳng phải ngã. Sắc nếu là ngã thì chẳng nên có được hình mạo xấu xí! Vì sao lại có bốn dòng họ sai biệt mà chẳng đều một dòng Bà la môn vậy? Vì sao lệ thuộc người khác chẳng được tự tại, các căn khiếm khuyết, sinh ra chẳng đầy đủ? Vì sao chẳng làm thân chư thiên mà thọ đủ thứ các thân địa ngục, súc sinh, ngã quỉ? Nếu chẳng thể tạo tác tùy ý thì phải biết nhất định không có ngã vậy. Do không ngã nên gọi là vô thường mà vô thường nên khổ. Do khổ nên là rỗng không mà rỗng không nên điên đảo. Do điên đảo nên tất cả chúng sinh luân chuyển sinh tử. Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Này Lục sư! Như Lai Thế Tôn đoạn tuyệt vĩnh viễn sắc phược (sự trói buộc của sắc)... cho đến thức phược. Vậy nên gọi là Thường Lạc Ngã Tịnh. Lại nữa, sắc thì tức là nhân duyên mà nếu là nhân duyên thì gọi là vô ngã. Vô ngã thì gọi là khổ, không. Thân của Như Lai chẳng phải là nhân duyên mà chẳng phải nhân duyên nên gọi là có ngã. Nếu có ngã thì tức là Thường Lạc Tịnh!”. Bọn Lục sư lại nói rằng: “Thưa ông Cù Ðàm! Sắc cũng chẳng phải ngã... cho đến thức cũng chẳng phải ngã! Ngã thì khắp tất cả mọi nơi giống như hư không!”. Ðức Phật nói rằng: “Nếu khắp nơi có Ngã thì chẳng nên nói rằng, Ngã ban đầu chẳng thấy. Nếu ban đầu chẳng thấy thì biết là cái thấy đó vốn không mà nay có. Nếu vốn không mà nay có thì đó gọi là vô thường. Nếu vô thường thì làm sao nói rằng, có khắp. Nếu có khắp thì trong năm đường nên có đủ thân. Nếu có thân thì nên đều thọ báo. Nếu đều thọ báo thì vì sao mà nói chuyển thọ thân người trời. Ông nói khắp cùng là một hay là nhiều vậy? Ngã nếu là một thì không cha, con, kẻ oán, người thân, người không oán không thân... Ngã nếu là nhiều thì năm căn sở hữu của tất cả chúng sinh đều nên bình đẳng và nghiệp tuệ sở hữu của họ cũng nên như vậy. Nếu như vậy thì làm sao nói rằng, căn có người đầy đủ, có người không đầy đủ? và nghiệp thiện, nghiệp ác, người ngu, kẻ trí sai biệt?”. “Thưa ông Cù Ðàm! Ngã của chúng sinh thì không có bờ cõi. Pháp cùng phi pháp thì có phân ra nhiều thứ. Chúng sinh tu pháp thì được thân đẹp, nếu làm phi pháp thì được thân xấu. Do nghĩa này nên nghiệp quả của chúng sinh chẳng được không sai khác”. Ðức Phật nói rằng: “Này Lục sư! Pháp cùng phi pháp nếu như vậy thì ngã chẳng cùng khắp. Nếu ngã cùng khắp thì nên đều đến nơi. Như ngã ấy đều đến nơi thì người tu thiện cũng nên có ác, người làm ác cũng nên có thiện. Nếu chẳng vậy thì làm sao nói rằng cùng khắp?”. “Thưa ông Cù Ðàm! Ví như ngôi nhà thắp trăm ngàn ngọn đèn, mỗi mỗi đều tự sáng, chẳng tổn ngại lẫn nhau. Ngã của chúng sinh thì cũng lại như vậy. Việc tu thiện, làm ác của họ chẳng hòa hợp xen lẫn vào nhau!”. “Các ông nếu nói Ngã như ngọn đèn thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì ánh sáng của đèn kia từ nhân duyên mà có. Ðèn tăng trưởng nên ánh sáng cũng tăng trưởng, còn Ngã của chúng sinh thì chẳng như vậy. Ánh sáng từ đèn phát ra trụ tại chỗ khác còn ngã của chúng sinh thì chẳng được như vậy, từ thân mà ra chẳng trụ tại chỗ khác. Ánh sáng của đèn kia ở chung cùng với bóng tối. Vì sao vậy? Vì như trong nhà tối thắp một ngọn đèn thì soi chẳng tỏ, thắp lên nhiều ngọn đèn mới được sáng tỏ. Nếu ngọn đèn đầu tiên phá được bóng tối thì chẳng cần những ngọn đèn sau. Nếu cần những ngọn đèn sau thì phải biết ánh sáng ban đầu ở chung cùng bóng tối”. “Thưa ông Cù Ðàm! Nếu không Ngã thì ai tạo tác thiện ác?”. Ðức Phật nói rằng: “Nếu Ngã tạo tác thì sao gọi là Thường. Như Ngã ấy thường thì làm sao mà được có thời gian làm thiện, có thời gian làm ác? Nếu nói có thời gian làm thiện, có thời gian làm ác thì làm sao lại được nói rằng, Ngã là vô biên? Nếu Ngã tạo tác thì vì sao mà lại tập làm pháp ác? Như ngã ấy chính là người làm, người biết thì vì sao sinh ra nghi ngờ chúng sinh vô ngã? Do nghĩa này nên trong pháp của ngoại đạo nhất định không có Ngã. Nếu nói Ngã thì tức là Như Lai. Vì sao vậy? Vì thân Như Lai vô biên không có lưới nghi hoặc. Chẳng tác, chẳng thọ nên gọi là Thường. Chẳng sinh, chẳng diệt nên gọi là Lạc. Không cấu bẩn phiền não nên gọi là Tịnh. Không có mười tướng nên gọi là Không. Vậy nên Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh, rỗng không, không các tướng!”. Các ngoại đạo nói rằng: “Nếu nói rằng, Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh, vô tướng nên rỗng không thì phải biết pháp của ông Cù Ðàm nói là chẳng phải rỗng không vậy! Vậy nên chúng ta hôm nay phải cung kính nhận lấy mà hộ trì!”. Lúc bấy giờ, ngoại đạo, số ấy nhiều không lường, đều ở trong Phật pháp khởi lòng tin mà xuất gia.

Này thiện nam tử! Do nhân duyên này nên ta ở vùng Ta La song thọ này mà Ðại Sư Tử Hống. Sư Tử Hống là gọi Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Song thọ của đông pương là phá hoại vô thường, thu hoạch được Thường... cho đến song thọ của bắc phương là phá hoại được bất tịnh mà được tịnh. Này thiện nam tử! Chúng sinh trong này vì song thọ nên hộ trì rừng Ta La, chẳng khiến cho người ngoài lấy cành lá của cây ấy, chặt cắt phá hoại. Ta cũng như vậy, vì bốn pháp nên khiến cho các đệ tử hộ trì Phật pháp. Những gì là bốn? - Là Thường Lạc Ngã Tịnh. Ðây là bốn song thọ, bốn vương điển chưởng. Ta vì bốn vua hộ trì pháp của ta nên ta ở trong đó mà Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ta La song thọ hoa trái luôn sum suê, luôn có thể lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Ta cũng như vậy, luôn có thể lợi ích cho hàng Thanh Văn, Duyên Giác. Hoa là dụ cho Ngã, quả là dụ cho Lạc. Do nghĩa này nên ta ở vùng Ta La song thọ này mà vào Ðại Tịch Ðịnh. Ðại Tịch Ðịnh là gọi Ðại Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai vì sao Niết Bàn vào tháng hai?

- Này thiện nam tử! Tháng hai gọi là mùa xuân, tháng của xuân dương, muôn vật sinh trưởng, gieo trồng cây cối hoa trái phát triển tươi tốt, sông nước tràn đầy, trăm loài thú sinh sôi. Lúc đó chúng sinh sinh ra nhiều thường tưởng. Vì muốn phá tâm thường tưởng như vậy của chúng sinh nên ta nói tất cả pháp đều là vô thường mà chỉ nói Như Lai thường trụ bất biến. Này thiện nam tử! Ở trong sáu thời: Tiết mạnh đông khô khan tiều tụy mọi người chẳng yêu thích, tiết xuân dương dịch sống ôn hòa mọi người tham ái. Vì phá niềm vui thế gian của chúng sinh nên ta diễn nói Thường Lạc. Ngã Tịnh cũng vậy, Như Lai vì phá Ngã của thế gian, Tịnh của thế gian nên nói lên Ngã Tịnh chân thật của Như Lai. Nói tháng hai là dụ cho hai thứ pháp thân của Như Lai. Kẻ mùa đông chẳng ưa là người trí chẳng ưa Như Lai vô thường vào với Niết Bàn. Kẻ ưa thích tháng hai là dụ cho người trí ưa thích Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh. Người gieo trồng là dụ cho các chúng sinh nghe pháp vui mừng, phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà gieo trồng các căn lành! Sông là dụ cho những Ðại Bồ tát ở mười phương đến chỗ của ta hỏi han thính thọ kinh điển Ðại Niết Bàn này. Trăm loài thú sinh sôi là dụ cho đệ tử của ta sinh ra các thiện căn. Hoa dụ cho bảy giác chi. Quả dụ cho bốn thứ quả. Do nghĩa này nên ta ở trong tháy hai vào Ðại Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Ðức Như Lai từ sơ sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển diệu pháp luân đều lấy ngày mùng tám mà vì sao riêng lấy ngày mười lăm để Niết Bàn?

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Như ngày mười lăm, vầng trăng không khuyết, tròn đầy. Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, vào Ðại Niết Bàn không có khuyết, tròn đầy. Do nghĩa này nên ở trong ngày mười lăm vào Bát Niết Bàn. Này thiện nam tử! Như ngày mười lăm, khi vầng trăng tròn đầy thì có mười một việc. Những gì là mười một? Một là có thể phá bóng tối. Hai là khiến cho chúng sinh thấy đạo hay chẳng phải đạo. Ba là khiến cho chúng sinh thấy đạo tà hay chính. Bốn là trừ uất kết nung nấu được niềm vui thanh lương. Năm là có thể phá hoại lòng cống cao. Sáu là dứt tất cả tư tưởng đạo tặc. Bảy là trừ lòng sợ thú dữ của chúng sinh. Tám là có thể làm nở hoa Ưu Bát La. Chín là khép lại hoa sen. Mười là lòng người ra đi lên đường. Mười một là khiến cho các chúng sinh ưa thích thọ năm dục thu hoạch nhiều khoái lạc. Này thiện nam tử! Vầng trăng tròn đầy Như Lai cũng lại như vậy: Một là phá hoại bóng tối lớn vô minh. Hai là diễn nói về chánh đạo, tà đạo. Ba là mở bày đường tà hiểm sinh tử, đường bằng phẳng Niết Bàn. Bốn là khiến cho con người xa lìa lửa nóng tham dục, sân nhuế, ngu si. Năm là phá hoại ánh sáng của ngoại đạo. Sáu là phá hoại giặc ác phiền não kết. Bảy là trừ diệt lòng sợ năm cái. Tám là mở mang lòng gieo trồng căn lành của chúng sinh. Chín là che phủ lòng năm dục của chúng sinh. Mười là phát khởi hạnh tiến tu hướng đến Ðại Niết Bàn của chúng sinh. Mười một là khiến cho chúng sinh ưa tu giải thoát. Do ý nghĩa này nên ta ở trong ngày mười lăm vào Ðại Niết Bàn mà chân thật ta chẳng vào Niết Bàn. Người ác ngu si trong đệ tử của ta thì nhất định cho là Như Lai vào với Niết Bàn. Ví như người mẹ có nhiều những đứa con. Người mẹ ấy bỏ đi đến đất nước khác, trong khoảng thời gian chưa trở lại, các con đều nói rằng, mẹ ta đã chết. Nhưng mà người mẹ này thật chẳng chết vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những Tỳ kheo nào có thể trang nghiêm vùng Ta La Song Thọ này?

- Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo thọ trì, đọc tụng mười hai bộ Kinh đúng với câu văn Kinh ấy, thông đạt nghĩa lý sâu xa, vì người giải nói mà lời đầu, lời giữa, lời cuối đều tốt. Rồi vì muốn lợi ích cho vô lượng chúng sinh mà diễn nói Phạm hạnh. Những Tỳ kheo như vậy thì có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như con lý giải được ý nghĩa lời đức Phật nói thì Tỳ kheo A Nan tức là người ấy vậy. Vì sao vậy? Vì Tỳ kheo A Nan thọ trì đọc tụng mười hai bộ Kinh, vì người khác khai thị, diễn nói chính ngữ, chính nghĩa giống như rót nước đựng vào đồ đựng khác. Tỳ kheo A Nan cũng lại như vậy, từ điều nghe được nơi đức Phật, ông nói truyền lại đúng như đã nghe.

- Này thiện nam tử! Nếu có vị Tỳ kheo được tịnh thiên nhãn nhiều thấu sở hữu của mười phương ba ngàn đại thiên thế giới như xem quả Am ma lặc trong bàn tay thì Tỳ kheo như vậy cũng có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống Bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ kheo A Ni Lâu Ðà là người ấy vậy. Vì sao vậy? Vì mắt của ngài A Ni Lâu Ðà thấy đến sở hữu của mười phương ba ngàn đại thiên thế giới cho đến trung ấm đều rõ ràng không chướng ngại vậy.

- Này thiện nam tử! Nếu có vị Tỳ kheo thiểu dục tri túc, lòng ưa tịch tịnh, siêng hành tinh tấn, niệm định tuệ giải thì Tỳ kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống Bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ kheo Ca Diếp tức là người ấy vậy. Vì sao vậy? Vì Tỳ kheo Ca Diếp giỏi tu pháp thiểu dục, tri túc, v.v...

- Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo vì lợi ích cho chúng sinh chẳng vì lợi dưỡng mà tu tập thông đạt Vô Tránh tam muội, Thánh hạnh, Không hạnh thì Tỳ kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống Bạch rằng:

- Nếu như vậy thì Tỳ kheo Tu Bồ Ðề tức là người ấy vậy. Vì sao vậy? Vì ngài Tu Bồ Ðề giỏi tu Vô Tránh tam muội, Thánh hạnh, Không hạnh.

- Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo giỏi tu thần thông. Trong một niệm có thể tạo tác đủ thứ thần thông biến hóa. Một tâm một định mà có thể tạo tác hai kết quả như là nước và lửa. Tỳ kheo như vậy thì có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống Bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ kheo Mục Liên tức là người ấy. Vì sao vậy? Vì ngài Mục Kiền Liên giỏi tu thần thông, biến hóa không lường.

- Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo giỏi tu đại trí, lợi trí, trang nghiêm trí, giải thoát trí, thậm thâm trí, quảng trí, vô biên trí, vô thắng trí, thật trí... Thành tựu đầy đủ tuệ căn như vậy, ở trong oán thân lòng không sai khác, nếu nghe Như Lai Niết Bàn vô thường thì lòng không lo buồn, nếu nghe Như Lai thường trụ chẳng vào Niết Bàn thì chẳng sinh ra vui mừng. Tỳ kheo như vậy thì có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống Bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ kheo Xá Lợi Phất tức là người ấy. Vì sao vậy? Vì ngài Xá Lợi Phất giỏi có thể thành tựu đầy đủ đại trí tuệ như vậy.

- Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo có thể nói chúng sinh đều có Phật tính, được thân Kim Cương, không có bờ cõi, Thường Lạc Ngã Tịnh, thân tâm vô ngại, được tám tự tại. Tỳ kheo như vậy thì có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ.

Bồ tát Sư Tử Hống Bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì chỉ có đức Như Lai chính là người ấy. Vì sao vậy? Vì thân của đức Như Lai là thân Kim Cương, vô biên, Thường Lạc Ngã Tịnh, thân tâm vô ngại, đủ tám tự tại. Thưa đức Thế Tôn! Chỉ có đức Như Lai mới có thể trang nghiêm Ta La Song Thọ. Như không có ngài thì chẳng đoan nghiêm. Nguyện xin đấng Ðại Từ vì trang nghiêm nên thường trụ ở rừng cây Ta La này!

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Tính của tất cả các pháp trụở Vô trụ mà sao ông nói rằng, nguyện xin Như Lai trụ? Này thiện nam tử! Phàm nói trụ tức là gọi sắc pháp. Các từ nhân duyên sinh ra nên gọi là trụ. Nhân duyên không chỗ nên gọi là vô trụ. Như Lai đã đoạn tất cả sắc phược (sự ràng buộc của sắc) thì sao phải nói là Như Lai trụ vậy? Thọ, tưởng, hành, thức cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Trụ gọi là kiêu mạn, do kiêu mạn nên chẳng được giải thoát, chẳng được giải thoát nên gọi là trụ. Ai có kiêu mạn? Từ đâu đến? Vậy nên được gọi là trụ ở Vô trụ. Như Lai đoạn trừ vĩnh viễn tất cả kiêu mạn thì sao mà nói rằng, Nguyện xin đức Như Lai trụ? Trụ là gọi pháp hữu vi. Như Lai đã đoạn pháp hữu vi, vậy nên chẳng trụ. Trụ là gọi Không pháp. Như Lai đã đoạn pháp không như vậy. Vậy nên Như Lai thu hoạch được Thường Lạc Ngã Tịnh thì làm sao mà nói rằng, Nguyện xin đức Như Lai trụ? Trụ là gọi hai mươi lăm cõi hữu. Như Lai đã đoạn hai mươi lăm cõi hữu thì làm sao mà nói rằng, Nguyện xin đức Như Lai trụ? Trụ thì tức là tất cả phàm phu. Các bậc thánh thì vô khứ, vô lai, vô trụ. Như Lai đã đoạn tướng khứ, tướng lai, tướng trụ thì làm sao nói rằng trụ. Luận về vô trụ là gọi thân vô biên mà thân vô biên thì làm sao mà nói rằng, Nguyện xin đức Như Lai trụ ở rừng Ta La? Nếu trụ ở rừng này thì tức là thân có biên. Nếu có biên thì đó là vô thường mà Như Lai là thường thì sao nói rằng trụ? Phàm vô trụ là gọi hư không. Tính của Như Lai đồng với hư không thì sao nói rằng trụ? Lại vô trụ là gọi Kim Cương tam muội hoại tất cả trụ. Kim Cương tam muội tức là Như Lai thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ tức là gọi huyễn. Như Lai đồng với huyễn thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi không thỉ chung. Tính của Như Lai không có thỉ chung thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi pháp giới vô biên mà pháp giới vô biên tức là Như Lai thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi Thủ Lăng Nghiêm tam muội. Thủ Lăng Nghiêm tam muội biết tất cả pháp mà không sở trước. Do không chấp trước nên gọi là Thủ Lăng Nghiêm. Như Lai đầy đủ Thủ Lăng Nghiêm định thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi xứ phi xứ lực mà Như Lai thành tựu xứ phi xứ lực thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi Ðàn Ba la mật mà Ðàn Ba la mật nếu có trụ thì chẳng được đến Thi Ba la mật... cho đến Bát nhã Ba la mật. Do nghĩa này nên Ðàn Ba la mật gọi là vô trụ. Như Lai... cho đến chẳng trụ Bát nhã Ba la mật thì sao nguyện rằng, Như Lai thường trụ ở rừng cây Ta La. Lại, vô trụ là gọi tu bốn Niệm xứ. Như Lai nếu trụ ở bốn Niệm xứ thì chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, gọi là trụ ở chẳng trụ. Lại, vô trụ là gọi vô biên chúng sinh giới. Như Lai đều đến giới phận vô biên của tất cả chúng sinh mà không chỗ trụ. Lại, vô trụ là gọi không nhà cửa (ốc trạch). Không nhà cửa là gọi sự không có. Không có thì gọi là vô sinh. Vô sinh thì gọi là vô tử. Vô tử thì gọi là vô tướng. Vô tướng thì gọi là không ràng buộc. Không ràng buộc thì gọi là vô trước. Vô trước thì gọi là vô lậu. Vô lậu tức là thiện. Thiện tức là vô vi. Vô vi thì tức là Ðại Niết Bàn thường. Ðại Niết Bàn thường tức là ngã. Ngã tức là Tịnh. Tịnh tức là Lạc. Thường Lạc Ngã Tịnh tức là Như Lai. Này thiện nam tử! Ví như hư không chẳng trụ ở phương Ðông, ở phương Nam, ở phương Tây, ở phương Bắc, ở bốn phương bàng, ở phương trên, phương dưới. Như Lai cũng vậy, chẳng trụ ở phương Ðông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng và phương trên, phương dưới. Này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, thân miệng ý ác được quả thiện thì không có chỗ này! Thân miệng ý thiện được quả ác thì cũng không có chỗ này! Nếu nói rằng, phàm phu thấy được Phật tính còn Bồ tát Thập Trụ chẳng được thấy thì cũng không có chỗ này! Bọn nhất xiển đề, phạm tội ngũ nghịch, bài bàng kinh Phương Ðẳng, hủy phạm bốn trọng cấm được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì cũng không có chỗ này! Bồ tát Lục trụ nhân duyên phiền não rơi vào ba đường ác thì cũng không có chỗ này! Ðại Bồ tát dùng thân nữ chân thật để được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì cũng không có chỗ này! Nhất xiển đề thường trụ còn Tam Bảo vô thường thì cũng không có chỗ này! Như Lai trụ ở thành Câu Thi Na thì cũng không có chỗ này! Này thiện nam tử! Như Lai hôm nay, ở thành Câu Thi Na, vào Ðại tam muội, hang thiền định sâu mà chúng chẳng thấy nên gọi là Ðại Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Ðức Như Lai vì sao mà vào hang thiền định?

- Này thiện nam tử! Vì muốn độ thoát các chúng sinh nên đối với người chưa gieo trồng thiện căn thì khiến cho họ gieo trồng. Kẻ đã gieo trồng thiện căn thì được tăng trưởng. Kẻ mà quả thiện chưa thành thục thì khiến cho được thành thục. Người đã thành thục thì nói về thú hướng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Kẻ khinh chê thiện pháp thì khiến cho họ sinh lòng tôn quí. Những kẻ có phóng dật thì khiến cho họ lìa khỏi phóng dật. Ta vì muốn cùng với Văn Thù Sư Lợi, v.v... các Ðại Hương Tượng (Ðại Bồ tát) chung luận nghị, vì muốn giáo hóa người ưa đọc tụng thâm ái thiền định, vì muốn dùng Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh để giáo hóa chúng sinh, vì quan sát pháp tạng thậm thâm bất cộng, vì muốn quở trách đệ tử phóng dật... Như Lai thường tịch tịnh mà còn ưa thiền định huống là bọn các ông phiền não chưa hết mà sinh ra phóng dật! Ta vì muốn quở trách các Tỳ kheo ác nhận chứa tám thứ vật bất tịnh và chẳng thiểu dục, chẳng tri túc, vì khiến cho chúng sinh tôn trọng pháp thiền định đã nghe... Do vì những nhân duyên này nên ta vào hang thiền định.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Vô tướng định này là gọi Ðại Niết Bàn! Vậy nên Niết Bàn gọi là vô tướng. Do nhân duyên gì gọi là vô tướng?

- Này thiện nam tử! Vì không có mười tướng! Những gì là mười? - Ðó là sắc tướng, thanh tướng, hương tướng, vị tướng, xúc tướng, sinh tướng, trụ tướng, hoại tướng, nam tướng, nữ tướng. Ðó là mười tướng. Không có những tướng như vậy nên gọi là vô tướng. Này thiện nam tử! Phàm chấp trước tướng thì có thể sinh ra si. Si nên sinh ra ái mà ái nên bị trói buộc. Ðã trói buộc nên thọ sinh mà đã sinh nên có chết. Có chết nên vô thường. Nếu chẳng chấp trước tướng thì chẳng sinh ra si. Chẳng sinh si thì không có ái, không có ái thì không trói buộc. Không trói buộc thì chẳng thọ sinh. Chẳng thọ sinh thì không có chết. Không có chết thì gọi là Thường. Do nghĩa này nên Niết Bàn gọi là Thường!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những Tỳ kheo nào có thể đoạn được mười tướng?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu có Tỳ kheo lúc nào cũng tu tập ba thứ tướng thì đoạn được mười tướng! Lúc nào cũng tu tập tướng tam muội định. Lúc nào cũng tu tập tướng trí tuệ. Lúc nào cũng tu tập tướng xả. Ðó gọi là ba tướng.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là định tướng định, tướng tuệ, tướng xả? Tam muội này là tất cả chúng sinh đều có tam muội thì sao nói rằng, tu tập tam muội? Nếu tại một cảnh thì gọi là tam muội, nếu thay đổi theo duyên khác thì chẳng gọi là tam muội. Như bất định kia chẳng phải nhất thiết trí mà chẳng phải nhất thiêt trí thì sao gọi là định? Nếu do một hạnh được tam muội thì các hạnh còn lại ấy cũng chẳng phải là tam muội. Nếu chẳng phải tam muội thì chẳng phải nhất thiết trí. Nếu chẳng phải nhất thiết trí thì sao gọi là tam muội? Hai tướng tuệ và xả cũng lại như vậy.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như lời ông nói, duyên với một cảnh được gọi là tam muội, các duyên còn lại kia chẳng gọi là tam muội thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì các duyên còn lại như vậy cũng một cảnh. Hạnh cũng như vậy. Ông lại nói, chúng sinh có tam muội trước, chẳng cần tu hành thì điều này cũng chẳng đúng! Sở dĩ vì sao? Vì khi nói tam muội là gọi thiện tam muội mà tất cả chúng sinh chân thật chưa có thì làm sao mà nói rằng, chẳng cần tu tập? Do trụ ở trong thiện tam muội như vậy mà quan sát tất cả pháp nên gọi là tướng thiện tuệ. Chẳng thấy tướng khác của tam muội và trí tuệ thì đó gọi là tướng xả. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu chọn lấy sắc tướng thì chẳng quan sát tướng sắc thường hay vô thường. Ðó gọi là tam muội. Nếu có thể quan sát tướng sắc thường hay vô thường thì đó gọi là tướng tuệ. Tam muội và Tuệ bình đẳng quan sát tất cả pháp thì đó gọi là tướng Xả. Này thiện nam tử! Như người giỏi điều khiển chiếc xe bốn ngựa làm chủ được sự chậm nhanh. Sở đắc sự nhanh chậm nên gọi là tướng xả. Bồ tát cũng vậy, người nhiều tam muội thì tu tập tuệ. Nếu người nhiều tuệ thì tu tập tam muội. Tam muội và tuệ bình đẳng thì gọi là Xả. Này thiện nam tử! Bồ tát Thập Trụ lực trí tuệ nhiều, lực tam muội ít, vậy nên chẳng được thấy Phật tính rõ ràng. Thanh Văn, Duyên Giác lực tam muội nhiều, lực trí tuệ ít. Do nhân duyên này nên chẳng thấy Phật tính. Các đức Phật Thế Tôn thì Ðịnh và Tuệ bình đẳng nên sáng thấy Phật tính rõ ràng, không ngăn ngại như xem quả Am ma lặc trong bàn tay. Thấy Phật tính gọi là tướng Xả.

Xa ma tha thì gọi là năng diệt, hay diệt trừ tất cả phiền não kết. Lại, Xa ma tha thì gọi là năng điều, hay điều phục việc ác,bất thiện của các căn. Lại, Xa ma tha thì gọi rằng Tịch Tịnh, có thể khiến cho ba nghiệp trở nên tịch tịnh. Lại, Xa ma tha là gọi rằng Viễn Ly, có thể khiến cho chúng sinh lìa khỏi năm dục. Lại, Xa ma tha là gọi rằng năng thanh, có thể làm trong sạch ba trược (vẩn đục) pháp là tham dục, sân nhuế và ngu si. Do nghĩa này nên gọi là Ðịnh tướng. Tỳ Bà Xá Na gọi là chánh kiến, cũng gọi là liễu kiến, gọi là năng kiến, gọi là biến (khắp) kiến, gọi là thứ đệ kiến, gọi là biệt tướng kiến... Ðó gọi là Tuệ. Ưu Tất Xoa thì gọi là bình đẳng, cũng gọi là bất tranh (cãi), lại gọi là bất quán, cũng gọi là bất hạnh (hành động)... Ðó gọi là Xả. Này thiện nam tử! Xa ma tha có hai thứ, một là thế gian, hai là xuất thế gian. Lại có hai thứ, một là thành tựu, hai là chẳng thành tựu. Thành tựu thì để gọi chư Phật, Bồ tát, chẳng thành tựu thì để gọi Thanh Văn, Bích Chi Phật, v.v... Lại có ba thứ là hạ, trung, thượng. Hạ là gọi các phàm phu, trung là Thanh Văn, Duyên Giác, thượng là chư Phật Bồ tát. Lại có bốn thứ, một là thoái, hai là trụ, ba là tiến, bốn là có thể đại lợi ích. Lại có năm thứ, đó là gọi năm trí tam muội. Những gì là năm? Một là vô thực (ăn) tam muội, hai là vô quá (lỗi) tam muội, ba là thân ý thanh tịnh nhất tâm tam muội, bốn là nhân quả câu lạc tam muội, năm là Thường niệm tam muội. Lại có sáu thứ, một là quán cốt tam muội, hai là từ tam muội, ba là quán thập nhị nhân duyên tam muội, bốn là A na bà na tam muội, năm là niệm giác quán tam muội, sáu là quán sinh diệt tam muội. Lại có bảy thứ, đó là bảy giác phận, một là niệm giác phận, hai là trạch pháp giác phận, ba là tinh tấn giác phận, bốn là hỷ giác phận, năm là trừ giác phận, sáu là định giác phận, bảy là xả giác phận. Lại có bảy thứ, một là Tu đà hoàn tam muội, hai là Tư đà hàm tam muội, ba là A na hàm tam muội, bốn là A la hán tam muội, năm là Bích Chi Phật tam muội, sáu là Bồ tát tam muội, bảy là Như Lai giác tri tam muội. Lại có tám thứ là tám giải thoát tam muội. Một là Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát tam muội. Hai là Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát tam muội. Ba là Tịnh giải thoát thân chứng tam muội. Bốn là Không xứ giải thoát tam muội. Năm là Thức xứ giải thoát tam muội. Sáu là Vô sở hữu xứ giải thoát tam muội. Bảy là phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ giải thoát tam muội. Tám là Diệt tận định giải thoát tam muội. Lại có chín thứ là chín thứ lớp định: Bốn thiền, bốn Không và Diệt tận định tam muội. Lại có mười thứ là mười Nhất thiết xứ tam muội. Những gì là mười? Một là Ðịa nhất thiết xứ tam muội. Hai là Thủy nhất thiết xứ tam muội. Ba là Phong nhất thiết xứ tam muội. Bốn là Thanh (xanh) nhất thiết xứ tam muội. Năm là Hoàng (vàng) nhất thiết xứ tam muội. Sáu là xích (đỏ) nhất thiết xứ tam muội. Bảy là Bạch nhất thiết xứ tam muội. Tám là Không nhất thiết xứ tam muội. Chín là Thức nhất thiết xứ tam muội. Mười là Vô sở hữu nhất thiết xứ tam muội. Lại có vô số thứ, là gọi các đức Phật, Bồ tát. Này thiện nam tử! Ðó gọi là tướng tam muội.

Này thiện nam tử! Tuệ có hai thứ, một là thế gian, hai là xuất thế gian. Lại có ba thứ, một là Bát nhã, hai là Tỳ bà xá na, ba là Xà na. Bát nhã là gọi tất cả chúng sinh. Tỳ bà xá na là gọi tất cả Thánh nhân. Xà na là chư Phật Bồ tát. Lại, Bát nhã thì gọi là Biệt tướng. Tỳ bà xá na thì gọi là Tổng tướng. Xà na thì gọi là Phá tướng. Lại có bốn thứ là quan sát bốn chân đế. Này thiện nam tử! Vì ba việc nên tu Xa ma tha. Những gì là ba? Một là chẳng phóng dật, hai là trang nghiêm đại trí, ba là được tự tại. Lại nữa, vì ba việc nên tu Tỳ bà xá na. Những gì là ba? Một là vì quan sát quả báo của sinh tử ác. Hai là vì muốn tăng trưởng các căn lành. Ba là vì phá tất cả các phiền não.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi tám hết -


29/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Hai Mươi Chín

PHẨM BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG THỨ Thứ Hai Mươi Ba (tiếp theo)

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như trong Kinh nói, nếu Tỳ Bà Xá Na có thể phá phiền não thì vì sao lại tu Xa ma tha vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông nói, Tỳ Bà Xá Na phá phiền não thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì khi có trí tuệ thì không phiền não, khi có phiền não thì không trí tuệ thì sao mà nói Tỳ Bà Xá Na có thể phá phiền não? Này thiện nam tử! Ví như khi sáng thì không có tối, khi tối thì không có sáng. Nếu có người nói rằng, sáng có thể phá tối thì không có chỗ này! Này thiện nam tử! Ai có trí tuệ? Ai có phiền não mà nói trí tuệ có thể phá phiền não? Như cái ấy không thì không có cái phá. Này thiện nam tử! Nếu nói trí tuệ có thể phá phiền não thì vì đến nên phá và chẳng đến nên phá. Nếu chẳng đến mà phá là phàm phu chúng sinh thì nên có thể phá. Nếu đến nên phá thì ý niệm đầu tiên nên phá. Nếu ý niệm đầu tiên chẳng phá thì sau cũng chẳng phá. Nếu mới đến liền phá tức là chẳng đến thì làm sao nói rằng, trí tuệ có thể phá. Nếu nói đến cùng chẳng đến mà có thể phá thì nghĩa này chẳng đúng! Lại nữa Tỳ Bà Xá Na phá phiền não là một mình có thể phá hay là bạn bè nên phá? Nếu một mình có thể phá thì Bồ tát vì sao tu tám chánh đạo? Nếu bạn bè nên phá thì phải biết rằng, một mình chẳng thể phá. Nếu một mình chẳng thể thì bạn bè cũng chẳng thể. Như một người mù chẳng thể thấy sắc thì tuy có chúng bạn nhưng mù thì cũng chẳng thể thấy. Tỳ Bà Xá Na cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như tính cứng của đất, tính nóng của lửa, tính ẩm ướt của nước, tính chuyển động của gió mà tính cứng của đất... cho đến tính động của gió chẳng phải nhân duyên tạo tác mà tính của chúng tự như vậy. Như tính của bốn đại, tính của phiền não cũng vậy, là tự đoạn. Nếu là đoạn thì làm sao mà nói rằng, trí tuệ có thể đoạn. Do nghĩa này nên Tỳ Bà Xá Na quyết định chẳng thể phá các phiền não. Này thiện nam tử! Như tính của muối là mặn khiến cho vật khác mặn. Mật vốn tính ngọt khiến cho vật khác ngọt. Nước vốn tính ẩm ướt khiến cho vật khác ẩm ướt. Tính của trí tuệ là diệt nên khiến cho các pháp diệt thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì nếu pháp không diệt thì làm sao trí tuệ có thể cưỡng ép khiến cho diệt được? Nếu nói muối mặn khiến cho vật khác mặn, tuệ diệt cũng vậy, có thể khiến cho pháp khác diệt thì điều này cũng chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì tính của trí tuệ là từng niệm từng niệm diệt. Nếu từng niệm từng niệm diệt thì làm sao mà nói có thể diệt pháp khác. Do nghĩa này nên tính của trí tuệ chẳng phá phiền não. Này thiện nam tử! Tất cả các pháp có hai thứ diệt, một là tính diệt, hai là rốt ráo diệt. Nếu tính diệt thì làm sao mà nói trí tuệ có thể diệt? Nếu nói trí tuệ có thể diệt phiền não như lửa thiêu đốt vật thì nghĩa này không đúng. Vì sao vậy? Vì như lửa thiêu đốt vật thì có để lại tàn lửa. Trí tuệ như vậy thì nên để lại diệt tàn. Như búa chặt cây thì chỗ chặt ra có thể thấy. Trí tuệ nếu vậy thì có gì có thể thấy? Tuệ nếu có thể khiến cho phiền não lìa khỏi thì như vậy phiền não nên hiện bày chỗ còn lại. Như các ngoại đạo rời khỏi sáu đại thành thì hiện diện ở thành Câu Thi Na. Nếu phiền não đó chẳng hiện này chỗ thừa thì biết rằng, trí tuệ chẳng thể khiến cho phiền não lìa khỏi. Này thiện nam tử! Tính của tất cả các pháp nếu tự rỗng không thì ai có thể khiến cho sinh ra? Ai có thể khiến cho diệt đi? Sinh khác, diệt khác, không người tạo tác! Này thiện nam tử! Nếu tu tập định thì được chánh trí, chính kiến như vậy. Do nghĩa này nên trong Kinh của ta nói, nếu có Tỳ kheo tu tập định thì có thể thấy tướng sinh diệt của năm ấm. Này thiện nam tử! Nếu chẳng tu định thì việc thế gian còn chẳng thể rõ, huống là đối với việc xuất thế. Nếu người không định thì chỗ bằng cũng ngã lăn, lòng duyên pháp khác, miệng tuyên nói lời khác, tai nghe tiếng khác, tâm giải nghĩa khác, muốn tạo chữ khác, tay viết văn khác, muốn đi đường khác, thân lặn lội lối khác. Nếu người có tu tập tam muội định thì được lợi ích lớn... cho đến Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát đầy đủ hai pháp có thể lợi ích lớn, một là Ðịnh, hai là Trí. Này thiện nam tử! Như cắt cỏ gianh (cỏ may) nắm nhanh thì đứt, Ðại Bồ tát tu hai pháp này cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như nhổ cây cứng mà trước dùng tay lay động thì sau dễ nhổ lên. Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy, trước dùng định khởi động, sau dùng tuệ nhổ lên. Này thiện nam tử! Như giặt áo bẩn, trước dùng nước tro, sau dùng nước trong thì áo sạch sẽ. Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như trước đọc tụng, sau thì giải nghĩa. Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như người dũng mãnh, trước dùng giáp đồng, binh khí tự trang bị chắc chắn, nhiên hậu ra trận mới có thể phá hoại được giặc oán thù. Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như người thợ khéo với cây kềm, chiếc búa đập và thỏi kim loại mà tự tại theo ý nhào nặn nấu chảy. Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như tấm gương sáng soi rõ hình dáng của mặt. Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như trước làm bằng phẳng đất rồi nhiên hậu mới xuống giống. Trước theo thầy thọ giáo rồi sau tư duy nghĩa lý, Bồ tát tu định tuệ cũng lại như vậy. Do nghĩa này nên Ðại Bồ tát tu hai pháp này, điều phục nhiếp lấy năm căn, kham nhẫn mọi khổ như là đói khát, nóng lạnh, đánh đập, mạ nhục, sự cắn xé của ác thú, sự chích hút của muỗi mòng... Bồ tát luôn nhiếp lấy tâm chẳng để cho phóng dật, chẳng vì lợi dưỡng mà hành động phi pháp, khách trần phiền não chẳng thể làm ô nhiễm, chẳng bị sự mê hoặc của các tà kiến, dị kiến, thường có thể xa lìa các giác quán ác, chẳng bao lâu sẽ thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, vì muốn thành tựu lợi ích cho chúng sinh. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tu hai pháp này thì bốn luồng gió dữ điên đảo chẳng thể thổi động như núi Tu Di tuy bị sự thổi mạnh của bốn gió nhưng chẳng thể làm cho lay động, chẳng bị sự nhổ bật của tà sư ngoại đạo như Ðế Thích Tràng chẳng thể di động, mọi tà dị thuật chẳng thể lừa dối mê hoặc, thường thọ đệ nhất an lạc vi diệu, có thể giải được nghĩa bí mật của Như Lai, hưởng thọ niềm vui chẳng mừng, gặp phải nỗi khổ chẳng buồn, chư thiên, người đời cung kính khen ngợi, thấy sáng tỏ sinh tử và chẳng phải sinh tử, giỏi có thể biết rõ pháp giới và pháp tính, thân có pháp Thường Lạc Ngã Tịnh. Ðó gọi là Ðại Niết Bàn Lạc.

Này thiện nam tử! Ðịnh tướng là gọi Không tam muội. Tuệ tướng là gọi Vô nguyện tam muội. Xả tướng là gọi Vô Tướng tam muội. Này thiện nam tử! Nếu có Ðại Bồ tát khéo biết lúc nào định, lúc nào tuệ, lúc nào xả và biết lúc chẳng phải lúc thì đó gọi là Ðại Bồ tát hành đạo Bồ Ðề!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Bồ tát biết thời (lúc) và phi thời (chẳng phải lúc)?

- Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát nhân được thọ lạc sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân nói pháp mà sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân tinh cần mà sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân lúc giải nghĩa khéo hỏi đáp mà sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân gần gũi ác tri thức mà sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân bố thí vật ái trọng của mình mà sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân công đức của thiện pháp thế gian mà sinh ra kiêu mạn, hoặc nhân sự cung kính của người giàu sang ở thế gian mà sinh ra kiêu mạn... thì phải biết là những lúc như vậy chẳng nên tu Trí mà phải nên tu Ðịnh. Ðó gọi là Bồ tát biết thời và phi thời. Như có Bồ tát siêng tu tinh tấn chưa được niềm vui lợi ích Niết Bàn. Rồi do chẳng được nên sinh tâm hối tiếc, do độn căn nên chẳng thể điều phục năm tình, các căn, do thế lực của các phiền não bẩn hưng thịnh nên tự nghi ngờ giới luật có suy tổn... thì phải biết là những lúc như vậy chẳng nên tu Ðịnh mà phải nên tu Trí. Ðó gọi là Bồ tát biết thời và phi thời. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát mà hai pháp Ðịnh Tuệ chẳng bình đẳng thì phải biết lúc ấy chẳng nên tu Xả, còn hai pháp nếu bình đẳng thì nên tu. Ðó gọi là Bồ tát biết thời và phi thời. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát tu Ðịnh Tuệ mà khởi lên phiền não thì phải biết lúc ấy chẳng nên tu Xả, cần nên đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ Kinh, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên (trời), niệm Xả. Ðó gọi là tu Xả. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát tu tập ba pháp tướng như vậy thì do nhân duyên này mà được Vô Tướng Niết Bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Không mười tướng nên gọi Ðại Niết Bàn là vô tướng thì lại do nhân duyên gì mà gọi là vô sinh, vô xuất, vô tác, nhà cửa, châu thổ, qui y, yên ổn, diệt độ, Niết Bàn, tịch tịnh, không các bệnh khổ, không sở hữu vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Không nhân duyên nên gọi Vô sinh. Do vô vi nên gọi là vô xuất. Không tạo nghiệp nên gọi là vô tác. Chẳng vào năm kiến nên gọi là ốc trạch (nhà cửa). Lìa khỏi bốn dòng nước dữ nên gọi là châu (châu thổ: vùng đất ven sông ven biển). Ðiều phục chúng sinh nên gọi là qui y. Phá hoại giặc kiết sử nên gọi là yên ổn. Các lửa kết diệt nên gọi là Diệt độ. Lìa khỏi giác quán nên gọi là Niết Bàn. Xa nơi rối loạn ồn ào nên gọi là tịch tịnh. Ðoạn vĩnh viễn việc phải chết nên gọi là vô bệnh. Tất cả không nên gọi là vô sở hữu. Này thiện nam tử! Nếu Ðại Bồ tát khi tác khởi sự quan sát này thì liền được sáng tỏ, thấy được Phật tính.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðại Bồ tát thành tựu bao nhiêu pháp thì có thể thấy được từ vô tướng Niết Bàn đến vô sở hữu như vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát thành tựu mười pháp thì có thể thấy rõ Niết Bàn vô tướng... đến vô sở hữu. Những gì là mười?

Một là lòng tin đầy đủ. Sao gọi là lòng tin đầy đủ? Thân tín Phật, Pháp, Tăng là thường; các đức Phật mười phương là phương tiện thị hiện; tất cả chúng sinh và nhất xiển đề đều có Phật tính. Chẳng tin: Như Lai sinh già bệnh chết và tu khổ hạnh; Ðề Bà Ðạt Ða chân thật phá Tăng, làm chảy máu thân Phật; Như Lai rốt ráo vào với Niết Bàn; chính pháp diệt tận. Ðó gọi là Bồ tát tín tâm đầy đủ.

Hai là Tịnh giới đầy đủ. Sao gọi là tịnh giới đầy đủ? Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát tự nói là tịnh giới. Bồ tát ấy tuy chẳng cùng người con gái kia hòa hợp nhưng khi gặp nữ nhân thì cùng chung nói cười đùa giỡn. Bồ tát như vậy là thành tựu dục pháp, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới xen lẫn dơ bẩn, chẳng được gọi là Tịnh giới đầy đủ. Lại có Bồ tát tự nói là Tịnh giới. Bồ tát này tuy chẳng cùng người con gái kia hòa hợp thân, nói cười đùa giỡn, nhưng ở ngoài tường ngăn, xa nghe đủ thứ những tiếng va chạm của chuỗi ngọc, vòng xuyến... mà lòng sinh ái trước. Bồ tát như vậy là thành tựu dục pháp, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới xen lẫn dơ bẩn, chẳng được gọi là Tịnh giới đầy đủ. Lại có Bồ tát tự nói là tịnh giới. Bồ tát này tuy lại chẳng cùng với nữ nhân hòa hợp, nói cười đùa giỡn và nghe âm thanh đồ trang sức ấy, nhưng khi thấy người con trai theo đuổi con gái hay khi thấy người con gái theo đuổi con trai thì liền sinh ra tham trước. Bồ tát như vậy là thành tựu dục pháp, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới xen lẫn dơ bẩn, chẳng được gọi là tịnh giới đầy đủ. Lại có Bồ tát tự nói là tịnh giới. Bồ tát này tuy lại chẳng cùng nữ nhân hòa hợp, nói cười đùa giỡn, nghe âm thanh đồ trang sức, thấy nam nữ theo nhau, nhưng giữ giới vì muốn sinh lên trời, hưởng thụ niềm vui ngũ dục. Bồ tát như vậy là thành tựu dục pháp, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới xen tạp dơ bẩn, chẳng được gọi là Tịnh giới đầy đủ. Này thiện nam tử! Nếu có Bồ tát trì giới thanh tịnh mà chẳng vì Giới, chẳng vì Thi Ba la mật, chẳng vì chúng sinh, chẳng vì lợi dưỡng, chẳng vì Bồ Ðề, chẳng vì Niết Bàn, chẳng vì Thanh Văn, Bích Chi Phật mà chỉ vì tối thượng đệ nhất nghĩa nên hộ trì cấm giới. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Bồ tát Tịnh giới đầy đủ.

Ba là thân cận các thiện tri thức. Thiện tri thức là nếu có người có thể nói về tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ khiến cho người thọ nhận, tu hành thì đó gọi là Bồ tát thiện tri thức.

Bốn là ưa thích tịch tịnh. Tịch tịnh là gọi thân tâm tịch tịnh. Quan sát các pháp và pháp giới thậm thâm thì đó gọi là tịch tịnh.

Năm là Tinh tấn. Tinh tấn là gọi sự hết lòng quan sát bốn Thánh đế mà giả sử lửa cháy trên đầu cũng nhất định chẳng buông bỏ. Ðó gọi là tinh tấn.

Sáu là niệm đầy đủ. Niệm đầy đủ là gọi việc niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên, niệm Xả. Ðó gọi là Niệm đầy đủ.

Bảy là nhuyến ngữ. Nhuyến ngữ là gọi lời nói thật, lời nói diệu, lời khi có ý trước hỏi han, lời nói chân chính. Ðó gọi là nhuyến ngữ.

Tám là hộ pháp. Hộ Pháp là gọi sự yêu thích chính pháp, thường ưa diễn nói, đọc tụng, ghi chép, suy nghĩ ý nghĩa của pháp ấy, tuyên dương phô bày rộng rãi khiến cho pháp ấy được lưu bố. Nếu thấy có người ghi chép, giải nói, đọc tụng, khen ngợi, suy nghĩa Kinh ấy thì vì tư sinh (nhu cầu đời sống) mà cúng dường cho họ những thứ như là y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược..., vì hộ pháp nên chẳng tiếc thân mạng. Ðó gọi là hộ pháp.

Chín là Ðại Bồ tát thấy có người đồng học, người đồng giới có sự thiếu thốn mà đi theo người khác xin bát nung, áo nhuộm, đồ cần để xem bệnh, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, phòng nhà để cung cấp cho họ.

Mười là đầy đủ trí tuệ. Trí tuệ là gọi sự quan sát được Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, quan sát được hai tướng của pháp như là không hay chẳng không, thường hay vô thường, lạc hay vô lạc, ngã hay vô ngã, tịnh hay bất tịnh, pháp khác có thể đoạn, pháp khác chẳng thể đoạn, pháp khác từ duyên sinh, pháp khác từ duyên thấy, pháp khác từ duyên quả, pháp khác chẳng phải từ duyên quả. Ðó gọi là đầy đủ trí tuệ. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Bồ tát đầy đủ mười pháp, liền có thể thấy rõ Niết Bàn Vô Tướng.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật trước đã bảo ông Thuần Ðà rằng, ông nay đã được thấy Phật tính, được Ðại Niết Bàn, thành tựu Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì nghĩa này là sao? Thưa đức Thế Tôn! Như trong Kinh nói rằng, nếu bố thí cho súc sinh thì được báo đền gấp trăm lần. Bố thí cho nhất xiển đề được báo đền gấp ngàn lần. Bố thí cho người trì giới thì báo đền gấp trăm ngàn lần. Nếu bố thí cho kẻ ngoại đạo đoạn trừ phiền não thì được báo đền không lường. Bố thí cho bốn bậc đạo hướng và cả bốn quả đến Bích Chi Phật được báo đền không lường. Bố thí cho hàng Bồ tát bất thoái và các Ðại Bồ tát, Như Lai, Thế Tôn của thân sau cùng thì sự được phước báo vô lượng vô biên, chẳng thể xưng kể, chẳng thể nghĩa bàn. Ðại sĩ Thuần Ðà nếu thọ quả báo vô lượng như vậy mà quả báo đó vô tận thì khi nào ông sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Thưa đức Thế Tôn! Trong Kinh lại nói rằng, nếu người trọng tâm tạo nghiệp thiện hoặc ác thì nhất định được quả báo, hoặc hiện thế thọ, hoặc thứ sinh thọ, hoặc đời sau thọ. Ông Thuần Ðà trọng tâm tạo tác thiện nghiệp thì phải biết là nghiệp này nhất định thọ báo. Nếu ông nhất định thọ báo thì làm sao được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác? Làm sao lại được thấy Phật tính? Thưa đức Thế Tôn! Trong Kinh lại nói rằng, bố thí ba thứ người quả báo vô tận, một là người bệnh, hai là cha mẹ, ba là Như Lai. Thưa đức Thế Tôn! Trong Kinh lại nói rằng, đức Phật bảo ngài A Nan là tất cả chúng sinh mà như họ không có nghiệp quả cõi Dục thì liền được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nghiệp cõi Sắc và cõi Vô Sắc cũng lại như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Như câu kệ pháp nói: Chẳng phải không chẳng phải trong biển, chẳng phải vào vùng núi đá, không có địa phương xứ sở, thoát khỏi đó chẳng thọ nghiệp. Lại, ông A Ni Lâu Ðà nói rằng, thưa đức Thế Tôn! Con nhớ thuở xưa nhờ thí một bữa ăn mà trong tám vạn kiếp chẳng rơi vào ba đường ác. Thưa đức Thế Tôn! Bố thí một bữa ăn còn được quả báo thế, huống gì ông Thuần Ðà tín tâm cúng dường đức Phật, thành tựu đầy đủ Ðàn Ba la mật? Thưa đức Thế Tôn! Nếu thiện quả báo chẳng thể tận thì bài báng Kinh Phương Ðẳng, phạm ngũ nghịch tội, hủy bốn trọng cấm, nhất xiển đề tội làm sao có thể tận? Làm sao có thể được thấy Phật tính, thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác?

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Chỉ có hai người được vô lượng vô biên công đức chẳng thể xưng kể, chẳng thể tuyên nói, có thể làm cạn kiệt dòng sông cuồng bạo sinh tử, hàng phục ma oán địch, xô ngã ma thắng tràng, có thể chuyển pháp luân vô thượng của Như Lai: Một là người giỏi hỏi, hai là người giỏi trả lời. Này thiện nam tử! Trong mười lực của đức Phật thì nghiệp lực là sâu nhất. Này thiện nam tử! Có các chúng sinh ở trong nghiệp duyên, lòng khinh chẳng tin, vì hóa độ họ nên ta nói lời như vậy. Này thiện nam tử! Tất cả tác nghiệp có khinh, có trọng. Hai nghiệp trọng và khinh lại đều có hai, một là quyết định, hai là chẳng quyết định. Này thiện nam tử! Hoặc có người nói nghiệp ác không có quả. Hoặc có người nói rằng, nghiệp ác nhất định có quả. Vậy thì sao chiên đà la Khí Hư mà được sinh lên trời và Ương Quật Ma La được quả giải thoát? Do nghĩa này nên phải biết là, tạo tác nghiệp có định thì được quả, chẳng định cũng được quả. Ta vì đoạn trừ tà kiến như vậy nên ở trong Kinh nói lời như vậy, tất cả mọi tác nghiệp không gì chẳng được quả. Này thiện nam tử! Hoặc có trọng nghiệp (nghiệp nặng) có thể được làm thành khinh (nhẹ). Hoặc có khinh nghiệp có thể được làm thành trọng. Chẳng phải tất cả mọi người chỉ có ngu và trí. Vậy nên phải biết là, chẳng phải tất cả nghiệp đều định được quả. Tuy nghiệp chẳng định được quả nhưng chẳng phải chẳng được. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh, phàm có hai hạng, một là người trí, hai là người ngu. Người có trí do lực của trí tuệ nên có thể khiến cho nghiệp rất nặng địa ngục ở hiện thế thọ nhẹ. Người ngu si làm cho nghiệp nhẹ hiện thế phải thọ nặng ở địa ngục.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì chẳng nên cầu Phạm hạnh thanh tịnh và quả giải thoát.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu tất cả nghiệp định được quả thì chẳng nên cầu phạm hạnh giải thoát. Do chẳng định thì tu Phạm hạnh và Giải thoát quả. Này thiện nam tử! Nếu có thể xa lìa tất cả ác nghiệp thì được thiện quả. Nếu xa thiện nghiệp thì được ác quả. Nếu tất cả nghiệp định được quả thì chẳng nên cầu tu tập Thánh đạo. Nếu chẳng tu Thánh đạo thì không giải thoát. Tất cả Thánh nhân sở dĩ tu đạo là vì hoại định nghiệp, được khinh báo (quả báo nhẹ), nghiệp bất định không quả báo. Nếu tất cả nghiệp định được báo thì chẳng nên cầu tu tập Thánh đạo. Nếu người xa lìa tu tập Thánh đạo được giải thoát thì không có chỗ này. Chẳng được giải thoát mà được Niết Bàn thì cũng không có chỗ này. Này thiện nam tử! Nếu tất cả nghiệp định được quả thì việc làm cả đời thuần là nghiệp thiện thì nên phải vĩnh viễn đã luôn thọ an lạc. Việc làm cả đời nghiệp ác rất nặng cũng nên phải vĩnh viễn đã thọ khổ não lớn. Nghiệp quả nếu vậy thì không tu đạo giải thoát Niết Bàn. Người làm người thọ, Bà la môn làm Bà la môn thọ. Nếu như vậy thì chẳng nên có dòng họ hạ đẳng. Nếu hạ đẳng có thì nên luôn là người, Bà la môn nên luôn là Bà la môn, lúc nhỏ tạo nghiệp thì nên lúc nhỏ chịu báo, chẳng nên đến lúc trung niên, lúc già mới chịu quả báo. Lúc già tạo tác ác nghiệp, sinh vào trong địa ngục thì thân đầu tiên ở địa ngục, chẳng nên thọ báo liền mà nên đợi khi già rồi nhiên hậu mới thọ. Nếu khi già chẳng giết hại thì chẳng nên lúc tráng niên được sống lâu. Nếu không sống được thời trẻ thì làm sao đến già để nghiệp không mất? Nếu nghiệp không mất thì làm sao mà có tu đạo Niết Bàn? Này thiện nam tử! Nghiệp có hai thứ: định và bất định. Ðịnh nghiệp có hai, một là báo định, hai là thời định. Hoặc có báo định mà thời chẳng định, duyên hòa hợp thì thọ. Hoặc ba thời thọ đó là hiện thọ, sinh thọ và hậu thọ. Này thiện nam tử! Nếu định tâm tạo tác nghiệp thiện, ác, v.v... Tạo tác rồi sinh ra lòng tin sâu sắc vui mừng và nếu phát lên thệ nguyện cúng dường Tam Bảo thì đó gọi là Ðịnh nghiệp. Này thiện nam tử! Người trí thì thiện căn sâu bền khó chuyển động. Vậy nên họ có thể khiến cho nghiệp nặng thành nhẹ. Kẻ ngu si thì căn bất thiện thâm hậu nên có thể khiến cho nghiệp nhẹ mà trở thành quả báo nặng. Do nghĩa này nên tất cả các nghiệp chẳng gọi là quyết định. Ðại Bồ tát không có nghiệp địa ngục nhưng vì chúng sinh nên phát đại thệ nguyện sinh vào trong địa ngục.

Này thiện nam tử! Thuở xưa, lúc chúng sinh sống lâu trăm tuổi thì hằng hà sa số chúng sinh thọ quả báo địa ngục. Ta thấy thế rồi liền phát đại nguyện, thọ thân địa ngục. Bồ tát bấy giờ thật không có nghiệp đó, vì chúng sinh nên thọ quả báo địa ngục. Ta vào lúc ấy ở tại trong địa ngục trải qua vô lượng năm, vì các tội nhân rộng mở, phân biệt mười hai bộ Kinh. Mọi người nghe rồi, hủy hoại quả báo ác khiến cho địa ngục trống không, trừ bọn nhất xiển đề. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam tử! Trong Hiền kiếp này, có vô lượng chúng sinh rơi vào trong loài súc sinh thọ quả báo của nghiệp ác. Ta thấy thế rồi lại phát thệ nguyện, vì muốn nói pháp độ chúng sinh nên, hoặc làm thân hươu nai, gấu, bồ câu, vượn, rồng, rắn, chim cánh vàng, cá, rùa, chồn, thỏ, trâu, ngựa... Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát chân thật không có nghiệp ác súc sinh như vậy nhưng do lực đại nguyện, vì chúng sinh nên thị hiện thọ những thân này. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ ác nghiệp này. Lại nữa, này thiện nam tử! Trong kiếp Hiền này, lại có vô lượng vô biên chúng sinh trong loài ngã quỉ. Chúng ăn nước ói ra, mỡ, thịt, máu mủ, đồ đại tiểu tiện, mũi dãi... sống lâu không lường, hàng trăm ngàn vạn năm mà chưa từng nghe đến danh từ nước uống, huống lại là tận mắt nhìn thấy và được uống. Giả sử từ xa thấy nước, sinh tâm đi đến thì đến nơi nước biến thành lửa mạnh và mủ máu. Hoặc khi chẳng biến đổi thì có nhiều người tay cầm mâu, kích ngăn giữ, tóm bắt khiến cho chúng chẳng đến chỗ nước được. Hoặc khi trời tuông mưa thì nước mưa đến thân chúng hóa thành lửa. Ðó gọi là quả báo nghiệp ác. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát thật không có các quả báo nghiệp ác như vậy nhưng vì giáo hóa chúng sinh khiến cho họ được giải thoát nên phát thệ nguyện thọ thân như vậy. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Này thiện nam tử! Ta ở kiếp Hiền, sinh vào nhà giết mổ, nuôi dưỡng gà, heo, trâu, dê, làm người săn bắn, làm ngư phủ đánh cá, sinh vào nhà Chiên đà la làm giặc, trộm cướp... Bồ tát thật không làm những nghiệp ác như vậy, nhưng vì độ chúng sinh, khiến cho họ được giải thoát, dùng đại nguyện lực mà thọ thân như vậy. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Này thiện nam tử! Trong kiếp Hiền này, ta lại sinh ra ở vùng biên địa, tạo tác nhiều tham dục, sân nhuế, ngu si, quen làm việc phi pháp, chẳng tin Tam Bảo, quả báo đời sau, chẳng thể cung kính cha mẹ, người già gần gũi, kỳ cựu, trưởng túc... Này thiện nam tử! Bồ tát, lúc ấy thật không có những nghiệp này, nhưng vì khiến cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện mà sinh ra trong chỗ ấy. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Này thiện nam tử! Trong kiếp Hiền này, ta lại thọ thân nữ, thân ác, thân tham, thân sân, thân si, thân tật đố, thân keo kiệt, thân bé nhỏ (thân giả dối?), thân lừa dối, thân trói buộc... Này thiện nam tử! Bồ tát lúc ấy cũng không có những nghiệp này mà chỉ vì làm cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện để sinh ra trong những thân ấy. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Này thiện nam tử! Ở kiếp Hiền ta thọ thân Huỳnh môn không căn, hai căn và căn chẳng định. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát thật không có các nghiệp thân ác như vậy, nhưng vì khiến cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện mà sinh trong thân ấy. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Này thiện nam tử! Ở kiếp Hiền, ta lại tu tập pháp của ngoại đạo Ni Kiền Tử, tín thọ pháp ấy: không thí, không từ (cúng tế), không quả báo thí từ; không nghiệp thiện ác, không quả báo thiện ác; không đời hiện tại và đời vị lai; không đây không đó; không có Thánh nhân; không thân biến hóa, không đạo Niết Bàn... Này thiện nam tử! Bồ tát thật không có những nghiệp ác như vậy, chỉ vì khiến cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện để thọ những tà pháp này. Ðó gọi là Ðại Bồ tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này.

Này thiện nam tử! Ta nhớ thuở xưa, cùng với Ðề Bà Ðạt Ða đều làm thương chủ (chủ buôn bán), mỗi người đều có năm trăm người theo buôn bán, vì lợi ích nên đi vào trong biển, thu nhặt lấy trân bảo. Do nghiệp duyên ác nên trên đường đi gặp phải gió dữ thổi phá tan thuyền bè, bạn buôn chết hết. Lúc bấy giờ, ta cùng với Ðề Bà Ðạt Ða nhờ quả báo chẳng giết hại nên sống lâu, được gió thổi đưa đến đất liền. Ðề Bà Ðạt Ða tham tiếc của báu, sinh ra ưu khổ lớn, lên tiếng gào khóc. Ta nói rằng: “Này Ðề Bà Ðạt Ða! Chẳng nên gào khóc!”. Ðề Bà Ðạt Ða liền nói với ta rằng: “Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ví như có người nghèo cùng khốn khổ đi đến vùng nghĩa địa, tay nắm lấy thây chết mà nói lời này: Xin ngươi hôm nay cho ta niềm vui chết thì ta sẽ cho ngươi mạng sống bần cùng. Bấy giờ thây chết liền ngồi dậy nói với người nghèo rằng: Này thiện nam tử! Mạng sống bần cùng ngươi hãy tự nhận lấy đi! Ta nay rất thích niềm vui chết như vậy, thật chẳng mừng được sự nghèo của ngươi mà sống. Nhưng ta ngày hôm nay đã không niềm vui của sự chết còn lại kiêm thêm bần cùng thì làm sao mà chẳng gào khóc được vậy?”. Ta lại an ủi dỗ dành: “Ngươi hãy chớ buồn! Nay có hai viên ngọc giá trị vô số ta sẽ phân một viên cho ngươi!”. Ta liền phân cho và lại nói với ông rằng: “Người có mạng có thể được báu này. Như những người kia không mạng thì ai có thể được vậy?”. Ta mệt mỏi lắm, đi đến dưới một cây nằm ngủ nghỉ ngơi. Lòng tham của Ðề Bà Ðạt Ða hừng hực, vì viên ngọc còn lại liền sinh ác tâm, đâm mù mắt ta mà cướp đoạt viên ngọc của ta. Khi ta bị thương phát ra tiếng kêu rên rỉ. Có một người con gái đi đến chỗ ta mà hỏi ta rằng: “Ngài vì sao mà rên rỉ như vậy?”. Ta liền đem việc của mình nói cho người con gái ấy. Người con gái nghe rồi lại một lần nữa hỏi ta: “Ông tên là gì?”. Ta liền đáp rằng: “Tên là Thật Ngữ!”. Người con gái nói rằng: “Làm sao biết ông là Thật Ngữ vậy?”. Ta liền lập lời thề rằng: “Nếu ta nay đối với Ðề Bà Ðạt Ða có ác tâm thì mắt ta sẽ vĩnh viễn bị mù lòa như vậy. Như ác tâm ấy không có thì sẽ được sáng mắt trở lại”. Ta nói rồi thì mắt ấy bình phục như cũ. Này thiện nam tử! Ðó gọi là Ðại Bồ tát nói hiện thế báo (quả báo đời hiện tại). Này thiện nam tử! Ta nghĩ, thuở xưa, sinh vào nhà Bà la môn tại thành Phú Ðơn Na ở Nam Thiên Trúc. Lúc đó có vị vua tên là Ca La Phú. Tính vua ấy bạo ác, kiêu mạn, tự đại, tuổi trẻ sắc đẹp, đắm trước năm dục. Ta vào lúc ấy, vì độ chúng sinh, ở tại bên ngoài thành đó mà tịch mặc Thiền tư. Lúc bấy giờ, mùa Xuân cây cối trổ hoa, vị vua đó cùng với quyến thuộc, cung nhân, thể nữ ra khỏi thành du ngoạn. Ông ở dưới rừng cây, tự vui sướng với năm dục. Các thể nữ của ông bỏ vua đi chơi, liền đến chỗ của ta. Ta muốn vì họ đoạn tham dục nên đã vì họ nói pháp. Vị vua tìm đến liền thấy ta tức thời sinh ra ác tâm mà hỏi ta rằng: “Ông nay đã được quả A la hán rồi chăng?”. Ta nói: “Chẳng được!”. Vua lại nói: “Tu được quả Bất Hoàn rồi chăng?”. Ta nói: “Chẳng được!”. Vua lại nói lời này: “Ông nay nếu chưa được hai quả này tức là đầy đủ tham dục phiền não thì sao tự buông thả quan sát những người con gái của ta?”. Ta liền đáp rằng: “Thưa đại vương! Ngài phải biết rằng, ta nay tuy chưa đoạn tham dục kết nhưng nội tâm của ta thật không tham trước!” Vị vua nói rằng: “Này si nhân! Trên đời có các tiên nhân uống hơi, ăn trái cây mà thấy sắc còn tham, huống là ông tuổi trẻ, chưa đoạn dứt tham dục thì làm sao thấy sắc mà sẽ chẳng đắm trước?”. Ta nói: “Thưa đại vương! Thấy sắc chẳng đắm trước thật ra chẳng nhân vào việc uống hơi, ăn trái cây mà đều do hệ thuộc tâm vô thường, bất tịnh”. Vị vua nói: “Nếu có khinh người khác mà sinh ra bài báng thì làm sao được gọi là tu trì tịnh giới?”. Ta nói: “Thưa đại vương! Nếu có lòng ganh ghét thì có bài báng. Ta không lòng ganh ghét thì làm sao nói rằng bài báng?”. Vị vua nói rằng: “Thưa Ðại đức! Sao gọi là giới?”. “Thưa đại vương! Nhẫn gọi là giới!”. Vua nói: “Nếu nhẫn là giới thì phải cắt tai của ông. Nếu ông có thể nhẫn thì biết là ông trì giới”. Vua liền cắt tai của ta. Ta bị cắt tai mà nhan sắc chẳng biến đổi. Quần thần của vua thấy việc này rồi, liền can vua rằng: “Vị đại sĩ như vậy chẳng nên gia hại!”. Vị vua bảo các bề tôi rằng: “Các khanh làm sao biết là Ðại sĩ?”. Các bề tôi đáp rằng: “Thấy người này khi thọ khổ mà sắc mặt chẳng biến đổi!”. Vị vua lại nói rằng: “Ta sẽ lại thử thách để biết có biến đổi hay chẳng biến đổi”. Vua liền cho cắt mũi ta, chặt tay chân ta. Bấy giờ Bồ tát đã ở trong vô lượng vô biên đời, tu tập từ bi thương xót chúng sinh khổ. Khi đó bốn vua trời lòng ôm sân giận, mưa xuống cát, sỏi, đá. Vị vua thấy thế rồi, lòng rất kinh sợ, lại đến chỗ của ta quì dài mà nói rằng: “Nguyện xin ngài thương xót cho phép tôi sám hối”. Ta nói rằng: “Thưa đại vương! Lòng ta không sân cũng như không tham!”. Vị vua nói: “Thưa đại đức! Làm sao được biết lòng ngài không sân hận?”. Ta liền lập thệ rằng: “Ta nếu chân thật không sân hận thì khiến cho thân này của ta bình phục như cũ!”. Phát nguyện xong, thân ta liền bình phục. Ðó gọi là Ðại Bồ tát nói hiện thế báo.

Này thiện nam tử! Sinh báo, hậu báo của nghiệp thiện và bất thiện nghiệp cũng lại như vậy. Khi Ðại Bồ tát được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì tất cả các nghiệp đều được hiện báo. Nghiệp ác bất thiện được hiện báo thì như vị vua làm ác bị trời tuông mưa dữ; cũng như có người chỉ cho thợ săn chỗ của gấu và nai sắc báu thì tay hắn bị rơi rụng. Ðó gọi là quả báo hiện thọ của nghiệp ác. Sinh báo thì như nhất xiển đề phạm bốn trọng cấm và ngũ nghịch tội. Hậu báo thì như người trì giới phát thệ nguyện sâu sắc rằng: Nguyện đời vị lai luôn được thân tịnh giới như vậy. Nếu có chúng sinh lúc thọ trăm năm, lúc thọ tám mươi năm thì nguyện ở trong họ làm Chuyển Luân Thánh Vương để giáo hóa chúng sinh.

Này thiện nam tử! Nếu nghiệp định được quả báo hiện thế thì chẳng thể được sinh báo và hậu báo. Ðại Bồ tát tu nghiệp của ba mươi hai tướng Ðại nhân thì chẳng thể được hiện thế báo. Nếu nghiệp chẳng được ba thứ báo thì đó gọi là bất định. Này thiện nam tử! Nếu nói các nghiệp định được báo thì chẳng được có tu tập Phạm hạnh, Giải thoát, Niết Bàn. Ông phải biết người này chẳng phải đệ tử của ta, chính là quyến thuộc của ma. Nếu nói các nghiệp có định và bất định. Ðịnh thì hiện báo, sinh báo, hậu báo. Bất định thì duyên hòa hợp thì thọ, chẳng hòa hợp thì chẳng thọ. Do nghĩa này nên có Phạm hạnh, Giải thoát, Niết Bàn. Ông phải biết người này là đệ tử chân chính của ta, chẳng phải quyến thuộc của ma. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh, bất định nghiệp thì nhiều, quyết định nghiệp thì ít. Do nghĩa này nên có sự tu tập đạo. Có tu tập đạo nên nghiệp nặng quyết định có thể khiến cho nhẹ thọ báo, bất định nghiệp chẳng phải sinh thọ quả báo.

Này thiện nam tử! Có hai thứ người: “Một là bất định tạo tác định báo, hiện báo tạo tác sinh báo, khinh báo tạo tác trọng báo đáng nên thọ trong loài người thì thọ tại địa ngục. Hai là định tạo tác bất định nên sinh thọ thì trở lại là hiện thọ, trọng báo tạo tác khinh báo đáng nên thọ báo tại địa ngục thì thọ báo nhẹ trong loài người. Hai người như vậy, một là ngu, hai là trí. Người trí thì làm cho nhẹ báo đi, người ngu thì khiến cho báo nặng thêm. Này thiện nam tử! Ví như hai người có tội đối với vua. Người quyến thuộc nhiều thì tội ấy nhẹ, kẻ quyến thuộc ít thì tội đáng nhẹ lại thành nặng. Kẻ ngu, người trí cũng lại như vậy. Người trí nghiệp thiện nhiều nên nghiệp nặng thì thọ báo nhẹ. Kẻ ngu nghiệp thiện ít nên nghiệp nhẹ thì thọ báo nặng. Này thiện nam tử! Ví như hai người, một người thì mập mạnh, một người thì gầy yếu. Họ đều chìm vào bùn sâu thì người mập mạnh có thể ra khỏi còn người gầy yếu thì chìm mất. Này thiện nam tử! Ví như hai người đều uống phải độc mà một người có chú lực và A dà đà, một người thì không có. Người có chú và thuốc thì độc chẳng thể làm thương tổn. Người không có chú và thuốc thì khi uống liền chết. Này thiện nam tử! Ví như hai người đều uống nhiều nước mà một người hỏa thế thịnh, một người yếu ớt. Người hỏa thế nhiều thì có thể tiêu hóa, người hỏa thế yếu thì bị bịnh hoạn. Này thiện nam tử! Ví như hai người bị sự trói buộc của vua mà một người có trí tuệ, một người thì ngu si. Người có trí thì có thể được giải thoát, người ngu si thì không hạn kỳ thoát khỏi. Này thiện nam tử! Ví như hai người đều lặn lội trên con đường hiểm trở mà một người thì sáng mắt còn một người thì mù lòa. Người có mắt đi thẳng qua không có hoạn nạn, còn người mù lòa thì rơi rớt xuống hầm sâu nguy hiểm. Này thiện nam tử! Ví như hai người đều cùng uống rượu mà một người uống được nhiều rượu còn một người thì uống ít rượu. Người uống được nhiều thì uống không hoạn nạn gì, còn kẻ uống được ít thì thành hoạn nạn. Này thiện nam tử! Ví như hai người ra trận đánh địch mà một người thì trang bị đầy đủ áp giáp, binh khí còn một người thì thân trần (không trang bị). Người có binh khí thì có thể phá tan oán địch, còn người thân trần thì chẳng thể tự tránh khỏi họa. Lại có hai người quần áo dơ bẩn mà một người biết liền giặt, một người biết chẳng giặt. Người giặt thì quần áo sạch sẽ, còn người chẳng giặt thì cấu bẩn mỗi ngày một thêm. Lại có hai người đều cùng đi bằng xe mà một người xe có trục có nan hoa còn một người thì xe không trục không nan hoa. Người xe có trục có nan hoa thì theo ý mà đi, còn người xe không trục không nan hoa thì chẳng dời khỏi chỗ. Lại có hai người đều đi trên con đường trống vắng mà một người có lương thực còn một người thì đi không. Người có lương thực thì qua được hiểm nghèo còn người đi không thì chẳng thể qua khỏi. Lại có hai người bị giặc cướp mà một người có bảo tàng còn một người thì không bảo tàng. Người có bảo tàng lòng không lo buồn còn người không bảo tàng thì lòng sầu não. Kẻ ngu, người trí cũng lại như vậy, người có bảo tàng thiện thì nghiệp nặng được thọ báo nhẹ, người không bảo tàng thiện thì nghiệp nhẹ phải thọ quả báo nặng.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, chẳng phải tất cả nghiệp đều được định quả, cũng chẳng tất cả chúng sinh quyết định thọ báo. Thưa đức Thế Tôn! Làm sao chúng sinh khiến cho khinh báo hiện tại mà phải thọ nặng ở địa ngục? Trọng báo ở địa ngục mà được thọ nhẹ ở đời hiện tại?

Ðức Phật dạy rằng:

