ĐTKVN Web

 
 
11 | 02 | 2012
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
lá thơ tịnh độ PDF. In Email
Tông Phái Phật Giáo - Tịnh Độ Tông
Viết bởi Thích Thiền Tâm   
Chỉ mục bài viết
lá thơ tịnh độ
lá thơ tịnh độ 1-7
lá thơ tịnh độ 8-15
lá thơ tịnh độ 16-23
lá thơ tịnh độ 24-31
lá thơ tịnh độ 32-39
lá thơ tịnh độ 40-hết
Tất cả các trang

đạo Phật Việt nam, từ điển bách khoa Phật giáo, pháp môn tịnh độĐức Phật ra đời với nhân duyên mở bày chân tánh, khiến cho chúng sanh thoát vòng mê khổ, ngộ vào bản thể sáng suốt, an vui. Bao nhiêu pháp môn, tất cả nghĩa lý mầu nhiệm trong một đời giáo hóa của đức Bổn Sư, đều không ngoài mục đích ấy. Nhưng, tìm một lối thẳng tắt để mau thoát khỏi đường sanh tử, một pháp hợp lý, hợp cơ cho chúng sanh giữa thời buổi này, chỉ có môn Tịnh độ. Tại sao thế? Vì trong đời Mạt pháp, người tu hành bị nhiều chướng duyên làm thối chuyển. Nhìn về người: Phần sắc thân hay đau yếu, mạng sống ngắn ngủi; phần tâm tánh thì nghiệp hoặc sâu nặng, trí huệ tối mờ. Xét về cảnh: Phần đời thường xảy ra nạn nước tai trời; phần đạo lại ít bậc Thiện tri thức dắt dẫn, nhiều kẻ dối tu, dẫy đầy những mối dị đoan, tà ngoại! Cho nên trong Kinh Đại Tập, đức Như Lai huyền ký rằng: Đời Mạt pháp ức ức người tu hành, song khó được một kẻ ngộ đạo, chỉ nương nơi pháp môn niệm Phật mà thoát khỏi luân hồi...

 

Lá Thơ Tịnh Ðộ

Ấn Quang Ðại Sư Khai Thị

Việt dịch: Hòa thượng Thiền Tâm

Nhà Xuất Bản Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh PL: 2538 – 1995

