| Phật giáo và giáo dục PG trong việc tăng trưởng Tổng hạnh phúc quốc gia |
|
|
|
| Phật giáo và đời sống - Văn Hóa và Giáo Dục | |||
| Viết bởi Thị Giới | |||
![]() Bất cứ nơi nào Phật giáo truyền đến thì Tăng già có mặt, và qua gương tu tập và làm việc của họ, một mức độ cao hơn về đời sống đã đến với số đông dân chúng, nâng chất lượng sống lên những mức độ cao hơn, vượt khỏi đời sống đặt nền tảng trên giác quan thô thiển. Dharmachari Lokamitra sinh năm 1947 ở Anh. Năm 1974, ông gia nhập Western Buddhist Order (WBO) của Sangharakshita, một Phật tử người Anh đã sống ở Ấn độ 20 năm cho đến 1964. Từ năm 1978, Dharmachari Lokamitra về ở luôn tại Ấn độ, hướng dẫn các hoạt động của Trailokya Bauddha Mahasangha Sahayaka Gana (TBMSG), chi nhánh Ấn độ của Friends of the Western Buddhist Order. Những thành viên của Friends of the Western Buddhist Order quy y Phật, Pháp, Tăng và nguyện giữ mười giới của thân, miệng và ý. Bất cứ nơi nào Phật giáo truyền đến thì Tăng già có mặt, và qua gương tu tập và làm việc của họ, một mức độ cao hơn về đời sống đã đến với số đông dân chúng, nâng chất lượng sống lên những mức độ cao hơn, vượt khỏi đời sống đặt nền tảng trên giác quan thô thiển. *** Mặc dù trong thế giới tự do Tây phương, việc đem tôn giáo vào giáo dục nói chung không được chấp nhận, những giá trị giáo dục hiện đại và những giá trị Phật Giáo gặp nhau ở nhiều điểm. Cả hai đều đồng ý không cố gắng tạo ảnh hưởng lên học sinh bằng bất cứ cách nào, không hạn hẹp họ bằng việc truyền bá, khuyến dụ sự mê tín. Phật Giáo khuyến khích việc rèn luyện sự hiểu biết ở mọi trình độ để đưa đến sự vượt thoát khỏi những quan điểm sai lầm và không có chỗ cho giáo điều hiện diện. Trong Phật giáo, không có chỗ cho những hình thức ước định thuộc tâm lý hoặc những thứ ước định khác khóa kín tâm thức, không cho tâm thức rộng mở. *** Những nguyên lý nền tảng của Phật giáo không chỉ thích hợp cho thế giới Phật giáo; trong lĩnh vực thế tục và nhân đạo, những nguyên lý đó còn có thể được áp dụng cho thế giới rộng lớn hơn, nơi có quá nhiều sự bất ổn về đạo đức trong giáo dục. Mặt khác, gương mẫu là phương tiện tốt nhất để khuyến khích người khác. Hy vọng rằng những quốc gia với truyền thống Phật giáo lâu đời sẽ coi trọng tài sản lớn lao của mình, tìm những con đường để làm phong phú nền giáo dục với những nguyên lý Phật giáo, và đặt ưu tiên cho giáo dục bằng nguồn tài nguyên có sẵn. Công việc của chúng tôi trước tiên là những sinh hoạt Phật Pháp, những lớp tham thiền, học hỏi Phật Pháp, thuyết giảng và nhập thất. Kết quả của việc tu tập là nhiều người thay đổi hoàn toàn tâm hồn và đời sống của họ. Bên cạnh những sinh hoạt Phật Pháp dưới tên là Trailokya Bauddha Mahasangha, một số hoạt động xã hội cũng được khởi sự dưới tên Bahujan Hitaya. Những hoạt động xã hội gồm có nhà tập thể và những đề án về cộng đồng trong những khu nhà ổ chuột cũng như những công tác xoa dịu và khôi phục trong những vụ động đất. Những hoạt động nầy đều được thực hiện bởi giới trẻ mà phần đông lớn lên với gia đình trong những căn phòng chật hẹp với tình trạng