| Mai Vàng Ánh Đạo |
|
|
|
| Tông Phái Phật Giáo - Thiền Tông Việt Nam | |||||||
| Viết bởi Thích Nhật Quang | |||||||
Trang 1 của 2 ...Tâm Bồ đề là tâm cầu Phật đạo,
cầu giác ngộ. Người Phật tử làm sao gầy dựng được bước đi căn bản luôn tiến,
luôn vững, không vì bất cứ lý do gì thoái tâm Bồ đề. Khi tâm Bồ đề thoái rồi
thì con đường Phật đạo xem như bị ngó lơ, mình quay lưng đi. Một khi ta đã ngó
lơ, đã quay lưng thì không biết bao giờ mình mới chịu tìm, chịu nhận lại ông
Phật thật sẵn có nơi mình. Vì vậy quí thầy hướng dẫn các Phật tử tu tập, luôn
luôn quan tâm e ngại ở giai đoạn này. Có thể vì lý do bức xúc nào đó, Phật tử
đi chùa một thời gian thấy chán nản, tu tập một thời gian thấy chán nản. Đó là
biểu hiện của thoái tâm Bồ đề. Một khi đã nản, đã quay lưng rồi, gầy dựng trở
lại rất khó. Mai Vàng Ánh Đạo
Thích Nhật Quang
Mục lục 1. Tám Giai Đoạn Tu Thành Phật 2. Hướng Tiến Tu Hành 3. Con Đường Xưa 4. Vấn Đề Nghiệp Báo
5.
Tinh Thần Tu Học Của Người Con Phật
6. Lợi Lạc Của Việc Tu Tập
Tám Giai Đoạn Tu Thành Phật
Ngày đầu xuân là ngày mang tin
vui lớn nhất đến cho chúng ta, bởi vì ngày này đức Phật tương lai Đại từ tôn Di
Lặc đản sinh. Nhân đây, chúng tôi nêu lên những giai đoạn mà người con Phật
phải trải qua trên bước đường tu tập.
Chúng ta biết không có vị Phật
nào trong thời tu nhân mà chỉ nằm nghỉ, đi chơi, bách phố la cà khắp nơi, cuối
cùng được thành Phật. Tất cả chư Phật đã thành, sẽ thành đều trải qua quá trình
tu tập Phật đạo, siêng năng, tinh tấn bất thoái chuyển trong thời gian dài vô
số kiếp. Các ngài đã sống trải, tu tập, phát nguyện, chịu tất cả sự khó khổ,
gian nan nhất trên cuộc đời mới thành tựu Phật đạo. Thông thường chúng ta được
học, trong vô số kiếp thứ nhất các ngài ở những vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hướng, đó là bốn mươi cấp căn bản. Đến vô số kiếp thứ hai từ Sơ
Địa cho tới Bát Địa Bồ tát. Vô số kiếp thứ ba từ Bát Địa cho đến Thập Địa, Đẳng
Giác, Diệu Giác thành Phật.
Chúng ta bây giờ đang ở vô số
kiếp thứ mấy, đã đi được bao nhiêu, tu tập ra sao? Không ai biết cả. Thỉnh
thoảng có vị than tu hoài không thành Phật, dâng hương lễ Phật nói với Phật:
“Bạch Ngài, con tu bao nhiêu năm rồi mà không thành Phật, cũng chẳng giác ngộ
giải thoát. Những thứ bất như ý đầy dẫy, con làm sao giải tỏa được nó đây?” Như
đã nói, chúng ta chưa biết mình ở vô số kiếp nào, trên quá trình từ nhân địa
tới Phật đạo, do đó cần phải tự đả thông bằng đạo lý do chính mình thể nghiệm.
Ở đây, chúng tôi nêu lên tám giai
đoạn thể nghiệm để huynh đệ cùng chiêm nghiệm, chia sẻ trên bước đường tu học
của chúng ta.
Tám giai đoạn đó thế này:
1. Trai giới thanh tịnh:
Chúng ta cùng nhau nghiệm xem
trai giới của mình thanh tịnh chưa? Nếu chưa mà cứ than thở bạch Phật “tu hoài không
xong” thì tự mình phải điều chỉnh lại. Hầu hết Phật tử đều đã thọ giới, ít nhất
là năm giới. Qua năm giới ấy, mình nghiệm xem giữ được giới nào, hành trì có
trang nghiêm hoàn chỉnh không, hay còn những giới chưa giữ được. Nếu còn một
chút chưa giải quyết được thì là chúng ta chưa hoàn chỉnh bước thứ nhất. Bước
thứ nhất chưa hoàn chỉnh mà nhảy qua bước thứ hai thì có khi phải quanh trở
lại.
Trên thức tế có vị tu hành cũng
đàng hoàng, giới đức trang nghiêm, đạo hạnh đầy đủ, nhưng đùng một cái thiên hạ
ngạc nhiên khi nghe vị ấy quay về thế tục. Dạng này do có những bước nhảy vượt,
không cơ bản, không vững chắc, nên mới xảy ra như thế. Vì vậy người tu trước
nhất phải hoàn chỉnh giai đoạn trai giới thanh tịnh. Chúng ta có thể kiểm
nghiệm và biết được mình thanh tịnh hay chưa thanh tịnh. Thanh tịnh đến mức độ
nào?
Về phía Phật tử cư sĩ, ít nhất
quí vị thọ năm giới, ngoài ra còn thọ thêm mười giới Thập Thiện, có vị phát tâm
thọ năm mươi tám giới Bồ tát nữa. Tóm lại, trong hàng cư sĩ có ba cấp giới học.
Cấp thứ nhất là năm giới căn bản, cấp thứ hai là giới Thập Thiện. Người giữ
tròn mười giới Thập Thiện đời sau sẽ được sanh thiên, nếu giữ không tròn thì
thay vì đi thẳng lên thiên giới, vị ấy né qua một bên lọt vào cõi A Tu La. Nghe
nói thế giới A Tu La ai cũng ngán, vì nó lạ lùng lắm. A Tu La nữ rất hoàn
chỉnh, còn A Tu La nam có khi mang đầu trâu mặt ngựa, nóng nảy dữ dằn. Do vậy
họ thường hay gây chiến với chư thiên. Chúng ta học trong sử thấy ngài Long
Thọ, Mã Minh, từ tuệ nhãn thấy đầu, tay, chân… từ đâu rơi xuống đầy máu me. Quí
Ngài biết là do chúng A Tu La đánh nhau với mấy ông trời. Nói thế, không phải A
Tu La không có phước. Phước họ gần như chư thiên, nhưng vì quá sân giận nên
không bì lại cõi trời. Nên biết hậu quả của sân hận lớn lao vô cùng. Giống như
một đóm lửa nhỏ chúng ta không dập tắt, nó sẽ cháy lan khắp.
Trở lại vấn đề tu tập ở bước đầu
là giới học. Khi quí thầy trao truyền giới cho quí Phật tử, thường hay nói:
“Quí vị giữ được những điều giới đó là tu”. Giới học là pháp tu, Phật tử giữ
được những điều giới đó là bảo toàn nhân cách. Giữ được giới quí vị khỏi sợ mai
mốt nhắm mắt bị ma quỷ bắt. Giữ năm giới hoàn toàn là nhất định Phật tử sẽ sống
an ổn, vui vẻ. Khi chết biết được đường đi, không sợ hãi hay nghi ngờ gì cả. Đó
là ở cấp năm giới.
Nếu không trì giới, ở nhân gian
đi xuống thì thời gian vô cùng. Các vị thánh nói cõi địa ngục một ngày một đêm
bằng ở nhân gian một trăm năm. Tuy nhà Phật bảo mọi pháp đều giả hợp mà một
trăm năm đâu phải là ngắn. Con người từ lúc mới sinh ra, lớn lên xinh đẹp khôn
ngoan như thế, nhưng đến bảy tám mươi là đi hết nổi. Có khi mới bốn mươi, năm
mươi tuổi cũng đi hết nổi rồi. Thời gian tuy không thật nhưng quả báo mình chịu
đựng rất đáng kể, chứ không phải thường.
Các vị Phật tử tại gia đã thọ
hoặc năm giới, mười giới, trong cấp độ này từng bước tu tập quí vị đã có thể
nghiệm, có công phu. Từ đó quí vị nhận ra được hướng đi, chỗ đến của mình ra
sao. Đặc biệt hơn, nếu vị nào phát tâm thọ năm mươi tám giới Bồ tát, là Phật tử
tại gia nhưng tư cách hành xử như một vị Bồ tát. Đây là điều đáng quí, đáng
khích lệ. Thế nên hàng Phật tử cần phải giữ gìn những thành tựu ban đầu như
thế, để làm thềm thang tiến lên quả vị giải thoát cứu kính.
Nói về trai. Phật tử còn nhớ
trong lễ quy y Tam Bảo, quí thầy dạy: “Ăn chay hay mặn gì cũng tu hết, giữ được
năm giới là tu”, nhưng “Ăn chay phát triển được lòng nhân, gần gũi tâm từ bi,
dễ đi đến thành tựu tâm đại từ đại bi”. Chúng ta là đệ tử Phật, bắt đầu quy y,
tập sống theo đời sống của Phật, Bồ tát thì đối với việc ăn chay cũng nên thực
hành để nuôi dưỡng và phát triển tâm từ.
Nói về “trai” là nói đến chế độ
ăn uống của người Phật tử. Điều này không bắt buộc ai cả, nhưng nếu quí vị có
cách ăn uống tốt thì cũng hỗ trợ cho công phu tu nhiều lắm. Bước ban đầu chúng
ta phải giữ giới thanh tịnh là dĩ nhiên rồi, nhưng trai thì có vị ăn chưa được.
Lại có người không phải là Phật tử mà ăn chay trường. Hiện nay y học nghiên cứu
thấy ăn chay ngừa được một số bệnh nan y, vì vậy trên thế giới người ta ăn chay
nhiều lắm. Nếu Phật tử nào vừa giữ giới vừa ăn chay được thì có thể nói là hoàn
chỉnh phần trai giới. Vị nào chỉ giữ giới mà chưa giữ trai thì chưa hoàn chỉnh
được bước đầu. Như vậy con đường Phật đạo còn dài xa lắm.
2. Không thoái lui trên con đường Phật đạo:
Ở đây muốn nhấn mạnh không thoái
lui tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề là tâm cầu Phật đạo, cầu giác ngộ. Người Phật tử làm
sao gầy dựng được bước đi căn bản luôn tiến, luôn vững, không vì bất cứ lý do
gì thoái tâm Bồ đề. Khi tâm Bồ đề thoái rồi thì con đường Phật đạo xem như bị
ngó lơ, mình quay lưng đi. Một khi ta đã ngó lơ, đã quay lưng thì không biết
bao giờ mình mới chịu tìm, chịu nhận lại ông Phật thật sẵn có nơi mình. Vì vậy
quí thầy hướng dẫn các Phật tử tu tập, luôn luôn quan tâm e ngại ở giai đoạn
này. Có thể vì lý do bức xúc nào đó, Phật tử đi chùa một thời gian thấy chán
nản, tu tập một thời gian thấy chán nản. Đó là biểu hiện của thoái tâm Bồ đề.