Mục Lục

Tựa

1/ Thơ đáp Cư Sĩ Đặng Bá Thành

2/ Thơ đáp Cư Sĩ Đặng Tân An

3/ Thơ đáp Cư Sĩ Cao Thiệu Lân

4/ Thơ đáp Cư Sĩ Trần Tích Châu

5/ Thơ đáp Cư Sĩ Lâm Giới Sanh

6/ Thơ đáp Anh em Một vị Cư Sĩ ở Vĩnh Gia

7/ Thơ đáp Cư Sĩ Bộc Đại Phàm

8/ Thơ đáp Cư Sĩ Vệ Cẩm Châu

9/ Thơ đáp Cư Sĩ ở Vĩnh Gia

10/ Thơ đáp Nữ sĩ Từ Phước Hiền

11/ Thơ đáp Đế Nhàn Pháp sư

12/ Thơ đáp Một Cư Sĩ ở Vĩnh Gia

13/ Thơ đáp Thơ đáp một Cư Sĩ

14/ Thơ đáp Cư Sĩ Trần Huệ Siêu

15/ Thơ đáp Ly Ẩn Tẩu

16/ Thơ đáp Cư Sĩ Phạm Cổ Nông

17/ Thơ đáp Cư Sĩ Ngô Hi Chân

18/ Thơ đáp Cư Sĩ Lưu Trí Không

19/ Thơ đáp Cư Sĩ Châu Trí Mậu

20/ Thơ đáp Cư Sĩ Uông Võ Mộc

21/ Thơ đáp Một Cư Sĩ ở Ninh Ba

22/ Thơ đáp Cư Sĩ Nhạc Tiên Kiều

23/ Thơ đáp Cư Sĩ Trương Vân Lôi

24/ Thơ đáp Cư Sĩ Tạ Dung Thoát

25/ Thơ đáp Cư Sĩ Tạ Thành Minh

26/ Thơ đáp Cư Sĩ Mã Khế Tây

27/ Thơ đáp Cư Sĩ ở Dõng Giang

28/ Thơ đáp Hai Cư Sĩ Ngạn Như, Dật Như

29/ Thơ đáp Cư Sĩ Bao Sư Hiền

30/ Thơ đáp Pháp Hải Đại sư

31/ Thơ đáp Cư Sĩ Hoàng Hàm Chi

32/ Thơ đáp Cư Sĩ Hà Huệ Chiếu

33/ Thơ đáp Cư Sĩ Úc Trí Lãng

34/ Thơ đáp Một vị Cư Sĩ

35/ Thơ đáp Cư Sĩ Châu Mạnh Do

36/ Thơ đáp Cư Sĩ Cừu Bội Khanh

37/ Thơ khuyên dạy Một vị Tỳ kheo Ni

38/ Thơ đáp Cư Sĩ Phạm Cổ Nông

39/ Thơ đáp Mới phát tâm học Phật

40/ Thơ đáp Cư Sĩ Châu Tụng Nghiêu

41/ Thơ đáp Cư Sĩ Dương Đức Quan

42/ Thơ đáp Cư Sĩ Phật Điển

43/ Thơ đáp Cư Sĩ Hoàng Tụng Bình

44/ Thơ đáp Cư Sĩ Trạch Phạm

45/ Thơ đáp Đáp 20 câu hỏi của Cư Sĩ Khúc Thiên Dương

46/ Thơ đáp Một bức Thơ phúc đáp khắp nơi

Vườn Thơ Tịnh Độ

Lời Bạt

Mấy Lời Bày Tỏ

Tựa

Đức Phật ra đời với nhân duyên mở bày chân tánh, khiến cho chúng sanh thoát vòng mê khổ, ngộ vào bản thể sáng suốt, an vui. Bao nhiêu pháp môn, tất cả nghĩa lý mầu nhiệm trong một đời giáo hóa của đức Bổn Sư, đều không ngoài mục đích ấy. Nhưng, tìm một lối thẳng tắt để mau thoát khỏi đường sanh tử, một pháp hợp lý, hợp cơ cho chúng sanh giữa thời buổi này, chỉ có môn Tịnh độ. Tại sao thế? Vì trong đời Mạt pháp, người tu hành bị nhiều chướng duyên làm thối chuyển. Nhìn về người: Phần sắc thân hay đau yếu, mạng sống ngắn ngủi; phần tâm tánh thì nghiệp hoặc sâu nặng, trí huệ tối mờ. Xét về cảnh: Phần đời thường xảy ra nạn nước tai trời; phần đạo lại ít bậc Thiện tri thức dắt dẫn, nhiều kẻ dối tu, dẫy đầy những mối dị đoan, tà ngoại! Cho nên trong Kinh Đại Tập, đức Như Lai huyền ký rằng: Đời Mạt pháp ức ức người tu hành, song khó được một kẻ ngộ đạo, chỉ nương nơi pháp môn niệm Phật mà thoát khỏi luân hồi...