- Tất cả chúng sinh thường có hai thứ, một là có trí, hai là ngu si. Nếu người có thể tu tập thân giới, tâm tuệ thì đó gọi là người trí. Nếu kẻ chẳng thể tu tập thân giới tâm tuệ thì đó gọi là kẻ ngu si. Sao gọi là chẳng tu thân? Nếu chẳng thể nhiếp lấy năm tình, các căn thì gọi là chẳng tu thân; chẳng thể thọ trì bảy thứ tịnh giới thì gọi là chẳng tu giới; chẳng điều phục tâm thì gọi là chẳng tu tâm; chẳng tu Thánh hạnh thì gọi là chẳng tu tuệ. Lại nữa, chẳng tu thân là chẳng thể đầy đủ giới thể thanh tịnh. Chẳng tu giới là thọ chứa tám thứ vật bất tịnh. Chẳng tu tâm là chẳng thể tu tập ba thứ tướng. Chẳng tu tuệ là chẳng tu phạm hạnh. Lại nữa, chẳng tu thân là chẳng thể quan sát thân, chẳng thể quan sát sắc và quan sát sắc tướng, chẳng quan sát thân tướng, chẳng biết thân số, chẳng biết thân này từ đây đến đó, ở trong phi thân mà sinh ra thân tướng, ở trong phi sắc mà tác khởi sắc tướng. Vậy nên tham trước ngã thân, thân số thì gọi là chẳng tu thân. Chẳng tu giới là nếu thọ giới hạ tiện thì chẳng gọi là tu giới. Thọ trì biên giới (giới cấm ven bờ) là giới tự lợi, là giới tự điều, chẳng thể khắp vì chúng sinh an lạc, chẳng phải là hộ trì chánh pháp Vô Thượng. Nếu vì sinh lên trời thọ niềm vui ngũ dục thì chẳng gọi là tu giới. Chẳng tu tâm là nếu tâm tán loạn chẳng thể chuyên nhất giữ cảnh giới của mình. Cảnh giới của mình là bốn niệm xứ. Cảnh giới người khác như là năm dục. Nếu chẳng thể tu bốn niệm xứ thì gọi là chẳng tu tâm. Ở trong nghiệp ác mà chẳng khéo hộ trì tâm thì gọi là chẳng tu tuệ. Lại nữa, chẳng tu thân là chẳng thể quan sát sâu sắc thân này vô thường, vô trụ, dễ tan vỡ, từng niệm từng niệm diệt hoại, chính là cảnh giới của ma. Chẳng tu giới là chẳng thể đầy đủ Thi Ba la mật. Chẳng tu tâm là chẳng thể đầy đủ Thiền Ba la mật. Chẳng tu tuệ là chẳng thể đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Lại nữa, chẳng tu thân thì tham trước ngã thân và thân ngã sở, ngã thân là thường hằng không có biến dịch. Chẳng tu giới thì vì thân mình nên làm mười nghiệp ác. Chẳng tu tâm thì ở trong nghiệp ác chẳng thể nhiếp lấy tâm. Chẳng tu tuệ thì do chẳng nhiếp lấy tâm nên chẳng thể phân biệt pháp thiện, ác, v.v... Lại nữa, chẳng tu thân thì chẳng cắt đứt ngã kiến. Chẳng tu giới thì chẳng cắt đứt giới thủ (chọn lấy giới). Chẳng tu tâm thì tác khởi nghiệp tham, sân, hướng đến địa ngục. Chẳng tu tuệ thì chẳng cắt đứt si tâm. Lại nữa, chẳng tu thân thì chẳng thể quan sát thân tuy không tội lỗi mà luôn chính là oán. Này thiện nam tử! Ví như người con trai có kẻ oán luôn theo dò tìm sơ hở. Người trí hay biết đã hết lòng thận trọng hộ trì, nếu chẳng thận trọng hộ trì thì bị hại. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, thường do ăn uống, lạnh nóng nuôi dưỡng. Nếu chẳng nuôi dưỡng, giữ gìn thận trọng như vậy thì liền phải tan hoại. Này thiện nam tử! Như Bà la môn phụng sự trời Lửa, thường dùng hương hoa khen ngợi, lễ bái, cúng dường, thừa sự... hạn tròn trăm năm. Nhưng nếu một khi chạm vào lửa thì liền cháy tay người. Lửa này tuy được cúng dường như vậy nhưng nhất định không một ý niệm đền ơn người phụng sự. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, tuy trong nhiều năm, dùng hương hoa tốt, chuỗi ngọc, quần áo, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh... mà cung cấp cho thân. Nhưng nếu nó gặp phải những nhân duyên ác ở trong hay ở ngoài thì tức thời diệt hoại, chẳng nhớ nghĩ đến cái ơn cung cấp y thực... của ngày trước. Này thiện nam tử! Ví như có vị vua nuôi bốn con rắn độc, nhốt chúng vào một cái hòm nhỏ, đem giao cho một người lệnh cho trông nom nuôi dưỡng. Trong bốn con rắn này, giả sử một con sinh ra sân hận thì có thể hại người. Người này kinh sợ thường cầu ẩm thực tùy lúc giữ hộ. Rắn độc bốn đại của tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, nếu một đại nổi sân thì có thể hoại thân. Này thiện nam tử! Như người bệnh lâu cần phải chí tâm cầu thuốc trị liệu. Nếu họ chẳng siêng cầu cứu thì nhất định phải chết chẳng nghi ngờ gì. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, phải thường nhiếp lấy tâm chẳng để cho nó buông lung. Nếu buông lung thì liền bị hoại diệt. Này thiện nam tử! Ví như cái bình đất chẳng chịu đựng được gió, mưa, đánh, đập, xô đẩy, đè nén. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, chẳng chịu đựng được đói khát, lạnh, nóng, gió, mưa, đánh đập, trói buộc, mắng chữi... Này thiện nam tử! Ví như mụt nhọt chưa muồi thì luôn phải khéo giữ gìn, chẳng cho người đụng vào. Giả sử có người đụng vào thì rất đau khổ. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam tử! Như con la mang thai là tự hại thân của nó. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, bên trong có gió lạnh thì thân liền chịu khổ. Này thiện nam tử! Ví như cây chuối sinh ra quả thì khô. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam tử! Cũng như cây chuối, bên trong không có quả cứng, thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam tử! Như rắn, chuột, chó sói mỗi mỗi đối với nhau luôn sinh ra lòng oán. Bốn đại của chúng sinh cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như con ngỗng chúa chẳng ưa chỗ mồ mã. Bồ tát cũng vậy, đối với thân mồ mã cũng chẳng tham lạc. Này thiện nam tử! Như Chiên đà la bảy đời nối tiếp nhau chẳng bỏ nghiệp ấy. Vậy nên họ bị người đời khinh rẻ. Chủng tử của thân này cũng lại như vậy, chủng tử tinh huyết rốt ráo bất tịnh. Do bất tịnh nên các đức Phật Bồ tát quở trách. Này thiện nam tử! Thân này chẳng như núi Ma la gia sinh ra chiên đàn, cũng chẳng thể sinh ra hoa Ưu bát la, hoa Phân đà lợi, hoa Chiêm bà, hoa Ma lợi ca, hoa Bà sư ca mà nó chảy ra mũ máu bất tịnh, chỗ sinh sống dơ bẩn, xấu xí đáng ghét, thường cùng với loài trùng ở chung một chỗ. Này thiện nam tử! Ví như thế gian tuy có vườn rừng thanh tịnh thượng diệu nhưng có thây chết trong đó thì tức là bất tịnh thì mọi người đều xả bỏ, chẳng sinh lòng ái trước. Sắc giới cũng vậy, tuy lại tịnh diệu nhưng do có thân nên các đức Phật, Bồ tát đều cùng xả bỏ. Này thiện nam tử! Nếu có người chẳng thể tác khởi sự quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu thân. Này thiện nam tử! Chẳng tu giới là nếu chẳng thể quan sát giới chính là thềm bậc của tất cả thiện pháp, cũng chính là căn bản của tất cả thiện pháp. Như đất chính là chỗ sinh ra của tất cả cây cối, chính các thiện căn là dẫn đầu thiện pháp vậy. Như vị thương chủ kia dẫn đường các thương nhân, giới chính là Thắng tràng của tất cả thiện pháp. Như việc lập Thắng tràng của Thiên đế thích, giới có thể đoạn dứt vĩnh viễn tất cả nghiệp ác và ba đường ác, có thể trị liệu ác bệnh giống như cây thuốc. Giới chính là lương thực (tư lương) để đi trên đường nguy hiểm sinh tử. Giới chính là áo giáp, binh khí tiêu diệt giặc kiết sử ái. Giới chính là thần chú hay diệt rắn độc kiết sử. Giới chính là cây cầu để qua khỏi hành động nghiệp ác. Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu tịnh giới. Chẳng tu tâm là chẳng thể quan sát tâm khinh tháo chuyển động, khó nắm bắt, khó điều phục, dong ruổi chạy rong như con voi hung dữ. Từng niệm từng niệm qua nhanh như ánh chớp, xao động nhiễu loạn chẳng trụ giống như con vượn. Như huyễn hóa, như lửa nóng mới chính là căn bản của các ác. Năm dục khó thỏa mãn như lửa được củi khô, cũng như biển cả nuốt lấy các dòng sông, như núi Mạn đà cỏ cây rậm rạp chẳng thể quan sát sinh tử hư vọng, đắm chìm mê hoặc dẫn đến hoạn nạn như cá cắn câu, thường đi trước dẫn đường các nghiệp đi theo giống như mẹ sò dẫn đường các con, tham trước năm dục chẳng ưa Niết Bàn, như lạc đà ăn mật cho đến chết chẳng đoái hoài đến cỏ sô, đắm sâu vui hiện tại chẳng quan sát lỗi ngày sau như trâu ăn lúa chẳng sợ gậy gộc, dong ruổi cùng khắp hai mươi lăm cõi hữu giống như gió mạnh thổi vào chỗ Ðâu la nhỉ, điều chẳng nên cầu mà cầu không chán đủ như người không biết cầu lửa không nóng, thường ưa sinh tử chẳng thích giải thoát như con sâu Nhiệm bà ưa cây nhiệm bà, mê hoặc ái trước sinh tử hôi thối giống như người tù trong ngục thích con gái của ngục tốt, cũng như heo trong chuồng ưa sống bất tịnh. Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu tâm. Chẳng tu tuệ là chẳng quan sát trí tuệ có thế lực lớn như con chim cánh vàng, có thể hủy hoại nghiệp ác, hủy hoại bóng tối vô minh giống như ánh sáng mặt trời, có thể đánh bạt thọ ấm như nước cuốn trôi vật, đốt cháy tà kiến giống như lửa mạnh. Tuệ chính là căn bản của tất cả thiện pháp, là chủng tử mẹ của Phật, Bồ tát. Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu tuệ. Này thiện nam tử! Trong đệ nhất nghĩa, nếu thấy thân, tướng của thân, nhân của thân, quả của thân, tụ của thân, một thân, hai thân, thân này, thân kia, diệt thân, đẳng thân, tu thân, người tu. Nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu thân. Này thiện nam tử! Nếu thấy giới, giới tướng, giới nhân, giới quả, thượng giới, hạ giới, giới tụ, giới nhất, giới nhị, thử giới, bỉ giới, giới diệt, giới đẳng, giới tu và người tu giới Ba la mật... Nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu giới. Nếu thấy tâm, tâm tướng, tâm nhân, tâm quả, tâm tụ, tâm cập, tâm số, tâm nhất, tâm nhị, thử tâm, bỉ tâm, tâm diệt, tâm đẳng, tâm tu, người tu, tâm thượng trung hạ, tâm thiện, tâm ác... Nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu tâm. Này thiện nam tử! Nếu thấy tuệ, tuệ tướng, tuệ nhân, tuệ quả, tuệ tụ, tuệ nhất, tuệ nhị, thử tuệ, bỉ tuệ, tuệ diệt, tuệ đẳng, tuệ thượng trung hạ, độn tuệ, lợi tuệ, tuệ tu, người tu... Nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu tuệ. Này thiện nam tử! Nếu có người chẳng tu thân, giới, tâm, tuệ thì người như vậy đối với nghiệp ác nhỏ được quả báo ác lớn. Do kinh sợ nên họ thường sinh ra ý niệm này: Ta thuộc địa ngục nên tạo tác hạnh địa ngục. Tuy nghe người Trí nói về khổ của địa ngục nhưng thường tác khởi ý niệm này: Như sắt đánh vào sắt, đá lại đánh vào đá, cây tự đánh vào cây, con trùng lửa ưa lửa, thân địa ngục trở lại tương tợ địa ngục có việc gì là khổ? Ví như con nhặng xanh bị nước dãi nhổ ra dán dính thì chẳng thể ra được. Người này cũng vậy ở trong tội nhỏ chẳng thể tự ra, lòng ban đầu không ăn năn, chẳng thể tu thiện, che giấu tỳ vết (lỗi lầm). Tuy họ có tất cả thiện nghiệp trong quá khứ nhưng đều bị sự cấu bẩn của tội đó. Khinh báo hiện thọ sẵn có của người này chuyển thành quả ác cực nặng ở địa ngục. Này thiện nam tử! Như nước chứa trong đồ đựng nhỏ mà cho vào một thăng (dụng cụ đo lường) muối thì vì nước ấy mặn đắng, khó có thể uống được. Tội nghiệp người này cũng như vậy. Này thiện nam tử! Ví như có người thua người khác một tiền mà chẳng thể đền trả nên thân bị trói buộc chịu nhiều khổ sở. Tội nghiệp của người này cũng lại như vậy.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Người này vì sao khiến cho khinh báo hiện tại chuyển đến địa ngục thọ?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh nếu đủ năm việc thì khiến cho khinh báo hiện tại chuyển đến địa ngục thọ. Những gì là năm? Một là ngu si, hai là thiện căn nhỏ ít, ba là nghiệp ác sâu nặng, bốn là chẳng sám hối, năm là chẳng tu nghiệp thiện căn bản. Lại có năm việc: Một là tu tập nghiệp ác, hai là không của cải giới, ba là xa lìa các thiện căn, bốn là chẳng tu thân, giới, tâm, tuệ, năm là gần gũi ác tri thức. Này thiện nam tử! Vậy nên có thể khiến cho khinh báo hiện tại chuyển đến thọ nặng ở địa ngục.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những người nào có thể chuyển được địa ngục báo thành thọ quả nhẹ ở đời hiện tại?

- Này thiện nam tử! Nếu có người tu tập thân, giới, tâm tuệ thì như trước đã nói, có thể quan sát các pháp đồng như hư không, chẳng thấy trí tuệ, chẳng thấy người trí, chẳng thấy ngu si, chẳng thấy người ngu, chẳng thấy tu tập và người tu tập. Ðó gọi là người trí. Người như vậy thì có thể tu tập thân, giới, tâm, tuệ. Người này có thể khiến cho quả báo địa ngục được thọ nhẹ ở đời hiện tại. Người này giả sử tạo tác nghiệp ác rất nặng mà tư duy quan sát có thể khiến cho nhẹ và nhỏ. Họ nghĩ rằng: Nghiệp của ta tuy nặng nhưng chẳng bằng nghiệp thiện. Ví như hoa chồng chất tuy đến hàng trăm cân nhưng nhất định chẳng thể địch nỗi một lượng vàng ròng, như ném một thăng muối vào sông Hằng thì nước vẫn không vị mặn, người uống chẳng hay biết, như kẻ giàu to tuy thua nhiều người đến hàng ngàn vạn vật báu, nhưng không thể trói buộc khiến cho ông ấy thọ khổ, như con Ðại Hương Tượng (con voi thơm) có hể phá hoại khóa sắt, tự tại mà đi. Người trí tuệ cũng lại như vậy, thường tư duy rằng: Thiện lực của ta nhiều, ác nghiệp yếu kém. Ta có thể phát lồ sám hối diệt trừ ác, có thể tu trí tuệ. Lực trí tuệ nhiều, lực vô minh ít. Nghĩ như vậy rồi, họ gần gũi bạn lành, tu tập chính kiến, thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ Kinh. Thấy có người thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói thì lòng họ sinh cung kính, thêm đem y thực, phòng xá, ngọa cụ, thuốc chữa bệnh, hương hoa để cúng dường, khen ngợi, tôn trọng người đó. Ði đến chỗ người hành trì đó, người trí xưng nói cái thiện, chẳng nói sở đoản. Người có trí cúng dường Tam Bảo, kính tín Kinh Phương Ðẳng Ðại Niết Bàn, tin Như Lai thường hằng, không có biến dịch, tin tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Người này có thể khiến cho quả báo nặng ở địa ngục trở thành thọ nhẹ ở đời hiện tại. Này thiện nam tử! Do nghĩa này nên chẳng phải tất cả nghiệp đều có định quả, cũng chẳng phải tất cả chúng sinh định thọ.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ hai mươi chín hết –


30/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi

PHẨM BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG THỨ Thứ Hai Mươi Ba (tiếp theo)

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả nghiệp chẳng định được quả, tất cả chúng sinh đều có Phật tính mà cần phải tu tập tám Thánh đạo thì vì nhân duyên gì tất cả chúng sinh đều chẳng thể được Ðại Bát Niết Bàn này? Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sinh có Phật tính thì tức là sẽ quyết định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cần gì tu tập tám Thánh đạo vậy? Thưa đức Thế Tôn! Như trong Kinh này nói, người có bệnh nếu được thuốc men và người xem bệnh theo bệnh cho uống thuốc, hoặc giả sử chẳng được như thế cũng đều trừ khỏi. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, hoặc gặp Thanh Văn, Bích Chi Phật, các đức Phật, Bồ tát và các thiện tri thức mà nghe nói pháp tu tập Thánh đạo, hoặc chẳng gặp, chẳng nghe, chẳng tu tập Thánh đạo đều sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao vậy? Vì do Phật tính vậy. Thưa đức Thế Tôn! Ví như vậy mặt trời, mặt trăng không gì có thể ngăn khiến cho chẳng được đến ven sườn núi Át Ða, nước bốn dòng sông lớn chẳng đến biển cả, nhất xiển đề, v.v... chẳng đến địa ngục. Tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, không gì có thể ngăn khiến cho chẳng được đến Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vì sao vậy? Vì do Phật tính vậy. Thưa đức Thế Tôn! Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh chẳng cần tu Thánh đạo. Dọ lực Phật tính nên ứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác chứ chẳng do sức tu tập Thánh đạo vậy. Thưa đức Thế Tôn! Nếu nhất xiển đề phạm bốn trọng cấm, tội ngũ nghịch, v.v... chẳng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì cần phải tu tập. Do nhân Phật tính quyết định sẽ được, chẳng phải nhân tu tập, nhiên hậu mới được vậy. Thưa đức Thế Tôn! Ví như Từ thạch (đá có từ tính) khử sắt. Tuy ở xa nhưng do lực của đá ấy nên sắt bị cuốn hút theo. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy. Vậy nên chẳng cần siêng tu tập Thánh đạo.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Như bên bờ sông Hằng có bảy thứ người, hoặc vì tắm gội, sợ sệt khấu tặc, hoặc vì hái hoa nên vào trong dòng sông ấy. Người thứ nhất vào nước thì chìm mất. Vì sao vậy? Vì yếu đuối không thế lực, chẳng tập bơi nổi. Người thứ hai tuy chìm nhưng ra trở lại, ra rồi lại chìm mất. Vì sao vậy? Vì thân lực lớn nên có thể trở lại nhưng chẳng tập bơi nổi nên ra rồi chìm trở lại. Người thứ ba chìm rồi liền ra, ra lại chẳng chìm mất. Vì sao vậy? Vì thân nặng nên chìm mà lực lớn nên ra và trước có tập bơi nổi nên rồi liền trụ. Người thứ tư thì vào rồi liền chìm, chìm rồi trở lại ra, ra rồi liền trụ và quan sát khắp bốn phương. Vì sao vậy? Vì nặng nên chìm, lực lớn nên ra trở lại, tập bơi nổi nên trụ, chẳng biết chỗ ra nên quan sát bốn phương. Người thứ năm thì vào rồi liền chìm, chìm rồi liền ra trở lại, ra rồi liền trụ, trụ rồi quan sát bốn phương, quan sát rồi liền đi. Vì sao vậy? Vì kinh sợ vậy. Người thứ sáu thì vào rồi liền đi đến chỗ cạn mà trụ. Vì sao vậy? Vì xem thấy giặc gần hay xa. Người thứ bảy thì đã đi đến bờ kia, leo lên ngọn núi lớn, không kinh sợ nữa, lìa khỏi các giặc dữ, hưởng thọ khoái lạc lớn. Này thiện nam tử! Dòng sông lớn sinh tử cũng lại như vậy, có bảy thứ người sợ giặc phiền não nên phát khởi ý muốn qua khỏi dòng sông lớn sinh tử, xuất gia, cạo tóc, thân mặc pháp phục. Ðã xuất gia rồi mà họ còn gần gũi bạn ác, thuận theo lời dạy của chúng, thính thọ tà pháp như cho là thân chúng sinh tức là năm ấm, năm ấm thì gọi là năm đại. Chúng sinh nếu chết là đoạn dứt vĩnh viễn năm đại. Ðã đoạn dứt năm đại rồi thì vì sao cần tu tập các nghiệp thiện, ác? Vậy nên phải biết không có thiện ác và quả báo thiện ác. Như vậy thì gọi là nhất xiển đề. Nhất xiển đề thì gọi là đoạn thiện căn mà đoạn thiện căn nên chìm vào dòng sông sinh tử, chẳng thể được ra. Vì sao vậy? Vì nghiệp ác nặng, không có tín lực giống như người thứ nhất bên bờ sông Hằng vậy. Này thiện nam tử! Bọn nhất xiển đề có sáu nhân duyên chìm vào ba đường ác, chẳng thể được ra. Những gì là sáu? Một là lòng ác hừng hực, hai là chẳng thấy đời sau, ba là ưa quen phiền não, bốn là xa lìa thiện căn, năm là nghiệp ác ngăn cách, sáu là gần gũi ác tri thức.

Lại có năm việc chìm vào ba đường ác. Những gì là năm? Một là ở bên Tỳ kheo làm việc phi pháp. Hai là ở bên Tỳ kheo ni làm việc phi pháp. Ba là tự tại sử dụng vật của Tăng. Bốn là ở bên mẹ làm việc phi pháp. Năm là đối với năm bộ Tăng đắp đổi phát sinh thị phi (phải trái).

Lại có năm việc chìm vào ba đường ác. Những gì là năm? Một là thường nói không quả báo thiện ác. Hai là giết hại chúng sinh phát tâm Bồ Ðề. Ba là ưa nói lỗi lầm của pháp sư. Bốn là pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp. Năm là vì tìm cầu lỗi của pháp mà thính thọ.

Lại có ba việc chìm vào ba đường ác. Những gì là ba? Một là gọi Như Lai vô thường, diệt vĩnh viễn. Hai là chánh pháp vô thường biến đổi. Ba là Tăng bảo có thể hoại diệt. Vậy nên họ thường chìm trong ba đường ác. Người thứ hai phát ý muốn qua khỏi dòng sông lớn sinh tử mà đoạn thiện căn nên chìm mất chẳng thể ra. Sở dĩ nói rằng ra là nói gần gũi bạn lành thì được tín tâm. Người tín tâm là người tin bố thí và quả báo của bố thí, tin thiện và quả báo của thiện, tin ác và quả báo của ác, tin sinh tử, khổ, vô thường, bại hoại. Ðó gọi là tin. Ðã được tín tâm, tu tập tịnh giới, thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói, thường làm bố thí, khéo tu trí tuệ nhưng do độn căn nên lại gặp bạn ác, chẳng thể tu tập thân, giới, tâm, tuệ, thính thọ tà pháp, hoặc gặp lúc ác, ở đất nước ác, đoạn dứt các căn lành mà đoạn căn lành nên thường chìm vào sinh tử như người thứ hai bên bờ sông Hằng. Người thứ ba phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử mà đoạn căn lành nên chìm đắm ở trong đó. Gần gũi bạn lành thì được gọi là ra. Tin Như Lai chính là Nhất Thiết Trí thường hằng không biến đổi, vì chúng sinh nên nói đạo Vô thượng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, Như Lai chẳng phải diệt, Pháp, Tăng cũng vậy, không có diệt hoại, nhất xiển đề chẳng đoạn pháp ấy nhất định chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cần phải xa lìa thì nhiên hậu mới được. Do tín tâm nên tu tập tịnh giới, tu tịnh giới rồi thì thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ kinh, vì các chúng sinh tuyên dương lưu bố rộng rãi, ưa thích bố thí, tu tập trí tuệ. Do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thối chuyển như người thứ ba bên bờ sông Hằng. Người thứ tư là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử mà đoạn thiện căn nên chìm đắm ở trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm thì đó gọi là xuất (ra). Ðược tín tâm nên thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ kinh, vì chúng sinh nên tuyên dương lưu bố rộng rãi, ưa làm bố thí, tu tập trí tuệ. Do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển người này quan sát khắp bốn phương, bốn phương là bốn quả Sa môn, như người thứ tư bên bờ sông Hằng. Người thứ năm là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử mà đoạn dứt thiện căn nên chìm đắm ở trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm, đó gọi là ra. Do tín tâm nên thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ Kinh, vì chúng sinh nên tuyên dương lưu bố rộng rãi. Người này ưa làm bố thí, tu tập trí tuệ, do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển. Không thoái chuyển rồi thì người này liền tiến tới trước. Người tiến tới trước gọi là Bích Chi Phật. Bích Chi Phật tuy có thể tự độ nhưng chẳng độ cả chúng sinh. Vậy nên gọi là đi (khứ) như người thứ năm bên bờ sông Hằng. Người thứ sáu là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử mà đoạn dứt thiện căn nên chìm đắm ở trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm. Ðược tín tâm nên gọi là ra. Do tín tâm nên người đó thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ Kinh, vì chúng sinh nên tuyên dương lưu bố rộng rãi. Người đó ưa làm bố thí, tu tập trí tuệ và do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển. Không thoái chuyển rồi thì liền lại tiến tới trước đến chỗ cạn, đến chỗ cạn rồi liền trụ lại chẳng đi. Người trụ lại chẳng đi gọi là Bồ tát. Bồ tát vì muốn độ thoát các chúng sinh nên trụ lại quan sát phiền não như người thứ sáu bên bờ sông Hằng. Người thứ bảy là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử mà đoạn dứt thiện căn nên chìm đắm trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm. Ðược tín tâm rồi thì đó gọi là ra. Do có tín tâm nên người đó thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói mười hai bộ Kinh và vì chúng sinh nên tuyên dương lưu bố rộng rãi. Người đó ưa bố thí, tu tập trí tuệ và do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển, không thoái chuyển rồi liền tiến tới trước, đã tiến tới trước rồi thì được đến bờ kia, leo lên núi cao, lìa khỏi các sợ hãi, thọ nhiều an vui. Này thiện nam tử! Núi bờ kia là dụ cho Như Lai, thọ an lạc là dụ cho Phật thường trụ, núi cao lớn là dụ cho Ðại Niết Bàn. Này thiện nam tử! Những người như vậy ở bên bờ sông Hằng này đều đủ tay chân mà chẳng thể vượt qua, tất cả chúng sinh cũng lại như vậy, thật có Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Như Lai thường nói yếu nghĩa các pháp, có tám Thánh đạo, Ðại Bát Niết Bàn mà chúng sinh đều chẳng thể được. Ðây chẳng phải lỗi của ta, cũng chẳng phải lỗi của Thánh đạo và chúng sinh mà phải biết đều chính là tội ác của phiền não. Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh chẳng được Niết Bàn. Này thiện nam tử! Ví như vị lương y biết bệnh cho thuốc, còn người bệnh chẳng uống thì chẳng phải lỗi của thầy thuốc. Này thiện nam tử! Như có vị thí chủ đem sở hữu của mình thí cho tất cả mọi người mà có người chẳng nhận thì chẳng phải lỗi của thí chủ. Này thiện nam tử! Ví như mặt trời mọc mọi u tối đều sáng mà người mù lòa chẳng thấy đường đi thì chẳng phải lỗi của mặt trời. Này thiện nam tử! Như nước sông Hằng có thể trừ được khát thiếu mà người khát chẳng uống thì chẳng phải lỗi của nước. Này thiện nam tử! Ví như đại địa khắp sinh ra quả trái bình đẳng không hai nhưng nông dân chẳng gieo trồng thì chẳng phải lỗi của đất. Này thiện nam tử! Như Lai khắp vì tất cả chúng sinh mở rộng, phân biệt mười hai bộ Kinh mà chúng sinh chẳng thọ nhận thì chẳng phải lỗi của Như Lai.

Này thiện nam tử! Nếu tu đạo thì liền được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Ông nói rằng, chúng sinh đều có Phật tính nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác như đá có từ tính thì hay thay! Hay thay! Do có lực nhân duyên Phật tính nên được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu nói rằng chẳng cần tu Thánh đạo thì nghĩa này chẳng đúng! Này thiện nam tử! Ví như có người khát nước gặp được giếng. Giếng ấy rất sâu, tuy chẳng thấy nước, nhưng nhất định là có. Người này phương tiện tìm kiếm, dùng dây buộc vào lọ mà múc lấy nước thì thấy có nước. Phật tính cũng vậy, tất cả chúng sinh tuy lại đều có nhưng cần phải tu tập đạo Thánh vô lậu rồi nhiên hậu mới được thấy. Này thiện nam tử! Như có hạt mè thì được thấy có dầu, nhưng nếu lìa khỏi các phương tiện thì chẳng được thấy. Cây mía cũng vậy. Này thiện nam tử! Như cõi Uất Ðơn Việt ở phương Bắc của trời Ba mươi ba. Tuy đó là hữu pháp nhưng nếu không có đạo lực thần thông thiện nghiệp thì chẳng thể thấy. Như rễ cỏ trong đất và nước dưới đất vì đất phủ lên nên chúng sinh chẳng thể thấy. Phật tính cũng vậy, vì chẳng tu Thánh đạo nên chẳng được thấy. Này thiện nam tử! Như ông đã nói, ở đời có người bệnh nếu gặp lương y xem bệnh, thuốc tốt, tùy bệnh cho ăn uống và cả nếu chẳng gặp được vậy thì cũng đều được khỏi bệnh. Này thiện nam tử! Ta vì Bồ tát lục trụ mà nói nghĩa như vậy. Này thiện nam tử! Ví như hư không đối với các chúng sinh thì chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải trong ngoài nên cũng không ngăn ngại. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như có người mà của cải ở tại địa phương khác, tuy chẳng hiện tiền nhưng được tùy ý thọ dụng. Có người hỏi xin thì người đó nói rằng: Ta hứa! Vì sao vậy? Vì nhất định có. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy, chẳng phải đây, chẳng phải đó mà do nhất định được nên nói rằng, tất cả đều có. Này thiện nam tử! Ví như chúng sinh tạo tác các nghiệp hoặc thiện, hoặc ác, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài. Như vậy tính của nghiệp chẳng phải có, chẳng phải không, cũng lại chẳng phải là vốn không mà nay có, chẳng phải không nhân sinh ra, chẳng phải đây làm đây chịu, đây làm đó chịu, đó làm đó chịu, không làm, không chịu, thời tiết hòa hợp mà được quả báo. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy, cũng lại chẳng phải chính là vốn không mà nay có, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải đây, chẳng phải đó, chẳng phải chỗ khác lại, chẳng phải không nhân duyên, cũng chẳng phải tất cả chúng sinh chẳng thấy. Có các Bồ tát mà thời tiết, nhân duyên hòa hợp thì được thấy. Thời tiết là nói các Ðại Bồ tát Thập Trụ tu tám Thánh đạo, đối với các chúng sinh được tâm bình đẳng mà bấy giờ được thấy thì chẳng gọi là tác (thọ tác). Này thiện nam tử! Ông nói rằng, như từ thạch thì nghĩa đó chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì đá chẳng hút sắt. Sở dĩ vì sao? Vì không có tâm nghiệp vậy. Này thiện nam tử! Pháp khác có nên pháp khác sinh ra, pháp khác không nên pháp khác diệt hoại, không có người làm, không có kẻ hoại. Này thiện nam tử! Giống như lửa mạnh chẳng thể đốt cỏ. Lửa xuất hiện, cỏ hoại tan thì gọi là đốt cỏ. Này thiện nam tử! Ví như cây quì tiêu (một giống chuối hướng theo mặt trời) theo mặt trời mà chuyển. Nhưng cây quì tiêu này cũng không có lòng cung kính, không thức, không nghiệp, do tính pháp khác mà tự hồi chuyển. Này thiện nam tử! Như cây ba tiêu (cây chuối) nhân tiếng sấm mà tăng trưởng. Cây này không có tai, không tâm, ý, thức nhưng do pháp khác có nên pháp khác tăng trưởng, pháp khác không nên pháp khác hoại diệt. Này thiện nam tử! Như cây A thúc ca mà con gái sờ mó vào là hoa xuất hiện. Cây này không có tâm cũng không hay biết chạm xúc nhưng do pháp khác có nên pháp khác sinh ra, pháp khác không nên pháp khác hoại diệt. Này thiện nam tử! Như cây quất (quít) được xác chết thì trái nhiều thêm mà cây quất đó không tâm, không chạm xúc, nhưng do pháp khác có nên pháp khác nhiều thêm, pháp khác không nên pháp khác hoại diệt. Này thiện nam tử! Như cây An thạch lựu nhờ phân xương nên quả trái sum suê mà cây an thạch lựu cũng không tâm, không chạm xúc nhưng do pháp khác có nên pháp khác sinh ra, pháp khác không nên pháp khác diệt hoại. Này thiện nam tử! Từ thạch (đá có từ tính) hút sắt cũng lại như vậy, do pháp khác có nên pháp khác sinh ra, pháp khác không nên pháp khác diệt hoại. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy, chẳng thể hút được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Vô minh chẳng thể hút lấy các hành, hành cũng chẳng thể hút lấy thức; cũng được gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức. Pháp giới có Phật, không Phật thường trụ.

Này thiện nam tử! Nếu nói Phật tính trụ ở trong chúng sinh thì, này thiện nam tử! Thường pháp không trụ. Nếu có chỗ trụ tức là pháp vô thường. Này thiện nam tử! Như mười hai nhân duyên không định trụ xứ. Nếu có trụ xứ thì mười hai nhân duyên chẳng được gọi là Thường. Pháp thân của Như Lai cũng không trụ xứ. Pháp giới, pháp nhập, pháp ấm, hư không đều không trụ xứ. Phật tính cũng vậy, đều không trụ xứ. Này thiện nam tử! Ví như lực của bốn đại tuy quân bình có cứng, có nóng, có ẩm ướt, có chuyển động, có nặng, có nhẹ, có đỏ, có trắng, có vàng, có đen mà bốn đại này cũng không có nghiệp nhưng do pháp giới khác nên đều chẳng tương tợ. Phật tính cũng vậy, pháp giới khác nên thời đến thì hiện ra. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh chẳng thoái Phật tính nên gọi đó là có. A tỳ bạt chí (bất thoái chuyển). Do phải có nên quyết được, quyết định sẽ thấy. Vậy nên gọi là tất cả chúng sinh đều có Phật tính.

Này thiện nam tử! Ví như có vị vua bảo một đại thần rằng: “Ông hãy dắt một con voi để cho người mù xem!”. Bấy giờ vị đại thần nhận sắc lệnh của vua rồi tập trung nhiều người mù, đem voi cho họ xem. Lúc đó mọi người mù đều dùng tay sờ. Vị đại thần liền trở lại mà bạch với vua rằng: “Thần đã bày xong!”. Bấy giờ vị đại vương liền kêu những người mù mà hỏi từng người một rằng: “Ngươi có thấy voi không vậy?”. Những người mù đều đáp rằng: “Tôi đã được thấy!” Nhà vua nói: “Voi là loại gì?”. Người sờ ngà voi liền nói rằng: “Hình voi như rễ cây Lai phục ”. Người sờ tai voi thì nói rằng: “Voi như cái sàng”. Người sờ đầu thì nói rằng: “Voi như hòn đá”. Người sờ mũi voi thì nói rằng: “Voi như cái chày!” Người sờ chân voi thì nói rằng: “Voi như cái cối bằng gỗ!”. Người sờ sống lưng voi thì nói rằng: “Voi như cái giường!”. Người sờ bụng voi thì nói rằng: “Voi như cái vò!” Người sờ đuôi voi thì nói rằng: “Voi như sợi dây!”. Này thiện nam tử! Như những người mù kia chẳng nói hình thể con voi cũng chẳng phải chẳng nói. Nếu mọi tướng này đều chẳng phải con voi thì bỏ ngoài những tướng đó lại không có con voi khác. Này thiện nam tử! Vua dụ cho Như Lai Ứng Chánh Biến Tri. Thần dụ cho Kinh Phương Ðẳng Ðại Niết Bàn. Voi dụ cho Phật tính. Người mù dụ cho tất cả chúng sinh vô minh. Những chúng sinh này nghe Phật nói rồi, hoặc nói rằng: “Sắc chính là Phật tính! Vì sao vậy? Vì sắc này tuy diệt nhưng thứ lớp nối tiếp nhau. Vậy nên thu hoạch được ba mươi tướng của Như Lai Vô Thượng, sắc của Như Lai thường. Sắc của Như Lai thường thì chẳng đoạn. Vậy nên nói sắc là Phật tính. Ví như chất vàng ròng tuy biến đổi nhưng sắc thường chẳng khác. Hoặc khi làm xuyến, làm thoa cài tóc, làm chậu tắm... nhưng màu vàng ấy vẫn như ban đầu không biến đổi. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy, chất tuy vô thường nhưng mà sắc là thường. Do vậy nên nói sắc là Phật tính”. Hoặc có người nói rằng: “Thọ là Phật tính. Vì sao vậy? Vì thọ nhân duyên nên thu hoạch được niềm vui chân thật của Như Lai. Như Lai thọ nghĩa là rốt ráo thọ, Ðệ nhất nghĩa thọ. Thọ của chúng sinh, tính tuy lại vô thường nhưng thọ ấy theo thứ lớp nối tiếp nhau chẳng dứt. Vậy nên thu hoạch được thọ thường hằng của Như Lai. Ví như có người họ Kiều Thi Ca. Người tuy vô thường mà dòng họ là thường, dù trải qua ngàn vạn đời cũng không có thay đổi. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Do vậy nên nói Thọ là Phật tính”. Lại có người nói rằng: “Tưởng chính là Phật tính. Vì sao vậy? Vì Tưởng nhân duyên nên thu hoạch được tưởng chân thật của Như Lai. Như Lai tưởng là gọi tưởng vô tưởng. Tưởng vô tưởng thì chẳng phải chúng sinh tưởng, chẳng phải nam nữ tưởng, cũng chẳng phải sắc thọ tưởng hành thức tưởng, chẳng phải tưởng đoạn tưởng. Tưởng của chúng sinh tuy lại vô thường nhưng do tưởng theo thứ lớp nối tiếp nhau chẳng dứt nên được tưởng thường hằng của Như Lai. Này thiện nam tử! Ví như mười hai nhân duyên của chúng sinh. Chúng sinh tuy diệt mà nhân duyên thì thường. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Do vậy nên nói Tưởng là Phật tính”. Lại có người nói rằng: “Hành là Phật tính. Vì sao vậy? Vì hành gọi là thọ mạng mà do thọ mạng nhân duyên nên thu hoạch được thọ mạng thường trụ của Như Lai. Thọ mạng của chúng sinh tuy vô thường nhưng mà thọ mạng theo thứ lớp nối tiếp nhau chẳng dứt nên được thọ mạng thường hằng chân thật của Như Lai”. Này thiện nam tử! Ví như mười hai bộ kinh mà người nghe nói kinh thì tuy lại vô thường nhưng kinh điển đó lại thường tồn bất biến. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Do vậy nên nói Hành là Phật tính. Lại có người nói rằng: “Thức là Phật tính. Do Thức nhân duyên nên thu hoạch được tâm bình đẳng của Như Lai. Ý thức của chúng sinh tuy lại vô thường nhưng mà thức theo thứ lớp nối tiếp nhau nên được tâm thường hằng chân thật của Như Lai. Như tính nóng của lửa, lửa tuy vô thường nhưng nóng chẳng phải vô thường. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Do vậy nên nói thức là Phật tính”. Lại có người nói rằng: “Lìa khỏi ấm thì có ngã. Ngã chính là Phật tính. Vì sao vậy? Vì ngã nhân duyên nên thu hoạch được tám tự tại ngã của Như Lai”. Có các ngoại đạo nói rằng: “Ði lại, nghe thấy, buồn vui, nói năng... là ngã. Như vậy tướng của ngã tuy lại vô thường nhưng mà chân thật ngã của Như Lai là thường. Này thiện nam tử! Như ấm, nhập, giới tuy lại là vô thường mà gọi là thường. Chúng sinh Phật tính cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Như những người mù kia, mỗi mỗi đều nói về voi, tuy chẳng được chân thật nhưng chẳng phải chẳng nói về voi. Người nói về Phật tính cũng lại như vậy, chẳng phải tức là sáu pháp, chẳng lìa khỏi sáu pháp. Này thiện nam tử! Vậy nên ta nói Phật tính của chúng sinh chẳng phải sắc, chẳng lìa khỏi sắc... cho đến chẳng phải ngã, chẳng lìa khỏi ngã. Này thiện nam tử! Có các ngoại đạo tuy nói có ngã mà thật không có ngã. Ngã của chúng sinh tức chính là năm ấm mà bỏ ngoài năm ấm lại không có ngã khác. Này thiện nam tử! Ví như thân cành, cánh hoa, tua hoa, đài hoa hợp làm hoa sen mà bỏ ngoài những yếu tố này lại không có hoa sen khác. Ngã của chúng sinh cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Ví như tường vách cỏ cây hòa hợp thì gọi đó là nhà mà bỏ ngoài những yếu tố đó lại không có nhà khác. Như cây Khư đà la, cây Ba la xa, cây Ni câu đà, cây Uất đàm bát... hòa hợp làm thành rừng mà bỏ ngoài những cây đó lại không có rừng khác. Ví như binh xa, binh tượng, binh mã, binh bộ hòa hợp làm quân đội mà bỏ ngoài những binh đó lại không có quân đội khác. Ví như năm màu dệt xen vào nhau hòa hợp gọi là lụa hoa mà bỏ ngoài năm màu đó lại không có lụa hoa khác. Như bốn dòng họ hòa hợp lại gọi là đại chúng mà bỏ ngoài bốn dòng đó lại không có đại chúng khác. Ngã của chúng sinh cũng lại như vậy, bỏ ngoài năm ấm ra lại không có ngã khác. Này thiện nam tử! Như Lai thường trụ thì gọi là Ngã. Pháp thân của Như Lai vô biên, vô ngại, chẳng sinh, chẳng diệt, được tám tự tại thì đó gọi là Ngã. Chúng sinh chân thật không có ngã và cả ngã sở như vậy. Chỉ vì chúng sinh nhất định sẽ được rốt ráo Ðệ nhất nghĩa không nên gọi là Phật tính.

Này thiện nam tử! Ðại từ đại bi gọi là Phật tính. Vì sao vậy? Vì đại từ đại bi thường theo Bồ tát như bóng theo hình. Tất cả chúng sinh nhất định sẽ được đại từ đại bi nên nói rằng; tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Ðại từ đại bi gọi là Phật tính mà Phật tính thì gọi là Như Lai. Ðại hỷ đại xả gọi là Phật tính. Vì sao vậy? Vì Ðại Bồ tát nếu chẳng thể xả bỏ hai mươilăm cõi hữu thì chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà vì các chúng sinh nhất định sẽ được nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Ðại hỷ đại xả tức là Phật tính mà Phật tính tức là Như Lai. Phật tính là gọi đại tín tâm. Vì sao vậy? Vì tín tâm nên Ðại Bồ tát có thể đầy đủ Ðàn Ba la mật... Bát nhã Ba la mật mà tất cả chúng sinh nhất định sẽ được đại tín tâm. Vậy nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Ðại tín tâm tức là Phật tính mà Phật tính tức chính là Như Lai. Phật tính là gọi Nhất tử địa (địa vị con một). Vì sao vậy? Vì do Nhất tử địa nhân duyên nên Bồ tát đối với tất cả chúng sinh được tâm bình đẳng. Tất cả chúng sinh nhất định sẽ được Nhất tử địa. Vậy nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính mà Phật tính thì tức là Như Lai. Phật tính là gọi Ðệ tứ lực. Vì sao vậy? Vì do Ðệ tứ lực nhân duyên nên Bồ tát có thể giáo hóa chúng sinh. Tất cả chúng sinh nhất định sẽ được Ðệ tứ lực. Vậy nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Ðệ tứ lực tức là Phật tính mà Phật tính tức là Như Lai. Phật tính là gọi mười hai nhân duyên. Vì sao vậy? Vì do nhân duyên nên Như Lai thường trụ. Tất cả chúng sinh nhất định có mười hai nhân duyên như vậy. Vậy nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Mười hai nhân duyên tức là Phật tính mà Phật tính tức là Như Lai. Phật tính là gọi bốn vô ngại trí. Do bốn vô ngại trí nhân duyên nên nói chữ, nghĩa không ngăn ngại. Chữ nghĩa không ngăn ngại, nên có thể giáo hóa chúng sinh. Bốn vô ngại trí tức là Phật tính mà Phật tính tức là Như Lai. Phật tính là gọi Ðỉnh tam muội. Do tu Ðỉnh tam muội như vậy nên có thể thống nhiếp tất cả Phật pháp. Vậy nên nói rằng, Ðỉnh tam muội gọi là Phật tính. Bồ tát Thập Trụ tu tam muội này chưa được đầy đủ nên tuy thấy Phật nhưng mà chẳng sáng rõ. Tất cả chúng sinh nhất định được tam muội đó. Vậy nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Này thiện nam tử! Như nói ở trên, đủ thứ các pháp mà tất cả chúng sinh nhất định sẽ được. Vậy nên nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Này thiện nam tử! Ta nếu nói sắc chính là Phật tính thì chúng sinh nghe rồi liền sinh ra tà kiến điên đảo. Do tà đảo nên mạng chung, họ phải sinh vào địa ngục A tỳ mà Như Lai nói pháp là vì họ đoạn địa ngục. Vậy nên Như Lai chẳng nói sắc chính là Phật tính... cho đến nói thức cũng lại như vậy.

Này thiện nam tử! Nếu các chúng sinh liễu ngộ Phật tính thì chẳng cần tu Ðạo. Bồ tát Thập Trụ tu tám Thánh Ðạo mà còn thấy ít Phật tính, huống là người chẳng mà được thấy ư? Này thiện nam tử! Như các Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, v.v... đã vô lượng đời tu tập Thánh đạo mới rõ biết Phật tính thì làm sao Thanh Văn, Bích Chi Phật, v.v... lại có thể biết Phật tính. Nếu các chúng sinh muốn được biết rõ ràng Phật tính thì nên phải một lòng thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi Kinh Niết Bàn này. Nếu thấy có người thọ trì... cho khen ngợi Kinh này như vậy thì nên phải dùng phòng nhà đẹp, y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh... mà cúng dường họ lại thêm khen ngợi, lễ bái, hỏi thăm họ. Này thiện nam tử! Nếu có người đã ở trong vô lượng vô biên đời quá khứ, gần gũi cúng dường vô lượng các đức Phật, gieo trồng sâu căn lành thì nhiên hậu mới được nghe tên của Kinh này. Này thiện nam tử! Phật tính chẳng thể nghĩ bàn! Phật Pháp Tăng bảo cũng chẳng thể nghĩ bàn! Tất cả chúng sinh đều có Phật tính mà chẳng thể biết. Ðó cũng chẳng thể nghĩ bàn! Pháp của Như Lai Thường Lạc Ngã Tịnh cũng chẳng thể nghĩ bàn! Tất cả chúng sinh có thể tin Kinh Ðại Niết Bàn như vậy cũng chẳng thể nghĩ bàn!

