Phật Học Tinh Yếu Thiên 1

Ba tạng Kinh điển của Phật giáo hiện nay gồm có đến hơn vạn quyển. Trong ấy, những kim ngôn của Đấng Điều Ngự và huyền nghĩa của chư Tổ, hàm ẩn đạo lý thâm thúy vô biên. Muốn du ngoạn trong bể Phật pháp bao la, hay lên đỉnh non Thánh giáo để nhìn khắp nơi bằng tầm mắt càn khôn nhất lãm, phải phí nhiều thời gian và tâm lực, mà giữa cuộc sống nhiều vướng bận ngày nay, ít ai làm nổi. Vì lẽ ấy, đã từ lâu bút giả có ý muốn gom góp phần tinh yếu của Thánh giáo viết ra thành tập, để giúp những vị mến đạo mầu của đức Thế Tôn, có sự hiểu biết khái quát về pháp Phật.

Phật Học Tinh Yếu (Thiên Thứ Nhất)

Phật Học Tinh Yếu Thiên II

Phật Học Tinh Yếu Thiên III

Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. PL. 2543 – DL. 1999

Mục Lục Thiên Thứ Nhất

Đôi Lời Phi Lộ.

Chương I: Xã Hội Ấn Độ Trước Khi Phật Ra Đời.

Chương II: Nền Học Thuyết Ấn Độ Trước Phật Giáo.

Chương III: Dòng Dõi Đức Phật.

Chương IV: Đức Thích Tôn Trước Khi Thành Đạo.

Chương V: Đức Thích Tôn Sau Khi Thành Đạo.

Chương VI: Bốn Kỳ Kiết Tập.

Chương VII: Kinh điển Đạo Phật.

Chương VIII: Sự Phân Phái Của Đạo Phật.

Chương IX: Giáo Nghĩa Các Bộ Phái.

Chương X: Tiểu Thừa Và Đại Thừa.

Chương XI: Sự Phát Triển Của Tiểu Thừa.

Chương XII: Sự Phát Triển Của Đại Thừa.

Đôi Lời Phi Lộ.

Ba tạng Kinh điển của Phật giáo hiện nay gồm có đến hơn vạn quyển. Trong ấy, những kim ngôn của Đấng Điều Ngự và huyền nghĩa của chư Tổ, hàm ẩn đạo lý thâm thúy vô biên. Muốn du ngoạn trong bể Phật pháp bao la, hay lên đỉnh non Thánh giáo để nhìn khắp nơi bằng tầm mắt càn khôn nhất lãm, phải phí nhiều thời gian và tâm lực, mà giữa cuộc sống nhiều vướng bận ngày nay, ít ai làm nổi. Vì lẽ ấy, đã từ lâu bút giả có ý muốn gom góp phần tinh yếu của Thánh giáo viết ra thành tập, để giúp những vị mến đạo mầu của đức Thế Tôn, có sự hiểu biết khái quát về pháp Phật. Và ý định này đã được thực hiện từ năm 1963, nhân lúc sắp sửa ra đảm nhiệm trường Phật học Huệ Nghiêm.

Nội dung của toàn tập Phật Học Tinh Yếu sau đây gồm có nhiều thiên, mỗi thiên phân thành nhiều chương, và mỗi chương bao hàm nhiều mục. Đó là hệ thống phân biệt để duyệt giả dễ ghi nhận. Điều đáng chú ý là phần trích dẫn những Kinh Luận trong đây, nghĩa lý nó không có tánh cách nhất định. Tại sao thế? Bởi giáo pháp của Thánh nhân nói ra đều tùy thời tùy cơ để dắt dìu, phá chấp. Có thể một lời thuyết giáo đối với căn cơ này thích hợp nhưng với căn cơ khác không thích hợp, với thời gian trước tiện nghi song với thời nay không tiện nghi. Cho nên một vị tôn túc đã bảo: “Y theo kinh giải nghĩa là oan cho chư Phật ba đời, nhưng lìa kinh một chữ tức đồng với ma thuyết”. Vậy chỗ thu thập của người khéo học Phật là không chấp kinh, không bỏ kinh, như người đời đã bảo: “Khôn chết, dại cũng chết, duy biết mới sống”. Và người khéo học Phật cũng đừng chấp lý bỏ sự, hay chỉ theo sự quên phần lý. Về việc được ý quên lời này, duy mỗi người tự thể hội, không thể nói hết được.

“Trần chẳng tương quan, bể cả nương dâu mặc thay đổi. Lòng không sở đắc, thông xanh mây trắng tự vui nhàn”. Xin mượn hai câu này để chúc sự thành tựu của duyệt giả sau khi đọc xong toàn tập Phật Học Tinh Yếu.

Ngày 12-8-1965

Tỳ kheo Thiền Tâm, Tự Liên Du

Chương I: Xã Hội Ấn Độ Trước Khi Phật Ra Đời.

+ Tiết Mục:

I. Nguồn gốc dân tộc Ấn Độ

II. Bốn thứ Phệ Đà

III. Sự diễn biến của Phệ Đà

IV. Bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ.

+ Kinh sách tham khảo:

Nhơn Vương Kinh Sớ,

Ấn Độ Phật giáo,

Phật học Đại cương,

Ấn Độ Phật Giáo Sử lược.

+ Đề yếu:

- Tiết thứ nhứt, lược thuật cuộc di cư của chủng tộc Nhã Lỵ An, sau thành dân Ấn Độ, trải qua năm giai đoạn: Từ Trung Á dời qua Đông Nam Á, từ Đông Nam Á vào Ca Nhĩ Bố, từ Ca Nhĩ Bố đến Ấn Độ Hà, từ Ấn Độ Hà xuống lưu vực sông Hằng, và từ Hằng hà về Nam Ấn.

- Tiết thứ hai, nói về lý tưởng Tôn giáo của dân tộc Ấn thời xưa, được thể hiện bằng bốn pho kinh: Lê Câu, Dạ Du, Sa Ma, và A Thát Bà Phệ Đà.

- Tiết thứ ba, kể lại tình trạng biến đổi về tư tưởng Tôn giáo của dân tộc Ấn: từ Đa thần qua Nhất thần, từ Nhất thần lần sang khu vực Triết học theo ba thời đại: Phệ đà thiên thơ, Phạm thơ và Áo nghĩa thơ. Ấn độ giáo hiện thời cũng thừa kế tư tưởng của hệ thống này.

- Tiết thứ tư, nói về sự sai biệt của bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế lỵ, Phệ xá, Thủ đà la. Sự sai biệt này có liên quan đến lý tưởng Tôn giáo, và dẫn khởi hai tư trào: hệ thống Phệ Đà và hệ thống phản Phệ Đà.

Hai hệ thống này đã sản xuất nhiều giáo phái ở Ấn Độ.

Tiết I. Nguồn Gốc Dân Tộc Ấn Độ.

Một Tôn giáo không luận là cao siêu hay thâm thúy đến đâu, cũng vẫn là sản phẩm của xã hội. Là sản phẫm của xã hội, tất nhiên Tôn giáo ảnh hưởng đến xã hội và đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của xã hội. Đó là điều không thể tránh khỏi.

Phật giáo có một lịch sử trên hai ngàn năm, đông Tây truyền bá đến vài mươi nước. Ngoài năm xứ của Ấn Độ, Phật giáo đã gieo rắc rất nhiều ảnh hưởng ở các nơi. Trong sự gieo rắc ấy, qua mỗi thời đại, Phật giáo lại tùy theo tình trạng xã hội của mỗi địa phương mà có ít nhiều biến thái về bản sắc. Vì thế, muốn nói đến điểm xuất phát của đạo Phật, không thể đi sâu vào bối cảnh lịch sử của Ấn Độ đương thời.

Trước đây khoảng trên bốn ngàn năm, dân tộc xưa nhất của Ấn Độ là giống người Nhã Lỵ An (Aryan). Chủng tộc này lấy nghề du mục để sinh sống. Trước tiên họ cư trụ ở miền trung nguyên Á Tế Á, rồi vượt qua dãy núi Tín Độ Khó tư (Hindukush), dời xuống vùng Đông Nam Á Tế Á. Từ nơi đây, họ chia làm hai bộ, một bộ di chuyển về phía Tây nam vào xứ Ba Tư (Iran); một bộ tiến thẳng về phía Đông nam vào xứ Ca Nhĩ Bố (Kabul) và lần xâm nhập miền Tây Bắc Ấn Độ, đánh đuổi người bản xứ, chiếm lãnh vùng Bằng Xà Bạch (Panjab Ngũ hà địa phương) thuộc thượng lưu Ấn Độ hà (Indus). Sau đó, họ lại đi dọc theo dãy núi Tuyết (Hymalaya), vào ở tại lưu vực sông Hằng (Ganga, Gange). Cuộc di cư sau này, thuộc vào khoảng 1.000 năm trước kỷ nguyên. Trong mười vạn bài tụng của bộ Đại sử thi Ma Ha Bà La Đa (Mahàbhàrata), có nói rõ những chiến sự và tình trạng giữa thời gian đó. Còn cuộc di chuyển tiếp tục về Nam Ấn, ước vào khoảng 500 năm trước kỷ nguyên. Trong khoảng thời gian này, để ghi lại sự giao tranh giữa thổ nhơn và chủng tộc Nhã Lỵ An, người Ấn Độ đã mượn cảnh động tác của cá nhơn mà làm ra bộ La Ma Diễn Noa (Ramayana), gồm hai vạn bốn ngàn bài tụng.

Tiết II. Bốn Thứ Phệ Đà.

Giữa thời kỳ chiếm lãnh Ấn Độ hà, thuộc miền Tây Bắc Ấn, giống người Nhã Lỵ An được gọi là dân tộc Nhã Lỵ An Ấn Độ. Gặp nơi khí hậu ấm áp, thời tiết điều hòa, vật sản phong phú, dân tộc ấy hưởng một đời sống an nhàn, vui vẻ. Vì thế, đối với bầu trời man mác, với hiện tượng nhựt, nguyệt, tinh tú, non, sông, gió, mây, nước, lửa, họ đều có một ý niệm tín thành sùng bái. Đó là những lý do người ta đã sáng tác ra những bản Thánh ca và nghi thức cúng tế Thần linh, để cầu cho đất nước gia đình được tiêu tai, thêm phước. Nghi thức đã nhiều thì không thể ai cũng thông thạo cả, phải có người chủ chốt việc tế tự. Nhân đó mới sản xuất một hạng Tăng lữ, về sau thành giai cấp Bà la môn (Brahman).

Bà la môn, Trung Hoa dịch là Tịnh hạnh hoặc Phạm hạnh, chỉ cho phái tu hạnh trong sạch. Kinh điển của phái này gọi là Phệ Đà (Veda), Trung Hoa dịch là Minh luận hoặc Trí luận, có nghĩa: Kinh sách thuyết minh sự thật và phát sinh Trí tuệ. Kinh điển của đạo Bà la môn truyền lại có 4 thứ:

1. Lê Câu Phệ Đà (Rig Veda):

Trước tiên, dân tộc Ấn Độ chỉ sùng bái ca ngợi những hiện tượng của tự nhiên vật. Lần lần họ tin tưởng mỗi hiện tượng đó đều có thần linh làm chủ. Các thần linh tính cách đạo đức, có quyền thưởng phạt thế gian. Đồng thời lại do sự hàm dưỡng của tư tưởng triết học, họ dung hợp lại, chế tác ra bộ kinh đầu tiên là Lê Câu Phệ Đà. Lê Câu Phệ Đà, Trung Hoa dịch là Tán Tụng Minh Luận hoặc Thọ Minh. Nội dung của kinh này gồm những bài ca tán có tính cách thần thoại, nhưng cũng bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và nhân sinh quan. Trong ấy lại có biên tập về thuật dưỡng sinh, dạy những phương pháp làm cho con người dung sắc thường tươi trẻ, mạng sống được lâu dài. Tư tưởng của Lê Câu Phệ Đà là tư tưởng mở đầu cho nền văn minh và triết học Ấn Độ và cũng là cơ sở để khai triển cho những trào lưu tư tưởng hậu lai.

2. Dạ Du Phệ Đà (Yajur Veda):

Từ sự ca ngợi tự nhiên vật rồi tin tưởng thần linh, người ta lại bày ra những nghi thức thờ phụng cúng tế. Đây là nguyên nhân sản xuất kinh Dạ Du Phệ Đà. Dạ Du Phệ Đà, Trung Hoa dịch là Tế Tự Minh Luận, gọi tắt là Tự Minh. Nội dung của Kinh điển này, phần nhiều đều trích dẫn trong Lê Câu Phệ Đà, lấy cơ bản của sự tán tụng mà chế tác. Trong ấy, ngoài việc biên tập về nghi thức cúng tế, lại có ghi chép những bài chú văn để tế tự trong các mùa. Xét qua từ Lê Câu Phệ Đà, cho đến Dạ Du Phệ Đà, người ta nhận thấy Tôn giáo thời ấy tuy là đa thần mà kiêm sắc thái nhất thần, đôi khi lại xen tạp những tư tưởng về triết học.

3. Sa Ma Phệ Đà (Sàma Veda):

Để cho sự tán ca được tiện lợi, và bổ túc phần nghi lễ thêm hoàn bị, người ta lại sáng chế kinh Sa Ma Phệ Đà. Kinh điển này cũng trích dẫn một phần các tụng văn trong Lê Câu Phệ Đà mà làm ra. Sa Ma Phệ Đà, Trung Hoa dịch là Ca Vịnh Minh Luận, cũng gọi là Bình Minh. Trong đó, ngoài sự ghi chép về nghi lễ, âm nhạc, luật lệ xử đoán, lại có giảng dạy về môn bốc toán cho đến binh pháp đồ trận. Căn cứ theo ba pho kinh Phệ Đà trên đây, mỗi khi cúng thần, người ta đều dùng những vị tế tăng riêng biệt.

4. A Thát Bà Phệ Đà (Atharva Veda):

Về sau, có kẻ lại tập hợp những bài chú thuật cổ truyền, được người đời tin tưởng, viết ra kinh A Thát Bà Phệ Đà. A Thát Bà Phệ Đà, Trung Hoa dịch là Nhương Tai Minh Luận, cũng gọi là Thuật Minh. Trong ấy, người ta ghi chép những bài chú để cầu phước, tiêu tai. Ngoài ra, Kinh điển này cũng có dạy về y phương và nhiều dị thuật.

Bốn thứ kinh trên đây, được gọi chung là Tứ Phệ Đà Thánh điển. Đó là một hệ thống tư tưởng về thời xưa của Ấn Độ.

Tiết III. Sự Diễn Biến Của Phệ Đà.

Từ khi Tứ Phệ Đà Thánh điển được thành lập, chủng tộc Bà la môn chiếm địa vị tối cao trong xã hội, và thành ra một giai cấp tăng lữ. Họ không còn những hoạt động hướng ngoại như khi trước, mà có một cuộc sống trầm tư, hướng nội, bảo thủ những truyền thuyết tán tụng, những nghi thức cúng tế theo xưa. Các tăng lữ lại thẩm định những câu văn, ý nghĩa trong kinh Phệ Đà, rồi giải rộng thêm ra, gây thành một học phong phiền tỏa và thần bí. Đồng thời trên hình thức Tôn giáo, những hành nghi cũng tăng thêm phần bí mật. Khi giáo lý càng rộng, sự suy rộng càng sâu, nghi thức càng phền thì địa vị của giai cấp Bà la môn càng được bền vững. Do đó nền văn học, đạo đức trong xã hội, nằm yên trong nếp cũ, dường như ở trong trạng thái khó nổi chấn hưng.

Tuy nhiên, cảnh đời đã Vô thường, thì nguồn tư tưởng của nhân loại cũng theo thời gian mà biến đổi. Từ khi giai cấp tăng lữ mới thành lập, cho đến khoảng 600 năm trước kỷ nguyên, nếu phân tích kỹ, chúng ta có thể chia nền học thuyết của Bà la môn giáo thành ba thời đại:

1. Thời đại Phệ Đà thiên thơ (Veda):

Thời đại này khởi thủy từ khi bốn mươi quyển Lê Câu Phệ Đà vừa được sáng tác, lúc dân tộc Nhã Lỵ An di cư xuống Ấn Độ hà, vào khoảng 2500 1000 năm trước kỷ nguyên. Trong thời gian này, giáo đồ Bà la môn thiên về sự sùng bái cúng tế, hình thức phần chánh thuộc về Đa thần giáo. Họ có ba cú thoại (luận điệu): Phệ Đà là thiên thơ (sách của Trời) Bà la môn là chủng tộc cao quí nhất của nhân loại. Tế lễ là vạn năng.

Những tư tưởng trên, được truyền lại một thời gian lâu xa về sau. Cho đến khi Phật giáng sinh, một số đông giáo đồ Bà la môn vẫn còn bảo thủ lấy quan niệm cũ. Nhưng đó là một chủ nghĩa chuyên chế, họ không thể trói buộc mãi được lòng người, khi tình thế đổi mới. Hơn nữa, lúc bấy giờ giáo đồ Bà la môn rất kiêu sa, cho nên họ không thể duy trì một cách hữu hiệu sự tín ngưỡng của đạo mình trong xã hội nữa.

2. Thời đại Phạm Thơ (Brahmana Thần học thơ):

Thời đại này vào khoảng 1000 - 800 năm trước kỷ nguyên, lúc dân tộc Nhã Lỵ Ấn Độ di chuyển về phía Đông Nam, chiếm lãnh khu vực đồng bằng phì nhiêu trên bờ sông Hằng, lấy nghề canh nông làm mục tiêu. Hình thức của Phệ Đà khi xưa thiên về Đa thần giáo, việc tế lễ rất nặng nề, phiền phức. Đến thời gian này, dân chúng sinh ra chán những nghi thức nghiêm cách ấy. Vì thế, trong các vị thần, người ta chọn lấy ít vị quan trọng để làm trung tâm tín ngưỡng. Ba vị thần phổ thông nhất bấy giờ là Phạm Thiên (Brahma), Tỳ Nựu Noa thiên (Visnu) và Thấp Bà Thiên (Civa). Thế là đối tượng tín ngưỡng đã bắt đầu chuyển lần từ Đa thần giáo sang Nhất thần giáo.

Về mặt tư tưởng, từ khi Kinh điển Phệ Đà được suy diễn rộng thêm, giáo lý Bà la môn đượm vẻ thần bí; người ta gọi đó là học thuyết Bà la ma noa, tức Phạm thơ. Phạm thơ là bộ sách chú thích và thuyết minh kinh Phệ Đà. Phần chủ yếu của sách này, đều rút những tài liệu trong Tứ Phệ Đà Thánh điển, nhưng suy diễn sâu rộng đến chỗ u vi, hoàn toàn có tính cách thần học. Tư tưởng triết học của Phạm thơ tiến triển theo thứ tự trong ba giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhứt, Phạm (Brahma) là vị thần tối cao, trước tiên tạo ra trời đất, rồi đến Thái dương thần, Phong thần, Hỏa thần... con người và vạn hữu. Vì thế Phạm cũng có hiệu là Sanh chủ (Prajapati). Giai đoạn này thiên về quan niệm sáng tạo, lấy thần Sanh chủ làm trung tâm điểm.

- Giai đoạn thứ hai, Phạm là Đại ngã (Svayambhu), là bản thể của vũ trụ, có tính cách tuyệt đãi độc tồn. Giá trị của Phạm đứng trên hai phương diện: Một mặt thì duy trì cái bản chất không biến động của nó; mặt khác lại hoạt động theo hai yếu tố là Danh (Nama) và Sắc (Rupa) để mở mang vạn hữu. Giai đoạn này thiên về quan niệm bất biến, lấy Đại ngã làm trung tâm điểm.

- Giai đoạn thứ ba, Phạm là Tự ngã (Atman). Phạm và Tự ngã tên tuy khác nhau, nhưng cùng một thể. Sở dĩ có tên khác nhau như thế, vì Tự ngã do sự suy lý của triết học, chỉ định cho là nguồn gốc của muôn vật; còn Phạm thì do sự khảo sát của thần học, chỉ định cho là tự tánh của muôn vật. Tự ngã thuộc về phương diện tâm lý (linh hồn), Phạm thuộc về phương diện vũ trụ (linh tánh). Căn cứ vào phương diện tâm lý thì linh hồn bất diệt, khi con người chết thì Tự ngã lìa thế thể xác mà quy thuộc về Phạm. Giai đoạn này lấy Tự ngã làm trung tâm điễm.

3. Thời đại Áo Nghĩa Thơ (Upanishad):

Thời đại này thuộc vào khoảng 800 - 600 trước kỷ nguyên. Từ nơi Phạm thơ, người ta suy diễn rộng thêm, cho rằng khi hành nghi thức đã có hàm triết lý bên trong, và nghi thức tế tự là biểu hiện cho triết lý. Để kỷ thuật Đạo lý này, người ta sáng chế ra sách A lan nhã ca (Aranyaka). A lan nhã ca có nghĩa là Lâm trung thơ. Bởi người trong chủng tộc Bà la môn đến khi lớn tuổi thì ẩn cư nơi rừng vắng, lấy sự tế tự tu hành làm thường khoá. Những nghi thức ấy đều ghi chép trong sách này. Nhưng nội dung của Lâm trung thơ không phải chỉ giới hạn trong nghi thức tế tự, mà gồm có môn triết lý cao siêu.

Từ Lâm trung thơ, người ta nghiên cứu rộng thêm, rồi sáng tác ra bộ Ưu Ba Ni Sa Đàm, tức là Áo nghĩa thơ. Danh từ Áo nghĩa thơ bao hàm những ý: Môn triết học trong triết học, Bí mật ngữ, Bí mật văn và Bí mật nghĩa. Bộ phận chủ yếu của nguồn tư tưởng này, do chủng tộc Sát đế lỵ khai sáng, về sau dòng Bà la môn mới phụ họa suy diễn rộng thêm. Nội dung của Áo nghĩa thơ chủ trương thuyết "Phạm, Ngã đồng nhất", Phạm cùng Ngã đều là một bản thể của vũ trụ. Các hiện tượng của sai biệt giới đều là huyễn pháp (Maya) không ngoài bản thể ấy mà có. Lý tưởng Giải thoát của Áo nghĩa thơ chia làm hai phần:

Phần thứ nhất là việc đi tìm Giải thoát, nhưng Giải thoát phải tìm chínhnơi mình, không phải ở bên ngoài. con người sở dĩ bị luân hồi là do Vô minh (Avidya) che lấp, không biết sai biệt giới là giả huyễn. Từ Vô minh sanh Ái dục (Kàma), rồi tạo nghiệp, gây ra sự khổ trong đường sinh tử. Muốn được Giải thoát, phải có tinh thần tự giác hướng về Trí minh (Vidya) mà trừ cái gốc Vô minh. Hướng về Trí minh là an trụ tâm vào bản tính trong lặng để bồi dưỡng phần Trí tuệ. Khi tâm đã thuần tịnh, tự nhiên được giác ngộ, nảy sinh Trí tuệ, thấy sự sống chết như chiêm bao. Phạm và ngã thầm hợp, không còn luân hồi, chứng được Phạm Niết bàn (Brahma nirvana). Đây là phần lý thuyết.

Phần thứ hai là phải y theo pháp thức tu trì để phát minh trực giác trí. Pháp thức này lại có hai phương diện: một mặt là cần giữ giới, lìa tất cả dục cảnh để thành hạnh Xả ly (Samuyasa); mặt khác, phải trừ vọng tình, chuyên tâm nơi ngã tướng để thành hạnh Du già (Yoga tương ưng quán). Cứ như thế mà tu, lần lần chân ngã sẽ toàn hiện, tức là được Giải thoát, chấm dứt luân hồi. Đây là phần thực hành.

Tóm lại, ba thời đại trên đây đã cho chúng ta thấy sự diễn biến của giáo lý Phệ Đà, từ nơi thô sơ đến chỗ u vi thần bí. Riêng về Áo nghĩa thơ, các nhà nghiên cứu triết học Đông Tây đều tán dương, cho là một sản phẩm Trí tuệ cao siêu của nhân loại. Về sau, các học giả nương theo tư trào này mà lập ra nhiều giáo phái, như phái Số luận thì cho Ngã là Thần ngã, Huyễn là Tự tánh, danh từ tuy khác, nhưng lý tưởng vẫn đồng. Phật giáo cũng nương theo một phần trọng yếu của Áo nghĩa thơ, như thuyết luân hồi, nhưng canh tân thêm, thành ra sâu sắc và hoàn bị hơn. Ngoài ra cũng có nhiều học giả thoát ly tư tưởng Phệ Đà, chủ trương tự do khảo cứu, rồi lập thành phái triết học tự nhiên. Trong chương sau, chúng ta sã thấy những học thuyết ấy.

Tiết IV. Bốn Giai Cấp Của Xã Hội Ấn Độ.

Thuở xưa, dân tộc Ấn Độ rất cung kính thần linh, tôn trọng nghi thức cúng tế. Lúc đầu, họ đặt ra người Gia trưởng, hoặc Tộc trưởng, để giữ việc tế lễ, gọi là chức Ty tế. Dần dần, chức Ty tế này trở thành việc chuyên môn, nên được thay thế bằng các Tăng lữ. Mặc khác, vì theo đà tiến triển của xã hội, lại phát sinh ra bốn chức nghiệp: Sĩ, Nông, Công, Thương. Các nghề nghiệp này dần dần trở thành giai cấp hóa. Giai cấp Tăng lữ chủ về việc tế tự, chiếm địa vị tối cao. Giai cấp vua chúa nắm giữ chánh quyền, ở vào địa vị thứ hai. Nhơn dân phổ thông như hạng nông, công, thương, thuộc về địa vị thứ ba. Còn hạng người thổ dân của Ấn Độ, bị Nhã Lỵ An chinh phục, chuyên theo nghề nghiệp thấp kém như ở đợ, làm mướn, là giai cấp tiện dân, ở vào địa vị thứ tư.

