| Phật Thuyết Phân Biệt Kinh - Kinh Tập |
|
|
|
| Các Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền | |||
| Viết bởi Thích Thiện Trì | |||
|
Trang 1 của 8 (Đây không phải là tên của một bài kinh mà là một tập hợp của các bài kinh ngắn được T.T Thiện Trì phiên dịch ra Việt văn. bttđtkvn) Đức Phật tùy căn tánh phân biệt của chúng sanh mà nói các kinh PHÂN BIỆT. Sự hiện hữu của con người, của thế giới, chúng sanh mở đầu do vô minh dẫn tới mười hai nhân duyên tạo thành vòng móc xích dây chuyền mãi mãi. Nếu rõ được chiều lưu chuyển của nó mà xoay ngược trở lại theo chiều hoàn diệt thì cắt đứt và chấm dứt được sanh tử khổ đau. Ðó là mục đích chính mà PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT DUYÊN SANH. Về phương diện tự lợi cũng như lợi tha của Bồ tát hạnh thì lấy bố thí làm đầu. Nhưng cần phải biết bố thí như thế nào cho đúng pháp, mới là chơn bố và được nhiều phước quả. Ðó là ý nghĩa của kinh PHÂN BIỆT BỐ THÍ. Trọng tâm của Phật pháp vẫn là nghĩa luân hồi, nhơn quả, biệt biệt thọ báo, như bóng theo hình, như vang ứng tiếng, mà điển hình là ông già Kỳ Thọ trong kinh BẦN CÙNG LÃO CÔNG... Phật Thuyết Phân Biệt KinhDịch giả: Thích Thiện TrìIn tại nhà in Hoa Sen, 128 Độc Lập, Nha Trang. PL 2517 - 1973MỤC LỤCLỜI TỰA 1. PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT VÔ SANH KINH 2. PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT BỐ THÍ KINH 3. PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT KINH 4. PHẬT THUYẾT MẠN PHÁP KINH 5. PHẬT THUYẾT BẦN CÙNG LÃO CÔNG KINH 6. PHẬT THUYẾT THANH TỊNH TÂM KINH 7. PHẬT THUYẾT PHÁP ẤN KINH 8. PHẬT THUYẾT ÐẠI HỒI HƯỚNG KINH LỜI TỰAPhân biệt – Vibhãjya – là tác dụng của ý thức. Chúng sanh do tâm và tâm sở phân biệt hư vọng, chấp ngã, chấp pháp, nên mới có nghiệp nhơn khổ quả, ba cõi luân hồi, đó gọi là hoặc phân biệt. Nếu đọan trừ được hoặc phân biệt ấy thì gọi là huệ vô phân biệt. Muốn chứng Phật trí, cần phải có huệ vô phân biệt. Nhưng đạt được huệ vô phân biệt thì cần phải dùng trí phân biệt mà quyết trạch thế nào là giả, thế nào là chơn, thế nào là nghiệp nhơn, thế nào là khổ quả, thế nào là pháp ác cần đọan, và thế nào là pháp thiện cần tu, cũng như cái gì cần thủ, cái gì cần xả... Vì vậy, Phật tùy căn tánh phân biệt của chúng sanh mà nói các kinh PHÂN BIỆT. Sự hiện hữu của con người, của thế giới, chúng sanh mở đầu do vô minh dẫn tới mười hai nhân duyên tạo thành vòng móc xích dây chuyền mãi mãi. Nếu rõ được chiều lưu chuyển của nó mà xoay ngược trở lại theo chiều hoàn diệt thì cắt đứt và chấm dứt được sanh tử khổ đau. Ðó là mục đích chính mà PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT DUYÊN SANH. Về phương diện tự lợi cũng như lợi tha của Bồ tát hạnh thì lấy bố thí làm đầu. Nhưng cần phải biết bố thí như thế nào cho đúng pháp, mới là chơn bố và được nhiều phước quả. Ðó là ý nghĩa của kinh PHÂN BIỆT BỐ THÍ. Trọng tâm của Phật pháp vẫn là nghĩa luân hồi, nhơn quả, biệt biệt thọ báo, như bóng theo hình, như vang ứng tiếng, mà điển hình là ông già Kỳ Thọ trong kinh BẦN CÙNG LÃO CÔNG. Muốn thành tựu phước đức không gì hơn là tâm thanh tịnh và không khinh thường Phật pháp. Cuộc đời có muôn