Một khi đã nản, đã quay lưng rồi, gầy dựng trở lại rất khó.
Trong sử học có nói về gia đình
ông Cấp Cô Độc, là vị đại thí chủ của tăng đoàn thời đức Phật còn tại thế. Ông
sẵn sàng đem tất cả kho báu của mình ra dâng hết cho Tam Bảo. Vì vậy Phật cần
xây dựng chỗ nào, chư tăng cần làm việc gì, ông đều cung cấp hết. Bởi ông phát
tâm như vậy nên trong gia đình cũng có một ít người không ưng, trong đó có bà
giữ kho. Bà chuyên giữ kho, khi chư tăng cần cái gì, có giấy của trưởng giả,
ngoài mặt bà không dám nói nặng nhưng trong bụng cằn nhằn “sao mấy sư cứ vòi
vĩnh hoài vậy, không biết xấu hổ”. Thấy chư tăng từ xa là bà nghĩ không biết
bữa nay mấy ông thầy tới làm gì nữa đây? Bà bực bội lắm.
Một hôm, đức Thế Tôn nghĩ bà
nghiệp chướng sâu dày, ngài muốn độ nhưng biết bà lão không có duyên với ngài.
Khi thấy Phật đi đằng kia bà ngó chỗ khác. Phật biết thế nên hóa hiện ra nhiều
thân, có mặt khắp mọi hướng. Nơi nào bà ngó đều có Phật đi tới, bà liền ngó
xuống đất. Phật biết mình không có duyên với bà ta rồi, Ngài liền quán sát
trong tăng đoàn, thấy có một người độ được bà. Đó là La Hầu La. Mỗi khi thấy
ngài La Hầu La từ đằng xa là bà đứng dậy chạy ra đón mừng. Không gì lạ, bởi
duyên trong nhiều đời bà đã từng là mẹ của ngài, nên còn hơi hướm tình thương
thuở trước, do đó tôn giả La Hầu La là người độ bà.
Ở đây trên con đường Phật đạo dài
lâu, chúng ta từng bước gầy dựng, quan tâm gìn giữ làm sao tâm Bồ đề của mình
vững chắc, không để thoái tâm. Cố gắng gìn giữ thì những sự kiện phát sinh
trong giai đoạn tu tập không làm gì được chúng ta. Phải biết nuôi dưỡng tâm Bồ
đề, vì đó chính là bảo vệ tánh giác của mình. Đức Phật không bao giờ chấp nhận
những ai bữa nay hứng lên ngồi thiền bỏ ăn, ngồi suốt đêm suốt ngày. Làm được
hai ba ngày, sau đó thấy mệt bỏ luôn. Tu kiểu một nắng mười mưa như vậy nhất
định không bao giờ thành công cho được.
Con đường Phật đạo liên tục dài
lâu, chịu đựng gan dạ và phải một bề tiến thẳng mới đến nơi đến chốn được.
Thành ra ở bước thứ hai, chúng ta phải bảo vệ được tâm Bồ đề. Nghĩa là từ hồi
chúng ta mới bén duyên đến với đạo, chưa hiểu biết gì về đạo, rồi từ từ học
Phật, phát tâm tu hành, nuôi dưỡng dần dần cho tới khi chúng ta hiểu đạo, áp
dụng tu tập. Chúng ta giữ cho được liên tục, không để bất cứ lý do gì làm hỏng
đi. Chủng tánh Bồ đề mà bị hư thối rồi thì không làm sao gầy dựng lại được.
Luôn luôn với tâm thành khẩn, hướng tiến, biết rõ con đường dài lên dốc ngược,
chúng ta phải gắng gỗ mà đi, đi mãi. Như thế không tính thời gian, gặp khó khăn
chi cũng cứ tiến thẳng, nhất định sẽ thành công.
3. Phát đại nguyện rộng lớn:
Người tu hành nào cũng phát đại
nguyện hết. Trong thời khóa chúng ta tu tập hằng ngày có mười hai lời nguyện, đó
là những đại nguyện. Tại sao gọi là đại nguyện? Vì đó là những lời nguyện tỉnh
táo sáng suốt để thành tựu Phật đạo. Chúng ta không nguyện được bao nhiêu vàng,
bao nhiêu tài sản, không nguyện có thân tướng như trời như vua, mà nguyện tâm
Bồ đề được kiên cố, nguyện tất cả những vị thiện hữu tri thức trong mười phương
vì lòng thương tưởng mà hỗ trợ cho mình thành tựu được đại nguyện. Chúng ta
cũng biết những vị đó đang tiến hoặc tiến trước mình một khoảng trên con đường
tu tập Phật đạo, họ chưa xong việc. Do vậy có thể họ cũng không cho mình được
gì cả. Song ta chỉ mong họ có điều kiện hỗ trợ mình, giống như hai người bạn
cùng làm ăn với nhau. Một người bị hoàn cảnh suy sụp, công việc làm ăn thất
bại, tài sản tiêu hết. Một người có điều kiện phát huy được trở thành giàu có
vô cùng. Bây giờ người bạn thân đã bị khánh kiệt không mong người kia đem cho
mình tài sản, mà chỉ mượn thôi, khi gầy dựng sự nghiệp được sẽ trả lại.
Cũng thế, người đệ tử Phật hiểu
biết một cách cụ thể, sống vững với tinh thần Phật lý căn bản là mình chỉ nương
nhờ tạm thôi. Ở đây thiện hữu tri thức hỗ trợ cho những lời nguyện của mình.
Chúng ta chưa thành Phật nhưng phát nguyện thành Phật, chưa độ chúng sanh nhưng
phát nguyện khi giác ngộ sẽ độ hết chúng sanh. Tôn giả A Nan khi nhận ra được
yếu chỉ rồi, ngài phát nguyện trước đức Thế Tôn: “Con nguyện độ tất cả chúng
sinh được thành Phật rồi con thành mới thành Phật. Nguyện Phật chứng minh và hỗ
trợ cho con thực hiện được lời nguyện này”. Đây là cách phát đại nguyện của chư
vị Bồ tát.
Đức Phật trong thời tu nhân hành
Bồ tát đạo, có một khoảng ngài rơi vào địa ngục, thấy nhiều tội nhân bị hành hạ
khổ sở vô cùng. Quỷ sứ bắt họ kéo chiếc xe bằng sắt rất nặng, bọn chúng đứng
trên xe đâm chém vào người tội nhân. Hoặc cho tội nhân đội vòng lửa xoay trên
đầu. Nghe tiếng rên la, kêu gào đau đớn thống khổ của họ, Ngài thương quá nên
phát nguyện: “Tôi nguyện thay tất cả nỗi khổ này cho chúng sinh, nguyện từ nay
về sau đứng ai gầy dựng nhân xấu để rơi vào địa ngục chịu muôn vàn sự thống khổ
như thế này. Ngài vừa phát nguyện như vậy đó thì những chiếc xe sắt rớt ra hết,
và bỗng nhiên ngài thấy mình bay lên hư không. Nhờ tâm từ bi mở ra, ngài phát
nguyện thay khổ cho tất cả chúng sanh, nguyện mười phương các bậc hiền thánh hộ
trì giúp cho chúng sanh hết mê lầm, không gây tạo những nghiệp nhân bất hảo, để
đừng bị đọa vào địa ngục, nên ngài ra khỏi chốn lửa dữ.
Ở đây nói phát đại nguyện là như
vậy, tức là phát tâm giác. Phát được tâm giác rồi thì tất cả cửa mở ra. Chúng
ta hễ phát tâm được thì mình vui vẻ, trong lòng cởi mở. Ngược nếu nếu chấp chặt
thí sẽ bị mất hết. Như người sợ kẻ trộm, làm rào dậu, chuông điện đủ thứ, càng
sợ nó càng tìm vô lấy của. Cuối cùng mỗi nghiệp theo nghiệp mà trôi lăn. Khi
học Phật pháp rồi chúng ta thấy con người khó cưỡng lại được nghiệp của mình,
chớ không phải họ không biết.
Nói tới đây tôi nhớ hồi nhỏ lúc
tôi ở chùa Vạn Đức. Vùng đó hồi xưa có nhóm bụi đời dữ dằn lắm. Tên chúa đảng
có sở thích là ban đêm muốn ăn cháo gà, nên đàn em đêm nào cũng kiếm gà về nấu
cho anh ta ăn. Đàn em kiếm riết rồi sợ quá, vì người ta bảo vệ gà rất kỹ, cuối
cùng đích thân hắn đi. Bữa đó thấy ảnh chết, tôi đi ngang cũng không dám ngó
nữa. Người nuôi gà giăng điện trên bờ rào, ảnh vừa nhảy vô nằm vắt ngang trên
đó bị điện giựt chết. Họ lôi ra để ngoài đường từ sáng cho tới chiều, cả gia
đình của anh đi ngang cũng không dám nhận. Thiên hạ phỉ nhổ, chê cười. Thật ra,
không phải anh không biết điện giật sẽ chết, nhưng do cái nghiệp nó sai khiến
dẫn đi như vậy.
Nói tóm lại phát đại nguyện là mở
lòng ra, phát tâm giác, cầu giải trừ tất cả nghiệp tập, tu hành cho tới viên
thành Phật đạo.
4. Tâm từ bình đẳng:
Lòng thương trải rộng bình đẳng
không phân biệt thân sơ. Muốn có được tâm từ bình đẳng quả thực rất gian nan.
Trong cuộc sống có những trường hợp, những con người vừa gặp tự nhiên mình
thương. Có người mình phải phân tích, phải phát tâm lắm mới thương nổi. Bây giờ
làm sao quí vị thương được kẻ vừa lấy trộm đồ trong nhà mình, điều này khó lắm.
Nội mình đang đi đây, rủi họ đụng mà không xin lỗi, có vẻ kênh kênh là mình
muốn đập rồi, chứ ở đó mà nói thương. Nhưng trong tinh thần Phật dạy chúng ta
phải thương được, xóa được, bình đẳng được với những người như thế.
Muốn thực hành điều này, chúng ta
phải nhớ lời Phật dạy là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tất cả đều là Phật
sẽ thành. Như vậy sẽ không có ông Phật nào giận ông Phật nào hết. Mình giận là
không phải Phật rồi. Ta đâu nỡ lòng nào phủ nhận mình không phải là Phật. Do
vậy nên dù sự cố xảy ra làm sao, chúng ta cũng cố gắng hành trì chỗ này. Không
giận một vị Phật tương lai nào cả, đó là giữ được tâm bình đẳng giữa Phật Phật
với nhau.