Lối phân chia giai cấp đó, mỗi ngày thêm chặt chẽ. Ban sơ, sự phân biệt chỉ ở trong quan niệm của dân chúng mà thôi. Nhưng khi các Tăng lữ nắm được thật quyền trong xã hội họ liền tổ chức thành bốn giai cấp rõ rệt: Tăng lữ thuộc giai cấp Bà la môn (Brahman), Vua chúa thuộc giai cấp Sát đế lỵ (Ksatriya), Bình dân thuộc giai cấp Phệ Xà (Vaisya), Tiện dân thuộc giai cấp Thủ đà la (Sùdra). Hai hạng trước là giai cấp thống trị, hai hạng sau là giai cấp bị trị. Bốn giai cấp này theo chế độ thể tập, cha truyền con nối, nên giai cấp nô lệ cứ phải đời đời làm nô lệ, gây ra một tổ chức xã hội bất công.

Giai cấp Bà la môn lại nương vào chế độ của xã hội mà quy định thành bốn thời kỳ của chủng tộc mình. Bốn thời kỳ đó như sau:

1. Phạm trí kỳ (Brahmacàrin):

Thời kỳ du học của buổi thiếu niên và tráng niên. Người trong chủng tộc Bà la môn, vào khoảng từ 7 tới 15 tuổi, thì học tập ở nhà; từ 16 tới 39 tuổi, phải xuất gia theo Thầy học tập Phệ Đà Thánh điển. Đến khi học nghiệp thành tựu lại được trở về nhà.

2. Gia cư kỳ (Grhastha):

Thời kỳ sinh hoạt gia đình của buổi trung niên. Khi đã được 40 tuổi, người Bà la môn phải trở về nhà lập gia đình để cho dòng dõi không bị tuyệt. Thời gian này họ theo chức nghiệp, làm trọn nhiệm vụ tế tự của người gia trưởng.

3. Lâm cư kỳ (Vànaprastha):

Thời kỳ tu dưởng của buổi mộ niện. Lúc 50, 51 tuổi sắp lên, người Ba la môn đã làm xong nhiệm vụ gia đình, phải lìa nhà vào nơi núi sâu rừng vắng để tu luyện.

4. Du hành ký (Parivràjaka):

Thời kỳ du hành vừa tự tu vừa hóa đạo của buổi lão niên. Thời kỳ này không nhất định, tùy theo tu nghiệp được vững vàng, mà sự xuất thế có sớm hay muộn. Trong khoảng thời gian sau cùng, hàng Bà la môn muốn cho thân tâm được tự tại Giải thoát, nên nơi ăn chốn ở không nhất định, rày đây mai đó. Cho nên người tu ở thời kỳ này có tên là Khất sĩ (Bhiksu) hay Hành giả (Yati).

Bốn thời kỳ kể trên, là lý tưởng sinh hoạt của giai cấp Bà la môn. Theo đó, nếu người nào tu hành đạt tới chỗ cứu cánh, thì được mọi người cung kính tột bậc.

Chủng tộc Bà la môn đã chế định ra bốn giai cấp, tự cho mình ở địa vị tối cao. Còn ba giai cấp kia, nhất là hàng tiện dân, lại bị xã hội khinh miệt, không được luật pháp bảo hộ, không cho dự phần tín ngưỡng Tôn giáo và tán tụng Kinh điển Phệ Đà. Thời bấy giờ ở Ấn Độ người ta lại chế ra luật ma noa (Mànu), hỗn hợp cả chính trị lẫn Tôn giáo. Nhờ có pháp luật này, tổ chức của đạo Bà la môn mới được hoàn thành. Bởi giáo lý của đạo ấy, là nương vào tư tưởng của phái Phệ Đàn Đà, lấy việc duy trì giai cấp bốn chủng tộc làm mục đích duy nhất. Sống dưới một chế độ bất công như thế, lâu ngày dân chúng đâm ra chán nản, hằng ước ao có một cuộc đổi mới.

Sự phát sinh của các học thuyết như: chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa yếm thế sau đây, phần lớn cũng bởi nguyên nhân này.


Chương II: Nền Học Thuyết Ấn Độ Trước Phật Giáo.

+ Tiết Mục:

I. Điểm xuất phát của các Tôn giáo

II. Lục đại học phái

II. Lục sư ngoại đạo

IV. Tổng quát các nguồn tư tưởng Ấn Độ đương thời.

+ Kinh sách tham khảo:

- Kinh Phạm Động,

- Kinh Sa Môn Quả,

- Luận Quảng Bá,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử lược.

+ Đề yếu: Do hoàn cảnh, tâm niệm khác nhau, con người có những xu hướng tư tưởng sai biệt. Để hiển minh sự kiện đó.

Tiết thứ nhất trong đây nói về điểm xuất phát của các Tôn giáo gồm ba nguyên nhân: tin tưởng thần linh, tìm hiểu sự thật, cầu thoát khổ. Lục đại học phái ở tiết thứ hai tuy nội dung phức tạp, nhưng vì chịu ảnh hưởng hệ thống Phệ Đà, nên đại khái đều xây dựng trên tư tưởng triết học hàm ẩn quan niệm Nhất thần giáo. Tựu trung, hai phái Phệ Đàn Đà và Du già rất được thạnh truyền. Tám thế kỷ sau Tây lịch, Thương Yết La lấy giáo nghĩa đạo Phật bổ sung cho học thuyết Phệ Đàn Đà, làm cho phái này thêm phần khởi sắc. Bà la môn giáo hay Ấn Độ giáo hiện thời chính là di sản của phái này. Lục sư ngoại đạo ở tiết thứ ba, được phát xuất bởi hai điểm: tư tưởng tự do khởi cứu, và quan niệm yếm thế, hoài nghi, phẩn uất do chế độ giai cấp bất công. Trong đây có Kỳ na giáo là thịnh hành hơn cả. Trong khi các phái kia dần dần tiêu diệt, thì dư thế phái này dường như hiện thời vẫn còn. Kỳ na giáo có nhiều tên khác như: Thiền na, Lộ hình, Đồ khôi, Ni kiền, và vị giáo tổ cũng có lắm biệt danh, nên các nhà khảo cứu thường lầm lẫn, biệt lập phái này ra ngoài Lục sư ngoại đạo. Tiết thứ tư tổng kết 62 giáo phái thành tám hệ thống. Sáu mươi hai phái là nói về thời trước Phật giáo, còn từ khi Phật giáo ra đời đến sau, từ tám hệ thống đó nảy sinh thêm thành 96 phái ngoại đạo. Cho nên trong nhà Phật có câu: "Cửu thập lục gia tà Trí tuệ. Bá thiên vạn kiếp thọ luân hồi.” (Chín sáu tà sư mê chánh trí. Trăm ngàn muôn kiếp chịu luân hồi).

Tiết I. Điểm Xuất Phát Của Các Tôn Giáo.

Giữa cuộc đời sai biệt, con người tất cũng có những sở thích và tư tưởng khác nhau. Cuộc sống thế gian không làm cho nhân sanh hoàn toàn hạnh phúc. Để thỏa mãn những tâm niệm ấy, các giáo phái đã hiện ra đời. Điểm xuất phát này đại để có ba nguyên nhân:

1. Do khổ muốn cầu thoát ly:

Trên con đường gập ghềnh, giữa lúc trời trưa nắng gắt, khách lữ hành mỏi mệt ước ao có một cơn gió, một bóng cây mát để nghỉ ngơi. Trên đường đời cũng thế, sự vui dù có, cũng chỉ là tương đối. Vì vui tương đối nên mới có khổ, mà sự khổ lại thường chiếm phần tối đa. Và vì khổ, con người mới nảy sinh tư tưởng cầu thoát ly.

2. Do sự sùng tín trước hiện tượng của vũ trụ:

Trong thời đại tối sơ, con người chưa giải thích nổi những nghi vấn trước hiện tượng của vũ trụ. Cho nên họ quan niệm rằng: mọi ánh sáng giữa bầu trời đều là những phẩm cách thần Thánh. Cũng vì thế, họ mới sùng bái các hiện tượng sáng suốt như: mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, làn chớp, ngọn lửa. Họ tin tưởng đủ mọi phương diện. Tựu trung, mục đích sùng bái của họ không ngoài dục vọng sinh tồn cho bản thân. Rồi do đó mới có những hình thức thờ phượng để trừ tai, cầu phước và những hành nghi cúng tế, ca tụng thần Thánh. Vì thế mới có các lối tư tưởng sai biệt, mà người ta gọi là Đa thần giáo.

3. Do sự cầu giải thích nguyên lý nhơn sanh, vũ trụ:

Lại có một hạng người, trước đối tượng vũ trụ bao la, họ động tánh hiếu kỳ, muốn tìm hiểu các sự tu tập của bản thân, họ tự do khảo cứu và lập ra các phái triết học.

Tóm lại, điểm xuất phát của các giáo phái, đại để như: cầu thoát khổ được an vui, dựa trên tin tưởng sùng bái, và tìm hiểu mọi sự bí mật để đem con người trở về vũ trụ. Giáo nghĩa Phệ Đà mà chúng ta đã thấy ở chương đầu, và các học thuyết sau đây, là những điểm chứng minh cho các nguồn tư tưởng ấy.

Tiết II. Lục Đại Học Phái.

Như trên đã nói, giáo lý Phệ Đà diễn biến trong ba giai đoạn mà chúng ta gọi là ba thời đại: Phệ Đà thiên thơ, Phạm Thơ và Áo Nghĩa Thơ. Trong lúc ấy, lại có những phái chịu ảnh hưởng Phệ Đà, căn cứ vào đó mở mang thêm cho giáo lý của mình có hệ thống; cũng có nhiều học giả thoát ly ngoài tư tưởng Phệ Đà, chủ trương tự do khảo cứu, rồi lập thành phái triết học tự nhiên. Vì thế ở Ấn Độ thuở bấy giờ có nhiều phái nối nhau xuất hiện như Địa luận, Phục thủy luận, Hỏa luận, Phong tiên luận, Thời luận, Phương luận, Hư không luận...

Các phong trào tư tưởng đó, hoặc dung hòa, hoặc xung đột lẫn nhau, làm cho nền học thuyết của Ấn Độ lâm vào một tình trạng rất rối ren. Tuy nhiên, nếu kiểm điểm lại, ta có thể chia các tư trào lúc bấy giờ thành hai hệ thống: hệ thống Phệ Đà và hệ thống phản Phệ Đà. Hệ thống Phệ Đà tuy nhiều nhưng đáng kể chỉ có Lục đại học phái. Còn hệ thống phản Phệ Đà thì có Lục sư ngoại đạo. Trước tiên, chúng ta thử xét qua học thuyết của sáu môn phái lớn thuộc hệ thống Phệ Đà, tức là Lục đại học phái:

1. Phái Phệ Đàn Đà (Vedanta: Tự tại thiên):

Vị khai tổ của bản phái là Bà Đạt La Gia Na (Bàdarayana). Phái này lấy kinh Phệ Đàn Đà do Bà Đạt La Gia Na trứ tác làm căn cứ. Kinh Phệ Đàn Đà cũng dựa theo giáo nghĩa chánh thống của Phệ Đà, song được phát minh thêm. Phái này chủ trương rằng Phạm (Brahma) là nguồn gốc của muôn loài, là một thứ biểu hiện về tinh thần, không phải vật chất mà là năng lực. Phạm là duy nhứt, siêu việt, bao trùm cả muôn loại trong thế gian. Tự ý chí của Phạm khai triển thành hiện tượng giới, trước tiên là Hư không, rồi từ hư không phát sinh ra Gió, từ gió phát sinh ra Lửa, từ lửa phát sanh ra Nước, từ nước phát sinh ra Đất. Năm nguyên tố này một mặt được tổ chức thành khí thế gian, mặt khác thành hữu tình thế gian. Theo kinh Phệ Đàn Đà thì Phạm và Tự ngã là một thể. Trong giai đoạn chưa khai triển, Tự ngã là bào thai của Phạm; nhưng khi ở giai đoạn đã khai triển, thì Tự ngã có địa vị độc lập, chịu phần chi phối của Phạm. Đặc chất của Tự ngã là Trí tuệ. Bởi hành vi con người nương theo sự phán đoán của tự do ý chí, nên gây ra nhiều tác nghiệp. Do sự huân tập của tác nghiệp, nên chúng sinh bị lạc mất nguồn gốc Trí tuệ, chịu nhiều nỗi khổ trong nẻo luân hồi. Theo phái này thì loài hữu tình là một bộ phận của Phạm, có đầy đủ thể tánh thanh tịnh như Phạm. Muốn trở về với Phạm, cần phải rời khỏi mọi sự chấp trước sai biệt, y theo môn Giải thoát mà tu hành. Do công tu tập lâu ngày, Tự ngã lại được dung hợp với Phạm. Đến giai đoạn này mới gọi là hoàn toàn Giải thoát.

2. Phái Di Man Tát (Mìmàmsà Thanh thường trú):

Vị khai tổ của bản phái là Sà Y Nhĩ Ni (Jaimini). Phái này lấy kinh Thanh thường trú (Mìmàmsà sutra) làm căn cứ, những điều cấm chế vẫn y theo Thánh điển Phệ Đà. Đồ chúng của phái Di Man Tát rất chú trọng về phương diện luân lý triết học, và chủ trương thuyết Âm thanh thường trú. Về chủ thuyết này, giáo chúng chia ra làm hai phe; Một là do hạng Bà la môn chấp theo bốn bộ luận Phệ Đà. Họ cho rằng khi tụng kinh Phệ Đà phát ra phạm âm, lời và tiếng đều khế hợp với thật nghĩa, nên gọi là "thường.” Các thứ tiếng khác không hợp với thật nghĩa, nên gọi là Vô thường. Hai là sở chấp do hạng Bà la môn học theo Tỳ dà la luận (tức Học tập thanh luận); phe này lại có hai chi:

- Chi Thanh hiển luận cho rằng: tánh của tiếng là thường trú, đợi các duyên tầm, từ và danh, cú, văn thân mới phát. Danh, cú, văn thân là âm hưởng nên Vô thường; tiếng là "thường.”

- Chi Thanh sanh luận thì cho rằng: âm thanh bản lai không thật có, đợi các duyên mới phát. Nhưng khi âm thanh đã phát sanh, thì là thường trú bất diệt.

Tóm lại, phái Di Man Tát dựa trên tư tưởng tôn trọng giáo quyền giữ theo lề lối đọc tụng tế lễ xưa. Cho nên chủ thuyết Âm thanh thường trú của họ, không ngoài sự giải thích và bảo tồn nghi thức trong Tôn giáo. Về lý tưởng Giải thoát, họ cho rằng: muốn được hạnh phúc, cần phải có những hình thức hy sinh. Kết quả của sự hy sinh ấy, tùy theo nhân hạnh nhiều ít, sự an lạc sẽ đến nhiều ít với ta trong tương lai hay hiện tại.

3. Phái Ni Dạ Gia (Nyàya: Chánh lý luận):

Vị khai tổ của bản phái là Túc Mục tiên nhơn (Aksapàda). Tư tưởng của phái triết học này thuộc về đa nguyên luận, lấy kinh Chánh Lý (Nyàya sutra) làm căn cứ. Về quan niệm nhơn sanh, phái Ni Dạ Gia lấy phương châm lìa khổ đến chỗ Giải thoát làm mục đích. Phái này cho rằng con người giữa cõi trần có đầy dẫy nỗi khổ, mà nguyên nhân thọ sanh là tác nghiệp (Pravrtti). Tác nghiệp lấy phiền não (Dosa) làm cơ sở, và căn bản của phiền não là vô tri (Mithyajnàna). Vậy, muốn dứt khổ phải tiêu diệt vô tri, khi vô tri hoàn toàn đoạn trừ, hành giả liền chứng vào cảnh an vui Giải thoát (Nihsreyasa). Lý thuyết này tương tợ với Thập nhị nhân duyên của Phật giáo.

Về phương thức nghị luận để bảo vệ cho lập trường của mình, phái Ni Dạ Gia dựa theo Ngũ phần tác pháp (luận thức năm phần): Tôn (Pratijnà), Nhân (Hetu), Dụ (Udahadana), Hợp (Upanaya) và Kết (Nigamana). Phương thức này, nếu đem so sánh với môn luận lý phương Tây (tam đoạn luận Syllogisme của Aristote), thì Tôn tương đương với bộ phận Đoán án (Conclusion); Nhân là Tiểu tiền đề (Mineure); Dụ tương đương với bộ phận Đại tiền đề (Majeure). Nhưng phương thức luận lý của phái Ni Dạ Gia còn thêm hai chi là Hợp và Kết, tự biểu lộ một lập trường luận lý rất vững vàng. Về sau, phương thức luận lý này được hoàn bị hóa qua hai bậc thạc học trong Phật giáo là Thế Thân và Trần Na, và được chuyển làm môn luận lý học của đạo Phật.

4. Phái Phệ Thế Sư Ca (Vaisesika: Thắng luận):

Vị khai tổ của bản phái là Can Na Đà (Kanada, có nơi gọi là Ẩu Lộ Ca tiên Ulùka). Phái này lấy kinh Phệ Thế Sư Ca (Vaisesika sutra) gồm 370 câu làm căn cứ.

Về phương diện vũ trụ quan, phái Thắng luận phản đối thuyết Hữu thần, kế thừa tư tưởng của phái triết học tự nhiên, rồi đề xướng lên thuyết Duy vật đa nguyên. Họ dùng sáu cú nghĩa hay sáu yếu tố mà thuyết minh nguyên lý thành lập vũ trụ. Sáu yếu tố ấy là:

- Thật: Bản chất của vũ trụ; gồm có chín thứ: địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, ngã, ý.

- Đức: Tính chất có đủ trong bản thể; gồm có 24 thứ: sắc, hương, vị, xúc, số, lượng, biệt tánh, hợp tánh, ly tánh, bỉ tánh, thử tánh, giác, lạc, khổ, dục, sân, cần dũng, trọng tánh, dịch tánh, nhuận, hành, pháp, phi pháp, thanh.

- Nghiệp: Tác dụng của bản chất; gồm có năm thứ: thủ, xả, thân, khuất, hành (lấy, bỏ, dũi, co, làm).

- Đại hữu tánh: Có nghĩa duy nhất; sự tồn tại của thật, đức, nghiệp đồng nương về một thể đại hữu ấy.

- Đồng dị tánh: Vạn hữu mỗi thứ có một đặc tính, nên chúng mới thành sai biệt. Như đất với đất là đồng, đất với nước là dị.

- Hòa hợp tánh: Một đặc tính có thể làm cho thật, đức, nghiệp được hòa hợp nhau không tan rã.

Sáu yếu tố trên đây, ba thứ trước nói về thể, tướng, dụng của vũ trụ; ba thứ sau nói về sự quan hệ của chúng.

Về phương diện nhân sinh quan, phái này cho rằng con người được thành lập là do bởi tám yếu tố: yếu tố thứ nhất là Tự ngã (Atman), thật thể của nó vốn không sinh diệt. Yếu tố thứ hai là Ý (Manas), cơ quan liên lạc giữa Tự ngã và Ngũ căn. Năm yếu tố kế là Ngũ căn. Năm căn này hoàn toàn do vật chất tạo thành: Nhãn căn do hỏa đại, nhĩ căn do không đại, tỷ căn do địa đại, thiệt căn do thủy đại, thân căn do phong đại. Đối tượng của Ngũ căn là ngũ trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc. Tự ngã là trung tâm, còn Ý và Ngũ căn chỉ là cơ quan phụ thuộc để nhận thức và hành động. Yếu tố sau hết là Nghiệp lực (Adrsta), động cơ của sự sống chết luân hồi.

Lý tưởng Giải thoát của phái Thắng luận là con người cần phải tu khổ hạnh để diệt trừ nghiệp lực. Khi nghiệp lực đã tan, hành giả liền đạt đến cảnh giới thuần túy của Tự ngã, chứng quả Niết bàn an vui tự tại.

5. Phái Tăng Khê Da (Sàmkhya: Số luận):

Vị khai tổ của bản phái là Kiếp Tỷ La (Kapila), tục gọi Hoàng Xích tiên nhơn. Kinh điển căn cứ của phái này là Chế số luận (Sàmkhya sùtra).

Về giáo lý, phái Tăng Khê Da dung hòa cả hai tư tưởng hữu thần và duy vật mà cấu thành học thuyết của mình. Họ cho rằng "số" là căn bản để đo lường các pháp, từ nơi "số" mà khởi "luận", "luận" hay sinh "số" nên mới có mệnh danh là "số luận.” Theo nhà Số luận, thì nguồn gốc của vũ trụ không ngoài "thần ngã" là nguyên lý tinh thần, và "Tự tánh" là nguyên lý vật chất. Do hai nguyên lý này kết hợp mà sinh 23 đế, và đó là thứ tự tạo ra vũ trụ. Khi hai nguyên nhân thần ngã và tự tánh kết hợp, thần ngã là động lực, tự tánh là chất liệu. Vì thế phái này cũng gọi là Minh nhị nguyên luận. Về tuần tự hai nguyên lý sanh 23 đế, xin tạm trình bày theo biểu đồ như sau:

- Thần ngã Tự tánh

Năm tri căn (ưu tánh): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.

Năm tác căn (ưu tánh): tay, chân, miệng, sanh thực khí, bài tiết khí.

- Giác (Đại) Ngã mạn

Tâm Căn

Năm duy (hỷ tánh): sắc, thanh, hương, vị, xúc.

Năm đại (ám tánh): đất, nước, gió, lửa, hư không.

Trong 25 đế trên (kể cả thần ngã và tự tánh), Tự tánh là căn nguyên phát triển thành vạn hữu, nên cũng gọi nó là vật chất căn bản. Kiếp sống con người có bao nhiêu nỗi đau khổ, là do cái thể xác tự tánh sinh ra. Chúng sinh đã nhận lầm những sự kiện tạo ra thân thể là vật của mình. Muốn diệt trừ mọi nỗi đau khổ, hành giả phải dứt điều ngộ nhận ấy, tách đôi sự kết hợp của hai thứ trên, mà trở về bộ mặt thật của Thần ngã. Đây là phương thức Giải thoát của phái Số luận để thể hiện "Thần ngã độc tồn.”

6. Phái Du già (Yoga: Tương ưng):

Vị khai tổ của bản phái là Bát Tử Xà Lê (Patanjali), giáo điển y cứ là kinh Du già (Yoga sùtra). Phái này chú trọng về pháp môn Thiền định để đạt đến mục đích Ta với Thần hợp nhất. Phương pháp thật tu chia làm tám giai đoạn: Cấm chế (Yama), Khuyến chế (Niyama), Tọa pháp (Asana), Điều tức (Prànayama), Chế cảm (Pràtyàkara), Chấp trì (Dhàranà), Tĩnh lự (Dhyàna), Đẳng trì (Samàdhi). Cấm chế, cần phải giữ năm điều: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không tham lam, thuộc đức độ tiêu cực. Khuyến chế, cần phải làm năm việc: Thanh tịnh, mãn định, khổ hạnh, học tập Kinh điển, định thần, thuộc đức độ tích cực. Tọa pháp, để điều hòa thân thể. Điều tức, để chỉnh đốn hô hấp. Chế cảm, để thống ngự Ngũ căn. Chấp trì, để tập trung tư tưởng. Tĩnh lự, để lóng gạn thức tâm. Đẳng trì, để tâm trở thành vắng lặng như hư không.

Cứ y theo phương pháp trên đây tu tập, lâu ngày tâm cảnh sẽ sáng suốt, chứng được Tam muội, chỉ còn một "Thần ngã" tự tại. Đây là lý tưởng Giải thoát của phái Du già.

Tiết III. Lục Sư Ngoại Đạo.

Trên đây là sáu môn phái lớn thuộc hệ thống Phệ Đà; còn hệ thống phản Phệ Đà tuy cũng có nhiều môn phái, song được nổi danh nhất chỉ có lý thuyết của sáu học giả, mà kinh Phật thường gọi là Lục sư ngoại đạo. Nhưng, sáu môn phái này chỉ bộc phát một thời gian rồi tiêu diệt. Lý thuyết của Lục sự ngoại đạo đại khái như sau:

1. Phú Lan Na Ca Diếp (Pùrana Kacyapa: Mãn Ẩm Quang):

Ông chủ trương thuyết ngẫu nhiên, không tin luật Nhân quả, cho rằng tất cả sự khổ vui họa phước của con người, chỉ là ngẫu nhiên mà có. Lại nữa. Mãn Ẩm Quang là một nhà thuyết lý của Hoài nghi luận. Theo ông thì thiện ác không có tiêu chuẩn nhất định, bất quá do tập quán xã hội gọi thế mà thôi. Xã hội cho là thiện hoặc ác, vị tất đã là thật thiện, thật ác. Cho nên, làm lành hoặc dữ, đối với ông, không có quả báo chi cả. Phật giáo gọi phái này là Không kiến ngoại đạo.

2. A Di Đa Xúy Xá Khâm Bà La (Aj takesa Kambali: Vô Thắng Tử):

Trong kinh có nơi gọi ông là Lộ Dà Gia hoặc Chước Bà Ca (Lokayata). Ông chủ trương thuyết Cực đoan duy vật luận, cho rằng con người do đất, nước, gió, lửa hòa hợp mà thành, chết rồi là hoại diệt, thân tứ đại lại trả về chất tứ đại. Theo ông, mục đích của nhân sinh là tận hưởng những thú vui vật chất. Vô Thắng Tử cực lực bài xích luân lý đạo đức, cho đó là những điều khắc khe vô lý. Học thuyết của phái này tương tợ triết học Dương Chu ở Trung Quốc, hoặc triết học Hiện sinh của phương Tây. Nhà Phật gọi họ là Thuận thế ngoại đạo.

3. Mạt Già Lê Câu Xá Lê (Makkhali Gosala: Ngưu Xá Tử):

Ông chủ trương thuyết Cực đoan định mạng luận, cũng gọi là Tự nhiên luận hay Túc mạng luận. Theo Ngưu Xá Tử, vận mạng con người đều do luật tự nhiên chi phối, không phải ai muốn là được. Khi túc mạng đã định con người phải chịu khổ, vui, hoặc Giải thoát, thì tự nhiên được khổ, vui, Giải thoát. Ông đề xướng giáo lý vô vi điềm đạm, gần giống với học thuyết của Lão, Trang. Phật giáo gọi phái này là Tự nhiên ngoại đạo hoặc Tà mạng ngoại đạo.