mặt, lý thuyết có trăm chiều, biển Phật pháp bao la, lối vào có muôn vạn nẻo, tuy cũng dễ đi vào, nhưng cũng dễ bề hiểu lầm đi lạc, đánh mất chánh kiến, nên Phật dạy phải lấy PHÁP ẤN để làm kim chỉ nam. Công đức cao cả tối thượng được tăng trưởng ở tâm hạnh đại hồi hướng. Như Phật đã dạy cho Bồ tát Minh Thiên. Nên người tu hành phải luôn luôn HỒI HƯỚNG về trí tuệ và bình đẳng cho tất cả chúng sanh đồng được Chánh đẳng Chánh giác. Tóm lại, những kinh mà dịch giả đã dịch từ đại tạng ra sau đây, tuy ngắn gọn, nhưng đầy đủ, rõ ràng và tiêu biểu cho nghĩa nhơn quả, nhơn duyên sanh, là nền tảng của đạo Phật. Hy vọng nó sẽ giúp ích rất nhiều và rất cần thiết cho sự tự giác và giác tha, nhất là giữa buổi cách Phật quá xa, vàng thau lẫn lộn. Phật ma hỗn đồng này. Chúng ta cần phải có trí phân biệt quyết đoán để giúp cho sự tu hành xa lìa tội lỗi và khỏi đi vào con đường tà kiến. Tôi xin tùy hỉ công đức ghi lại vài dòng để làm lời tựa. Huế, đầu xuân Quý Sửu Giáo thọ Thích Thiện Siêu 1/ PHẬT THUYẾT PHÂN BIỆT DUYÊN SANH KINH.(Bản chữ Hán Tam Tạng Pháp Thiên)(Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập thứ 16, Kinh Tập bộ, Tr. 844, số hiệu 0718, 1 quyển, Phật Thuyết Phân Biệt Duyên Sanh kinh, Tống Pháp Thiên dịch. bttdtkvn) Như thật tôi nghe một thuở nọ, sau ngày Phật thành đạo, Ngài ngồi một mình dưới gốc cây Bồ đề, gần bờ ao Ô lô vĩ loa, bên sông Ni liên, tâm tự nghĩ rằng: Pháp khổ, thế gian không ai có thể tránh khỏi. Thế nhưng chẳng mấy ai biết lo sợ. Ðó là pháp quyết định có thật. Nếu người nào quan sát đúng như vậy là điều phước lợi lớn. Pháp vui thế gian cũng lại như vậy. Không ai có thể tránh khỏi. Thế nhưng chẳng mấy ai biết nhàm chán. Ðó là pháp quyết định có thật. Nếu người nào quan sát đúng như vậy là điều phước lợi lớn.” Phật còn nghĩ rằng: “Mọi giới ở thế gian như Trời, Người, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn v.v... đối với pháp này không thể biết rõ một cách hoàn toàn được. Nếu như có người nào hay suy nghĩ và cảnh giác về sự khổ vui, thấu rõ được sự khổ vui như vậy chẳng phải là pháp cứu cánh, thường suy nghĩ và tu hành đúng theo pháp ấy, người đó sẽ được đầy đủ các pháp lành Giới, Ðịnh, Huệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến, v.v... Tất cả chư Phật quá khứ, vị lai đều biết rõ được mỗi mỗi sự khổ vui của thế gian, và đã tu hành đúng theo pháp ấy. Nhờ sức tự tu hành mới thành bậc Chánh giác. Tại sao thế? Vì pháp này là pháp chưa từng có, không ai có thể hiểu biết một cách thấu đáo hoàn toàn. Các đức Như lai Ứng cúng Chánh đẳng Chánh giác đều biết pháp ấy một cách hoàn toàn và đã tu hành đúng như pháp ấy mới thành bậc Chánh giác. Các đức Như Lai Ứng cúng Chánh đẳng Chánh giác vị lai cũng sẽ biết rõ các pháp khổ vui của thế gian như vậy, và tu hành theo đúng như pháp ấy mới viên thành đạo quả.” Lúc bấy giờ Ðại Phạm Thiên Vương là vị Trời làm chủ cõi Ta bà, do oai lực của Phật, mới biết được điều mà Phật đã nghĩ đến. Trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, liền rời cõi Trời Phạm Thiên và đi thẳng đến chỗ Phật. Ðại Phạm Thiên đến nơi, lễ kính xong, đứng trước Phật thưa rằng: Ðiều mà Phật vừa suy nghĩ đúng lắm! đúng lắm! Sự khổ vui ở thế gian không ai có thể tránh khỏi. Ðiều Phật nghĩ đó là điều nghĩa lợi lớn. Quá khứ, vị lai cũng lại như vậy. Trong các giới Trời, Người, Ma, Phạm,v.v... duy có Phật mới có đủ trí lực có thể phân biệt và biết một cách rõ ràng các pháp duyên sanh, hoặc tăng, hoặc giảm, hoặc thiện, hoặc ác hoàn toàn đúng như sự thật. Phật dạy: “Ðúng thế, đúng thế! Này Phạm Thiên Vương, chúng sanh thế gian không trí tuệ nên không hiểu biết. Không thể biết rõ được tất cả các pháp bởi si ám che lấp – đó là vô minh. Duyên Vô minh sanh ra Hành. Hành có ba: thân, miệng và ý. Lại duyên nơi Hành sanh ra Thức. Thức có sáu: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức thân thức và ý thức. Duyên Thức sanh ra Danh Sắc và Trừ Sắc, Danh có bốn: Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc là bốn đại và tất cả sắc pháp do bốn đại sanh. Hai thứ Danh uẩn và Sắc uẩn, gọi tắt là Danh Sắc. Duyên Danh Sắc sanh ra sáu xứ. Sáu xứ thuộc nội thân có sáu: Nhãn xứ, Nhĩ xứ, Tỷ xứ, Thiệt xứ, Thân xứ và Ý xứ. Duyên sáu xứ sanh ra Xúc. Xúc có sáu: Nhãn xúc, Nhĩ xúc, Tỷ xúc, Thiệt xúc, Thân xúc, Ý xúc. Duyên xúc sanh ra Thọ. Thọ có ba: Thọ vui, Thọ khổ và Thọ không khổ không vui. Duyên thọ sanh ra Ái. Ái có ba: Dục ái, Sắc ái và Vô sắc ái. Duyên ái sanh ra Thủ. Thủ có bốn: Dục thủ, Kiến thủ, Giới cấm thủ, Ngã ngữ thủ. Duyên Thủ sanh ra Hữu, Hữu có ba: Dục hữu, Sắc hữu và Vô sắc hữu. Duyên Hữu mới có Sanh. Sanh là cõi chúng sanh tùy uẩn sanh khởi, có xứ xứ sai biệt. Các pháp: sanh, dị, diệt thường biến đổi. Từ Sanh làm căn bản nên mới có Uẩn, có Xứ, có Giới và tất cả các pháp như mạng căn v.v... Duyên nơi sanh mới có sự Già, sự Chết. Già là tâm thức hôn muội, tóc bạc da nhăn, khí lực suy kém, hơi thở khò khè, thân thể ốm yếu, cho chí các giác quan đều bại họai. Chết là sự thay đổi cảnh giới và thú loại sai khác của chúng sanh. Như bỏ thế giới này để sanh về một thế giới khác. Hay bỏ thân của thú loại này để sanh làm thú loại khác, trở lại với tướng vô thường, thời hạn của tuổi thọ được kết thúc, hơi ấm đã rời khỏi thân mạng căn đã họai diệt, các uẩn cũng xa lìa, bốn đại ly tán. Những điều nói trên tức là phân biệt duyên sanh. Nếu các chúng sanh nào biết một cách rõ ràng đúng đắn. Người ấy sẽ được đầy đủ năm phần pháp thân (1).” Lúc bấy giờ Phạm Thiên Vương nghe Phật nói pháp duyên sanh rồi thì lễ Phật mà lui trở về cõi Trời Phạm Thiên. Chú thích: (1) Năm phần pháp thân: Pháp thân là 1 trong 3 thân Phật: Pháp thân. Báo thân, Hóa thân. Do 5 pháp công đức mà thành thân Phật, siêu hẳn thân năm uẩn của phàm phu, gọi là năm phần Pháp thân: 1. Giới pháp thân: siêu Sắc ấm. Ba nghiệp thân khẩu ý của Như lai xa lìa tất cả tội lỗi. 2. Ðịnh pháp thân: siêu Thọ ấm. Ba nghiệp thân khẩu ý Như lai xa lìa tất cả tội lỗi. 3. Huệ pháp thân: siêu Tưởng ấm. Như Lai chơn trí viên minh, thông suốt pháp tánh (căn bản trí) 4. Giải thoát pháp thân: siêu Hành ấm. Như Lai thân tâm giải thoát mọi sự ràng buộc (tức Giải thoát đức của Niết bàn). 5. Giải thoát tri kiến pháp thân: siêu Thức ấm. Như Lai tự chứng kiến biết đã thực giải thoát (tức hậu đắc trí). Ba phần trước là nhơn hai phần sau quả.
|



