ĐTKVN Web

 
 
25 | 05 | 2012
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Niệm Phật Sám Pháp PDF. In Email
Tông Phái Phật Giáo - Tịnh Độ Tông
Viết bởi Thích Thiền Tâm   
Chỉ mục bài viết
Niệm Phật Sám Pháp
Niệm Phật Sám Pháp Q. Hạ
Niệm Phật Sám Pháp Phụ Lục
Tất cả các trang
phatadida_6.JPG Thời mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp, nếu ngoài môn niệm Phật mà tu các nghiệp lành khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành thì có – nhưng nơi phần liễu thoát luân hồi ngay trong hiện thế thì không. Tuy có một vài vị cao đức, hiện những kỳ tích phi thường, nhưng đó là những bậc Bồ tát nương theo bản nguyện mà làm mô phạm để dẫn dắt chúng sanh đời mạt pháp như kinh Lăng Nghiêm đã nói. Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo trình độ chúng sanh mà thị-hiện ngộ-đạo, chứ không phải chứng-đạo. Chỉ riêng pháp-môn Niệm Phật , tuy ít có người tu-chứng được Niệm Phật tam-muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện-lực của mình và Bản-Nguyện của Phật A-Di-Ðà mà đới-nghiệp vãng-sanh về cõi Tây-Phương Cực-Lạc. Khi được về cõi ấy rồi thì không còn luân-hồi, không còn bị thối-chuyển, lần lần tu tập cho đến khi chứng quả-vị Vô Sanh.

Niệm Phật Sám Pháp

Hòa thượng: Thích Thiền Tâm

Nhà Xuất bản Tôn giáo Hà Nội. PL. 2549 – DL. 2005

Mục Lục

Đảnh Lễ

Quyển Thượng

Phẩm Thứ Nhất: Niệm Phật Phải Vì Thoát Sanh Tử Luân Hồi

Phẩm Thứ Hai: Niệm Phật Phải Vì Phát Vô Thượng Bồ Ðề Tâm

Phẩm Thứ Ba: Niệm Phật Phải Ðặt Trọn Lòng Tin Vào Lời Phật Dạy

Phẩm Thứ Tư: Niệm Phật Phải Phát Nguyện Vãng Sanh Cực Lạc

Phẩm Thứ Năm: Niệm Phật Phải Hành Trì Cho Thiết Thực

Quyển Hạ

Phẩm Thứ Sáu: Niệm Phật Phải Dứt Trừ Phiền Não

Phẩm Thứ Bảy: Niệm Phật Phải Thực Chứng Bằng Kinh Nghiệm Của Bản Thân

Phẩm Thứ Tám: Niệm Phật Phải Bền Lâu Không Gián Ðoạn

Phẩm Thứ Chín: Niệm Phật Phải An Nhẫn Các Chướng Duyên

Phẩm Thứ Mười: Niệm Phật Phải Dự Bị Lúc Lâm Chung

Phụ Lục

1/ Khai Thị Lúc Lâm Chung

2/ Cách Thức Trợ Niệm

3/ Cách Thức Truy Tiến

Đảnh Lễ

Mở đầu phương pháp sám hối niệm Phật, đệ tử chúng con xin an trụ trong hồng danh Nam mô A Di Đà Phật, để vận dụng năng lực hộ niệm của sáu phương chư Phật, vận dụng oai lực tuyệt đối, Siêu việt và tối thắng của bản nguyện A Di Đà mà quy y và đảnh lễ hết thảy Tam bảo.

- Quy y tất cả Phật đà khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.

- Quy y tất cả Phật pháp khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.

- Quy y tất cả Bồ tát Thánh Hiền Tăng khắp cả mười phương, cùng tận hư không giới.

- Nam mô Ta bà Giáo chủ, thiên bá ức hóa thân Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, vị Bổn sư chỉ dạy Pháp môn niệm Phật.

- Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Ðại từ Ðại bi A Di Ðà Phật, vị Đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc.

- Nam mô Vô Lượng Thọ Kinh, Phật Thuyết A Di Đà Kinh, Quán Vô Lượng Thọ Kinh – ba bộ Kinh chỉ dạy rõ ràng Pháp môn thành Phật dễ dàng vắn tắt, nhiệm mầu và rốt ráo, dành cho tất cả chúng sanh thời Mạt pháp.

- Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới vạn ức tử kim thân, Ðại từ Ðại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát.

- Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới vô biên quang trí thân, Đại hùng Đại lực Ðại Thế Chí Bồ tát.

- Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới phước trí nhị nghiêm thân, Thanh tịnh Ðại hải chúng Bồ tát.

- Nam mô Lô Sơn đạo tràng, khai sáng niệm Phật Pháp môn, sơ Tổ Huệ Viễn Đại sư Bồ tát.

- Nam mô Quang Minh đạo tràng, hoằng dương niệm Phật Pháp môn, nhị Tổ Thiện Đạo Đại sư Bồ tát.

- Nam mô Hộ Giới Hộ Giáo Hộ Pháp Chư Tôn Bồ tát, Liệt Vị Thiện Thần Bồ Tát Ma ha tát.

Quyển Thượng

Phẩm Thứ Nhất: Niệm Phật Phải Vì Thoát Sanh Tử Luân Hồi

Ðức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn vì thương xót tất cả chúng sanh mà hiện ra nơi đời ác trược, với bốn mươi chín năm thuyết pháp, mục đích mở bày và chỉ rõ Tri Kiến Phật cho chúng sanh và để rồi khiến cho chúng sanh tỏ ngộ và thể nhập vào Tri Kiến Phật, giáo nghĩa tuy nhiều hơn số cát sông Hằng, nhưng tất cả năm thừa tám giáo đều không ra ngoài Pháp môn Niệm Phật.

Do Bổn nguyện lực của đức A Di Ðà, do năng lực hộ niệm của sáu phương chư Phật, cùng với gia trì lực của chư vị Ðại địa Bồ tát; đệ tử chúng con được gặp duyên lành dẫn dắt vào Chân Lý Tối Thượng bằng cửa ngõ Niệm Phật. Như mùa hạ thì phải mặt áo vải, như mùa đông phải mặc áo bông, sự tu hành cũng thế, nghĩa là không thể trái với thời tiết và cơ duyên được. Dù đức Ðạt Ma Tổ sư tái hiện ngay lúc này, nếu muốn hợp thời cơ để Cứu độ chúng sanh mau được Giải thoát, thì cũng không có pháp nào hơn Pháp môn Niệm Phật cả. Vì thế cho nên thuyết pháp mà không phù hợp với căn cơ và trình độ, thì chắc chắn chúng sanh bị chìm trôi trong biển khổ vậy.

Ðệ tử chúng con vốn là phàm phu vô trí, nên phải một mực y theo lời Phật dạy, chẳng dám tự chuyên, vì thế mà xưa nay chúng con đều chuyên niệm danh hiệu Ðức A Di Ðà.

Theo lời Phật dạy là thế nào?

Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn có lời huyền ký rằng: Ðời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng Từ bi thương xót riêng lưu trụ kinh này trong khoảng một trăm năm. Nếu có chúng sanh nào gặp được kinh này tùy ý sở nguyện đều được đắc độ.

Nơi kinh Ðại Tập, đức Thế Tôn dạy rằng: Trong thời Mạt pháp có ức ức người tu hành, mà ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương nơi Pháp môn Niệm Phật mà thoát Luân hồi.

Ngài Thiên Như Thiền sư sau khi đắc đạo cũng đã khuyên dạy rằng:

“Mạt pháp về sau, các kinh diệt hết, chỉ còn lại bốn chữ A Di Ðà Phật để Cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa Địa ngục”.

Bởi vì đời Mạt pháp về sau, khi các kinh đều ẩn diệt, chúng sanh căn cơ đã yếu kém, ngoài câu niệm Phật thì không biết Pháp môn nào khác để tu trì. Nếu không tin câu niệm Phật mà tu hành, tất phải bị Luân hồi. Và trong nẻo Luân hồi thì việc lành khó tạo, còn điều ác thì dễ làm, cho nên sớm muộn gì cũng bị đọa Địa ngục.

Ấn Quang pháp sư, một bậc cao Tăng cận đại ở Trung Hoa cũng đã dạy rằng:

Thời Mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp, nếu ngoài môn niệm Phật mà tu các nghiệp lành khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành thì có nhưng nơi phần liễu thoát Luân hồi ngay trong hiện thế thì không. Tuy có một vài vị cao đức, hiện những kỳ tích phi thường, nhưng đó là những bậc Bồ tát nương theo Bổn nguyện mà làm mô phạm để dẫn dắt chúng sanh đời Mạt pháp như kinh Lăng Nghiêm đã nói. Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo trình độ chúng sanh mà thị hiện ngộ đạo, chứ không phải chứng đạo. Chỉ riêng Pháp môn Niệm Phật, tuy ít có người tu chứng được Niệm Phật Tam muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện lực của mình và Bổn nguyện của Phật A Di Ðà mà đới nghiệp vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc. Khi được về cõi ấy rồi thì không còn Luân hồi, không còn bị thối chuyển, lần lần tu tập cho đến khi chứng quả vị Vô sanh.