4. Bà Phù Đà Ca Chiên Diên (Pakudha Katyayana: Hắc Lãnh):

Danh từ này lại có một cách gọi khác là Ca La Cưu Đà Ca Chiên Diên. Ông chủ trương thuyết Cực đoan thường kiến luận, phản đối thuyết Đoạn kiến của Thuận thế ngoại đạo, Bà Phù Đà Ca Chiên Diên lập thuyết Tâm vật nhị nguyên bất diệt, cho rằng con người do bảy yếu tố: Địa, thủy, hỏa, phong, khổ, lạc, sinh mạng hợp thành. Bản chất của bảy yếu tố này là thường trụ, không vì sự sống chết mà sanh diệt theo. Với ông, thí dụ như người bị chết chém, đó chẳng qua là lưỡi dao ấy tạm thời làm cho địa, thủy, hỏa, phong... (vật) phân tán mà thôi, không quan hệ đến sự tồn vong của khổ, lạc và sinh mạng (tâm). Ông dùng lý luận này để cổ lệ con người bất tất phải sợ chết. Phật giáo gọi phái này là Thường kiến ngoại đạo.

5. San Xà Dạ Tỳ La Lê Tử (Sanjaya Belatthiputta: Đẳng Thắng):

Danh từ này, theo lối tân xưng, gọi là Tán Nhạ Gia Tỳ La Lê Tử. Ông chủ trương thuyết Vô cầu, sở hành hằng ngày là tu tập Thiền định. Theo ông, đạo quả Giải thoát không cần tìm cầu, cứ để trải qua nhiều kiếp luân chuyển, tự nhiên sẽ đến kỳ sự khổ dứt trừ. Thí dụ như cái trục cất nước, khi quây hết dây thì gàu nước tự ra khỏi giếng. Vì thế, ông đưa ra lập thuyết "Mãn tám muôn kiếp, tự nhiên đắc đạo.” Phật giáo gọi phái này là Ngụy biện ngoại đạo.

6. Ni Kiền Đà Nhã Đề Tử (Nigantha Nataputta: Ly Hệ Thân Tử)

Ông là vị tổ hữu danh đã khai sinh ra Kỳ na giáo, cũng gọi Thiền Na giáo (Jaina). Ly Hệ Thân Tử người thuộc dòng Sát đế lỵ, ở xứ Cung Đồ Bổ La (Kyndapura), phụ cận kinh thành Tỳ Xá Ly (Vaisali). Ông xuất gia hồi 31 tuổi, chuyên tu khổ hạnh trải qua 12 năm. Sau khi ngộ đạo, ông đi du hóa khắp nơi, thâu phục đồ đệ rất nhiều, gây thế lực mạnh mẽ ở vùng thượng lưu sông Hằng, nhất là hai xứ Tỳ Xá Ly và Ma Kiệt Đà (Magadha). Trong lịch sự tư tưởng Ấn Độ, ông có vai trò trọng yếu không kém đức Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật có mười hiệu, ông cũng có nhiều danh hiệu như: Thiền Na (Jaina: Thắng Giả), Đa Tha Dà Dà (Tathagata Như Lai) Phật Đà (Buddha: Giác Giả), Ma Ha Tỳ La (Mahàvira: Đại Hùng). Kinh Phật nói có bảy đức Thế Tôn, phái của ông cũng có thuyết 23 bậc Thắng Giả. Sau 29 năm du hóa, ông viên tịch ở xứ Ba Bà (Pavà) thọ được 72 tuổi, nhằm lúc đức Phật đang còn giáo hóa ở nhân gian.

Tư tưởng triết học căn bản của Ly Hệ Thân Tử xây dựng trên Thật thể (Dravya). Thật thể này chia ra hai trạng thái là Sinh mạng yếu tố (Jìva, Ajìva). Sinh mạng yếu tố thì gồm đủ hai phần: Lý trí và tình cảm. Phi sinh mạng yếu tố được chia làm năm thứ: Không (Àkàsa), Vật chất (Pudgala), Pháp (Dharma), Phi pháp (Adharma), Thời gian (Kata). Không là nguyên lý bao trùm khắp mọi nơi. Vật chất là nguyên lý tạo thành nhục thể. Pháp là nguyên lý vận động. Phi pháp là nguyên lý đình chỉ. Thời gian là nguyên lý biến hóa. Bởi hai yếu tố Sinh mạng và Phi sinh mạng liên kết nhau, nên con người sinh ra phiền não, bị quanh quẩn trong nẽo luân hồi. Muốn được Giải thoát, hành giả phải xa lìa sự chấp trước trên hai yếu tố mà trở về Thực thể.

Về phương diện thực tiễn, Ly Hệ Thân Tử chủ trương khổ hạnh tột độ để xa lìa tham nhiễm. Ông đặt ra năm giới là: Không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối, giữ tịnh hạnh và không tham cầu. Đồ chúng xuất gia của ông phần nhiều đều lõa thể, lấy tro bôi trát cùng mình, sống một cách cơ cực, khi khất thực thì dùng hai tay tiếp lấy rồi đưa vào miệng ăn liền. Vì thế, nhà Phật gọi phái này là Vô tâm ngoại đạo.

Tiết IV. Tổng Quát Các Nguồn Tư Tưởng Ấn Độ Đương Thời.

Về thời gian sáng lập, sáu đại học phái và Lục sư ngoại đạo nói trên, xuất hiện trước Phật giáo không bao lâu. Lúc đức Thích Ca mới xuất gia, Ngài có đến phỏng đạo những vị thủ lãnh của mấy Giáo đoàn ấy như các ông: Nhã Đề Tử, Bạt Già Bà, A La Ra, Uất Đà La...

Nói chung, tư tưởng giới Ấn Độ thời bấy giờ gần giống như tư tưởng giới đời Chiến quốc bên Trung Hoa. Xét về mặt xã hội thì trước Phật giáng sinh khoảng 100 năm, nhằm thời đại tiền kỷ nguyên độ bảy thế kỷ, đạo Bà la môn thịnh hành đến cực điểm. Nhưng cũng do sự độc quyền của phái tăng lữ, mà đạo đức Tôn giáo thời đó chỉ có nghi thức phô trương bề ngoài. Hơn nữa, lại vì chế độ giai cấp không công bình, nhân dân không được tự do, rồi sinh ra tư tưởng yếm thế. Bởi duyên cớ ấy, một phương diện bị mê tín hoành hành, người ta hy sinh tu theo khổ hạnh. Họ quan niệm rằng có gần sự khổ mới quen với cái khổ, và sẽ xem thường, không còn thấy khổ. Có kẻ tin tưởng tu khổ hạnh sẽ được sinh lên cõi Trời hưởng các điều vui. Lại một phương diện khác, người ta nảy ra tư tưởng hoài nghi, phủ nhận tất cả Tôn giáo, Nhân quả và đạo đức. Nương theo quan niệm ấy, họ cổ xúy tư tưởng phản kháng. Do đó, ngoài những giáo phái thuận theo hệ thống Phệ Đà truyền lại, các chủ nghĩa khác tiếp tục nổi lên. Như ông Phú Lan Na Ca Diếp đại biểu cho chủ nghĩa Hoài nghi, ông Vô Thắng Tử đại biểu cho chủ nghĩa Khoái lạc, ông Đẳng Thắng đại biểu cho thuyết Ngụy biện, ông Nhã Đề Tử đại biểu cho thuyết Khổ hạnh.

Theo kinh Phạm Võng và Sa Môn Quả thì lúc bấy giờ có đến 62 phái ngoại đạo khác nhau. Nhưng nhìn tổng quát, ta có thể chia ra tám hệ thống lớn:

1. Thường kiến luận (Sassatavada): Chủ trương thế giới và tự ngã thường còn.

2. Bán thường bán Vô thường luận (Ekaccasassatika): Chủ trương tất cả hiện tương đều có một bộ phận thường còn và một bộ phận biến diệt.

3. Hữu biên vô biên luận (Anatanantika): Chuyên thảo luận về thế giới hữu hạn hay vô hạn.

4. Ngụy biện luận (Amaravikkhepihà): Lý luận không dứt khoát đối với tất cả vấn đề không có một giải pháp quyết định.

5. Vô nhân luận (Adhiccasamuppada): Chủ trương mọi hiện tượng đều ngẫu nhiên phát sinh, không quan hệ đến Nhân quả.

6. Tử hậu hữu tưởng vô tưởng luận (Udhamaghatamika): Chuyên thảo luận về vấn đề: sau khi chết ý thức còn tồn tại không và sinh ra những trạng thái như thế nào?

7. Đoạn kiến luận (Ucchedavada): Chủ trương chết là đoạn diệt.

8. Hiện pháp Niết bàn luận (Ditthadhammanibbanam): Chủ trương hiện tại là cảnh giới lý tưởng tối cao.

Trong tám hệ thống trên, bốn hạng trước lập luận trong phạm vi đời hiện tại, nên có tên là Bản kiếp bản kiến. Còn bốn hạng sau lập luận trong phạm vi đời vị lai, nên có tên Mạt kiếp vị kiến. Đây là những điểm mà căn cứ vào đó, ta có thể thấy tất cả sự hổn tạp của tư tưởng giới đương thời.

Như trước đã nói, điểm xuất phát của các Tôn giáo đại để: do tâm cầu thoát khổ, do tin tưởng sùng bài, do Trí tuệ tìm cầu sự thật mà sinh ra. Cho nên sự xuất hiện của 62 môn phái cũng không ngoài ba yếu điễm này. Nhưng dù sao, những học thuyết rối ren hồi đó, cũng là cơ vận để mở mang một thứ Tôn giáo canh tân. Thời đại ấy, phải có một bậc vĩ nhân xuất hiện, để đả phá thành kiến giai cấp bất công và phân tích, dung hội tất cả tư tưởng phức tạp, vạch ra một đường lối chánh chân, Giải thoát.

Và, đó là lý do Phật giáo ra đời.

Chương III: Dòng Dõi Đức Phật.

+ Tiết Mục:

I. Chủng tộc Sát đế lỵ

II. Dòng Cam Giá

III. Họ Thích Ca

IV. Gia thuộc.

+ Pháp tạng trích dẫn:

- Kinh Phật Thuyết Thất Phật,

- Kinh Khởi Thế Nhân Bản,

- Kinh Phật Bản Hạnh,

- Kinh Phật Thuyết Thập Nhị Du.

+ Đề yếu: Chủng tộc Sát đế lỵ trong tiết thứ nhất, đại khái chỉ cho dòng dõi thống trị, viễn nhân của giai cấp Sát đế lỵ về sau, chớ lúc ấy chưa có giai cấp đó. Tiết thứ hai, thứ ba, lược thuật về trạng thái của kiếp giảm, con người dần dần kém phước, nên từ Đại chuyển luân vương truyền đến Tiểu chuyển luân vương rồi Túc tán vương. Trong hàng Túc tán vương này, đã sản xuất ra họ Thích Ca thuộc chủng tộc Cam Giá (Iksvàku). Tiết thứ tư mới chánh thức nói đến gia thuộc của đức Phật, do một mạch liên lạc từ khi kiếp sơ biến chuyển đến thời gian ấy.

Theo sử sách thì chủng tộc Thích Ca ở dưới chân núi Hy mã, về phía Bắc sông La Bạt Đề (Rapti) chiếm một diện tích ước 320 dặm vuông. Giữa khu vực ấy lại có con sông Rô Hi Ni (nay là sông Rohana) chảy xuyên qua. Thành Ca Tỳ La Vệ vị trí ở về phía Tây Bắc sông này, nơi đã sản xuất ra bậc Thánh nhân cứu thế.

TiếtI. Chủng Tộc Sát Đế Lỵ.

Đức Phật bảo: Ta sinh nơi cung vua Tịnh Phạn, thuộc chủng tộc Sát đế lỵ (Kinh Phật Thuyết Thất Phật).

Này các Tỳ kheo! Vào thuở kiếp sơ, lúc thế gian mới phân chia ruộng nương, mới có danh tự, chưa thành lập sự trừng phạt, có một chúng sinh tiếc giữ lúa của mình, trộm lấy của kẻ khác. Có người trông thấy liền bảo rằng: "Này anh kia! Tại sao anh đã có lúa mà trộm lấy của kẻ khác? Anh đã làm chuyện xấu xa tội ác rồi! Thôi, tôi tha cho, từ rày đừng còn như thế nữa.”

Kẻ trộm kia tuy đã được tha, song vẫn không hối lỗi, tái phạm nhiều lần. Sau cùng, anh bị chúng bắt lôi đến chỗ đông, trách mắng, đánh đập, rồi hô to lên rằng: "Đây là kẻ trộm đạo!" Nhưng anh trộm kia vẫn chối cãi, chống cự, và nói: "Tôi không có tội gì cả! Mấy người này dùng lời thô mắng chửi tôi, dùng tay đánh đập tôi.” Bấy giờ đại chúng đang tụ tập ở đó, thấy thế đều sinh lòng buồn rầu. Nhiều người thương khóc nói: "Hôm nay trong bọn chúng ta có những kẻ đã đem nhau đến chỗ khổn ác, đã sinh ra pháp chẳng lành, đã bị phiền não làm tăng trưởng quả khổ đời sau, và sẽ hướng về ác thú. Tại sao thế? Vì chúng ta hiện thấy mấy người này co kéo, mắng chửi xua đuổi nhau. Bây giờ bọn ta nên công cử bậc chân chánh lên làm chủ để xử đoán mọi việc, kẻ nào đáng quở trách thì quở trách, đáng trừng phạt thì trừng phạt, đáng xua đuổi thì xua đuổi. Đối với vị ấy, chúng ta nên trích mỗi người một phần lúa để cung cấp.” Sau khi đại chúng đã bình luận như thế rồi, đồng ưng thuận tìm cầu một vị làm Thủ hộ chủ.

Lúc đó trong đám đông có một người hình vóc đoan chánh, diện mạo tôn nghiêm, cử chỉ nghi dung rất là đáng mến. Chúng liền cử vị ấy lên làm Hộ chủ, người này cũng vui lòng ưng thuận. Từ đó về sau, việc xử phạt nghiêm minh, không còn ai tranh cải lấn hiếp ai, đại chúng cũng y theo lệ, chung nhau đóng góp để chung cấp cho vị Hộ chủ ấy. Cứ như thế đời này tiếp đời kia, thành ra chủng tộc Sát đế lỵ (Kinh Khởi Thế Nhân Bản).

Này các Tỳ kheo! Các ông nên biết, vua Sát đế lỵ cũng gọi là Điền chủ; bởi kiếp tối sơ do nhân duyên như thế, đại chúng mới công cử, nên thành ra vương chủng vậy (Kinh Phật Bản Hạnh).

Tiết II. Dòng Cam Giá.

Đức Phật bảo: Bấy giờ vị vua do đại chúng công cử, về sau sinh được một hài nhi tên là Chân Thật. Đứa bé này đủ 32 tướng tốt, sau làm Chuyển luân vương, là bậc đại địa chủ, cai trị bốn châu thiên hạ, có một ngàn người con, bảy báu tự nhiên đầy đủ, oai đức rộng lớn, nhiếp phục tất cả giặc loạn. Khi vị vua ấy còn trị hóa ở đời, từ đất liền cho đến bờ biển, không có gai gốc và gò nổng cao thấp. Lúc đó nhân dân được an vui, không gặp sự sợ hãi khó khăn, ngũ cốc đều tươi tốt. Vua cai trị đúng theo chánh đạo, nên không cần động đao binh mà các nơi tự hàng phục.

Này các Tỳ kheo! Trong một ngàn người con của vua Chân Thật, có vị trưởng tử tên là Ý Hỷ, cũng gọi là Tự Dụng, sau nối ngôi làm Chuyển luân Thánh vương. Vị Luân vương này cũng có bảy báu, một ngàn người con, oai đức và cách trị hóa y như vua cha. Kế Ý Hỷ luân vương là Đảnh Sanh luân vương, tương truyền như thế cho đến đời Đại Tu Di luân vương. Từ vua Chân Thật cho đến Đại Tu Di, kể ra có đến 29 đời Chuyển luân Thánh vương.

Vua Đại Tu Di từ khi lên ngôi trị hóa, mỗi đời truyền nhau, được 101 vị Tiểu chuyển luân vương, đều cư ngụ ở thành Bao Đa na, hưởng nhiều phước lạc. Trong các vì vua ấy, vị rốt sau tên là Sư Tử Thừa lên nối ngôi, rồi truyền lại cho con cháu đến 61 đời Tiểu chuyển luân vương, đều cư ngụ ở thành Ba La Nại, trị hóa dân chúng, hưởng phước an vui. Từ vua Sư Tử Thừa truyền cho đến vua Đại Tự Đại Thiên ở thành Mỵ Di La, kể chung có đến 173.122 đời Tiểu chuyển luân vương, chỗ cư trụ tùy theo mỗi lớp, đều có thay đổi.

Này các Tỳ kheo! Các vì vua ấy tương truyền cho đến vị sau rốt là Ngư Vương. Nên biết các bậc Tiểu chuyển luân vương như thế, đều có nhiều phước đức căn lành, hưởng đủ phước báo ở đời, thống trị từ miền đất liền cho đến mé biển, cùng tất cả vùng rừng núi. Những Luân vương ấy, mỗi vị đều có nhiều Túc tán vương. Nay ta kể tiếp cho các ông nghe:

Ngư vương có người con làm vua một cõi, tên là Chân Sanh. Vị hoàng vương này nhân từ đời tổ phụ cho đến bản thân đều có tu tập căn lành, nên mới được ở địa vị cao; nhưng không bao lâu vì phước báo hết nên mất ngôi. Dân chúng thời ấy thấy vua phước đức kém, đáng thương xót, nghèo nàn đơn bạc hơn các đời vua trước, nên lại đặt hiệu là Khả Quật vương. Song vua Khả Quật may có được người con phước đức lên nôi ngôi, tên là Bình Đẳng Hạnh vương. Rồi từ vua Bình Đẳng hạnh mỗi đời truyền nhau cho đến vua Đại Mâu Thảo kể được 142 đời vua, đều cư trụ ở thành Bao Đa Na. Chẳng may tới đời vua Đại Mâu Thảo lại không có con truyền nối. Ông nghĩ rằng: "Các vị Túc tán vương trong dòng họ của ta, mỗi khi thấy tóc trên đầu điểm bạc, liền hội các con lại làm lễ quán đảnh, tùy theo vị thứ phong cho vương tước. Riêng mình thì đem sản vật của một châu trù phú nhất để bố thí, rồi cạo râu tóc, từ ngôi vua, xuất gia tu hành. Nay ta không có con, ai sẽ nối ngôi ta? Ai sẽ nối dõi dòng họ của ta? Nhưng lại tự nghĩ: "Nay nếu ta không xuất gia tu hành, tức là làm mất chủng tộc hiền Thánh.” Suy nghĩ cùng cạn như thế, vua Đại Mâu Thảo liền đem việc nước gia cho các vị đại thần, rồi cạo râu tóc xuất gia.

Sau khi xuất gia, ông giữ giới thanh tịnh, tu hành tinh tấn, chứng được tứ Thiền, có đủ ngũ thông, thành bậc vương tiên. Vị vương tiên ấy sống rất lâu, da nhăn lưng còm, thân thể suy yếu, tuy chống gậy nhưng không đi được xa. Mấy đệ tử của vương tiên, khi muốn khất thực hay có việc đi đâu, thường dùng cỏ nhuyển lót trên cái giá để Thầy ngồi, rồi treo rút lên cây, vì sợ các loài thú đến khuấy nhiễu tiên nhơn trong cơn Thiền định. Một hôm, sau khi hàng đệ tử đi khất thực, có anh thợ săn ở xa trông thấy vương tiên, ngỡ là loài chim, trương cung bắn chết. Các môn đệ lúc khất thực trở về, thấy Thầy bị tuẫn nạn, liền chất củi làm lễ Trà tỳ, rồi thâu linh cốt xây Bảo tháp, thường dùng hương hoa để cúng dường.

Trong lúc vương tiên bị tên, có hai giọt máu nhỏ xuống đất. Chỗ hai giọt máu ấy, về sau sinh ra hai mục mía (cam giá). Hai mục mía này dần dần cao lớn, nắng rọi mưa chan, không bao lâu đã đến thời kỳ thuần thục. Ngày nọ, nơi hai thân cây bỗng nổ vang lên tiếng lớn, xuất hiện một đồng nam và một đồng nữ, tư dung sinh đẹp vô cùng. Hàng đệ tử của vương tiên thấy thế, nghĩ rằng Thầy mình lúc còn tại tục không có con cái, nay hai đứa bé này cũng là huyết thống của người, liền hết lòng nuôi dưỡng và báo cho các vị đại thần hay. Khi mấy vị đại thần nghe nói, rất đỗi vui mừng, cùng nhau đến rừng rước hai đứa bé đem về cung, rồi thỉnh một vị Bà la môn đến xem tướng và đặt tên. Vị Bà la môn xem xong, khen là phước tướng, lại nhân đứa đồng tử này do ánh mặt trời rọi vào thân cây mía, đến ngày thuần thục mà được xuất sanh, nên đặt họ là Cam Giá Sanh, tên là Thiện Sanh, cũng gọi là Nhật Chủng. Còn đứa đồng nữ thì đặt tên là Thiện Hiền, cũng gọi là Thủy Ba. Về sau, Cam Giá Sanh được tôn lên làm vua, và Thiện Hiền thì làm đệ nhất vương phi của vua (Kinh Phật Bản Hạnh).

Tiết III. Họ Thích Ca.

Vua Cam Giá có bà vương phi thứ hai, tư dung rất xinh đẹp. Bà này sinh được bốn người con tên là: Cự Diện, Kim Sắc, Tượng Chúng và Biệt Thành. Còn Thiện Hiền vương phi chỉ sinh một con tên là Trường Thọ. Luận về dung mạo, Trường Thọ vương tử rất khôi ngô tuấn tú, ít có người hơn; nhưng theo tướng sư, thì vương tử không đủ cốt cách làm vua một nước lớn.

Cũng vì lẽ ấy, nên Thiện Hiền vương phi hằng đem lòng lo buồn. Bà nghĩ: "Bọn Cự Diện bốn đứa thảy đều oai dũng, ta chỉ có một người con, phải làm thế nào cho nó được nối ngôi? Hiện thời vua rất yêu quí ta, hằng quyến luyến ít khi xa rời. Vậy ta phải trang điểm cực kỳ xinh đẹp làm cho Ngài say mê, rồi nhân lúc vắng vẻ ta sẽ cầu xin điều đó.” Sau khi suy nghĩ như thế, bà dùng nước thơm tắm gội sạch sẽ, tóc tẩm dầu thơm, chải bới vén khéo, điểm phấn thoa son, đầu kết vòng hoa, cổ đeo chuỗi anh lạc, rồi đi đến chỗ vua. Cam Giá vương thấy bà kiều diễm như vậy, càng thêm say đắm. Trong lúc đi nghỉ, chỉ có hai người, vương phi tâu rằng: "Thưa đại vương! Thiếp may mắn được nhờ ơn yêu dấu, nay có một điều tâm nguyện, xin đại vương thuận cho.” Vua bảo: "Ái phi! Nàng có điều chi mong ước, cứ nói ra, ta sẽ chấp thuận.” Vương phi lại tâu: "Nếu đại vương hứa nhận sự yêu cầu của thiếp, xin chớ cải hối, bằng có như thế thì thiếp không dám tỏ ra.” Vua nói: "Ta nhất định thuận theo sở nguyện của Ái phi, nếu về sau mà cải hối thì đầu của ta sẽ bị vở ra làm bảy mảnh.” Sau khi nghe vua đã hứa như thế, vương phi tâu xin đuổi bốn anh em Cự Diện ra khỏi nước, để cho con mình được nối ngôi. Cam Giá vương biết bốn con không có lỗi lầm, khó lấy cớ chi mà đuổi ra khỏi nước, nhưng vì vương phi nài nỉ, nhắc lại lời thề, nên kết cuộc vua phải theo.

Sáng ra, vua gọi bốn Hoàng tử đến bảo: "Các con hãy sắp đặt rời khỏi xứ này, đi đến nơi khác mà ở.” Bốn vương tử quì xuống tâu: "Bạch Phụ vương! Chúng con không có lỗi chi, cớ sao Phụ vương lại nỡ đuổi đi nơi khác?” Vua nói: "Đó là ý kiến của Thiện Hiền vương phi, cha đã hứa lỡ, nên trót phải theo.” Khi ấy đệ nhị vương phi, mẹ của bốn Hoàng tử, và các bà phi khác, biết được tin ấy, cũng xin vua đem con cái và quyến thuộc đi theo. Kế đó, các hàng đại thần, các quan văn võ, quân giữ voi ngựa, quân cung nổ, quan quân giữ kho tàng, cũng xin đem bè đảng quyến thuộc đi theo. Trước tình cảnh ấy, không biết nói sao, vua cũng đành chấp thuận. Rồi cho đến các thợ làm đồ bằng tre, thợ mộc, thợ da, thợ đúc ngói gạch, thợ gầy rượu, thợ cạo, thợ nhuộm, các dược sư, y sĩ, hàng nông, mục, ngư, tiều, nghe vua đuổi bốn Hoàng tử, cũng xin đem tất cả quyến thuộc đi theo. Trước khi khởi hành, vua bảo bốn Hoàng tử rằng: "Từ nay về sau, nếu muốn kết hôn, các con đừng chọn người ngoại tộc, chớ để cho dòng Cam Giá phải bị đoạn tuyệt.” Bốn vương tử cúi lạy vâng lời, rồi hướng dẫn đoàn người đi về phía Bắc, dưới dãy Tuyết sơn.