hết sức tồi tệ trong những khu ổ chuột, không có sự cải thiện về điều kiện vệ sinh, không có nước, và nhiều thứ bất tiện khác. Qua việc thực hành Phật Pháp, những người nầy đã biến đổi cuộc sống của họ, và bây giờ họ đang thực hiện những dự án giúp những người khác giống như vậy. Là một nhà kinh tế được coi trọng, một luật sư, và là một chính khách tài năng, ông đã thực hiện những cuộc cải cách xã hội đáng kể, đem lại lợi ích cho những người anh em thuộc giai cấp tiện dân của ông và những nhóm xã hội bị bạc đãi khác. Tuy nhiên ông cảm thấy những thay đổi về đạo đức và tâm lý mà Phật giáo hứa hẹn còn quan trọng hơn và sẽ bảo đảm cho sự biển đổi xã hội mà ông đề ra. Chỉ từ những thay đổi nền tảng nhất trong quan điểm của cá nhân và xã hội, sự biến đổi xã hội mới thật sự được thành tựu. Ông từng tuyên bố: “Điều lớn lao nhất mà đức Phật đã làm là cho thế giới biết rằng thế giới không thể được cải thiện nếu không có sự cải thiện tâm thức con người và tâm thức thế giới.” Sự nhận ra sức mạnh đạo đức và tâm lý đến từ Phật giáo có thể tìm thấy trong việc chính phủ hoàng gia Bhutan lấy làm chính sách về Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia. Do Đó, chúng ta cần tìm những phương pháp truyền đạt mới về những giá trị của giáo pháp đức Phật. Ngày nay, bất cứ cuộc thảo luận nào về giá trị đều tập trung vào giáo dục bao gồm hệ thống giáo dục công lập. Chúng ta cần khảo sát xem Phật giáo có thể ảnh hưởng và thấm nhập vào giáo dục hay không để chuẩn bị một cách có hiệu quả hơn cho cá nhân trong việc tiếp cận với những điều kiện của xã hội hiện đại, không giới hạn sự tự do của họ bằng những hình thức giáo điều hoặc những thiên hướng. Bên cạnh đó, vấn đề còn nên được đặt ra là phương cách để trình bày Phật Pháp trong thế giới hiện đại, đặc biệt là cho giới trẻ; nó cần được trình bày không khăng khăng bám vào truyền thống, nhưng liên quan đến sự thể nghiệm của họ. Có nhiều người trẻ phản ứng lại những truyền thống tôn giáo địa phương khi họ tiếp xúc với thế giới hiên đại. Do đó, một đường lối dễ tiếp cận, nhưng không xóa bỏ sự phong phú của truyền thống, cần được khai triển cho giới trẻ. Vì sự thỏa mãn của nó tùy thuộc vào sự kích thích bên ngoài, tâm thức phản ứng là loại tâm thức yếu ớt, dễ bị ảnh hưởng và bị điều khiển. Nó có khuynh hướng nghiêng về cái thô lậu nhất của sự kích thích giác quan, đặc biệt là tình dục và bạo hành. Đó là lý do những phim ảnh loại nầy thường rất phổ cập. Luôn luôn bị những đối tượng của giác quan lôi kéo theo nhiều hướng khác nhau, nó luôn luôn thay đổi, không ổn định. Và do đó cảm giác hạnh phúc thuộc loại nầy chỉ hiện hữu một cách ngắn ngũi. Những nhà quảng cáo hứa hẹn một sự vui thỏa tức thời và hấp dẫn qua cái mà họ cố gắng để bán, lôi cuốn trực tiếp giác quan và bản ngã, và cố gắng làm cho con người không sử dụng lý trí. Nhờ tiền của, họ có thể sử dụng nhiều phương tiện hiệu quả để thực hiện những chương trình làm cho những xã hội “chưa phát triển” hay “đang phát triển” khó lòng cưỡng lại. Những nhà quảng cáo không muốn khuyến khích sự suy nghĩ khách quan (mặc