Những lời huyền ký như trên, cho chúng con thấy Pháp môn Niệm Phật rất thích hợp với nhân duyên, thời tiết và trình độ căn cơ của chúng sanh đời nay. Vì thế đức Như Lai mới dùng nguyện lực bi mẫn, lưu trụ kinh Vô Lượng Thọ để khuyến hóa về môn Niệm Phật. Ngoài ra còn có chư Bồ tát và Tổ sư cũng khởi lòng hoằng nguyện thương xót, tùy theo thời cơ mà chỉ dạy Pháp môn Niệm Phật để cứu vớt chúng sanh.

Ðệ tử chúng con vì vô minh khuất lấp, vì thiếu suy nghĩ chính chắn, vì tâm mong cầu quá sôi nổi và cạn cợt, vì dục vọng ngăn che, nên đã gây nhiều cái thấy biết lệch lạc và để rồi, chúng con đã hành trì Pháp môn Niệm Phật không phù hợp với Bổn ý của đức Bổn sư và xa cách với Bổn nguyện Cứu độ của đức A Di Ðà.

Ðệ tử chúng con đi chùa thấy người khác niệm Phật, thì cũng bắt chước niệm theo, hoàn toàn không có chủ định.

Hoặc có người niệm Phật nguyện cho tai qua nạn khỏi và cầu cho gia đình bình yên, đời sống làm ăn mua bán ngày thêm thịnh vượng và sung túc.

Hoặc có kẻ gặp cảnh đời không vừa ý bèn sinh ra buồn rầu phẫn chí, nên đã niệm Phật cầu mong sao cho kiếp sau đừng gặp phải các cảnh ấy nữa, cũng như mong mọi việc đều thuận lợi nếp sống vinh hoa xinh tốt.

Lại có những người cảm thấy trần gian chẳng có điều gì hứng thú, dù cho giàu sang quyền qúy cũng còn lo lắng khổ não, cho nên họ hy vọng dùng công đức niệm Phật để kiếp sau Sinh lên cõi Trời, sống lâu, nhàn vui, tự tại.

Lại có những người nghĩ mình tội chướng đã nhiều, trong một kiếp này dễ gì Giải thoát, nên đã niệm Phật cầu cho kiếp sau chuyển nữ thành nam, để xuất gia tu hành, làm bậc cao Tăng ngộ đạo. Cũng có nhiều người nỗ lực niệm Phật để đàn áp vọng tưởng, và chế ngự phiền não, với mục đích gần gũi là thanh lọc tâm tư để đời sống được thanh tịnh.

Nếu niệm Phật với những thái độ và mục đíùch như vậy đều là sai lầm, vì lẽ trái nghịch với bản hoài của Phật Thích Ca và quay lưng trước Bổn nguyện tiếp ðộ của Phật A Di Ðà. Ðây là một tội lỗi lớn lao nhất. Thật vậy, chúng con vẫn hiểu rằng không có tội lỗi nào to lớn và nặng nề cho bằng cái tội hành trì trái nghịch với di huấn của đức Bổn sư, để rồi phụ rẫy công ơn tiếp độ của đức Từ Phụ A Di Ðà.

Ðệ tử chúng con ngày nay nhờ sự chiếu soi và dẫn dắt của ánh hào quang chư Phật, chúng con mới biết được tội lỗi của mình. Cho nên chúng con xin thành tâm cúi đầu gieo năm bộ phận của cơ thể xuống sát đất, khẩn cầu sám hối:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, vị Bổn sư chỉ dạy Pháp môn Niệm Phật. (3 lạy)

Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Đại từ Đại bi A Di Ðà Phật – vị Đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc. (3 lạy)

Như vậy, kể từ hôm nay, đệ tử chúng con phải niệm Phật như thế nào mới phù hợp với Bổn ý của đức Phật Thích Ca, cùng Bổn nguyện của đức Phật A Di Ðà?

Ðức Thế Tôn thấy rõ pháp hữu vi đều Vô thường, và tất cả chúng sanh vẫn sẳn đủ Đức tướng, Trí tuệ như Như Lai, nhưng do vì mê mờ bản tâm, nên đã tạo ra vô số nghiệp hoặc, rồi cứ mãi mãi chịu chìm đắm trong vòng Sống chết, Luân hồi. Dù cho được sanh lên cõi Trời, khi hưởng hết phước báo rồi thì cũng phải bị sa đọa. Vì thế, Bổn ý của đức Thế Tôn là: Muốn cho chúng sanh do nơi Pháp môn Niệm Phật mà sớm thoát khỏi khổ Luân hồi.

Chư Phật trong nhiều A tăng kỳ kiếp huân tu phước huệ, cho nên, nếu kẻ nào xưng niệm hồng danh của Như Lai sẽ được vô lượng vô biên công đức. Lại nữa, đức A Di Ðà Phật đã lập ra lời thệ nguyện vĩ đại: Nếu chúng sanh nào niệm được danh hiệu của ngài cầu về Cực lạc, thì kẻ ấy khi mạng chung sẽ được tiếp dẫn vãng sanh Tây phương và chứng lên ngôi Bất thối chuyển. Ðem công đức vô lượng của sự Niệm Phật, mà để mong cầu những phước lợi nhỏ nhen ở cõi Người cõi Trời, chứ không nguyện cầu vãng sanh và Giải thoát thì có khác chi trẻ thơ đem hạt châu Ma ni vô giá mà đổi lấy viên kẹo để ăn? Như thế thật là uổng phí và không xứng đáng chút nào!

Hơn hết, nguyện lực của Phật thì rất vĩ đại, cho nên người nào nghiệp chướng dù có nặng nề đến đâu chăng nữa, mà đem cả tấm lòng chân thật để chuyên cần xưng niệm danh hiệu Phật thì ngay trong một đời này cũng được tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực lạc. Còn như mong cầu đời sau làm bậc cao Tăng ngộ đạo, là một hành động thiếu Trí tuệ và đức tin, làm sao bảo đảm bằng hiện đời sanh về Tây phương thành bậc Bồ tát ở ngôi Bất thối Chuyển? Cho nên, Bổn ý của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh niệm Phật để thoát khỏi vòng Sanh tử Luân hồi, và sự Giải thoát ấy lại có thể thực hiện ngay trong cùng một kiếp sống.

Nhưng tại sao cần phải thoát vòng sống chết Luân hồi?

Là vì ở trong nẻo Luân hồi, đệ tử chúng con xác thật đã từng chịu nhiều nỗi thống khổ lớn lao. Nếu người học Phật mà không để cái tâm như thật quán sát nỗi thống khổ ấy thì cho dù học Phật nhiều đến đâu cũng không đạt được kết quả tốt, bởi vì không có cái tâm lo sợ, cái tâm mong cầu thoát ly khỏi những ảo ảnh cuộc đời. Kinh dạy: nếu tâm lo sợ khó sanh, tất lòng phát thành khó phát. Ðức Thế Tôn khi xưa thuyết pháp Tứ Diệu Ðế cho năm người nhóm ông Kiều Trần Như, trước tiên đã nói về Khổ đế, vẫn không ngoài cái ý này:

Trong Khổ đế, tức là ý nghĩa chân thật về sự khổ, đức Thế Tôn đã thuyết minh tám điều. Tuy nỗi khổ của kiếp người vô cùng vô tận, mà tám điều này vẫn giữ phần cương lãnh. Ðó là: nỗi khổ khi sanh ra, nỗi khổ khi về già, nỗi khổ trong cơn đau yếu, nỗi khổ quằn quại khi sắp lâm chung, nỗi khổ chua xót khi xa cách người thân yêu, nỗi khổ khó nhẫn khi chung đụng với kẻ mà mình oán ghét, nỗi khổ khi mong cầu không toại ý, và nỗi khổ về năm ấm hừng thạnh.

Chúng sanh hết kiếp này sang kiếp khác cứ sống chết xoay vần, xuống lên trong sáu nẻo. Ðó là cõi Trời cõi Người, cõi A tu la, cõi Bàng sanh, cõi Ngạ quỷ và cõi Ðịa ngục. Bát khổ tuy ở các loài khác cũng có ít nhiều, nhưng nó là trọng tâm của nỗi khổ ở cõi Người. Còn cõi Trời tuy vui sướng hơn nhân gian nhưng cũng còn có tướng ngũ suy và những điều bất như ý. Cõi A tu la bị sự khổ vì gây gỗ tranh đua, cõi Bàng sanh như loài trâu, bò, lừa, ngựa thì bị sự khổ chở kéo nặng nề, loài dê lợn vịt gà thì chịu sự khổ về banh da xẻ thịt. Các loài khác chịu sự khổ về ngu tối, nhơ nhớp, ăn nuốt lẫn nhau. Ở cõi Ngạ quỷ thì chúng sanh có thân thể hôi hám, xấu xa, bụng lớn như cái trống, cuống họng nhỏ như cây kim, miệng phực ra lửa, chịu đói khát trong nghìn muôn kiếp. Còn cõi Địa ngục thì vạc dầu, cột lửa, hầm băng gía, núi gươm đao; sự thống khổ không thể nào mô tả cho hết được.