Đoàn người đi chầm chậm, dọc đường săn bắn các loài cầm thú dùng làm thức ăn, sau rốt đi đến một chỗ đất đai phì nhiêu bằng phẳng, thảo mộc xanh rậm tốt tươi. Nơi đây có những ao đầm rộng lớn, nước dẫy đầy trong sạch. Lại có các loại cây như: cây Đa la, cây A thuyết tha, cây Ni câu đà, cây Ưu đàm bà la, cây Ca lê la v.v... gốc cao tàng lớn, cành lá giao nhau, phủ che rậm mát cả một vùng. Lại có những thứ hoa đẹp như: hoa A đề mục đa, hoa Chiêm ba, hoa A du ca, hoa Ba đa la, hoa Bà lỵ sư ca... và các thứ cây có quả, các loại tạp cầm, dã thú rất nhiều, cành sắc rất nên xinh đẹp. Chỗ này nguyên xưa là nơi cư ngụ của một vị tiên tên là Ca Tỳ La (Kapila: Kiếp Tỷ La).

Các vị vương tử tìm được chỗ tốt, liền quyết định ở đó lập thành ấp để trị hóa. Mỗi vị đều vâng lời cha, lựa người trong họ mà kết hôn. Sau vua Cam Giá hay được, trong lòng vui mừng, khen rằng: "Các con ta khéo lập quốc kế, hay đem nhân đức trị hóa thần dân.” Nhân đó, bốn vương tử mới lấy họ là Thích Ca (Năng Nhân cũng gọi là Kiều Đáp Ma, xưa dịch Cù Đàm), lại nhớ gốc tích của vị tiên xưa ở đó, nên đặt tên thành là Ca Tỳ La. Về sau ba vị vương tử lần lượt qua đời chỉ còn một vị trụ thế trị vì, lấy hiệu là Ni Câu La vương. Vua Ni Câu La sau truyền ngôi cho con là Câu Lư, Câu Lư truyền cho Cù Câu Lư, Cù Câu Lư, truyền cho Sư Tử Hiếp. Sư Tử Hiếp vương sanh được bốn trai một gái, khi lớn tuổi truyền ngôi cho người con cả là Duyệt Đầu Đàn, đời đời nối tiếp ở tại thành Ca Tỳ La, trị hóa nhân dân, hưởng nhiều phước lạc. (Thành ấy bây giờ là xứ Piprawa, phía đông Bắc là tỉnh Ba La Nại, Bénarès, phía nam là xứ Népal) (Kinh Phật Bản Hạnh).

Tiết IV. Gia Thuộc.

Bấy giờ vị quốc chủ xứ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) là Tịnh Phạn vương (cũng gọi là Bạch Tịnh vương). Cách thành Ca Tỳ La không xa, lại có một thành tên là Thiên Tý. Nơi thành này hiện cư ngụ một nhà Thích chủng rất hào quí, tên là Thiện Giác Trưởng giả. Trưởng giả giàu lớn, đầy đủ oai đức, tư sản to tát, các kho châu báu rất nhiều, nhà cửa đẹp lộng lẫy như cung điện Tỳ Sa môn thiên vương.

Vị Thích Trưởng giả này sinh được tám người con gái đẹp là: Vi Ý, Vô Tỷ Ý, Đại Ý, Vô Biên Ý, Kế Ý, Hắc Ngưu, Sấu Ngưu và Đại Huệ. Nàng con gái thứ tám, trong buổi sơ sinh, có vị Bà la môn đến xem tướng và nói: "Cô bé này lớn lên, nếu có gia thất, sẽ sinh một người con làm Chuyển luân Thánh vương, bảy báu tự nhiên, oai đức đầy đủ, cho đến không cần dùng hình phạt mà trị dân.”

Vua Tịnh Phạn (Suđhodana) nghe nói cô gái thứ tám của Thiện Giác Trưởng giả có tướng sanh con quí, liền nghĩ: "Ta sẽ cưới người con gái ấy làm Hoàng hậu, để cho ngôi Chuyển luân của dòng Cam Giá ta không đoạn tuyệt.” Nghĩ rồi, Ngài sai sứ đến nhà Thiện Giác Trưởng giả hỏi xin Đại Huệ. Trưởng giả trình với sứ rằng: "Ông về tâu lại cùng đại vương, nói tôi có tám con gái, đứa lớn là Vi Ý đứa út là Đại Huệ, tại sao đại vương lại hỏi đứa nhỏ nhất? Vậy xin đại vương chờ tôi gả bảy đứa lớn xong, việc ấy sẽ định sau.” Sứ giả về thưa lại, Tịnh Phạn vương bảo: "Nếu như thế, ta sẽ rước luôn tám nàng về cung.” Hai bên ưng thuận xong xuôi, đến ngày nghinh hôn, Tịnh Phạn vương cưới cô lớn là Vi Ý và cô út là Đại Huệ. Còn ba hoàng đệ của Ngài thì cưới sáu cô kia, mỗi vị hai nàng, đem về làm phi. (Kinh Phật Bản Hạnh).

Vua Bạch Tịnh có ba người em trai, kể theo thứ tự là: Cam Lộ Tịnh Vương, Hộc Tịnh vương, và Thiết Tịnh vương. Hai vị phối thất của Ngài, mỗi người sinh một con, Hoàng hậu Ma Da (Maya) sinh ra Thái tử Tất Đạt Na, còn bà Kiều Đàm Di (cũng gọi là Ba Xà Ba Đề: Prajàpati) sinh ra Nan Đà. Cam Lộ Tịnh vương có hai con, con lớn là Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa), con thứ là A Nan. Hộc Tịnh vương có hai con, con lớn là Thích Ma Nạp, con thứ là A Na Luật. Thiết Tịnh vương cũng có hai con, con lớn là Thích Ca Vương, con thứ là Thích Thiếu Vương.

Thái tử Thích ca Tất Đạt Đa (Sakya Siddhàrtha) sinh vào tháng tư, lúc mặt trời mọc, nhằm ngày trăng tròn (theo lịch Trung Hoa thì mùng 8, tháng 4) trước Gia Tô 624 năm). Điều Đạt sinh ngày mùng 7 tháng 4, Nan Đà ngày mùng 9 tháng 4, A Nan ngày mùng 10 tháng tư.

Thái tử thân cao một trượng sáu thước (thước mộc), Điều Đạt cao một trượng năm thước tư, Nan Đà cao một trượng năm thước tư; A Nan cao một trượng năm thước ba. Trong họ Thích Ca, hàng quí tộc phước đức thường thường cao một trượng bốn thước. Còn nhân dân trong nước mức cao trung độ một trượng ba thước (Kinh Phật Thuyết Thập Nhị Du).


Chương IV: Đức Thích Tôn Trước Khi Thành Đạo.

+ Tiết Mục:

I. Bồ tát giáng thần.

II. Bồ tát nhập thai.

III. Bồ tát trụ thai.

IV. Bồ tát đản sanh.

V. Tiền nhân xem tướng.

VI. Thái tử học tập văn võ.

VII. Mấy cuộc nhàn du.

VIII. Thái tử xuất gia.

IX. Thái tử hỏi đạo.

+ Pháp tạng trích dẫn:

- Kinh Phật Bản Hạnh,

- Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả,

- Tỳ Nại Gia Tạp Sự,

- Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm,

- Kinh Phật Thuyết Thập Nhị Du,

- Kinh Vị Tằng Hữu,

- Kinh Thoại Ứng,

- Kinh Tu Đạt Noa,

- Phật Học Đại Cương.

+ Đề yếu: Toàn chương viết phỏng theo nửa đoạn của thuyết "Tám tướng thành đạo", từ lúc Bồ tát giáng thần cho đến khi Thái tử xuất gia, nhưng có thêm mấy tiết: năm, sáu, bảy và chín, để cho sự tích thêm phần đầy đủ. Đại khái trong chín tiết, kể những sự trạng từ khi Bồ tát giáng thần, vào thai, ở trong thai, lúc đản sanh, được tiên nhơn xem tướng, lớn lên học tập văn võ, có gia đình, rồi nhân đi chơi thấy cảnh già, bệnh, chết, mà xuất gia tìm đạo. Đây là nửa đoạn đời về trước của đức Thích Tôn.

Thuyết "Tám tướng thành đạo" theo Đại thừa là: Đâu Suất giáng thần, Nhập thai, Trụ thai, Đản sanh, Xuất gia, Thành đạo, Chuyển Pháp luân và Nhập Niết bàn. Trong tám điều này, Tiểu thừa thêm tướng Hàng ma mà không lập tướng Trụ thai, vì cho trụ thai gồm trong thác thai; còn Đại thừa thì không lập tướng hàng ma, vì biết rõ ma chính là Phật.

Trong chương này có vài điểm mà, theo quan niệm thế gian, người ta cho là xa với thực tế. Nhưng theo quan niệm Phật giáo, thì các pháp đều như huyễn, huyễn pháp tùy theo nghiệp duyên thiện ác mà biến hiện không lường, huống nữa với Thái tử Tất Đạt Đa, một vị Bồ tát đã từng nhiều kiếp tu chứng lục Ba la mật. Vậy không nên đem tâm tư thế gian mà đoán định.

Theo các kinh Trung Hoa phiên dịch, thời gian Phật đản sinh nhằm ngày mùng tám tháng tư. Nhưng gần đây, quyết nghị của Hội Phật giáo thế giới xin các nước Phật giáo lấy ngày 15 tháng 4 (â.l.T.H) làm ngày kỷ niệm Phật đản. Vì thế nên trong đây sửa lại ngày ấy làm ngày trăng tròn.

Lại, theo quyết nghị chung, Phật giáo thế giới năm 1952 đã đồng ý lấy năm đức Phật Niết bàn, tức là 544 năm trước kỷ nguyên, làm năm kỷ niệm "Phật lịch" thống nhất của Phật giáo. Thế thì đức Thích Tôn giáng sinh vào khoảng thời gian 624 544 năm trước Tây lịch. Hiện nay năm Phật lịch là 2508 1964.

Tiết I. Bồ Tát Giáng Thần.

Hộ Minh Bồ tát từ nơi pháp hội của đức Ca Diếp Thế Tôn, giữ gìn cấm giới, phạm hạnh trong sạch, sau khi mạng chung, chánh niệm sinh lên cõi Đâu Suất Đà thiên.

Sau khi vãng sanh, Bồ tát trụ nơi nội viện thiên cung. Các cung điện ở cõi Đâu Suất ánh sáng huy hoàng, sự trang nghiêm tốt đẹp vô lượng vô biên. Đó đều do sức công đức oai thần của Hộ Minh đại sĩ mà tự nhiên hóa hiện. Các Đại Phạm Thiên Vương và hàng A Tu La oai đức lớn, đều vân tập nơi cung trời Đâu Suất, vây quanh Bồ tát, thưa thỉnh pháp âm. Vô lượng chúng sinh khi sinh lên cõi Đâu Suất, thấy sự vui ngũ dục nhiệm mầu, phần nhiều đều mê nhiễm, không nhớ bản nguyện và hạnh tu đời trước. Bồ tát tuy thấy cảnh ngũ dục thắng diệu, song vẫn không mê hoặc, lại nhớ đến nhân duyên của mình vì dẫn dạy chúng sinh nên mới ứng hiện nơi cõi này. Thọ mạng của chư Thiên cõi Đâu Suất đến bốn ngàn năm. Bồ tát vì hàng chư Thiên ấy thuyết pháp giáo hóa, chỉ rõ pháp tướng, khiến cho đại chúng đều hoan hỷ (kinh Phật Bản Hạnh).

Khi vận kỳ gần đến, sắp phải giáng sinh thành Phật, Bồ tát quán sát năm việc:

1. Căn duyên của chúng sinh đã thuần thục hay chưa?

2. Đã đến thời kỳ hóa độ chưa?

3. Trong châu Diêm Phù Đề, quốc hộ nào ở chính giữa?

4. Trong các chủng tộc, tộc tánh nào quí thạnh?

5. Về nhân duyên quá khứ, ai là bậc chân chính, đáng làm cha mẹ mình?

Sau khi quán sát năm việc ấy xong, Ngài biết rõ: Hiện nay các chúng sinh do mình giáo hóa từ khi mới phát tâm, thiện căn đã thuần thục. Đã đến thời kỳ những kẻ hữu duyên có thể lãnh thọ pháp mầu thanh tịnh. Trong cõi đại thiên thế giới này, nước Ca Tỳ La Vệ ở giữa châu Diêm Phù Đề. Trong các chủng tộc, có họ Thích Ca thuộc dòng Cam Giá là quí thạnh nhất. Về nhân duyên quá khứ, Bạch Tịnh Vương và Ma Da Hoàng hậu là bậc hiền lương chân chính, có thể làm cha mẹ mình (kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Tiết II. Bồ Tát Nhập Thai.

Bấy giờ, Hộ Minh Bồ tát xem xét con bạch tượng ở cõi Trời, thấy nó mạnh mẽ vững vàng như sư tử chúa; cưỡi tượng vương này giáng sinh, tất không còn có sự rối loạn sợ hãi, tâm được an điềm. Ngài day lại bảo chư Thiên rằng: "Các vị nên biết, đã đến giờ ta giáng sinh. Đây là lần thọ thân sau rốt của ta.”

Khi ấy nơi thành Ca Tỳ La, Ma Da Hoàng hậu trong giấc mơ, thấy có một vị Bồ tát cưỡi con bạch tượng sáu ngà, đầu voi ửng sắc đỏ, ngà trang nghiêm bằng vàng, từ hư không đi xuống, chun vào hông bên hữu của mình (kinh Phật Bản Hạnh).

Tiết III. Bồ Tát Trụ Thai.

Có những chúng sinh, khi nhập thai không thể chánh niệm; hoặc khi nhập thai chánh niệm, khi trụ thai không thể chánh niệm, hoặc khi nhập thai, trụ thai đều chánh niệm, khi xuất thai không thể chánh niệm.

Lại các chúng sinh khác, khi trụ thai hoặc có lúc ở bên trái, có lúc ở bên mặt, làm cho người mẹ chịu rất nhiều sự nhọc nhằn đau đớn. Bồ tát khi trụ thai thường ở bên mặt, không di động, không làm tổn đến người mẹ.

Các chúng sinh khác, khi trụ thai tất bị nhiễm các thứ không sạch trong thân người mẹ. Bồ tát khi trụ thai, không có sự kinh sợ, không bị nhiễm chất dơ, ví như bình báu lưu ly được áo trời gói kín, dù đem để chỗ dơ cũng không bị ô nhiễm.

Các chúng sinh khác khi trụ thai, người mẹ thường chịu sự nặng nề, nhọc mệt, thân thể không an. Bồ tát khi trụ thai, người mẹ thân không mỏi mệt, khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, nghỉ đều được an vui.

Các chúng sinh khác khi trụ thai, người mẹ hoặc làm những tạp hạnh, hoặc dục tâm hừng thạnh, hoặc thèm các mùi vị, hoặc tham lam bỏn xẻn, hoặc giận hờn độc ác, hoặc thân thể suy yếu, vàng võ gầy gò. Bồ tát khi trụ thai, người mẹ ưa giữ giới hạnh, không có lòng dục nhiễm, không tham đắm các mùi vị, ưa bố thí, hằng thương xót không làm tổn hại mọi loài, thân thể mạnh khỏe, dung sắc tươi vui.

Trên đây là những pháp vị tằng hữu của hàng Bồ tát (Kinh Phật Bản Hạnh).

Tiết IV. Bồ Tát Đản Sanh.

Hoàng hậu Ma Da mang thai đã gần đủ ngày tháng (bấy giờ bà đã 45 tuổi). Khi ấy, Thiện Giác Trưởng giả (Anusàkya A Nâu Thích Ca) sai sứ qua thành Ca Tỳ La tâu với Tịnh Phạn vương, xin y theo cổ tục đem con gái về quê ngoại là xứ Câu Ly (Koly Câu Lợi) an dưỡng để chờ ngày sanh. Tịnh Phạn vương y lời, sai quan Hữu Tư sửa sang con đường từ thành Ca Tỳ La đến thành Đề Bà Đà Ha (Devadaha Thiên Tý thành) cho bằng phẳng, trừ bỏ gai gốc sạn đá, quét dọn sạch sẽ. Vua lại bảo quan quân thể nữ sắp đặt xe báu, rải hương hoa, tấu các thứ âm nhạc, đưa Ma Da Phu nhân về quê.

Trên quãng đường về, Hoàng hậu ghé vào vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) để thưởng ngoạn mùa hoa đang nở. Trong vườn có cây Ba La Xoa (Sala Vô ưu), tàn che rộng rãi, cành rũ thấp bốn bề, hoa lá chen nhau, sắc xanh tím cùng chói dưới ánh triều dương, lộ vẻ muôn phần xinh đẹp. Hoa của loại cây này có mùi hương thanh nhẹ, bay lan theo làn gió thoảng, làm cho người thần trí vui tươi. Hoàng hậu dạo xem khắp nơi, rồi lần chẫm rãi bước đến cội Vô ưu, ngước mắt nhìn lên, đưa cánh tay mặt từ từ vịn cành cây xuống. (Kinh Phật Bản Hạnh).

Khi ấy, ánh sáng rực rỡ bốn bề, cõi đất rung đột sáu cách, Ma Da Phu nhân đã đản sanh ra Bồ tát. Bấy giờ, trời Đế Thích đem hoa sen rải theo lối đi. Bồ tát chân đạp hoa sen, nhẹ đi bảy bước, nhìn khắp bốn phương, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, xướng lên rằng: "Đây là thân sau rốt của ta. Trên trời dưới trời, chỉ có Ta là tôn quí hơn cả.” Lúc đó, trên hư không long vương phun hai thứ nước: ấm và mát, để tắm gội cho Bồ tát. (Tỳ Nại Gia Tạp Sự).

Tịnh Phạn vương hay được tin ấy, liền nghiêm chỉnh đốn binh, cùng với quyến thuộc và một ức người Thích chủng, đi đến vườn Lâm Tỳ Ni. Khi đến nơi, vua thấy Thái tử tướng lạ trang nghiêm, vô cùng hoan hỷ!

Bảy hôm sau ngày sinh nở, Hoàng hậu Ma Da ly trần, sinh lên cung trời Đao Lợi, hưởng phước tự nhiên, do bởi hoài thai Bồ tát, công đức rất lớn (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Thái tử ở tại vườn Lâm Tỳ Ni đủ bảy ngày, rồi được đưa về thành Ca Tỳ La. Vua Tịnh Phạn đặt tên cho Thái tử là Tất Đạt Đa (Sidddhàrtha Nghĩa Thành). (Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm).

Tiết V. Tiền Nhân Xem Tướng.

Sau khi Hoàng hậu qua đời, Tịnh Phạn vương giao Thái tử cho bà Ba Xà Ba Đề (Prajàpati) nuôi dưỡng. Ngài lại truyền mời các Thầy tướng số vào đền để xem tướng cho Đông cung. Khi xem xong, các tướng sư đều thưa: "Tâu Đại vương! Cứ theo sách xưa nói, thì người nào đủ 32 tướng như Thái tử đây, sẽ có hai việc: một là được làm Chuyển luân Thánh vương, cai trị bốn châu thiên hạ, bảy báu đầy đủ. Hai là nếu xuất gia, tất sẽ thành Phật, độ vô lượng chúng sinh.” Vua hỏi: "Những tướng ấy như thế nào?" Các tướng sư đều chỉ rành rẽ mỗi mỗi trong 32 tướng. Tịnh Phạn vương rất vui đẹp.

Trong ngày đó, Thủ môn quan lại báo tin có A Tư Đà tiên xin yết kiến. Vua truyền mời vào, đảnh lễ tiên nhơn, thỉnh ngồi trên bảo tọa, rồi thưa rằng: "Chẳng hay tiên trưởng đến đây có điều chi dạy bảo?" Đạo sĩ đáp: "Thưa Đại vương! Tôi xem thiên tượng, biết Ma Nạp Bà Tỷ Giả Bồ tát đã vào thành này. Nay nghe Đại vương mới sinh Thái tử, nên muốn xin cho được thấy mặt.”

Quan Ngự thị thưa: "Thái tử hiện đang ngủ.” Tiên nhơn mỉm cười đọc bài kệ:

Ngựa hay không ngủ nhiều,

Nửa đêm tạm thời nghỉ,

Việc định làm chưa xong,

Sao để say thần trí?

Vua truyền bảo cứ vào bồng ra. Khi quan Ngự thị bồng Thái tử vừa đến đại điện, Ngài bỗng mở mắt, vẻ mặt tươi tỉnh. Đạo sĩ A Tư Đà lặng lẽ xem tướng xong rồi hỏi: "Các tướng sư khác nói như thế nào?" Vua y lời trước thuật lại. Tiên nhơn bảo:

Các tướng sư ấy nói chẳng đúng,

Trong đời Mạt pháp không Luân vương.

Nếu như bậc chúa hóa bốn châu,

Thì tướng Luân vương chưa hiện đủ.

Mà nay có được thắng duyên này,

Quyết định về sau sẽ thành Phật.

Vua Tịnh Phạn nghe nói Thái tử sau sẽ tu hành, chứng cam lộ pháp, thì lặng lẽ không vui (Tỳ Nại Gia Tạp Sự).

Tiết VI. Thái Tử Học Tập Văn Võ.

Thái tử dần dần lớn khôn. Tịnh Phạn vương rất chìu quí con, cấp cho đủ các thứ xe: voi, ngựa, trâu, dê, và năm trăm kẻ thương đầu như bọn Xa Nặc... để theo hầu hạ. Năm Thái tử lên bảy tuổi, vua cho thỉnh 500 vị Bà la môn tài đức vào Hoàng cung, để dạy con về các môn: thiên văn, địa lý, toán số, kỹ thuật, nghị luận, văn học, võ nghệ. Trong các giáo sư, có ông Tỳ Xa Mật Đa La về văn học tỏ ra xuất sắc, còn ông Sằn Đề Đề Bà thì tinh thông về võ nghệ. Trí thông minh của Thái tử rất phi thường không ai sánh kịp. Học chẳng bao lâu mà Ngài đã thông suốt mọi ngành. Các Thầy dạy của Ngài dần dần đều cảm thấy sự học vấn của mình có hạn, mà chỗ hiểu biết của vị đồ đệ lại sâu rộng vô cùng. Rốt cuộc các ông vừa tự thẹn vừa khen ngợi bái phục, trở lại tôn xưng Thái tử là bậc Thầy, rồi từ biệt ra về.

Khi Thái tử được mười bảy tuổi (có thuyết nói 16 tuổi), vua hội quần thần lại để bàn định việc hôn phối cho con. Một quan đại thần tâu: "Thưa đại vương! Bà la môn Ma Ha Na Ma thuộc giòng họ Thích, có một người con gái tên Da Du Đà La (Yasodharà Đặc Dự), Trí tuệ thông minh, tư dung xinh đẹp, tài hạnh hơn người. Cô ấy có thể làm vị nguyên phối của Thái tử.” Vua sai người đến nhà Trưởng giả Ma Ha Na Ma, quan sát trong bảy ngày, thấy quả đúng như thế, liền cho sứ giả sang làm lễ thông vấn, rồi lựa ngày tốt để nghinh hôn. Sau khi kết hôn, Thái tử đối với Da Du Công nương, trong khi đi đứng trò chuyện vẫn sánh đôi cùng nhau, nhưng thường lãnh đạm không có niệm thế tục. Ban đêm thanh vắng, Ngài thích tĩnh tọa chuyên tu Thiền quán (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Công nương Da Du Đà La cũng có hiệu là Cù Di, cha là Ma Ha Na Ma tức Xá Di Trưởng giả (Thủy Quang), mẹ là Nguyệt Nữ Phu nhân. Khi Cù Di mới sinh, mặt trời sắp lặn, ánh tịch dương phản chiếu khắp trong nhà sáng rỡ, nhân đó Công nương lại có hiệu là Minh Nữ. Ngoài Cù Di là bạn nguyên phối, Thái tử lại có hai bà phi khác là Da Duy Đàn, con của Di Thi Bà la môn, và Lộc Dã, con của Thích Trưởng giả. Vua Tịnh Phạn xây cất cho ba vương tức ba tòa điện các, mỗi điện có đến hai vạn thế nữ. (Đối chiếu các kinh: Phật Thuyết Thập Nhị Du, Vị Tằng Hữu, thoại Ứng, Tu Đạt Noa).

Tiết VII. Mấy Cuộc Nhàn Du.

Một hôm, Thái tử nghe các cung nữ hát những bài vịnh cảnh vườn cây tươi tốt, ngọn suối reo thanh, bỗng động ý nhàn du. Ngài suy nghĩ: "Nếu ta cứ ở mãi trong cung, làm sao biết được cảnh vật bên ngoài thế nào?" Nghĩ xong, Thái tử tâu với Phụ vương xin ra ngoài thành du ngoạn. Vua Tịnh Phạn nghe nói vui vẻ ưng thuận, sai quan quân cùng đi với Đông cung.

Khi đi đến một cánh đồng, Thái tử trông thấy những người nông phu quần áo lam lũ, làm việc dưới ánh mặt trời nóng bức, xem ra rất là vất vả. Ngài lại thấy mỗi lần cày đất lên, loài côn trùng lớp bị đứt đoạn, lớp bò ra, những chim muông tranh nhau bay xuống bắt chúng để ăn. Mục kích cảnh ấy, Thái tử động lòng thương xót than rằng: "Cuộc đời là một chuỗi nhọc nhằn, khổ sở, xâu xé lẫn nhau như thế ư? Ta phải làm thế nào để cứu vớt chúng sinh thoát mọi nỗi khổ?” Du ngoạn xong, Ngài cùng các quan trở về thành, bên lòng canh cánh một tâm niệm không vui.