Trong kinh Pháp Hoa có một phẩm
ghi lại hình ảnh tu tập và hoằng hóa của Bồ tát Thường Bất Khinh. “Thường” là
lúc nào cũng như vậy, “Bất Khinh” là chẳng dám xem thường ai hết. Phương pháp
giáo hóa của ngài là đi đâu, gặp ai từ xa bất luận tăng ni hay đạo tục, ngài
đều chấp tay bái bái nói lớn: “Tôi không dám khinh các ngài, các ngài là Phật
sẽ thành”. Bài thuyết pháp và hành động của ngài lúc nào cũng như thế. Bài thuyết
pháp ấy nhắc cho chúng ta nhớ mình là Phật sẽ thành, tức chúng ta có dòng họ,
có chủng tử Phật. Phát huy tinh thần tu tập Bồ tát đạo của các Phật tử là như
thế.
Phát đại nguyện, phát Bồ tát tâm,
gầy dựng tinh thần bình đẳng triệt để, là bắt đầu bước những bước khó rồi. Cho
nên nói con đường tu tập Bồ tát hạnh đi đến viên thành Phật đạo là con đường
dài lâu, kiếp số vô lượng vô biên. Đức Thế Tôn đã cho chúng ta biết ngài trải
qua những giai đoạn như thế trong ba a tăng kỳ kiếp. Vì vậy cần phải lập chí thật
vững chắc, siêng năng tinh cần, không tính hạn lượng, chỉ một tâm hướng đến
việc tu tập mà thôi.
5. Hạ thấp mình để cầu học Phật pháp:
Khi tu hành, chúng ta được sự
hướng dẫn của chư tăng, quí thầy thường dạy, người Phật tử gặp chư Tăng Ni và
các bạn đạo của mình, phải chấp tay chào: “A Di Đà Phật”. Gặp nhau thưa anh
thưa chị là phép tắc ngoài đời. Vì có anh chị thì có hoặc là anh chị họ nội,
hoặc anh chị họ ngoại. Rồi anh chị bên họ nội gần gũi hơn anh chị bên họ ngoại
hoặc ngược lại v.v… phân biệt nhiều chừng nào thì phiền não phát sinh chừng
nấy. Trong đạo không như thế, gặp nhau người lớn người nhỏ, người quen người
không quen đều là bà con hết, vì tất cả đều là Phật sẽ thành hết, nên chấp tay
xá chào: “A Di Đà Phật”. Bây giờ chúng ta tu Bồ tát đạo để viên thành Phật đạo
thì nhất cử nhất động gì cũng đều hướng về Phật đạo.
Cho nên ở giai đoạn thứ năm phải
hạ mình xuống học đạo. Tất cả mọi công phu, việc làm trong đạo, không thể nghe
sơ qua mà làm được, phải học, phải có thầy. Chúng ta luôn được hướng dẫn, hun
đúc tinh thần tu tập trong một môi trường, một điều kiện nhất định. Quí Phật tử
thấy chư Tăng Ni xuất gia như chúng tôi, được hun đúc trong một thiền viện để
nuôi dưỡng phát huy tinh thần cầu đạo giác ngộ giải thoát. Bởi vì việc này khó
chứ không phải dễ, không phải nói là làm được. Có khi nói được, nói rất hay mà
làm không được, cho nên phải được khép trong một cái khung, để từng bước chúng
ta làm cho được. Vì thế người vào đạo bước ban đầu phải khiêm nhường, hạ thấp
xuống để học, dù cho bản thân mình là hạng người nào.
Chúng ta đọc kinh, thấy các vị Bồ
tát học đạo nơi những người thị hiện loài súc sanh. Bồ tát học đạo với chồn,
cáo, hổ chẳng hạn. Bởi vì có khi các loài súc sanh ấy là lớp thị hiện của Bồ
tát để thử tâm người học đạo. Trong kinh Phật nói giáo pháp của đức Thế Tôn
không phân biệt chủng tộc, giai cấp. Đức Phật thị hiện ra đời để phá giai cấp,
nhất là bốn giai cấp đè nặng trên vai người Ấn Độ. Trong đó giai cấp Thủ Đà la
là giai cấp thấp nhất, bị đè bẹp, bị bóc lột, phải làm nô lệ cho cho các giai
cấp trên từ đời này sang đời khác, không thể cất đầu lên được. Trong giáo đoàn
của đức Phật có những vị A La Hán, gốc tích từ dòng nô lệ, như trưởng lão U Ba
Li, vị Thánh đệ tử hành luật bậc nhất.
Có lần đức Thế Tôn trên đường
hoằng hóa, gặp một vị trong giai cấp Thủ đà la. Thường những người giai cấp này
có cái chuông gắn nơi chân, họ đi đâu chuông kêu keng keng, báo động những dòng
tộc quý phái biết có bọn Thủ đà la ở gần nên tránh đi, vì gặp là xui lắm. Người
này đang gánh phân, nghe nói có đức Thế Tôn ở trước, ông sợ quá tìm cách tránh.
Đức Phật quán sát thấy người này hữu duyên, có thể hóa độ được, nên ngài thị
hiện khắp mọi ngỏ ngách. Ông tránh chỗ nào cũng gặp Phật hết. Cuối cùng đức Thế
Tôn nhiếp phục, độ vị Thủ Đà La này thành Tỳ kheo và chẳng bao lâu vị ấy chứng
Thánh quả. Sự việc này khiến vua Ba Tư Nặc rất bất mãn. Bởi vì vua là đệ tử
Phật, mỗi lần lên hầu chuyện Phật, thưa hỏi Phật pháp, nhà vua đảnh lễ đức Thế
Tôn và tất cả các vị thánh A La Hán, trong đó có ông Thủ đà la này.
Chịu hết nổi, vua nhất định tìm
đức Thế Tôn, trình bày cho ra lẽ: Muốn giáo đoàn cao quý tốt đẹp, vì sao Như
Lai lại nhận những người như thế vào trong tăng đoàn? Hôm ấy ông đến, đức Thế
Tôn đang nghỉ trưa, cửa đã đóng. Có một vị Tỳ kheo ngồi bên ngoài, ông tới chấp
tay thưa: “Bạch thầy, làm ơn cho tôi vào gặp đức Thế Tôn”. Vị Tỳ kheo nói bây
giờ là buổi trưa, chư tăng chỉ tịnh, đức Thế Tôn đang nghỉ ngơi. Vua nói:
“Không, tôi là đệ tử đặc biệt của Phật, tôi đến giờ nào Phật cũng cho gặp hết.
Phiền ngài hoan hỷ trình lại đức Thế Tôn là có vua Ba Tư Nặc tới yết kiến Như
Lai”. Vị Tỳ kheo thấy không ngăn được, ngang cổng tinh xá có một cục đá to,
ngài dụng thần lực đi xuyên qua cục đá ấy, vào trong không cần mở cửa. Vua thấy
nể quá, thầy giữ cửa của đức Phật mà có thần thông như thế, nên không dám khinh
suất giáo đoàn. Sau khi Tôn giả ấy vào thưa với đức Phật, Thế Tôn hoan hỷ cho
vua vào.
Gặp Phật nhà vua đảnh lễ, lời đầu
tiên của vua là: “Kính bạch đức Thế Tôn, tôn giả giữ cửa hôm nay là tôn giả nào
mà có thần lực đặc biệt như thế?”. Đức Phật cười nói: “Đó là người hôm nọ gánh
phân trong dòng Thủ đà la hạ tiện đó, nay đã xuất gia đã thành thánh quả rồI”.
Nghe xong lời này, nhà vua phá tan tâm đố kỵ, cố chấp về giai cấp của mình.
Cho nên trên bước đường tu học,
chúng ta phải hạ tâm xuống học hỏi với tất cả mọi người.
6. Tâm từ bi nhẫn nhục:
Tâm từ của chúng ta có chứ không
phải không, nhưng nó giới hạn lắm. Tiền thân đức Thế Tôn tu nhân bố thí, ngài
phát nguyện bố thí con mắt. Nhưng từ sáng tới chiều không có người đến xin, Bồ
tát rất buồn. Khi có người tới xin ngài rất hoan hỷ, người xin chưa kịp hỏi,
ngài đã móc mắt cho rồi. Người kia cầm lên nói: “Tôi xin con mắt phải, ngài cho
con mắt trái, đâu có dùng được”. Nói xong, kẻ ấy ném con mắt của đức Phật xuống
đất. Nếu lúc đó tâm từ bi vô ngã vị tha không phát triển thì sân hận nổi lên.
Song Bồ tát tu hạnh bố thí Ba la mật, chẳng những không sân giận mà còn vui vẻ
móc con mắt còn lại cho nốt. Chỉ có tâm từ bi, bình đẳng mới thành tựu được như
thế.
Cho nên trong giới hạnh tu Bồ tát
đạo để đi đến Phật đạo khó khăn vô cùng, chúng ta thành tựu được mới viên thành
Phật đạo. Từ bi nhẫn nhục mà không thấy có mình, có người mới có thể đạt ba la
mật. Người tu phải đầy đủ dũng lực, trí lực khả dĩ thực hành hạnh này tới nơi
tới chốn. Bằng ngược lại, yếu đuối hoặc không có trí tuệ thì không thể thực
hành hạnh từ bi nhẫn nhục một cách rốt ráo được.
7. Tinh tấn giải thoát:
Tinh tấn trên con đường giải
thoát, cuối cùng làm được tất cả việc khó làm, bỏ được tất cả việc khó bỏ. Hai
chặng này là hai chặng viên mãn nhất.
Có những việc làm chúng ta thể
hiện được tinh thần Bồ tát, nhưng tâm Bồ tát chưa hoàn toàn viên mãn. Do vậy
nên mình chỉ làm trong một chừng mực nào thôi. Bây giờ chúng ta phải mở rộng
biên cương ấy ra, xóa hết mê ngộ mới viên thành Phật đạo. Như trời trưa nắng
gắt, gánh nặng đường xa, muốn đi đến nơi thì những gì trong gánh phải bỏ hết,
cuối cùng cái gánh cũng bỏ luôn. Thân này, hoàn cảnh này, sự sống này, tất cả
sự kiện chúng ta loại bỏ hết.
Hòa thượng thường dạy, thân này
không thật, hoàn cảnh không thật, các pháp không thật, tâm của mình cũng không
thật nữa. Do vậy mình vững vàng bỏ tất cả những cái không thật đó, để sống với
tánh giác của mình. Mỗi người chúng ta đều có sẵn tính giác. Ai khéo thực hiện
Bồ tát đạo là phải loại bỏ hết những gì không phải tánh giác để nhận lại sống
lại với cái chân thật ấy. Tuy chúng ta có tánh giác nhưng từ lâu quay lưng, bỏ
quên nên bây giờ vọng tưởng phiền não bu bám che mờ tánh giác. Bây giờ muốn
tánh giác hiển lộ thì phải giạt những thứ tạp nhiễm ra. Hy vọng trên bước đường
tu tập, chư huynh đệ nắm vững, hiểu biết lộ trình như vậy để bước từng bước
thật vững.