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, tất cả chúng sinh có thể tin Kinh Ðại Niết Bàn như vậy chẳng thể nghĩ bàn! Thưa đức Thế Tôn! Trong đại chúng này có tám vạn năm ngàn ức người mà đối với Kinh này chẳng sinh lòng tin. Vậy nên có người có thể tin Kinh này thì gọi là chẳng thể nghĩ bàn!

- Này thiện nam tử! Ðúng vậy! Những người ở đời vị lai cũng sẽ nhất định được tin Kinh điển này, thấy được Phật tính, được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Làm sao Bồ tát bất thoái tự biết quyết định có tâm bất thoái?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát sẽ dùng khổ hạnh để tự thử thách lòng mình. Mỗi ngày ăn một hạt mè, trải qua một lần bảy ngày. Với hạt gạo nếp, hạt đậu xanh, hạt vừng, hạt gạo tẻ và cả đậu trắng cũng lại như vậy. Mỗi một lần bảy ngày khi ăn một hạt mè thì tác khỏi suy nghĩ này: “Khổ hạnh như vầy đều không lợi ích. Việc không lợi ích mà còn có thể làm huống là việc có lợi ích mà sẽ chẳng làm?” Ðối với việc không lợi ích mà tâm có thể kham nhẫn chẳng thoái chẳng chuyển. Vậy nên nhất định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những ngày như vậy khi tu khổ hạnh thì tất cả da thịt tiêu giảm héo hắt, nhăn nheo như chặt cây sống đặt vào giữa trưa nắng. Mắt người ấy hõm sâu như sao đáy giếng. Thịt hết, xương sườn bày ra như mái nhà cỏ mục nát; xương sống nối liền hiện ra đường chỉ khâu trùng lắp, chỗ ngồi như vết móng ngựa, muốn ngồi thì nằm phục xuống, muốn đứng dậy thì nằm lăn ra. Tuy thọ khổ không ích lợi như vậy nhưng hành giả chẳng thoái tâm Bồ Ðề. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát vì phá mọi khổ, ban an vui nên thậm chí có thể xả bỏ tài vật trong ngoài và thân mạng của mình như rơm cỏ. Nếu có thể chẳng tiếc thân mạng này thì như vậy Bồ tát tự biết nhất định có tâm bất thoái, Bồ tát nhất định sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại nữa, Bồ tát vì nhân duyên pháp mà khoét thân làm đèn rồi thu thập da thịt, dầu mỡ rót vào đó đốt cháy lên làm bấc đèn. Bồ tát lúc bấy giờ, chịu khổ lớn này mà tự quở trách lòng mình nói lên rằng: “Khổ như vầy so với khổ ở địa ngục trăm ngàn vạn phần còn chưa bằng một! Ngươiở trong vô lượng trăm ngàn kiếp, thọ khổ não lớn đều không lợi ích! Ngươi nếu chẳng thể thọ cái khổ nhẹ nhàng này thì làm sao mà có thể ở trong địa ngục cứu khổ cho chúng sinh”. Ðại Bồ tát khi tác khởi sự quan sát này thì thân chẳng hay biết khổ, lòng ấy chẳng thoái, chẳng động, chẳng chuyển. Bồ tát bấy giờ ứng tự biết sâu sắc rằng, ta nhất định sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Bồ tát, bấy giờ phiền não đầy đủ chưa có đoạn dứt thì vì pháp nhân duyên có thể đem đầu, mắt, tủy não, tay, chân, máu, thịt bố thí cho người, dùng đinh đóng vào thân, nhảy xuống từ núi cao ngất, gieo mình vào lửa đỏ. Bấy giờ, Bồ tát tuy thọ vô lượng những khổ như vậy mà lòng chẳng thoái, chẳng động chẳng chuyển. Bồ tát phải biết rằng, ta nay nhất định có tâm chẳng thoái chẳng chuyển, sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Ðại Bồ tát vì phá phiền não của tất cả chúng sinh nên nguyện làm thân loài súc sinh to lớn, đem máu thịt bố thí cho chúng sinh mà khi chúng sinh nhận lấy lại sinh lòng thương xót. Bấy gờ, Bồ tát nín hơi chẳng thở thị hiện làm tướng chết khiến cho những người lấy máu thịt đó chẳng sinh tư tưởng nghi ngờ giết hại. Bồ tát tuy thọ thân súc sinh nhưng nhất định chẳng tạo tác nghiệp súc sinh. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì Bồ tát đã được tâm bất thoái rồi thì nhất định chẳng tạo tác nghiệp ba đường ác. Ðại Bồ tát, nếu đời vị lai có quả báo nghiệp ác nhỏ như vi trần thì chẳng quyết định thọ. Nhưng do lực đại nguyện, vì chúng sinh mà đều thọ hết. Ví như người bệnh bị quỉ ẩn náu ở trong thân. Do lực thần chú nên nó tức thời hiện tướng. Hoặc nói năng, hoặc mừng, hoặc giận, hoặc mắng chữi, hoặc kêu gào, hoặc khóc lóc... Nghiệp ba đường ác đời vị lai của Ðại Bồ tát cũng lại như vậy. Khi Ðại Bồ tát thọ thân loài gấu thường vì chúng sinh diễn nói chánh pháp. Hoặc thọ thân chim Ca tân xà la vì các chúng sinh nói chánh pháp. Hoặc thọ thân Cù đà, thân nai, thân thỏ, thân voi, thân dê, thân vượn, thân bồ câu trắng, thân chim cánh vàng, thân rồng, thân rắn, v.v... Khi Bồ tát thọ những thân súc sinh như vậy thì nhất định chẳng tạo tác nghiệp ác súc sinh mà còn thường vì chúng sinh của những loài súc sinh còn lại kia diễn nói chính pháp khiến cho những chúng sinh đó mau được chuyển khỏi thân súc sinh. Bấy giờ, Bồ tát tuy thọ thân súc sinh nhưng chẳng tạo tác ác nghiệp thì phải biết là Bồ tát nhất định có tâm bất thoái. Ðại Bồ tát ở vào đời đói kém, thấy chúng sinh đói, thì hiện làm thân rùa, cá to lớn vô lượng do tuần. Bồ tát lại phát nguyện rằng: “Nguyện cho các chúng sinh khi lấy thịt của ta thì lấy tùy ý theo sự sống của mình và nhân ăn thịt của ta được lìa khỏi nỗi khổ đói khát, tất cả đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Bồ tát lại phát nguyện: “Nếu có người nhân ăn thịt của ta được lìa khỏi đói khát thì đời vị lai mau chóng được lìa khỏi khổ hoạn đói khát của hai mươi lăm cõi hữu”. Ðại Bồ tát thọ khổ như vậy mà lòng chẳng thoái thì phải biết Bồ tát nhất định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại nữa, Bồ tát ở vào đời dịch bệnh, thấy bệnh khổ thì suy nghĩ như vầy: “Như vua cây thuốc, nếu có người bệnh lấy rễ, lấy thân, lấy cành, lấy lá, lấy hoa, lấy quả, lấy da, (vỏ cây), lấy phần ngoài của da... mà uống đều được khỏi bệnh. Nguyện thân này của ta cũng lại như vậy. Nếu có người bệnh nghe tiếng, chạm vào thân, ăn uống máu thịt... cho đến xương tủy của ta thì bệnh đều trừ khỏi. Nguyện cho các chúng sinh khi ăn thịt của ta thì chẳng sinh lòng ác như ăn thịt con”. Ta trị bệnh cho họ rồi thường vì họ nói pháp, nguyện cho họ tín thọ, tư duy, chuyển hóa. Lại nữa, này thiện nam tử! Bồ tát đầy đủ phiền não, tuy thọ thân khổ nhưng tâm của Bồ tát chẳng thoái, chẳng động, chẳng chuyển thì phải biết Bồ tát nhất định được tâm bất thoái, thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại nữa, này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh bị bệnh quỉ ám. Bồ tát thấy rồi liền nói rằng: “Nguyện làm thân quỉ, thân lớn, thân khỏe mạnh, thân nhiều quyến thuộc... khiến cho người bệnh kia nghe thấy thì bệnh được trừ khỏi”. Ðại Bồ tát vì chúng sinh nên siêng tu khổ hạnh, tuy có phiền não nhưng ô nhiễm lòng Bồ tát. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát tuy lại tu hành sáu Ba la mật nhưng cũng lại chẳng cầu quả báo lục độ. Khi Bồ tát tu hành sáu Ba la mật vô thượng thì phát nguyện rằng: “Ta nay dùng sáu Ba la mật này thi hành với tất cả chúng sinh. Mỗi một chúng sinh thọ nhận sự thi hành của ta rồi đều khiến cho được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ta cũng tự vì sáu Ba la mật, siêng tu khổ hạnh, thọ các khổ não. Khi phải thọ khổ thì nguyện cho ta chẳng thoái tâm Bồ Ðề. Này thiện nam tử! Khi Ðại Bồ tát phát nguyện này thì đó gọi là tướng Bồ Ðề Bất Thoái.

Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát chẳng thể nghĩ bàn! Vì sao vậy? Vì Ðại Bồ tát biết sâu nhiều những tội lỗi của sinh tử, quan sát Ðại Niết Bàn có công đức lớn mà vì chúng sinh nên ở tại sinh tử, chịu đủ thứ khổ, lòng không thoái chuyển. Ðó gọi là Bồ tát chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Ðại Bồ tát không có nhân duyên mà sinh lân mẫn, thật chẳng thọ ân mà thường thi ân, tuy thường thi ân mà chẳng cầu đền đáp (báo). Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, này thiện nam tử! Hoặc có chúng sinh vì sự lợi ích của mình mà tu các hạnh khổ, còn Ðại Bồ tát vì lợi người khác nên tu hành khổ hạnh. Ðó gọi là tự lợi (của Bồ tát). Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ tát đầy đủ phiền não, nhưng vì phá hoại sự thọ nhận những khổ não của kẻ oán, người thân nên tu tâm bình đẳng. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ tát nếu thấy các chúng sinh ác, bất thiện thì hoặc quở trách, hoặc nói lời dịu dàng, hoặc xua đuổi, hoặc buông bỏ... Người có tính ác thì hiện làm người nói lời dịu dàng. Người có tính kiêu mạn thì hiện làm người kiêu mạn mà kỳ thật bên trong lòng không kiêu mạn. Ðó gọi là Bồ tát phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ tát đầy đủ phiền não khi ít của cải mà người đến cầu xin nhiều nhưng lòng chẳng mong ít. Ðó gọi là Bồ tát chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ tát ở vào lúc Phật ra đời, biết công đức của Phật. Nhưng vì chúng sinh nên ở chỗ không có Phật, thọ thân nơi biên địa như mù, như điếc, như thọt, như què... Ðó gọi là Bồ tát chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ tát biết sâu tội lỗi sở hữu của chúng sinh nhưng vì độ thoát họ nên thường cùng hành động chung. Bồ tát tuy hành động theo ý họ nhưng tội cấu chẳng ô nhiễm. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.

Lại nữa, Bồ tát thấy biết rõ ràng, không có tướng chúng sinh không ô nhiễm phiền não, không đạo tu tập, lìa khỏi phiền não, tuy là Bồ Ðề nhưng không hạnh Bồ Ðề cũng không thành tựu hạnh Bồ Ðề, không có người thọ khổ, người phá khổ mà có thể vì chúng sinh phá hoại. Khổ, hành hạnh Bồ Ðề. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ tát thọ thân hậu biên ở trên trời Ðâu Suất thì đó cũng gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao vậy? Vì trời Ðâu Suất Ðà là cõi tối thắng trong Dục giới. Người ở trời dưới thì lòng họ buông lung. Người ở trời trên thì các căn ám độn. Vậy nên gọi là thắng. Tu thí, tu giới thì được thọ thân trời trên, trời dưới. Tu Thí Giới Ðịnh thì được thân trời Ðâu Suất. Tất cả Bồ tát hủy báng các hữu, phá hoại các hữu, nhất định chẳng tạo tác nghiệp của trời Ðâu Suất để thọ thân của cõi trời đó. Vì sao vậy? Vì Bồ tát, nếu ở các cõi hữu còn lại ấy thì cũng có thể giáo hóa thành tựu chúng sinh. Bồ tát chân thật không có dục tâm mà sinh ra ở Dục giới. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Ðại Bồ tát sinh lên trời Ðâu Suất có ba việc thù thắng: Một là mạng, hai là sắc, ba là danh. Ðại Bồ tát chân thật chẳng cầu lấy mạng, sắc và danh xưng. Tuy lòng Bồ tát không cầu mà sở đắc thắng hơn. Ðại Bồ tát ưa thích Niết Bàn sâu sắc nhưng có nhân duyên cũng thắng hơn. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Ðại Bồ tát có ba việc như vậy tuy thắng hơn các trời mà các trời ở chỗ Bồ tát nhất định chẳng sinh ra lòng sân giận, lòng ganh ghét, lòng kiêu mạn mà thường sinh ra lòng vui mừng. Bồ tát đối với các trời cũng chẳng kiêu mạn. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Ðại Bồ tát chẳng tạo tác mạng nghiệp mà đối với các trời kia thọ mạng rốt ráo. Ðó gọi là mạng thắng (thọ mạng ngắn hơn). Bồ tát cũng không sắc nghiệp mà thân diệu sắc sáng ngời đầy khắp. Ðó gọi là sắc thắng. Ðại Bồ tát ở cung trời kia chẳng ưa ngũ dục mà chỉ vì việc pháp. Vậy nên danh xưng tràn đầy mười phương. Ðó gọi là danh thắng. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Ðại Bồ tát xuống trời Ðâu Suất thì khi đó đại địa chấn động sáu thứ. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao vậy? Vì Bồ tát khi xuống cõi Dục cõi Sắc thì chư thiên đều đến hầu đưa tiễn, phát ra âm thanh lớn khen ngợi Bồ tát. Do hơi gió trong miệng nên khiến cho đất rung động. Lại có Bồ tát là chúa voi trong loài người. Chúa voi trong loài người gọi là Long vương. Long vương khi bắt đầu vào thai thì có các Long vương ở bên dưới đất này, hoặc sợ, hoặc thức dậy nên đại địa chấn động sáu thứ. Vậy nên gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Ðại Bồ tát biết khi vào thai, khi trụ thai, khi sinh ra, biết cha, biết mẹ chẳng sạch, chẳng ô nhiễm như châu báu màu xanh trên tóc Ðế Thích. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.

Này thiện nam tử! Kinh Ðại Niết Bàn cũng lại như vậy, chẳng thể nghĩ bàn. Này thiện nam tử! Ví như biển lớn có tám điều chẳng nghĩ bàn. Những gì là tám? Một là dần dần trở nên sâu. Hai là sâu khó lần được đáy. Ba là đồng một vị mặn. Bốn là nước triều chẳng quá giới hạn. Năm là đủ thứ bảo tàng. Sáu là chúng sinh thân lớn cư trú ở trong đó. Bảy là chẳng chứa chấp thây chết. Tám là tất cả muôn dòng nước, mưa lớn... trút vào trong đó mà chẳng tăng, chẳng giảm. Này thiện nam tử! Dần dần trở thành sâu có ba việc. Những gì là ba? Một là phước lực của chúng sinh, hai là thuận gió mà đi, ba là nước sông vào... cho đến việc chẳng tăng chẳng giảm cũng đều có ba việc. Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này cũng lại như vậy, có tám điều chẳng thể nghĩ bàn. Một là dần dần sâu như là năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới, Bồ tát giới... như là quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, quả Bích Chi Phật, quả Bồ tát, quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác... kinh Niết Bàn này nói những pháp đó. Ðó gọi là sâu dần dần. Vậy nên Kinh này gọi là sâu dần dần. Hai là sâu khó lần được đáy: Như Lai Thế Tôn chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, chẳng chuyển pháp luân, chẳng ăn, chẳng thọ, chẳng làm huệ thí (bố thí). Vậy nên gọi là Thường Lạc Ngã Tịnh. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Phật tính chẳng phải là sắc, chẳng lìa khỏi sắc, chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức... cho đến chẳng lìa khỏi... thức là thường có thể thấy rõ nhân, chẳng phải tác nhân. Tu đà hoàn... cho đến Bích Chi Phật sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cũng không phiền não, cũng không trụ xứ, tuy không có phiền não nhưng chẳng gọi là Thường. Vậy nên gọi là sâu. Lại có chỗ rất sâu ở trong Kinh này. Hoặc khi nói Ngã hoặc nói Vô Ngã, hoặc khi nói Thường hoặc nói Vô thường, hoặc khi nó Tịnh hoặc nói bất tịnh, hoặc khi nói vui hoặc nói khổ, hoặc khi nói không hoặc nói chẳng không, hoặc nói tất cả có, hoặc nói tất cả không, hoặc nói ba thừa, hoặc nói một thừa, hoặc nói năm ấm tức là Phật tính, Kim Cương tam muội và cả trung đạo, Thủ Lăng Nghiêm tam muội, mười hai nhân duyên, Ðệ nhất nghĩa không, từ bi bình đẳng với các chúng sinh, đỉnh trí, tín tâm, biết các căn, lực, trong tất cả pháp trí không ngăn ngại, tuy có Phật tính nhưng chẳng nói quyết định. Vậy nên gọi là sâu. Ba là một vị: tất cả chúng sinh đồng có Phật tính, đều đồng một thừa, đồng một giải thoát, một nhân một quả, đồng một cam lộ. Tất cả sẽ được Thường Lạc Ngã Tịnh. Ðó gọi là một vị. Bốn là nước triều chẳng quá giới hạn: Như trong Kinh này hạn chế các Tỳ kheo chẳng được nhận nuôi chứa tám vật bất tịnh. Nếu đệ tử của ta có thể thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giải nói, phân biệt Kinh điển Ðại Niết Bàn vi diệu này thì thà mất thân mạng chớ nhất định chẳng hủy phạm Kinh đó. Ðó gọi là nước triều chẳng quá giới hạn. Năm là có đủ thứ bảo tàng. Kinh này tức là vô lượng bảo tàng. Nói là báu là gọi bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn Như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác phận, tám Thánh đạo phận, hạnh anh nhi (trẻ con), hạnh Thánh, hạnh Phạm, hạnh Trời, các thiện phương tiện, Phật tính của chúng sinh, công đức của Bồ tát, công đức của Như Lai công đức của Thanh Văn, công đức của Duyên Giác, sáu Ba la mật, vô lượng tam muội, vô lượng trí tuệ. Ðó gọi là bảo tàng. Sáu là chỗ cư trú của chúng sinh thân lớn. Chúng sinh thân lớn là gọi Phật, Bồ tát. Vì Phật, Bồ tát có trí tuệ lớn nên gọi là chúng sinh lớn. (Chúng sinh lớn thì) có thân lớn, tâm lớn, trang nghiêm lớn, điều phục lớn, phương tiện lớn, nói pháp lớn, thế lực lớn, đồ chúng lớn, thần thông lớn, từ bi lớn, thường hằng chẳng biến đổi, tất cả chúng sinh không ngăn ngại, dung thọ tất cả các chúng sinh. Ðó gọi là chỗ cư trú của chúng sinh thân lớn. Bảy là chẳng chứa chấp thây chết. Thây chết là gọi Nhất xiển đề, phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián, bài báng kinh Phương Ðẳng, chẳng phải pháp nói là pháp, pháp nói chẳng phải pháp, thọ nhận nuôi chứa tám thứ vật bất tịnh, vật của Phật vật của Tăng mà sử dụng tùy ý, hoặc ở chỗ Tỳ kheo, Tỳ kheo ni làm việc phi pháp... Ðó gọi là thây chết. Kinh Niết Bàn này lìa khỏi những điều như vậy. Vậy nên gọi là chẳng chứa chấp thây chết. Tám là chẳng tăng, chẳng giảm: không bờ cõi nên không thỉ chung, chẳng phải sắc nên chẳng phải tác (làm), thường trụ nên chẳng sinh diệt, tất cả chúng sinh đều bình đẳng, tất cả pháp tính đồng một tính. Ðó gọi là không tăng giảm. Vậy nên Kinh này như biển cả kia, có tám điều chẳng nghĩ bàn.

Bồ tát Sư Tử Hống bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu nói Như Lai chẳng sinh chẳng diệt là sâu thì tất cả chúng sinh có bốn loại sinh là noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh. Bốn loại sinh này trong loài người có đủ: Như Tỳ kheo Thi Bà La, Tỳ kheo Ưu Bà Thi Bà La, mẹ trưởng giả Di Ca La, mẹ trưởng giả Ni Câu Ðà, mẹ trưởng giả Bán Xà La đều có năm trăm con đồng ở noãn sinh (sinh ra từ trứng) thì phải biết là trong loài người có sinh ra từ trứng. Thấp sinh thì như lời đức Phật nói, ta vào thuở xưa, khi làm Bồ tát từng làm vua sinh ra từ đỉnh đầu và làm vua sinh ra từ tay. Như hôm nay ngài nói, người con gái Am La Thọ, con gái Bất Ða Thọ thì phải biết trong loài người có thấp sinh (sinh ra từ ẩm ướt). Khi kiếp bắt đầu thì tất cả chúng sinh đều hóa sinh hết. Ðức Như Lai Thế Tôn được tám tự tại, vì nhân duyên gì mà chẳng hóa sinh vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Việc sinh ra làm bốn lối sinh của tất cả chúng sinh, người được Thánh pháp rồi chẳng được như vốn đã noãn sinh, thấp sinh. Này thiện nam tử! Ban đầu kiếp chúng sinh đều hóa sinh. Ðang lúc ấy, Phật chẳng ra đời. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh khi gặp bệnh khổ cần thầy thuốc, cần thuốc mà lúc đầu kiếp chúng sinh đều hóa sinh, tuy có phiền não mà bệnh ấy chưa phát. Vậy nên Như Lai chẳng xuất hiện ở đời ấy. Ðầu kiếp thân chúng sinh chẳng phải pháp khí. Vậy nên Như Lai chẳng xuất hiện ở đời ấy. Này thiện nam tử! Nghiệp sở hữu của Như Lai Thế Tôn thắng hơn các chúng sinh như là về chủng tính, quyến thuộc, cha mẹ. Do thù thắng nên phàm lời nói pháp của Như Lai mọi người đều tín thọ. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa sinh. Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh thì cha tạo tác nghiệp con, con tạo tác nghiệp cha. Như Lai Thế Tôn nếu thọ hóa thân thì không cha mẹ. Nếu không cha mẹ thì làm sao có thể khiến cho tất cả chúng sinh tạo tác các nghiệp lành. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa thân. Này thiện nam tử! Trong chính pháp của Phật có hai thứ hộ, một là nội, hai là ngoại. Nội hộ là gọi cấm giới. Ngoại hộ là gọi thân tộc quyến thuộc. Nếu Phật Như Lai thọ hóa thân thì không ngoại hộ. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa thân. Này thiện nam tử! Có người ỷ vào dòng họ mà sinh kiêu mạn, Như Lai vì phá sự kiêu mạn như vậy nên sinh ở dòng họ tôn quí, chẳng thọ hóa thân. Này thiện nam tử! Như Lai Thế Tôn có cha mẹ chân thật. Cha tên là Tịnh Phạn, mẹ tên là Ma Da mà các chúng sinh còn nói là huyễn thì làm sao mà thọ thân hóa sinh? Nếu thọ hóa thân thì làm sao được có xá lợi của thân vụn. Như Lai vì thêm phước đức cho chúng sinh nên làm vụn nát thân ấy để cho họ cúng dường. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa thân. Tất cả các đức Phật đều không hóa sinh thì làm sao khiến một mình thọ hóa thân.

Lúc bấy giờ, Bồ tát Sư Tử Hống chắp tay, quì dài, gối phải đặt xuống đất, dùng kệ khen đức Phật rằng:

Như Lai công đức tụ không lường

Con nay chẳng thể rộng tuyên nói

Nay vì chúng sinh diễn một phần

Nguyện xin thương xót cho con nói!

Chúng sinh đi trong tối vô minh

Thọ đủ vô biên trăm thứ khổ.

Thế Tôn hay khiến lìa khỏi nhanh

Nên đời xưng đấng Từ Bi lớn!

Chúng sinh qua lại sinh tử thằng (sợ dây sinh tử)

Phóng dật mê man không an lạc

Như Lai hay cho mọi lạc an

Vậy nên cắt đứt dây sinh tử.

Phật hay ban bố mọi lạc an

Tự vui với mình, chẳng tham lạc,

Tu khổ hạnh vì các chúng sinh

Nên thế gian cúng dường cung kính.

Thấy người thọ khổ rúng động thân

Ở tại địa ngục, đau chẳng biết

Chịu khổ lớn vì các chúng sinh

Nên không có lường, không ai thắng.

Phật tu khổ hạnh vì chúng sinh

Thành tựu đầy đủ, mãn lục độ

Tâm ở gió tà chẳng chao nghiêng

Nên có thể thắng bậc Ðại sĩ

Chúng sinh thường muốn được lạc an

Mà chẳng biết tu nhân an lạc

Như Lai hay dạy, khiến tu hành

Giống như cha lành yêu con một.

Phật thấy chúng sinh bệnh não phiền

Lòng khổ như mẹ lo con bệnh

Phương tiện khỏi bệnh nghĩ tới luôn

Vậy nên thân này thuộc người khác.

Các khổ, tất cả chúng sinh làm

Mà lòng điên đảo cho là lạc (vui)

Như Lai diễn nói khổ, lạc chân

Nên xưng hiệu là Từ Bi Lớn.

Thế gian đều ở trứng vô minh

Không có mỏ trí có thể phá

Mỏ trí Như Lai mổ phá tan

Vậy nên gọi là tối đại tử.

Chẳng bị ba đời nhiếp giữ gìn

Không có danh tự và hiệu quả

Hiểu biết nghĩa thậm thâm Niết Bàn

Vậy nên xưng Phật là Ðại Giác.

Có sông cuồn cuộn chìm chúng sinh

Vô minh mù tối, ra chẳng biết

Như Lai tự độ, độ chúng sinh

Vậy nên xưng Phật, Thuyền Sư Lớn (người lái thuyền giỏi).

Có thể biết tất cả quả, nhân

Cũng lại thông đạt tận diệt đạo

Thường ban thuốc bệnh khổ chúng sinh

Vậy nên đời xưng: Y vương lớn.

Khổ hạnh ngoại đạo thường tuyên dương

Nhân đó hay được Vô Thượng Lạc

Như Lai diễn nói lạc hạnh chân

Hay khiến chúng sinh thọ khoái lạc.

Phá tà đạo, Như Lai Thế Tôn

Khai thị chúng sinh đường chân chính

Người đi đường đó được lạc an

Nên xưng Phật là thầy dẫn dắt.

Sở tác chẳng phải người và mình

Chẳng phải cộng tác, không nhân tác

Việc thọ khổ theo lời Thế Tôn

Thắng hơn tất cả các ngoại đạo.

Thành tựu Giới, Ðịnh, Tuệ hoàn toàn

Cũng đem pháp này dạy sinh chúng

Khi đem pháp thí không ghét lận

Vậy nên xưng Phật: Bi không duyên.

Không sự tạo tác không nhân duyên

Thu được không nhân, không quả báo

Vậy nên tất cả người trí thông

Xưng nói Như Lai chẳng cầu báo

Thường chung hạnh phóng dật thế gian

Mà thân chẳng bị nhiễm phóng dật

Vậy nên gọi là chẳng nghĩ bàn

Tám pháp thế gian chẳng thể nhiễm.

Như Lai Thế Tôn không oán thân

Vậy nên tâm ấy thường bình đẳng

Ðại Bi, con rống sư tử khen

Hay rống vô lượng Sư tử hống.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ ba mươi hết -


31/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Mốt

PHẨM BỒ TÁT CA DIẾP Thứ Hai Mươi Bốn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai thương xót tất cả chúng sinh. Người chẳng điều phục có thể điều phục, người bất tịnh có thể làm cho tịnh, người không qui y có thể làm qui y, người chưa giải thoát có thể khiến cho giải thoát, được vào tám tự tại, làm Ðại y sư, làm Ðại Dược Vương. Tỳ kheo Thiện Tinh là đệ tử của đức Phật, khi làm Bồ tát, sau khi xuất gia, thọ trì, đọc tụng, phân biệt, giải nói mười hai bộ Kinh, hoại tan kiết sử cõi Dục, thu hoạch được bốn thiền mà sao đức Như Lai huyền ký rằng, Thiện Tinh chính là nhất xiển đề, người thấp hèn, ở địa ngục suốt kiếp, người chẳng thể sửa trị? Ðức Như Lai vì sao chẳng trước vì ông ấy diễn nói chính pháp, rồi sau mới vì Bồ tát? Ðức Như Lai Thế Tôn nếu chẳng thể cứu Tỳ kheo Thiện Tinh thì làm sao được gọi là đấng có đại từ mẫn, có đại phương tiện?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ví như cha mẹ chỉ có ba người con. Người con thứ nhất ấy có lòng tín thuận, cung kính cha mẹ, căn tính linh lợi, có trí tuệ, đối với việc thế gian có thể mau biết rõ. Người con thứ hai ấy chẳng kính cha mẹ, không lòng tín thuận, lợi căn, trí tuệ, đối với việc thế gian có thể mau rõ biết. Người con thứ ba ấy chẳng kính cha mẹ, không lòng tín thuận, căn tính ám độn, không có trí tuệ. Cha mẹ nếu khi muốn dạy bảo chúng thì nên dạy ai trước? Thân ái với ai trước? Phải trước dạy cho ai biết việc thế gian?

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nên trước dạy trao cho người con có lòng tín thuận, cung kính cha mẹ, lợi căn, trí tuệ, hiểu biết việc đời. Tiếp theo dạy đến người con thứ hai, rồi mới đến người con thứ ba. Nhưng mà hai người con kia tuy không có lòng tín thuận cung kính nhưng vì từ niệm nên tiếp theo phải dạy bảo họ!

- Này thiện nam tử! Như Lai cũng vậy! Ba người con kia, người đầu tiên là dụ cho Bồ tát, người ở giữa là dụ cho Thanh Văn, người sau cùng là dụ cho nhất xiển đề. Như ý nghĩa vi tế trong các Kinh của mười hai bộ Kinh, ta trước đã vì các Bồ tát mà nói. Ý nghĩa thiển cận của Kinh thì ta vì hàng Thanh Văn mà nói. Còn ý nghĩa thế gian thì ta vì bọn nhất xiển đề, ngũ nghịch tội mà nói. Trong đời hiện tại tuy không có lợi ích nhưng do lòng thương xót nên làm phát sinh những chủng tử (hạt giống) thiện cho đời sau. Này thiện nam tử! Như có ba thứ ruộng: Một là ruộng có kênh mương lưu thông tiện lợi dễ dàng, không có những cát, đất mặn, sành, đá, gai góc... thì gieo trồng một thu được cả trăm. Hai là ruộng tuy không có cát, đất mặn, sành đá, gai góc nhưng kênh mương hiểm trở khó khăn thì thu hoạch kết quả giảm đi một nửa. Ba là ruộng mà kênh mương hiểm trở khó khăn, có nhiều cát, đất mặn, sành, đá, gai góc thì gieo trồng một, chỉ thu hoạch được một là cỏ khô. Này thiện nam tử! Người nông phu, trong tháng mùa Xuân, trước nên gieo trồng ruộng nào?

- Thưa đức Thế Tôn! Trước họ nên gieo trồng ở ruộng đầu tiên, tiếp đến là ở ruộng thứ hai, rồi sau mới đến loại ruộng thứ ba.

- Ruộng đầu tiên là dụ cho Bồ tát, ruộng tiếp theo là dụ cho Thanh Văn, ruộng sau cùng là dụ cho nhất xiển đề. Này thiện nam tử! Ví như ba cái đồ đựng: một cái lành lặn (hoàn hảo), cái thứ hai bị rò rỉ, cái thứ ba bị vỡ. Nếu muốn đựng đầy sữa, cao sữa, ván sữa, nước thì trước dùng cái nào?

- Thưa đức Thế Tôn! Nên dùng cái lành lặn, tiếp đến dùng cái rò rỉ, sau mới dùng đến cái bị vỡ!

- Cái lành lặn sạch sẽ ấy là dụ cho Bồ tát tăng, cái rò rỉ là dụ cho Thanh Văn, cái bị vỡ là dụ cho nhất xiển đề. Này thiện nam tử! Như có ba người bệnh đều đi đến chỗ thầy thuốc: Một người dễ điều trị, người thứ hai khó điều trị, người thứ ba thì chẳng thể điều trị. Này thiện nam tử! Thầy thuốc nếu trị thì phải trị ai trước?

- Thưa đức Thế Tôn! Nên trước điều trị cho người dễ, tiếp đến là người thứ hai, sau mới đến người thứ ba. Vì sao vậy? Vì là thân thuộc.

- Người dễ trị ấy là dụ cho Bồ tát tăng. Người khó trị ấy là dụ cho Thanh Văn tăng. Người chẳng thể trị là dụ cho nhất xiển đề. Với hạng người này trong đời hiện tại tuy không kết quả tốt nhưng vì thương xót nên ta vì họ gieo trồng những hạt giống lành cho đời sau. Này thiện nam tử! Ví như vị đại vương có ba giống ngựa. Một là ngựa đã điều phục trẻ khỏe đầy sức mạnh. Hai là ngựa chẳng điều phục, trẻ khỏe, nhiều sức mạnh. Ba là ngựa chẳng điều phục, gầy yếu, già cả, không có sức. Nhà vua nếu cưỡi ngựa thì phải cưỡi con nào trước?

- Thưa đức Thế Tôn! Nên cưỡi con ngựa điều phục trẻ khỏe nhiều sức mạnh, tiếp đến cưỡi con thứ hai, sau mới cưỡi đến con thứ ba.

- Này thiện nam tử! Con ngựa điều phục trẻ khỏe nhiều sức mạnh là dụ cho Bồ tát tăng, con ngựa thứ hai là dụ cho Thanh Văn tăng, con ngựa thứ ba là dụ cho nhất xiển đề. Trong đời hiện tại hạng người này tuy không có ích lợi nhưng vì thương xót nên ta vì họ gieo trồng hạt giống lành cho đời sau. Này thiện nam tử! Như khi đại thí (làm bố thí lớn) có ba người đến: Một là người quí tộc, thông minh, trì giới. Hai là người thuộc dòng họ bậc trung, độn căn, trì giới. Ba là người thuộc dòng họ thấp hèn, độn căn, hủy giới. Này thiện nam tử! Vị đại thí chủ này nên trước bố thí cho ai?

- Thưa đức Thế Tôn! Nên trước bố thí cho người quí tộc, lợi căn, trì giới, tiếp đến là người thứ hai, rồi sau mới đến người thứ ba.

- Người thứ nhất dụ cho Bồ tát tăng, người thứ hai dụ cho Thanh Văn tăng, người thứ ba dụ cho nhất xiển đề. Này thiện nam tử! Như con sư tử lớn khi giết chết con hương tượng phải dùng hết sức của nó, giết chết một con thỏ cũng vậy, chẳng sinh ý tưởng khinh thường. Các đức Phật Như Lai cũng lại như vậy, khi vì các Bồ tát và nhất xiển đề diễn nói pháp dùng công đức không hai (không khác nhau).

Này thiện nam tử! Vào một thuở, ta trụ ở thành Vương Xá, Tỳ kheo Thiện Tinh là cấp sứ (người sai khiến, cung cấp) của ta. Ở đầu đêm, ta vì trời Ðế Thích diễn nói pháp yếu. Theo phép làm đệ tử là nên ngủ sau thầy. Bấy giờ, do ta ngồi lâu nên lòng Thiện Tinh sinh ra ý niệm ác. Trẻ con trai gái của thành Vương Xá thời đó nếu khóc không nín thì cha mẹ hay dọa rằng: “Nếu con chẳng nín thì sẽ đem con giao cho quỉ Bạc câu la!” Bấy giờ, Thiện Tinh trái lại nắm lấy lời ấy mà nói với ta rằng: “Hãy mau vào thiền thất! Quỉ Bạc câu la đến!”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Ông thường chẳng nghe, Như Lai Thế Tôn chẳng sợ gì sao?”. Bấy giờ, Ðế Thích liền nói với ta rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Những người như vậy cũng lại được vào trong Phật pháp sao?”. Ta liền nói rằng: “Này Kiều Thi Ca! Người như vậy được vào Phật pháp, cũng có Phật tính, sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ta tuy vì ông Thiện Tinh này nói pháp mà ông đó đều không có lòng tín thọ”. Này thiện nam tử! Vào một thuở, ta ở tại thành Thi Bà Phú La của nước Ca Thi, Tỳ kheo Thiện Tinh là cấp sứ của ta. Khi ta muốn vào thành đó khất thực có vô lượng chúng sinh lòng trống không, khao khát, ngưỡng mộ muốn thấy dấu chân của ta thì Tỳ kheo Thiện Tinh liền theo sau ta mà hủy diệt. Ông ấy đã chẳng thể xóa hết mà còn khiến cho chúng sinh sinh lòng bất thiện. Ta vào thành rồi, ở quán rượu, thấy một Ni Kiền gò lưng ngồi chồm hỗm dưới đất ăn bã rượu. Tỳ kheo Thiện Tinh thấy rồi mà nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Thế gian nếu có A la hán thì người này là tối thắng. Vì sao vậy? Vì người này đã nói rằng, không nhân không quả”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Ông có thường nghe, A la hán thì chẳng uống rượu, chẳng hại người, chẳng lừa dối, chẳng trộm cắp, chẳng dâm dục. Còn như người này giết hại cha mẹ, ăn nuốt bã rượu thì làm sao mà nói là A la hán? Người này sau khi xả thân nhất định sẽ rơi vào địa ngục A Tỳ còn A la hán đoạn tuyệt vĩnh viễn ba đường ác thì làm sao mà nói là A la hán?”. Thiện Tinh liền nói rằng: “Tính của bốn đại còn có thể chuyển dịch nhưng muốn khiến cho người này nhất định rơi vào ngục A tỳ thì không có điều đó”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Ông thường chẳng nghe lời nói thành thật của các đức Phật Như Lai không có hai!”. Ta tuy vì ông Thiện Tinh này nói pháp mà ông đó tuyệt không có lòng tín thọ. Này thiện nam tử! Vào một thuở, ta cùng với Tỳ kheo Thiện Tinh trụ ở thành Vương Xá. Bấy giờ, trong thành có một Ni Càn tên là Khổ Ðắc, thường nói rằng: “Phiền não của chúng sinh không nhân không duyên. Giải thoát của chúng sinh cũng không nhân không duyên”. Tỳ kheo Thiện Tinh lại nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Thế gian, nếu có A la hán thì Khổ Ðắc là bậc trên”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Ni Càn Khổ Ðắc thật chẳng phải là La Hán, chẳng thể hiểu rõ đạo A la hán!”. Thiện Tinh lại nói rằng: “Vì sao La Hán đối với A la hán mà sinh ra tật đố (ganh ghét)?”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Ta đối với La hán chẳng sinh ra tật đố mà ông tự sinh ra tà kiến ác vậy. Nếu nói Khổ Ðắc là La hán thì sau bảy ngày sẽ bị bệnh túc thực (đồ ăn lưu lại không tiêu hóa), đau bụng mà chết, chết rồi sinh vào loài quỉ Thực Thổ (ói đồ ăn ra). Bọn đồng học của ông ấy sẽ đem thi thể ông ấy bỏ trong rừng lạnh”. Bấy giờ Thiện Tinh liền đi đến chỗ của Ni càn tử Khổ Ðắc nói rằng: “Thưa trưởng lão! Ngài nay có biết gì không? Ông Sa môn Cù Ðàm đã huyền ký cho ngài sau bảy ngày sẽ bị bệnh túc thực, đau bụng mà chết, chết rồi sinh vào trong loài quỉ Thực Thổ. Những người đồng học, đồng sư sẽ đem thi thể của ngài bỏ trong rừng lạnh. Thưa trưởng lão! Ngài hãy tư duy khéo léo tạo mọi phương tiện tốt thì sẽ khiến cho ông Cù Ðàm rơi vào trong tình trạng nói dối!”. Bấy giờ, ông Khổ Ðắc nghe lời đó xong thì liền nhịn ăn (đoạn thực) từ bắt đầu ngày một cho đến ngày sáu. Ðủ bảy ngày rồi ông liền ăn đường đen. Ăn đường đen (hắc mật) rồi lại uống nước lạnh. Uống nước lạnh rồi đau bụng mà mạng chung. Ông chết rồi bạn đồng học đem thi hài ông để trong rừng lạnh. Ông liền thọ hình thể loài quỉ đói Thực Thổ ở bên thi hài của mình. Tỳ kheo Thiện Tinh nghe việc này rồi, đi đến trong rừng lạnh, thấy Khổ Ðắc thọ thân hình loài quỉ Thực Thổ ở tại bên thi hài của ông ấy, đang khom lưng ngồi xổm trên đất. Thiện Tinh nói với ông ấy rằng: “Thưa đại đức! Ngài chết rồi sao?”. Khổ Ðắc đáp rằng: “Ta đã chết rồi!”. Hỏi: “Vì sao chết vậy?”. Ðáp: “Nhân đau bụng mà chết!”. Hỏi: “Ai đưa thi hài ngài ra đây?”. Ðáp rằng: “Bạn đồng học đưa ra!”. Hỏi: “Ðặt ở đâu?”. Ðáp rằng: “Người ngu si ơi! Ông nay chẳng biết rừng lạnh này sao?”. Hỏi: “Ðược thân gì?”. Ðáp rằng: “Ta được thân của loài quỉ Thực Thổ! Này Thiện Tinh! Ông đã lắng nghe lời thiện, lời đúng lúc, lời nghĩa, lời pháp... Này Thiện Tinh! Miệng Như Lai nói ra lời chân thật như vậy mà ông lúc bấy giờ sao chẳng tin? Nếu có chúng sinh chẳng tin lời nói chân thật của Như Lai thì người đó cũng sẽ thọ thân này như ta!”. Bấy giờ Thiện Tinh liền trở lại chỗ của ta mà nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Ni Càn Khổ Ðắc sau khi mạng chung sinh lên trời Ba mươi ba”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! A la hán thì không có chỗ sinh làm sao mà nói Khổ Ðắc sinh lên trời Ba mươi ba?”. Thiện Tinh nói: “Thưa đức Thế Tôn! Thật đúng như lời ngài, Ni Càn Khổ Ðắc thật chẳng sinh lên trời Ba mươi ba mà nay đang thọ thân của loài quỉ đói Thực Thổ!”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Lời nói thành thật của các đức Phật Như Lai không hai. Nếu nói rằng, Như Lai có nói hai lời thì không có điều đó!” Thiện Tinh liền nói rằng: “Lúc ấy đức Như Lai tuy nói lời nói đó nhưng con đối với việc này đều chẳng sinh niềm tin tưởng”. Này thiện nam tử! Ta cũng thường vì Tỳ kheo Thiện Tinh nói pháp chân thật mà ông đó tuyệt nhiên không có lòng tín thọ. Này thiện nam tử! Tỳ kheo Thiện Tinh tuy lại đọc tụng mười hai bộ Kinh, thu hoạch được bốn thiền... nhưng thậm chí chẳng hiểu được ý nghĩa của một bài kệ, một câu, một chữ lại còn gần gũi bạn ác làm thoái mất bốn thiền. Mất bốn thiền rồi thì sinh ra tà kiến ác, ông ấy nói lên lời như vầy: “Không Phật, không Pháp, không có Niết Bàn! Ông Sa môn Cù Ðàm giỏi biết phép xem tướng nên có thể được biết tâm của người khác!”. Ta vào lúc ấy, bảo Thiện Tinh rằng: “Lời nói pháp của ta thì đầu tiên tốt, khoảng giữa tốt và về sau cũng tốt. Lời nói ấy xảo diệu, chữ nghĩa chân chính. Lời nói không xen tạp thành tựu đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh!” Tỳ kheo Thiện Tinh lại nói rằng: “Ðức Như Lai tuy lại vì con nói pháp mà con chân thật cho là không có nhân quả!”. Này thiện nam tử! Nếu ông chẳng tin việc như vậy thì hiện nay Tỳ kheo Thiện Tinh ở gần sông Ni Liên Thiền, có thể đi chung đến hỏi!

Bấy giờ đức Như Lai liền cùng với Bồ tát Ca Diếp đi đến chỗ của Thiện Tinh. Tỳ kheo Thiện Tinh từ xa thấy đức Phật đến, thấy rồi liền sinh lòng tà ác. Do lòng ác nên thân sống của ông bị hãm vào ngục A tỳ.

Ðức Phật nói tiếp:

- Này thiện nam tử! Tỳ kheo Thiện Tinh tuy vào vô lượng bảo tụ của Phật Pháp mà trống rỗng, không thu hoạch được gì, thậm chí chẳng được sự lợi ích của một pháp vì buông lung và theo ác tri thức. Ví như có người tuy vào biển cả, thấy nhiều mọi thứ báu mà không được gì vì buông lung. Lại như vào được biển tuy thấy bảo tụ (đống báu), rồi tự giết nhau mà chết, hoặc bị quỉ ác La sát giết chết. Tỳ kheo Thiện Tinh cũng lại như vậy, vào Phật pháp rồi thì bị sự giết hại của đại quỉ La sát Ác Tri thức. Này thiện nam tử! Vậy nên Như Lai do thương xót nên thường nói nhiều những sự buông lung của ông Thiện Tinh. Này thiện nam tử! Nếu vốn bần cùng thì ở chỗ người này tuy sinh thương xót nhưng lòng ấy mỏng. Nếu vốn cự phú thì sau khi mất của cải mà ở chỗ người này sinh ra thương xót thì lòng ấy dày. Tỳ kheo Thiện Tinh cũng lại như vậy, tuy thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, thu hoạch được bốn thiền nhưng về sau thoái mất rất đáng thương xót. Vậy nên ta nói nhiều những phóng dật của Tỳ kheo Thiện Tinh. Vì nhiều phóng dật nên cắt đứt các căn lành. Những đệ tử của ta, người có thấy nghe thì đối với người này không ai chẳng sinh lòng thương xót nặng nề như người giàu lúc đầu về sau mất của. Ðã nhiều năm ta thường cùng với Thiện Tinh chung nhau theo đuổi mà ông đó tự sinh ra lòng tà ác mà do tà ác nên chẳng bỏ ác kiến. Này thiện nam tử! Ta từ trước đến nay nếu thấy ông Thiện Tinh này có một chút căn lành như sợi lông cọng tóc thì nhất định ta chẳng huyền ký rằng, ông đó đoạn tuyệt căn lành, là nhất xiển đề, hạng người thấp hèn, trụ kiếp địa ngục. Do ông ấy tuyên nói không nhân, không quả, không có tác nghiệp nên ta mới huyền ký rằng, người đó vĩnh viễn cắt đứt thiện căn, là nhất xiển đề, hạng người thấp hèn, trụ kiếp địa ngục. Này thiện nam tử! Ví như có người chìm trong chuồng xí (cầu tiêu), có bậc thiện tri thức dùng tay kéo nâng lên mà níu được đầu tóc thì liền kéo ra khỏi, nhưng tìm lâu chẳng được vậy mới ngưng ý tìm kiếm. Ta cũng như vậy, tìm thấy chút xíu căn lành của Thiện Tinh thì liền muốn cứu vớt. Nhưng ta trọn ngày tìm kiếm mà thậm chí chẳng được chút xíu căn lành như sợi lông cọng tóc. Vậy nên ông chẳng được cứu vớt khỏi địa ngục ấy.

Bồ tát Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai vì sao huyền ký ông đó sẽ đọa vào địa ngục A tỳ?

- Này thiện nam tử! Có nhiều quyến thuộc của Tỳ kheo Thiện Tinh đều gọi Thiện Tinh là Alahán, là được đạo quả. Ta muốn hủy hoại lòng tà ác đó nên huyền ký rằng: Ông Thiện Tinh đó do phóng dật nên đọa vào địa ngục. Này thiện nam tử! Ông nay phải biết, lời nói của Như Lai chân thật không hai. Vì sao vậy? - Vì nếu lời ký của Phật là sẽ đạo vào địa ngục, mà nếu chẳng đọa thì không có điều này. Lời ký biệt của Thanh Văn, Duyên Giác thì có hai thứ, hoặc hư dối, hoặc chân thật. Như ông Mục Kiền Liên, ở tại nước Ma Dà Ðà, bảo khắp mọi người rằng, lùi sau bảy ngày trời sẽ tuông mưa mà hết thời hạn trời chẳng mưa. Ông lại ký biệt rằng, con trâu cái sẽ sinh con nghé trắng, đến khi con trâu ấy sinh thì sinh ra con nghé loang lổ, ký sinh nam thì sau sinh ra nữ!. Này thiện nam tử! Tỳ kheo Thiện Tinh thường vì vô lượng những chúng sinh tuyên nói rằng, tất cả không quả báo thiện ác. Khi ấy ông đã cắt đứt vĩnh viễn tất cả căn lành, thậm chí không có chút xíu như sợi lông cọng tóc. Này thiện nam tử! Ta biết từ lâu Tỳ kheo Thiện Tinh này sẽ cắt đứt căn lành. Do vậy nên ta ở chung trọn hai mươi năm nuôi dưỡng, tu hành chung. Nếu ta rời xa chẳng gần gũi tả hữu thì người này sẽ dạy cho vô lượng chúng sinh tạo tác nghiệp ác. Ðó gọi là lực giải thứ năm của Như Lai.

- Thưa đức Thế Tôn! Bọn nhất xiển đề vì nhân duyên gì mà không có thiện pháp?

- Này thiện nam tử! Bọn nhất xiển đề đoạn tuyệt căn lành. Chúng sinh có tín, v.v... năm căn mà bọn nhất xiển đề thì đoạn diệt vĩnh viễn. Do nghĩa này mà giết hại một con kiến còn bị tội sát sinh nhưng giết chết nhất xiển đề thì không có tội sát sinh.

- Thưa đức Thế Tôn! Nhất xiển đề thì nhất định không thiện pháp. Vậy nên gọi là nhất xiển đề sao?

Ðức Phật dạy rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy!

- Thưa đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh có ba thứ thiện. Ðó là thiện quá khứ, thiện vị lai, thiện hiện tại. Bọn nhất xiển đề cũng chẳng thể đoạn dứt thiện pháp của vị lai thì làm sao nói rằng, đoạn các thiện pháp gọi là nhất xiển đề vậy?

- Này thiện nam tử! Ðoạn có hai thứ: Một là hiện tại diệt. Hai là hiện tại chướng ngại đến vị lai. Bọn nhất xiển đề đủ cả hai thứ đoạn này. Vậy nên ta nói rằng, đoạn dứt các căn lành. Này thiện nam tử! Ví như có người chìm trong chuồng xí chỉ có đầu một sợi tóc, cọng lông chưa chìm. Tuy còn đầu một sợi tóc, cọng lông chưa chìm mà đầu một sợi lông chẳng thể thấy được thân. Bọn nhất xiển đề cũng lại như vậy, tuy đời vị lai sẽ có thiện căn mà chẳng thể cứu thoát khỏi khổ của địa ngục. Ðời vị lai tuy có thể cứu vớt nhưng đời hiện tại thì điều đó không có. Vậy nên gọi là chẳng thể cứu tế. Do nhân duyên Phật tính nên có thể được cứu. Phật tính thì chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại. Vậy nên Phật tính chẳng thể đoạn được. Như hạt giống mục nát thì chẳng thể mọc mầm. Nhất xiển đề cũng lại như vậy. - Thưa đức Thế Tôn! Bọn nhất xiển đề chẳng đoạn dứt Phật tính mà Phật tính cũng thiện thì làm sao nói rằng, đoạn dứt tất cả thiện pháp?

- Này thiện nam tử! Nếu các chúng sinh trong đời hiện tại có Phật tính thì chẳng được gọi là nhất xiển đề. Như tính ngã của chúng sinh trong thế gian, Phật tính là thường, ba đời chẳng nhiếp lấy. Ba đời nếu nhiếp lấy thì gọi là vô thường. Phật tính vị lai do sẽ thấy nên nói rằng, chúng sinh đều có Phật tính. Do nghĩa này nên Bồ tát Thập Trụ trang nghiêm đầy đủ mới được thấy chút ít.

Bồ tát Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Phật tính thường giống như hư không thì vì sao đức Như Lai nói rằng, vị lai? Nếu đức Như Lai nói nhất xiển đề không có thiện pháp thì bọn nhất xiển đề đối với người đồng học, đồng sư, cha mẹ, thân tộc, vợ con của họ há sẽ chẳng sinh lòng ái niệm sao? Nếu bọn ấy sinh lòng đó thì chẳng phải là thiện ư?

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông hỏi vấn đề ấy hay lắm! Phật tính giống như hư không, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại! Tất cả chúng sinh có ba thứ thân. Ðó là thân quá khứ, thân vị lai và thân hiện tại. Thân chúng sinh vị lai trang nghiêm đầy đủ thanh tịnh thì được thấy Phật tính. Vậy nên ta nói Phật tính vị lai. Này thiện nam tử! Ta vì chúng sinh hoặc khi nói nhân là quả, hoặc khi nói quả là nhân. Vậy nên trong Kinh nói mạng là ăn, thấy sắc là xúc. Thân vị lai tịnh nên nói Phật tính.

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói mà nghĩa như vậy thì vì sao nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính?

- Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh tuy hiện tại Không nhưng chẳng thể nói là Không. Như tính hư không tuy không hiện tại nhưng chẳng được nói là Không. Tất cả chúng sinh tuy lại vô thường mà Phật tính này thường trụ không biến đổi. Vậy nên ở trong Kinh này ta nói rằng, Phật tính của chúng sinh chẳng phải trong, chẳng phải ngoài giống như hư không chẳng phải trong, chẳng phải ngoài. Như hư không ấy có trong ngoài thì hư không chẳng gọi là một, là thường, cũng chẳng được nói rằng, tất cả chỗ có. Hư không tuy lại chẳng phải trong, chẳng phải ngoài mà các chúng sinh đều có nó. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy. Như lời ông nói, bọn nhất xiển đề có thiện pháp thì nghĩa này không đúng. Vì sao vậy? - Vì bọn nhất xiển đề nếu có nghiệp thân, nghiệp miệng, nghiệp ý, nghiệp thủ (lấy), nghiệp cầu, nghiệp thí, nghiệp giải, v.v... những nghiệp như vậy thì đều là nghiệp tà. Vì sao vậy? - Vì chẳng cầu nhân quả vậy. Này thiện nam tử! Như quả, rễ, thân, cành, lá, hoa... của cây Ha lê lặc đều đắng, nghiệp của nhất xiển đề cũng lại như vậy.

- Này thiện nam tử! Như Lai biết đầy đủ các căn, lực. Vậy nên Như Lai giỏi có thể phân biệt chúng sinh thượng căn, trung căn, hạ căn. Như Lai có thể biết người này chuyển đổi hạ căn trở thành trung căn, có thể biết người này chuyển đổi trung căn trở thành thượng căn, có thể biết người này chuyển đổi thượngï căn trở thành trung căn, có thể biết người này chuyển đổi trung căn trở thành hạ căn. Vậy nên ông phải biết là căn tính của chúng sinh không có quyết định. Do không quyết định nên hoặc đoạn dứt thiện căn mà đoạn rồi thì sinh trở lại. Nếu căn tính của những chúng sinh định thì nhất định chẳng trước đoạn dứt và đoạn rồi lại sinh ra, cũng chẳng nên nói rằng, bọn nhất xiển đề rơi vào địa ngục sống lâu một kiếp. Này thiện nam tử! Vậy nên Như Lai nói rằng, tất cả pháp không có tướng quyết định!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai biết đầy đủ các căn, lực thì nhất định biết ông Thiện Tinh sẽ đoạn dứt thiện căn. Do nhân duyên gì mà Ngài cho phép ông ấy xuất gia?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Vào thuở trước, khi ta mới xuất gia thì em ta là Nan Ðà, tùng đệ là A Nan, Ðề Bà Ðạt Ða, con ta là La Hầu La... những người như vậy đều theo ta xuất gia tu đạo. Nếu ta chẳng cho ông Thiện Tinh xuất gia thì người ấy theo thứ tự sẽ được nối ngôi vua. Sức lực ông ấy tự tại thì sẽ hủy hoại Phật pháp. Do nhân duyên này nên ta cho ông ấy xuất gia tu đạo. Này thiện nam tử! Tỳ kheo Thiện Tinh nếu chẳng xuất gia cũng đoạn dứt thiện căn, ở vô lượng đều không có lợi ích. Nay ông ấy xuất gia rồi, tuy đoạn thiện căn nhưng có thể thọ trì giới, cúng dường cung kính bậc kỳ cựu trưởng túc và người có đức, tu tập Sơ thiền cho đến Tứ thiền. Ðó gọi là thiện nhân (nhân duyên thiện). Thiện nhân như vậy có thể sinh ra thiện pháp. Thiện pháp đã sinh thì có thể tu tập đạo. Ðã tu tập đạo thì sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta cho ông Thiện Tinh xuất gia. Này thiện nam tử! Nếu ta chẳng cho Tỳ kheo Thiện Tinh xuất gia thọ giới thì mới chẳng được xưng ta là Như Lai đầy đủ mười lực. Này thiện nam tử! Phật quan sát chúng sinh đầy đủ thiện pháp và bất thiện pháp. Người này tuy đủ hai pháp như vậy nhưng chẳng bao lâu có thể đoạn dứt tất cả thiện căn mà đầy đủ bất thiện căn. Vì sao vậy? - Vì chúng sinh như vậy chẳng gần gũi bạn tốt, chẳng nghe chánh pháp, chẳng khéo tư duy, chẳng theo đúng như pháp tu hành. Do nhân duyên này người ấy có thể cắt đứt thiện căn, đầy đủ bất thiện căn. Này thiện nam tử! Như Lai lại biết người này đời hiện tại hay đời vị lai lúc nhỏ, lúc lớn, khi già sẽ gần gũi bạn tốt, thính thọ chánh pháp: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo thì lúc ấy có thể trở lại sinh ra căn lành. Này thiện nam tử! Ví như có dòng suối cách xóm làng chẳng xa. Nước suối ấy ngon ngọt, đủ tám vị công đức. Có người nóng khát muốn đi đến suối. Có người trí ở bên cạnh quan sát người khát đó nhất định sẽ đi đến chỗ nước không gì nghi ngờ. Vì sao vậy? - Vì không có con đường nào khác. Như Lai Thế Tôn quan sát các chúng sinh cũng lại như vậy. Vậy nên Như Lai gọi là biết đầy đủ các căn lực.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lấy ít đất ở dưới đất đặt lên móng tay mà bảo ngài Ca Diếp Bồ tát rằng:

- Ðất này nhiều hay đất của thế giới mười phương nhiều?

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðất trên móng tay thì chẳng thể sánh với đất sở hữu của mười phương được.

- Này thiện nam tử! Có người xả thân trở lại được thân người, xả thân ba đường ác, được thọ thân người, các căn đầy đủ lành lặn, sinh ra ở trung tâm đất nước, đầy đủ chánh tín, có thể tu tập đạo, đã tu đạo là có thể được giải thoát, được giải thoát rồi là có thể vào Niết Bàn thì như đất trên móng tay. Còn chúng sinh xả thân người rồi được thân ba ác, xả thân ba ác được thân ba ác, các căn chẳng đủ, sinh ra nơi biên địa, tin tà đảo kiến, tu tập tà đạo, chẳng được giải thoát, Niết Bàn thường lạc thì như đất đai sở hữu của thế giới mười phương. Này thiện nam tử! Hộ trì cấm giới, tinh cần chẳng giải đãi, chẳng phạm bốn trọng cấm, chẳng tạo tội ngũ nghịch, chẳng dùng đồ vật của tăng chúng, chẳng làm nhất xiển đề, chẳng cắt đứt căn lành, tin Kinh điển Niết Bàn, v.v... những người như vậy như đất trên móng tay (ít). Phá hủy giới, giải đãi, phạm bốn trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch, dùng đồ vật của tăng chúng, làm nhất xiển đề, cắt đứt các căn lành, chẳng tin Kinh Ðại Niết Bàn này, v.v... những người như vậy như đất đai sở hữu của thế giới mười phương. Này thiện nam tử! Như Lai giỏi biết chúng sinh thượng căn, trung căn và hạ căn như vậy. Vậy nên xưng Phật biết đầy đủ căn lực.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai đầy đủ sự biết căn lực này nên có thể biết sự sai biệt về ngu độn, lanh lợi, hạ căn, trung căn, thượng căn của tất cả chúng sinh, biết các căn của chúng sinh đời hiện tại, cũng biết các căn của chúng sinh đời vị lai. Sau khi đức Phật diệt độ, những chúng sinh như vậy sẽ nói lên như vầy: “Như Lai vào rốt ráo Niết Bàn hoặc chẳng vào rốt ráo Niết Bàn, hoặc nói có ngã, hoặc nói vô ngã, hoặc có “trung ấm”, hoặc không “trung ấm”, hoặc nói có thoái, hoặc nói không thoái, hoặc nói thân Như Lai là hữu vi, hoặc nói thân Như Lai là vô vi, hoặc nói mười hai nhân duyên là pháp hữu vi, hoặc nói mười hai nhân duyên là pháp vô vi, hoặc nói tâm là hữu thường, hoặc nói tâm là vô thường, hoặc nói thọ năm dục lạc có thể chướng ngại đạo, hoặc nói chẳng ngăn ngại đạo, hoặc nói pháp đệ nhất của đời chỉ là Dục giới, hoặc nói là Tam giới, hoặc nói bố thí chỉ là nghiệp của ý, hoặc nói tức là của năm ấm”. Hoặc có người nói rằng, có ba vô vi. Hoặc có người nói rằng, không có ba vô vi. Lại có người nói rằng, hoặc có tạo sắc. Lại có người nói rằng, hoặc không tạo sắc. Hoặc có người nói rằng, có sắc vô tác. Hoặc có người nói rằng, không có sắc vô tác. Hoặc có người nói rằng, có pháp tâm số. Hoặc có người nói rằng, không có pháp tâm số. Hoặc có người nói rằng, có năm thứ hữu. Hoặc có người nói rằng, có sáu thứ hữu. Hoặc có người nói rằng, pháp tám giới trai, người đầy đủ giới Ưu bà tắc thọ được. Hoặc có người nói rằng, người chẳng đủ thọ được. Hoặc có người nói rằng, Tỳ kheo phạm bốn trọng cấm rồi thì giới Tỳ kheo vẫn tồn tại, hoặc nói chẳng tồn tại. Hoặc có người nói rằng, người Tu đà hoàn, người Tư đà hàm, người A na hàm, người A la hán đều được Phật đạo, hoặc nói chẳng được. Hoặc có người nói, Phật tính tức là hữu của chúng sinh, hoặc nói, Phật tính lìa khỏi hữu của chúng sinh. Hoặc có người nói rằng, người phạm bốn trọng cấm, tạo tội ngũ nghịch, nhất xiển đề, v.v... đều có Phật tính, hoặc nói rằng, không. Hoặc có người nói rằng, có Phật mười phương. Hoặc có người nói rằng, không có Phật mười phương... Như đức Như Lai thành tựu đầy đủ việc biết căn lực ấy thì vì sao ngày hôm nay chẳng quyết định nói?

Ðức Phật bảo Bồ tát Ca Diếp rằng:

- Này thiện nam tử! Nghĩa như vậy chẳng phải là nhãn thức biết... cho đến chẳng phải là ý thức biết. Ðó là sự “năng tri” của trí tuệ. Nếu người có trí tuệ thì ta đối với người này nhất định chẳng tạo tác hai lời. Ðó cũng gọi là ta chẳng tạo tác hai lời. Ðối với kẻ vô trí thì ta tạo tác lời nói bất định mà kẻ vô trí này cũng lại cho là ta tạo tác lời nói bất định. Này thiện nam tử! Tất cả nghiệp hạnh sở hữu của Như Lai đều vì điều phục các chúng sinh. Ví như những phương thuốc sở hữu của vị y vương đều vì trị liệu tất cả bệnh khổ. Này thiện nam tử! Như Lai Thế Tôn vì đất nước, vì thời tiết, vì lời nói người khác. Vì người, vì mọi căn nên ở trong một pháp tạo ra hai thứ nói, đối với pháp một tên nói ra vô lượng tên, ở trong một nghĩa nói ra vô lượng tên, ở vô lượng nghĩa nói ra vô lượng tên. Sao gọi là một tên nói ra vô lượng tên? - Giống như Niết Bàn, cũng tên là Niết Bàn, cũng tên là vô sinh, cũng tên là Vô Xuất, cũng tên là Vô Tác, cũng tên là Vô Vi, cũng tên là Quy Y, cũng tên là Hang Ổ (Quật trạch), cũng tên là Giải thoát, cũng tên là Quang Minh, cũng tên là Ðăng Minh, cũng tên là Bỉ Ngạn, cũng tên Vô Úy, cũng tên là Vô Thoái, cũng tên là An Xứ, cũng tên là Tịch Tịnh, cũng tên là Vô Tướng, cũng tên là Vô Nhị, cũng tên là Nhất Hạnh, cũng tên là Thanh Lương, cũng tên là Vô Ám, cũng tên là Vô Ngại, cũng tên là Vô Tránh, cũng tên là Vô Trược, cũng tên là Quảng Ðại, cũng tên là Cam Lộ, cũng tên là Cát Tường... Ðó gọi là một tên tạo ra vô lượng tên.

Sao gọi là một nghĩa nói ra vô lượng tên? - Giống như Ðế Thích. Cũng tên là Ðế Thích, cũng tên là Kiều Thi Ca, cũng tên là Bà Tha Bà, cũng tên là Phú Lan Ðà La, cũng tên là Ma Khư Bà, cũng tên là Nhân Ðà La, cũng tên là Thiên Nhãn, cũng tên là Xá Chỉ Phù, cũng tên là Kim Cương, cũng tên là Bảo Ðỉnh, cũng tên là Bảo Tràng... Ðó là một nghĩa nói ra vô lượng tên.

Sao gọi là vô lượng nghĩa nói ra vô lượng tên? - Như Phật Như Lai tên là Như Lai thì nghĩa khác tên khác, cũng tên là A La Ha thì nghĩa khác tên khác, cũng tên là Tam Miệu Tam Phật Ðà thì nghĩa khác tên khác, cũng tên là Thuyền Sư, cũng tên là Ðạo sư, cũng tên là Chính Giác, cũng tên là Minh Hành Túc, cũng tên là Ðại sư Tử vương, cũng tên là Sa môn, cũng tên là Bà la Môn, cũng tên là Tịch Tịnh, cũng tên là Thí Chủ, cũng tên là Ðáo Bỉ Ngạn, cũng tên là Ðại Y Vương, cũng tên là Ðại Tượng Vương, cũng tên là Ðại Long Vương, cũng tên là Thí Nhãn, cũng tên là Ðại Lực Sĩ, cũng tên là Ðại Vô Úy, cũng tên là Bảo Tụ, cũng tên là Thương Chủ, cũng tên là Ðắc Thoát, cũng tên là Ðại Trượng Phu, cũng tên là Thiên Nhân Sư, cũng tên là Ðại Phân Ðà Lợi, cũng tên là Ðộc Vô Ðẳng Lữ, cũng tên là Ðại Phước Ðiền, cũng tên là Ðại Trí Tuệ Hải, cũng tên là Vô Tướng, cũng tên là Cụ Túc Bát Trí... Như vậy tất cả nghĩa khác, tên khác. Này thiện nam tử! Ðó gọi là trong vô lượng nghĩa nói vô lượng tên.

Lại có một nghĩa nói vô lượng tên. Ðó là Như Ấm, cũng tên là Ấm, cũng tên là Ðiên Ðảo, cũng tên là Ðế, cũng tên là Tứ Niệm Xứ, cũng tên là Tứ Thực (Bốn ăn), cũng tên là Tứ Thức Trụ Xứ, cũng tên là Hữu, cũng tên là Ðạo, cũng tên là Thời, cũng tên là Chúng Sinh, cũng tên là Vi Thế, cũng tên là Ðệ Nhất nghĩa, cũng tên là Tam Tu gọi là Thân, Giới, Tâm, cũng tên là Nhân Quả, cũng tên là Phiền Não, cũng tên là Giải Thoát, cũng tên là Thập Nhị Nhân Duyên, cũng tên là Thanh Văn, Bích Chi Phật, cũng tên là Ðịa Ngục, Ngã Quỷ, Súc Sinh, Nhân Thiên, cũng tên là Quá Khứ, Hiện tại, Vị Lai... Ðó gọi là một nghĩa mà nói vô lượng tên. Này thiện nam tử! Như Lai Thế Tôn vì chúng sinh nên trong rộng nói lược, trong lược nói rộng. Ðệ Nhất Nghĩa Ðế nói là Thế Ðế, nói Thế Ðế pháp là Ðệ Nhất Nghĩa Ðế.

Sao gọi là trong rộng nói lược? - Như bảo các Tỳ kheo rằng: “Ta nay tuyên nói mười hai nhân duyên. Sao gọi là mười hai nhân duyên? Ðó là Nhân quả”.

Sao gọi là trong lược nói rộng? - Như bảo các Tỳ kheo rằng: “Ta nay tuyên nói Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Khổ nghĩa là vô lượng những khổ, Tập nghĩa là vô lượng phiền não, Diệt nghĩa là vô lượng giải thoát, Ðạo nghĩa là vô lượng phương tiện”.

Sao gọi là Ðệ Nhất Nghĩa Ðế nói là Thế Ðế? - Như bảo Tỳ kheo rằng: “Thân này của ta hôm nay có già, bệnh, chết”. Sao gọi là Thế Ðế nói là Ðệ Nhất Nghĩa Ðế? - Như ta bảo ông Kiều Trần Như rằng: “Ông được pháp nên được gọi là A Nhã Kiều Trần Như”. Vậy nên tùy người, tùy ý, tùy lúc nên gọi là Như Lai biết các căn lực. Này thiện nam tử! Ta nếu phải đối với những nghĩa như vậy mà tạo tác lời nói quyết định thì chẳng được xưng ta là Như Lai biết đầy đủ căn lực. Này thiện nam tử! Người có trí phải biết rằng: Sự gánh vác của con hương tượng chẳng phải là sự thắng hơn của con lừa. Sở hạnh của tất cả chúng sinh không lượng vậy nên Như Lai vì họ nói đủ thứ pháp không lường. Vì sao vậy? - Vì chúng sinh có nhiều những phiền não. Nếu giả sử Như Lai chỉ nói về một hạnh thì chẳng gọi là Như Lai thành tựu đầy đủ sự hiểu biết các căn lực. Vậy nên ở trong Kinh khác của ta nói rằng, năm thứ chúng sinh chẳng nên trở lại vì họ nói năm thứ pháp: Vì người chẳng tin thì chẳng khen chánh tín, vì người hủy phạm cấm giới thì chẳng khen trì giới, vì người xan tham thì chẳng khen bố thí, vì người giải đãi thì chẳng khen đa văn, vì người ngu si thì chẳng khen (tán thành) trí tuệ. Vì sao vậy? - Vì người trí nếu vì năm thứ người này mà nói năm việc đó thì phải biết là người nói này chẳng được đầy đủ sự biết các căn lực, cũng chẳng được gọi là thương xót chúng sinh. Vì sao vậy? - Vì năm thứ người này nghe năm việc đó rồi thì sinh lòng bất tín, lòng ác, lòng sân. Do nhân duyên này mà chúng sinh đó ở trong vô lượng đời chịu quả báo khổ. Vậy nên chẳng gọi người nói pháp đó là Bậc thương xót chúng sinh, biết đầy đủ căn lực. Vậy nên trước đây, ở trong Kinh khác, ta bảo ông Xá Lợi Phất rằng: “Như thận trọng không vì người lợi căn rộng nói pháp ngữ, người độn căn lược nói pháp vậy!”. Ông Xá Lợi Phất nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Con chỉ vì thương xót nên nói, chẳng phải là đầy đủ căn lực nên nói!”. Này thiện nam tử! Nói pháp rộng hay lược là cảnh giới của Phật, chẳng phải sự hiểu biết của hàng Thanh Văn, Duyên Giác. Này thiện nam tử! Như lời ông nói, sau khi Phật Niết Bàn, các đệ tử, v.v... đều nói khác thì những người đó đều do nhân duyên điên đảo, chẳng được chánh kiến. Vậy nên họ chẳng thể tự lợi và lợi tha. Này thiện nam tử! Những chúng sinh đó chẳng phải chỉ một tính, một hạnh, một căn, một thứ đất nước, một thiện tri thức. Vậy nên Như Lai vì đủ thứ người đó tuyên nói pháp yếu. Do nhân duyên này mà các đức Phật Như Lai ba đời trong mười phương vì chúng sinh khai thị diễn nói mười hai bộ Kinh. Này thiện nam tử! Như Lai nói mười hai bộ Kinh đó chẳng phải vì tự lợi mà chỉ vì lợi tha. Vậy nên lực thứ năm của Như Lai gọi là Giải lực. Nhờ hai lực này mà Như Lai biết sâu: Người này hiện tại có thể cắt đứt thiện căn, người này đời sau có thể cắt đứt thiện căn, người này hiện tại có thể được giải thoát, người này đời sau có thể được giải thoát... Vậy nên Như Lai gọi là Lực sĩ vô thượng.

Này thiện nam tử! Nếu người nói rằng Như Lai Niết Bàn rốt ráo hay chẳng Niết Bàn rốt ráo thì người này chẳng hiểu được ý của Như Lai nên nói lời như vậy. Này thiện nam tử! Trong núi Hương Sơn này có những năm vạn ba ngàn tiên nhân mà họ đều ở chỗ đức Phật Ca Diếp đời quá khứ, tu các công đức nhưng chưa được chánh đạo và gần gũi các đức Phật thính thọ chánh pháp. Như Lai muốn vì những người đó nên bảo ông A Nan rằng: “Qua ba tháng, rồi ta sẽ Niết Bàn!”. Chư thiên nghe rồi, tiếng ấy đắp đổi vang vọng đến tận Hương Sơn, các tiên nhân nghe rồi liền sinh lòng hối tiếc, nói lời như vầy: “Sao chúng ta được sinh ra trong loài người mà chẳng thân cận đức Phật! Các đức Phật Như Lai ra đời rất khó như hoa Ưu đàm! Chúng ta nay phải đi đến chỗ đức Thế Tôn để thính thọ chánh pháp”. Này thiện nam tử! Bấy giờ năm vạn ba ngàn những tiên nhân liền đến chỗ ta. Ta liền vì họ đáp ứng nói pháp: “Này các đại sĩ! Sắc là vô thường. Vì sao vậy? - Vì nhân duyên của Sắc là vô thường. Nhân vô thường sinh ra sắc thì sao gọi là thường được? Cho đến Thức ta cũng nói như vậy. Lúc bấy giờ, các tiên nhân nghe pháp này rồi tức thời chứng được quả Alahán.

Này thiện nam tử! Thành Câu Thi Na có các lực sĩ nhiều đến ba mươi vạn người mà không có sự ràng buộc. Họ tự thị kiêu mạn, phóng túng sắc lực, thân mạng, của cải, lòng loạn cuồng say. Này thiện nam tử! Ta vì điều phục các lực sĩ nên bảo ông Mục Liên rằng: “Ông phải điều phục những lực sĩ như vậy!”. Ông Mục Kiền Liên cung kính thuận theo lời dạy của ta, ở trong năm năm, dùng đủ cách giáo hóa mà thậm chí chẳng thể khiến cho một lực sĩ điều phục thọ pháp. Vậy nên ta lại vì những lực sĩ kia mà bảo ông A nan rằng: “Qua ba tháng rồi ta sẽ Niết Bàn!”. Này thiện nam tử! Các lực sĩ nghe lời nói này rồi thì tập họp nhau lại, sửa sang đường cái bằng phẳng. Qua ba tháng rồi, ta liền từ nước Tỳ Xá Ly đi đến thành Câu Thi Na. Giữa đường, từ xa thấy một nhóm những lực sĩ, ta liền tự hóa thân làm hình dáng Sa môn, đi đến chỗ lực sĩ, nói lên như vầy: “Các đồng tử làm việc gì vậy?”. Các lực sĩ nghe rồi đều nỗi sân giận mà nói như vầy: “Này Sa môn! Nay ông làm sao mà gọi bọn chúng ta là đồng tử vậy?”. Ta nói rằng: “Các ông, rất đông người, đến ba mươi vạn người đem hết sức lực của thân mình mà chẳng thể dời được hòn đá nhỏ xíu này thì sao mà chẳng gọi là đồng tử ư?”. Các lực sĩ nói rằng: “Nếu ông gọi chúng ta là đồng tử thì phải biết ông tức là đại nhân (người lớn) vậy”. Này thiện nam tử! Lúc ấy, ta dùng hai ngón chân đào hòn đá này ra. Các lực sĩ này thấy việc đó rồi liền ở thân mình phát sinh ý tưởng yếu hèn, lại nói rằng: “Này ông Sa môn! Ông nay lại có thể dời hòn đá này ra khỏi đường đi không?”. Ta nói rằng: “Này các đồng tử! Vì nhân duyên gì mà các ông sửa sang con đường này?”. Các lực sĩ nói rằng: “Này ông Sa môn! Ông chẳng biết sao? Ðức Thích Ca Như Lai sẽ theo con đường này đi đến rừng Ta La để vào Niết Bàn. Do nhân duyên đó nên chúng ta sửa sang”. Ta khen rằng: “Hay thay! Này các đồng tử! Các ông đã phát lòng lành như vậy thì ta sẽ vì các ông trừ khử hòn đá này”. Ta dùng tay nâng cao hòn đá ném lên cao đến tận trời A Ca Ni Sấc. Các lực sĩ thấy hòn đá ở tại hư không đều sinh kinh sợ, liền muốn chạy tứ tán. Ta lại bảo rằng: “Này các lực sĩ! Các ông nay chẳng nên sinh lòng sợ hãi mà muốn tản đi”. Các lực sĩ nói rằng: “Này ông Sa môn! Nếu có thể cứu hộ chúng tôi thì chúng tôi sẽ ở yên. Bây giờ ta lại dùng tay tiếp lấy hòn đá đặt nó vào bàn tay. Lực sĩ thấy rồi thì lòng sinh vui mừng, lại nói rằng: “Thưa ông Sa môn! Hòn đá này là thường hay vô thường vậy?”. Lúc ấy, ta dùng miệng thổi hòn đá thì hòn đá liền tan hoại giống như vi trần. Lực sĩ thấy xong liền nói rằng: “Thưa ông Sa môn! Hòn đá này vô thường!”. Họ liền sinh lòng hổ thẹn mà tự khảo trách rằng: “Làm sao chúng ta cậy nhờ vào tự tại sắc lực thân mạng, của cải mà sinh ra kiêu mạn?”. Ta biết lòng của ho, liền xả bỏ hóa thân trở lại hình dáng cũ mà vì họ nói pháp. Các lực sĩ thấy rồi thì tất cả đều phát tâm Bồ đề.

Này thiện nam tử! Thành Câu Thi Na có một người thợ khéo tên là Thuần Ðà. Người này đời trước ở chỗ đức Phật Ca Diếp phát thệ nguyện lớn rằng: “Khi đức Thích Ca Như Lai vào Niết Bàn thì tôi sẽ phụng thí bữa ăn uống sau cùng!”. Vậy nên ta đang ở nước Tỳ Xá Ly, lệnh cho Tỳ kheo Ưu Bà Ma Na rằng: “Này thiện nam tử! Qua ba tháng rồi thì ta sẽ ở rừng Ta La Song Thọ tại thành Câu Thi Na mà vào Bát Niết Bàn. Ông hãy đến bảo cho ông Thuần Ðà biết”.

Này thiện nam tử! Trong thành Vương Xá có vị tiên ngũ thông tên là Tu Bạt Ðà một trăm hai mươi tuổi, thường tự xưng là người Nhất thiết trí, sinh lòng đại kiêu mạn. Ông này đã từng ở chỗ vô lượng Phật đời quá khứ gieo trồng các thiện căn. Ta cũng vì muốn điều phục người đó nên bảo ông A Nan rằng: “Qua ba tháng rồi ta sẽ vào Niết Bàn, ông Tu Bạt nghe rồi sẽ đến chỗ ta, phát sinh lòng tin cung kính, ta sẽ vì ông đó nói đủ thứ pháp. Người ấy nghe rồi sẽ được tận lậu.