Cách ít lâu sau, Thái tử lại tâu với vua cha xin ra ngoài thành du lãm. Trước tiên, Ngài cùng quan quân hộ vệ ra cửa thành phía đông. Đang lúc dạo chơi vui vẻ, Thái tử bỗng thấy một ông lão lưng còm, tóc bạc, khí lực suy vi, tuy có chống gậy song lối đi đứng xem ra nhọc mệt. Nhìn qua cảnh đó, Ngài suy nghĩ: "Bóng thiều quang thấm thoát trôi mau, cái già sẽ đến không mấy lúc. Ta tuy giàu sang quyền thế, nhưng làm sao tránh khỏi cảnh này! Tại sao người đời không nghĩ đến nỗi khổ sẽ đến với mình mà tìm phương Giải thoát, lại an nhiên trong vòng dục lạc?”

Kế đó, Thái tử ra dạo cửa thành phía Nam. Lần này vua Tịnh Phạn cho người sửa sang, quét dọn trước đường sá. Dọc theo bên lộ, cách khoảng lại có treo những lọng, phướn và đốt hương rải hoa. Nhưng không may, trong lúc du ngoạn, Thái tử thấy một người bệnh gầy yếu vàng vọt, tay chân run rẩy, miệng không ngớt kêu rên. Bệnh nhân do hai người dìu đỡ, đang đi khập khiễng bên lộ. Ngài liền bảo quan quân dừng lại, rồi vội vã xuống xe, dùng lời từ ái hỏi thăm an ủi, lại cởi chuỗi ngọc trong mình ban cho để thân nhân kẻ bệnh lo việc thuốc thang. Trải qua cảnh ấy, Thái tử mất hết hứng thú vui chơi, truyền quan hộ vệ đẩy xe về cung.

Lần thứ ba, Thái tử ra dạo cửa thành phía Tây. Mấy kỳ trước, sau cuộc du ngoạn trở về, vua Tịnh Phạn thấy con có nét u buồn, hỏi thăm kẻ tùng nhân đã biết rõ duyên cớ. Vì thế lần này vua cho một vị Bà la môn trẻ tuổi, đủ tài thông minh hùng biện, tên là U Đà Di, đi theo làm bạn với Thái tử. Nơi thành ngoại, vua lại ngầm sai quân ngăn không cho kẻ già, bệnh ra đường. Chẳng những các lối đi sửa sang trang nghiêm hơn trước, mà ở mấy khuôn viên ngoài thành. Tịnh Phạn vương cũng đặt sẵn những đoàn âm nhạc ca vũ, cho cảnh trí tăng thêm vẻ vui tươi. Nhưng trong lúc đoàn du ngoạn đang vui bước dần dần dạo chơi ra xa, một đám ma từ đàng kia đi đến. Theo sau đó, các thân nhân người chết kêu khóc thảm thiết bi ai. Sau khi hỏi biết đó là đám ma mà người ta đem đi nơi xa vắng để hỏa táng, Thái tử lộ vẻ buồn bực, truyền quay xe trở về. Ưu Đà Di hết sức khuyên lơn, song cũng không được.

Một thời gian sau, Thái tử lại xin vua cha cho đi dạo ngoài cửa thành phía Bắc. Tịnh Phạn vương không nỡ ngăn cản, nhưng đã trải qua mấy phen sơ hở trước, kỳ này Ngài sai quân triệt để ngăn ngừa các nơi ở thành ngoại, không cho Thái tử thấy một tướng trạng nào có thể gọi là bất tường. Vua lại cho sửa sang khung cảnh du ngoạn thật bội phần trang nghiêm, và dặn những kẻ tùng nhân khuyên Thái tử khi dạo chơi nên dùng ngựa để trông thấy rõ cảnh đẹp bốn bề. Sáng hôm sau, Thái tử cùng Ưu Đà Di và hàng quan thuộc cưỡi ngựa chậm rãi ra khỏi thành. Khi đến một khu vườn, Ngài cho các tùng giả tản đi dạo chơi xung quanh, rồi xuống ngựa lại gốc cây ngồi yên lặng một mình, vẩn vơ lo nghĩ đến cảnh già, bệnh, chết. Lúc ấy từ đàng xa, một vị Sa môn mặc pháp phục, ôm bát, cầm tích trượng khoan thai đi đến. Thấy tướng trạng an nhàn tự tại đó, Thái tử bỗng sinh lòng hoan hỷ, đứng lên đón hỏi đạo nhân về mục đích của sự tu hành. Vị Sa môn đáp: "Cảnh thế gian đều Vô thường giả huyễn, người đời vì mê theo dục nhiễm, nên bị lôi cuốn trong vòng buộc ràng khổ não. Mục đích tu hành của tôi là trừ lòng tham trước nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, đem tâm vào nơi điềm đạm vô vi, dần dần sẽ chứng quả Niết bàn, thoát nẻo luân hồi, hằng được an nhàn tự tại. Khi tự mình đã Giải thoát, lại đem đạo mầu mà hóa độ chúng sinh.”

Nghe mấy lời ấy, Thái tử cảm thấy sự lo nghĩ từ trước thoạt tiêu tan, nơi trí mở ra lối đi quyết định. Ngài buộc miệng khen: "Lành thay! Ở trong đời chỉ có việc này là cao quí hơn cả.” Trên con đường về, Thái tử luôn luôn lộ vẻ vui tươi; nhưng khi vào đến cửa hoàng thành, gương mặt Ngài bỗng ẩn nét lo buồn. (Lược thuật theo Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Tiết VIII. Thái Tử Xuất Gia.

Sau khi du ngoạn bốn cửa thành trở về, Ưu Đà Di thấy Thái tử hằng trầm tư, sợ Ngài có quan niệm thoát tục, liền lựa dịp khuyên can: "Đại vương dạy tôi làm bạn với Thái tử, để có sự đắc thất thì khuyên nhủ cùng nhau. Mà đạo bằng hữu kết yếu lại chỉ có ba điều: 1. Nếu thấy có lỗi phải khuyên can nhau. 2. Thấy có việc tốt thì mừng cho nhau. 3. Gặp lúc nguy khổ, không rời bỏ nhau. Nay tôi đem lời thành thật tỏ bày, mong Thái tử chớ để tâm phiền trách: từ xưa đến nay, theo thông lệ, các bậc vương giả đều hưởng sự vui ngũ dục trước, rồi mới xuất gia. Song đó chỉ là điều phụ, mà thật ra phần chính là: nhiệm vụ đối với việc trị nước an dân và bổn phận đối với gia đình, chủng tộc. Nay tôi xem ý Thái tử dường như không thích con đường ấy, là bởi tại sao?" Thái tử đáp: "Ta không bảo rằng thú ngũ dục không vui. Song thử hỏi: Các vị vương giả ấy bây giờ còn chăng? Và ở đâu? Hay là do say đắm theo dục lạc, gây nhiều nghiệp duyên tội chướng mà bị đọa lạc rồi? Ta không bảo việc trị nước an dân là không quan trọng, song địa vị quốc vương dù không có người này, cũng còn lắm kẻ tài đức khác. Ta cũng không bảo tình nghĩa gia tộc là không thiết yếu, nhưng theo ý ta, đó là một tình thương và nhiệm vụ trong khuôn khổ nhỏ hẹp, sao bằng tình thương khắp cả sinh linh, nhiệm vụ cứu độ muôn loài thoát nẻo luân hồi đau khổ?" Ưu Đà Di đem hết nguồn biện luận để khuyên ngăn, song rốt cuộc rồi cũng đuối lý (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Sau khi suy nghĩ kỹ, muốn thoát khỏi nỗi khổ già, bệnh, chết, duy đường lối tu hành là có thể hy vọng, Thái tử đã quyết chí xuất gia.

Một hôm, thừa lúc Tịnh Phạn vương vui vẻ, Thái tử sửa y phục nghiêm chỉnh đến bạch rằng: "Thưa Phụ vương! Giàu sang quyền thế, ngày kia sẽ hết; ân tình hội hợp, có lúc phải chia ly. Xin Phụ vương cho con xuất gia tu hành để độ thoát lấy mình, gia thuộc, và tất cả chúng sinh.” Vua tịnh Phạn nghe nói, một viên đá bị chảy Kim Cang đập nát thế nào, thì tâm trạng buồn khổ, thất vọng, rã rời của Ngài cũng như thế ấy! Vua cầm tay Thái tử, lặng thinh giây lâu mới nói được một câu nho nhỏ: "Con nên bỏ ý kiến đó đi, đừng làm cho cha sầu não!" Thái tử thấy Phụ vương bi lệ không cho, bèn lạy chào trở về cung, âm thầm suy nghĩ phương pháp thoát ly.

Khi biết Thái tử có chí xuất trần, vua Tịnh Phạn cho quân ngày đêm canh giữ hoàng thành nghiêm nhặt. Ngài lại dặn Công nương Da Du Đà La và các nội quan trông chừng, nếu thấy Thái tử có hành động gì khác thường, phải lập tức cho hay.

Một đêm, sau cuộc tiệc vui liên tiếp mấy hôm, tất cả đoàn âm nhạc ca vũ trong cung, cho đến Công nương Da Du Đà La đều mệt mỏi yên giấc. Riêng Thái tử nằm trằn trọc không ngũ, Ngài suy nghĩ: "Ngày tháng chóng qua, tuổi xuân không trở lại, ta phải sớm thoát ly, không nên dần dà như thế này mãi.” Nghĩ đến đó, Ngài bỗng nghe văng vẵng có tiếng nói: "Những hạnh nguyện đã tu từ vô lượng kiếp đến nay, hiện đã tới thời kỳ thuần thục. Thái tử nên mau xuất gia, mọi việc đã có chúng tôi giúp đỡ.” Lúc ấy, Công nương Da Du Đà La bỗng chợt thức giấc, gọi Thái tử nói với giọng đầy vẻ sợ hãi: "Thiếp vừa nằm mộng thấy liên tiếp ba điềm: Mặt trăng rơi xuống đất, gẫy một chiếc răng và rụng cánh tay mặt, không biết đó là triệu chứng gì?" Thái tử an ủi: "Việc chiêm bao hư huyễn không thật, nàng hãy yên tâm nằm nghĩ.”

Đợi Công nương yên giấc xong, Thái tử nhẹ bước ra ngoài, gọi kẻ hầu thân tín là Xa Nặc (Chana) bảo thắng yên cương con bạch mã Kiền Trắc đem đến, Xa Nặc nghe nói kinh hãi, trong lòng dụ dự, nửa không dám trái lời vua dặn, nửa lại sợ oai lực Thái tử, chỉ rơi nước mắt thưa: "Đang lúc giữ đêm, không phải giờ du ngoạn, cũng không phải vì đem quân ra ngăn giặc, chẳng hay có chuyện chi cấp thiết mà Đông cung phải cần đến ngựa?" Thái tử bảo: "Ta muốn vì tất cả chúng sinh hàng phục giặc phiền não, ngươi chớ nên trái ý.” Biết không thể cưỡng được, Xa Nặc sắp sửa yên cương, rồi Thầy trò vượt ra thành. Do sức chư thần, nên quân canh gác đều ngủ mê man không hay. Con Kiền Trắc chạy mau như gió, vừa lúc bình minh đã đến bờ sông A Nô Ma. Thái tử xuống ngựa, cắt tóc, đem trân phục nơi thân đổi lấy bộ cà sa của người thợ săn dùng giả trang để bắn thú, hoàn thành hình tướng Sa môn. Xa Nặc thấy thế, tỏ vẻ bi ai, quyến luyến! Thái tử an ủi: "Ngươi chớ nên thương buồn, vì người đời có hợp tất có tan. Như khi ta mới sinh ra bảy ngày thì mẫu hoàng đã mạng bạc. Rất đỗi mẹ con chí thiết, mà còn có lúc tử biệt Vô thường, huống nữa là những tình trường riêng khác! Thôi ngươi hãy về đem ý ta thuật lại, nói ta có lời xin lỗi cùng phụ hoàng, di mẫu và tạm biệt Công nương.” Nói xong, Thái tử xây mình chẫm rải bước đi; Xa Nặc đứng lặng lẽ trông theo cho đến khi Ngài khuất bóng (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Lúc ấy, nhằm đêm mùng tám tháng hai, Thái tử được 29 tuổi và đã có con là La Hầu La (Ràhula). (Tỳ Nại Gia Tạp Sự theo kinh Q.K.H.T.N.Q thì Thái tử xuất gia lúc 19 tuổi; khi ấy Công nương Da Du mới có thai).

Vua Tịnh Phạn hay con đã xuất gia, liền cho năm người tôn thân là: Kiều Trần Như (Àjnàta Kaundinya) A Thấp Bà (Asvajit a Thuyết Thị) Bạt Đề (Bhadrika), Ma Ha Nam (Mahànàma), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala Kàsyapa Bạt Đà) đi theo Thái tử để làm Thị giả (Phật Học Đại Cương).

Tiết IX. Thái Tử Hỏi Đạo.

Sau khi xuất gia, Thái tử đi tìm chỗ ở của Bạt Già Bà tiên nhơn (Bhàrgava) để hỏi đạo. Khi đến nơi, Ngài thấy những vị ở đây tu nhiều thứ khổ hạnh: Có kẻ dùng cỏ, hoặc vỏ cây, hoặc lá cây làm y phục. Có kẻ ăn một ngày một bữa, hoặc hai ngày, ba ngày một bữa. Có kẻ thờ nước, lửa, hoặc thờ mặt trời, mặt trăng. Có kẻ đứng co một chân, hoặc nằm dưới đất, trên gai, miểng, hoặc nằm gần bên nước lửa. Thái tử hỏi tiên nhơn rằng: "Các ông tu khổ hạnh như thế để cầu quả báo gì?" Bạt Già Bà đáp: "Chúng tôi cầu sinh lên cõi Trời.” Thái tử nói: "Chư Thiên tuy hưởng nhiều sự vui, song khi phước hết phải chịu luân hồi, lạc vào khổ thú. Lối tu của các ông là đem cái khổ để đổi lấy cái vui giả tạm. Ví như khách hàng hải vì của báu mới chịu khó nhọc đi ra biển; vị quốc vương vì đất đai mới đem binh đánh dẹp các nơi. Nhưng của báu cùng đất đai đâu phải luôn luôn thuộc về mình? Vậy lý tưởng của các ông không phải là con đường Giải thoát cứu cánh" (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Kế đó Thái tử lại đi đến chỗ A Ra La Ca Lan tiên nhơn (Àràda Kàlàma), ở phụ cận kinh thành Tỳ Xá Ly (Vaisàlì), mà hỏi về đạo Giải thoát. Sau một hồi đối đáp, Ngài biết vị tiên nhơn này lấy cảnh giới Vô sở hữu xứ làm Tối thượng Niết bàn. Nhưng cảnh giới này là quả báo của sự siêu việt tất cả tư tưởng hữu vi. Khi thọ quả báo ấy, thân tâm tạm nghỉ, nhưng chủ thể của quả báo là cái "ta" do nhân duyên giả tưởng hòa hợp vẫn còn. Mà còn cái "ta", tức là còn mầm mống của sự khổ não. Thái tử biết đạo lý này cũng chưa phải là nguồn cứu cánh Giải thoát, nên Từ biệt tiên nhơn ra đi (Phật Học Đại Cương).

Sau khi từ giả nơi đây, Thái tử lại đi đến chỗ tiên nhơn Uất Đà La Ca Ma Tử (Udraka Ràmaputra) ở khu rừng ngoài thành Vương Xá (Ràjagrha), mà hỏi rằng: "Làm thế nào để đoạn được sinh tử?" Tiên nhơn đáp:

“Nguồn gốc muôn loài

Do bởi minh sơ

Từ nơi minh sơ

Mà sinh ngã mạn

Từ nơi ngã mạn

Sinh ra si tâm

Từ nơi si tâm

Mới có ngã ái

Từ nơi Ngã ái

Sinh năm vi trần

Từ năm vi trần

Mà có ngũ đại

Từ nơi ngũ đại

Sinh tham, sân, si

Rồi do bởi đó

Mới có luân hồi

Sinh, già, bệnh, chết

Buồn, khổ, thương, lo

Nay tôi vì Ngài

Nói lược đại khái.”

Thái tử lại hỏi: "Đó là nguồn gốc sinh tử, theo chủ thuyết của tiên trưởng; còn phương tiện dứt trừ phải làm thế nào?" Tiên nhơn đáp: "Muốn đoạn trừ sinh tử, phải xuất gia, giữ giới, nhẫn nhục khiêm ty, lìa những điều ác, ở chỗ vắng vẻ, tu tập Thiền định. Do công tu tập lâu ngày, tâm yên tĩnh, có giác có quán, được vào Sơ Thiền. Kế đó trừ giác quán, định tâm thêm thuần, lòng được hoan hỷ, vào Nhị Thiền. Rồi bỏ hoan hỷ, chánh niệm, được sự vui nhiệm mầu, vào Tam Thiền. Lại phải trừ tâm khổ vui, được tịnh niệm và xả căn, vào Tứ Thiền. Nhưng Tứ Thiền chưa phải là Giải thoát, phải tiếp tục trừ sắc tưởng, được Không xứ định; dứt hữu đối tưởng, được Thức xứ định; diệt vô lượng thức tưởng duy quán một thức, được Vô sở hữu định; lìa các thức tưởng, được Phi tưởng phi phi tưởng định. Đó là cứu cánh Giải thoát, là bỉ ngạn của người tu.” Thái tử hỏi: "Môn định Phi phi tưởng của tiên trưởng nói, có ta hay không ta? Nếu không ta thì chẳng thể gọi là Phi phi tưởng. Nếu có ta thì cái ta ấy có biết hay không biết? Nếu không biết tất đồng với gỗ đá, có biết thì tâm phan duyên. Tâm đã theo duyên tất có nhiễm trước, và đã nhiễm trước thì đâu phải là Giải thoát?”

Tiên nhơn nghe nói lặng thinh (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Chương V: Đức Thích Tôn Sau Khi Thành Đạo.

+ Tiết Mục:

I. Đêm thành đạo.

II. Hai mươi mốt ngày suy nghĩ.

III. Đức Phật chuyển Pháp luân.

IV. Nhân duyên giáo hóa.

V. Giáo đồ đạo Phật.

VI. Đức Thế Tôn vào Niết bàn.

+ Pháp tạng trích dẫn:

- Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm,

- Phật Học Đại Cương,

- Kinh Trung A Hàm,

- Kinh Trường A Hàm,

- Kinh Đại Bát Niết bàn,

- Kinh Giải Thâm Mật,

- Kinh Phật Thuyết Sơ Phần,

- Tỳ Nại Gia Tạp Sự,

- Mâu Ni Sử Lược,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử,

- Kinh Kim Quang Minh,

- Kinh Du Hành.

+ Đề yếu: Hai tiết mục đầu, kể lại lịch sử lúc Phật thành đạo và mối suy nghĩ khi Ngài sắp ra độ sinh. Tiết thứ ba, giải thích từ ngữ chuyển pháp luân, ý nghĩa của sự việc này, và sau rốt nói đến ba thứ bậc pháp luân, ý nghĩa của sự việc này, và sau rốt nói đến ba thứ bậc pháp luân, từ thiển cận đi vào thâm thúy. Tiết thứ tư lược thuật đại khái những nơi đức Thế Tôn du hóa và đồ chúng hữu danh của Ngài. Tiết thứ năm tuy có đề cập cả hai chúng tại gia xuất gia, song phần chủ yếu là nói về nếp sống của hàng xuất gia và lối tổ chức của Giáo đoàn này. Tiết mục sau cùng, diễn thuật ý nghĩa Niết bàn và những lời di chúc của đức Thế Tôn mà đại yếu là: lấy pháp luật làm Thầy, lấy Giải thoát làm mục tiêu, lấy tam học làm phương tiện.

Tóm lại, sáu tiết mục của toàn chương rút ngắn lại nửa đoạn đời về sau của Phật từ khi thành đạo, đi hóa duyên rồi vào Niết bàn, tuy thô sơ nhưng cũng tạm gọi là đầy đủ.

Tiết I. Đêm Thành Đạo.

Sau khi hỏi đạo các nơi, không vị nào thuyết minh cho được thỏa mãn, Thái tử đi lần đến tụ lạc Ưu Lâu Bệ La (Uruvelà), bên mé sông Ni Liên Thiền (Nairanjanà) thuộc miền Đông Bắc Ấn Độ. Kế đó, Ngài vào vùng phụ cận là Khổ hạnh lâm, tu chung với hàng ngoại đạo tại núi Tượng Đầu, trong thời gian sáu năm. Mỗi ngày Thái tử chỉ ăn một hạt mè, một hạt đậu, thân thể gầy ốm đến đỗi chỉ còn da bọc xương. Trong sáu năm ấy, Ngài chống đối với các quân ma phiền não như: quân tham dục, quân ưu sầu, quân đói khát, quân ái nhiễm, quân hôn thụy, quân sợ hãi, quân nghi hối, quân sân hận, quân bi thương, quân tự cao, quân tà mạng... Trải qua thời gian dài tinh tấn khổ nhọc như thế mà vẫn không được gì, Thái tử phát kiến hai xu hướng sai lầm: cuộc sống quá phóng túng, hoặc trái lại quá khắc khổ, đều không phải là phương tiện Giải thoát. Nhân đó, Ngài xuống sông Ni Liên Thiền tắm gội sạch sẽ, và thọ bát sữa cúng dường của mục nữ Thiện Sanh (Sujàta Tu Già Đà).

Sau khi thọ thực trở lại, khí lực và dung sắc Thái tử dần dần phục hồi. Năm người Thị giả thấy thế, tưởng là Ngài đã thối chuyển, liền bỏ đi qua xứ Ba La Nại Tư (Bàrànasì). Thái tử một mình đi đến xứ Phật Đà Già Da (Buddhagayà), rải cỏ Kiết tường làm tòa, ngồi Kiết già nơi gốc cây Tất bát la (Pippala), mặt hướng về phương Đông. Trước khi Thiền định, Ngài phát thệ rằng: "Nếu không chứng được đạo Vô thượng Bồ đề, thì dù thân này có tan nát, ta cũng quyết không rời khỏi nơi đây.” Phát nguyện xong, Thái tử yên lặng vào cảnh Thiền tư trong vòng 49 ngày (Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm).

Đêm ấy, nhằm hôm mùng tám tháng chạp, sau khi hàng phục ma quân, Thái tử ngồi lặng lẽ trong Thiền định.

Vào khoảng canh hai, Ngài chứng được Túc mạng minh, thấy biết nghiệp nhân của mình và tất cả chúng sinh nhiều đời về trước, từ việc làm lành làm dữ, cha mẹ quyến thuộc, giàu sang nghèo hèn, thọ yểu xấu đẹp, cho đến mỗi đời tên họ là gì, đều biết rành rẽ.

Đến nửa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh, thấy rõ ba cõi sáu đường, những cảnh giới hoặc an vui, hoặc nhơ khổ, chúng sinh hoặc xinh đẹp, hoặc xấu xa, rõ ràng như nhìn trong gương.

Và đến lúc sao mai mọc lên, Ngài chứng được Lậu tận minh, dứt sạch phiền não, rõ hết đầu mối nghiệp duyên, tâm thể lặng yên sáng suốt. Bấy giờ Ngài đã thành Phật.

Nội dung của sự giác ngộ chân chính này, có thể giải đáp vấn đề nhân sinh một cách mỹ mãn. Trước kia Ngài thắc mắc về hai yếu điểm:

1. Già, bệnh, chết và tất cả sự ràng buộc khổ não của kiếp người do đâu mà có?

2. Làm thế nào để Giải thoát những điều ấy?

Và đây là lời giải đáp:

1. Do Vô minh làm mê mờ bản thể, nên mới có sinh, già, bệnh, chết, lo thương buồn rầu.

2. Muốn được Giải thoát phải có chánh kiến dứt trừ phiền não, trở về bản tánh, tức là phải tu theo con đường Bát chánh.

Đây là đạo lý căn bản của Phật giáo nguyên thủy, khái quát cả pháp môn Tứ diệu đế và Thập nhị nhân duyên.

Thái tử Tất Đạt Đa thành đạo vào lúc 35 tuổi (có thuyết nói 30 tuổi), Thánh hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai (Sàkyamuni Năng Nhân Tịch Mặc) (Phật Học Đại Cương).

Tiết II. Hai Mươi Mốt Ngày Suy Nghĩ.

Sau khi thành Chánh giác, trong bảy ngày đầu, đức Thế Tôn ngồi nơi cội cây Tất Bát La (Pippala), Phạm vương đến thỉnh Phật chuyển Pháp luân. Trong bảy ngày thứ hai, Ngài ngồi nơi cội cây A Du Ba La (Ajapala), bấy giờ Ma vương đến khuyên Phật nhập diệt. Trong bảy ngày thứ ba, Ngài ngồi nơi cội cây Mục Chân Lân Đà (Mucilinda), lúc ấy mưa to gió lớn nổi lên, Mục Chân Lân Đà long vương hóa ra bảy đầu, dùng thân che mưa gió cho Phật. Trong vòng 21 ngày đó, bảy ngày đầu đức Thế Tôn yên lặng suy xét và nhận lời thỉnh của Phạm vương; mười bốn ngày sau Ngài dùng Phật nhãn quán sát các căn cơ và phiền não theo thứ bậc thượng, trung, hạ của chúng sinh.

Đã quyết ý ra độ sanh, đức Như Lai lại đến nơi cội cây La Xà Gia Hằng Na (Ràjàvatana) ngồi Thiền định. Lúc ấy có hai người thương chủ là Đề Vị (Trapusa Bạt Đà La Lê) và Bà Lỵ Ca (Bhallika Bạt Đà La Tư Ca) cùng đồng bọn gồm 500 khách buôn đẩy xe đi ngang qua đó. Sau khi thọ thực cúng dường bánh và mật của hai thương chủ, đức Thế Tôn vì họ truyền tam quy: quy y Phật, quy y Pháp và quy y tương lai Tăng. Đây là những người đệ tử tại gia đầu tiên của Phật.