8. Khắc phục hoàn toàn tất cả những khổ đau, được an vui giải
thoát:
Khi chúng ta đã thực hành trọn
vẹn bảy bước trước là có thể bước sang bước thứ tám. Nhờ nhận và sống lại được
với tánh giác chân thật có sẵn nơi mình, chúng ta không còn mê muội, không còn
phiền não, do đó cũng không còn khổ đau. Nghĩa là tới giai đọan này hành giả
hoàn toàn khắc phục tất cả khổ đau, được an vui giải thoát. Bước thứ tám là đi
đến kết quả viên mãn. Chúng ta tự giác, giác tha đầy đủ công đức thì mới thành
tựu Phật đạo.
Nhân ngày đầu xuân, kỷ niệm Bồ
tát Di Lặc là vị Bồ tát hoan hỷ, không còn chấp thủ, tất cả người con Phật
chúng ta nhất tâm hướng về ngài, kính lễ ngài và nhớ lại gương hạnh của ngài,
phát nguyện thực hiện cho được gương hạnh đó, thực hiện cho được tâm bình đẳng,
từ bi trí tuệ, đi từ từ bước đầu giới hạnh thanh tịnh cho đến bước cuối cùng là
bỏ được tất cả những gì khó bỏ để được giải thoát an vui vĩnh viễn.
Kính chúc những người con Phật
chúng ta luôn tỉnh sáng, thực hiện trọn vẹn nguyện lành của mình, tu tập cho
đến viên mãn Phật đạo.
Hướng Tiến Tu
Hành
Hôm nay là ngày khai pháp đầu năm
tại tổ đình Thiền viện Thường Chiếu. Có một ít Phật tử đến hỏi tôi “bây giờ
chúng con phải tu làm sao?” Tôi liền dẫn quí vị ấy ra La Hán Đường, rồi nói
“Hôm nay là ngày công tác phổ thỉnh, chúng tôi xin mời các Phật tử cùng đại
chúng sinh hoạt, xem đây là một trong những thời khóa tu học. Các vị ấy rất
phấn khởi đi theo tôi. Tới nơi, thầy tri sự sắp đặt người trồng cỏ, người chạy
nước, người ban đất… làm đủ thứ việc. Tôi nói “các đạo hữu hãy tham gia đi, đây
là giờ sinh hoạt tu học của đại chúng đó”, muốn nói gì lát nữa chúng ta sẽ bàn
bạc sau. Quí vị làm việc cùng với đại chúng tới khoảng giữa buổi, chư tăng nghỉ
ngơi giải lao một chút, Phật tử vui vẻ trở lại tìm tôi thưa: Thưa thầy, bữa nay
chúng con được một bài học sống về pháp tu, nhưng không biết có chín chắn chưa?
Lâu nay chúng ta học thiền, hiểu
Phật pháp nhiều, nhưng áp dụng lý thuyết vào đời sống sinh hoạt có kết quả tốt
hay không lại là chuyện khác. Một thiền sư Trung Hoa khi có học nhân tới hỏi
đại ý Phật pháp, ngài đạp cho một đạp té nhào. Vị tăng ngồi dậy, ngài cười hỏi
“nhận ra đại ý Phật pháp chưa?”. Chúng ta làm sao hiểu nổi những bài học như
vậy. Nhưng đó lại là cách chỉ dạy triệt để nhất. Thiền sư làm cho chúng ta chết
hết những vọng tưởng điên đảo, những suy tư về cái gọi là đại ý Phật pháp. Nếu
ngài giải thích đại ý Phật pháp thế này thế kia, chúng ta sẽ mắc kẹt trên ngôn
ngữ, hý luận thì càng cách xa Phật pháp.
Tuy nhiên thời buổi của chúng ta
ngày nay, không thể áp dụng phương pháp này. Vì thời nay đời sống văn minh, con
người chú trọng nhân phẩm, cuộc sống đi theo chiều hướng phát triển của khoa
học kỹ thuật, nói năng biện chứng rõ ràng, không thể úp mở khó hiểu hay dùng
các hành động lạ lùng mà có thể nhiếp phục được. Nếu chúng ta tu thiền như các
ngài hồi xưa, người ta sẽ cho mình điên loạn, xã hội không chấp nhận. Thế là vô
tình ta làm mất đi tính khế thời khế cơ, khiến Phật pháp sẽ bị mai một, nói chi
đến chuyện làm hưng thịnh dòng giống Phật.
Như vậy bây giờ chúng ta phải tu
như thế nào mới nhận ra được diệu lý chân thật, mới cảm thông được bài thuyết
pháp kiểu xưa của Tổ sư. Một thiền sư đặc biệt như Tổ Lâm Tế, đụng tới là hét
là đánh. Sau khi ngài ngộ đạo, truyền bá xiển dương tông phong Phật tổ sáng
rực. Cho nên có thể nói Tổ Lâm Tế là một nhân vật kiệt liệt, kỳ khu trong nhà
thiền. Năm xưa nơi hội tổ Hoàng Bá, ngài Lâm Tế còn là một học tăng, đến thưa
hỏi Phật pháp qua sự hướng dẫn của người trưởng huynh là ngài Trần Tôn Túc.
Ngài Lâm Tế nghe lời, lên hỏi Hòa thượng đại ý Phật pháp. Ba lần hỏi đều bị ăn
gậy cả ba. Trong sử diễn tả hình dáng của ngài Hoàng Bá to lớn, như vậy nếu
ngài thẳng tay nện ba gậy thì mệt lắm. Thế nhưng bài pháp trực tiếp giữa hai
thầy trò ngài đến nay vẫn còn hiệu lực triệt để. Bởi vì ở đây không cho phép
học nhân suy nghĩ. Suy nghĩ tốt cũng không được, suy nghĩ xấu cũng không được,
suy nghĩ tới cũng không được, suy nghĩ lui cũng không được. Chạy qua chạy về
bốn phương tám hướng, trốn chui trốn nhủi đâu cũng không được, đành phải ăn
đòn. Ngay chỗ đó nhận ra được hay không thì tùy mình, ông thầy không bắt buộc.
Cho tới bây giờ có thể nói ở Việt Nam, thiền Lâm Tế là phái thiền phổ thông và
đặc biệt nhất. Do nhân duyên ngộ của thiền sư Lâm Tế cao vút như thế mà tông
phong kéo dài đến ngày nay.
Thời đại chúng ta ngày nay không
thể dùng những chiêu thức đó. Tuy nhiên nếu chúng ta không nắm được yếu chỉ nhà
thiền vốn không nhiều lời, cứ chạy tìm trên danh văn nghĩa cú thì trọn đời cùng
cũng không tu được. Phải nhận ra lẽ sống thực ngay nơi mình, căn cứ từ những
phương tiện sinh hoạt bình nhật mà xoay trở lại ông Phật thật hằng hữu nơi mỗi
chúng ta. Từ cuộc sống, từ mọi điều kiện ngõ ngách, ta có thể nhận lại được
chính mình.
Tôi nghĩ quí Phật tử hôm ấy ít
nhiều sẽ thầm nhận được điều tôi muốn nói với họ. Thầm nhận rằng tại thiền viện
có một sức sống thật, ngoài những cách hành trì theo pháp môn truyền thống nhà
Phật. Trong lao động chúng ta có cơ hội để học tập lẫn nhau, đồng thời cũng
biểu hiện sức sống tỉnh giác thông qua việc làm của mình. Người ta nói tu là
hướng thiện, là hành thiền, nhưng hướng thiện hành thiền như thế nào? Hòa
thượng ở đây dạy chúng ta tu hành như thế nào mà biết được vọng tưởng không
thật, đừng bị nó sai khiến kéo lôi. Muốn thế, ta phải làm chủ được các dấy
niệm. Chỉ vậy thôi. Đối với các dấy niệm chúng ta làm chủ được thì bảo đảm làm
chủ được vấn đề sinh tử. Chính những dấy niệm, những vọng tưởng, những so đo
tính toán ngược xuôi, đẩy đưa chúng ta đi vào con đường sinh tử.
Trong mọi thời mọi lúc, mọi sinh
hoạt, lúc ăn nghỉ, tiếp khách, làm việc, nói năng… ta làm chủ được mình là tu
thiền. Chưa làm chủ được thì sao? Thì bị nó kéo đi. Bởi vì nó là một thói quen,
nhà Phật gọi là nghiệp. Mà nghiệp thì có sức mạnh. Chúng ta không làm chủ
nghiệp thì nó làm chủ lại mình. Cho nên suốt một đời tạo nghiệp, cuối cùng khi
mất thức thần sẽ theo nghiệp thọ sanh. Do vậy vừa có dấy niệm là chúng ta lao theo
nên mất mình. Nếu tu tập như vậy thì chừng nào mình mới làm chủ được sinh tử,
mới đạt đạo? Nói theo danh từ chuyên môn trong nhà Phật chừng nào tâm mình
thanh tịnh thì ngộ đạo. Giản dị như vậy. Muốn tâm thanh tịnh thì phải làm chủ
các dấy niệm.
Nhiều khi chúng ta làm việc mệt
mỏi, muốn ngủ chừng một tiếng đồng hồ để lấy lại sức khỏe, nhưng dễ gì. Nếu
trước khi ngủ mình còn ưu tư, chuẩn bị một việc gì đó thì sẽ bị mất ngủ hoặc
ngủ chập chờn với bao nhiêu việc trong mộng. Cho nên lúc thức hay ngủ, luôn luôn
mình thấy mất sức khỏe. Thiền sư thì không như vậy, các ngài nói ăn là ăn, ngủ
là ngủ. Do vậy các ngài dám trả lời một cách dứt khoát: “Thiền là gì?” Đói ăn
mệt ngủ. Bởi vì các ngài khi ăn chỉ ăn, khi ngủ chỉ ngủ. Còn chúng ta ăn không
ra ăn, ngủ không ra ngủ, trong đầu vướng bận trăm công ngàn việc. Sở dĩ ta dễ
giận, dễ vui, dễ buồn là do bị động nhiều quá. Bao giờ mình đừng bị động nữa
thì mới an ổn.
Có những vị còn rất trẻ nhưng
muốn ngủ được phải uống thuốc, nghĩa là họ bị động quá nhiều. Bị động như vậy
mà bảo thanh tịnh, bảo yên làm sao yên được. Sự sắp đặt công việc hằng ngày với
những giao tế chung quanh càng nhiều chừng nào thì bị động càng lớn chừng ấy.