Bốn cõi A tu la, Ngạ quỷ, Bàng sanh và Ðịa ngục, trong kinh gọi là tứ ác thú. Từ cõi A tu la theo chiều xuống, nỗi khổ ở mỗi cõi cứ tuần tự gấp bội hơn lên. Trong sáu cõi, chúng sanh sống chết xoay vần hết nơi này đến nơi kia, như bánh xe chuyển lăn không có đầu mối. Sanh lên cõi Trời và Người thì rất khó và rất ít, còn đọa xuống tứ ác thú thì rất dễ và rất nhiều.

Khi còn tại thế, một hôm Ðức Phật dùng móng tay vít lên một chút đất, rồi hỏi A Nan: Ðất ở móng tay ta sánh với đất của miền đại địa thì cái nào nhiều hơn? Ngài A Nan đáp rằng: Bạch Thế Tôn, đất của miền đại địa thì nhiều hơn đất ở móng tay vô lượng phần, không thể thí dụ.

Phật bảo: Cũng như thế, A Nan, chúng sanh được lên cõi Trời cõi Người như đất ở móng tay, còn đọa xuống ác thú thì như đất của miền đại địa.

Thí dụ trên, quả thật là một tiếng chuông mai để cho bọn đệ tử chúng con xét suy mà tỉnh ngộ.

Tóm lại, ba cõi đều Vô thường, các pháp hữu vi thì chẳng có chi là vui thú. Người niệm Phật phải cầu sanh về Tây phương để thoát khỏi vòng sống chết Luân hồi, lần lần tu chứng đến cảnh Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết bàn – chứ không nên mong cầu sự phước lạc hư dối ở thế gian.

Niệm Phật như thế mới phù hợp với mục đích Giải thoát, với tâm Từ bi cứu khổ ban vui của đức Thế Tôn. Và muốn được như vậy, chúng con phải thường xuyên giám sát và suy tư về tám nỗi khổ của kiếp người, cho đến nỗi khổ vô tận vô biên trong sáu cõi.

Nếu chẳng quán sát như thế, thì tâm cầu mong Giải thoát sẽ khó phát sanh, ý nguyện về Tây phương sẽ không tha thiết; làm thế nào để ngày kia bước lên bờ Giác ngộ và dùng con thuyền Bát nhã để độ khắp biển mê?

Xưa kia đức Phật đã than rằng: Trong đời Mạt pháp, các đệ tử của ta chỉ đeo đuổi theo bên ngoài, ít có ai quan niệm đến vấn đề Sanh tử.

Không tha thiết đến sự liễu thoát Sanh tử là vì thiếu Trí giác, do bởi không thiết thực quán xét nỗi khổ trong kiếp sống Luân hồi, những người ấy chẳng những phụ ơn Phật mà cũng ruồng bỏ cả chính mình, thật đáng tiếc thương và đau xót thay!

Ðệ tử chúng con, nhờ giáo huấn của đức Bổn sư, nhờ ơn lành thường giăng bủa của đức Từ Phụ, nhờ sự khai thị rõ ràng của Thiện tri thức, hôm nay mới biết được mục đích quan trọng và chân chánh của Pháp môn Niệm Phật là Niệm Phật thì phải vì thoát Sanh tử Luân hồi.

Với tấm lòng tri ân tha thiết và chân thành, chúng con xin đem cả tính mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Ðại Từ Ðại Bi A Di Ðà Phật vị Đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc.

Nam mô Cứu Khổ Cứu Nạn Ðại Từ Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ tát.

Nam mô Ðại Hùng Ðại Lực Ðại Thế Chí Bồ tát.

Nam mô Liên Trì Hải Hội Thanh Tịnh Ðại Hải chúng Bồ tát.

Phẩm Thứ Hai: Niệm Phật Phải Vì Phát Vô Thượng Bồ Ðề Tâm

Bản hoài đích thật của đức Thế Tôn là muốn cho tất cả chúng sanh đều thoát vòng Sanh tử, đều được Giác ngộ như Ngài cho nên, người niệm Phật cần phải phát Bồ đề tâm tức là phát khởi cái tâm chí mong cầu quả vị Phật Ðà, quả vị ấy là cứu cánh tối thượng, không còn có gì hơn, Siêu việt cả hàng Thanh văn, Duyên giác; nên phát tâm như vậy còn gọi là phát Vô thượng Bồ đề tâm. Tâm này gồm có hai loại chủng tử chính yếu, là Từ bi và Trí tuệ, thường hay phát xuất công năng độ thoát mình và cứu vớt tất cả chúng sanh.

Kinh dạy rằng: Bồ đề tâm làm nhân, Ðại bi làm căn bản, phương tiện Trí tuệ làm cứu cánh.

Vì như người đi xa thì trước tiên phải nhận định mục tiêu sẽ đến và phải ý thức chủ đích cuộc hành trình bởi lý do nào và sau cùng thì phải dùng phương tiện nào để khởi tiến.

Người học Phật cũng phải như thế nghĩa là, trước tiên phải lấy cái quả vị Vô thượng Bồ đề làm mục tiêu rốt ráo, lấy lòng Đại bi lợi mình lợi người làm chủ đích thực hành, kế đó, tùy sở thích và căn cơ mà lựa chọn Pháp môn để tu tập. Phương tiện còn là Trí tuệ quyền biến tùy cơ nghi, áp dụng tất cả hạnh thuận nghịch trong khi hành Bồ tát đạo. Cho nên, Bồ đề tâm là mục tiêu cần phải nhận định rõ ràng trước khi hành trì.

Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: Nếu quên mất tâm Bồ đề mà tu hành các thiện pháp, đó là ma nghiệp.

Thật vậy, nếu dụng công khổ nhọc mà quên sót mục tiêu cầu thành Phật để lợi mình và lợi người, thì bao nhiêu các hạnh lành chỉ đem đến kết quả hưởng phước báo nhơn thiên, chung cuộc vẫn bị chìm mê quanh quẩn trong nẻo Luân hồi, chịu vô biên nỗi khổ. Như vậy chẳng là nghiệp ma thì còn gọi là gì? Thế thì, phát lòng Vô thượng Bồ đề để lợi ích cho chính mính và cho chúng sanh, là điểm phát tâm rất cần yếu.

Pháp môn Niệm Phật thuộc về pháp Đại thừa, nếu phát Bồ đề tâm mà niệm Phật thì TÂM và PHÁP đều được toàn vẹn, sẽ đi đến quả viên giác kiêm cả tự lợi và lợi tha.

Muốn phát Bồ đề tâm, người niệm Phật cần phải quán sát để phát tâm một cách thiết thực và hành động đúng theo tâm nguyện ấy trong suốt cuộc đời mình. Ðệ tử chúng con lâu nay phần nhiều chỉ tu theo hình thức mà ít chú trọng đến chỗ khai tâm thành thử lửa tam độc là Tham Sân Si vẫn cháy hừng, không hưởng được hương vị thanh lương Giải thoát như đức Phật dạy.

Muốn cho Bồ đề tâm phát Sinh một cách thiết thực, cần nên suy tư quán sát để phát tâm theo sáu điểm như sau:

Ðiểm thứ nhất: GIÁC NGỘ TÂM

Chúng sanh thường chấp sắc thân này là Ta. Thường chấp cái tâm thức có hiểu biết có buồn giận thương vui này là Ta. Nhưng thật ra, sắc thân này là giả dối, ngày kia khi chết đi, nó sẽ tan về với đất bụi, cho nên sắc thân tứ đại này không phải là Ta. Tâm thức cũng thế, nó chỉ là cái thể tổng hợp về cái biết của sáu trần là sắc thanh hương vị xúc pháp. Cái biết của ta khi thì có khi thì không – hình ảnh này tiêu hoại thì hình ảnh khác hiện ra, tùy theo trần cảnh mà thay đổi luôn luôn, hư giả không thật. Cho nên, tâm thức này không phải là Ta.

Cổ đức đã bảo: Thân như bọt tụ, tâm như gió huyễn hiện vô căn, không tánh thật.