Trước tiên, đức Thế Tôn ngồi lặng yên không thuyết pháp, bởi nghĩ Phật đạo nhiệm mầu, chúng sinh khó thấu hiểu. Song vì lòng Từ bi sâu rộng, Ngài lại nhận lời thỉnh của Phạm vương, quyết y theo chư Phật đời quá khứ, dùng vô số phương tiện dẫn loài hữu tình vào cảnh giới tự chứng của Như Lai. Khi đã có ý định ấy, đức Phật liền nhớ đến hai tiên nhơn căn trí thông huệ là A Ra La Ca Lan và Uất Đà La Ca Ma Tử (Uất Đầu Lam Phất). Hai vị này trước kia có khẩn cầu Phật, nếu thành đạo xin đến hóa độ mình. Song khi dùng đạo nhãn quán sát, Ngài thấy hai vị tiên ấy vừa mới qua đời. Đức Thế Tôn lại xét đến bọn ông Kiều Trần Như, thấy năm người đó đang ở tại vườn Lộc Dã xứ Ba La Nại. Nghĩ đến chư Phật đời quá khứ đều chuyển pháp luân lần đầu tiên nơi đây, nên Ngài liền đứng lên đi đến xứ ấy (Phật Học Đại Cương).

Giữa đường, đức Thế Tôn gặp hàng dị học là A Kỳ Bà Ca (Àjìvaka Hoạt Mạng), nguyên là một giáo đồ của đạo Kỳ Na. Thấy Phật dung sắc an điềm tươi tỉnh, A Kỳ Bà Ca sinh lòng cung kính hỏi: "Ngài học đạo nào, Thầy Ngài là ai?" Đức Thế Tôn dùng bài kệ đáp:

Ta là bậc tối thắng

Đã thoát hết ái dục

Không nhiễm một pháp nào

Tự giác không có Thầy

Vì ngộ đạo Vô thượng

Đạo này không chi hơn

Như Lai, Thầy trời người

Thành tựu, biết tất cả.

A Kỳ Bà Ca lại hỏi: "Hiện thời, Ngài đi qua đâu?” Đức Phật đáp:

Ta đến Ba La Nại

Đánh trống diệu cam lồ

Chuyển pháp luân Vô thượng

Người đời chưa từng chuyển.

Khi đức Thế Tôn đến vườn Lộc Dã, bọn ông Kiều Trần Như từ xa trông thấy đều hẹn nhau không đứng dậy đón chào. Nhưng khi Phật vừa tới nơi, bất giác năm người đều đứng lên lễ kỉnh, rồi kẻ thì trải tòa ngồi, người đỡ lấy y bát, song vẫn còn gọi Ngài là Trưởng lão Cù Đàm (Kinh Trung A Hàm).

Tiết III. Đức Phật Chuyển Pháp Luân.

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo năm người rằng: "Các ông chớ nên xưng Như Lai là Trưởng lão mà phải gọi là Phật, vì Như Lai đã được Nhất thế trí, đã chứng pháp cam lồ, đã dứt hết nghiệp hữu lậu, đă vắng lặng tự tại. Hãy đến đây, ta sẽ nói phương pháp tu hành, khiến cho các ông hiện đời được Trí tuệ sáng suốt, dứt hết phiền não, thành tựu phạm hạnh và không còn thọ thân hậu hữu. Năm người nghe nói đều sinh lòng vui mừng, chiêm ngưỡng tôn nhan, lặng yên trông chờ diệu pháp (Kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm).

Đức Phật nói tiếp: "Người xuất gia có hai thứ chướng: Một là đắm theo dục cảnh không cố gắng thoát ly, đó là không phải là nhân Giải thoát. Hai là không chịu suy nghĩ chín chắn, tự làm khổ thân mình để cầu thoát ly, đó cũng không phải là nhân Giải thoát. Phải lìa hai lỗi thái quá, giữ theo mực trung mà tinh cần tu tập, mới có thể đến Niết bàn.” Kế đó Phật lại ba lần chuyển pháp luân Tứ Đế (thị chuyển, khuyến chuyển, chứng chuyển). Bọn ông Kiều Trần Như năm người đều chứng quả A la hán, tám muôn na do tha chư Thiên ở trên không nghe pháp mầu, đều được pháp nhãn tịnh.

Lúc ấy năm người đã thấy đạo tích, liền đảnh lễ nơi chân Phật mà thưa rằng: "Bạch Thế Tôn! Hôm nay chúng con muốn xuất gia tu hành ở trong Phật pháp.” Đức Phật bảo: "Thiện tai Tỳ kheo!” Liền đó, râu tóc năm người đều tự rụng, y phục nơi thân hóa thành áo cà sa. Bấy giờ thế gian mới có Tam bảo: đức Phật là Phật bảo, pháp luân Tứ đế là Pháp bảo, năm vị A la hán Tăng bảo (Kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả).

Chuyển Pháp Luân là thế nào? Chữ "Pháp" nguyên ngữ là Đạt ma (Dharma), có nghĩa: pháp luật, pháp tắc, là chân lý căn bản của muôn sự muôn vật. Chữ "Luân" nguyên ngữ là Chước ca la (Cakra), là môn vũ khí hình như bánh xe của Luân vương dùng khi dẹp giặc. Khi bậc Luân vương có oai đức lớn ra đời, thì trên hư không có bánh xe ấy xuất hiện; vua dùng bánh xe này đem quân binh đi đánh chỗ nào, giặc nơi ấy đều tan rã. Vì thế, cổ thuyết Ấn Độ thường gọi vị vua lớn chinh phục bốn phương là Chuyển pháp luân vương. Giáo pháp của đức Phật nói ra có thể phá tan điều ác cùng tà thuyết của ngoại đạo, nay đem ví giáo pháp ấy như bánh xe của Luân vương, nên khi Phật thuyết pháp gọi là Chuyển pháp luân (Phật Học Đại Cương).

Đức Phật bảo:

Các đấng Như Lai nói ra điều chi, đều gọi là chuyển pháp luân. Này thiện nam tử! Ví như luân bảo của Thánh vương có công dụng: những kẻ chưa hàng phục, đều có thể hàng phục; những kẻ đã hàng phục, hay khiến cho được an ổn. Pháp của chư Phật nói cũng như thế, vô lượng phiền não chưa điều phục, đều có thể điều phục; đã điều phục, hay khiến cho sinh căn lành.

Này Thiện nam tử! Ví như luân bảo của Thánh vương hay tiêu diệt tất cả oán tặc; Như Lai thuyết pháp cũng lại như thế, hay khiến cho các mối giặc phiền não thảy đều lặng yên.

Lại này Thiện nam tử! Ví như luân bảo của Thánh vương có thể xoay vần, lên xuống; Như Lai thuyết pháp cũng lại như thế, hay khiến cho những chúng sinh ở các cõi dưới sinh lên nẻo nhân thiên, cho đến khi thành Phật đạo (Kinh Đại Bát nhã Niết bàn).

Khi ấy, Thắng Nghĩa Sanh Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn! Ban sơ nơi Lộc Dã uyển, Ngài chỉ vì hạng người xu hướng về Thanh văn thừa mà chuyển pháp luân Tứ đế. Pháp luân này tuy kỳ đặc ít có, song cũng chưa liễu nghĩa, bởi còn có pháp khác cao thượng, bao quát hơn. Đó là chỗ mà các nguồn tranh luận có thể len lỏi vào.

Trong kỳ thuyết pháp thứ hai, Thế Tôn vì hạng người phát tâm Đại thừa, nói tất cả pháp đều không tự tính, không sanh diệt, bản lai là Tự tính Niết bàn vắng lặng. Lối chuyển pháp luân bằng tướng ẩn mật này tuy rất kỳ đặc ít có, song cũng chưa liễu nghĩa, bởi còn có pháp khác cao thượng, bao quát hơn. Đó là chỗ mà các nguồn tranh luận có thể len lỏi vào.

Hôm nay, trong kỳ thuyết pháp thứ ba, Ngài vì hạng người cầu Nhất thế thừa, nói tất cả pháp đều không sinh diệt, bản lai là thể Tự tánh Niết bàn vô tự tánh vắng lặng. Lối chuyển pháp luân bằng tướng hiển liễu này, thật kỳ đặc ít có bậc nhất, vì là pháp chân liễu nghĩa, không còn chi cao thượng bao quát hơn. Các nguồn tranh luận cũng không còn chỗ nào len lỏi vào được (Kinh Giải Thâm Mật).

Tiết IV. Nhân Duyên Giáo Hóa.

Đức Thế Tôn trải lòng Từ bi bình đẳng, không phân biệt giàu, nghèo, sang, hèn, tại gia hay xuất gia, Ngài đều tùy theo căn tánh mà hóa độ. Cho đến kẻ tiện dân như Ưu Ba Ly, hàng dâm nữ như Liên Hoa Sắc, kẻ hung ác như Ương Quật Ma La, Ngài cũng đem lòng xót thương mà khuyên dạy.

Sau khi bọn ông Kiều Trần Như quay về Chánh pháp tại bản xứ, Trưởng lão Da Xá (Yasas) và nhiều thân hữu cũng quy y Tam bảo. Lúc đó, thế gian đã có sáu mươi vị A la hán. Mùa mưa năm ấy, đức Phật và đồ chúng An cư ở thành Ba La Nại Tư. Sau mùa An cư, đức Thế Tôn cho đệ tử đi các nơi tuyên dương đạo Giải thoát, còn chính Ngài thì đi dọc theo mé sông Ni Liên Thiền, đến chỗ hàng Bà la môn thờ lửa mà khuyến giáo. Tại nơi đây đức Phật hóa độ được ba anh em: Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilvà Kàsyapa), Na Đề Ca Diếp (Nadì Kà), Dà Gia Ca Diếp (Gaya Kà), cùng 1000 đồ chúng của họ (Ưu Lâu 500, Na Đề 250, Dà Gia 250 đệ tử).

Kế đó, đức Thế Tôn cùng hàng môn đệ lại sang thành Vương Xá (Rajagrha), thủ đô của nước Ma Kiệt Đà (Bimbisàra). Sau khi nương về Chánh pháp, vị quốc vương này sai Trưởng giả Can Lan Đà (Karanda) xây dựng ngôi Trúc Lâm Tinh xá giữa khu vườn rộng lớn trồng nhiều cây tre râm mát để hiến dâng cho ngôi Tam bảo. Ở bản xứ có hai vị cao đồ của ngoại đạo San Xà Dạ là Xá Lợi Phất (Sàriputra) và Đại Mục Kiền Liên (Mahàmaudgalyàyana), thông minh tài trí, danh tiếng lẫy lừng. Một hôm đệ tử của Phật là A Thuyết Thị (Mã Thắng Tỳ kheo) đi khất thực. Xá Lợi Phất thấy vị Tỳ kheo này oai nghi đáng kính, liền đón lại hỏi: "Thầy ông là ai?" Mã Thắng đáp: "Thầy tôi là đức Phật Thích Ca Mâu Ni.” Xá Lợi Phất lại hỏi: "Ông ấy dạy những gì?" Mã Thắng dùng bài kệ đáp:

“Các pháp nhân duyên sinh

Cũng theo nhân duyên diệt

Nhân duyên sinh diệt này

Như Lai hằng tuyên thuyết.”

Xá Lợi Phất nghe bài kệ rồi, liền tỏ ngộ, trở về thuật lại với Mục Kiền Liên. Hai người đến quy y Phật và cùng chứng quả A la hán. Hai trăm năm mươi môn đồ của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên cũng đều xin quy đầu Phật pháp. Đến lúc này, đức Thế Tôn đă có 1250 vị A la hán thường đi theo Ngài trong các cuộc giáo hóa.

Cũng tại bản xứ, đức Như Lai đã hiển thần thông hàng phục Lục sư ngoại đạo, khiến cho dân chúng phát tâm tín ngưỡng, rất nhiều người bỏ tục xuất gia. Do đó dư luận phiền phức nổi lên, đức Phật nghe được liền hạn chế: ai muốn xuất gia phải có sự chấp thuận của cha mẹ.

Sau thời gian du hóa nơi đây, đức Như Lai trở về thành Ca Tỳ La độ quyến thuộc và hàng Thích chủng. Ngài đã đem vua Tịnh Phạn và các vương tử vào Chánh pháp. Trong các hàng vương tử, có chính con của Ngài là La Hầu La (Ràhula), người em khác mẹ là Nan Đà (Nanda), em họ là A Nan Đà (Ànanda), Đề Bà Đạt Đa (Devadatta), A Nâu Lâu Đà (Anuruđha) đều xin xuất gia theo Phật.

Một hôm, đức Điều Ngự ở vườn Đa Căn thọ, bà Kiều Đàm Di đến thưa rằng: "Bạch Thế Tôn! Người nữ có thể xuất gia làm Bí sô ni trong Chánh pháp và chứng được quả thứ tư không?" Đức Như Lai biết ý, bảo: "Di mẫu nên cư gia mặc đồ trắng mà tu theo phạm hạnh.” Bà Kiều Đàm Di ba lần thưa thỉnh như thế, song Phật vẫn điềm nhiên. Biết đức Thế Tôn không cho, bà ra ngoài khóc. Thị giả A Nan đi khất thực trở về, thấy thế hỏi ra biết được duyên cớ, liền khuyên bà nên chờ ở ngoài, rồi vào lập lại lời bà Kiều Đàm Di mà thưa hỏi Phật. Đức Thế Tôn bảo: "Người nữ tu hành cũng có thể chứng bốn đạo quả Sa môn, nhưng nếu để cho nữ nhân xuất gia, thì Chánh pháp không trụ lâu nơi đời. Ví như trong một nhà mà nữ nhiều nam ít, gia đình ấy dễ bị ác tặc phá hoại, và như ruộng lúa nếu bị gió mưa sương tuyết quá nhiều, thì lúa sẽ bị hư hao.” Đức Phật còn dùng nhiều thí dụ, nhưng Thị giả A Nan lấy cớ di mẫu có công với Phật và nài nỉ mãi. Sau cùng, đức Thế Tôn bảo: "Nếu người nữ muốn xuất gia trong Chánh pháp của ta, phải giữ tám phép cung kính:

1. Nên cung kính theo bậc Tỳ kheo tăng mà cầu xuất gia.

2. Mỗi nữa tháng phải đến nơi chư Tăng cầu dạy bảo.

3. Không được An cư ở chỗ không có chư Tăng.

4. Chư Tăng được quyền gạn lỗi của Ni, nhưng Tỳ kheo ni không được gạn hỏi và nói lỗi của bên Tăng.

5. Tỳ kheo ni không được giận hờn, mắng trách Tỳ kheo tăng.

6. Tỳ kheo ni dù được 100 tuổi hạ, khi thấy Tỳ kheo tăng mới Thọ giới cũng phải cung kính đảnh lễ.

7. Tỳ kheo ni nếu phạm Học pháp, khi Bố tát phải đến trong hai chúng làm pháp Ma na đỏa.

8. Khi An cư xong, Tỳ kheo ni phải đến trong hai chúng cầu xin Tự tứ về ba việc: thấy, nghe, nghi.

Do ưng thuận giữ gìn theo bát kính pháp, nên bà Kiều Đàm Di và 500 thị nữ đều được Phật cho xuất gia (Lược thuật theo kinh Phật Thuyết Sơ Phần và Tỳ Nại Gia Tạp Sự).

Đức Thế Tôn lại đi đến thành Xá Vệ (Sràvastì) thủ phủ của nước Kiều Tát La (Xá Vệ quốc) mà hóa độ. Vị quốc vương bản xứ là vua Ba Tư Nặc (Prasenajit), có người con là Thái tử Kỳ Đà (Jeta). Thái tử cùng một bậc phú hào trong nước là Trưởng giả Tu Đạt Đa (Sudatta) rất kính mến đức hóa của Phật. Hai ông phát nguyện hoàn thành ngôi Kỳ Viên Tinh xá (Jetavana Vihàra) để cúng dường Tam bảo.

Sau khi đức Thế Tôn thành đạo được 5 năm, thì vua Tịnh Phạn qua đời, Công nương Da Du Đà La cũng được Phật độ cho xuất gia làm Tỳ kheo ni.

Trong vòng 45 năm thuyết pháp (có thuyết nói 49 năm), đức Thế Tôn đã đi du hóa khắp các địa phương. Vùng trung tâm là hai nước: Ma Kiệt Đà, Kiều Tát La; phương Bắc thì xứ Ca Tỳ La Vệ ở gần triền núi Tuyết; phương Tây thì xứ Câu Diệm Di (Kosambi nay Kosam), nước Ma Thâu La (Mathurà); phương Đông thì xứ Chiêm Ba (Campà); phương Nam thì xứ Ba La Nại Tư (Bàrànasì). Các địa phận này đều ở lưu vực sông Hằng và sông Kha Cách Ra (Grogra).

Hàng Phật tử tại gia hiến dâng cho ngôi Tam bảo rất nhiều Tinh xá, lâm viên. Trong đây, những nơi có danh như: Can Lan Đà Trúc Lâm (Kalandaka Vivapa) ở xứ Ma Kiệt Đà; Thệ Đa Lâm (Jetavana Vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc) ở nước Xá Vệ. Cũng tại nơi đây, bà Tỳ Xá Khê (Visàkhà) có dâng cúng khu Đông viên (Mahàvana Đại lâm), trong đó có ngôi giảng đường Lộc Tử Mẫu (Mrgamàtr Pràsàda) rất rộng lớn. Lại, đức Phật cũng thường cư trú những nơi mát mẻ như: Linh Thứu phong (Grdhra Kùta) ở gần thành Vương xá; Ôn Tuyền Lâm (Tapodàràma) ở gần thành Tỳ Xá Ly; Ngưu Giác Sa La Lâm (Gosrnga) ở bờ sông Di Hầu. Tuy nhiên, chỉ có hai Tịnh xá Kỳ Viên và Trúc Lâm là nơi đức Phật hay tới lui giảng đạo nhiều hơn cả.

Đệ tử xuất gia của Phật, bậc hữu danh về bên tăng như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp Ba, A Nan, Phú Lâu Na, Ưu Ba Ly, Ca Chiên Diên, A Nâu Lâu Đà, Tu Bồ Đề, La Hầu La; trong kinh gọi mười vị này là Thập đại đệ tử. Bậc hữu danh về bên ni như: Kiều Đàm Di, Da Du Đà La, Liên Hoa Sắc, Lộc Dã. Đệ tử tại gia của Phật, hạng hữu danh về bên nam như: vua Tần Bà Sa La, vua A Xà Thế ở nước Ma Kiệt Đà; vua Ba Tư Nặc nước Kiều Tát La; đại thần Kỳ Bà, Trưởng giả Tu Đạt Đa... Hạng hữu danh về bên nữ như: bà Tỳ Xá Khê, bà Vi Đề Hi, bà Thiện Sanh, Mạt Lỵ Phu nhân, Thắng Man Phu nhân... Đại khái giáo đồ của Phật ở Ấn Độ thời ấy nhiều vô số, thế lực lấn hơn tất cả giáo phái khác.

Tuy nhiên, trong một đời giáo hóa, đức Phật đã gặp nhiều sự phản đối của ngoại phái, nhất là giáo chúng đạo Kỳ Na. Trong hàng đệ tử của Phật, cũng có Đề Bà Đạt Đa lập mưu hại Ngài ba lần: lần đầu cho người thả voi say rượu, lần thứ hai mướn kẻ bạo ác ám sát, lần thứ ba xô đá trên núi rớt xuống chỗ Phật nằm. Nhưng cả ba lần, mưu sự đều không kết quả, Đề Bà Đạt Đa lại tự xưng là bậc Đại Giác. Sa môn Cù Đàm không phải bậc Đại Giác. Ông tự chế ra năm pháp với ý định lấn phá Giới luật của Phật. Năm pháp ấy là:

1. Trọn đời mặc áo phấn tảo.

2. Trọn đời chỉ khất thực để nuôi sống.

3. Trọn đời, mỗi ngày chỉ ăn một bữa.

4. Trọn đời duy ở ngoài trời, không nương ngụ chùa, hang, Tinh xá.

5. Trọn đời không dùng thịt, cá, sữa, mật và các thứ mỹ vị.

Sự phá hoại của Đề Bà Đạt Đa cũng lôi kéo được một số người, và làm trở ngại cho công cuộc giáo hóa của Phật. Do lòng ác đó, không bao lâu ông bị sinh đọa Địa ngục (Mâu Ni Sử Lược).

Tiết V. Giáo Đồ Đạo Phật.

Trong thời kỳ độ sinh, đức Thế Tôn một mặt tự lãnh đồ chúng đi du hóa. Mặt khác, Ngài cho các Tăng đoàn, mỗi đoàn do một vị Tỳ kheo đức hạnh cầm đầu, đem đạo pháp truyền bá các nơi. Đệ tử của Phật được chia thành bảy chúng như sau:

1. Tỳ kheo (Bhiksu): Phái xuất gia nam, từ 20 tuổi trở lên, đã Thọ giới Cụ túc.

2. Tỳ kheo ni (Bhiksuni): Phái xuất gia nữ, từ 20 tuổi trở lên, đã Thọ giới Cụ túc.

3. Sa di (Sràmanera): Phái xuất gia nam đã thọ 10 giới.

4. Sa di ni (Sràmaneri): Phái xuất gia nữ đã thọ 10 giới.

5. Thức xoa ma na (Siksamàna): Phái xuất gia nữ, trong thời gian hai năm học giới để Thọ giới cụ túc.

6. Ưu bà tắc (Upàsaka): Phật tử tại gia phái nam.

7. Ưu bà di (Upàsika): Phật tử tại gia phái nữ.

Trong đây gồm có năm chúng xuất gia, và hai chúng tại gia.

Giáo đoàn đạo Phật gọi là Tăng già (Sangha). Danh từ này có nghĩa: đại chúng hay hòa hợp. Tăng già có nghĩa rộng và hẹp, nên được khu phân thành ba loại:

1. Lý tưởng Tăng già:

Hạng này không phân biệt tại gia hay xuất gia, vì ai nấy đều là Phật tử, nếu quyết tâm tu hành, đều có thể chứng ngộ, Giải thoát. Lý tưởng tăng già có thể khảo sát theo hai phương diện; về phần lượng, tất cả chúng sinh đều bao hàm ở trong Tăng già; về phần chất, tất cả chúng sinh đều có thể chứng ngộ.

2. Hiện thật Tăng già:

Hạng này chỉ dành riêng cho năm chúng xuất gia, đúng với hình thức, danh nghĩa và sự tổ chức.

3. Hội nghị Tăng già:

Hạng này căn cứ vào nhân số trong các cuộc tập hợp mà thành lập. Nghi thức của sự tập hợp này cần phải có từ bốn người trở lên mới được gọi là Tăng già, từ ba người trở xuống chỉ gọi là "Quần" (Gana). Hội nghị Tăng già tùy theo pháp sự, có thể chia làm năm thứ: hội nghị bốn người, hội nghị mười người, hội nghị hai mươi người và hội nghị từ hai mươi người trở lên.

Sau khi thành đạo, trong mười hai năm đầu, đức Thế Tôn không chế ra Giới luật. Nhưng qua khoảng thời gian ấy, vì đồ chúng đông nhiều, không tránh khỏi cảnh có kẻ làm điều phi hạnh, nên đức Phật mới chế định Giới luật để làm tiêu chuẩn sinh hoạt và tu hành cho các đệ tử. Những giới pháp ấy là: Ngũ giới, Bát quan trai giới, Thập giới, Thức xoa giới, Cụ túc giới và Bồ tát giới. Hai thứ trước thuộc về giới của chúng tại gia, ba thứ kế thuộc về giới của chúng xuất gia, còn Bồ tát giới thông cả tại gia và xuất gia.

Về sự sinh hoạt, người xuất gia còn phải nương vào Tứ y pháp:

1. Y vào khất thực để sinh sống.

2. Y vào áo vải thô để che thân.

3. Y nơi cội cây để ngủ nghỉ.

4. Y vào thuốc hủ nát để chữa bịnh.

Trọng tâm của pháp Tứ y là người xuất gia không thiên về cuộc sống xa hoa, mà chỉ lấy sự thanh đạm làm mãn nguyện. Tuy nhiên, tùy địa phương, thời đại và trường hợp, người xuất gia vẫn được thọ dụng: giảng đường, Tinh xá, thức ăn mặc, thuốc men của đàn việt cúng dường mà không trái với Tứ y pháp.

Vật sở hữu của người xuất gia, có cá nhân sở hữu và Tăng già sở hữu. Cá nhân sở hữu gồm những món đại khái như: áo cà sa, bát, đãy lọc nước, dao cạo, ống kim chỉ, tọa cụ, khăn tay... Tăng già sở hữu gồm những thứ như: vườn cây, giảng đường, Tinh xá, giường bàn... đều là những vật công cộng của toàn thể chư Tăng, ai cũng có quyền sử dụng.

Công việc hằng ngày của người xuất gia là: buổi sáng hoặc ngồi Thiền, hoặc cùng nhau đàm đạo ôn lại lời Phật dạy. Trước giờ ngọ phải đi khất thực, rồi đem về Tinh xá hoặc nơi cội cây thọ trai đúng giữa trưa. Thọ trai xong đi kinh hành, kế chỉ tịnh. Xế qua, hoặc lại chuyên tu hành, hoặc giảng đạo hay nghe thuyết pháp. Buổi tối họp nhau bàn về pháp thoại rồi tham Thiền. Đây là sự sanh hoạt theo đoàn thể, còn lối sinh hoạt cá nhân tùy theo người muốn giảng đạo hay chuyên tu lại có phần sai khác. Tóm lại, lối sống hằng ngày của người xuất gia là lấy sự độ mình độ người làm chủ yếu.

Bộ phận về quy luật của hàng xuất gia là các loại giới pháp. Ngoài ra, còn có bộ phận khác gọi là Kiền độ (Khandaka), tức là những định chế về cách thức Thọ giới, Bố tát, An cư, Tự tứ, gọi chung là Tăng sự. Trong các thứ Thọ giới, riêng về giới Cụ túc, lại có hai hạng: một là hạng do các Trưởng lão Tỳ kheo trong Tăng đoàn truyền, giới tử phải là người sáu căn đầy đủ và 20 tuổi trở lên. Hạng này gọi là Phá kiết sử Tỳ kheo. Hai là hạng do Phật hứa khả, gọi là Thiện lai Tỳ kheo, tức là người có đủ đức tánh Tỳ kheo, thì không theo quy định trên.