dù một phần trong công việc của của họ có thể giả vờ), mà còn ngược lại. Và dĩ nhiên họ muốn tạo ra sự phụ thuộc mà họ thực hiện qua việc khuyến khích lòng tham, sự ngu si, tâm ganh tỵ, bất an, và tất cả những thứ cùng loại khác. Họ phát đạt trên trạng thái tinh thần yếu đuối, phản xạ và phụ thuộc, cố gắng tạo ấn tượng vào tâm trí người tiêu dùng. Nếu những trạng thái tinh thần tiêu cực bị khuyến khích và nhồi sọ, và những trạng thái tích cực bị làm cho suy yếu, sức mạnh xã hội và văn hóa dùng để duy trì những mặt khác nội tại hơn của Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia sẽ bị xoi mòn. Điều nầy chắc chắn sẽ tiếp tay vào sự xuống cấp của môi trường, chênh lệch giàu nghèo, tách rời khỏi gốc rễ văn hóa, và làm giảm sự hưởng ứng xã hội của người công dân. Tất cả những thứ đó sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng đến việc điều hành quốc gia. Môi trường, kinh tế, phúc lợi xã hội, văn hóa và chính sách điều hành quốc gia dù có tích cực cách mấy cũng khó chống lại sự tấn công vũ bão nầy. Có niềm vui tinh thần đến từ thiền quán để cuối cùng đưa đến giác ngộ, niềm hạnh phúc cao cả nhất mà con người có thể đạt được. Đời sống của người Phật tử tiến bộ từ việc nhận thức rằng cuộc sống bị chi phối bởi điều kiện tự bản chất không thỏa mãn cho việc vĩnh viễn thoát khỏi khổ. Trạng thái thể nghiệm đó, giác ngộ, được nói đến như là một hạnh phúc tột cùng, một trạng thái an bình, tự do không giới hạn đối với mọi ràng buộc. Trạng thái tâm thức đó không bao giờ bị lay động dù những điều kiện bên ngoài có bất như ý như thế nào. Con người càng tiến sâu vào hướng này thì tâm thức và sự hạnh phúc của người đó bớt tùy thuộc hơn vào những điều kiện bên ngoài và thái độ của người đó trở nên vững chắc và tích cực. Càng ít bị lôi kéo vào cơn lốc mà sức mạnh của lòng tham trong thế giới hiện đại kích thích, con người càng có nhiều khả năng hơn trong việc lựa chọn những gì có ích từ sự phát triển trong thế giới hiện đại và gạt bỏ những thứ không có ích. Quan tâm đến người khác, họ cũng đã có thể làm việc một cách có hiệu quả để nâng những người khác lên, cả về mặt xã hội cũng như tâm linh. Lịch sử đã xác nhận điều nầy. Bất cứ nơi nào Phật giáo truyền đến thì Tăng già có mặt, và qua gương tu tập và làm việc của họ, một mức độ cao hơn về đời sống đã đến với số đông dân chúng, nâng chất lượng sống lên những mức độ cao hơn, vượt khỏi đời sống đặt nền tảng trên giác quan thô thiển. Bản thân ngài cũng là một tấm gương trong việc nầy. Trong suốt 35 năm, ngài không ngừng đến với những người mang nhiều nỗi đau khổ khác nhau. Ngài thường làm sáng tỏ những lời giảng dạy của ngài bằng những tấm gương trong những đời quá khứ khi ngài còn là Bồ tát, và những tấm gương nầy đã nở hoa để kết thành Phật Giáo Đại Thừa. Một trong những điều quan trọng nhất trong Bát Chính Đạo, bài pháp nổi danh của ngài, là Chính Mạng. Với Chính Mạng, những người có bất cứ sinh kế nào tổn hại đến những chúng sinh khác đều không được khuyến khích. Danh sách ngài nêu ra thì ít, nhưng ngày nay với sự tăng nhanh các nghề nghiệp, nó