Nếu Giác ngộ thân tâm như huyễn thì sẽ không còn chấp trước, lần lần sẽ đi vào cảnh giới nhơn không, chẳng còn Ngã tướng. Cái Ta của ta đã là không, thì cái ta của người khác cũng là không nên chẳng còn Nhơn tướng. Cái Ta của ta đã là không, thì tất cả cái Ta của vô số chúng sanh cũng là không. Nếu không còn Chúng sanh tướng. Cái Ta đã là không, nên không có bản ngã bền lâu, nên không thật có ai chứng đắc, không có ai thọ nhận, nên không có Thọ giả tướng.

Nhơn đã không thì Pháp cũng không, vì sự cảnh luôn luôn đổi thay sanh diệt, không có tự thể. Ðây lại cần nên nhận rõ: chẳng phải các pháp khi hoại diệt mới thành không, mà chính vì nó hư huyễn nên đương thể tức là không? Cả Nhơn cũng thế. Khi Giác ngộ là cả Nhơn và Pháp đều không, thì giữ lòng thanh tịnh và trong sáng, không chấp trước mà niệm Phật. Dùng lòng Giác ngộ như thế mà hành đạo, mới gọi là phát Bồ đề tâm.

Ðiểm thứ hai: BÌNH ÐẲNG TÂM

Trong khế kinh, đức Phật đã dạy rằng:Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, là cha mẹ đời quá khứ của ta và là chư Phật đời vị lai.

Chư Phật thấy chúng sanh là Phật nên dùng tâm bình đẳng Đại bi mà Cứu độ. Là đệ tử của Phật, chúng con phải tuân theo lời dạy của Phật. Cho nên đối với chúng sanh phải có tâm bình đẳng và tôn trọng. Tôn trọng và thừa sự chúng sanh là tôn trọng và thừa sự đức Như Lai, làm cho chúng sanh hoan hỷ tức là làm cho chư Phật hoan hỷ. Kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ Hiền đã dạy như thế. Khi dùng lòng bình đẳng tôn kính mà tu niệm thì chúng con sẽ dứt được cái nghiệp chướng phân biệt và khinh mạn, rồi nhờ đó mà sẽ dứt trừ được mọi thứ phiền não để nảy Sinh các đức lành. Dùng lòng bình đẳng như thế mà hành đạo thì gọi là phát Vô thượng Bồ đề tâm.

Ðiểm thứ ba: TỪ BI TÂM

Ðệ tử chúng con cùng tất cả chúng sanh đều sẳn đủ công đức và tướng hảo cùng Trí tuệ của Như Lai do vì mê mờ chân tánh và dấy khởi hoặc nghiệp nên phải bị Luân hồi, chịu vô biên sự thống khổ. Nay đã rõ như thế chúng con cần phải dứt trừ tâm phân biệt yêu ghét, mà khởi lòng cảm hối Từ bi, để tìm phương tiện độ mình cứu người, để cùng nhau được an vui thoát khổ. Cũng nên nhận rõ rằng Từ bi khác với Ái kiến. Ái kiến là lòng thương yêu còn chấp luyến trên hình thức, trên tình cảm và tâm phân biệt, cho nên kết quả là bị sợi dây tình ái buộc ràng.

Từ bi là lòng xót thương Cứu độ mà không phân biệt chấp trước, và xa lìa mọi hình tướng. Tâm Từ bi thể hiện dưới nhiều mặt, nên kết quả được an vui Giải thoát và phước huệ càng tăng thêm.

Muốn cho tâm Từ bi được thêm rộng lớn thì phải xét từ nỗi khổ của chính mình mà cảm thông đến các nỗi khổ khó khăn khó chịu của kẻ khác, tự nhiên sanh ra lòng xót thương cứu vớt, niệm Từ bi của Bồ đề tâm từ đó sẽ phát ra.

Trong kinh Hoa Nghiêm, Ngài Phổ Hiền Bồ tát đã khai khị rằng:

Bồ tát quán sát chúng sanh không nơi nương tựa mà khởi Đại bi, quán sát chúng sanh tánh chẳng điều thuận mà khởi Đại bi, quán sát chúng sanh nghèo khổ không căn lành mà khởi Đại bi. Quán sát chúng sanh ngủ say trong đêm dài vô minh mà khởi Đại bi, quán sát chúng sanh làm những điều ác mà khởi Đại bi. Quán sát chúng sanh đã bị ràng buộc mà thích lao mình vào chỗ ràng buộc mà khởi Đại bi. Quán sát chúng sanh chìm đắm trong biển Sanh tử mà khởi Đại bi. Quán sát chúng sanh vương mang tật khổ lâu dài mà khởi Đại bi. Quán sát chúng sanh không ưa thích pháp lành mà khởi Đại bi. Quán sát chúng sanh xa mất Phật Pháp mà khởi Đại bi...

Ðã phát Đại bi tâm thì tất phải phát Vô thượng Bồ đề tâm, thề nguyền Cứu độ. Vậy thì lòng Đại từ bi là lòng đại Bồ đề phải dung thông nhau. Cho nên, phát Từ bi tâm tức là phát Vô thượng Bồ đề tâm. Dùng lòng Đại bi như thế mà niệm Phật và sống đạo mới gọi là phát Bồ đề tâm.

Ðiểm thứ tư: HOAN HỶ TÂM

Ðã có xót thương thì phải thể hiện lòng xót thương ấy qua tâm hoan hỷ, hoan hỷ gồm có hai thứ: Tùy hỷ và Hỷ xả.

Tùy hỷ là khi thấy trên từ chư Phật và Thánh nhân, dưới cho đến các loại chúng sanh có làm được công đức gì dù lớn dù nhỏ, đều cũng vui mừng theo. Và khi thấy ai được sự phước lợi, hưng thạnh, thành công, an ổn cũng sanh ra ý niệm vui vẻ, mừng giùm cho họ.

Hỷ xả là dù có chúng sanh làm những điều tội ác, vong ân, khinh hủy hiểm độc, tổn hại cho mình, đều cũng an nhẫn, vui vẻ mà bỏ qua.

Lòng tùy hỷ sẽ trừ được các chướng ngại của sự ganh ghét nhỏ nhen. Lòng Hỷ xả sẽ giải trừ được chướng ngại của sự hận thù báo phục. Bởi vì tâm hoan hỷ không ngoài sự Giác ngộ mà thể hiện, nên đó chính là lòng Bồ đề.

Dùng lòng hoan hỷ như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát Bồ đề tâm

Ðiểm thứ năm: SÁM NGUYỆN TÂM

Trong kiếp sống Luân hồi dằng dặc lâu xa, mọi loài chúng sanh thường đổi thay hình dạng và làm quyến thuộc lẫn nhau. Nhưng vì đệ tử chúng con mê mờ lầm lạc, từ vô thủy cho đến ngày nay, do tâm chấp ngã chỉ muốn lợi mình, nên đã từng làm tổn hại chúng sanh, tạo ra vô lượng vô biên ác nghiệp thậm chí đến chư Phật và Thánh nhân, vì tâm Đại bi mà hiện ra nơi đời để thuyết pháp Cứu độ tất cả các loài, trong ấy có cả chúng con vậy mà đối với ngôi Tam bảo, chúng con đã từng sanh lòng vong ân hủy phá.

Ngày nay biết được lỗi lầm của mình, đệ tử chúng con vô cùng hổ thẹn và ăn năn, xin chí thành sám hối cả ba nghiệp thân khẩu ý.

Ngay cả đức Di Lặc Bồ tát dù đã chứng ngôi vị Bất thối, vì muốn mau đắc quả Phật mà mỗi ngày còn lễ sám sáu thời. Vậy chúng con xin đem thân nghiệp kính lễ Tam bảo, khẩu nghiệp tỏ bày tội lỗi cầu mong được tiêu trừ, và đem ý nghiệp thành khẩn ăn năn, thề không tái phạm.

Sau khi sám hối, chúng con xin dứt hẳn tâm nhơ và hạnh ác, không còn cho tiếp tục tái phạm nữa, để đi đến chỗ tâm và cảnh đều KHÔNG, đó mới thật là sám hối chân chánh. Lại phải phát nguyện rằng: Nguyện hưng long ngôi Tam bảo, nguyện độ khắp chúng sanh, nguyện hoằng truyền Pháp môn Niệm Phật – để chuộc lại lỗi xưa và đền đáp bốn ơn nặng, đó là ơn Tam bảo, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng cùng thiện hữu trí thức, cuối cùng là ơn của tất cả chúng sanh.

Ðiểm thứ sáu: BẤT THỐI TÂM

Dù đã sám hối, phát nguyện tu hành nhưng nghiệp hoặc và ma chướng không dễ gì dứt, và sự lập bồi công đức không dễ gì thành tựu. Mà con đường Bồ đề đi đến quả viên giác xa vời vợi lại đầy cam go chướng ngại. Ngài Xá Lợi Phất trong tiền kiếp chứng đến ngôi lục trụ, phát đại Bồ đề tâm tu hạnh bố thí. Nhưng khi chịu khổ để khoét một con mắt cho người ngoại đạo, bị họ không dùng, liệng xuống đất rồi nhổ nước dãi, lấy chân chà đạp lên trên. Ngài liền thối thất Đại thừa tâm.