Về nghi thức Bố tát (Upavasatha), trong mỗi tháng có hai kỳ: tối trời và sáng trăng (hắc nguyệt, bạch nguyệt). Kỳ hắc nguyệt, pháp sự cử hành vào ngày cuối tháng, kỳ bạch nguyệt thì vào ngày trăng tròn. Trong những ngày ấy, người xuất gia vân tập riêng theo hai bộ Tăng, Ni ở trong một phạm vi kiết giới. Sau khi bạch yết ma làm lễ Bố tát, một vị tụng bạch yết ma làm lễ Bố tát, một vị tụng giới bổn, còn bao nhiêu lặng yên ngồi nghe. Tất cả đều tự phản tỉnh, nếu ai phạm vào điều luật nào, phải ra trước đại chúng tỏ bày, sám hối.

Theo thời tiết, ở Ấn Độ mỗi năm có ba mùa, mỗi mùa có bốn tháng:

1. Mùa Nóng

Tháng thứ nhất Chaitra

Tháng thứ hai Vaisàkha

Tháng thứ ba Jyeshtha

Tháng thứ tư Àshàda

2. Mùa Mưa

Tháng thứ năm Sràvan

Tháng thứ sáu Bhàdrapada

Tháng thứ bảy À'svina

Tháng thứ tám Kàrttika

3. Mùa Lạnh

Tháng thứ chín Màrga'sirsha

Tháng thứ mười Pushya

Tháng thứ mười một Màgha

Tháng thứ mười hai Phalguna

Xứ Ấn Độ thuộc về vùng nhiệt đới, nên mỗi năm vào mùa mưa, cây cỏ nảy mầm, côn trùng sinh dục. Hơn nữa, đường xá thường lầy lội, các khe suối nước lũ dâng cao có khi tràn ngập cả lối đi. Vì không muốn giẫm chết sinh vật, và để thuận tiện cho sự tu hành, mỗi năm vào mùa này, đức Phật dạy hàng đệ tử xuất gia tùy theo địa phương, hội họp lại ở yên một nơi trong vòng ba hoặc bốn tháng. Quy chế này gọi là Vũ kỳ An cư (Varsàvasàna).

Đến ngày cuối của khóa An cư, là ngày làm lễ Tự tứ (Pravàrana). Tự tứ là trong thời gian An cư tu tập, nếu có vị xuất gia nào phạm lỗi mà trong đại chúng thấy, nghe, hoặc nghi ngờ, thì các vị khác được phép tự do cử tội. Đây cũng là một quy chế để Tăng đoàn được thêm nghiêm chỉnh, tinh tấn trên đường tu hành.

Về phần giáo đồ tại gia, nếu ai có thọ Tam quy, kẻ ấy được chánh thức vào đoàn thể Phật tử. Và tùy theo khả năng, nếu vị nào có thể giữ Ngũ giới, Bát giới hay Bồ tát giới, thì đến Tăng đoàn mà cầu xin truyền thọ. Bổn phận chung của hàng Phật tử tại gia, là giữ quy giới tu hành, và tùy phận đem hết năng lực ủng hộ Chánh pháp (Lược trích Ấn Độ Phật Giáo Sử, Phật Học Đại Cương).

Tiết VI. Đức Thế Tôn Vào Niết Bàn.

Khi nghe đức Thế Tôn bảo rằng mình sắp nhập diệt, Diệu Tràng Bồ tát khởi lòng nghi: "Có hai nhân duyên được sống lâu: không giết hại và bố thí các thức ăn cho chúng sinh. Đức Thích Ca Thế Tôn đã tu thập thiện trong vô lượng kiếp, tại sao Ngài chỉ sống có tám mươi tuổi?"

Trong khi Bồ tát nghĩ như thế, do oai thần của Phật, tịnh thất ấy bỗng hiện ra rộng rãi trang nghiêm như cõi Tịnh độ. Trên hư không, phương Đông có Phật Bất Động, phương Nam có Phật Bảo Tướng, phương Tây có Phật Vô Lượng Thọ, phương Bắc có Phật Thiên Cổ Âm, ngồi nơi tòa diệu liên hoa, đồng thuyết kệ rằng:

Có thể biết điểm giọt

Của tất cả biển lớn

Không ai đếm biết được

Thọ lượng của Thích Ca.

... Có thể biết số bụi

Của tất cả đại địa

Không ai đếm biết được

Thọ lượng của Thích Ca.

Bốn đức Thế Tôn lại bảo: Này Thiện nam tử! Chúng sinh ở cõi Ta bà căn lành kém mỏng, có nhiều sở chấp: nhân, ngã, đoạn, thường... Vì muốn cho họ được lợi ích, mau sinh chánh giải, nên Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Thiện nam tử! Đức Như Lai đây muốn cho chúng sinh thấy Phật vào Niết bàn, sinh lòng thương lo mến tiếc, nghĩ rằng khó còn được gặp, mà đối với Chánh pháp phát tâm siêng năng đọc tụng thọ trì, vì người giảng giải, không còn hủy báng, nên Ngài thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Tại sao thế? Nếu chúng sinh thấy Như Lai không vào Niết bàn, tất không sinh lòng cung kính, không sinh niệm khó gặp, không siêng năng đọc tụng thọ trì vì người giảng giải; vì lẽ hằng thấy Phật nên ỷ lại xem thường. Ví như hoa Ưu đàm được người quí trọng vì lâu năm mới nở một lần, nhân duyên sớm nhập diệt của đức Thích Ca Như Lai, ý nghĩa cũng như thế (Kinh Kim Quang Minh).

Một hôm, đức Thế Tôn cùng Thị giả A Nan Đà ở ngôi giảng đường tại thành Ba Tra Lỵ Phất (Hoa Thị thành). Sau khi đi khất thực trở về dùng ngọ trai xong, đức Phật đến ngồi nơi cội cây Cung chế để, rồi gọi A Nan Đà mà bảo rằng: "A Nan! Thành này vật sản hoa lệ, cây cối tốt tươi, ao suối trong mát, hiện tại tuy đơn sơ, nhưng tương lai tất sẽ hưng thạnh. Đây là một kỳ cảnh của châu Nam Thiệm Bộ. Này A Nan! Nếu kẻ nào chứng pháp Tứ thần túc, có thể tùy ý trụ thọ một kiếp cho đến nhiều kiếp. Như Lai đã chứng pháp Tứ thần túc, nên muốn sống lâu một kiếp hay nhiều kiếp, đều được tự tại.” Phật nói như thế ba lần, song Ngài A Nan vẫn làm thinh.

Lúc ấy, Thiên ma Ba Tuần đến đảnh lễ Phật và thưa rằng: "Bạch Thế Tôn! Thời gian trước Ngài đã nói: khi nào trong hàng môn đệ có nhiều kẻ thông biện đủ khả năng tuyên dương Chánh pháp dẹp phá tà luận, thì Ngài sẽ vào Niết bàn. Hiện thời những điều kiện ấy đã có đủ, xin đức Thế Tôn nên sớm nhập diệt.” Đức Phật bảo: "Người hãy gắng chờ ít lâu, ba tháng sau Như Lai sẽ vào cảnh Vô dư y đại Niết bàn.” Thiên ma Ba Tuần nghe Phật hứa nhận, sinh lòng vui mừng, liền ẩn thân trở về thiên giới. Sau khi nói lời ấy, đức Thế Tôn liền nhập định, thâu ngắn thọ mạng trong vô lượng kiếp chỉ còn lại ba tháng. Lúc đó, đất đai chẤn Động, tinh quang rơi rớt khắp bốn phương, thiên cổ trên hư không tự nhiên kêu lên vang động. Đức Thế Tôn xuất định, nói bài kệ rằng:

Tất Cả pháp sai biệt

Như Lai đã diệt trừ

Do đó được định tâm

Như chim bay tự tại.

Sau khi ấy, đức Phật cùng đồ chúng vượt qua sông Hằng, vào thành Tỳ Xá Ly. Nơi đây, nàng kỹ nữ Yêm Ma La dâng cúng khu vườn Nại thọ lâm và được Phật hóa độ. Bấy giờ đã đến mùa mưa, đức Thế Tôn muốn An cư ba tháng ở Trúc Lâm thôn (Veluvana), một vùng phụ cận của đô thành. Nhưng gặp năm mất mùa, e sự cúng dường không được đầy đủ, Phật liền giải tán đại chúng, rồi riêng mình ở tại đó với Thị giả A Nan. Trong thời gian tạm trú nơi đây, Ngài A Nan thấy kim thể không an, biết Phật sắp vào Niết bàn, liền thưa thỉnh cách thức y chỉ về sau. Đức Phật bảo: "Ông nên lấy chính mình làm nơi quy y, lấy pháp làm nơi quy y, đừng nương theo ai khác bên ngoài. Hãy tự xét, xem mình tinh tấn hay giải đãi, dứt trừ sự tham nhiễm lo buồn theo thế gian. Hãy quán thân, thọ, tâm pháp, thấu triệt lý bất tịnh, khổ, Vô thường, Vô ngã, để đối trị bệnh chấp tịnh, lạc, thường, ngã, theo quan niệm chúng sinh. Đây là chân lý tự quán của ta khi thành Chánh giác và cũng là căn bản quy y của người học đạo.”

Mãn ba tháng hạ, đức Thế Tôn đến ở Trùng Các giảng đường tại bản xứ. Ngài bảo các đệ tử: "Những giáo pháp ta đã nói khi trước như: tứ niệm trụ, tứ chánh cần, tứ thần túc, Ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, Bát Thánh đạo, các ông nên thường suy nghĩ tu tập, chớ nên biếng trễ. Các ông phải gắng tu tịnh hạnh, giữ gìn cấm giới để làm phước lợi cho thế gian" Rồi từ đó, đức Phật lại đi về phía Bắc, qua thôn Lộ Càn Trà (Bhandagama). Tại nơi đây, Ngài lại khuyên đồ chúng: "Các ông nên biết, nếu người tu không thông đạt bốn pháp, sẽ hằng bị đọa vào nẻo luân hồi. Bốn pháp ấy là gì? Chính là giới, định, huệ và Giải thoát.” Từ thôn Lộ Càn Trà, đức Thế Tôn đi vào xứ Ba Bà (Pàvà). Ở chốn này, Ngài thọ thức ăn nấu bằng nấm chiên đàn của người thợ bạc tên là Thuần Đà (Cunda), rồi đi sang thành Câu Thi Na Yết La đến chỗ hai đôi cây Sa la bên mé sông Hi Liên Nhã Bạt Để (Kim hà).

Đêm ấy, có người ngoại đạo là Tu Bạt Đà La (Subhadra) đi đến chỗ đức Thế Tôn, nghe thuyết pháp và chứng Thánh quả. Đây là vị đệ tử sau rốt của Phật. Đức Thế Tôn gọi A Nan và bảo: "Thuở xưa ta làm Chuyển luân vương, đã xả thân sáu lần nơi đây, cho nên nay Như Lai cũng nhập Niết bàn tại chỗ này.” Ngài lại bảo đồ chúng: "Các ông đối với Phật, Pháp, Tăng bảo và Tứ Thánh đế có điều gì nghi thì nên hỏi, ta sẽ giải đáp cho.” Trong đại chúng vì không nghi vấn nên không ai hỏi.

Bấy giờ đức Thế Tôn do lòng đại bi, tự cởi áo trên bày kim thân ra, và nói: "Này Tỳ kheo! Các ông nên nhìn kỹ thân tướng của Như Lai, vì chư Phật cũng như hoa Ưu Đàm Bát La rất khó gặp gỡ.” Khi sắp nhập diệt, đức Phật còn bảo: "Các ông chớ cho rằng mình sẽ mất Thầy giảng dạy. Sau khi ta nhập Niết bàn, những Pháp (Dharma) và Luật (Vinaya) của ta đã nói, là Thầy của các ông. Các pháp đều Vô thường, có sinh tất có diệt; các ông hãy tinh tấn chớ nên biếng trễ. Đây là lời khuyên dạy sau rốt của ta.”

Khi nói xong lời ấy, đức Thế Tôn nhập Tam muội theo thứ lớp chín lần thuận, chín lần nghịch, từ Sơ Thiền đến Diệt tận định; rồi từ Sơ Thiền ra, Phật vào Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, và Niết bàn ở nơi đó. Lúc ấy, vào khoảng giữa đêm Rằm tháng hai, Ngài được tám mươi tuổi (Đối chiếu các kinh: Đại Niết bàn, Du Hành, Trường A Hàm).


Chương VI: Bốn Kỳ Kiết Tập.

+ Tiết mục:

I. Kỳ kiết tập thứ nhất.

II. Kỳ kiết tập thứ hai.

III. Kỳ kiết tập thứ ba.

IV. Kỳ kiết tập thứ tư.

V. Đại thừa kiết tập.

+ Kinh sách tham khảo:

- Tỳ Nại Gia Tạp Sự,

- Ma Ha Tăng Kỳ Luật,

- Ấn Độ Phật Giáo,

- Phật Học Đại Cương,

- Phật Học Chỉ Nam,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược,

- Tuyển Tam tạng,

- Phật Giáo Ký Lục.

+ Đề yếu: Khi Phật còn tại thế, giới hạn của Luật và Pháp chưa được khu phân rõ rệt. Luật và Pháp được phân chia rõ rệt khởi thủy từ kỳ kiết tập đầu tiên. Theo Nguyên thủy Phật giáo, kỳ kiết tập này, Ngài A Nan tụng tạng Kinh gồm bốn bộ A Hàm, Ngài Ưu Ba Ly tụng tạng Luật, còn tạng Luận thì chưa được thành lập. Lần kiết tập 100 năm sau Phật diệt độ, tuy khởi nguyên từ mười điều phi pháp do Bạt Kỳ sáng chế, song chủ yếu của sự trùng tuyên Pháp tạng là để ngăn ngừa mối tệ tương lai. Mười điều do Bạt Kỳ sáng chế, đứng về mặt khoáng đại của Giới luật mà xét, thì cũng dung hợp và không xa giới pháp lắm. Song với thời gian cách Phật chưa bao lâu mà mở phương tiện quá sớm, tất Chánh pháp mau suy vong. Trưởng lão Da Xá là bậc huệ nhãn A la hán sở dĩ bài bác, chính bởi lý do trên đây.

Cũng chính trong thời gian này mới có hai phân phái: Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ.

Lần kiết tập thứ ba, vào thời vua A Dục, mục đích chính là để xác định lại Tam tạng. Ngoài ra còn một lý do không kém phần quan trọng là: ngăn ngừa sự tiềm nhập của tà thuyết ngoại đạo.

Kỳ kiết tập sau cùng, vào thời vua Ca Nị Sắc Ca, mục đích để dung hòa giáo nghĩa của hai mươi bộ phái, cho trong Phật Giáo đoàn không còn sự tranh chấp nhau.

Vì trong lần kiếp tập đầu tiên có nhiều thuyết sai biệt về sự có, không, trong việc trùng tuyên tạng Luận, nên cuối chương lại nêu ra ba cuộc kiết tập Đại thừa Phật giáo ở thời kỳ này, để cho học giả thêm phần bác lãm và tài liệu tham khảo.

Tiết I. Kỳ Kiết Tập Thứ Nhất.

Một hôm, trong giữa đại hội, Ngài Ma Ha Ca Diếp nói với các vị Tỳ kheo rằng: “Chư Đại đức! Hai Tôn giả Xá Lợi Phất, Đại Mục Liên cùng nhiều vị đại Bí sô khác không nỡ thấy Đức Thế Tôn nhập Niết bàn, nên đều đã viên tịch trước. Và vừa rồi Đức Thế Tôn cùng một muôn tám ngàn vị Bí sô đồng vào Niết bàn.

Vì thế chư Thiên ở cõi Trường Thọ đều buồn thương và bàn luận: “Pháp tạng chân chính của Đức Như Lai chưa được kiết tập, mà các Tôn giả phần nhiều sớm nhập diệt. Nỡ để cho Thánh giáo thành ra tro buị ư?” Nên nay tôi xin tỏ bày việc lớn ấy cho đại chúng biết.”

Trong chúng nghe nói đều khen phải, và đồng lòng tùy hỷ.

Lúc ấy, Ngài Ca Diếp lại bạch chư Tăng rằng: “Trong chúng đây, ai là bậc nhỏ nhất?”

Một vị Đại đức đáp: “Ngài Cụ thọ Viên Mãn.”

Liền đó, Ca Diếp Tôn giả nhờ Viên Mãn Tỳ kheo đánh kiền chùy họp tất cả chư Tăng lại. Sau khi lãnh lệnh, Ngài Viên Mãn vào Tứ Thiền quán sát, rồi xuất định đánh kiền chùy và bạch rằng: “Sẽ có 499 vị đại A la hán từ các nơi vân tập về đây.”

Tôn giả Ca Diếp bạch: “Chư Cụ thọ! Các Đại đức đã tập hợp đủ chư? Xin xét lại xem còn vị nào chưa đến?”

Bấy giờ đại chúng dùng định lực quán sát rồi đồng thưa: “Duy còn Ngài Ngưu Chủ (Kiều Phạm Ba Đề) chưa đến.”

Khi đó Ngưu Chủ Tỳ kheo đang ở trên cõi Trời, nơi cung Thi Lợi Sa. Tôn giả Ca Diếp bảo Ngài Viên Mãn thay mặt đại chúng đi triệu thỉnh. Cụ thọ Viên Mãn liền vào thâm định, ẩn thân nơi thành Câu Thi Na, hiện ra giữa cung Thi Lợi Sa, đảnh lễ và bạch với Ngài Ngưu Chủ rằng:

“Ngài Đại Ca Diếp, vị thượng thủ trong đại chúng, xin thăm Tôn giả thân tâm an vui, và nói nay Tăng già có việc xin mời Tôn giả đến gấp.”

Ngưu Chủ Tỳ kheo tuy đã ly dục, nhưng còn tập khí ái luyến, sau khi hỏi thăm biết Đức Thế Tôn đã nhập diệt, liền giao y bát cho Ngài Viên Mãn, bay lên hư không hiện ra mười tám cách thần biến, phóng các thứ ánh sáng, rồi dùng lửa Tam muội tự thiêu mà viên tịch. Từ trong thân thiêu hóa, lại tuôn ra bốn ngọn nước đến giữa chúng hội nơi thành Câu Thi Na. Trong nước ấy có tiếng thuyết kệ rằng:

Ngưa Chủ kính lễ khắp đại chúng.

Cúi xin Từ bi thứ lỗi cho,

Nay vầng huệ nhật lặn về Tây,

Nguyện theo Từ Tôn vào tịch diệt.

Lúc ấy Viên Mãn Tỳ kheo đem Xá Lợi và y bát của Tôn giả Ngưu Chủ về bạch lại. Tôn giả Ca Diếp khuyên đại chúng nên trụ thế làm lợi ích cho quần sinh, đừng bắt chước theo Cụ thọ Ngưu Chủ mà viên tịch. Sau khi bàn định, Ngài cùng đại chúng đều đồng ý mở hội kiếp tập ở trong hang Tất bát la (Vebhàra guha Thất diệp khốt) về phía nam thành Vương Xá (Ràjagraha), vì nơi đó thuộc về nước Ma Kiệt Đà, vua A Xà Thế đã phát tâm nguyện cúng dường giúp đỡ chư Tăng trong mọi việc.

Lúc ấy có một vị nói: “Chúng ta đều chứng quả A la hán, duy có Ngài A Nan Đà còn trụ nơi học địa; nhưng vị Cụ thọ này làm Thị giả cho Đức Thế Tôn, ghi nhớ tất cả Pháp tạng của Phật. Vậy phải nên xử sự thế nào?”

Ngài Ca Diếp đáp: “Nếu lựa chọn như thế, e các vị hữu học khác sinh lòng bất nhẫn. Nên phương tiện sai A Nan làm kẻ hành thủy, khi đi đến nơi rồi sẽ liệu định.”

Khi đại chúng đi đến thành Vương Xá, vua A Xà Thế nghe biết được viện ấy, hoan hỷ lo từ sự cúng dường. Tôn giả Đại Ca Diếp quán sát biết có thể dùng phương tiện chiết phục cho Cụ thọ A Nan mau chứng Thánh quả, nên một hôm ở trong chúng hội, Ngài bảo: “A Nan! Ông hãy ra khỏi đại hội, vì không thể cùng Thánh chúng ở đây chung nhau kiết tập.”

Thị giả A Nan nghe nói sợ hãi, cả mình run rẩy như tên bắn vào tim, bạch rằng: “Đại đức Ca Diếp! Tôi không phá giới, phá kiến, phá oai nghi, phá chánh mạng, tại sao đuổi tôi?”

Tôn giả đáp: “Ông làm Thị giả luôn luôn ở gần Phật, việc ấy đâu lấy chi làm hi hữu. Nếu ông cho rằng mình không lỗi thì đứng lên nắm thẻ đi lại giữa chúng, rồi tôi sẽ kể cho nghe.”

Ngài A Nan tuân theo quy luật, phải vâng lời.

Lúc đó, cả cõi Đại thiên ba lần rung động, chư Thiên có vẻ phẫn uất, nói to lên giữa hư không: “Ngài Ca Diếp! Đại đức A Nan đây vừa mới có sự buồn xa cách Thế Tôn, sao Ngài lại dùng lời khổ thiết quở trách như thế?”

Tôn giả Ca Diếp không để ý, tiếp tục gọi Cụ thọ A Nan bảo:

- Đức Thế Tôn đã nói: “Nếu cho người nữ xuất gia, Chánh pháp trụ không được lâu.”

Ông đã biết như thế, sao còn cầu thỉnh Phật cho phép độ người nữ xuất gia?

- Xin Đại đức khoan thứ, bà Di mẫu của Đức Thế Tôn nuôi Ngài từ lúc thơ ấu, nên cần phải nghĩ đến sự báo ân và tình thân tộc. Hơn nữa, cũng do chư Phật đời quá khứ đều có bốn chúng.

- Người xuất gia phải xả ân ái, không nên vị tình thân tộc. Chánh pháp đáng lẽ trụ được ngàn năm, do điều ông xin mà phải bị giảm bớt. Chư Phật đời quá khứ có bốn chúng, vì thời ấy người nữ nghiệp nhẹ, đời nay thì trái lại. Đức Thế Tôn đã không cho, mà ông khổ cầu, cố xin cho được. Đó là lỗi thứ nhất, ông hãy bỏ xuống một thẻ.

- Ông đã biết, người được phép Thần túc có thể muốn trụ thế bao lâu cũng được. Tại sao ông hầu gần Phật mà không vì chúng sanh thỉnh Phật trụ thế một kiếp?

- Thưa Đại đức! Lúc đó tôi không nghĩ kịp đến việc ấy, nên quên cầu thỉnh.

- Đó là lỗi thứ hai, ông hãy bỏ xuống một thẻ.

- Lúc Đức Thế Tôn còn, khi đang thuyết pháp Ngài nói thí dụ, ông lại hỏi lảng qua việc khác. Đó là lỗi thứ ba, hãy bỏ xuống một thẻ.

- Đức Thế Tôn từng đưa màu vàng bảo ông nhuộm áo. Tại sao lúc giặt nhuộm, ông dùng chân đạp lên y của Phật?

- Thưa Đại đức! Vì y Phật rộng dài, lại lúc ấy không có ai khác để nhờ giúp tay, chớ không phải tôi có tâm khinh mạn.

- Nếu không người, tại sao ông không liệng y lên hư không, vì chư Thiên lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ. Đó là lỗi thứ tư, hãy bỏ xuống một thẻ.

- Tại sao lúc Đức Thế Tôn đến Sa La Song Thọ để nhập diệt, giữa đường khát nước, ông lại đem nước đục dâng Phật?

- Thưa Đại đức! Khi ấy dòng Cước Câu Đà bị thương khách vừa đẩy 500 cổ xe lội qua nên vẩn đục, không còn chỗ nước trong nào khác.

- Lúc đó sao ông không đưa ngửa bát lên hư không cho chư Thiên rót nước Bát công đức vào? Đó là lỗi thứ năm, hãy bỏ xuống một thẻ.

- Lúc sắp viên tịch, Đức Thế Tôn có nói: “Những giới nhỏ trong Kinh Biệt Giải Thoát của ta, tùy theo hoàn cảnh, thời gian, có thể giảm chế.”

Khi đó ông ở gần Phật, sao không hỏi rành xem phải giảm chế giới nào? Rồi sau đây, sẽ có kẻ cho giới này là nhỏ, kẻ lại nói giới khác là nhỏ người nào thích thì vâng theo, không thích lại bỏ. Sao ông không vì chúng sanh đời vị lai mà thưa thỉnh?

- Bạch Đại đức! Lúc thấy Đức Thế Tôn sắp nhập diệt, tôi sầu khổ quá, nên không nghĩ đến việc ấy.

- Ông hầu hạ Phật, há lại không biết các hành là Vô thường, mà sinh lòng ưu não để cho lầm lạc như thế? Đó là lỗi thứ sáu, hãy bỏ xuống một thẻ.

- Khi Phật nhập diệt, ông lại còn dùng phương tiện để cho người tục thấy ẩn tướng của Như Lai. Đó là lỗi thứ bảy, hãy bỏ xuống một thẻ.

- Lúc Phật Niết bàn, sao ông tự ý dở thượng Y để người nữ thấy thân kim sắc của Như Lai khiến cho họ khóc lóc rơi lệ làm ô nhiễm tôn nghi?

- Thưa Đại đức! Tôi nghĩ rằng nếu chúng sanh thấy sắc thân mầu nhiệm của Đức Thế Tôn, tất phát tâm nguyện cho thân tướng mình được như Phật.

- Ông chưa được tha tâm huệ nhãn, làm sao biết được chúng sanh phát nguyện như thế? Đó là lỗi thứ tám, hãy bỏ xuống một thẻ. Lại nay ông chưa ly dục, không thể ở chung trong chúng thù thắng để kiếp tập, vậy nên đi nơi khác.