Lúc quí vị làm phó giám đốc thì cái động trong phạm vi của phó giám đốc. Khi
quí vị làm giám đốc, tổng giám đốc hoặc làm chức lớn hơn nữa thì cái động lớn
bằng chức danh của quí vị. Như vậy bảo thanh tịnh, bình yên sao được. Do chỗ
này mà có người tu Phật trải qua nhiều năm không thấy tiến bộ. Bởi vì họ nuôi
dưỡng từng đoàn vọng tưởng, cả trời vọng tưởng nên dù tu học Phật pháp nhiều
đạo tràng, nghe nhiều vị thiền sư giảng dạy nhưng cuối cùng trớt lớt hết.
Có nhiều buổi khuya tôi thức dậy,
ngồi nhìn đồng hồ điện tử chớp, để xem hồi kiểng của đại chúng có ăn khớp với
đồng hồ không? Kim chỉ giây chớp từng giây từng giây, tôi thấy nhanh quá. Rồi
nghĩ đến hơi thở mỏi mòn của mình cũng nhanh như vậy. Cho nên người xưa nói: Có
khi lên giường nghỉ, rút chân lên chưa chắc sáng mai còn có cơ hội thả chân
xuống. Thật là cái thấy đáo để. Trở lại đời sống tu tập hằng ngày của chúng ta
cũng vậy đó. Làm sao ta tranh thủ từng phút giây làm chủ với vô thường. Chúng
ta phải làm chủ cho được những thứ tầm thường, những niệm loạn động, những
nghiệp tập kéo lôi mình đi trong trầm luân sanh tử. Công tác hằng ngày không
nhất thiết phải một thứ. Bữa quét rác, bữa tưới cây, bữa dâng hương cho Phật,
bữa rửa chén, bữa nấu cơm… ta luân phiên làm trong tỉnh giác. Trong tất cả các
thời, mọi sinh hoạt, phải làm chủ đừng để các niệm xen vô lôi dẫn ta đi. Việc
này phải tập, tập lâu lắm mới quen, chứ không phải dễ đâu.
Chính bản thân chúng tôi trong
những ngày đầu ở núi với Hòa thượng đã tập như vậy. Quí vị thử tưởng tượng,
thời hai mươi mấy tuổi đi học bằng xe hai bánh, chạy rong chạy rêu dưới phố,
nay hẹn nhóm này, mai tới nhóm kia, nó điên đảo lăng xăng cở nào. Nhưng lên núi
rồi thì cột trâu lại, tất cả chuyện trần gian trả lại hết. Con trâu ăn cỏ ở
đây, sống ở đây, không cho đi đâu. Chuyện nghe bình thường nhưng phải tập ba
bốn năm trời, mới cột được chút chút. Đó là những chia xẻ rất thật của chúng
tôi.
Nói đến vấn đề hướng thiện và tu
thiền, thật ra nó giản dị vô cùng. Từ khi Hòa thượng thành lập thiền viện
Thường Chiếu cho tới bây giờ, chưa lần nào Ngài đứng ra tổ chức, kêu gọi Phật
tử đi hành hương. Hòa thượng nói chúng ta giản dị bớt về mặt hình thức để Phật
tử có thời gian tu. Như chư tăng ở đây sáng mai thức dậy ai nấy đều lo quét
dọn. Quét dọn có hai mặt: một mặt là quét dọn đạo tràng, sái tịnh trang nghiêm,
một mặt nữa là quét dọn những cặn bã trong lòng mình, hốt đi hết. Một việc làm
bình thường như vậy, nếu ai thâm ngộ thâm đắc thì vào cửa được. Đó là một pháp
sống. Do vậy người xưa không nói dạy thiền, không nói tu thiền, chỉ ngay trong
việc làm nhận lấy. Người xưa dạy sáng mai quét rác, trong lòng thầm nghĩ:
Cần tảo già lam địa,
Thời thời phước huệ sanh,
Nhược vô tân khách chí,
Tất hữu thánh nhân hành.
Dịch:
Siêng năng quét đất Phật,
Phước huệ thường thường sanh,
Nếu không có khách viếng,
Cũng có thánh nhân đi.
Trong lòng chỉ duy nhất như vậy,
không gì khác hơn. Không bồn chồn, không nghĩ ngợi, không toan tính, chỉ thế
thôi. Biết chắc với một niềm tin vững vàng, việc làm của mình ngay bây giờ
trang nghiêm thanh tịnh. Người được như vậy quả thật là người sống có lý tưởng.
Thật ra người tu là người sống có lý tưởng, chứ không phải không có lý tưởng.
Lý tưởng, sức sống ấy ấp ủ bên trong, người ngoài không thấy biết. Như tôi lên
Trúc Lâm, chư tăng trên đó sinh hoạt khác hơn dưới này. Buổi sáng làm việc
ngoài ngoại viện sớm hơn giờ ăn sáng, vì tránh lúc khách đến viếng đông. Có hôm
trời lạnh xuống sáu độ, nhưng các thầy vẫn tự nhiên chạy ra sân, vừa hít hà,
vừa quét dọn v.v.. làm các công việc với tính cách hồn nhiên, nhanh nhẹn, vui
vẻ. Làm xong, chư tăng vào nội viện đóng cổng lại, không tiếp duyên bên ngoài.
Chúng ta thấy quí thầy sống dường như thầm lặng ẩn mình, nhưng thật ra họ rất
có lý tưởng. Phải có lý tưởng mới duy trì một đời sống như thế lâu dài được.
Ở thiền viện Thường Chiếu cũng
vậy, tôi luôn nhắc nhở huynh đệ bớt tiếp duyên. Ai có phận sự mới ra ngoài, không
phận sự gì thì ở yên một chỗ lo tu hành, nuôi dưỡng chí nguyện của mình. Đây là
điều rất hệ trọng, phải chỉnh đốn nhắc nhở anh em thường xuyên. Nếu không họ sẽ
quên mất mục đích xuất gia của mình. Chỉ một việc nhỏ thôi, chúng ta thấy đã
khó làm rồi. Đó là việc gì? Như mình muốn đi đâu thì tự quở “đừng đi”. Vừa nghĩ
muốn ra nhà khách liền tự hỏi “ra nhà khách làm gì?” Nếu thấy không cần thiết
thì không đi. Một niệm dấy lên, mình dừng được là thành công. Bây giờ quí vị
khởi niệm ra khỏi cổng chùa, đi chợ Phước Thái hoặc chạy ra xóm, vừa khởi niệm
liền dừng, nói không cần thiết, quí vị sẽ yên. Chúng ta cố gắng vận dụng trí
tuệ để cắt bớt những dây mơ rễ má, những dấy niệm, những vọng động, mai ra mới
làm chủ được. Nếu không ta sẽ bị những dấy động dẫn đi hoài, không biết tới bao
giờ mới dừng.
Những khi quí thầy bệnh thường
hay nhớ nhà, nhớ ba má, nhớ anh chị… đó là tâm trạng chung của những người
bệnh. Khi một niệm nhớ nhà dấy lên, thế là quí vị chạy tuốt về quê. Nào là vọng
tưởng con đường đất đỏ xe chạy lọc cọc. Tới nhà má mình ra đón, rót nước, dọn
cơm, ân cần thăm hỏi từng chút. Sẵn đó nhớ lui về dĩ vãng, hồi nhỏ mình đi học,
nửa chừng trốn chạy về nhà đeo theo má. Bà già phải nắm tay dẫn vô trường, mình
không chịu đi vùng vằng la khóc om sòm. Thế là má mua cho mấy cái bánh trám kín
miệng lại. Mình mắc ăn bánh, quên khóc và cũng không hay má đã nắm tay giao cho
cô giáo… thôi, nhớ đủ thứ. Vì thế mỗi lần bệnh lại muốn về nhà hoặc trông người
thân lên thăm. Bệnh thân đã nhọc cọng thêm bệnh tâm nữa, thành ra yếu đuối quá
sức.
Ở thiền viện có nhiều huynh đệ,
nhưng khi bệnh mình chỉ nghĩ nghĩ đến người thân ở nhà. Lạ vậy! Vì thế tôi
thường nhắc huynh đệ: trong viện, một trăm tám chục thầy, cho như một trăm thầy
ghét mình thì cũng có tám chục thầy không ghét. Mình nhờ họ cạo gió họ cạo gió,
nhờ họ lấy nước họ lấy nước, nhờ việc gì họ cũng sẵn sàng hết. Chẳng những nhờ
mà đó nguyên tắc sắp đặt của thiền viện, cớ gì mình lại trông mong, dấy niệm
phóng ra ngoài. Nhưng thật ra thói quen ấy nhất thời bỏ không dễ đâu. Bệnh
xuống là nhớ má nhớ ba, nhớ chị nhớ em, nhớ quê nhà. Bây giờ muốn quên cũng
phải có công phu. Những dây mơ rễ má như vậy, mình cắt đứt may ra cái hướng
thiện, việc hành thiền mới vững. Nếu không sự tu hành của chúng ta sẽ chẳng đi
tới đâu.
Những điều này chúng ta phải bảo
vệ, chia sẻ và nhắc nhở nhau thường xuyên. Huynh đệ cố gắng làm chủ các vọng
tưởng, các dấy niệm của mình thì hy vọng làm chủ được sinh tử. Từ đây về sau,
dù huynh đệ có bị hoàn cảnh hoán chuyển, người phương trời này, kẻ góc biển nọ,
chúng ta nhớ lời nhắc nhở của huynh đệ, nhớ pháp Hòa thượng chỉ dạy. Ai làm chủ
được dấy niệm, người đó làm chủ được sinh tử. Làm chủ được sinh tử thì ở đâu
cũng tự tại, kể cả trong địa ngục. Ở địa ngục vì mình tình nguyện vô đó nói
chuyện với quỷ sứ, chứ không ai nói chuyện với mấy ổng hết. Hoặc ở trong bất cứ
đường nào trong lục đạo, người làm chủ được vọng tưởng là đủ sức nói chuyện với
những vị lãnh đạo trong đó. Vì vậy bây giờ huynh đệ chúng ta quyết tâm làm chủ
cho được những dấy niệm.
Kinh nghiệm bản thân chúng tôi
thấy, như sáng mai thức dậy ta lo làm những công việc bình thường của mình.