Như vậy, muốn giữ vững tâm nguyện, là điều không phải dễ dàng. Ðệ tử chúng con chỉ vì muốn đạo tâm không thối chuyển thì phải lập nên thệ nguyện thật kiên cố.

Ðệ tử chúng con thề rằng: thân này dẫu chịu vô lượng sự nhọc nhằn khổ nhục, hoặc bị đánh giết cho đến thiêu đốt nát tan thành tro bụi, cũng không vì thế mà phạm vào điều ác, mà thối thất trên bước tu hành. Dùng lòng Bất thối chuyển như thế mà niệm Phật, mới gọi là phát Vô thượng Bồ đề tâm.

Ðó là sáu yếu điểm bắt buộc phải có của người phát Vô thượng Bồ đề tâm. Nếu không dựa vào sáu điểm ấy để lập chí tu hành thì dù nói phát tâm, cũng chỉ là nói suông mà thôi, không thể nào đi đến Phật quả. Trước mắt chúng con chỉ có hai con đường: Luân hồi và Giải thoát. Ðường Giải thoát tuy có lắm nỗi gian nan, nhưng mỗi bước đều đi lần lần đến chỗ sáng suốt an vui. Ðường Luân hồi dù được tạm hưởng phước báo nhơn thiên, nhưng kết cuộc phải chuyển đến cảnh Tam đồ, ác đạo, sự khổ vô biên không biết đến kiếp nào mới ra khỏi.

Vì vậy, mà đệ tử chúng con quyết chí niệm Phật suốt đời, nguyện vì hết thảy chúng sanh mà phát Vô thượng Bồ đề tâm mà hoàn thành Phật đạo. Bởi lẽ muốn sớm chứng đắc Phật quả, muốn thành tựu Bồ đề tâm nguyện, mà chúng con phải đốc lòng cầu vãng sanh Cực lạc cũng như phải niệm Phật chuyên cần.

Những Huấn Thị Về Bồ Đề Tâm

Kinh Hoa Nghiêm có dạy rằng:

Này thiện nam tử! Bậc Bồ tát phát lòng Vô thượng Bồ đề là: khởi lòng Đại bi Cứu độ tất cả chúng sanh khởi lòng cúng dường chư Phật, cứu cánh thừa sự. Khởi lòng khắp cầu Chánh pháp tất cả không sẻn tiếc. Khởi lòng thú hướng rộng lớn cầu Nhất thiết trí. Khởi lòng Đại từ vô lượng khắp nhiếp tất cả chúng sanh. Khởi lòng không bỏ rời các loài hữu tình, mặc áo giáp kiên thệ để cầu Bát nhã Ba la mật. Khởi lòng không Siểm dối với vì cầu được trí Như thật. Khởi lòng thật hành y như lời nói, để tu đạo Bồ tát. Khởi lòng không dối đối với chư Phật vì gìn giữ thệ nguyện lớn của tất cả Như Lai. Khởi lòng nguyện cầu Nhất thiết trí cùng tận kiếp vị lai giáo hóa chúng sanh không ngừng nghỉ. Bồ tát dùng những công đức Bồ đề tâm nhiều như vi trần số cõi Phật như thế nên được sanh vào nhà Như Lai.

Này thiện nam tử! Như ngươi học bắn trước hết phải tập thế đứng, rồi sau mới học đến cách bắn. Cũng thế, Bồ tát muốn học đạo Nhất thiết trí của Như Lai, trước hết phải an trụ nơi Bồ đề tâm, rồi sau mới tu hành tất cả Phật Pháp. Thiện nam tử! Ví như vương tử tuy hãy còn thơ ấu song tất cả đại thần đều phải kính lễ. Cũng thế, Bồ tát tuy mới phát Bồ đề tâm tu Bồ tát hạnh, nhưng tất cả bậc kỳ cựu hàng Nhị thừa đều phải nể vì kính trọng.

Thiện nam tử! Như Thái tử tuy đối với quần thần chưa được tự tại, song đã có đầy đủ tướng trạng của vua, mà các bầy tôi không thể sánh bằng, bởi nhờ chỗ xuất sanh tôn quý. Cũng thế, Bồ tát tuy đối với các nghiệp phiền não chưa được tự tại, song đã đầy đủ tướng trạng Bồ đề, hàng Nhị thừa không thể sánh hàng, bởi nhờ chủng tánh đứng vào bậc nhất.

Thiện nam tử! Như người máy bằng gỗ nếu không có mấu chốt thì các thân phần rời rạc chẳng thể hoạt động. Cũng thế Bồ tát nếu thiếu Bồ đề tâm thì các hạnh lành đều bị phân tán, không thể thành tựu tất cả Phật Pháp.

Thiện nam tử! Như chất kim cương thì tất cả mọi vật không thể phá hoại, trái lại có thể phá hoại tất cả vật khác, song thể tánh của nó vẫn không tổn giảm. Bồ đề tâm của Bồ tát cũng thế, khắp ba đời trong vô số kiếp giáo hóa chúng sanh, tu các khổ hạnh, việc hàng Nhị thừa không thể làm mà Bồ tát đều làm được, song kết cuộc vẫn chẳng chán mỏi giảm hư.

Phổ Hiền Bồ tát dạy rằng:

Thiện nam tử! Bồ tát vì điều phục giáo hóa tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. Vì trừ diệt khổ tụ cho tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. Vì đem cho tất cả chúng sanh sự an vui đầy đủ nên phát Bồ đề tâm. Vì dứt trừ sự ngu tối cho tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. Vì đem lại Phật trí cho tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. Vì tùy thuận lời dạy của Như Lai khiến chư Phật hoan hỷ nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn thấy sắc thân và tướng hảo của tất cả chúng sanh nên phát Bồ đề tâm. Vì cung kính cúng dường tất cả chư Phật nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn nhập vào Trí tuệ rộng lớn của tất cả chư Phật nên phát Bồ đề tâm. Vì muốn hiển hiện các Ðức, Lực, Vô úy của chư Phật nên phát Bồ đề tâm.

Ðệ tử chúng con vẫn nhận thức tất rõ rằng: nẻo Luân hồi có quá nhiều chướng nạn, nếu chưa chứng quả Vô sanh thì khi chuyển sang kiếp sống khác ắt dễ bị hôn mê sa đọa.

Cho nên, muốn bảo đảm cái tâm Vô thượng Bồ đề không bị thối thất và để dễ dàng thành mãn chí nguyện độ sanh, chúng con phải gấp rút thanh toán vấn đề Sống chết bằng cách cầu vãng sanh cõi Cực lạc.

Như vậy, nhờ sự giáo huấn của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni, nhờ oai lực vĩ đại của Bổn nguyện A Di Ðà, mà từ nay chúng con đã biết rõ Niệm Phật thì phải phát Vô thượng Bồ đề tâm.

Với tấm lòng tri ân tha thiết và chân thành, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Ðại từ Ðại bi A Di Ðà Phật vị Đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc.

Nam mô Cứu khổ cứu nạn Ðại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát.

Nam mô Ðại hùng Ðại lực Ðại thế chí Bồ tát.

Nam mô Thanh tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát.

Phẩm Thứ Ba: Niệm Phật Phải Ðặt Trọn Lòng Tin Vào Lời Phật Dạy

Chúng sanh nơi thế giới Ta bà này, đang ở vào đời ác, đủ năm thứ nhơ bẩn, phiền não thì nặng và nhiều, hoàn cảnh bên ngoài thì ác liệt nên sự tu hành không dễ gì tiến bộ. Ðức Bổn sư vì quá thương xót nên vận dụng lòng Bi Trí đặc biệt mở ra Pháp môn Niệm Phật. Người tu môn này tuy chưa dứt phiền não, mà có thể mang cả nghiệp hoặc của mình, trở về Sinh sống bên cõi Cực lạc của Phật A Di Ðà. Khi về đến Tây phương rồi, nhờ nhiều thắng duyên của cảnh ấy nên sự tiến tu chứng đạo rất dễ dàng như cầm lấy món đồ trước mắt. Sự thành tựu lớn lao như vậy là do tất cả đều đặt trên LÒNG TIN.

Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng:

Lòng tin là bước đầu vào Ðạo, là mẹ của tất cả công đức. Lòng tin hay nuôi lớn các căn lành, lòng tin hay thành tựu quả Bồ đề của chư Phật

Thế nên, đối với người niệm Phật thì đức tin có tánh cách rất trọng yếu. Nếu mất đức tin, chẳng những nền tảng tiến đạo phải bị sụp đổ, mà công hạnh Giải thoát cũng không thành. Ðức tin này không phải là mê tín, mà chính là lòng tin nương theo Trí tuệ, là sự đặt tron vẹn niềm tin vào lời dạy của Phật, Bồ tát và chư vị Tổ sư.