sẽ rất dài. Ngài còn nêu ra những bổn phận của vị Chuyển luân vương, vị vua (hay chính phủ) lý tưởng thực hành theo giáo pháp giác ngộ. Bổn phận của vị vua (hay chính phủ) đó là xiển dương đạo đức và khuyến khích người dân thực hành đạo đức. Nếu những giáo huấn về đạo đức, trong đó có việc tu sửa hành động và lời nói, được thực hành rộng rãi, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp và sẽ có sự hưởng ứng. Mặc dù ông không đề cập một cách chi tiết, điều nầy rất đáng chú ý và nên học hỏi đối với Phật tử ở khắp nơi trên thế giới, và cả cho những người không phải Phật tử quan tâm đến khái niệm Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia thấy được việc Phật Giáo có thể ảnh hưởng thế nào vào hệ thống giáo dục. Nếu những giá trị tích cực không được đưa vào hệ thống giáo dục một cách có ý thức, thì hầu như những giá trị tiêu cực của thế giới hiện đại sẽ thâm nhập vào, đặc biệt là trong lúc mà nền giáo dục của hầu hết các nơi trên thế giới đều có khuynh hướng đặt nền tảng trên những kiểu mẫu Tây phương, một thế giới trong đó đạo đức và tinh thần nói chung không được chú ý đến nhiều. Phật Giáo khuyến khích việc rèn luyện sự hiểu biết ở mọi trình độ để đưa đến sự vượt thoát khỏi những quan điểm sai lầm và không có chỗ cho giáo điều hiện diện. Trong Phật giáo, không có chỗ cho những hình thức ước định thuộc tâm lý hoặc những thứ ước định khác khóa kín tâm thức, không cho tâm thức rộng mở. Tính phóng khoáng nầy của Phật Giáo được đức Phật trình bày rõ cho những người Kalama: Nhưng nầy quí vị Kàlàma, khi quí vị biết do chính mình - Những điều nầy không hợp đạo đức; những điều nầy đáng bị chê trách; những điều nầy bị các bậc hiền triết chê trách; những điều nầy khi thực hành sẽ gây nên tàn phá và phiền muộn, thì quí vị loại bỏ không chấp nhận. Và nầy quí vị Kàlàma, khi quí vị biết do chính mình - Những điều nầy hợp đạo đức; những điều nầy không bị chê trách; những điều nầy được các bậc hiền triết khen ngợi; những điều nầy khi thực hành sẽ tạo nên sự ích lợi và hạnh phúc, thì quí vị nên sống đúng theo chúng." (2) Vị thầy lý tưởng là một người bạn có kinh nghiệm và biết thương yêu quan tâm đến sự tốt đẹp toàn diện của người khác trên hết mọi thứ. Mặc dù là những giá trị Phật Giáo, những giá trị nầy có thể được truyền đạt một cách có hiệu quả mà không cần đề cập đến Phật Giáo, coi đó như những giá trị nhân bản; và một số vị thầy Phật Giáo đã thực hịện những kết nối nầy trên 50 năm qua. Cùng lúc, giáo lý Phật Giáo không mâu thuẫn với khoa học và lý tính – Phật giáo khuyến khích lối suy nghĩ hợp lý và một thái độ có phê phán đối với cuộc sống nói chung. Giáo dục Phật Giáo cũng sẽ bao gồm những đánh giá phê phán đối với những điều tốt mà nền văn minh đem lại. Nó không có sự mâu thuẩn đối với sự phát triển tích cực như ở những tôn giáo khác. Do đó sẽ không lo lắng về việc Phật Giáo sẽ có ảnh hưởng ngược lại hay làm giới hạn giáo dục, như thấy ở những tôn giáo khác. Những giá trị Phật Giáo – cũng là những giá trị nhân bản - cần được thấm nhập vào toàn bộ kế hoạch học tập chứ không phải chỉ ở