Thức dậy rửa mặt, kiếm bình thủy chế ly nước trà, hớp vài ngụm, hít hà này kia
rồi mặc ăo tràng lên thiền đường. Đó là con đường đi chung. Lên thiền đường thì
phải im lặng, không ai nói gì với ai hết, mỗi người tự tu tự tỉnh. Việc làm ấy
thành thói quen rồi, không cần ai nhắc nhở. Chỗ của mình đã có, bồ đoàn tọa cụ
đã sẵn, lên đó sửa soạn ngồi ngay ngắn, trong vòng 15 phút thôi là vô khuôn vô
nếp hết. Ông già ngồi trên bàn ngó xuống trợn mắt cũng không nói gì, dưới này
hàng trăm ông nhỏ ngồi ngó lên cũng không dám hó hé. Chỉ một thầy vác thiền
bảng đi, thấy ông nào ngồi không yên là đập, ông nào ngồi cong là kê thiền bảng
vào, mình biết ngồi cong thì kéo lại. Làm theo thói quen như vậy, cũng phải
trải qua một thời gian tu tập.
Thật ra chỗ này mất thời gian
lắm. Có vị tới giờ lên thiền đường lại không muốn lên. Chung bảng đã đánh, luật
đã định, nếu có bệnh duyên thì phải xin phép. Do vậy có người tới thưa “Bạch
Thầy, bữa nay con bệnh quá, xin được ở dưới”. Ông thầy không nói gì hết, nhưng
con mắt ngó sửng “Bệnh thiệt không đó!” Thế là một lát đi kiểm tra, bệnh thiệt
thì thông qua, còn vì ham trùm mền ngủ là không được. Trong thanh quy có quy
tắc đàng hoàng mới trị nổi mấy tay làm biếng. Thật ra vì chúng ta còn dở, còn
yếu nên phải sử dụng những phương tiện như vậy. Nếu còn dấy niệm, còn ỷ lại tha
lực bên ngoài là chúng ta còn yếu, chưa tự quyết. Bây giờ ta phải cố gắng giữ
được chủ lực mới vào được bước thứ nhất.
Kế nữa, người tu phải chuyển hóa
và thực hiện tất cả những công đức. Chuyển hóa như thế nào? Chúng ta thẳng thắn
đi vào nề nếp tu học. Nếu tu mà chỉ ngồi nói thì dù tụng nửa ngày cũng chẳng
dính vào đâu. Tâm vọng động là bóng dáng của các trần cảnh bên ngoài, nó chưa
phải thực tâm, nên lén lút làm đủ thứ chuyện, chúng ta chưa kiểm soát được.
Chừng nào sống được với chân tâm ta mới kiểm soát, làm chủ nó dễ dàng. Như thế
là chuyển hóa trọn vẹn vọng tâm, tu tạo tất cả công đức lành.
Ngày xưa, trong sinh hoạt của đức
Phật, ngài cũng có giờ nằm nghỉ, giờ tiếp chư tăng từ các nơi về thăm viếng,
giờ pháp thoại… Giờ giấc của ngài thành thời khóa đặc biệt như vậy, không ai
dám xen vô. Bây giờ chúng ta thấy Hòa thượng ân sư cũng có giờ. Ví dụ Phật tử
lên thăm ngài nhằm khoảng 12 giờ trưa,vị tri khách của Thiền viện báo giờ này
là giờ nghỉ của Hòa thượng, quí vị vui lòng đợi tới giờ thức chúng mới thăm
được. Hoặc buổi sáng khoảng 7 giờ, quí vị muốn trình Hòa thượng việc gì, vị tri
khách hướng dẫn cũng báo giờ này Hòa thượng còn đang chống gậy đi bên ngoài các
công trình, để hướng dẫn công việc cho chư tăng. Khoảng tám giờ ngài mới về
thất, quí vị đến đó thưa hỏi v.v.. Những công việc bình thường, ta cũng nên bắt
chước các ngài, sắp xếp có thời khóa giờ giấc đàng hoàng. Giờ nào việc đó. Đây
cũng là pháp tu.
Nhiều Phật tử phàn nàn chúng con
nhiều việc quá tu không được. Hòa thượng vui vẻ nói “ngày xưa vua Trần Nhân
Tông công việc hơn chúng ta gấp trăm ngàn lần mà còn tu được”. Quí vị đọc câu
chuyện nửa ngày của Thái Thượng Hoàng sẽ thấy Ngài làm việc nửa ngày tu nửa
ngày, đều đặn như vậy, không sót mất một thời khóa nào. Bây giờ chúng ta cũng
bắt đầu như vậy đi. Vua Trần ngày xưa khi giao ngôi lại cho con là Trần Anh
Tông, ngài làm Thái Thượng Hoàng, nghĩa là vẫn còn nhiếp chính. Do vậy có lần
ngài về triều đột xuất, vua Anh Tông không biết trước. Đêm đó nhà vua uống rượu
quá chén, sáng ngủ say không hay vua cha hồi triều, mà quần thần chẳng ai dám
gọi dậy, do đó vua không ra nghinh tiếp.
Thái Thượng Hoàng biết chuyện,
không nói không rằng bỏ đi thẳng về phủ Thiên Trường triệu tập bá quan về chầu
tại đó. Khi tỉnh rượu, Anh Tông hay ra cớ sự, thất kinh hồn vía, chạy ra trước
sân rồng, thấy một thư sinh còn đứng đó. Nhà vua gọi vào viết một tờ tấu chương
xin sám hối vua cha. Rồi hai vua tôi dong thuyền suốt đêm đuổi theo Thái Thượng
Hoàng. Đến sáng, vua Anh Tông quỳ sẵn nơi tiền sảnh, xin được dâng biểu vua
cha. Ngài Nhân Tông không thèm ngó tới. Vua quỳ suốt như vậy cả buổi, không dám
nhúc nhích. Bá quan nóng ruột, tất cả đều quỳ mọp thỉnh cầu Thượng Hoàng Nhân
Tông xá tội cho vua con. Sau khi đọc xong tờ biểu, thấy lời lẽ phải đạo, văn từ
trôi chảy, ý tứ sâu lắng, vua cha mới chịu tha, nhưng bố cho vua con một trận
ra trò. Vua Trần Nhân Tông dạy con nghiêm chỉnh nổi tiếng trong lịch sử nước ta
đến thế. Nhờ vậy triều đại nhà Trần tồn tại lâu dài và vua tôi đều nổi tiếng
vua hiền tôi sáng đến bây giờ. Lịch sử nước ta luôn xem Trần triều là chuẩn mực
một thời hưng thịnh của nước nhà, lấy đây làm tấm gương soi chung cho các thế
hệ mai sau.
Bây giờ chúng ta tu tập là chuyển
hóa nghiệp, làm chủ nó. Người tu thiền không ỷ lại, không trông chờ, cố gắng tự
chuyển hóa và làm tròn bổn phận của mình bằng tất cả tâm thành. Như lúc xưa,
khi mới về đây chúng tôi cũng bôn ba đi cuốc, đi cày với đại chúng, bây giờ
không làm nổi nữa. Không làm nổi chẳng lẽ đi ngủ, phải thành tâm góp sức, bằng
cách chỉ đạo hướng dẫn việc làm cho anh em, đồng lao cộng khổ với chư tăng.
Người xưa hay nói “chịu đấm mới được ăn xôi”, ai không chịu đấm nổi thì khỏi ăn
xôi, không chịu cực làm sao tu. Công việc nào cũng phải chịu khó mới thành tựu,
huống là việc tu cầu giác ngộ giải thoát. Trong sự tu hành chúng ta chân thành,
sắp xếp công việc hằng ngày thế nào để không mất thì giờ tu. Như vậy từ từ sẽ
yên.
Hôm nay buổi khai pháp đầu năm,
tôi trình bày vài phương tiện nhỏ trong việc tu hành để tất cả chúng ta, bắt
đầu công phu tu hành bằng tâm chân thành của mình. Điểm quan trọng chúng tôi
muốn nói là người tu phải làm chủ được các dấy niệm của mình mới làm chủ được
sinh tử. Đó là đỉnh cao, là lý tưởng trong đời tu của chúng ta. Rất mong Tăng
Ni cũng như Phật tử, chúng ta đều năng nổ thực hiện cho được lý tưởng ấy ngay
trong đời này. Có thế ta mới thật sự nếm được pháp vị an lạc, giải quyết việc
sinh tử của mình.
Con Đường Xưa
Khai pháp đầu năm Giáp Thân
Đạo tràng Thái Tuệ
Tôi được vinh dự là mỗi năm đại
lão Hòa thượng Tôn sư về đây cùng các hội hữu Phật tử trong đạo tràng Trúc Lâm
Thái Tuệ làm lễ khai pháp. Như lời trình bạch của vị huynh trưởng thì đạo tràng
đã được mười tuổi, tức mười năm sinh hoạt Phật pháp, dưới sự hộ trì của Tam
bảo.
Hòa thượng tôn sư luôn thương
tưởng quí Phật tử, ân cần nhắc nhở qua những băng từ, quí vị luôn nương theo tu
học từ trước đến giờ. Đồng thời Ngài cũng chỉ dạy các vị đệ tử đến đây trực
tiếp giảng giải Phật pháp và hướng dẫn cho toàn thể hội hữu Phật tử trong đạo
tràng tu học. Quí vị thật đủ duyên lành và duyên lành ấy ngày càng phát triển
một cách mạnh mẽ. Đó là điều đáng mừng.
Đề tài hôm nay tôi muốn nói với
quí vị là con đường xưa. Tôi nghĩ nếu ngày xưa chúng ta không có duyên, không
có chủng nào đối với Phật pháp thì nhất định bây giờ không làm sao gầy dựng nổi
một đạo tràng đông đảo như thế này. Bởi trước kia chúng ta đã có duyên, đã từng
là huynh đệ pháp hữu với nhau, nhắc nhở nhau trên bước đường tu học Phật pháp
nên mười năm qua, đạo tràng Trúc Lâm Thái Tuệ vẫn tu học đều đặn, mỗi tuần quí
Phật tử về đây sinh hoạt Phật pháp một lần. Đây là một phúc duyên lớn Tam Bảo
hộ trì cho chúng ta, chớ không phải tự nhiên được như vậy.
Tuy nhiên đời trước chúng ta áp
dụng Phật pháp còn lôi thôi, do vậy bây giờ mình để thời gian trôi qua mất hết,
không đủ sức tỉnh giác sớm, khiến cho phiền não vọng tưởng kéo lôi mãi, chưa
dừng dứt được. Trong kinh Niết bàn đức Phật có dẫn dụ một sự việc như thế này. Như
một số người đi du ngoạn mùa xuân, ngang qua hồ nước trong thấy đẹp quá, họ
lượm sạn nhỏ thảy xuống hồ. Trong lúc cao hứng, họ thảy chơi thôi, không nghĩ
sẽ tìm lại viên sạn. Nhưng không phải thế, trong kinh Phật dạy tiếp: “Những
viên sạn người này liệng xuống hồ ngày xưa, nếu có người sáng ý muốn tìm lại,
thì có hai cách: Một là để cho hồ nước lắng thật yên, thật trong, sẽ nhìn thấy
viên sạn chỗ nào, rồi thì nhè nhẹ thò tay vớt lên. Cách thứ hai, nếu là người
đại lực lượng, họ đem gào tát quách hết nước đi sẽ hiện viên sạn lên thôi”.