Tại sao đã nương theo Trí tuệ, lại còn phải đặt trọn niềm tin vào lời dạy của Phật và Tổ? Bởi vì môn niệm Phật thuộc về pháp Đại thừa, mà đã là đại pháp thì chắc chắn phải nói về nhiều cảnh giới Siêu việt khác thường, nên có những điều mà Trí tuệ phàm phu không thể suy lường nỗi.

Cho nên, trong các kinh điển Đại thừa, có nhiều chỗ đức Phật bảo đừng nói cho kẻ nhiều kiến chấp và thiếu lòng tin nghe. Vì chỉ e họ sanh lòng khinh báng mà nghe thêm lỗi lầm. Vì vậy, đệ tử chúng con khi đọc tụng kinh điển Đại thừa, có chỗ nào dùng Trí tuệ mà hiểu được thì rất tốt – còn chỗ nào suy gẫm nhiều mà không thấu đạt thì chúng con vẫn đặt trọn vẹn lòng tin nơi lời chỉ dạy của đức Thế Tôn. Như thế, mới gặt hái nhiều phần lợi ích.

Trong kinh A Di Ðà, đức Thế Tôn cũng đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng đây là pháp khó tin khó hiểu, và nói pháp này ra, quả thật là điều rất khó tin, và lòng tin là điều quan trọng bậc nhất.

Chư vị Tổ sư cũng đã dạy rằng: Pháp môn niệm Phật rất khó thâm tín, chỉ duy hạng phàm phu đã gieo trồng căn lành niệm Phật và bậc đăng địa Bồ tát mới tin nhận được mà thôi. Ngoài ra, những chúng sanh khác cho đến hàng Nhị thừa là Thanh văn và Duyên giác hoặc quyền vị Bồ tát, đôi khi cũng không tin nhận Pháp môn này.

Ðệ tử chúng con, nhờ năng lực nhiếp thọ của đức A Di Ðà, nhờ sự gia trì của sáu phương chư Phật, nên mới có được lòng tin vào lời dạy của đức Bổn sư, nhận chắc rằng: cõi Cực lạc từ nhân vật đến cảnh giới đều là thật. Tin chắc chắn vào Bổn nguyện Cứu độ của Phật A Di Ðà, nên chúng con dù nghiệp nặng đến đâu chăng nữa, nếu xưng niệm danh hiệu Ngài thì cũng quyết định sẽ được tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc. Chúng con tin rằng niệm Phật thì thành Phật chắc chắn nhân nào quả nấy không thể sai lạc mảy may, và nếu nguyện về cõi Phật thì quyết định sẽ được thấy Phật và được vãng sanh. Ðây là một điều vô cùng hiển nhiên khỏi phải cần minh chứng thêm nữa.

Ðệ tử chúng con vẫn tin và hiểu rằng Pháp môn Niệm Phật gồm nhiếp cả Thiền, Giáo, Luật, Mật. Bởi vì khi niệm Phật dứt trừ tất cả vọng tưởng và chấp trước, rồi đưa đến chỗ minh tâm kiến tánh, đó tức là Thiền. Sáu chữ hồng danh bao gồm vô lượng vô biên ý nghĩa mầu nhiệm, không có một thứ giáo lý nào mà không được chứa đựng ở trong một câu Phật hiệu đó là Giáo.

Niệm Phật chuyên cần sẽ làm thanh tịnh thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ý nghiệp, đưa hành giả đến cảnh giới sâu mầu, trong sạch vắng lặng, đó là Luật. Danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật có công năng như một câu thần chú đưa chúng con vượt qua biển khổ Sanh tử mà thấu bờ bên kia, lại còn giải trừ oán kết tiêu diệt nghiệp chướng, hoàn mãn sở nguyện, hàng phục ma ngoại, đó là Mật.

Trong kinh, Phật dạy rằng: Chí thành xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật sẽ được tiêu trừ tội nặng trong tám mươi ức kiếp Sanh tử.

Hơn nữa, những người có căn tánh Đại thừa, tất phải hiểu rằng NIỆM PHẬT ÐỂ THÀNH PHẬT. Nếu chỉ hiểu niệm Phật cốt để ngăn trừ vọng tưởng và phiền não tức là đã lạc vào Ngũ đình tâm quán của Tiểu thừa.

Tại sao niệm Phật là để thành Phật?

Bởi vì khi vừa đề khởi câu Phật hiệu, thì quá khứ, hiện tại và vị lai đều mất cả, tuy có tướng mà lìa tướng, tức sắc là không, hữu niệm đồng vô niệm, đi ngay vào cảnh giới Bản giác ly niệm của Như Lai, cho nên đương thể tức là Phật chứ còn chi nữa?

Huống chi, kinh dạy rằng: Phật A Di Ðà thường phóng hào quang nhiếp thọ tất cả chúng sanh niệm Phật ở mười phương không bỏ sót.

Thật vậy, đức A Di Ðà đã lập ra bốn mươi tám lời thệ nguyện vĩ đại, nhằm đưa hết thảy chúng sanh thành tựu Phật Ðạo tối thượng. Bổn nguyện của Ngài phát xuất từ tấm lòng Đại từ Đại bi nên đã có một oai lực tuyệt đối, thù thắng và Siêu việt Nhân quả.

Ðệ tử chúng con vốn là những hữu tình bị chi phối bởi Vô thường và bất lực trước kiếp sống hữu hạn bị trói buộc bởi nghiệp lực, hoàn toàn bị ước định bởi không gian và thời gian và luật Nhân quả. Cho nên chúng con không bao giờ có thể đạt đến Niết bàn hay Giác ngộ được. Sự bất lực không thể tự đạt đến Giải thoát, vốn nằm ngay trong bản chất của kiếp sống. Càng nỗ lực thì chúng con càng vướng mắc thêm vào những mạng lưới rối rắm, cho nên, chúng con cần đến một sự trợ lực phát Sinh từ một căn nguồn nào khác, hơn là cái kiếp sống giới hạn này: đó là Bổn nguyện của đức A Di Ðà Phật.

Nhưng Bổn nguyện không phải là một căn nguồn xa lạ và ở ngoài chúng con. Vì sao vậy? Vì nếu là hoàn toàn ở bên ngoài thì Bổn nguyện ấy không thể hiểu biết gì về những giới hạn của chúng con và do đó không thể cảm thông với chúng con. Bổn nguyện của A Di Ðà thật ra chính là sự sống của chúng con và là nguồn rung động tâm linh của chúng con, được biểu thị qua một thực thể gọi là SỨC MẠNH TÂM LINH của đức A Di Ðà Phật.

Như vậy, Bổn nguyện ấy vẫn hằng ở trong chúng con, nhưng lại luôn luôn ở ngoài chúng con. Nếu không ở trong chúng con thì ắt không thể hiểu và cứu vớt chúng con. Nếu không ở ngoài chúng con thì chắc hẳn lại nhận chịu cùng những giới hạn của chúng con. Ðây là một vấn đề vĩnh cữu. Hữu và không Hữu ở trong mà lại ở ngoài. Tuy Vô hạn nhưng sẳn sàng phụng sự Hữu hạn – đầy ý nghĩa nhưng lại chẳng có ý nghĩa gì cả?

Thật ra, Bổn nguyện chỉ là lực dụng của Phật Trí, mà Phật Trí thì vượt lên trên mọi khả năng lĩnh hội của toàn phàm phu như chúng con.

Là phàm phu vô trí, chúng con chỉ tin theo lời Phật, và chỉ nương tựa vào năng lực Cứu độ tuyệt đối của đức A Di Ðà mà niệm Phật cầu nguyện vãng sanh Cực lạc.

Ðể biểu lộ lòng tin mãnh liệt và sâu sắc ấy, đệ tử chúng con quyết chí niệm Phật suốt đời, vì đặt trọn lòng tin vào đức Phật và lời Phật dạy, không còn một ý tưởng nghi ngờ. Từ nay trở về sau, đệ tử chúng con luôn luôn ghi nhớ rằng Niệm Phật phải đặt trọn lòng tin vào đức Phật và lời Phật dạy.

Với lòng tin vô cùng vững mạnh, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ:

Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới Ðại từ Ðại bi A Di Ðà Phật

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát

Nam mô Ðại Thế Chí Bồ tát

Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát.

Phẩm Thứ Tư: Niệm Phật Phải Phát Nguyện Vãng Sanh Cực Lạc

Yếu chỉ của Pháp môn niệm Phật là Tín, Nguyện, Hạnh, muốn vào cửa pháp này, trước tiên hành giả phải tin cõi Cực lạc là có thật, và đức A Di Ðà luôn luôn hộ niệm, sẳn sàng tiếp dẫn chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu của Ngài. Sau khi đã có lòng tin, thì hành giả phải phát tâm chân thiết cầu thoát ly khỏi Ta bà đầy khổ lụy và chướng duyên, mà mong muốn sanh về miền Cực lạc an vui, sự thanh tịnh trang nghiêm vô lượng để tiến tu, hoàn thành mục đích tự độ và độ tha. Ðó là Nguyện. Và sau khi đã phát nguyện như thế, lại cần phải thiết thực xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật để được tiếp dẫn. Ðây gọi là Hạnh.