Này thiện nam tử! Vua nước La Duyệt Kỳ là Tần Bà Ta La. Thái tử của vua ấy tên là Thiện Kiến do nghiệp nhân duyên nên sinh lòng nghịch ác muốn hại cha mình mà chẳng được thuận tiện. Bấy giờ người ác Ðề Bà Ðạt Ða cũng nhân nghiệp nhân duyên quá khứ cũng lại ở chỗ ta sinh lòng bất thiện muốn hại ta, liền tu ngũ thông, chẳng bao lâu thì thu hoạch được. Ông cùng với thái tử Thiện Kiến chung làm bạn thân hậu và vì thái tử nên hiện làm đủ thứ việc thần thông như: từ chẳng phải cửa mà ra rồi từ cửa mà vào, từ cửa mà vào rồi chẳng phải từ cửa mà ra, hoặc có khi thị hiện thân voi, ngựa, trâu, dê, trai, gái... Thái tử Thiện Kiến thấy rồi liền sinh lòng yêu thích, lòng vui mừng, lòng kính tín. Vì những việc này nên thái tử sắp bày đủ thứ đồ cúng dường mà cúng dường ông đó. Lại nữa, thái tử bạch rằng: “Thưa đại sư Thánh nhân! Tôi nay muốn thấy hoa Mạn Ðà La!”. Ðề Bà Ðạt Ða liền đi đến trời Ba mươi ba, theo người trời đó mà tìm kiếm hoa. Nhưng phước của ông ấy hết nên đều không có ai cho. Ðã chẳng được hoa nên ông suy nghĩ: “Cây Mạn Ðà La không ngã và ngã sở. Nếu ta tự lấy thì sẽ có tội gì?”. Trước khi, ý ông muốn lấy hoa thì liền mất hết thần thông và trở lại thấy thân mình ở tại thành Vương Xá. Lòng ông ấy sinh tàm quý, chẳng thể gặp lại thái tử Thiện Kiến nên lại nghĩ rằng: “Ta nay phải đi đến chỗ đức Như Lai tìm kiếm đại chúng. Ðức Phật nếu cho phép thì ta sẽ tùy ý dạy bảo, kêu gọi, sai bảo ông Xá Lợi Phất, v.v...”. Bấy giờ ông Ðề Bà Ðạt Ða liền đến chỗ ta nói như vầy: Nguyện xin đức Thế Tôn đem đại chúng này giao phó cho con! Con sẽ nói đủ thứ pháp giáo hóa khiến cho họ điều phục”. Ta nói rằng: “Này người ngu si! Ông Xá Lợi Phất, v.v... là những bậc thông minh đại trí, được đời tin phục mà ta còn chẳng đem đại chúng giao phó huống là ông, người ngu si, kẻ ăn đồ nhổ bỏ ư?”. Ðề Bà Ðạt Ða lại đối với ta sinh ra ác tâm bội phần và nói như vầy: “Này ông Cù Ðàm! Ông nay tuy điều phục được đại chúng nhưng thế lực chẳng bao lâu sẽ bị mòn diệt (ma diệt)!”. Nói lời đó rồi thì đại địa tức thời sau lần chấn động, Ðề Bà Ðạt Ða liền ngã lăn ra đất. Ở bên thân ông ấy, gió rất mạnh nổi lên thổi tung những bụi đất và bụi bẩn vùi thây. Ðề Bà Ðạt Ða thấy ác tướng rồi lại nói rằng: “Nếu đời hiện tại thân này của ta nhất định vào địa ngục A Tỳ thì ta cần phải báo cái oán lớn này!”. Ðề Bà Ðạt Ða liền đứng dậy đi đến chỗ của thái tử Thiện Kiến. Thái tử Thiện Kiến thấy rồi liền hỏi: “Thưa Thánh nhân! Vì sao dung nhan ngài tiều tụy có vẻ lo âu vậy?”. Ðề Bà Ðạt Ða nói rằng: “Ta thường như vậy Ngài chẳng biết ư?”. Ông Thiện Kiến đáp rằng: “Nguyện xin ngài nói lên ý nghĩ ấy! Vì nhân duyên gì vậy?”. Ðề Bà Ðạt Ða nói rằng: “Tôi nay cùng ngài đã trở thành rất thân ái. Người ngoài mắng ngài rất là phi lý mà ta nghe được việc này thì há chẳng lo ư?”. Thái tử Thiện Kiến lại nói rằng: “Người trong nước làm sao mà nhục mạ ta?”. Ðề Bà Ðạt Ða nói rằng: “Người trong nước mắng ngài là “Oán chưa sinh”!. Thiện Kiến lại nói rằng: “Vì sao gọi ta là “Óan chưa sinh? Ai tạo ra cái tên này?”. Ðề Bà Ðạt Ða nói rằng: “Khi ngài chưa sinh ra, tất cả thầy tướng đều nói rằng, đứa trẻ này sinh ra rồi sẽ giết cha của nó! Vậy nên người bên ngoại đều gọi ngài là Oán chưa sinh. Tất cả người bên nội một lòng ủng hộ ngài nên gọi ngài là Thiện Kiến! Phu nhân Vi Ðề nghe lời nói này, sinh ra thân ngài rồi, ở trên lầu cao bỏ ngài xuống đất, hủy hoại của ngài một ngón tay. Do nhân duyên này mà người lại gọi ngài là Ba La Lưu Chi. Ta nghe những điều đó rồi lòng sinh ra lo rầu mà lại chẳng thể nói cho ngài biết”. Ðề Bà Ðạt Ða dùng đủ thứ việc ác như vậy dạy bảo ông ấy giết cha. Rằng nếu cha ngài chết thì ta cũng có thể giết chết ông Sa môn Cù Ðàm. Thái tử Thiện Kiến hỏi một vị đại thần tên là Vũ Hạnh rằng: “Ðại vương vì sao đặt tên ta là Vị Sinh Oán?”. Vị đại thần liền vì thái tử nói hết đầu đuôi chuyện ấy đúng như lời của Ðề Bà Ðạt Ða không khác. Thái tử Thiện Kiến nghe rồi liền cùng với đại thần bắt giam vua cha. Bên ngoài thành ông dùng bốn thứ binh mà thủ vệ. Phu nhân Vi Ðề nghe được việc này liền đi đến chỗ vua thì bị người canh giữ vua ngăn chẳng cho vào. Bấy giờ phu nhân sinh lòng sân nhuế liền trách mắng họ. Những người canh giữ liền báo cho thái tử rằng: “Thưa đại vương! Phu nhân của vua cha muốn gặp vua cha, chẳng biết có nên cho không?”. Thiện Kiến nghe rồi lại sinh hờn giận, liền đến chỗ của mẹ, kéo tóc mẹ về trước, vung dao muốn chém. Bấy giờ, ông Kỳ Bà bạch rằng: “Thưa đại vương! Từ khi có nước trở đi, tội tuy rất nặng nhưng chẳng bằng giết nữ nhân, huống là mẹ đẻ mình!”. Thái tử Thiện Kiến nghe lời nói đó rồi, vì Kỳ Bà nên liền buông tha. Ông cho người ngăn dứt nguồn quần áo, đồ nằm, ăn uống, thuốc thang của vua cha, qua bảy ngày rồi thì nhà vua mạng chung. Thái tử Thiện Kiến thấy cha chết rồi mới sinh lòng hối hận. Ðại thần Vũ Hạnh lại dùng đủ thứ pháp tà ác để nói cho vua nghe rằng: “Thưa đại vương! Tất cả nghiệp hạnh đều không có tội thì hôm nay vì sao mà sinh lòng hối hận?”. Kỳ Bà lại nói rằng: “Thưa đại vương! Ngài phải biết là nghiệp như vậy thì tội gồm hai thứ, một là giết vua cha, hai là giết Tu đà hoàn. Tội như vậy thì ngoại trừ đức Phật thì không ai có thể trừ diệt được!”. Vua Thiện Kiến nói rằng: “Ðức Như Lai thanh tịnh không có uế trược, còn người có tội như chúng ta thì làm sao được thấy?”. Này thiện nam tử! Ta biết việc như vậy nên bảo ông A Nan rằng: “Qua ba tháng rồi ta sẽ Niết Bàn!”. Vua Thiện Kiến nghe được liền đến chỗ của ta. Ta vì ông ấy nói pháp tội nặng được nhẹ, thu hoạch được niềm tin vô căn. Này thiện nam tử! Những đệ tử của ta nghe lời nói này rồi chẳng lý giải được ý của ta nên nói rằng, Như Lai quyết định nói Niết Bàn rốt ráo.

Này thiện nam tử! Bồ tát có hai thứ, một là thật nghĩa, hai là giả danh. Bồ tát giả danh nghe ta ba tháng sẽ vào Niết Bàn thì đều sinh thoái tâm mà nói rằng: “Như đức Như Lai kia mà còn không thường, chẳng trụ thì chúng ta làm gì được? Vì việc này nên ở trong vô lượng đời chịu khổ não lớn. Ðức Như Lai Thế Tôn thành tựu đầy đủ vô lượng công đức mà còn chẳng thể hủy hoại được loài ma chết như vậy, huống là bọn chúng ta sẽ có thể hoại được sao?”. Này thiện nam tử! Vậy nên ta vì những Bồ tát như vậy mà nói rằng, Như Lai thường trụ không có biến dịch. Này thiện nam tử! Những đệ tử của ta nghe lời này rồi chẳng hiểu được ý của ta nên quyết định nói rằng, Như Lai nhất định chẳng rốt ráo vào Niết Bàn.

Này thiện nam tử! Có những chúng sinh ở đoạn kiến nói lên lời như vầy: “Thân của tất cả chúng sinh sau khi diệt thì nghiệp quả thiện ác không có người thọ. Ta vì những người đó nói như vầy: “Quả báo thiện ác thật có người thọ!”. Làm sao biết là có? - Này thiện nam tử! Ðời quá khứ tại thành Câu Thi Na, có vị vua tên là Thiện Kiến, khi làm đồng tử trải qua tám muôn bốn ngàn năm, khi làm thái tử trải qua tám muôn bốn ngàn năm và khi lên ngôi vua cũng trải qua tám muôn bốn ngàn năm. Ở riêng một chỗ, ông ngồi suy nghĩ rằng: “Chúng sinh bạc phước, thọ mạng ngắn ngủi, thường có bốn oán đuổi theo mà chẳng tự biết còn buông lung! Vậy nên ta phải xuất gia, tu đạo, đoạn tuyệt bốn oán sinh, già, bệnh, chết”. Ngài liền ra lệnh cho quan Hữu ty, làm bảy ngôi bảo đường ở bên ngoài thành ấy. Xây dựng xong, nhà vua liền bảo quần thần bá quan, phi, hậu, các con, quyến thuộc ở nội cung rằng: “Này các ngươi phải biết, ta muốn xuất gia! Các ngươi có cho không?”. Bấy giờ đại thần và quyến thuộc của vua đều nói rằng: “Hay thay! Thưa đại vương! Hôm nay chính là lúc đó!”. Vua Thiện Kiến đem theo một người sai bảo, rồi một mình lên thượng đường. Nhà vua lại trải qua tám muôn bốn ngàn năm tu tập từ tâm. Nhờ nhân duyên của lòng Từ đó mà về sau tám muôn bốn ngàn đời theo thứ lớp được làm Chuyển Luân Thánh Vương, trong ba mươi đời làm Thích Ðề Hoàn Nhân, trong vô lượng đời làm các tiểu vương. Này thiện nam tử! Vua Thiện Kiến bây giờ đâu phải ai khác ư? Chớ tác khởi sự quan sát ấy mà chính là thân ta đó! Này thiện nam tử! Những đệ tử của ta nghe lời này rồi chẳng hiểu được ý ta nên xướng rằng: “Như Lai quyết định nói có ngã và có ngã sở”. Lại, một thuở, ta vì các chúng sinh nói rằng: “Ngã tức là tính vậy! Như là nhân duyên trong ngoài, mười hai nhân duyên, chúng sinh, ngũ ấm, tâm, giới, thế gian, công đức, nghiệp hạnh, trời tự tại, đời... thì gọi là Ngã. Những đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta nên xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói có Ngã”.

Này thiện nam tử! Lại vào một lúc khác, có một Tỳ kheo đi đến chỗ ta nói như vầy: “Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là Ngã? Ai là Ngã vậy? Ngã duyên gì? “. Ta liền vì vị Tỳ kheo mà nói rằng: “Này Tỳ kheo! Không Ngã và Ngã sở! Nhãn (mắt) tức là vốn không nay có, đã có lại hoàn không. Khi mắt ấy sinh thì không có nơi từ đó đến và khi mắt ấy diệt cũng không có chỗ đi đến. Tuy có nghiệp quả nhưng không có tác giả. Không có người xả ấm và người thọ ấm. Như lời ông hỏi, sao gọi là ngã thì ngã tức là hẹn kỳ vậy. Ai là ngã thì tức là nghiệp vậy. Ngã duyên gì thì tức là Ái vậy. Này Tỳ kheo! Ví như hai tay vỗ vào nhau thì tiếng phát ra trong ấy! Ngã cũng như vậy. Chúng sinh, nghiệp, ái, ba nhân duyên nên gọi là Ngã. Này Tỳ kheo! Sắc của tất cả chúng sinh chẳng phải ngã, trong ngã không sắc, trong sắc không ngã... Cho đến Thức cũng như vậy. Này Tỳ kheo! Những bọn ngoại đạo tuy nói có ngã nhưng nhất định chẳng lìa khỏi ấm. Nếu nói lìa khỏi ấm mà riêng có ngã thì không có điều này. Hành của tất cả chúng sinh như huyễn hóa, như lửa cháy khi nóng. Này Tỳ kheo! Năm ấm đều là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh.

Này thiện nam tử! Bấy giờ, có vô lượng Tỳ kheo quan sát năm ấm này không có ngã và ngã sở mà đắc quả Alahán. Này thiện nam tử! Những đệ tử của ta nghe lời nói này rồi chẳng hiểu được ý ta nên xướng lên rằng, đức Như Lai quyết định nói vô ngã.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh, ta lại nói rằng: “Ba việc hòa hợp thì được thọ thân này. Một là cha, hai là mẹ, ba là trung ấm là ba việc hòa hợp được thọ thân này”. Hoặc khi lại nói:”Người A na hàm hiện Bát Niết Bàn, hoặc ở trung ấm vào Bát Niết Bàn”. Hoặc lại nói rằng: “Thân căn trung ấm đầy đủ rõ ràng đều nhân nghiệp đời trước như đề hồ sạch sẽ”. Này thiện nam tử! Ta hoặc có khi nói rằng: “Chúng sinh tệ ác thọ trung ấm như tấm vải sù sì thô ráp trong thế gian, còn chúng sinh thuần thiện thọ trung ấm như tấm vải trắng mịn sản xuất ở thành ba La Nại”. Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu được ý của ta nên xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói có trung ấm”.

Này thiện nam tử! Ta lại vì những chúng sinh tội nghịch kia mà nói lời rằng: “Người tạo ngũ nghịch, xả thân vào thẳng địa ngục A Tỳ”. Ta lại nói rằng: “Tỳ kheo Ðàn Ma Lưu Chi xả thân vào thẳng địa ngục A Tỳ, ở khoảng giữa ấy không có chỗ dừng tá túc”. Ta lại vì phạm chí Ðộc tử kia nói rằng: “Này phạm chí! Nếu có trung ấm thì có sáu hữu!”. Ta lại nói rằng: “Chúng sinh cõi vô sắc không có trung ấm!”. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu được ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói quyết định không trung ấm”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh, ta lại nói có thoái. Vì sao vậy? - Vì nhân ở vô lượng giải đãi, các Tỳ kheo lười biếng, v.v...chẳng tu đạo. Nói “thoái” là có năm thứ: Một là ưa nhiều chuyện (đa sự) hai là ưa nói việc đời, ba là ưa ngủ nghỉ, bốn là ưa gần kẻ tại gia, năm là ưa du hành nhiều. Do những nhân duyên này nên khiến cho các Tỳ kheo thoái (lui). Nói về nhân duyên thoái lui có hai thứ, một là trong, hai là ngoài. Người Alahán tuy lìa khỏi nội nhân nhưng chẳng lìa khỏi ngoại nhân (nhân duyên bên ngoài). Do nhân duyên bên ngoài nên sinh ra phiền não, mà sinh ra phiền não thì liền thoái mất. Lại có Tỳ kheo tên là Cù Chỉ có đến sáu lần thoái mất. Thoái rồi thì xấu hổ trở lại tiến tu, đến lần thứ bảy thì ông được. Ðược rồi lại sợ mất nên ông dùng dao tự hại mình. Ta lại hoặc nói có lúc giải đãi, hoặc nói có sáu thứ A la hán, v.v... Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu được ý của ta nên xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói có Thoái”.

Này thiện nam tử! Trong kinh lại nói rằng, ví như đốt than thì than chẳng trở lại như cũ, cũng như bình vỡ thì lại không còn bình dùng. Phiền não cũng vậy, A la hán đoạn xong thì chẳng sinh trở lại. Kinh cũng nói rằng, chúng sinh sinh ra phiền não, nhân duyên phàm có ba thứ: Một là chưa đoạn phiền não, hai là chẳng đoạn nhân duyên, ba là chẳng khéo suy nghĩ. Nhưng mà A la hán không có hai nhân duyên là đoạn phiền não và khéo suy nghĩ. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe những lời đó rồi, chẳng hiểu ý của ta nên xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói không thoái”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh, ta nói, thân Như Lai có hai thứ: một là sinh thân, hai là pháp thân. Nói sinh thân thì tức là thân ứng hóa phương tiện. Như thân này thì có thể được nói rằng là sinh, già, bệnh, chết, dài, ngắn, đen, trắng, là đây, là đó, là học hay vô học... Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp hữu vi”.

Pháp thân tức là Thường Lạc Ngã Tịnh, vĩnh viễn lìa khỏi tất cả sinh già bệnh chết, chẳng phải trắng, chẳng phải đen, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải đây, chẳng phải đó, chẳng phải học, chẳng phải vô học... Nếu Phật ra đời và chẳng ra đời thì vẫn thường trụ chẳng động, không có biến dịch. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp Vô vi”.

Này thiện nam tử! Trong Kinh của ta nói rằng, sao gọi là mười hai nhân duyên? Từ Vô minh sinh ra Hành, từ Hành sinh ra Thức, từ Thức sinh ra Danh sắc, từ Danh sắc sinh ra Lục nhập, từ Lục nhập sinh ra Xúc, từ Xúc sinh ra Thọ, từ Thọ sinh ra Ái, từ Ái sinh ra Thủ, từ Thủ sinh ra Hữu, từ Hữu sinh ra Sinh, từ Sinh thì có Lão Tử Ưu khổ. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói mười hai nhân duyên quyết định là hữu vi”.

Ta lại có lúc bảo Dụ Tỳ kheo mà nói lên rằng: “Mười hai nhân duyên có Phật, không Phật, tính tướng thường trụ. Này thiện nam tử! Có mười hai duyên chẳng từ duyên sinh. Có từ duyên sinh chẳng phải mười hai duyên. Có từ duyên sinh cũng mười hai duyên. Có chẳng phải duyên sinh cũng chẳng phải mười hai duyên. Có mười hai duyên chẳng phải duyên sinh nghĩa là mười hai chi của đời vị lai. Có từ duyên sinh chẳng phải mười hai duyên thì nghĩa là năm ấm sở hữu của A la hán. Có từ duyên sinh cũng mười hai duyên thì nghĩa là năm ấm, mười hai nhân duyên sở hữu của người phàm phu. Có chẳng phải duyên sinh chẳng phải mười hai duyên thì nghĩa là hư không Niết Bàn”. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói mười hai nhân duyên quyết định là vô vi”.

Này thiện nam tử! Trong Kinh ta nói: “Tất cả chúng sinh tạo tác nghiệp thiện ác, khi xả thân thì bốn đại ở đây tức thời tan hoại. Người nghiệp thuần thiện thì tâm liền đi lên. Kẻ nghiệp thuần ác thì tâm đi xuống”. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu được ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói tâm quyết định Thường”.

Này thiện nam tử! Vào một thuở, ta vì vua Tần Bà Ta La mà nói rằng: “Này đại vương! Ông phải biết rằng, sắc là vô thường. Vì sao vậy? Vì nó từ nhân vô thường mà được sinh ra. Sắc đó nếu từ nhân vô thường sinh ra thì người trí làm sao mà nói rằng là thường? Nếu sắc là thường thì chẳng nên hoại diệt mà sinh ra các khổ não. Nay ông thấy sắc này tan diệt hư hoại! Vậy nên ông phải biết sắc là vô thường...” cho đến thức cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý của ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói Tâm quyết định đoạn”.

Này thiện nam tử! Trong Kinh ta nói rằng, những đệ tử của ta thọ nhận những hương hoa, vàng bạc, vật báu, vợ con, nô tỳ... trăm thứ vật bất tịnh mà vẫn thu hoạch được Chánh đạo mà được Chánh đạo rồi cũng chẳng rời bỏ. Những đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà quyết định nói rằng: “Ðức Như Lai nói thọ năm dục chẳng phương hại Thánh đạo”.

Lại có một lúc, ta lại nói rằng: “Người tại gia mà được Chánh đạo thì không có điều này”. Này thiện nam tử! Những đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói người thọ năm dục quyết định ngăn trở đạo Chân chính”.

Này thiện nam tử! Trong Kinh ta nói rằng, xa lìa phiền não chưa được giải thoát mà giống như ở Dục giới tu tập pháp đệ nhất của thế gian vậy. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói pháp Ðệ Nhất chỉ là Dục giới”.

Lại nữa, ta nói rằng, pháp noãn (ấm) pháp đỉnh, pháp nhẫn, pháp thế đệ nhất ở tại sơ thiền đến đệ tứ thiền. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói những pháp như vậy ở tại Sắc giới”.

Lại nữa, ta nói rằng, các ngoại đạo, v.v... trước đã đoạn phiền não của bốn thiền, tu tập pháp noãn, pháp đĩnh, pháp nhẫn, pháp thế đệ nhất mà quan sát bốn chân đế thì được quả A na hàm. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói pháp đệ nhất ở tại Vô sắc giới”.

Này thiện nam tử! Trong Kinh ta nói rằng, trong bốn thứ thí có ba thứ tịnh: Một là thí chủ tin nhân, tin quả, tin thí mà người thọ chẳng tin. Hai là người thọ thí tin nhân, quả, thí mà thí chủ chẳng tin. Ba là thí chủ và người thọ cả hai có tin. Bốn là thí chủ và người thọ cả hai chẳng tin. Ðó là bốn thứ thí mà ba thứ đầu là tịnh. Các đệ tử của ta nghe lời nói này rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói thí chỉ là ý”.

Này thiện nam tử! Ta có lúc lại nói rằng, người thí khi thí dùng năm việc thí. Những gì là năm? Một là thí sắc, hai là thí lực, ba là thí an, bốn là thí mạng, năm là thí biện. Do nhân duyên này nên thí chủ trở lại được năm quả báo. Các đệ tử của ta nghe lời nói này rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói thí tức là năm ấm”.

Này thiện nam tử! Ta có lúc tuyên nói rằng, Niết Bàn tức là xa lìa phiền não, tận diệt vĩnh viễn không sót lại nữa. Giống như đèn tắt lại không pháp sinh ra, Niết Bàn cũng vậy. Rằng, hư không thì tức là không sở hữu. Ví như thế gian không sở hữu nên gọi là hư không. Chẳng phải duyên trí diệt tức là không sở hữu. Như hư không kia có thì nên có nhân duyên. Có nhân duyên nên có tận diệt. Do hư không kia không nên không có tận diệt. Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói không có ba vô vi”.

Này thiện nam tử! Có một lúc, ta vì ông Mục Kiền Liên mà nói rằng: “Này Mục Liên! Luận về Niết Bàn thì tức là chương cú, tức là dấu chân, chính là chỗ rốt ráo, chính là vô sở úy, tức là Ðại sư, tức là Ðại Quả, là trí rốt ráo, tức là Ðại Nhẫn Vô Ngại tam muội, là Ðại pháp giới, là vị cam lộ, tức là khó thấy. Này Mục Liên! Nếu nói không Niết Bàn thì làm sao có người sinh ra bài báng thì rơi vào địa ngục”. Này thiện nam tử! Những đệ tử của ta nghe những lời đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói có Niết Bàn”.

Lại vào một lúc khác, ta vì ông Mục Kiền Liên mà nói rằng: “Này Mục Liên! Nhãn (mắt) chẳng bền chắc.. cho đến thân cũng vậy, chúng đều chẳng bền chắc. Vì chẳng bền chắc nên gọi là hư không. Ðồ ăn xuống chỗ xoay chuyển tiêu hóa, tất cả âm thanh, đều gọi là hư không”. Các đệ tử của ta nghe lời nói này rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “ Ðức Như Lai quyết định nói có hư không vô vi”.

Lại vào một lúc khác, ta vì ông Mục Kiền Liên nói rằng: “Này Mục Liên! Có người chưa được quả Tu Ðà Hoàn, khi trụ ở nhẫn pháp thì đoạn được vô lượng quả báo của ba đường ác. Ông phải biết rằng, chẳng từ Trí duyên mà diệt!” Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói “Có” chẳng phải trí duyên diệt”.

Này thiện nam tử! Ta lại vào một lúc khác vì ông Tỳ kheo Bạt Ba nói rằng: “Nếu Tỳ kheo quan sát sắc hoặc quá khứ, hoặc vị lại, hoặc hiện tại, hoặc gần, hoặc xa, hoặc lớn, hoặc nhỏ, v.v... những sắc như vậy chẳng phải ngã và ngã sở. Nếu Tỳ kheo quan sát như vậy rồi thì có thể cắt đứt sắc ái”. Bạt Ba lại nói rằng: “Sao gọi là sắc?” Ta nói rằng: “Bốn đại gọi là sắc, bốn ấm gọi là danh!” Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định nói rằng, sắc chính là bốn đại”.

Này thiện nam tử! Ta lại nói rằng: “Ví như nhân tấm gương thì có hình dáng hiện ra. Sắc cũng như vậy, nhân bốn đại tạo ra. Nào là to, nhỏ, nhám, trơn, xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tròn, tà (xiêng), góc, nhẹ, nặng, lạnh, nóng, đói, khát, khói, mây, bụi, mù... Ðó gọi là tạo sắc giống như tiếng vang và hình dáng”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói có bốn đại thì có tạo sắc thành ra không bốn đại, không có tạo sắc”.

Này thiện nam tử! Thuở xưa có khi vương tử Bồ Ðề nói lời như vầy: “Nếu có Tỳ kheo hộ trì cấm giới mà phát lòng ác thì phải biết lúc đó đã mất giới Tỳ kheo”. Ta thì nói rằng: “Này vương tử Bồ Ðề! Giới có bảy thứ, từ ở thân miệng có vô tác sắc. Do nhân duyên vô tác sắc này nên tâm ấy tuy ở tại trong ác vô ký nhưng chẳng gọi là mất giới mà còn gọi là trì giới. Vì nhân duyên gì gọi là vô tác sắc? Chẳng phải nhân sắc khác thì chẳng tạo tác quả sắc khác. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói có vô tác sắc”.

Này thiện nam tử! Ở Kinh khác, ta lại nói như vầy: “Giới tức là ngăn chận, chế ngự ác pháp. Nếu chẳng làm ác thì đó gọi là Trì giới”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai quyết định tuyên nói không có Vô tác sắc”.

Này thiện nam tử! Ở Krong kinh, ta nói như vầy: “Sắc ấm cho đến thức ấm của Thánh nhân đều là sự phát xuất của nhân duyên vô minh. Tất cả phàm phu cũng lại như vậy. Từ vô minh sinh ra ái thì phải biết là ái này tức là vô minh. Từ ái sinh ra thủ thì phải biết thủ này tức là vô minh ái. Từ thủ sinh ra hữu thì phải biết hữu này tức là vô minh ái thủ. Từ hữu sinh ra thọ thì phải biết thọ này tức là hành hữu. Từ thọ nhân duyên sinh ra danh sắc, vô minh, ái, thủ, hữu, hành, thọ, xúc, thức, lục nhập, v.v... Vậy nên thọ tức là mười hai chi”. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói không có tâm số”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh, ta nói như vầy: “Từ mắt, sắc làm sáng bốn pháp ác dục thì sinh ra nhãn thức (sự nhận thức của mắt). Nói ác dục tức là nói vô minh. Khi tính dục cầu thì gọi là Ái. Ái nhân duyên thủ. Thủ gọi là Nghiệp. Nghiệp nhân duyên Thức. Thức duyên Danh sắc. Danh sắc duyên Lục nhập. Lục nhập duyên Xúc. Xúc duyên Tưởng, Thọ, Ái, Tín, Tinh tấn, Ðịnh, Tuệ, v.v... Những pháp như vậy nhân xúc mà sinh ra, nhưng chẳng phải là xúc. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói có tâm số”.

Này thiện nam tử! Hoặc có khi ta nói rằng, chỉ có một hữu. Hoặc nói rằng, có hai ba bốn năm sáu bảy tám chín cho đến hai mươi lăm cõi hữu. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói có năm cõi hữu, hoặc nói có sáu cõi hữu”.

Này thiện nam tử! Một thuở trước đây, khi ta trụ ở rừng Ni Câu Ðà tại thành Ca Tỳ La Vệ, ông Thích Ma Nam đi đến chỗ ta mà nói như vầy: “Sao gọi là Ưu bà tắc?” Ta liền vì ông trả lời: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân các căn hoàn bị, thọ ba quy y thì đó gọi là Ưu bà tắc vậy”. Ông Thích Ma Nam nói rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là một phần Ưu bà tắc?” Ta đáp rằng: “Nếu thọ ba quy y và thọ một giới thì đó gọi là một phần Ưu bà tắc vậy!”. Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói Giới Ưu bà tắc chẳng thọ đủ được”. Này thiện nam tử! Vào một thuở, ta trụ ở bên sông Hằng, bấy giờ ông Ca Chiên Diên đi đến chỗ ta mà nói như vầy: “Thưa đức Thế Tôn! Con dạy chúng sinh bảo họ thọ Trai pháp (pháp Bát quan trai) hoặc một ngày, hoặc một đêm, hoặc một giờ, hoặc một niệm. Người như vậy có thành Trai giới không vậy?”. Ta nói rằng: “Này Tỳ kheo! Người này được tốt (thiện) chớ chẳng gọi là được Trai!”. Các đệ tử của ta nghe những lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói Bát giới trai thọ đầy đủ mới được”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh ta nói như vầy: “Nếu có Tỳ kheo phạm bốn trọng cấm rồi thì chẳng gọi là Tỳ kheo mà gọi là Tỳ kheo phá, Tỳ kheo vong thất (mất), chẳng lại có thể sinh ra hạt giống mầm thiện. Ví như hạt giống cháy chẳng sinh ra kết quả. Như đầu cây Ða La nếu bị chặt phá thì chẳng sinh ra trái, Tỳ kheo phạm trọng cấm cũng lại như vậy”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói các Tỳ kheo phạm trọng cấm rồi thì mất giới Tỳ kheo.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh ta vì ông Thuần Ðà mà nói về bốn thứ Tỳ kheo, một là rốt ráo đến đạo, hai là thị (bày) đạo, ba là thọ đạo, bốn là ô (lấm bẩn) đạo. Phạm bốn trọng cấm thì tức là ô đạo. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói các Tỳ kheo phạm bốn trọng cấm rồi chẳng mất giới cấm”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh ta bảo các Tỳ kheo rằng: “Một thừa, một đạo, một hạnh, một duyên. Như vậy một thừa... cho đến một duyên có thể vì chúng sinh tạo tác Ðại Tịch Tịnh, đoạn vĩnh viễn khổ của tất cả trói buộc sầu khổ và nhân của khổ, khiến cho tất cả chúng sinh đến với Nhất hữu”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói Tu đà hoàn cho đến A la hán đều được Phật đạo”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh ta nói: “Người Tu đà hoàn lên trời xuống nhân gian, qua lại bảy lần thì liền Bát Niết Bàn. Người Tư đà hàm một lần thọ thân người, trời thì liền Bát Niết Bàn. Người A na hàm thường có năm thứ, hoặc có người trung gian Bát Niết Bàn... cho đến người thượng lưu Bát Niết Bàn. Người A la hán thường có hai thứ, một là hiện tại, hai là vị lai. Hiện tại cũng đoạn phiền não năm ấm, vị lai cũng đoạn phiền não năm ấm”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Như Lai nói Tu đà hoàn cho đến A la hán chẳng được Phật đạo”.

Này thiện nam tử! Ở trong Kinh này, ta nói rằng: “Phật tính có đủ sáu việc, một là Thường, hai là Thật, ba là Chân, bốn là Thiện, năm là Tịnh, sáu là Khả kiến”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói Phật tính của chúng sinh lìa khỏi chúng sinh mà có”.

Này thiện nam tử! Ta lại nói rằng: “Phật tính của chúng sinh giống như hư không. Hư không thì chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải nội, chẳng phải ngoại, chẳng phải là sắc, thanh, hương, vị, xúc tiếp. Phật tính cũng vậy”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói Phật tính của chúng sinh lìa khỏi chúng sinh mà có”.

Này thiện nam tử! Ta lại nói nữa rằng: “Phật tính của chúng sinh giống như Bảo tạng trong nhà người con gái nghèo, như viên ngọc báu Kim Cương trên trán vị lực sĩ, như dòng suối cam lộ của vị Chuyển Luân Thánh Vương”. Các đệ tử của ta nghe lời nói này rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Phật nói Phật tính của chúng sinh lìa khỏi chúng sinh mà có”.

Này thiện nam tử! Ta lại nói rằng: “Người phạm bốn trọng cấm, nhất xiển đề, người bài báng Kinh Phương Ðẳng, người tạo tác tội ngũ nghịch đều có Phật tính. Những chúng sinh như vậy đều không thiện pháp mà Phật tính chính là thiện”. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói Phật tính của chúng sinh lìa khỏi chúng sinh mà có”.

Này thiện nam tử! Ta lại nói rằng: “Chúng sinh tức là Phật tính. Vì sao vậy? Vì nếu lìa khỏi chúng sinh thì chẳng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta cùng với vua Ba Tư Nặc nói về bài dụ con voi. Như người mù nói về voi tuy chẳng được voi nhưng chẳng lìa khỏi voi. Chúng sinh nói sắc cho đến nói thức chính là Phật tính thì cũng lại như vậy tuy chẳng phải Phật tính nhưng chẳng phải chẳng Phật tính. Như ta vì nhà vua nói bài dụ về cây đàn Không Hầu, Phật tính cũng vậy”. Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nghe những lời nói này rồi, chẳng hiểu ý ta mà tạo tác đủ thứ lời nói, như việc người mù hỏi về sữa mà Phật tính cũng vậy. Do nhân duyên này nên hoặc có người nói rằng, người phạm bốn trọng cấm, bài báng kinh Phương Ðẳng, tạo ngũ nghịch tội, nhất xiển đề, v.v... đều có Phật tính, hoặc nói rằng, không! Này thiện nam tử! Ở khắp nơi nơi trong kinh, ta nói rằng: “Một người ra đời nhiều người lợi ích, trong một đất nước có hai vua Chuyển Luân, trong một thế giới có hai Phật ra đời thì không có điều này. Một Tứ Thiên Hạ có tám Tứ Thiên vương... cho đến hai trời Tha Hóa Tự Tại cũng không có điều này. Nhưng ta mới nói từ địa ngục A Tỳ của cõi Diêm Phù Ðề lên đến trời A Ca Ni Sấc. Các đệ tử của ta nghe lời nói đó rồi, chẳng hiểu ý ta mà xướng lên rằng: “Ðức Phật nói không có mười phương Phật”. Nhưng ở trong những kinh Ðại thừa, ta cũng nói có mười phương Phật.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ ba mươi mốt hết -


32/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Hai

PHẨM BỒ TÁT CA DIẾP Thứ Hai Mươi Bốn (tiếp theo)

Này thiện nam tử! Tranh tụng như vậy là cảnh giới của Phật, chẳng phải là sự hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Nếu người đối với vấn đề này sinh ra lòng nghi ngờ thì còn có thể tiêu hoại vô lượng phiền não như núi Tu Di. Nếu người ở trong vấn đề này sinh ra quyết định thì đó gọi là chấp trước.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là chấp trước?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Người như vậy, hoặc theo người khác nghe, hoặc tự tìm ở kinh điển, hoặc người khác dạy bảo cho mà đối với những việc đã nhận được chẳng thể buông bỏ thì đó gọi là chấp trước.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như vậy chấp trước là thiện hay là bất thiện vậy?

- Này thiện nam tử! Như vậy chấp trước chẳng gọi là thiện. Vì sao vậy? Vì chẳng thể tiêu hoại các lưới nghi.

Ngài Ca Diếp lại bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như vậy con người vốn tự chẳng nghi ngờ thì làm sao mà nói rằng chẳng hoại lưới nghi?

- Này thiện nam tử! Luận về chẳng nghi thì tức là nghi vậy!

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu có người cho là người Tu đà hoàn chẳng rơi vào ba ác thì người đó cũng phải gọi là trước, gọi là nghi!

- Này thiện nam tử! Ðó có thể gọi là định, chẳng được gọi là nghi. Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Ví như có người trước thấy người và cây. Sau đó vào ban đêm từ xa thấy rễ cây nhô lên liền phát sinh ý tưởng nghi ngờ là người hay là cây vậy? Này thiện nam tử! Như người trước thấy Tỳ kheo và Phạm chí, lúc sau ở trên đường từ xa thấy Tỳ kheo liền sinh ý tưởng nghi ngờ là Sa môn hay là Phạm chí vậy? Này thiện nam tử! Như người trước thấy trâu và trâu nước, lúc sau từ xa thấy trâu liền sinh ra ý tưởng nghi ngờ là trâu hay là trâu nước vậy? Này thiện nam tử! Tất cả chúng sinh trước thấy hai vật thì về sau liền sinh ra nghi ngờ. Vì sao vậy? Vì tâm chẳng liễu ngộ vậy. Ta cũng chẳng nói người Tu đà hoàn có đoạ vào ba ác, chẳng đọa vào ba ác thì người đó vì sao sinh ra lòng nghi?

Bồ tát Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, cần phải trước thấy rồi nhiên hậu mới nghi. Nhưng có người khi chưa thấy hai thứ vật cũng sinh nghi là sao vậy? Như là Niết Bàn đó! Thưa đức Thế Tôn! Ví như có người trên đường đi gặp vũng nước đục, nhưng chưa từng thấy, mà vẫn sinh nghi ngờ, nước như vậy là sâu hay cạn vậy? Người này chưa thấy thì làm sao sinh nghi?

- Này thiện nam tử! Luận về Niết Bàn thì tức là đoạn khổ, chẳng phải Niết Bàn thì tức là khổ. Thấy của tất cả chúng sinh có hai thứ: Khổ, chẳng phải khổ. Khổ, chẳng phải khổ thì tức là đói khát, nóng lạnh, sân giận, vui mừng, bệnh ốm, yên ổn, già, trẻ, sinh, chết, trói buộc, giải thoát, ân ái biệt ly, oán ghét tụ hội... Chúng sinh thấy rồi liền sinh ra nghi ngờ: “Phải chăng có sự xa lìa rốt ráo khổ não như vậy?”. Vậy nên chúng sinh đối với Niết Bàn mà sinh ra nghi vậy. Theo ý ông nếu cho rằng, người này trước khi đến chưa thấy vũng nước đục mà làm sao sinh ra nghi ngờ thì nghĩa này không đúng. Vì sao vậy? Vì người đó đã thấy trước chỗ khác rồi. Vậy nên ở chỗ này chưa từng đến mà lại sinh ra nghi.

- Thưa đức Thế Tôn! Người này khi trước thấy chỗ sâu, cạn rồi chẳng sinh nghi, đến nay vì sao mà lại sinh nghi?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Vốn chưa đi nên đã sinh ra nghi. Vậy nên ta nói rằng, chẳng rõ nên nghi.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói, nghi tức là chấp trước, chấp trước tức là nghi, là ai vậy?

- Này thiện nam tử! Là người đoạn thiện căn.

Ngài Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Những bọn người nào có thể đoạn thiện căn?