Nhưng cách sau là của những người hùng dũng, khỏe mạnh, can trực lắm mới làm
nổi. Hầu hết chúng ta chỉ ngồi yên, chờ nước lắng trong, viên sạn hiện ra mới
thò tay xuống vớt lên. Đó là dẫn dụ trong kinh Niết bàn.
Huynh đệ thử nghiệm lại xem, quí
vị chỉ ngồi lại thì tự nhiên cặn cáu hiện ra, khỏi cần lắng, khỏi cần đợi lúc
nào hết. Ngồi yên chừng năm ba phút, nó hiện ra. Có những chuyện hiện ra một
cách hết sức lạ lùng. Chúng ta không biết mình làm hồi nào, bây giờ nó hiện ra.
Có người bảo tự nhiên nó hiện ra. Thưa không phải tự nhiên đâu, hồi trước mình
đã bày đặt như thế nào đó, đã gieo chủng tử vào trong tàng thức rồi, bây giờ
yên lặng nó hiện ra. Cho nên ngồi yên tĩnh tọa sẽ dễ thấy rõ và giải trừ những
thứ cặn cáu từ nhiều đời chúng ta đã tạo ra.
Bây giờ muốn đi trở lại con đường
xưa thì chúng ta phải có một tinh thần kiên quyết, buông bỏ hết các duyên, lắng
yên tĩnh lặng. Được thế trước nhất chúng ta sẽ có nhận định chân chính. Từ chân
chính nghĩa là chính xác, vì lệch đi một chút chúng ta rời xa chính mình, không
biết đi về đâu. Thành thử giai đoạn đầu của người trở về cội nguồn xưa thì phải
hiểu biết chân chính, đúng với lời dạy của Phật, của Tổ. Từ đó chúng ta mạnh
dạn bước thật vững, thật dài, thật chắc trên bước đường trở về quê xưa.
Chân là gì? Chân là không lẫn gì
hết, ngay thẳng chính đáng, không bị lệch, không bị bẻ cong, không bị ngã tẻ.
Kiến thức về Phật học của chúng ta phải như thế, mới đảm bảo con đường tu vững
chải, niềm tin tăng trưởng, mãi mãi chúng ta bước thật vững trên con đường xưa.
Nhiều huynh đệ thật tội nghiệp,
bước ban đầu không vững, nên tu tập một thời gian gặp nghịch duyên bị lung lay
liền. Thời chúng tôi còn làm điệu, có những Phật tử đã ủng hộ đạo tràng, ủng hộ
Phật pháp thật đắc lực, nhưng không biết vì sao tới khi tôi lớn lên, những vị
ấy không còn như trước nữa. Hiện tượng đó khiến tôi có chút suy nghĩ, có lẽ
bước đi của họ chưa được vững chải nên mới xảy ra trường hợp đáng tiếc như vậy.
Đây là điều huynh đệ trong đạo tràng, mỗi chúng ta nên xét lại cho thật chuẩn
bước đi của mình. Người xưa nói một bước đi đúng, sẽ thâu ngắn được đoạn đường
dài trở về quê, một bước đi sai thì cách xa vô vàn, không biết lối về là đâu.
Do vậy nên chúng ta phải làm sao tránh đi sai lệch, phải giữ vững lập trường,
cứ một con đường thẳng tiến, không lung lay, không suy suyễn.
Trong tâm chúng ta có những sự
kiện nổi cộm lên, thì thời ngồi thiền không yên, dù mình cố gắng khéo sắp đặt
hình thức bên ngoài thế nào nhưng thực sự bên trong không yên. Sự bất an này
không ai giải quyết cho mình được hết, bởi vì mình cũng không dám nói thật với
ai. Do vậy công phu tu tập tuy lâu, nhưng sự bực bội, cau có tới bây giờ vẫn
còn. Chúng ta sơ ý một chút là nó hiện ra, nó ngủ ngầm ở đâu không biết, nhưng
có cơ hội là nó xuất hiện. Hòa thượng Viện trưởng thường nhắc vọng tưởng không
thật, đừng theo nó mà mất mình, mất đi sự thanh tịnh quí báu. Thế mà chúng ta
vẫn cứ chạy theo vọng tưởng để tự chuốt lấy phiền não khổ đau.
Nếu những ai có túc duyên tu,
nghe lời nhắc nhở của người xưa, liền vận dụng vào đời sống tu tập và thấy có
kết quả an lạc ngay trong hiện tại. Ví dụ nghe thầy dạy như thế, chúng ta thấy
mình làm được, không đến đỗi khó. Điều đó chứng tỏ chúng ta đã từng hành trì
trong những đời trước, nên bây giờ thấy quen, thấy dễ. Tuy nhiên, nếu không
thực hành thường xuyên thì nó thành khó. Đó là điều ngay trong công phu hằng
ngày, chúng ta phải nghiêm cẩn, điểm trán từng sự việc như vậy. Nếu trị được
những thứ đó rồi thì phiền não không thành vấn đề. Cho nên các thiền sư nói phiền
não vốn không, hay phiền não tức Bồ đề.
Nếu người nào thực sự thấy phiền
não không thật, thì mọi hiện tượng trên đời này không làm gì được người ấy
được. Ăn mặc, ngủ nghỉ, tiền tài, danh vọng, địa vị… tất cả các thứ, không gì
động địa họ nổi. Từ đó chúng ta mới nhận ra ý nghĩa lời Phật dạy:
“Chư hạnh vô thường,
Là pháp sanh diệt
Sanh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui”.
Con đường, hướng tu hành của
chúng ta là như vậy. Sanh diệt còn, tịch diệt chưa được, thì chưa phải thiền.
Trên quá trình này, mỗi người chúng ta phải phấn đấu tích cực, dù gặp khó khăn
nhưng vẫn quyết định tiến lên, luôn luôn đi tới, để thể nghiệm được tinh thần
thiền như lời Phật dạy. Chúng ta hoàn toàn làm chủ những dấy niệm, phiền não,
thì chúng trở thành đồ bỏ thôi, có gì đâu. Người xưa nói người nào nhiều phiền
não thì giác đạo của họ lớn. Lời này không sai, vì tận nguồn của phiền não là
giác. Nhưng bây giờ chúng ta đang mê nên phiền não là phiền não. Lúc phiền não
mình bị nó sai sử. Vì vậy một ngày bị chừng vài phiền não sai sử là ta thấy
mệt, thấy đỏ mặt tía tai hết rồi, khổ lắm, đừng nói đến phiền não vô vàn. Chung
quanh cuộc sống này, lúc nào cũng bị vây nhiễu bởi bất an, phiền não, bức xúc.
Ăn không ngon cũng phiền não, ngủ không yên cũng phiền não, người bạn nói một
câu bất ổn cũng phiền não, không sắp đặt được việc gia đình cũng phiền não,
ngồi thiền không được cũng phiền não, không có thì giờ đi chùa cũng phiền não,
làm gì cũng phiền não được. Những lăng xăng không đáng gì mà làm chúng ta phiền
não cả ngày. Cho đến tu rồi cũng vẫn phiền não. Ví dụ hồi trước, quí vị chưa
tin kính Tam Bảo, gặp ai phỉ báng Tam Bảo quí vị thấy gợn buồn thôi, rồi bỏ
qua, thôi kệ ai làm gì làm. Nhưng bây giờ đã trở thành thiền sinh của đạo tràng
Trúc Lâm Thái Tuệ khoảng mười năm, nghe ai nói động đến Tam Bảo, quí vị sẽ thấy
bức xúc. Nếu chưa dạy cho người kia một bài học, quí vị thấy chưa yên. Rõ ràng
trong chúng ta luôn sẵn sàng hình thành phiền não. Cho nên tu không khéo chẳng
những không triệt được gốc phiền não mà vô tình còn nuôi dưỡng và làm tăng trưởng
nó hơn lên.
Ngài Đại Châu Huệ Hải đến Mã Tổ
hỏi Phật pháp, Mã Tổ nói: Kho báu nhà mình đầy đủ mà không chịu sử dụng, chạy
lăng xăng tìm cái gì? Ngài nhận ra liền và hỏi: Bạch thầy, kho báu nhà con là
gì? Tổ dạy: Chính cái ông đang thưa hỏi ta đó. Bao nhiêu đó đủ rồi. Do vậy ngài
Đại Châu về núi riêng tu tập, làm tất cả Phật sự không ngoài lời dạy của thầy
“kho báu nhà mình có đủ hết”, chỉ vậy thôi. Chúng ta thấy các thiền sư đâu có
nói nhiều, có khi các ngài nói ngược ngạo, khó hiểu nhưng thực sự các ngài chỉ
thẳng ý đó, không để người ta đi lòng vòng.
Một vị khác cũng trong pháp hội
của Mã Tổ, là ngài Pháp Thường. Khi đến thưa hỏi Phật pháp, Mã Tổ dạy: “Tức tâm
tức Phật”. Bao nhiêu đó Ngài về núi tu, hóa đạo lợi sinh cũng chừng ấy, ở núi
rừng hay thiền viện cũng chừng ấy, làm bất cứ việc gì cũng chừng ấy, tức tâm
tức Phật. Có một lần nghe đệ tử đã ra làm hóa chủ một phương nhưng chưa biết
tin tức ra sao, nên Mã Tổ cho người đến dọ thử. Hỏi: “Thầy được cái gì nơi thầy
mà về ở đây?”. Ngài trả lời: “Ta được thầy dạy tức tâm tức Phật”. Người đó nói:
“Bây giờ thầy dạy là phi tâm phi Phật”. Ngài liền trả lời một cách dứt khoát:
“Mặc cho ông già phi tâm phi Phật, ta chỉ biết tức tâm tức Phật”. Dứt khoát như
vậy. Vị kia trở về trình lại với Mã Tổ, Ngài gặt đầu nói: “Trái mai đã chín”.
Kế nữa là niềm tin của chúng ta
phải sống động và hiện thực. Các vị thiền sư ngày xưa tin pháp mà các ngài đang
áp dụng, việc các ngài đang làm, dù gặp sự cố phong ba bão táp gì, các Ngài
cũng vẫn bình thường, vẫn giữ vững lập trường như vậy. Có vị thiền sư nói:
“Kính bạch đức Thế Tôn, kính bạch liệt vị tổ sư, con tên..., hiện đời con phát
tâm tu thiền, do báo nghiệp nặng nề nhiều đời kiếp như thế nào, khiến con ngày
hôm nay tu hành dũng mãnh, nhưng vẫn chưa khắc phục được những báo nghiệp khó
khổ đau đớn này. Bây giờ đối trước Tam Bảo, đối trước đức Thế Tôn, bằng tâm
thành của con, con nguyện giả như ngay trong đời này, con tu hành với kiến giải
chân chánh này, mà không khắc phục được báo nghiệp của con, con chết đi, bị đọa
vào địa ngục thời gian dài vô số kiếp để trả cho hết những nợ nần đó, con vẫn
vui lòng. Kính bạch đức Thế Tôn, với tâm nguyện này trước Tam Bảo, trước đức
Thế Tôn, con nguyện khi được trở lại làm người, vừa mở mắt ra là con nhớ lại
chủng Bát nhã để tu hành cho mau”. Đó là lời khẩn thiết trình bạch tự tâm mình
của một vị tu thiền. Những lời này được phát lên từ những con người có niềm tin
vững chắc.