những bài học một hoặc hai giờ mỗi tuần. Rõ ràng để một chương trình như vậy có kết quả cần phải có cả ý chí và tài chánh. Nhưng phần thưởng cho cá nhân và xã hội sẽ rất lớn lao. Tôi đã tham dự một số hội nghị Phật Giáo ở phương Đông trong vòng 20 năm qua trong đó điệp khúc chung vẫn là “Làm thế nào để giới trẻ vẫn còn thích đến với Phật Giáo?” Và kết quả là những giải đáp rất hời hợt. Những tiến trình tìm kiếm những đường lối mới để truyền đạt giáo pháp của đức Phật trong những điều kiện thay đổi của xã hội, văn hóa và địa lý đã khởi sự từ những ngày đầu của lịch sử Phật giáo, và tính sáng tạo vốn có của Phật Giáo đóng vai trò không nhỏ trong việc duy trì vị thế của nó cho đến ngày nay. Ở đây tôi xin đề nghị một số đường lối trong việc truyền đạt giáo pháp của đức Phật trong thế giới hiện đại. Đúng hơn, tôi sẽ chú ý đến những lĩnh vực thăm dò và đầu tư có thể ích lợi cho tiến trình nầy. Cách các vị nầy hiểu và thực hành Phật Pháp đáng cho chúng ta khảo sát và có thể thích hợp cho những vấn đề của Phật tử Á châu trong thế giới đổi thay nhanh chóng ngày nay. Ngoài những vị thầy đó, hiện nay còn có một khối lượng lớn về những kinh nghiệm tu tập của người Tây phương trong những điều kiện của người Tây phương. Sự thật ngày nay Phật giáo đang trải qua một giai đoạn chuyển tiếp đáng chú ý; Phật tử Tây phương đang cố gắng làm sao đến với Giáo Pháp mà không dựa vào những vị thầy Đông phương, những vị đã xây dựng những sinh hoạt đầu tiên ở đó. Có nhiều điều đã đạt được từ ảnh hưởng qua lại với những nguời xuất thân trong các nền văn hóa Tây phương, những người đã tìm thấy trong Phật Giáo câu giải đáp cho những đòi hỏi tâm linh của họ - đây là một trong những lợi ích của ngôi làng toàn cầu. Làm thế nào những người đó đã vươn lên, từ những nền văn hóa với những tập đoàn đa quốc gia và loại phương tiện mà chúng ta thấy xâm nhập vào châu Á ngày nay, để dấng thân toàn tâm toàn ý vào việc thực hành Phật Pháp? Không những chỉ những đóng góp của Phật giáo vào nền văn hóa địa phương, Phật Giáo như là con đường tâm linh cũng sẽ bị phai mờ nếu không bị chối bỏ. Vì vậy có thể cần đơn giản hóa cách giảng dạy và thực hành Phật Pháp và cố gắng làm cho nó vượt khỏi phạm vi văn hóa địa phương. Nhiều vị Thầy Phật giáo Đông phương đến Tây phương đã làm như vậy – truyền đạt Giáo pháp của đức Phật ra ngoài phạm vi truyền thống nơi mà các ngài học hỏi. Các ngài đã phải phân biệt giữa cái gì là Giáo pháp và cái gì là phần được bồi vào, dù những cái đó có tích cực đến độ nào. Giao lưu với những vị thầy đã dạy lâu ở Tây phương như vậy có thể có lợi ích lớn cho những nền văn hóa Phật giáo truyền thống đang gặp phải những khó khăn đối diện với những sự phát triển hiện đại. Phong trào Phật giáo phụng sự xã hội cố gắng áp dụng những nguyên lý Phật giáo vào những vấn đề xã hội như môi trường, nhân quyền, nghèo đói, bất công, bóc lột, bạo động giữa các chủng tộc. Những vị thầy Phật giáo Đông phương đã tạo những ảnh hưởng rất tích cực lên những nhà hoạt động xã hội Tây phương, nhiều người trong số nầy không còn chấp nhận sự hướng dẫn