| Nghe kinh, một văn liệu Phật học sinh động |
|
|
|
| Văn Học và Nghệ Thuật - Văn Thơ Phật Giáo | |||
| Viết bởi Ðào Nguyên | |||
|
Kho tàng kinh điển của Phật giáo vô cùng phong phú, nên chỉ xét riêng về số lượng thuật ngữ Phật học cũng đã hết sức dồi dào. Từ lãnh vực thuật ngữ mang tính chất tư tưởng, triết lý, nhiều thuật ngữ Phật học đã đi vào văn chương, góp phần làm phong phú cho kho tàng văn liệu dân tộc. Chẳng hạn, từ thuật ngữ từ bi, trong văn học cổ điển, chúng ta có nào cửa từ bi, bến từ bi, gió từ, trăng từ, thuyền từ, doành từ và cả lửa từ bi trong thi ca hiện đại. Bài viết này, chúng tôi xin bàn về một văn liệu Phật học rất nôm na mà cũng rất sinh động, đó là "nghe kinh". Ðúng ra thì nghe kinh không phải là một thuật ngữ Phật học. Nó chỉ là sự mô tả về quá trình tiếp cận kinh pháp của người Phật tử, hay những ai có cảm tình với đạo Phật, suy rộng ra là đối với mọi loài chúng sinh, đều nên được nghe kinh Phật, để từ đó thức tỉnh tu tập, lìa bỏ sông mê, tìm về bến giác. Chính từ ý nghĩa rộng này, kết hợp với tính chất gợi hình trong thi ca, mà từ ngữ nghe kinh đã được dùng theo ngả nhân cách hóa và trở thành một văn liệu Phật học sinh động: ở đây, trong khung cảnh trang nghiêm, thanh tịnh, không chỉ có con người mà cả các loài vật khác cũng cùng được nghe kinh. -- Thiền sư Huyền Quang (1254-1334) đời Trần, vị Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, có lẽ là nhà thơ đầu tiên đã sử dụng văn liệu ấy đối với loài vật:
-- Ðến Ðào Duy Từ (1572-1634) thì đối tượng nghe kinh vẫn còn là những chú vượn, nhưng thay vào đàn chim đông đảo kia là những chú chim đẹp như oanh, yến, hạc:
-- Tới Chu Mạnh Trinh (1862-1905), nhà thơ của danh lam thắng cảnh chùa Hương thì những đối tượng được nghe kinh kia đã được thu gọn lại là chim và cá, ở đây không chỉ là lời kinh mà còn có tiếng chuông điểm xuyết, vang vọng, thúc dục:
Ðó là những vần thơ theo ca trù (của Hương Sơn Phong Cảnh ). Còn đây là những câu thơ lục bát (của Hương Sơn Nhật Trình Ca ):
-- Sẽ rơi vào con đường mòn sáo nếu nhà thơ, văn chỉ bằng lòng với sự lặp lại những hình ảnh đã có, đã được những người đi trước nêu dẫn. Vì vậy, đối với thi hào Nguyễn Du (1765-1820) văn liệu này cần được phát hiện, soi sáng; nói cách khác, đối tượng được nghe kinh vẫn là các loài chúng sinh đau khổ, nhưng lần này là những chúng sinh rất đặc biệt:
Lời thơ như những lời kinh cầu, tha thiết đến nghẹn ngào. Tiếp theo đấy, Nguyễn Du đã nhấn mạnh về tính chất nhiệm mầu của kinh pháp Phật trong cái diệu dụng làm thức tỉnh muôn loài:
-- Âm vang của những vần thơ trên chúng ta còn thấy nơi nữ sĩ Anh Thơ, tất nhiên khung cảnh vẫn là ngày Vu Lan Rằm tháng Bảy - xá tội vong nhân:
-- Cũng có thể dẫn thêm một tiếng thơ hiện đại, trong cái nỗ lực tìm tới cửa thiền khi đôi chân đã chồn bước trên bao dặm đường đời:
Hòa cùng với sự chân thành là những soi rọi, khám phá về mình, về đời:
Nghe kinh, qua những nêu dẫn trên, quả đã gắn bó với suốt cả chiều dọc của thi ca Việt Nam, từ ca dao: "Rủ nhau xuống biển xem đua; Lên non ngắm nhạn, vô chùa nghe kinh", đến thi ca cổ điển, hiện đại, xứng đáng là một văn liệu Phật học xuất sắc. Ðó là sự thể hiện những nỗ lực của con người, cũng như các loài chúng sinh, nhằm vươn lên từ thế giới khổ đau, lầm lạc để tìm về một thế giới thanh tịnh, an lành, là điểm tiếp giáp giữa thế giới hiện thực và cảnh giới siêu nhiên mầu nhiệm. Ðào Nguyên
|