- Này thiện nam tử! Nếu có người thông minh, trí tuệ, căn tính linh lợi, có thể giỏi phân biệt mà xa lìa bạn lành, chẳng nghe chính pháp, chẳng khéo tư duy, chẳng theo đúng như pháp mà trụ thì người như vậy có thể cắt đứt căn lành. Người lìa khỏi bốn việc đó thì lòng tự nghĩ suy: “Không có vật bố thí. Vì sao vậy? Vì thí tức là xả bỏ tài vật (của cải). Nếu bố thí có quả báo thì phải biết thí chủ thường nên nghèo cùng. Vì sao vậy? Vì hạt với quả tương tợ. Vậy nên nói rằng, không nhân không quả”. Nếu nói không nhân không quả như vậy thì đó gọi là cắt đứt căn lành. Người đó lại khởi ý nghĩ: “Thí chủ, người nhận và cả tài vật ba việc đều vô thường, không có đình trụ. Nếu không đình trụ thì làm sao nói rằng, đây là thí chủ, người nhận, tài vật? Nếu không người nhận thì làm sao được quả báo? Do nghĩa này nên không nhân không quả”. Nếu người nói không nhân không quả như vậy thì phải biết người đó có thể cắt đứt căn lành. Người đó lại nghĩ rằng: “Người bố thí khi thí có năm việc thí. Người nhận đã nhận rồi hoặc có khi làm thiện, hoặc làm bất thiện mà thí chủ này cũng lại chẳng được quả thiện hay bất thiện. Như pháp thế gian, từ hạt sinh ra quả, rồi quả trở lại làm hạt. Nhân tức là thí chủ, quả tức là người nhận mà người nhận này chẳng thể dùng pháp thiện hay bất thiện này để khiến cho thí chủ được. Do nghĩa này nên không nhân không quả”. Nếu người nói không nhân không quả như vậy thì phải biết người đó có thể cắt đứt căn lành. Người đó lại nghĩ: “Không có vật thí. Vì sao vậy? Vì vật thí vô ký. Nếu là vô ký thì làm sao mà được quả báo thiện vậy? Không quả báo thiện ác tức là vô ký. Của cải nếu vô ký thì phải biết là không quả báo thiện ác. Vậy nên không thí, không nhân, không quả”. Nêu người nói không nhân không quả như vậy thì phải biết người đó có thể cắt đứt căn lành. Người đó lại nghĩ: “Thí tức là ý. Nếu là ý thì không thấy, không đối tác, chẳng phải là sắc pháp. Nếu chẳng phải là sắc pháp thì làm sao có thể thí. Vậy nên không thí, không nhân, không quả”. Nếu người nói không nhân không quả như vậy thì phải biết người này có thể cắt đứt căn lành. Người đó lại nghĩ: “Thí chủ nếu vì tượng Phật, tượng trời, cha mẹ quá cố mà hành thí thì tức là không người nhận. Nếu không người nhận thì ứng không quả báo. Nếu không quả báo thì đó là không nhân. Nếu không nhân thì đó là không quả”. Nếu người nói không nhân không quả như vậy thì phải biết người này có thể cắt đứt căn lành. Người đó lại nghĩ: “Không cha, không mẹ. Nếu nói cha mẹ là nhân của chúng sinh sinh ra chúng sinh thì theo lý nên thường sinh không có đoạn tuyệt. Vì sao vậy? Vì nhân thường có vậy. Nhưng mà chẳng thường sinh. Vậy nên phải biết là không có cha mẹ”. Lại nghĩ rằng: “Không cha không mẹ. Vì sao vậy? Vì nếu thân chúng sinh nhân cha mẹ mà có thì một người nên đủ hai căn nam và nữ. Nhưng mà không đủ thì phải biết là chúng sinh chẳng phải nhân cha mẹ”. Lại nghĩ rằng: “Chẳng phải nhân cha mẹ mà sinh ra chúng sinh. Vì sao vậy? Vì mắt thấy chúng sinh chẳng giống cha mẹ như là thân sắc, tâm, oai nghi, tiến lùi... Vậy nên cha mẹ chẳng phải là nhân của chúng sinh”. Lại nghĩ rằng: “Tất cả thế gian có bốn thứ không: Một là chưa sinh ra gọi là không như khi viên bùn chưa có công dụng của cái bình. Hai là diệt rồi gọi là không như khi bình vỡ rồi thì đó gọi là không. Ba là đều khác lẫn nhau không như trong trâu không ngựa, trong ngựa không trâu. Bốn là rốt ráo gọi là không như sừng thỏ, lông rùa. Cha mẹ của chúng sinh cũng lại như vậy, đồng với bốn không này. Nếu nói cha mẹ là nhân của chúng sinh thì khi cha mẹ chết, con chẳng nhất định chết. Vậy nên cha mẹ chẳng phải nhân của chúng sinh”. Lại nghĩ rằng: “Nếu nói cha mẹ là nhân của chúng sinh thì nên nhân cha mẹ thường sinh ra chúng sinh. Nhưng mà lại có hóa sinh, thấp sinh. Vậy nên phải biết chẳng phải nhân cha mẹ sinh ra chúng sinh vậy”. Lại nghĩ rằng: “Tự có chúng sinh, chẳng phải nhân cha mẹ mà được sinh trưởng. Ví như chim Khổng tước (công) nghe tiếng sấm động mà liền được có thai. Lại như con sẻ xanh uống nước mắt con sẻ đực mà liền được có thai. Như loài chim mạng mạng (cộng mạng) thấy con trống thì múa mà liền được có thai”. Khi tác khởi những ý niệm này mà người ấy chẳng gặp thiện tri thức thì phải biết người đó có thể cắt đứt căn lành. Có người lại nghĩ rằng: “Tất cả thế gian không có quả báo thiện ác. Vì sao vậy? Vì có những chúng sinh đủ mười thiện pháp, ưa bố thí, siêng tu công đức mà người này cũng lại bị bệnh tật, chết yểu, tài vật tổn thất, nhiều những ưu khổ. Có chúng sinh làm mười điều ác, san tham, tật đố, lười biếng, giải đãi, chẳng tu các điều thiện mà họ được thân yên không bệnh, sống lâu trọn đời, thừa thãi của báu, không các sầu khổ. Vậy nên phải biết là không có quả báo thiện ác”. Họ lại nghĩa rằng: “Ta cũng từng nghe các bậc Thánh nhân nói rằng, có người tu thiện khi mạng chung đọa vào ba đường ác, có người làm ác khi mạng chung được sinh lên cõi người, trời. Vậy nên phải biết là không quả báo thiện, ác”. Họ lại nghĩ rằng: “Tất cả Thánh nhân có hai lối nói, hoặc nói sát sinh được quả báo thiện, hoặc nói sát sinh được quả báo ác. Vậy nên phải biết lời nói của Thánh bất định (chẳng quyết định). Thánh nếu bất định thì ta làm sao định được? Vậy nên phải biết là không quả báo thiện ác”. Họ lại nghĩ rằng: “ Tất cả thế gian không có Thánh nhân. Vì sao vậy? Vì nếu nói là Thánh nhân thì nên được Chính đạo. Khi tất cả chúng sinh đầy đủ phiền não mà tu chính đạo thì phải biết là người tu đó đều có chính đạo và phiền não cùng một lúc. Nếu có cùng một lúc thì phải biết là chính đạo chẳng thể phá kết. Nếu không phiền não mà tu chính đạo thì như vậy sở tác của chính đạo là gì? Vậy nên người đủ phiền não thì đạo chẳng thể hoại, chẳng đủ phiền não thì đạo vô dụng. Vậy nên phải biết là tất cả thế gian không có Thánh nhân”. Họ lại nghĩ rằng: “Vô minh duyên hành... cho đến sinh duyên lão tử, mười hai nhân duyên này, tất cả chúng sinh đều chung có. Tám Thánh đạo thì tính của chúng bình đẳng cũng nên như vậy: Khi một người được thì tất cả nên được, khi một người tu thì nên tất cả khổ diệt. Vì sao vậy? Vì phiền não bình đẳng. Nhưng mà nay thì chẳng được. Vậy nên phải biết là không có Chính đạo”. Họ lại nghĩ rằng: “Thánh nhân đều có pháp đồng với phàm phu như là ăn, uống, đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ nghỉ, vui cười, đói khát, nóng lạnh, ưu sầu, khủng bố... Nếu họ đồng với phàm phu trong những việc như vậy thì phải biết Thánh nhân chẳng được đạo Thánh. nếu được đạo Thánh thì các vị ấy cần phải cắt đứt vĩnh viễn những việc như vậy. Những việc như vậy mà các vị ấy chẳng cắt đứt thì phải biết không có Thánh đạo”. Họ lại nghĩ rằng: “Thánh nhân có thân hưởng thọ niềm vui năm dục, cũng lại nhục mạ đánh đập người, ganh ghét, kiêu mạn, chịu khổ vui, tạo tác nghiệp thiện ác... Do nhân duyên này nên biết không có Thánh nhân. nếu có đạo thì nên cắt đứt việc này. Việc này chẳng cắt đứt thì phải biết là không có đạo”. Họ lại nghĩ rằng: “Người nhiều lân mẫn thì gọi là Thánh nhân. Vì nhân duyên gì gọi là Thánh nhân? Vì nhân duyên đạo nên gọi là Thánh nhân. Nếu tính của đạo là lân mẫn thì nên thương nghĩ đến tất cả chúng sinh chẳng đợi tu rồi nhiên hậu mới được. Như đạo ấy không lân mẫn thì vì sao Thánh nhân nhân được đao Thánh có thể lân mẫn vậy? Vậy nên phải biết là đời không có Thánh đạo”. Họ lại nghĩ rằng: “Tất cả bốn đại chẳng từ nhân sinh mà chúng sinh đều có tính bốn đại này thì chẳng quan sát chúng sinh bên này nên đến, bên kia chẳng nên đến. Nếu có tính Thánh đạo thì nên như vậy. Nhưng mà nay chẳng vậy. Vậy nên phải biết là đời không có Thánh nhân”. Họ lại nghĩ rằng: “Nếu các Thánh nhân có một Niết Bàn thì phải biết là không có Thánh nhân. Vì sao vậy? Vì chẳng thể được vậy. Theo lý của pháp thường trụ thì chẳng thể được, chẳng thể lấy hay bỏ (thủ xả). Nếu các Thánh nhân Niết Bàn nhiều thì tức là vô thường. Vì sao vậy? Vì pháp có thể tính vậy. Niết Bàn nếu khi mỗi một người được thì tất cả nên được. Niết Bàn nếu nhiều thì tức là có biên mà biên (giới) thì làm sao gọi là Thường? Nếu có người nói rằng, thể của Niết Bàn là một mà giải thoát thì nhiều như vòm miệng là một mà răng, lưỡi thì nhiều. Nghĩa lý này chẳng đúng! Vì sao vậy? Vì mỗi một đều sở đắc riêng, chẳng phải tất cả được. Vì cũng có biên nên là ứng với vô thường. Nếu đã vô thường thì làm sao được gọi là Niết Bàn vậy? Niết Bàn nếu không thì ai là Thánh nhân. Vậy nên phải biết là không có Thánh nhân”. Họ lại nghĩ rằng: “Ðạo Thánh nhân chẳng phải nhân duyên được. Nếu đạo Thánh nhân chẳng phải nhân duyên được thì vì sao tất cả chẳng làm Thánh nhân? Nếu tất cả người chẳng phải Thánh nhân thì phải biết là không có Thánh nhân và cả Thánh đạo”. Họ lại nghĩ rằng: “Ðức Thánh nói, chánh kiến có hai nhân duyên, một là từ người khác nghe pháp, hai là bên trong tự suy nghĩ. Hai nhân duyên này nếu từ duyên sinh ra thì cái chỗ từ đó sinh ra lại từ duyên sinh ra. Như vậy đắp đổi có đến vô cùng vậy. Còn nếu hai việc này chẳng từ duyên sinh ra thì tất cả chúng sinh vì sao chẳng được...”. Khi tác khởi những sự quan sát này thì có thể cắt đứt căn lành. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh thấy sâu không nhân, không quả như vậy thì người đó có thể cắt đứt Tín căn, v.v... năm căn. Này thiện nam tử! Người cắt đứt căn lành chẳng phải là người thấp hèn ngu độn, cũng chẳng phải ở trong trời và ba đường ác. Kẻ phá tăng cũng vậy.

Bồ tát Ca Diếp bạch Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Người như vậy thì khi nào sẽ sanh trở lại thiện căn.

Ðức Phật dạy:

- Này Thiện nam tử! Người như vậy có hai trường hợp sinh trở lại thiện căn. Ðó là khi mới vào địa ngục và khi ra khỏi địa ngục.

Này thiện nam tử! Thiện có ba thứ, quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu là quá khứ thì tánh của nó tự diệt. Nhân tuy diệt tận mà quả báo chưa chín, vậy nên không gọi là đoạn quả của quá khứ, đoạn nhân của ba đời, nên gọi là đoạn.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu đoạn nhân của ba đời thì gọi là đoạn thiện căn mà người đoạn thiện căn thì có Phật tính. Như vậy Phật tính chính là quá khứ hay chính là hiện tại hay chính là vị lai hay là khắp ba đời? Nếu là quá khứ thì làm sao gọi là Thường? Phật tính chính là Thường. Vậy nên phải biết chẳng phải là quá khứ. Nếu là vị lai thì làm sao gọi là Thường? Vì sao đức Phật nói tất cả chúng sinh nhất định sẽ được? Nếu nhất định được thì sao nói là đoạn? Nếu là hiện tại thì làm sao lại thường? Vì sao lại nói nhất định sẽ thấy? Ðức Như Lai cũng nói Phật tính có sáu, một là thường, hai là chân, ba là thật, bốn là thiện, năm là tịnh, sáu là khả kiến (có thể thấy). Nếu người đoạn thiện căn có Phật tính thì chẳng được gọi là đoạn thiện căn vậy. Nếu không Phật tính thì làm sao lại nói tất cả chúng sinh đều có Phật tính? Nếu nói rằng, Phật tính cũng có, cũng đoạn thì làm sao đức Như Lai lại nói là Thường?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như Lai Thế Tôn vì chúng sinh nên có bốn thứ đáp, một là định đáp, hai là phân biệt đáp, ba là tùy vấn đáp, bốn là trí (đặt để) đáp.

Này thiện nam tử! Sao gọi là định đáp? Nếu hỏi: Nghiệp ác được quả thiện hay quả bất thiện vậy? Là nên quyết định đáp rằng, được quả bất thiện và thiện cũng như vậy mà đáp. Nếu hỏi: Như Lai có Nhất Thiết Trí không? Là nên quyết định đáp rằng, chính là Nhất Thiết Trí. Nếu hỏi: Phật pháp chính là thanh tịnh chăng? Là nên quyết định đáp rằng, nhất định thanh tịnh. Nếu hỏi: Ðệ tử của Như Lai có đúng như pháp mà trụ không? Là nên quyết định đáp rằng, có đúng như pháp mà trụ. Ðó gọi là định đáp.

Sao gọi là phân biệt đáp? Như lời nói về pháp bốn chân đế của ta. Những gì là bốn? - Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Sao gọi là Khổ đế? Có tám khổ nên gọi là Khổ đế. Sao gọi là Tập đế? Nhân của năm ấm nên gọi là Tập đế. Sao gọi là Diệt đế? Tham dục, sân, si hết rốt ráo nên gọi là Diệt đế. Sao gọi là Ðạo đế? Ba mươi bảy pháp trợ đạo gọi là Ðạo đế. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Sao gọi là tùy vấn đáp? Như lời ta nói, tất cả pháp vô thường. Lại có người hỏi rằng: “Ðức Như Lai Thế Tôn vì pháp gì mà nói đến vô thường?”. Ðáp rằng: “Như Lai vì pháp hữu vi nên nói vô thường”. Ðối đáp về vô ngã cũng vậy. Như lời ta nói, tất cả pháp đốt cháy người khác. Lại hỏi rằng: “Ðức Như Lai Thế Tôn vì pháp gì mà nói tất cả đốt cháy?” Ðáp rằng: “Như Lai vì tham, sân, si nên nói tất cả cháy”.

Này thiện nam tử! Mười lực Như Lai, bốn Vô sở úy, đại Từ đại Bi, ba Niệm xứ, Thủ Lăng Nghiêm, v.v... tám muôn ức các tam muội môn, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp. Ngũ trí ấn, v.v... ba vạn năm ngàn các tam muội môn, Kim Cương định, v.v... bốn ngàn hai trăm các tam muội môn, phương tiện tam muội nhiều vô lượng vô biên, v.v... những pháp như vậy là Phật tính. Phật tính như vậy thì có bảy việc: Một là thường, hai là ngã, ba là lạc, bốn là tịnh, năm là chân, sáu là thật, bảy là thiện. Ðó gọi là phân biệt đáp. Này thiện nam tử! Phật tính của Bồ tát thân sau có sáu việc: Một là thường, hai là tịnh, ba là chân, bốn là thật, năm là thiện, sáu là ít thấy. Ðó là phân biệt đáp. Như trước ông hỏi, người đoạn thiện căn có Phật tính thì người đó cũng có Phật tính Như Lai, cũng có Phật tính thân sau. Hai Phật tính này chướng ngại vị lai nên được gọi là không rốt ráo được, nên được gọi là có. Ðó gọi là phân biệt đáp. Phật tính của Như Lai chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai. Phật tính của thân sau thì hiện tại, vị lai ít có thể thấy nên được gọi là hiện tại. Chưa thấy đủ nên gọi là vị lai. Khi Như Lai chưa được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì nhân của Phật tính cũng là quá khứ, hiện tại, vị lai, còn quả thì chẳng vậy, có quả là ba đời, có quả chẳng phải ba đời. Nhân của Phật tính Bồ tát thân sau cũng là quá khứ, hiện tại, vị lai và quả cũng như vậy. Ðó gọi là phân biệt đáp. Phật tính của Bồ tát Cữu Trụ có sáu thứ. Một là thường, hai là thiện, ba là chân, bốn là thật, năm là tịnh, sáu là khả kiến. Nhân của Phật tính cũng là quá khứ, hiện tại, vị lai và quả cũng như vậy. Ðó gọi là phân biệt đáp. Phật tính của Bồ tát Bát Trụ xuống đến Lục Trụ có năm việc: Một là chân, hai là thật, ba là tịnh, bốn là thiện, năm là khả kiến. Nhân của Phật tính cũng là quá khứ, hiện tại, vị lai và quả cũng như vậy. Ðó gọi là phân biệt đáp. Phật tính của Bồ tát Ngũ Trụ xuống đến Sơ Trụ có năm việc: Một là chân, hai là thật, ba là tịnh, bốn là khả kiến, năm là thiện hay bất thiện. Này thiện nam tử! Năm thứ Phật tính, sáu thứ Phật tính, bảy thứ Phật tính này thì người đoạn thiện căn nhất định sẽ được nên được nói rằng có. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Nếu có người nói rằng: “Người đoạn thiện căn thì quyết định có Phật tính hay quyết định không có Phật tính. Ðó gọi là Trí đáp.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nghe mà không trả lời mới gọi là trí đáp. Ngày nay đức Như lai dùng nhân duyên gì để đáp mà gọi là trí đáp.

Này thiện nam tử! Ta cũng không nói trí mà chẳng đáp, mới gọi là trí đáp.

Này thiện nam tử! Như vậy trí đáp lại có hai thứ, một là chận đứng, hai là không để ý, theo nghĩa này nên gọi là trí đáp.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức Phật nói thì sao gọi là Nhân cũng là quá khứ, hiện tại, vị lai? Quả cũng quá khứ, hiện tại, vị lai? Chẳng phải là quá khứ, hiện tại, vị lai?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Năm ấm có hai thứ, một là nhân, hai là quả. Là nhân thì năm ấm là quá khứ, hiện tại, vị lai. Là quả thì năm ấm cũng là quá khứ, hiện tại, vị lai và cũng chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai. Này thiện nam tử! Kiết sử của tất cả vô minh phiền não đều là Phật tính. Vì sao vậy? Vì nhân của Phật tính. Từ vô minh, hành... và các phiền não được năm ấm thiện thì đó gọi là Phật tính. Từ năm ấm thiện cho đến chứng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ở trong Kinh, trước ta đã nói, Phật tính của chúng sinh như máu với sữa hoàn lẫn. Máu tức là vô minh, hành, v.v... tất cả phiền não. Sữa tức là năm ấm thiện vậy. Vậy nên ta nói, từ các phiền não và năm ấm thiện được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Như thân chúng sinh đều từ tinh huyết mà được thành tựu, Phật tính cũng vậy. Người Tu đà hoàn, người Tư đà hàm vì đoạn ít phiền não nên Phật tính như sữa. Phật tính của người A na hàm như cao sữa (lạc), của người A la hán giống như sinh tô (váng sữa sống), của hàng từ Bích Chi Phật cho đến Bồ tát Thập Trụ giống như thục tô (váng sữa chín). Phật tính của Như Lai giống như đề hồ. Này thiện nam tử! Phiền não hiện tại vì làm chướng ngại nên khiến cho các chúng sinh chẳng được nhìn thấy. Như trong núi Hương có loại cỏ Nhẫn nhục mà chẳng phải tất cả trâu đều có thể được ăn, Phật tính cũng vậy. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Năm thứ, sáu thứ, bảy thứ Phật tính mà nếu vị lai có thì làm sao nói rằng, người đoạn thiện căn có Phật tính vậy?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như các chúng sinh có nghiệp quá khứ mà nhân nghiệp này nên chúng sinh hiện tại được thọ quả báo. Còn chúng sinh có nghiệp vị lai, do chưa sinh ra nên nhất định chẳng sinh ra quả báo. Có phiền não hiện tại hoặc không phiền não thì tất cả chúng sinh nên phải rõ ràng hiện thấy Phật tính. Vậy nên người đoạn thiện căn do nhân duyên phiền não đời hiện tại có thể cắt đứt căn lành. Những đời vị lai nhờ nhân duyên của lực Phật tính nên trở lại sinh ra thiện căn. Bồ tát Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Vị lai làm sao có thể sinh ra thiện căn?

- Này thiện nam tử! Giống như đèn và mặt trời tuy lại chưa sinh ra nhưng cũng có thể phá bóng tối, sự sinh của vị lai có thể sinh ra chúng sinh. Phật tính vị lai cũng lại như vậy. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu nói năm ấm là Phật tính thì làm sao nói rằng, Phật tính của chúng sinh chẳng phải trong, chẳng phải ngoài?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Vì nhân duyên gì mà ông mất ý như vậy? Ta trước chẳng đã nói Phật tính của chúng sinh là trung đạo đó sao?

Ngài Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con thật chẳng mất ý! Nhưng do việc chúng sinh ở trung đạo này, con chẳng thể lý giải nên hỏi vấn đề ấy thôi!

- Này thiện nam tử! Chúng sinh chẳng hiểu tức là trung đạo: Hoặc khi có hiểu, hoặc có chẳng hiểu! Này thiện nam tử! Ta vì chúng sinh được khai giải mà nói rằng, Phật tính chẳng phải trong, chẳng phải ngoài. Vì sao vậy? Vì chúng sinh phàm phu hoặc nói rằng, Phật tính trụ ở trong năm ấm như trong đồ đựng có trái cây. Hoặc nói rằng, lìa khỏi năm ấm có Phật tính giống như hư không. Vậy nên Như Lai nói ở trung đạo, Phật tính chẳng phải trong sáu nhập chẳng phải ngoài sáu nhập mà trong ngoài hợp lại nên gọi là trung đạo. Vậy nên Như Lai tuyên nói Phật tính tức là Trung đạo, chẳng phải trong chẳng phải ngoài nên gọi là Trung đạo. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng phải trong chẳng phải ngoài? Này thiện nam tử! Hoặc nói rằng, Phật tính tức là ngoại đạo. Vì sao vậy? Vì Ðại Bồ tát ở vô lượng kiếp, ở tại trong ngoại đạo, cắt đứt các phiền não, điều phục lòng mình, giáo hóa chúng sinh rồi nhiên hậu mới được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do đó Phật tính tức là ngoại đạo. Hoặc nói rằng, Phật tính tức là nội đạo. Vì sao vậy? Vì Bồ tát tuy ở trong vô lượng kiếp, tu tập ngoại đạo nhưng nếu lìa khỏi nội đạo thì chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do đó Phật tính tức là nội đạo. Vậy nên Như Lai ngăn chận quan niệm nhị biên này mà nói rằng, Phật tánh chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng gọi là trong ngoài, gọi là Trung đạo. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Lại nữa, này thiện nam tử! Hoặc nói rằng, Phật tính tức là thân Như Lai Kim Cương với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Vì sao vậy? Vì chẳng hư dối vậy. Hoặc nói rằng, Phật tính tức là Mười lực, bốn Vô sở úy, Ðại từ Ðại bi và bốn Niệm xứ, Thủ Lăng Nghiêm, v.v... tất cả tam muội. Vì sao vậy? Vì nhân tam muội này mà sinh ra thân Kim Cương ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Vậy nên Như Lai ngăn chận quan niệm nhị biên này mà nói rằng, Phật tính chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng gọi là trong ngoài, gọi là Trung đạo. Ðó gọi là phân biệt đáp.

Lại nữa, này thiện nam tử! Hoặc có người nói rằng, Phật tính tức là bên trong tư duy tốt. Vì sao vậy? Vì lìa khỏi tư duy tốt (thiện) thì chẳng thể được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên Phật tính tức là bên trong tư duy tốt. Hoặc có người nói rằng, Phật tính tức là theo người khác nghe pháp. Vì sao vậy? Vì theo người khác nghe pháp thì có thể bên trong tư duy tốt. Nếu chẳng nghe pháp thì không có tư duy. Do đó Phật tính tức là theo người khác nghe pháp. Vậy nên Như Lai ngăn chận quan niệm nhị biên này (hai bên) mà nói rằng, Phật tính chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng gọi là nội ngoại, gọi là Trung đạo. Lại nữa, này thiện nam tử! Lại có người nói rằng, Phật tính là ngoài như là Ðàn Balamật mà từ Ðàn Balamật được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Do đó nói rằng, Ðàn Balamật tức là Phật tính. Hoặc có người nói rằng, Phật tính là trong như là năm Balamật (còn lại). Vì sao vậy? Vì lìa khỏi năm việc này thì phải biết là không có nhân quả Phật tính. Do đó nói rằng, năm Balamật tức là Phật tính. Vậy nên Như Lai ngăn chận quan niệm nhị biên này mà nói rằng, Phật tính chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng trong cũng ngoài. Ðó gọi là Trung đạo. Lại nữa, này thiện nam tử! Hoặc có người nói rằng, Phật tính ở trong ví như viên ngọc báu trên trán người lực sĩ. Vì sao vậy? Vì Thường Lạc Ngã Tịnh như viên ngọc báu. Do đó nói rằng, Phật tính ở bên trong. Hoặc có người nói rằng, Phật tính ở bên ngoài như bảo tàng của người nghèo. Vì sao vậy? Vì do phương tiện nên mới được thấy. Phật tính cũng vậy, ở bên ngoài chúng sinh, phải dùng phương tiện mới được thấy nó. Vậy nên Như Lai ngăn chận quan niệm nhị biên này mà nói rằng, Phật tính chẳng phải trong chẳng phải ngoài, cũng trong cũng ngoài. Ðó gọi là Trung đạo.

Này thiện nam tử! Phật tính của chúng sinh chẳng phải có chẳng phải không. Sở dĩ vì sao? Vì Phật tính tuy có nhưng chẳng phải như hư không. Vì sao vậy? Vì hư không của thế gian tuy dùng vô lượng phương tiện khéo léo nhưng chẳng thể được thấy mà Phật tính có thể thấy. Vậy nên tuy có nhưng chẳng phải như hư không. Phật tính tuy không nhưng chẳng đồng với sừng thỏ. Vì sao vậy? Vì lông rùa, sừng thỏ tuy dùng vô lượng phương tiện khéo léo vẫn chẳng thể được sinh ra mà Phật tính có thể sinh ra. Vậy nên Phật tính tuy không nhưng chẳng đồng với sừng thỏ. Vậy nên Phật tính chẳng phải có chẳng phải không mà cũng có cũng không. Sao gọi là có? Tất cả đều có! Những chúng sinh này chẳng đoạn, chẳng diệt như ngọn đèn cháy sáng, cho đến được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðó gọi là có. Sao gọi là không? Tất cả chúng sinh hiện tại chưa có tất cả Phật pháp Thường Lạc Ngã Tịnh. Vậy nên gọi là không. Có không hợp lại nên tức là Trng đạo. Vậy nên Phật nói rằng, Phật tính của chúng sinh chẳng phải có chẳng phải không. Này thiện nam tử! Nếu có người hỏi rằng: “Trong chủng tử này có quả hay không có quả vậy?” thì nên quyết định đáp rằng: “Cũng có cũng không!” Vì sao vậy? Vì lìa khỏi chủng tử ra thì chẳng thể sinh ra quả. Vậy nên gọi là có. Chủng tử chưa mọc mầm nên gọi là không. Do nghĩa này nên cũng có cũng không. Sở dĩ vì sao? Vì thời tiết có khác nhưng thể ấy là một. Phật tính của chúng sinh cũng lại như vậy. Nếu nói rằng, trong chúng sinh có Phật tính riêng khác thì nghĩa đó chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì chúng sinh tức là Phật tính, Phật tính tức là chúng sinh mà những do thời tiết khác mà có tịnh hay bất tịnh. Này thiện nam tử! Nếu có người hỏi rằng: “Hạt giống này có thể sinh ra quả không? Quả này có thể sinh ra hạt không?” Thì nên quyết định đáp rằng: “Cũng sinh, cũng chẳng sinh!”

- Thưa đức Thế Tôn! Như người đời nói trong sữa có cao sữa (lạc), thì nghĩa đó ra sao?

- Này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, trong sữa có cao sữa thì đó gọi là chấp trước. Nếu nói không có cao sữa thì gọi là hư vọng. Lìa khỏi hai việc này thì nên quyết định nói rằng, cũng có cũng không. Vì sao gọi là có? Vì từ sữa sinh ra cao sữa. Nhân tức là sữa, quả tức là cao sữa. Ðó gọi là có. Sao gọi là không? Sắc vị đều khác, cách dùng chẳng đồng: Bệnh nóng uống sữa, bệnh lạnh uống cao sữa. Sữa sinh ra bệnh lạnh, cao sữa sinh ra bệnh nóng. Này thiện nam tử! Nếu nói trong sữa có tính của cao sữa thì sữa tức là cao sữa, cao sữa tức là sữa. Nếu tính của chúng là một thì vì nhân duyên gì sữa xuất hiện trước mà cao sữa chẳng sinh ra trước? Nếu có nhân duyên thì tất cả người đời vì sao chẳng nói Còn nếu không nhân duyên thì vì sao cao sữa chẳng xuất hiện trước? Nếu cao sữa chẳng xuất hiện trước thì ai tạo tác theo thứ lớp sữa, cao sữa, váng sữa sống, váng sữa chín, đề hồ? Vậy nên biết là, cao sữa trước không nay có. Nếu trước không nay có thì tức là pháp vô thường. Này thiện nam tử! Nếu có người nói rằng, sữa có tính cao sữa nên có thể sinh ra cao sữa. Nước không tính của cao sữa nên chẳng sinh ra cao sữa, thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì nước và cỏ cũng có tính của sữa và cao sữa. Sở dĩ vì sao? Vì nhân nước và cỏ thì sinh ra sữa và cao sữa. Nếu nói trong sữa quyết định có tính của cao sữa mà nước và cỏ không thì đó gọi là hư vọng. Vì sao vậy? Vì lòng chẳng bình đẳng nên nói hư vọng. Này thiện nam tử! Nếu nói trong sữa quyết định có cao sữa thì trong cao sữa cũng nên quyết định có tính của sữa. Vậy vì nhân duyên gì trong sữa sinh ra cao sữa mà trong cao sữa chẳng sinh ra sữa? Nếu không nhân duyên thì phải biết là cao sữa trước không nay có. Vậy nên người trí nên nói rằng, trong sữa chẳng phải có tính của cao sữa, chẳng phải không tính của cao sữa. Này thiện nam tử! Vậy nên Như Lai, ở trong kinh, nói lời như vầy: “Tất cả chúng sinh quyết có Phật tính”. Ðó gọi là đắm trước. Nếu nói không Phật tính thì đó gọi là hư vọng. Người trí nên nói Phật tính của chúng sinh cũng có cũng không.

Này thiện nam tử! Bốn việc hòa hợp sinh ra nhãn thức. Những gì là bốn? Ðó là mắt, sắc, ánh sáng và dục. Tính của nhãn thức này chẳng phải mắt, chẳng phải sắc, chẳng phải ánh sáng, chẳng phải dục mà từ sự hòa hợp nên liền được sinh ra. Như vậy nhãn thức trước không nay có mà có rồi lại hoàn không. Vậy nên phải biết không có bản tính. Tính của cao sữa trong sữa cũng lại như vậy. Nếu có người nói rằng, nước không tính của cao sữa nên chẳng sinh ra cao sữa vậy nên trong sữa quyết định có tính của cao sữa thì nghĩa này chẳng đúng! Vì sao vậy? Này thiện nam tử! Vì tất cả các pháp khác nhân khác quả, cũng chẳng phải một nhân sinh tất cả quả, chẳng phải tất cả quả từ một nhân sinh ra. Này thiện nam tử! Như từ bốn việc sinh ra nhãn thức thì chẳng thể lại nói từ bốn việc này ứng sinh ra nhĩ thức. Này thiện nam tử! Lìa khỏi phương diện, trong sữa được cao sữa, cao sữa sinh ra váng sữa chăng? Hay được như vậy cần phải có phương tiện? Này thiện nam tử! Kẻ trí chẳng thể thấy, lìa khỏi phương tiện mà từ sữa được cao sữa nghĩa là được sinh ra tô cũng nên lìa khỏi phương tiện như vậy để được! Này thiện nam tử! Vậy nên, ở trong kinh này, ta nói: Nhân sinh nên pháp có, nhân diệt nên pháp diệt! Này thiện nam tử! Như tính của muối là mặn, có thể khiến cho chẳng phải mặn hay khiến cho mặn. Nếu vật chẳng phải mặn trước có tính mặn thì người đời vì sao lại cầu mặn vậy? Nếu trước không tính mặn thì phải biết là trước không nay có, do duyên khác mà được mặn vậy. Nếu nói tất cả vật chẳng mặn đều có tính mặn mà vì nhỏ nên chẳng biết nên do tính mặn nhỏ này có thể khiến cho mặn. Nếu vốn không tính mặn thì tuy lại có muối nhưng chẳng thể khiến cho nó mặn được. Ví như hạt giống tự có bốn đại duyên với bốn đại bên ngoài mà được tăng trưởng mầm chồi, thân cây, cành lá. Tính của muối cũng vậy thì nghĩa này không đúng. Vì sao vậy? Vì vật chẳng mặn trước có tính mặn thì muối cũng nên có tính chẳng mặn nhỏ. Muối này nếu có hai tính như vậy thì vì nhân duyên gì mà lìa khỏi vật chẳng mặn, chẳng thể một mình dùng? Vậy nên biết là muối vốn không hai tính. Như muối tất cả vật chẳng mặn cũng lại như vậy. Nếu nói ngoài bốn đại chủng bên ngoài, sức hạt giống có thể tăng trưởng bốn đại bên trong thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao vậy? Vì nói theo thứ lớp vậy. Chẳng từ phương tiện mà trong sữa được cao sữa, rồi sinh váng sữa cho đến tất cả các pháp đều như vậy, chẳng phải do phương tiện mà được. Bốn đại cũng lại như vậy. Nếu nói từ bốn đại bên ngoài tăng trưởng bốn đại bên trong, chẳng thấy từ bốn đại bên trong tăng trưởng bốn đại bên ngoài. Như trái cây Thi Lợi Sa, trước không hình chất nhưng khi có sao Mão thì trái sinh ra lớn đủ năm tấc (thốn). Quả (trái) như vậy thì thật chẳng nhân vào bốn đại bên ngoài mà lớn.

Này thiện nam tử! Như lời ta nói, mười hai bộ Kinh, hoặc ta theo ý mình mà nói, hoặc theo ý người khác mà nói, hoặc theo ý mình và ý người mà nói.

Sao gọi là theo ý mình nói? Như năm trăm vị Tỳ kheo hỏi ông Xá Lợi Phất: “Thưa đại đức! Ðức Phật nói, nhân của thân là gì đó vậy?”. Ông Xá Lợi Phất nói rằng: “Này các Ðại đức! Các ông cũng đều được Chánh giải thoát thì tự nên biết! Vì duyên gì mới hỏi như vậy?”. Có Tỳ kheo nói rằng: “Thưa Ðại đức! Khi tôi chưa chứng được Chánh Giải thoát thì cho là Ý vô minh tức là nhân của thân. Khi tôi tạo tác sự quan sát này thì được quả A la hán”. Lại có Tỳ kheo nói rằng: “Thưa Ðại đức! Khi tôi chưa chứng được giải thoát chân chính thì cho là Ái vô minh tức là nhân của thân. Khi tôi tác khởi sự quan sát này thì được quả A la hán. Hoặc có vị nói rằng, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, ẩm thực, ngũ dục... tức là nhân của thân. Lúc bấy giờ năm trăm vị Tỳ kheo, mỗi mỗi đều tự nói sự hiểu biết của mình, rồi cùng chung đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân của đức Phật, đi quanh về bên phải ba vòng. Lễ bái xong rồi họ lui về ngồi một bên, đều đem ý nghĩa hiểu biết của mình như trên, hướng về đức Phật mà nói. Ngài Xá Lợi Phất bạch đức Phật rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Những người như vậy thì ai nói đúng? Ai nói chẳng đúng?”. Phật bảo rằng: “ Này Xá Lợi Phất! Hay thay! Hay thay! Mỗi một vị Tỳ kheo đâu chẳng phải chánh thuyết!”. Ngài Xá Lợi Phất bạch rằng: “Thưa đức Thế Tôn! Ý đức Phật thế nào?”. Phật dạy rằng: “Này Xá Lợi Phất! Ta vì chúng sinh cõi Dục nói rằng, cha mẹ tức là nhân của thân!”. Những kinh như vậy gọi là theo ý của mình mà nói.

Sao gọi là theo ý người khác nói? Như ông trưởng giả Ba Sấc La đi đến chỗ của ta nói lên rằng: “Thưa ngài Cù Ðàm! Ngài biết huyễn không? Nếu ngài biết huyễn thì tức là người đại huyễn. Nếu ngài chẳng biết thì chẳng phải Nhất Thiết Trí!”. Ta nói rằng: “Này ông trưởng giả! Người biết huyễn gọi là người huyễn sao?” Ông trưởng giả nói rằng: “Hay thay! Hay thay! Người biết huyễn tức là người huyễn!” Phật nói rằng: “Này ông trưởng giả! Bên trong nước Xá Vệ, vua Ba Tư Nặc, có người Chiên đà la tên là Khí Hư. Ông có biết không?” Ông trưởng giả đáp rằng: “Thưa ông Cù Ðàm! Tôi biết ông đó đã lâu!” Ðức Phật nói rằng: “Ông biết lâu thì có thể trở thành Chiên đà la không?”. Ông trưởng giả nói rằng: “Thưa ông Cù Ðàm! Tôi tuy biết người Chiên đà la đó nhưng thân này của tôi chẳng phải Chiên đà la!”. Ðức Phật nói rằng: “Này ông trưởng giả! Ông được nghĩa này, biết Chiên đà la thì chẳng phải là Chiên đà la. Ta nay vì sao chẳng được biết huyễn mà chẳng phải huyễn ư? Này ông trưởng giả! Ta thật biết huyễn, biết người huyễn, biết quả báo huyễn, biết kỹ thuật huyễn. Ta biết giết, biết giết người, biết giết quả báo, biết giết giải thoát... cho đến biết tà kiến, biết người tà kiến, biết quả báo tà kiến, biết giải thoát tà kiến. Này ông trưởng giả! Nếu nói người chẳng phải huyễn gọi là người huyễn, người chẳng phải tà kiến nói là người tà kiến thì bị tội không lường”. Ông trưởng giả nói rằng: “Thưa ông Cù Ðàm! Như lời ông nói thì tôi bị tội lớn. Sở hữu của tôi hôm nay đều đem dâng lên ngài, mong ngài chớ cho vua Ba Tư Nặc kia biết việc này của tôi!”. Ðức Phật nói rằng: “Này ông trưởng giả! Nhân duyên của tội đó chẳng nhất định mất của cải mà còn sẽ nhân đó bị rơi vào ba đường ác!”. Khi đó ông trưởng giả nghe đến tên ác đạo thì lòng sinh kinh sợ mà bạch Phật rằng: “Thưa đức Thánh nhân! Tôi nay thất ý chuốc lấy tội lớn! Thưa đức Thánh nhân! Ngài nay chính là đấng Nhất Thiết Trí nên phải biết rõ, chứng được giải thoát! Tôi phải làm sao để được thoát khỏi địa ngục, ngã quỉ, súc sinh?”. Bấy giờ ta vì ông đó nói bốn chân đế. Ông trưởng giả nghe rồi thì được quả Tu đà hoàn, lòng sinh tàm quí (xấu hổ), hướng về đức Phật sám hối rằng: “Con vốn ngu si, đức Phật chẳng phải người huyễn mà nói là huyễn! Con từ hôm nay quy y Tam bảo!”. Phật dạy rằng: “Hay thay! Hay thay! Này ông trưởng giả!” Ðó gọi là theo ý người khác nói.

Sao gọi là theo ý mình ý người khác nói? Như lời ta nói, tất cả kẻ trí của thế gian nói Có thì ta cũng nói Có. Kẻ trí nói Không thì ta cũng nói Không. Người trí thế gian nói năm dục lạc có vô thường, khổ, vô ngã, có thể đoạn thì ta cũng nói là Có. Người trí thế gian nói năm dục lạc có Thường ngã tịnh, không có điều đó. Ta cũng nói như vậy, không có điều đó. Ðó gọi là theo ý mình ý người mà nói. Này thiện nam tử! Như lời ta nói, Bồ tát Thập Trụ thấy ít Phật tính. Ðó gọi là theo ý người khác nói. Vì sao gọi là thấy ít? Vì Bồ tát Thập Trụ được Thủ Lăng Nghiêm tam muội, v.v... ba ngàn pháp môn. Vậy nên tự biết rõ ràng họ sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác mà chẳng thấy tất cả chúng sinh quyết định được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy nên ta nói, Bồ tát Thập Trụ thấy phần ít Phật tính. Này thiện nam tử! Ta thường tuy nói rằng, “tất cả chúng sinh đều có Phật tính”. Ðó gọi là theo ý mình nói. “Tất cả chúng sinh chẳng đoạn chẳng diệt... cho đến được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Ðó gọi là theo ý mình nói. “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vì phiền não che nên chẳng thể được thấy”, ta nói như vậy, ông nói cũng vậy. Ðó gọi là theo ý mình ý người mà nói.