Ngẫu Ích Đại sư dạy rằng:

Ðược vãng sanh hay chăng, toàn bộ Tín, Nguyện có hay không – phẩm vị thấp hay cao, đều bởi hành trì sâu hoặc cạn. Nếu không Tín, Nguyện, thì dù trì niệm câu hồng danh cho đến gió thổi không vào, mưa sa chẳng lọt vững chắc như tường đồng vách sắt, cũng không được vãng sanh.

Nếu Tín, Nguyện bền chắc, thì khi lâm chung chỉ xưng danh hiệu mười niệm hay một niệm cũng được vãng sanh. Trái lại, việc hành trì tuy vững như vách sắt tường đồng mà Tín, Nguyện yếu kém, thì kết quả chỉ hưởng được phước báo nhơn thiên mà thôi.

Như vậy, sự phát nguyện thật vô cùng cần thiết và quan trọng. Cho nên đức Bổn sư cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong kinh A Di Ðà:

“Lại nữa – Xá Lợi Phất, chúng sanh được về cõi Cực lạc đều là hàng A Bệ Bạt Trí, trong ấy có rất nhiều bậc nhất Sanh Bổ Xứ số lượng rất đông, không thể dùng toán số mà tính biết được, chỉ có thể lấy số “vô lượng vô biên tăng kỳ” để nói mà thôi. “Xá Lợi Phất! Chúng sanh nghe rồi phải nên phát nguyện cầu sanh về cõi nước kia. Bởi tại sao? Vì được cùng các bậc thượng thiện nhân như thế, đồng họp một chỗ...”

...Xá Lợi Phất! Ta thấy sự lợi ích đó, nên nói lời này: nếu có chúng sanh nào nghe lời nói đây phải nên phát nguyện cầu sanh về quốc độ ấy.

...Xá Lợi Phất! Nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về nước Phật A Di Ðà, thì những người đó hoặc đã sanh, hoặc đang sanh, hoặc sẽ sanh, đều được không thối chuyển nơi quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ở cõi nước kia. Cho nên Xá Lợi Phất các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu có lòng tin thì phải nên phát nguyện cầu sanh về cõi nước kia...

Như trên đây, chúng con thấy đức Thích Ca mãi nhắc đi nhắc lại hai chữ PHÁT NGUYỆN lời và ý đều khẩn thiết. Cho đến phần kết thúc kinh A Di Ðà, Ngài cũng vẫn đôi ba phen bảo chúng con phải phát nguyện cầu vãng sanh Cực lạc.

Tại sao như vậy? Vì nếu được về cõi Cực lạc sẽ được ở cảnh giới vô cùng mầu nhiệm trang nghiêm, được thân hình kim cương, đủ ba mươi hai tướng tốt, dứt hẳn nỗi khổ sanh già bịnh chết, được gần gũi chư Phật và chư đại Bồ tát, được hội họp với các bậc thượng thiện nhân, được thần thông Tam muội, không còn thoái chuyển nơi quả vị Vô thượng Bồ đề.

Bởi Trí tuệ của Phật nhìn thấy rất nhiều sự lợi ích như thế, nên Ngài mới vận lòng Từ bi, vì Cứu độ mọi loài hữu tình mà khuyên nên phát nguyện vãng sanh Cực lạc. Lòng bi mẫn của đức Thích Ca Thế Tôn thật là vô lượng, khiến chúng con hôm nay đọc lại lời giáo huấn tha thiết của Ngài, mà tâm tư không khỏi xúc động. Và y theo lời dạy của đức Bổn sư, đệ tử chúng con từ nay nhận thức rõ ràng rằng: Niệm Phật thì phải phát nguyện, cầu vãng sanh thế giới Cực lạc.

Chúng con cùng nhau chấp tay, quỳ xuống, một lòng cầu vãng sanh.

Cúi lạy phương Tây, cõi An Lạc.

Tiếp dẫn chúng sanh Ðại Ðạo Sư.

Nay con phát nguyện nguyện vãng sanh.

Nhờ lượng Từ bi thương nhiếp thọ.

Ðệ tử chúng con khắp vì bốn ơn ba cõi pháp giới chúng sanh cầu đạo Bồ đề nhất thừa của Phật, chuyên tâm trì niệm, hồng danh môn đức Phật A Di Ðà, nguyện sanh Tịnh độ.

Lại bởi chúng con, nghiệp nặng phước khinh, chướng sâu huệ cạn, nhiễm tâm dễ động, tịnh đức khó thành.

Nay đối Từ Tôn, kính gieo năm vóc bày tỏ một lòng, chí thành sám hối.

Con và chúng sanh, khoáng kiếp đến nay, mê bản tịnh tâm, buông Tham Sân Si, nhiễm dơ ba nghiệp, vô lượng vô biên, tội cấu đã gây vô lượng vô biên, nghiệp oan đã kết nguyện đều tiêu diệt.

Nguyện từ hôm nay, lập thệ nguyện sâu, xa lìa pháp ác, thề không còn tạo, Siêng tu đạo Thánh, thề chẳng biếng lui, thề thành Chánh giác, thề độ chúng sanh. Xin đức Từ Tôn dùng nguyện Từ bi chứng biết lòng con, thương xót đến con, gia bị cho con. Nguyện khi Thiền quán hoặc lúc mộng mơ, được thấy thân vàng A Di Ðà Phật, được chơi cõi Tịnh của đấng Ðạo sư, được nhờ Từ Tôn cam lộ rưới đầu, quang minh chiếu thể, tay xoa đảnh con, áo đắp thân con, khiến cho chúng con chướng cũ tự trừ, căn lành thêm lớn, mau tiêu phiền não, chóng phá vô minh, viên giác diệu tâm, sáng bừng mở rộng, tịch quang cảnh thật, thường được hiện tiền.

Ðến lúc lâm chung biết ngày giờ trước, thân không tất cả bệnh khổ ách nạn tâm dứt tất cả Tham luyến mê hoặc các căn vui đẹp Chánh niệm phân minh, xả báo an lành như vào Thiền định, Phật A Di Ðà và Quán Thế Âm cùng Ðại Thế Chí cùng chư hiền Thánh, ánh lành tiếp dẫn, tay báu dắt dìu, lầu các tràng phan nhạc trời hương lạ, Tây phương cảnh thật bày hiện rõ ràng, khiến cho chúng sanh kẻ thấy người nghe mừng vui khen cảm phát Bồ đề tâm.

Bấy giờ thân con ngồi đài kim cang bay theo sau Phật, khoảng khảy móng tay sanh vào sen báu nơi ao thất bảo ở cõi Tây phương. Rồi khi hoa nở thấy Phật Bồ tát, nghe tiếng pháp mầu chứng Vô sanh nhẫn, giây phút lại đi thừa sự chư Phật. Nhờ ân thọ ký, được thọ ký xong, năm nhãn sáu thông vô lượng trăm ngàn môn Đà ra ni, tất cả công đức thảy đều thành tưụ. Từ đó về sau, không rời Cực lạc, trở lại Ta bà phân thân vô số khắp cả mười phương, dùng sức thần thông, tự tại khó nghĩ, và các phương tiện độ thoát chúng sanh đều khiến lìa nhiễm, chứng được tịnh tâm, đồng sanh Tây phương, lên ngôi Bất thối.

Nguyện lớn như vậy, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nghiệp và phiền não thảy đều vô tận. Ðại nguyện chúng con cũng không cùng tận. Nay con lạy Phật phát nguyện tu trì, xin đem công đức hồi thí hữu tình, bốn ơn khắp báo, ba cõi đều nhờ, pháp giới chúng sanh, đồng thành chủng trí.

Phát nguyện xong rồi, đệ tử chúng con xin đem cả tánh mạng mà quy y và đảnh lễ chư Phật.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Ðại Từ bi Phụ A Di Ðà Phật, vị Đạo sư tiếp dẫn vãng sanh Cực lạc.

Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.

Nam mô Ðại Thế Chí Bồ tát.

Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải chúng Bồ tát.

Phẩm Thứ Năm: Niệm Phật Phải Hành Trì Cho Thiết Thực

Ðã có lòng tin vào Pháp môn Niệm Phật, và đã lập chí nguyện vãng sanh Cực lạc, mà không chịu niệm Phật chuyên cần, thì cũng ví như chiếc thuyền dù có bánh lái đầy đủ mà không chịu chèo, thì cũng không thể vãng sanh. Có kẻ nghe nói: “chỉ cần có Tín, Nguyện chân thực và tha thiết thì khi lâm chung mười niệm hay một niệm cũng quyết được vãng sanh Tây phương”. Thì liền nghĩ rằng, nếu như thế thì cần chi phải vội gấp, cứ để đến lúc sắp chết thì lúc đó bắt đầu niệm Phật cũng được.