của nhà thờ Thiên chúa giáo. Cùng lúc, điều nầy đã giúp kích thích lại tính dấn thân trong Phật giáo Đông phương. Thứ hai là có đầy đủ các tài liệu nghiên cứu và dịch thuật, phần lớn là do những hành giả Phật giáo chủ trương. Ngày nay, kinh văn của mọi truyền thống Phật giáo lớn đều có thể tìm thấy qua các bản dịch trên khắp thế giới, nhờ đó có nhiều người hơn được lợi lạc từ những bài học trong đó. Những đánh giá phê bình những văn bản nầy cũng có ích cho những người tu tập và sinh viên Phật học. Một điển hình về việc Phật giáo Đông phương được kích thích bởi sự phát triển của Phật giáo ở Tây phương là sự quan tâm hơn đến pháp môn Thiền quán. Mặc dù phần lớn việc tu tập Thiền quán ở những nước Phật giáo có một truyền thống tu Thiền dài lâu không gián đoạn, chúng ta không nghi ngờ rằng việc phổ biến Thiền tập ở Tây phương đã là một phần tác nhân làm sống lại sự chú ý của những nước nầy về pháp môn Thiền quán. Trong khi sự lưu tâm đầu tiên của người Tây phương có thể chỉ là tìm kiếm sự an ổn về mặt tâm lý và thoát khỏi stress, sự tìm kiếm đó thường dẫn họ đến với những lãnh vực khác của Giáo pháp môt cách nghiêm túc; và điều nầy dường như cũng đang xảy ra trong Phật giáo Đông phương. Một trong những tác nhân chính để ông quyết định theo Phật giáo là thấy rằng Phật giáo nói với con người hiện đại nhiều hơn những tôn giáo khác. Điều nầy không chỉ quan trọng đối với một người có học như ông trong truyền thống tự do Tây phương, nhưng cũng đối với những người anh em thuộc giai cấp tiện dân của ông mà ông muốn họ gia nhập vào thế giới hiện đại. Ông phải có một tôn giáo không làm phương hại những giá trị tự do, bình đẳng và những người huynh đệ yêu mến nhất của ông. Đối với ông, những điều đó rõ ràng có sẵn trong Phật giáo, và ông tuyên bố rằng ông học hỏi chúng không phải từ cuộc Cách mạng Pháp mà từ đức Phật. Ông muốn những người anh em của ông có thể chia sẻ với phần còn lại của nhân loại, một cơ hội mà họ, những người thuộc giai cấp tiện dân, chưa bao giờ có đươc. Để điều nầy có thể thành hiện thực, tôn giáo mà ông chọn cho họ cũng phải thích hợp nhất cho con người trong thế giới hiện đại. Ông viết: Nghiên cứu những đường lối để áp dụng những nguyên lý Phật giáo vào hệ thống giáo dục không những sẽ giúp việc giáo dục có hiệu quả hơn trong việc tạo nên những quan điểm xã hội tích cực, cho phép sử dụng những điều tốt nhất mà thế giới hiện đại cung cấp và loại trừ những thứ không có ích, mà còn cho phép con người sử dụng tốt nhất những tài nguyên khác như môi trường và sự điều hành tốt đất nước. Không phải là giáo dục không đựợc ảnh hưởng bởi Giáo pháp trong những quốc gia Phật giáo trong quá khứ. Tuy nhiên, cho đến thời gian gần đây, giáo dục vẫn còn bị giới hạn trong một số khu vực dân chúng. Ngày nay, vì nền giáo dục phổ thông được chấp nhận khắp nơi, những lợi ích có thể có từ ảnh hưởng của Phật giáo trên giáo dục sẽ lớn lao hơn nhiều.
Dharmachari Lokamitra Thị Giới (dịch) Theo The Centrality of Buddhism and Education in Developing Gross National Happiness. Chú thích:
Theo phattuvietnam.net
|