Này thiện nam tử! Như Lai, hoặc khi vì một pháp nên nói vô lượng pháp, như trong Kinh nói, tất cả Phạm hạnh nhân Thiện tri thức. Nhân của tất cả phạm hạnh tuy không lường, nhưng nói Thiện tri thức thì đã thu nhiếp hết. Như lời ta nói, tất cả ác hạnh thì tà kiến là nhân. Nhân của tất cả ác hạnh tuy không lường nhưng nếu nói tà kiến thì đã thâu nhiếp hết. Hoặc nói: Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác lấy tín tâm làm nhân. Nhân của Bồ Ðề này tuy lại không lường nhưng nếu nói tín tâm thì đã thâu nhiếp hết. Này thiện nam tử! Như Lai tuy nói vô lượng những pháp lấy làm Phật tính, nhưng chẳng lìa khỏi ấm nhập và giới (năm ấm, sáu nhập, mười tám giới) vậy.

Này thiện nam tử! Như Lai nói pháp vì chúng sinh nên có bảy thứ lời nói (ngữ): Một là nhân ngữ, hai là quả ngữ, ba là nhân quả ngữ, bốn là dụ ngữ, năm là bất ứng thuyết ngữ (lời chẳng nên nói), sáu là thế lưu bố ngữ (lời lưu bố ở đời), bảy là như ý ngữ.

Sao gọi là nhân ngữ? Trong nhân hiện tại nói quả vị lai. Như lời ta nói: “Này thiện nam tử! Ông thấy chúng sinh ưa giết hại cho đến ưa hành tà kiến, thì phải biết là người đó tức là người của địa ngục. Này thiện nam tử! Nếu có chúng sinh chẳng ưa giết hại... cho đến tà kiến thì phải biết người đó tức là người trời. Ðó gọi là nhân ngữ.

Sao gọi là quả ngữ? Trong quả hiện tại nói nhân quá khứ. Như trong Kinh nói rằng: “Này thiện nam tử! Như ông đã thấy, chúng sinh nghèo cùng, hình dung xấu xí, chẳng được tự tại, thì phải biết người đó quyết định có phá giới, lòng tật đố, lòng sân hận, lòng không tàm quí. Nếu thấy chúng sinh nhiều của cải, giàu to, các căn đầy đủ, uy đức tự tại thì phải biết người đó có trì giới, bố thí, tinh cần, tàm quí, không có tật đố, sân hận”. Ðó gọi là quả ngữ.

Sao gọi là nhân quả ngữ? Như trong Kinh nói rằng: “Này thiện nam tử! Nhân tiếp xúc sáu nhập của chúng sinh hiện tại thì đó gọi là nghiệp quả quá khứ. Như Lai cũng nói, tên đó là nghiệp. Nhân duyên của nghiệp nay được quả vị lai. Ðó gọi là nhân quả ngữ.

Sao gọi là dụ ngữ? Như nói: Vua Sư Tử thì tức là dụ cho thân ta. Ðại Tượng vương, Ðại Long vương, cây Ba lợi chất đa la, Thất bảo tụ, Ðại hải, Tu Di sơn, Ðại địa, mưa lớn, Thuyền sư, Ðạo sư, Ðiều ngự, Trượng phu, Lực sĩ, Ngưu Vương, Bà la môn, Sa môn, Ðại thành, cây Ða la, v.v... những dụ như vậy, Kinh gọi là Dụ ngữ.

Sao gọi là Bất ứng ngữ? - Trong Kinh ta nói: “Trời đất có thể hợp lại, sông chẳng chảy vào biển”. Như vì vua Ba Tư Nặc nói rằng: “Bốn phương núi đến!” Như vì Ưu bà di Lộc Mẫu (mẹ nai) nói rằng: “Nếu cây Ta La có thể thọ tám giới thì được thọ hưởng niềm vui của người trời!” Như nói: “Thà nói Bồ tát Thập Trụ có lòng thoái chuyển, chẳng nói Như Lai có hai thứ lời nói. Thà nói người Tu đà hoàn đọa ba đường ác, chẳng nói Bồ tát Thập trụ có lòng thoái chuyển”. Ðó gọi là bất ứng ngữ.

Sao gọi là thế lưu bố ngữ? - Như lời Phật nói: Trai gái, lớn nhỏ, đi lại ngồi nằm, xe cộ, phòng xá, bình, áo, chúng sinh, Thường Lạc Ngã Tịnh, quân đội, rừng, thành, ấp, huyễn hóa, hợp tan... Ðó gọi là thế lưu bố ngữ.

Sao gọi là như ý ngữ? Như ta quở trách người hủy cấm khiến cho người đó tự trách mà hộ trì cấm giới. Như ta khen ngợi người Tu đà hoàn khiến cho các phàm phu sinh ra lòng thiện. Ta khen ngợi Bồ tát khiến cho chúng sinh phát tâm Bồ Ðề. Ta nói sự khổ não của ba đường ác vì khiến mọi người tu tập các pháp thiện. Ta nói tất cả đốt cháy là chỗ vì tất cả pháp hữu và vô ngã cũng vậy. Ta nói, các chúng sinh đều có Phật tính là vì khiến cho tất cả chẳng buông lung (phóng dật). Ðó gọi là Như Ý ngữ.

Này thiện nam tử! Như Lai lại có lời nói theo ý mình: Phật tính của Như Lai thì có hai thứ, một là có, hai là không. Có thì nghĩa là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, Ðại từ Ðại bi, Thủ lăng nghiêm, v.v... vô lượng tam muội, Kim cương, v.v... vô lượng tam muội, phương tiện, v.v... Vô lượng tam muội Ngũ trí ấn, v.v... vô lượng tam muội. Ðó gọi là Có. Không thì nghĩa là các thiện, chẳng thiện, vô ký quá khứ của Như Lai, nghiệp nhân quả báo, phiền não, năm ấm, mười hai nhân duyên. Ðó gọi là không.

Này thiện nam tử! Như có không, thiện chẳng thiện, có lậu không lậu, thế gian chẳng phải thế gian, Thánh chẳng phải Thánh, hữu vi vô vi, thật chẳng thật, tịch tịnh chẳng phải tịnh tịnh, tranh (cãi) chẳng phải tranh, cõi chẳng phải cõi, phiền não chẳng phải phiền não, thủ (lấy) chẳng phải thủ, thọ ký chẳng phải thọ ký, có chẳng phải có, ba đời chẳng phải ba đời, thời chẳng phải thời, thường vô thường, ngã vô ngã, lạc vô lạc, tịnh vô tịnh, sắc thọ tưởng hành thức chẳng phải sắc thọ tưởng hành thức, nội nhập chẳng phải nội nhập, ngoại nhập chẳng phải ngoại nhập, mười hai nhân duyên chẳng phải mười hai nhân duyên. Ðó gọi là Có Không của Phật tính Như Lai... cho đến Phật tính của nhất xiển đề có không cũng lại như vậy.

Này thiện nam tử! Ta tuy nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính mà chúng sinh chẳng lý giải được những lời nói theo ý mình như vậy của đức Phật.

Này thiện nam tử! Những lời nói như vậy thì Bồ tát thân sau còn chẳng thể lý giải huống là đối với hàng nhị thừa và các hạng Bồ tát còn lại. Này thiện nam tử! Một lúc xưa, ta ở tại núi Kỳ Xà Quật, cùng với Bồ tát Di Lặc chung luận bàn thế đế. Ông Xá Lợi Phất, v.v...năm trăm Thanh Văn đối với việc này đều chẳng hay biết, huống gì là Ðệ nhất nghĩa đế của đạo Xuất thế.

Này thiện nam tử! Hoặc có Phật tính mà nhất xiển đề thì có, người thiện căn thì không. Hoặc có Phật tính mà người thiện căn có, nhất xiển đề không. Hoặc có Phật tính mà cả hai người đều có. Hoặc có Phật tính mà cả hai người đều không.

Này thiện nam tử! Các đệ tử của ta nếu lý giải được ý nghĩa của bốn câu như vậy thì chẳng nên nạn vấn rằng, người nhất xiển đề quyết định có Phật tính, quyết định không Phật tính. Nếu nói chúng sinh đều có Phật tính thì đó gọi là tùy tự ý ngữ của Như Lai. Tùy tự ý ngữ như vậy của Như Lai thì chúng sinh làm sao lý giải một hướng được?

Này thiện nam tử! Như trong sông Hằng có bảy chúng sinh: Một là thường chìm, hai là tạm ra rồi trở lại chìm, ba là ra rồi thì trụ lại, bốn là ra rồi quan sát khắp bốn phương, năm là quan sát khắp rồi đi, sáu là đi rồi lại trụ, bảy là trên nước trên đất đều đi. Rằng chúng sinh thường chìm là gọi loài cá lớn thọ nghiệp ác lớn, thân nặng ở sâu. Vậy nên thường chìm. Chúng sinh tạm ra rồi chìm trở lại là loài cá lớn thọ ác nghiệp, thân nặng ở cạn, tạm thấy ánh sáng. Nhân ánh sáng nên nó tạm ra nhưng vì nặng nên trở lại chìm. Chúng sinh ra rồi liền trụ là gọi loài cá Chỉ Di, thân ở nước cạn, ưa thấy ánh sáng nên ra rồi trụ lại. Chúng sinh trụ lại nhìn khắp bốn phương là gọi loài cá tích vì kiếm tìm đồ ăn nên quan sát khắp bốn phương. Chúng sinh quan sát rồi đi là gọi loài cá tích từ xa thấy vật khác cho là có thể ăn nên mau chóng đi đến đó. Chúng sinh quan sát rồi đi, đi rồi lại trụ là loài cá này đi đến rồi, đã được mồi có thể ăn thì liền dừng lại nên gọi là đi rồi lại trụ. Chúng sinh trên nước, đất đều đi thì tức là loài rùa.

Này thiện nam tử! Dòng sông Ðại Niết Bàn vi diệu như vậy, trong sông ấy cũng có bảy thứ chúng sinh: từ loài đầu tiên thường chìm cho đến loài thứ bảy hoặc vào hoặc ra. Nói rằng, thường chìm là có người nghe Kinh Ðại Niết Bàn này, Như Lai thường trụ không có biến dịch, Thường Lạc Ngã Tịnh, nhất định chẳng rốt ráo vào Niết Bàn, tất cả chúng sinh đều có Phật tính, người nhất xiển đề bài báng Kinh Phương Ðẳng, tạo tội ngũ nghịch phạm bốn trọng cấm nhất định sẽ được thành đạo Bồ Ðề, Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích Chi Phật, v.v... nhất định sẽ được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác... Nghe những lời nói này rồi, họ sinh ra lòng bất tín liền tác khởi ý niệm này. Tác khởi ý niệm này rồi thì họ liền nói rằng: “Kinh điển Niết Bàn này là sách ngoại đạo, chẳng phải là Kinh Phật”. Người này, bấy giờ xa lìa bạn tốt, chẳng nghe chính pháp. Tuy có lúc họ được nghe nhưng chẳng thể tư duy. Tuy họ lại tư duy nhưng chẳng tư duy thiện mà chẳng tư duy thiện nên như trụ ở ác pháp. Người trụ ở ác pháp có sáu thứ: Một là ác, hai là không thiện, ba là làm bẩn pháp, bốn là thêm có, năm là não nhiệt, sáu là thọ quả báo ác. Ðó gọi là chìm. Vì sao gọi là chìm? Vì không lòng thiện, thường làm ác, chẳng tu đối trị. Ðó gọi là chìm. Sở dĩ gọi rằng ác là bị thánh nhân quở trách, lòng sinh bố úy, người thiện xa lìa chẳng ích chúng sinh. Ðó gọi là ác. Nói rằng không thiện thì có thể sinh ra vô lượng quả báo ác, thường bị sự trói buộc nhiễu loạn của vô minh, ưa cùng người ác làm bạn bè, không có tu các phương tiện tốt, lòng họ điên đảo thường lầm lẫn. Ðó gọi là không thiện. Nói rằng làm bẩn pháp tức là thường làm bẩn thân miệng, làm bẩn chúng sinh thanh tịnh, tăng thêm nghiệp bất thiện, xa lìa thiện pháp. Ðó gọi là ô pháp. Nói rằng, tăng hữu (thêm có) tức là như pháp sở hành của ba người trên, có thể tăng thêm địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, chẳng thể tu tập pháp giải thoát, nghiệp thân miệng ý chẳng chán các hữu. Ðó gọi là tăng hữu. Nói rằng, người não nhiệt thì tức là người làm đủ bốn việc như trên có thể khiến cho thân tâm có hai việc phiền não. Xa lìa tịch tịnh thì gọi là nhiệt. Thọ quả báo địa ngục nên gọi là nhiệt. Ðốt cháy các chúng sinh nên gọi là nhiệt. Ðốt cháy các thiện pháp nên gọi là nhiệt. Này thiện nam tử! Lòng tin thanh lương thì người này chẳng đủ. Vậy nên gọi là nhiệt. Nói rằng, người thọ quả báo ác thì tức là người đầy đủ năm việc trên, chết đọa vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh. Này thiện nam tử! Có ba việc ác, lại gọi là quả báo ác: Một là phiền não ác, hai là nghiệp ác, ba là báo ác. Ðó gọi là thọ quả báo ác. Này thiện nam tử! Người này đầy đủ sáu việc như trên thì có thể cắt đứt căn lành, tạo tác năm tội nghịch, có thể phạm bốn trọng cấm, có thể bài báng Tam Bảo, sử dụng vật của chúng Tăng, có thể làm đủ thứ việc phi pháp. Do nhân duyên này nên họ chìm đắm ở tại địa ngục A tỳ, phải thọ thân hình dọc ngang tám vạn bốn ngàn do diên. Nghiệp thân, miệng tâm của người này nặng nên chẳng thể được ra. Vì sao vậy? Vì tâm người ấy chẳng thể sinh ra thiện pháp nên tuy có vô lượng những đức Phật ra đời mà họ chẳng nghe chẳng thấy nên gọi là thường chìm mất như con cá lớn trong dòng sông Hằng.

Này thiện nam tử! Ta tuy nói nhất xiển đề, v.v... gọi là thường mất nhưng lại có người thường chìm mất chẳng phải nhất xiển đề. Ðó là ai vậy? Như người vì có tu Thí, Giới, Thiện. Ðó gọi là thường chìm mất.

Này thiện nam tử! Có bốn việc thiện mà gặt lấy quả ác. Những gì là bốn? Một là vì thắng người khác nên dọc tụng kinh điển, hai là vì lợi dưỡng nên thọ trì cấm giới, ba là vì lệ thuộc người khác mà làm bố thí, bốn là vì Phi tưởng phi phi tưởng xứ nên lắng lòng tư duy. Ðó là bốn việc thiện được quả báo ác. Nếu người tu tập bốn việc như vậy thì đó gọi là chìm rồi trở lại ra, ra rồi trở lại chìm. Vì sao gọi là chìm? Vì ưa ba hữu vậy. Vì sao gọi là ra? Vì do thấy ánh sáng vậy. Ánh sáng tức là nghe thí, giới, định. Vì sao trở lại chìm? Vì tăng trưởng tà kiến, sinh ra kiêu mạn vậy. Vậy nên ở trong Kinh ta nói kệ rằng:

Nếu có chúng sinh ưa các hữu

Vì hữu, nghiệp ác lành tạo nên

Người này liền mất Niết Bàn đạo

Ðó gọi tạm ra trở lại chìm.

Ði trong biển sinh tử hắc ám

Tuy được giải thoát xen não phiền

Người này trở lại thọ quả ác

Ðó gọi tạm ra trở lại chìm.

Này thiện nam tử! Như con cá lớn kia nhân thấy ánh sáng nên tạm được ra khỏi nước. Nhưng thân cá ấy nặng nên lại trở lại chìm đắm. Như hai người trên cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Lại hoặc có người ưa đam mê ba hữu thì đó gọi là chìm. Ðược nghe Kinh Ðại Niết Bàn này sinh ra lòng tin thì đó gọi là ra. Vì nhân duyên gì gọi đó là ra? Vì nghe Kinh này rồi, xa lìa ác pháp, tu tập thiện pháp nên đó gọi là ra. Người này tuy tin nhưng cũng chẳng đầy đủ. Vì nhân duyên gì mà tin chẳng đầy đủ? Vì người này tuy tin Ðại Bát Niết Bàn Thường Lạc Ngã Tịnh nhưng nói thân Như Lai vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh. Như Lai thì có hai thứ Niết Bàn, một là hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi Niết Bàn không Thường Lạc Ngã Tịnh, vô vi Niết Bàn có Thường Lạc Ngã Tịnh. Họ tuy tin Phật tính là chúng sinh có nhưng chẳng nhất định tất cả đều có Phật tính. Vậy nên gọi là tin chẳng đầy đủ.

Này thiện nam tử! Tin có hai thứ, một là tin, hai là cầu. Người như vậy tuy lại có tin nhưng chẳng thể tìm cầu. Vậy nên gọi là tin chẳng đầy đủ. Tin lại có hai thứ, một là từ nghe sinh ra, hai là từ nghĩ sinh ra. Lòng tin của người này từ nghe mà sinh ra, chẳng từ nghĩ sinh ra. Vậy nên gọi là tin chẳng đầy đủ. Tin lại có hai thứ, một là tin có đạo, hai là tin người được đạo. Lòng tin người này chỉ tin có đạo, đều chẳng tin có người được đạo. Vậy nên gọi là tin chẳng đầy đủ. Tin lại có hai thứ, một là tin chánh, hai là tin tà. Nói có nhân quả, có Phật Pháp Tăng thì đó gọi là tin chánh. Nói không nhân quả, tính Tam Bảo khác, tin các lời nói tà bậy, phú lan na, v.v... thì đó gọi là tin tà. Người này tuy tin Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo, nhưng chẳng tin Tam Bảo đồng một tính tướng. Họ tuy tin nhân quả nhưng chẳng tin người được quả báo. Vậy nên gọi là tin chẳng đầy đủ.

Người đó thành tựu chẳng đầy đủ niềm tin, việc thọ cấm giới cũng chẳng đầy đủ thì vì nhân duyên gì gọi là chẳng đầy đủ? Vì nhân chẳng đủ nên sở đắc cấm giới cũng chẳng đầy đủ. Lại vì nhân duyên gì gọi là chẳng đầy đủ? Vì cấm giới có hai thứ, một là oai nghi giới, hai là tùng giới giới. Người đó tuy đầy đủ giới oai nghi nhưng chẳng đủ giới tùng giới. Vậy nên gọi là giới chẳng đầy đủ. Lại giới có hai thứ, một là tác giới, hai là không tác giới. Người đó chỉ đủ tác giới chẳng đủ không tác giới. Vậy nên gọi là giới chẳng đầy đủ. Giới lại có hai thứ, một là từ thân miệng được chánh mạng, hai là từ thân miệng chẳng được chánh mạng. Người đó chỉ từ thân miệng chẳng được chánh mạng nên gọi đó là giới chẳng đầy đủ. Giới lại có hai thứ, một là cầu giới, hai là xả giới. Người đó chỉ đủ giới cầu có, chẳng được xả giới. Vậy nên gọi là giới chẳng đầy đủ. Giới lại có hai thứ, một là theo có, hai là theo đạo. Người đó chỉ đủ giới theo có, chẳng đủ giới theo đạo. Vậy nên gọi là Giới chẳng đầy đủ. Giới lại có hai thứ, một là thiện giới, hai là ác giới. Thân miệng ý thiện thì đó gọi là thiện giới. Giới của trâu, giới của chó thì đó gọi là ác giới. Người đó tin sâu hai thứ giới này đều có quả báo thiện. Vậy nên gọi là giới chẳng đầy đủ.

Người đó chẳng tin đầy đủ hai việc của giới. Việc tu học đa văn cũng chẳng đầy đủ thì làm sao gọi là nghe chẳng đầy đủ? Mười hai bộ Kinh mà Như Lai đã nói chỉ tin sáu bộ, chẳng tin sáu bộ. Vậy nên gọi là nghe chẳng đầy đủ. Chỉ lại thọ trì sáu bộ Kinh này chẳng có thể đọc tụng, vì người khác giải nói, không có sự lợi ích. Vậy nên gọi là nghe chẳng đầy đủ. Lại nữa, thọ nhận sáu bộ Kinh này rồi vì luận nghị, vì hơn kẻ khác, vì lợi dưỡng, vì các hữu (có) nên thọ trì, đọc tụng, giải nói. Vậy nên gọi là nghe chẳng đầy đủ. Này thiện nam tử! Ở trong Kinh ta nói, nghe chẳng đầy đủ thì thế nào là đầy đủ? Nếu có Tỳ kheo, thân miệng ý thiện, trước có thể cúng dường Hòa Thượng, các sư trưởng, người có đức. Những vị sư trưởng này, v.v... đối với người đó sinh lòng ái niệm. Do nhân duyên này nên các vị dạy trao kinh pháp, người đó hết lòng thọ trì, đọc tụng, tu tập. Thọ trì, đọc tụng, tu tập rồi thì thu được trí tuệ, được trí tuệ rồi thì có thể khéo suy nghĩ, theo đúng như pháp mà trụ. Khéo suy nghĩ rồi thì được chính nghĩa, được chính nghĩa rồi thì thân tâm tịch tịnh, thân tâm tịch tịnh rồi thì sinh lòng hoan hỷ. Nhân duyên lòng hoan hỷ thì tâm được định, nhân được định nên được Chánh tri kiến. Có Chánh tri kiến rồi thì đối với các hữu, lòng sinh nhàm chán, hối hận mà nhàm chán hối hận các hữu nên có thể được giải thoát. Người đó không có những việc như vậy nên gọi là nghe chẳng đầy đủ.

Người đó chẳng đủ ba việc như vậy thì Thí cũng chẳng đủ. Thí có hai thứ, một là tài thí, hai là pháp thí. Người đó tuy lại làm tài thí mà vì cầu có (hữu) nên tuy hành pháp thí nhưng cũng chẳng đầy đủ. Vì sao vậy? Vì còn giữ kín chẳng nói hết sợ người khác hơn. Vậy nên gọi là thí chẳng đầy đủ. Tài, pháp hai thứ thí đều có hai thứ, một là Thánh, hai là chẳng phải Thánh. Thánh thì thí rồi chẳng cầu quả báo. Chẳng phải Thánh thì thí rồi cầu quả báo. Bậc Thánh thí pháp làm tăng trưởng pháp. Kẻ chẳng phải Thánh thí pháp làm tăng trưởng các hữu. Những người như vậy vì thèm của cải mà làm tài thí, vì thêm các hữu mà hành pháp thí. Vậy nên gọi là thí chẳng đầy đủ. Lại nữa, người đó thọ nhận sáu bộ Kinh mà thấy người thọ pháp thì cung cấp, còn người chẳng thọ thì chẳng cung cấp. Ðó gọi là Thí chẳng đầy đủ.

Người đó chẳng đủ bốn việc như trên thì việc tu trí tuệ cũng chẳng đầy đủ. Tính của trí tuệ là tính có thể phân biệt. Người đó chẳng thể phân biệt Như Lai là thường hay vô thường. Ở trong Kinh Niết Bàn này, Như Lai nói rằng, Như Lai tức là Giải thoát, Giải thoát tức là Như Lai, Như Lai tức là Niết Bàn, Niết Bàn tức là Giải thoát. Ở trong nghĩa này người đó chẳng thể phân biệt. Phạm hạnh tức là Như Lai, Như Lai tức là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Từ, Bi, Hỷ, Xả tức là Giải thoát, Giải thoát tức là Niết Bàn, Niết Bàn tức là Từ, Bi, Hỷ, Xả. Ở trong nghĩa này người đó chẳng thể phân biệt. Vậy nên gọi là Trí chẳng đầy đủ. Lại nữa, chẳng thể phân biệt được Phật tính. Phật tính tức là Như Lai, Như Lai tức là tất cả pháp bất cộng, pháp bất cộng tức là Giải thoát, Giải thoát tức là Niết Bàn, Niết Bàn tức là pháp bất cộng... Ở trong nghĩa này họ chẳng thể phân biệt. Vậy nên gọi là Trí chẳng đầy đủ. Lại nữa, chẳng thể phân biệt bốn đế: Khổ - Tập - Diệt - Ðạo. Chẳng thể phân biệt bốn chân đế nên chẳng biết Thánh hạnh, chẳng biết Thánh hạnh nên chẳng biết Như Lai, chẳng biết Như Lai nên chẳng biết Giải thoát, chẳng biết Giải thoát nên chẳng biết Niết Bàn. Vậy nên gọi là Trí chẳng đầy đủ.

Người đó chẳng đủ năm việc như vậy thì có hai thứ, một là tăng thiện pháp, hai là tăng ác pháp. Sao gọi là tăng trưởng ác pháp? Người đó chẳng thấy mình chẳng đầy đủ mà tự nói đầy đủ và sinh ra lòng chấp trước, đối với người đồng hành tự cho mình hơn. Vậy nên họ thân cận bạn ác đồng với mình. Ðã thân cận rồi lại còn được nghe pháp chẳng đầy đủ, nghe rồi lòng vui mừng và lòng họ nhiễm trước khởi lên kiêu mạn, hành động nhiều phóng dật, rồi nhân phóng dật nên gần gũi với hàng tại gia, cũng ưa nghe nói việc tại gia, xa lìa pháp xuất gia thanh tịnh. Do nhân duyên này nên thêm lớn ác pháp, ác pháp tăng nên thân miệng ý, v.v... khởi tác nghiệp bất tịnh. Vì ba nghiệp bất tịnh nên thêm lớn quả báo địa ngục, súc sinh, ngã quỉ. Ðó gọi là tạm ra rồi trở lại chìm. Tạm ra rồi trở lại chìm thì trong Phật pháp của ta người ấy là ai vậy? Là Ðề Bà Ðạt Ða, Tỳ kheo Cù Dà Li, Tỳ kheo Uyển Thủ, Tỳ kheo Thiện Tinh, Tỳ kheo Chỉ Xá, Tỳ kheo Mãn Túc, Tỳ kheo ni Từ Ðịa, Tỳ kheo ni Khoáng Dã, Tỳ kheo ni Phương, Tỳ kheo ni Mạn, trưởng giả Tịnh Khiết, Ưu bà tắc Cầu Hữu, Xá Lặc Thích Chủng, Tượng trưởng giả, Ưu bà di Danh Xưng, Ưu bà di Quang Minh, Ưu bà di Nan Ðà, Ưu bà di Quân, Ưu bà di Linh, v.v... Những người như vậy gọi là tạm ra rồi trở lại chìm ví như con cá lớn thấy ánh sáng nên ra mà thân nặng nên chìm.

Người thứ hai tự thấy biết sâu là hành động chẳng đầy đủ, chẳng đầy đủ nên cầu gần gũi bạn lành, gần gũi bạn lành nên ưa hỏi han điều chưa nghe, nghe rồi ưa thọ, thọ rồi ưa suy nghĩ tốt, suy nghĩ tốt rồi có thể đúng như pháp trụ, đúng như pháp trụ nên thêm lớn căn lành, thêm lớn căn lành nên nhất định chẳng chìm nữa. Ðó gọi là Trụ. Trong Phật pháp của ta, những người ấy là ai vậy? Là Xá Lợi Phất, Ðại Mục Kiền Liên, A Nhã Kiều Trần Như, v.v... năm vị Tỳ kheo, Gia Xá, v.v... năm trăm vị Tỳ kheo, A Nâu Lâu Ðà đồng tử, Ca Diếp, Ma ha Ca Diếp, Thập Lực Ca Diếp, Tỳ kheo ni Cù Ðàm Di, Tỳ kheo ni Ba Sấc La Hoa, Tỳ kheo ni Thắng, Tỳ kheo ni Thật Nghĩa, Tỳ kheo ni Ý, Tỳ kheo ni Bạt Ðà, Tỳ kheo ni Tịnh, Tỳ kheo ni Bất Thoái Chuyển, vua Tần Bà Ta La, trưởng giả Úc Dà, trưởng giả Tu Ðạt Ða, Thích Ma Nam, Tu Ðạt Ða nghèo, con ông trưởng giả Thủ Lang, trưởng giả Danh Xưng, trưởng giả Cụ Túc, tướng quân Sư Tử, trưởng giả Ưu Ba Ly, trưởng giả Ðao (Dao), Ưu bà di Vô Úy, Ưu bà di Thiện Trụ, Ưu bà di Ái Pháp, Ưu bà di Dũng Kiện, Ưu bà di Thiên Ðắc, Ưu bà di Thiện Sinh, Ưu bà di Cụ Thân, Ưu bà di Ngưu Ðắc, Ưu bà di Khoáng Dã, Ưu bà di Ma ha Tư Na, v.v... Những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di như vậy được gọi là trụ. Sao gọi là trụ? Thường ưa nhìn thấy ánh sáng thiện. Do nhân duyên này nên nếu Phật ra đời, hoặc chẳng ra đời thì những người như vậy nhất định chẳng tạo ác. Ðó gọi là Trụ. Như loài cá Chỉ Di ưa thấy ánh sáng chẳng đắm chẳng chìm, những chúng như trên cũng lại như vậy. Vậy nên, ở trong Kinh ta nói kệ rằng:

Nếu người giỏi hay phân biệt quả

Hết lòng cầu đến quả Sa môn

Nếu hay quở trách tất cả “hữu”

“Như pháp trụ”, người đó xưng tên.

Nếu hay cúng dường vô lượng Phật

Thì đã tu đạo, đời không lường

Nếu thọ thế lạc chẳng phóng dật

Thì “Như pháp trụ” người đó xưng

Thân cận bạn lành nghe chánh pháp

Trong khéo tư duy, trụ theo pháp

Tu tập đạo, ưa thấy quang minh

Chứng được giải thoát trụ yên ổn.

KINH ÐẠI BÁT NIẾT BÀN - Quyển thứ ba mươi hai


33/ Kinh Ðại Bát Niết Bàn Quyển Thứ Ba Mươi Ba

PHẨM BỒ TÁT CA DIẾP Thứ Hai Mươi Bốn (tiếp theo)

Này thiện nam tử! Trí chẳng đầy đủ thường có năm việc. Người đó biết rồi cầu gần bạn lành. Bạn lành như vậy phải biết quan sát người này tham dục, sân nhuế, ngu si và suy nghĩ hiểu biết người này thiên về cái gì nhiều? Nếu biết người đó tham dục nhiều thì liền ứng vì họ nói pháp quán bất tịnh. Người sân nhuế nhiều thì vì họ nói từ bi. Người suy nghĩ hiểu biết nhiều thì dạy cho họ sổ tức (phép đếm hơi thở). Người chấp trước ngã nhiều thì phải vì họ phân tích mười tám giới, v.v... Người đó nghe rồi chí tâm thọ trì, chí tâm thọ trì rồi theo đúng như pháp tu hành, theo đúng như pháp tu hành rồi theo thứ lớp chứng được bốn niệm xứ, quán thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Ðược cái quán này rồi thì theo thứ lớp quán mười hai nhân duyên. Quán như vậy rồi thì người đó được Noãn pháp.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh đều có Noãn (ấm) pháp. Vì sao vậy? Vì như lời đức Phật nói, ba pháp hòa hợp gọi là chúng sinh: một là tuổi thọ, hai là noãn (hơi ấm), ba là thức. Nếu theo nghĩa này thì tất cả chúng sinh nên trước có noãn mà vì sao đức Như Lai nói rằng, Noãn pháp nhân bạn lành sinh ra?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như lời ông hỏi, có Noãn pháp thì tất cả chúng sinh đến nhất xiển đề đều có hết. Như lời hôm nay ta nói là Noãn pháp cần phải nhân phương tiện, rồi nhiên hậu mới được thì nó vốn không nay có. Do nghĩa này nên chẳng phải các chúng sinh, tất cả trước đã có. Vậy nên hôm nay, ông chẳng nên nạn vấn ta là tất cả chúng sinh đều có Noãn pháp. Này thiện nam tử! Noãn pháp như vậy là pháp của Sắc giới, chẳng phải Dục giới có được. Nếu nói rằng, tất cả chúng sinh có thì chúng sinh Dục giới cũng đều nên có mà Dục giới không có nên phải biết là chẳng phải tất cả có. Vì sao vậy? Vì đệ tử của ta có còn ngoại đạo thì không. Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh chẳng nhất định đều có. Này thiện nam tử! Tất cả ngoại đạo chỉ quán sáu hạnh còn đệ tử của ta đầy đủ mười sáu hạnh. Mười sáu hạnh này thì tất cả chúng sinh chẳng nhất định đều có.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Cái nói là Noãn pháp thì sao gọi là Noãn? Vì tự tính noãn hay vì người khác nên noãn?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Như vậy tự tính của pháp noãn, chẳng phải vì người khác nên noãn!

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai trước đã nói rằng, mã sư Mãn Túc không có Noãn pháp. Vì sao vậy? Vì ở chỗ Tam Bảo không tín tâm. Vậy nên không noãn thì phải biết tín tâm tức là Noãn pháp.

- Này thiện nam tử! Tín chẳng phải Noãn pháp. Vì sao vậy? Vì nhân ở tín tâm mà sau mới được noãn. Này thiện nam tử! Luận về Noãn pháp thì tức là trí tuệ. Vì sao vậy? Vì quan sát bốn Ðế. Vậy nên gọi đó là mười sáu hạnh mà hạnh tức là trí. Này thiện nam tử! Như câu hỏi của ông nhân duyên thế nào nên gọi là noãn. Này thiện nam tử! Luận về Noãn pháp thì tức là tướng lửa của tám Thánh đạo. Vậy nên gọi là noãn. Này thiện nam tử! Ví như dùi lửa thì trước có hơi ấm, tiếp đến có lửa sinh ra và sau cùng thì bốc khói. Ðạo Vô lậu này cũng lại như vậy. Hơi ấm tức là mười sáu hạnh, lửa tức là quả Tu đà hoàn, khói tức là tu đạo, cắt đứt kiết sử.

Bồ tát Ca Diếp lại bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như vậy Noãn pháp cũng là Hữu pháp cũng là hữu vi! Quả báo pháp này được năm ấm của Sắc giới nên gọi là Hữu. Do nhân duyên này nên lại gọi là hữu vi. Nếu là hữu vi thì làm sao có thể là tướng của đạo Vô lậu được?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ðúng vậy! Ðúng vậy! Ðúng như lời ông nói! Này thiện nam tử! Như vậy Noãn pháp tuy là hữu vi, pháp có nhưng trở lại có thể phá hoại hữu vi và pháp có. Vậy nên nó có thể là tướng của đạo Vô lậu. Này thiện nam tử! Như người cưỡi ngựa cũng yêu ngựa nhưng cũng thúc giục ngựa. Noãn tâm cũng vậy, yêu thích nên thọ sinh, nhàm chán nên quan sát hạnh. Vậy nên tuy lại là hữu pháp, hữu vi mà có thể cùng chánh đạo kia làm tướng, được Noãn pháp. Người có bảy mươi ba thứ, Dục giới có mười thứ, thứ người này đầy đủ tất cả phiền não, từ đoạn một phần cho đến chín phần. Như ở Dục giới, từ sơ thiền cho đến Vô Sở Hữu Xứ cũng lại như vậy. Ðó gọi là bảy mươi ba thứ. Những người như vậy được Noãn pháp rồi thì chẳng lại có thể cắt đứt căn lành, làm tội ngũ nghịch, phạm bốn trọng cấm. Hai thứ người này, một là gặp bạn lành, hai là gặp bạn ác. Người gặp bạn ác thì tạm ra trở lại chìm. Người gặp bạn lành thì quan sát khắp bốn phương, quan sát bốn phương thì tức là đỉnh pháp. Pháp này tuy tính lại là năm ấm nhưng cũng duyên bốn Ðế. vậy nên được gọi là quan sát khắp bốn phương. Ðược đỉnh pháp rồi tiếp đến được nhẫn pháp. Nhẫn này cũng vậy, tính cũng năm ấm, cũng duyên bốn Ðế. Người này tiếp đến được pháp Thế đệ nhất. Pháp này tuy tính lại là năm ấm, cũng duyên bốn Ðế. Người này tiếp đến được Khổ nhẫn pháp mà tính của nhẫn là tuệ duyên với một Ðế. Như vậy nhẫn pháp duyên một Ðế rồi cho đến thấy đoạn phiền não, được quả Tu đà hoàn. Ðó gọi là quan sát khắp bốn phương thứ tư. Bốn phương tức là bốn Ðế.

Bồ tát Ca Diếp bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Như đức Phật trước đã nói, việc đoạn phiền não của người Tu đà hoàn giống như vũng nước dọc ngang bốn mươi dặm, còn cái còn lại ấy thì như một giọt nước nhỏ xíu. Trong giọt nước nhỏ này thì sao nói là đoạn ba kết? Gọi là Tu đà hoàn thì một là ngã kiến, hai là chẳng phải nhân thấy nhân, ba là nghi võng. Thưa đức Thế Tôn! Vì nhân duyên gì gọi Tu đà hoàn quan sát khắp bốn phương? Lại vì nhân duyên gì gọi Tu đà hoàn? Lại vì nhân duyên gì nói Tu đà hoàn dụ cho cá Tích?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Người Tu đà hoàn tuy lại có thể đoạn vô lượng phiền não nhưng ba thứ nặng này cũng nhiếp lấy sự cắt đứt kiết sử của tất cả người Tu đà hoàn. Này thiện nam tử! Ví như vị Ðại vương khi ra đi tuần du tuy có bốn binh nhưng người đời chỉ nói vua đến vua đi. Vì sao vậy? Vì thế gian xem trọng vua vậy. Ba phiền não này cũng lại như vậy. Vì nhân duyên gì mà gọi đó là trọng (nặng)? Vì tất cả chúng sinh thường khởi nó lên nhỏ khó nhận biết nên gọi là trọng. Như ba kết này khó có thể đoạn trừ nên có thể là nhân của tất cả phiền não. Oán địch đối trị ba kết này là giới, định, tuệ. Này thiện nam tử! Có các chúng sinh nghe Tu đà hoàn có thể đoạn vô lượng phiền não như vậy thì sinh ra thoái tâm, liền nói lên rằng: “Chúng sinh làm sao có thể đoạn vô lượng phiền não như vậy?” Vậy nên Như Lai phương tiện nói có ba! Như lời ông hỏi, vì nhân duyên gì mà người Tu đà hoàn dụ cho quan sát bốn phương? Này thiện nam tử! Người Tu đà hoàn quan sát bốn Ðế thu hoạch được bốn việc: Một là trụ ở đạo kiên cố, hai là có thể quan sát khắp, ba là có thể thấy như thật, bốn là có thể hoại đại oán. Ðạo kiên cố nghĩa là Tu đà hoàn sở hữu năm căn nên không thể động. Vậy nên gọi là trụ đạo kiên cố. Quan sát khắp cùng nghĩa là Tu đà hoàn có thể quở trách phiền não trong, ngoài. Thấy như thật thì tức là Nhẫn trí. Hoại đại oán nghĩa là hoại bốn điên đảo. Như lời ông hỏi, vì nhân duyên gì gọi là Tu đà hoàn? Này thiện nam tử! Tu là gọi Vô lậu, Ðà Hoàn là gọi tu tập. Tu tập Vô lậu nên gọi là Tu đà hoàn. Này thiện nam tử! Lại có, Tu gọi là lưu. Lưu có hai thứ: một là thuận lưu (thuận dòng), hai là nghịch lưu (ngược dòng). Do nghịch lưu nên gọi là Tu đà hoàn.

Bồ tát Ca Diếp bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu từ ý nghĩa này thì vì nhân duyên gì mà người Tư đà hàm, người A na hàm, người A la hán chẳng được gọi là Tu đà hoàn vậy?

- Này thiện nam tử! Từ Tu đà hoàn cho đến các đức Phật cũng được gọi là Tu đà hoàn. Nếu từ Tư đà hàm cho đến các đức Phật không Tu đà hoàn (nghịch lưu) thì làm sao được gọi là Tư đà hàm cho đến Phật. Tên tất cả chúng sinh có hai thứ: một là cựu (cũ, trước), hai là khách (mượn tạm). Khi còn là phàm phu thì có tên gọi của đời. Ðã được đạo rồi thì đổi tên gọi là Tu đà hoàn. Do trước được đạo nên tên là Tu đà hoàn, rồi sau được tiếp nên gọi Tư đà hàm. Người đó cũng tên là Tu đà hoàn, cũng tên là Tư đà hàm... cho đến Phật cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Lưu có hai thứ: Một là giải thoát, hai là Niết Bàn. Tất cả Thánh nhân đều có hai thứ này, cũng có thể được gọi là Tu đà hoàn, cũng gọi là Tư đà hàm... cho đến Phật cũng lại như vậy. Này thiện nam tử! Tu đà hoàn cũng gọi là Bồ tát. Vì sao vậy? Vì Bồ tát thì tức là tận trí và Vô sinh trí mà người Tu đà hoàn cũng lại tìm cầu hai thứ trí như thế. Vậy nên phải biết người Tu đà hoàn được gọi là Bồ tát. Người Tu đà hoàn cũng được gọi là Giác. Vì sao vậy? Vì Chính giác thì thấy đạo, cắt đứt phiền não vậy. Do nhân quả của