Ý niệm này quá sai lầm bởi vì quá xem thường hành môn Niệm Phật. Phải biết rằng, theo trong kinh văn, cái điểm trọng yếu để vãng sanh là: người ấy khi lâm chung lòng không điên đảo.

Quả thật, lúc lâm chung lòng không điên đảo thì mười niệm hay một niệm cũng được vãng sanh, nhưng ai dám quả quyết rằng mình khi lâm chung lòng chắc chắn không điên đảo? Nếu lúc bình thời mà không tinh chuyên dụng công thì đến khi mạng sống chấm dứt, bốn đại phân ly, sức nghiệp dồn dập, thân tâm bị sự khổ làm cho kinh hoàng mê loạn, sợ e một niệm cũng không thể đề khởi, huống chi là mười niệm?

Muốn cho khi lâm chung có phần bảo đảm, thì lúc bình thời hành giả phải chuyên cần niệm Phật cho nhiều, và gắng tu tập trình độ “nhất tâm bất loạn”.

Hơn nữa, đức A Di Ðà Phật đâu có đợi đến lúc sắp lâm chung của hành giả thì mới hiện thân tiếp dẫn?

Mà thật ra, Ngài đã và đang Cứu độ chúng con ngay chính trong đời sống này, từng giờ từng phút. Qua lực dụng của danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật, mà Bổn nguyện của Ngài đang len lõi vào cùng tận ngõ ngách của tâm hồn chúng sanh, để đưa muôn loài trở về với bản thể vãng sanh. Và còn nữa, Bổn nguyện của Ngài đang lan tràn trên mọi ngả đường trần gian theo từng bước chân của chúng con, để cứu vớt chúng con trong từng hành vi trong từng cử chỉ và đưa toàn bộ nếp sống chúng con trở về với thể tánh Giác ngộ của mình.

Chính vì vậy mà chư Tổ sư đã dạy rằng: Lúc niệm Phật chính là lúc vãng sanh và cũng là lúc độ sanh.

Ðiều này hiển nhiên có ý nghĩa như vậy: ngay trong từng câu niệm Phật, thì sức mạnh tâm linh của A Di Ðà đang khai Sinh trong chúng con một con người của Phật tánh và Bổn nguyện của A Di Ðà đang làm trọn vẹn cuộc đời chúng con bằng những Ân huệ nhiệm mầu, thù thắng, viên mãn không thể nghĩ bàn.

Cho nên, hành giả chân chính của Pháp môn Niệm Phật thì phải luôn luôn cung kính và chí thành xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật liên tục, không gián đoạn, không xao lãng. Giả thử có lúc tạm quên, đành xa rời danh hiệu, thì phải lập tức hồi tưởng đến Bổn nguyện A Di Ðà và gấp rút niệm Phật trở lại, quyết không để cho tâm thức chìm đắm trong vọng tưởng.

Trong các môn niệm Phật là:

Thật Tướng Niệm Phật,

Quán Tưởng Niệm Phật,

Quán Tượng Niệm Phật,

Và Trì danh Niệm Phật,

Thì chỉ có môn TRÌ DANH NIỆM PHẬT là đặc sắc, thù thắng hơn cả, vì công hiệu mau lẹ, dễ dàng, bao gồm mọi căn cơ, mọi lứa tuổi, ai cũng có thể thực hành bất kỳ lúc nào và bất luận ở nơi đâu.

Chấp Trì danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật sao cho tinh chuyên và chân thành thì sẽ có cơ cảm; ngay trong hiện đời được thấy chánh báo và y báo của cõi Cực lạc, tỏ ngộ bản tâm, đời này dù chưa chứng Thật Tướng nhưng sau khi vãng sanh cũng quyết định được chứng đắc. Vì thế, mà Ấn Quang Tổ sư đã khen rằng: Chỉ duy Trì danh mà chứng Thật Tướng không cần quán tưởng cũng thấy Tây phương.

Thật vậy, Pháp môn Niệm Phật là con đường tắt để chứng đạo, mà phương thức Trì danh lại là con đường tắt trong Pháp môn Niệm Phật.

Ngẫu Ích Đại sư, vị tổ thứ chín của tông phái Niệm Phật, đã khai thị rằng:

Muốn đi tới chỗ cảnh giới “nhất tâm bất loạn”, thì không có cách chi kỳ diệu khác. Trước tiên, hành giả cần phải LẦN CHUỖI VÀ GHI SỐ, niệm niệm rành rẽ rõ ràng, mỗi ngày ấn định cho mình hoặc hai muôn ba muôn cho đến mười muôn câu Phật hiệu, và giữ khoá trình quyết định chẳng thiếu, thề một đời không thay đổi. Niệm như thế lâu ngày lần lần thuần thục mà không niệm vẫn tự niệm, chừng đến khi ấy thì ghi số hay không ghi số cũng được.

Và niệm như thế kèm theo Tín, Nguyện tha thiết mà không được vãng sanh, thì chư Phật ba đời đều mang lỗi nói dối. Khi đã sanh về Cực lạc thì tất cả Pháp môn đều hiện tiền.

“Nếu ban sơ vì cầu cao và ỷ lại sức mình, và lại muốn tỏ ra không trước tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại. Ðó là Tín, Nguyện chẳng sâu bền, hành trì không cố gắng cho hết sức; dù có giảng suốt mười hai phần giáo, dù có giải ngộ một ngàn bảy trăm công án thì đó cũng là cái việc ở bên bờ Sanh tử này mà thôi.”

Ðệ tử chúng con thọ nhận ơn lành cao cả của sáu phương chư Phật đồng hộ niệm, đồng gia bị, cho nên chúng con được làm thân người, được gặp Thiện tri thức, được nghe giáo pháp thậm thâm vi diệu của Ðại thừa. Nhờ sự giáo huấn của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni bằng tâm Đại từ bi, đại trí tuệ, Ngài đã mở bày Pháp môn Niệm Phật và dạy chúng con đặt trọn niềm tin vào Bổn nguyện Cứu Ðộ của đức A Di Ðà Phật ở cõi Cực lạc phương Tây. Nhờ sự tiếp dẫn vô điều kiện bằng oai lực tuyệt đối bất khả tư nghi của đức Từ Phụ, chúng con dốc hết lòng thành mà Niệm Phật phát nguyện cầu sanh Cực lạc.

Bởi vì chúng con nhận thức rằng: Niệm Phật phải hành trì cho thiết thực, cho nên kể từ ngày nay cho đến cái ngày ngồi trên đài sen của ao thất bảo, đệ tử chúng con nguyện sẽ luôn luôn niệm Phật chuyên cần và chắc thật, để sớm được vãng sanh, để khỏi phụ ơn dạy dỗ của đức Bổn sư, để khỏi phụ ơn Cứu độ của đức Từ Phụ A Di Ðà, để mau thành Phật, để chóng hoàn thành sự nghiệp độ sanh đúng như bản hoài của chư Phật và sở nguyện của mình.

Ngưỡng nguyện mười phương Tam bảo ngưỡng nguyện đức Từ Phụ A Di Ðà Phật cùng chư vị Pháp thân Bồ tát. Xin đem năng lực Bổn nguyện, năng lực đại Thần thông, năng lực đại Trí tuệ, mà thương xót chúng con, giúp cho chúng con cùng hết thảy chúng sanh luôn luôn niệm Phật bằng lòng tin sâu chắc, bằng chí nguyện vững bền để cùng về Cực lạc, cùng chứng Pháp thân, cùng viên thành quả vị Phật Ðà Vô thượng.

Chúng con lại phụng vì cha mẹ, anh em, bà con, bạn hiền, bạn ác, phụng vì bốn vị Thiên Vương hộ vệ thế gian, phụng vì liệt vị Hộ Pháp, Thiện Thần, phụng vì hết thảy chúng sanh khắp trong sáu nẻo, mà quy y và đảnh lễ chư Phật, chư Tôn Pháp, chư Bồ tát Thánh Hiền Tăng khắp cả mười phương cùng tận hư không giới.

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Niệm Phật

Nam mô A Di Ðà Phật

Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát

Nam mô Ðại Thế Chí Bồ tát

Nam mô Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ tát.


 

Thêm bình luận

Xin các bạn vui lòng viết tiếng Việt có dấu.
Kể từ ngày 5/5/2011 trang nhà sẽ không đăng những bình luận không dấu.
Trang nhà có cài bộ gõ tiếng Việt, tự nhận ra các kiểu gõ.
Xin cảm ơn


Mã an toàn
Refresh (Nhấn vào đây để lấy mã an toàn khác)