Thời gian gần đây, ở Trung Hoa có Ấn Quang Pháp sư là bậc danh đức trong tăng giới. Ngài suốt thông cả tông lẫn giáo, chuyên dùng pháp môn Niệm Phật làm phương tiện lợi mình lợi người. Trước tiên, Pháp sư xuất gia ở đỉnh Chung Nam, sau một thời gian đi tham học các nơi, lại về ẩn tích tại non Phổ Đà, nơi lầu tàng kinh chùa Pháp Võ. Tuy mấy mươi năm khổ hạnh, ít cùng người ngoài giao thiệp, nhưng dấu cao nhân một phen bị khách trần khám phá, ngọn gió thanh bay thoảng khắp xa gần. Biết được hạnh đức của Pháp sư, tăng tục bốn phương đều ngưỡng mộ; có kẻ vượt suối trèo non mà cầu lời chỉ thị; có người mượn tin hồng nhạn mà hỏi lối nam châm. Những thủ bút của Ngài được hàng cư sĩ sưu tập lại thành bốn quyển và cho in ra với nhan đề Ấn Quang Pháp sư Văn Sao. Bình sanh, Pháp sư ấn tặng sách Phật được năm triệu bộ, tượng Phật hơn một triệu xấp. Đệ tử của Pháp sư đến hơn hai mươi muôn người, nhiều vị nhờ ơn chỉ dạy của Ngài, được sanh về Cực lạc, khi lâm chung đều có chứng nghiệm. Năm Dân Quốc thứ 29, Pháp sư biết trước ngày về Tây phương, ngồi thoát hóa ở Linh Nham Tịnh Tông Đạo Tràng, hưởng tuổi đời tám mươi và sáu mươi tăng lạp. Lúc làm lễ trà tỳ, ba mươi hai cái răng còn nguyên, Xá Lợi ngũ sắc hiện ra rất nhiều. Sau khi Pháp sư vãng sanh, giới Phật tử xuất gia, tại gia cảm nhớ đức hóa lớn lao của Ngài, hợp nhau làm lễ truy niệm và đồng ý suy tôn Ngài làm vị Tổ thứ mười ba trong tông Tịnh độ.

Bộ Văn Sao của Pháp sư, khi mới xuất gia, tôi đã được hân hạnh xem qua. Trong thời kỳ nhập thất gần đây, một thuận duyên đưa đến, tôi lại có cơ hội khảo duyệt lần nữa, để giúp sự thắng tấn trên đường tu niệm. Nhận thấy trong ấy có nhiều điểm hữu ích cho người niệm Phật, tôi lựa rút những đoạn cần thiết, phiên dịch ra quốc văn, lấy nhan đề Lá Thơ Tịnh Độ. Đáng lẽ trong quyển này tôi phải phụ thích để nhấn rõ một vài điểm thiết yếu, và giải đôi chỗ khó hiểu với người sơ cơ, nhưng vì sức khỏe kém nên ý nguyện không thành. Tôi lại thẹn mình nghiệp hoặc sâu dầy, đường tu không thấy tiến bộ, bắt buộc phải để tinh thần nhiều hơn trong sự nhiếp niệm, nên khi phiên dịch lời lẽ thô sơ, đã chẳng diễn tả được ý nghĩa thâm thúy của Pháp sư, lại làm lờn mắt xanh của làng học Phật! Tuy nội dung còn nhiều khuyết điểm, nhưng nhân duyên đã thế, âu cũng xin tùy phần tùy sức mà dâng chút ngu thành! Sự phiên dịch đây, với tôi, chỉ có mục đích góp phần khuyến tấn lẫn nhau cùng các bạn sen trên đường Cực lạc.

Nếu công việc này có thể giúp quí vị phần nào nơi sự kiến giải cũng như tu niệm, xin đem kết quả ấy hồi hướng trang nghiêm Tịnh độ cho bốn ơn ba cõi và pháp giới hữu tình.

Ngày Phật thành đạo, năm 2500.

Liên Du Thích Thiền Tâm



 

Thêm bình luận

Xin các bạn vui lòng viết tiếng Việt có dấu.
Kể từ ngày 5/5/2011 trang nhà sẽ không đăng những bình luận không dấu.
Trang nhà có cài bộ gõ tiếng Việt, tự nhận ra các kiểu gõ.
Xin cảm ơn


Mã an toàn
Refresh (Nhấn vào đây để lấy mã an toàn khác)