Chúng ta ngày nay có niềm tin
vững chắc chưa? Tôi gợi ý này để quí Phật tử kiểm lại xem, niềm tin của mình
thật vững chắc chưa. Có những trường hợp thế này, như ngày đầu xuân, quí vị rủ
nhau đi hành hương lễ Phật. Tới một ngôi chùa thấy trang nghiêm, có vị thầy
nói: Lại đây, thầy dạy cho pháp tu này ba tháng thành Phật. Lúc đầu quí vị định
không nghe, nhưng không hiểu sao cuối cùng quí vị đi theo. Hết ba tháng này tới
ba tháng khác, một năm tới ba lần ba tháng, ba tháng đầu năm là quý một, ba
tháng kế là quý hai, ba tháng kế nữa là quý ba… Bốn năm năm gặp lại, huynh đệ
nói: Ủa! sao mấy năm nay cô đi đâu không thấy về chùa. Bây giờ mới tâm sự
chuyện như vậy đó. Kể trong uất ức “Con xấu hổ quá, cãi lời thầy, để đi theo
một người mà mình không biết rõ đường lối và công phu tu hành của họ đúng hay
sai. Điều này rất nguy hiểm.
Tất cả chúng ta đều có một kiến
thức chân chánh, Phật là giác. Muốn được Phật rước thì phải giác, không giác
thì Phật không rước. Cho nên người tu niệm Phật cũng phải niệm Phật tha thiết,
như vậy Phật mới rước. Trở về pháp tu thiền, trước tiên hành giả có kiến giải
chân chánh rồi mới đến niềm tin vững chắc. Phật tử đã trải qua một thời gian tu
tập, quí vị ắt hẳn cũng biết, nếu không kiên quyết, không cố gắng, chúng ta sẽ
không có niềm tin với pháp môn mình tu. Từng việc làm, từng thời khóa dụng công
đều xứng hợp với lời dạy của Thầy tổ chỉ giáo. Như vậy chúng ta khả dĩ được
chút tương ưng, chút lợi lạc. Từ đó niềm tin vững chắc sẽ đến với chúng ta.
Rõ ràng nếu quí vị tu hành chân
chánh, hành trì đúng pháp, mỗi ngày công phu tăng trưởng, nhất định sẽ được
định tĩnh, ở đây tôi không nói tăng trưởng phước lạc tăng trưởng gì gì hết, mà
tăng trưởng định tĩnh. Chư huynh đệ đi chùa, sinh hoạt trong đạo tràng tu thiền
mà mỗi khi đối duyên xúc cảnh, mất bình tĩnh là biết mình tu hành chưa tốt.
Phải tự xét tự biết như vậy. Cho nên bình tĩnh là chuẩn mực để đo kết quả sự tu
tập. Bởi vì người tu thiền, nếu thiếu tỉnh sáng là chưa dính dáng, chưa thiền
định được. Dù cho chúng ta có ngồi một ngày bốn thời, một thời hai tiếng mà
không tỉnh sáng, cũng chưa gọi vào thiền.
Người được thiền định là người có
đủ định và tuệ. Lục Tổ dạy định tuệ đồng đẳng, nghĩa là khi đối duyên xúc cảnh
định tuệ viên mãn. Bây giờ chúng ta kiểm lại xem khi đối duyên tiếp cảnh, định
của chúng ta có vững không, nó hiện tiền hay vắng mặt? Nếu nó vắng mặt thì biết
mình chưa định hoặc định rất yếu. Định như vậy chưa chống nổi với nghiệp lực
sinh tử. Vấn đề sinh tử, Hòa thượng nói giống như đêm ba mươi tăm tối, ta phải
giải quyết sự việc đó một mình, liệu xem ta đủ sức để nói chuyện với quỷ vô
thường không hay là lúc đó mình khiếp hoảng. Nếu khiếp hoảng thì chưa đủ sức.
Người tu Tịnh Độ khi lâm chung,
nếu niệm Phật được định tĩnh thì Phật hiện đến rước, còn người tu thiền khi lâm
chung ai rước? Vì hằng ngày chúng ta không cầu ai rước nên lúc đó đâu có ai
rước, mình phải tự chọn đường mà đi chứ. Cho nên người tu thiền phải gan dạ,
làm chủ lấy mình, không bị phiền não quấy rầy, niềm tin vững chắc thì tự tại,
không còn bị nghiệp lực dẫn đi trong các đường.
Điều mà các Phật tử cần phải nhớ
là luôn luôn tỉnh. Niệm ban đầu vừa móng khởi là tỉnh lền, đừng để qua niệm thứ
hai. Nếu không kịp tỉnh để qua niệm thứ hai là thua rồi. Nó sẽ nối tiếp nhau
dẫn mình chạy, không dừng được nữa. Chúng ta phải làm chủ được, phải kiện toàn
niềm tin của mình đối với chánh pháp. Nếu không làm chủ được thì vô vàn sự kiện
nối nhau làm ta rối rắm lắm. Chư vị tổ sư dạy chúng ta phải sống được với ông
chủ. Ông chủ của chúng ta là gì? Sáu đường sáng suốt nơi mỗi chúng ta không hề
thiếu vắng ông chủ. Sáu đường hay sáu đoạn thần quang luôn sáng suốt vững vàng
đầy đủ trong ta. Vậy thì đừng để bị lệch hoặc trôi giạt, làm hỏng đi các thần
quang của mình. Làm chủ tức là bảo vệ thần quang của ta, đừng làm gì trái lại
với tâm nguyện, với công phu của mình là xoay lại thần quang. Vì vậy các thiền
sư Việt Nam thường dạy phải phản quan tự kỷ.
Mắt chúng ta sáng, tai chúng ta
thính, miệng chúng ta nói, mũi chúng ta ngửi… Các cảm xúc toàn thân chúng ta
biết, lúc nào nó cũng đầy đủ. Nhưng nếu khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, tâm
dấy khởi phân biệt thì chúng ta quên mất nó, vì mắc chạy theo trần cảnh bên
ngoài. Chúng ta khác người xưa ở chỗ đó, cho nên mình khổ, mình vướng mắc. Bây
giờ các ngài muốn chỉ dạy chúng ta làm sao sửa đổi lại, thấy là thấy tự nhiên
như vậy, sáng suốt rõ ràng như vậy, đừng thêm phân biệt đối đãi. Như bây giờ
chúng ta ngồi đây, những cảm nhận chung quanh ta biết, nóng hay lạnh, hoặc có
vật gì đụng chạm ta biết. Nếu không biết thì thân này bị chết sao? Mình được
vinh dự là có cả sáu đạo thần quang. Sáu đạo thần quang ấy giàu có vô lượng,
nên chúng ta không thể nào không thấy không cảm nhận, không biết tất cả những
gì chung quanh.
Kế đây tôi sẽ nói đến những thần
dụng của sáu đạo thần quang. Ví như người có khiếu về âm nhạc, họ luyện tập,
học nghe, học sáng tác, thông nhạc lý từ xưa tới nay, nhạc tính thế nào họ
thông hết. Người ấy nghe tiếng liền có thể định được âm thanh trên thuộc ngũ âm
hay bát âm. Do vậy người nhạc sĩ có thể tập trung âm thanh để phối khí cho
những bản nhạc. Vì thế một bản nhạc chúng ta nghe, gồm nhiều thứ âm thanh hợp
lại hòa tấu. Tóm lại nếu chúng ta sử dụng được hết sáu đạo thần quang thì mình
giàu có muôn hộ. Đức Phật đã nói chúng sanh giàu có muôn hộ, chứ không phải
nghèo thiếu đâu.
Cho nên đối với các thần quang,
nếu chúng ta sử dụng được, nó sẽ có thần dụng. Bấy giờ sáu đạo thần quang sẽ
thành lục thông. Khi đó chúng ta sống nhẹ nhàng, vơi hết những phiền não bất an
bất ổn. Một khi trong tâm đã sáng suốt, định tuệ hiện tiền, chúng ta luôn luôn
an vui vì đã vượt thóat khỏi sự trói buộc của nghiệp lực. Phật pháp độc đáo
nhất ở chỗ này. Chư tổ bảo buông hết đi thì việc gì mà chẳng xong. Cho nên có
những vị trình bày với thầy dài dòng, khóc sướt mướt việc như thế như thế.
Nhưng cuối cùng sư phụ chỉ nói: Thôi bỏ đi con. Thế là xong.
Người áp dụng đúng lời Phật dạy
nhất định sẽ được định tuệ. Định tuệ đầy đủ thì sẽ làm chủ được, sẽ an vui giải
thoát. Đó là bước trên con đường xưa để về lại ngôi nhà cũ của mình. Chúng ta
vững niềm tin, làm chủ lấy thì tất cả phiền não lỉnh kỉnh sẽ hết. Tinh thần của
nhà thiền là tất cả phải buông, vì các pháp vốn không thật. Hòa thượng Ân sư có
bài kệ “Mộng” cũng nói lên ý này. Mộng tức là không thực, đã không thực thì nắm
giữ làm chi cho nhọc công phí sức.
Chúng ta là đệ tử của Phật, của
Hòa thượng, nên phải nhớ lời ngài dạy. Sang năm mới, bắt đầu việc tu học mới,
biết tất cả hiện tượng chung quanh không thật, tất cả pháp trần là ảo mộng,
phiền não vốn không, thì theo duổi nó làm chi. Buông bỏ hết. Những điều như
vậy, chư huynh đệ hội hữu trong đạo tràng, nếu bước thật vững trên con đường
đạo thì cố gắng nỗ lực tu học tăng tiến, phiền não không làm gì được, ngay đây
chúng ta tự tại an vui. Hôm nay đủ duyên lành chúng tôi về đây dự chứng ngày khai pháp của đạo tràng. Trước nhất tôi xin nhắc lại lời người xưa để chư huynh đệ nhớ và hành trì cho được viên mãn. Kế nữa sang năm mới, tôi cũng xin được thay lời đại chúng gởi đến toàn thể quí Phật tử lời chúc mừng năm mới. Chúc quí vị luôn an lạc, dứt sạch phiền não, tự tại bước trên con đường xưa thênh thang.
|