Khi ấy, trên hư không chư Thiên khen ngợi Ngài Đại Ca Diếp đức gần với Phật, khéo dùng tám việc gạn trách vị Thị giả của Như Lai.

Bấy giờ Cụ thọ A Nan Đà thưa rằng: “Bạch Đại đức! Trước khi Thế Tôn nhập diệt, có dặn tôi đừng sầu não và đem tôi phó chúc cho Ngài, xin Đại đức hoan hỷ dung thứ cho lỗi mọn.”

Tôn giả Ca Diếp đáp: “Ông đừng lo buồn, pháp lành sẽ do ông mà được tăng trưởng chớ không tổn giảm. Ông hãy đi nơi khác, chừng nào chứng quả A la hán sẽ trở lại đây.”

Lúc đó, Ngài A Nan rời khỏi đại chúng đi đến chỗ vắng, chuyên tâm tu tập. Một đêm nọ, trong người mệt mỏi, Ngài vừa nghiêng mình nằm, thoạt nhiên phiền hoặc tiêu tan chứng quả A la hán, liền hiện thần thông đến thành Vương Xá. Đại chúng biết Ngài đã đắc quả, thảy đều khen ngợi.

Hôm sau Tôn giả Đại Ca Diếp cùng 500 vị A la hán đồng vân tập đến hang Tất Bát La. Sau khi làm phép yết ma, đại chúng đều công cử Cụ thọ A Nan Đà lên pháp tọa trùng tuyên Thánh giáo, vì Ngài là bậc đa văn đệ nhất, thường theo Phật đi khắp nhân gian, hoặc nơi Thiên cung, Long cung, hoặc nghe thuật lại, ghi nhớ không sót một lời. Ngài A Nan vâng mạng, lên pháp tòa chắp tay dùng tiếng phổ biến xướng lên rằng:

Như thế, tôi nghe: Một thời đức Bạt dà phạm ở tại rừng Thí Lộc. Bấy giờ Thế Tôn bảo năm vị Tỳ kheo rằng:

“Các ông nghe pháp Khổ Thánh đế này, như lý mà suy nghĩ, sẽ mở được mắt huệ sáng suốt...”

Lúc ấy Ngài A Nhã Kiều Trần Như chắp tay khen: “Diệu pháp này thật đúng với lời tôi đã thân nghe nơi Phật.”

Chư Thiên và đại chúng nghe Ngài A Nan trùng tuyên Thánh giáo, đều nhớ đến Phật, động lòng rơi lệ.

Sau khi Tôn giả A Nan tụng tạng Kinh rồi, Ngài Ưu Ba Ly lại lên pháp tòa tụng tạng Luật. Vị Cụ thọ này trùng tuyên lại các pháp: Ba la di, Tăng già bà thi sa, Bất định, Xả đọa, Ba dật đề, Ba la đề đề xá ni, Chúng học, Diệt tránh. Sau khi tụng xong mỗi pháp, đại chúng đều chắp tay, nhập vào biên tế định.

Cuộc kiếp tập kéo dài trong ba tháng An cư mới xong. Lúc ấy Tôn giả Ma Ha Ca Diếp là vị thượng thủ trong các bậc Đại đức Tăng chúng; Ngài chủ trì tất cả công việc kiết tập Thánh giáo.

Vì kỳ kiết tập này có 500 vị A la hán, nên gọi là “Ngũ bá kiết tập.”

Sau khi kiết tập Thánh giáo:

- Ngài Ca Diếp giữ Pháp tạng trong hai mươi năm rồi truyền lại cho Đại đức A Nan Đà.

- Ngài A Nan Đà truyền lại cho Mạt Điền Địa,

- Ngài Mạt Điền Địa truyền cho Thương Na Hòa Tu,

- Thương Noa Hòa Tu truyền cho Ưu Ba Cúc Đa.

Trong khoảng trăm năm, năm vị đại đức truyền thừa Pháp tạng cho nhau như nước đồng nguồn chảy ra, nên thuần là một vị thanh tịnh.

- Về sau người ta gọi đó là Ngũ Thánh truyền thừa.

Còn Pháp tạng của Ngài Ưu Ba Ly kiết tập được biên thành bộ Luật Thiện Kiến. Năm ấy, ngày An cư viên mãn, Đại đức Ưu Ba Ly đem bộ Luật này ra dâng hoa cúng dường, rồi hạ bút ghi một điểm ở khoảng sau quyển, hàng năm cứ như thế. Trước khi viên tịch, Cụ thọ Ưu Ba Ly truyền bộ Luật này lại cho đệ tử là Ngài Đà Đả Tật. Đại đức Đà Đả Tật truyền lại cho Ngài Tu Câu, và cứ như thế tổ tổ tương truyền cho đến Ngài Tăng Già Bạt Đà La. Vị Đại đức này đem nguyên bổn sang Trung Hoa vào đời Tề năm Vĩnh Bình thứ bảy, và dịch ra Hán văn tại chùa Trúc Lâm ở Quảng Châu. Đến ngày rằm tháng bảy năm ấy, Ngài Tăng Già Bạt Đà La ghi điểm cuốn cùng, tổng cộng được 976 điểm.

Bởi bộ Luật này toàn do các bậc đã chứng Thánh quả ghi điểm nơi sau, nên lịch sử gọi đó là “Chúng Thánh điểm ký.”

Về nguyên nhân của sự kiết tập, có thuyết nói: Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, Ngài Ca Diếp cùng 500 vị Tỳ kheo từ xứ Ba Bà (Pàvà) đến thành Câu Thi La, giữa đường gặp một kẻ ngoại đạo tên là Ưu Ba Ca đang cầm hoa sen trắng.

Ngài hỏi: “Ông có thấy Đức Thế Tôn ở đâu chăng?”

Ngoại đạo đáp: “Sa môn Cù Đàm nhập diệt đã bảy Ngài tại Sa La Song Thọ, cành hoa này tôi lấy được từ nơi đó.”

Các vị Tỳ kheo chưa dứt phiền não nghe nói thế đều buồn thảm khóc to lên. Những vị đã dứt phiền não xét thấy pháp hữu vi Vô thường, lặng yên tự cảnh tỉnh.

Tôn giả Ca Diếp xoay qua khuyên nhắc các vị đang thương khóc: “Chư hành Vô thường, có hội họp tất có phân ly, Đức Thế Tôn đã hằng dạy như thế!”

- Lúc ấy có một vị Tỳ kheo lớn tuổi, mới xuất gia, tên là Tu Bạt Đà, nói với chúng: “Các nhân giả chớ lo buồn. Khi Phật còn tại thế, Ngài thường nói việc này đáng làm, việc kia không nên làm, do đó chúng ta thường bị bó buộc. Từ nay chư Tăng được tùy ý thong thả, không còn lo chi nữa!”

Nghe lời nói của vị Tỳ kheo si mê ấy, trong tâm Ngài Ca Diếp đã có sự quyết định. Sau khi đến chỗ Phật Niết bàn, dự lo cuộc lễ Trà tỳ xong, Ngài triệu tập 500 vị Thánh tăng học hạnh cao siêu đến thành Vương Xá trùng tuyên lại Pháp tạng, để ngăn ngừa kẻ si mê gây ra mối tệ về sau. Đem việc này so sánh với duyên khởi, theo bộ Tỳ Nại Gia Tạp Sự ở đoạn trước, chúng ta thấy nguyên nhân cuộc kiết tập cũng có thể là một hay gồm nhiều, vậy sự chỉ định do việc này hay việc khác đều không thành vấn đề để bàn luận.

Trong kỳ kiết tập đầu tiên, có thuyết cho rằng có trùng tuyên tạng Luận, có thuyết lại bảo là không. Thuyết nói không như bộ Tỳ Nại Gia Tạp Sự, Ma Ha Tăng Kỳ Luật; thuyết nói có như Tây Vức Ký của Ngài Huyền Trang, bộ Chấp Luận Sớ của Ngài Chân Đế. Theo hai bộ sau này, thì cuộc kiết tập đã diễn ra tại hang Thất Diệp (Tất bát la), đại chúng tham dự có đến ngàn người, ngoài sự trùng tuyên Tu Đa La, Tỳ Nại Gia, lại có đọc tụng tạng A Tỳ Đàm. Về tạng A Tỳ Đàm (Luận), Ngài Huyền Trang bảo do Tôn giả Ca Diếp trùng tuyên, còn Ngài Chân Đế lại bảo là Phú Lâu Na.

Ngoài ra, lại có thuyết nói, lúc đó A la hán Bà Sư Ca ở ngoài hang Thất Diệp cũng triệu tập mấy vạn phàm tăng trùng tuyên Pháp tạng, trong đó Ngài Phú Lâu Na trùng tuyên tạng Luận. Đó là Đại Chúng bộ kiếp tập, cũng gọi là Giới ngoại kiết tập. Còn cuộc kiết tập trong hang Tất Bát La là Thượng Tọa bộ kiết tập, cũng gọi là Giới nội kiết tập.

Theo bộ Tam Luận Huyền Nghĩa thì truyền thuyết trên đây, e rằng đã thoát thai từ câu nói của Ngài Phú Lâu Na. Vì sau khi Phật nhập diệt, La hán Phú Lâu Na dẫn 500 vị Tỳ kheo đi khất thực đến Nam Sơn, nghe nói Tôn giả Ca Diếp đã kiết tập rồi.

Ngài liền đến nơi tỏ ý tán đồng và nói: “Chư Đại đức kiết tấp tự nhiên là đúng. Nhưng các pháp chính tôi nghe được nơi Phật cũng nên trọ trì.”

Nếu nói rằng Thượng tọa kiết tập hay Đại chúng kiết tập thì có lý, còn bảo: Thượng Tọa bộ, Đại Chúng bộ e không đúng với sử liệu, vì hai danh từ này sau khi Phật diệt độ 100 năm mới được chánh thức thành lập để chi định cho sự phân chia của hai bộ phái lớn.

Tóm lại, dung hội các kinh sách mà suy luận, thuyết của hai bộ Tỳ Nại Gia và Ma Ha Tăng Kỳ dường như nói về cuộc kiết tập Tiểu thừa giáo, vì nội dung trùng tuyên chỉ trong bốn A Hàm và Luật.

Thuyết của hai Ngài: Chân Đế, Huyền Trang, có lẽ chỉ cho cuộc kiết tập về pháp Đại thừa, vì cuộc kiết tập này có ba hội, do nhiều vị trùng tuyên, vả lại hai Ngài đều là bậc học, lờI nói tất có chỗ y cứ.

Chi tiết về ba hội trùng tuyên pháp Đại thừa, sẽ được trình bày ở cuối chương, trong đoạn Đại thừa kiết tập.

Và truyền thuyết về danh từ Thượng Tọa bộ, Đại Chúng bộ trong thờI kỳ kiết tập đầu tiên, hiển nhiên là sai lầm.

Tiết II. Kỳ Kiết Tập Thứ Hai.

Sau khi Đức Thế Tôn Niết bàn 100 năm, tại thành Tỳ Xá Ly (Vaisàlì) (Quảng Nghiêm Thành), có Thầy Tỳ kheo tên Bạt Kỳ (Vajji) sáng chế ra mười Tịnh pháp khác hẳn Giới luật xưa. Mười Tịnh pháp ấy là:

1. Giác diêm tịnh: Theo Giới luật, các Tỳ kheo không được để đồ ăn cách đêm. Đó là trường họp những thức ăn phổ thông khác. Nhưng riêng về muối thì có thể được chứa cất trong ống sừng (hoặc các ống khác) để thường dùng.

2. Nhị chỉ tịnh: Theo Giới luật, các Tỳ kheo phải thọ thực vào giờ ngọ. Nhưng nếu trường hợp đi đường xa, bữa ăn có thể được dùng quá ngọ một chút, nghĩa là lúc mặt trời xế bóng độ hai gang tay.

3. Tha tụ lạc tịnh: Các Tỳ kheo sau khi ăn xong đến tụ lạc khác, nếu không quá ngọ, gặp người mời ăn, có thể được ăn thêm.

4. Trụ xứ tịnh: Mỗi tháng hai kỳ, các Tỳ kheo phải vân tập ở một trụ xứ để làm Bố tát. Nhưng nếu trụ xứ ấy hẹp, có thể chia làm hai nơi mà hành lễ.

5. Tán đồng tịnh: Theo quy định của Giáo hội, cần phải đủ số Tăng để giải quyết pháp sự. Nhưng gặp trường hợp thiếu người, tuy số Tăng không đủ, cũng có thể quyết nghị. Những quyết nghị ấy vẫn có hiệu lực và sẽ thông cáo sau.

6. Cựu sự tịnh: Những việc các Tỳ kheo trước đã làm, chư Tăng sau có thể noi theo cựu lệ, không cần phải quá nệ theo Giới luật (chẳng hạn như việc đào đất).

7. Sanh hòa hợp tịnh: Sau giờ ngọ, chư Tăng không được ăn phi thời. Nhưng để giữ sức khỏe, các Tỳ kheo có thể dùng sữa hòa lẫn với nước mà uống, không cần để cho sữa lắng xuống (sữa hơi đặc, có đóng cán).

8. Trị bệnh tịnh: Các Tỳ kheo không được uống rượu. Nhưng gặp trường hợp bệnh hoạn, có thể dùng thứ rượu Xa Lâu Già pha với nước mà uống, xem đó như là món thuốc (Xa Lâu Già: thứ rượu nấu chưa được chín lắm).

9. Vô duyên tọa cụ tịnh: Tọa cụ của chư Tăng, có thể tùy theo thân thể người mà may lớn hay nhỏ, không cần phải có đường viền xung quanh.

10. Kiêm tiền tịnh: Theo luật, các Sa môn không được cầm tiền. Nhưng trong trường hợp cần thiết, thì có giữ tiền để dùng đổi chác các vật dụng khác.

Mười điều trên gọi là “tịnh”, chữ “tịnh” ở đây có nghĩa là “cho phép.” Về phương diện nghiêm khắc của Giới luật, thì mười điều này thật ra là vi phạm, trái phép. Nhưng chư Tăng ở phương Đông đứng về phương diện khoan đại mà giải thích Giới luật, nên thừa nhận mười điều đó.

Bấy giờ ở Tu Lạc Bà Táp Bà thuộc phương Tây, có Trưỡng lão Da Xá (Yasas) nhân đi du hành giáo hóa nhân gian, lần đến thành Tỳ Xá Ly. Lúc ấy nhằm ngày Bố tát, đại chúng của Tỳ kheo Bạt Kỳ đem các đồng bát đựng nước (dùng tượng trung cho sự kiết tường) để trước chỗ đông người. khi có ai đi đên, họ liền nói: “Các vị nên tùy ý cúng dường, để chư Tăng đem ra đổi chác các vật dụng cần thiết.”

Khi ấy có kẻ cúng tiền vào bát nước, cỏ kẻ lại chê trách bảo: “Thầy Sa môn không nên làm như vậy!”

Trưởng lão Da Xá là một học giả tinh thông Giới luật, thấy thế làm kinh ngạc, hỏi ra mới biết chu Tăng ở địa phương này tuân hành theo mười tịnh pháp.

Với mục đích duy trì Chánh pháp, Ngài đối trước đại chúng mà tuyên bố: “Việc Tỳ kheo nhận tiền là một cấm giới nghiêm trọng trong Phật pháp.”

Chư Tăng ở đîa phương không nghe lời khuyến cáo đó, lại cho là Trưởng lão Da Xá lăng mạ đại chúng và làm trở ngại sự cúng dường của tín đồ. Họ bắt Trưởng lão phải xin lỗi chư Tăng và tín chúng. Nhưng Ngài Da Xá không thuận đi ngay vào thành Tỳ Xá Ly, công nhiên pháp biểu mười điều phi pháp trước số đông người. Quần chúng đều khen ngợi, cho rằng Trưởng lão giữ đúng tác phong của bậc chân tu, giới hạnh. Tỳ kheo Bạt Kỳ thấy thế, liền họp Tăng lại làm phép tẩn xuất Ngài Da Xá, không công nhận Trưởng lão là người ở trong Giáo đoàn.

Cảm khái Giới luật của Phật chóng suy tàn, Trưởng lão Da Xá trở về phương Tây, lưu trú tại thành Câu Diệm Di (Kosambi). Tại nơi đây, Ngài cho chư Tăng đến các địa phương như Ma Thâu La (Mathurà), A Bàn Đề (Avanti), thỉnh các bậc danh đức đến thành Tỳ Xá Ly để quyết nghị về việc ấy. Rồi chính mình Ngài đi đến núi A Hô Hằng Già (Ahoganga) yết kiến Trưởng lão Tam Phù Đà (Sambhùta), tới địa phương Sa Ha Xà Để (Sahayàti) yết kiến Trưởng lão Ly Bà Đa (Revata) mục đích để thỉnh ý về việc đó. Được mọn nơi đều tán đồng, Ngài cùng với chư đại đức đi đến thành Tỳ Xá Ly. Sau khi đến nơi, Ngài Da Xá lại cầu thỉnh Trưởng lão Tát Bà Ca Ma (Sabhakàmi), một bậc danh đức tại địa phương, đến tham dự.

Tỳ kheo Bạt Kỳ biết được tin ấy, cũng đi mời các vị Trưởng lão ở đông phương đến biện giải hộ.

Lúc đó, tại thành Tỳ Xá Ly, các bậc danh đức của hai phương Đông Tây câu hội gồm 700 vị. Hội nghị này nhằm mục tiêu giải quyết mười điều kể trên là đúng hay phi pháp và kiết tập lại Kinh điển. cuộc đại hội đã diễn ra ở vườn Bà Ly Ca. trong hội trường, vì nhiều người, ý kiến phân vân, nên Ngài Ly Bà Đa đề nghị mỗi bên cử bốn đại biểu để giải quyết những nghị vấn. Đề nghị này được đại hội tán đồng. Sau khi bàn luận, chư Tăng thuộc Tây phương cử Cụ thọ Ly Bà Đa làm trưởng đoàn, vì Ngài tinh thông bốn tạng: Kinh, Luật, Luận, Tạp tụng, và ba (Samana). Chư Tăng thuộc đông phương củ Cụ thọ Tát Bà Ca Ma làm trưởng đoàn, vì Ngài là một bậc tàu đức được 120 tuổi hạ, và ba vị phó là Sa Lan (Sàtha), Khuất Xà Tỳ Đa (Khujjasobhita), Bà Tát Bà Già Mi (Vasabhagàmi). Sau khi đại diện hai bên đối tọa, Trưởng lão Ly Bà Đà nêu ra từng khoảng trong mười điều để hỏi là hợp pháp hay phi pháp. Trưởng lão Tát Bà Ca Ma y vào Giới luật để chiếu hợp từng điều và đều đáp là phi pháp. Mười điều đã giải quyết xong, trong đại hội còn hợp tụng lại những Pháp tạng, trải qua thời gian tám tháng mới viên mãn.

Cuộc hội nghị này tuy do mười điều làm duyên khởi, nhưng điểm chủ yếu là kiết tập Pháp tạng để xác định lại Giới luật của Đức Thích Tôn đã quy chế và ngăn ngừa mọi sự phi pháp xen lẫn vào chánh đạo. Và kỳ kiết tập này vì có 700 bậc Thánh hiền tăng, nên được gọi là Thất bá kiết tập.

Về mười điều phi pháp, các bộ: Thiện Kiến Luật, Tỳ Bà Sa, Ngũ Phần, Tứ Phần, Tỳ Nại Gia Tạp Sự, Thập Tụng Luật, Ma Ha Tăng Kỳ Luật, Tây Tạng Truyện, nội dung biên chép về số thứ tự, danh mục, cùng lối giải thích đều có đôi chút khác nhau. Mười điều nêu ra trên đây là y theo nguyên bản Ba Ly mà dịch ra.

Về cuộc kết tập lần thứ hai, theo bộ Châu Sử và quyển Ký Thuật của Ngài Giác Âm, thì sở dĩ Bạt Kỳ Tỳ kheo được đắc thế là do sự giúp đỡ rất nhiều của vị quốc vương đương thời. theo tập bộ Chấp Luận Sớ của Ngài Chân Đế và Tạp Tạng Truyện, thì sau khi giải quyết mười điều, 700 Đại đức Tăng hợp tụng ba tạng: Kinh, Luật, Luận. Bấy giờ đa số Tỳ kheo thuộc Đông bộ lại nhóm riêng một nơi khác kết tập Pháp tạng, gọi là Đại đẳng tụng hoặc Đại kết tập (Mahàsamgiti).

Nội dung của cuộc kiết tập này, gồm có 4 tạng là: Kinh, Luật, Đại pháp và Tạp tạng.

Bộ Phân Biệt Công Đức Luận nói ngoài bốn tạng lại có thêm Bồ tát tạng.

Còn bộ Tây Vức Ký thì nói ngoài bốn tạng, có thêm Cấm chú tạng gọi chung là ngũ tạng.

Vì nguyên nhân trên, nên Giáo đoàn đạo Phật chia thành hai bộ phái là Thượng Tọa bộ (Thera) và Đại Chúng bộ (Mahàsanghikà).

Thượng Tọa bộ thuộc phái bảo thủ, Đại Chúng bộ thuộc phái canh tân.

Dung hội các kinh sách trên, ta thấy trong kỳ kiết tập thứ hai, đã có thêm các Pháp tạng khác. Và danh từ Thượng Tọa bộ, Đại Chúng bộ đến thời gian này mới được chính thức thành lập.

Tiết III. Kỳ Kiết Tập Thứ Ba.

Sau khi Đức Thế Tôn Niết bàn 218 năm, ở Ấn Độ có vua A Dục (Asoka) ra đời.

Trước đó, miền Tây Bắc Ấn Độ đã bị tàn phá trong 12 năm trường bởi quân đội viễn chinh của A Lịch Sơn đại đế (Alexandre). Còn nhiều trung bộ cũng vừa trải qua các cuộc nội loạn liên tiếp do sự tương tranh của Thích Ca Vương ở phương Nam, Gia Bàn Na Vương ở phương Bắc, Đâu Sa La Vương ở phương Đông và Bát La Bà Vương ở phương Tây. Bốn ông vua này ngày ngày đeo đuổi theo việc chiến chinh, phá chùa chiền, giết Tăng Ni, khiến cho dân chúng chịu nhiều nỗi lầm than cơ cực. Trong đó, riêng Phật giáo là bị thiệt hại nặng nề nhất.

Theo lịch sử, vua A Dục tại vị vào khoảng 272 - 226 năm trước kỷ nguyên, tức là trong thời gian 47 năm.

Tổ phụ của Ngài là ông Chiêm Đà La Cúc Đa (Chadragupta Nguyệt Hộ). Ông này thuộc dòng dõi Mạo Ly (Maurya), cũng gọi là Khổng Tước Chủng.

Sau khi A Lịch Sơn đại đế rút lui, Chiên Đà La Cúc Đa nổi lên ở miền Tây Bắc Ấn Độ, đánh đuổi các tướng soái Hy Lạp còn lại, dẹp bốn ác vương, thống nhất xứ Trung Ấn Độ, lập ra Khổng Tước Vương triều.

Chiên Vương tại vị được 24 năm, rồi truyền lại cho con là Tân Đầu Sa La (Bindusàra). Vị quốc vương này trị vì được 25 năm, mới truyền ngôi cho con là A Dục.

Đến khi A Dục Vương lên kế vị, thế lực lại càng mạnh hơn. Vua dẹp giặc Yết Lăng Già (Kalinga) ở phương Nam, quân Kiền Đà La ở phương Tây, kết cuộc năm xứ Ấn Độ đều quy thuận.

Sau khi bình định các nơi, oai danh của A Dục Vương lừng lẫy đến nước ngoài. Vua đóng đô ở thành Ba Tra Lỵ Phất (Pàtaliputra) xứ Ma Kiệt Đà (Magadha). Thành này cũng gọi là thành Hoa Thị, ở cách phía Tây thành Vương Xá chừng hai trăm dặm. Khi đức Phật còn tại thế, đây là nơi Ngài thường đi qua.

Tương truyền, vua A Dục khi mới lên ngôi thì hung tàn bạo ngược, nhưng sau khi quy y Phật pháp, Ngài thi hành những chính sách rất nhân từ. Nguyên nhân của sự chuyển hướng này là do trong thời chiến chinh, vua đã gây nên cuộc tàn sát lương dân quá nhiều, tự mình đã biết lỗi lầm, lại nhân được bậc cao tăng điểm hóa cho. Ngài mới phát tâm tín ngưỡng Phật giáo.

Trong các văn chiếu ở những bia đá còn lưu lại, vua đều có cho khắc câu này: “Sự thắng lợi chánh đáng vẻ vang nhất của tôi, là ở đạo đức chớ không phải ở vũ khí.”

Xem như thế thì đủ biết tính tình, sự kiến giải về đạo lý, và chủ tâm của Ngài đối với xã hội là thế nào? Khi đã nương về Chánh pháp, vua tôn A la hán Mục Liên Đế Tu (Moggaliputta Tissa) làm Quốc sư. Ngài lại cho hoàng đệ, hoàng nam và Công chúa xuất gia, phát nguyện hết sức hoằng dương Phật giáo. Quốc sư cũng giúp vua làm nhiều việc quan trọng đối với Chánh pháp. A Dục Vương lại tuân theo chủ nghĩa Từ bi của đạo Phật, ra sắc lệnh bãi bỏ việc chài lưới, săn bắn. Một điều đáng nói, tuy rất nhiệt tâm bảo vệ Phật pháp, song đối với các đạo khác, Ngài đều hết lòng ủng hộ. Những nơi nào có các vị Sa môn hoặc Bà la môn hữu đức, vua đều đi đến viếng thăm, giúp đỡ, hoặc hỏi han về đạo lý.

Sau khi lên ngôi được hai mươi năm, nghe lời khuyên của Trưởng lão Ưu Ba Cấp Đa (Uppagutta), vua phát tâm đi tuần bái các Thánh tích của Phật Đà, khởi đầu từ thành Ba Tra Lỵ Phất hướng về phương Bắc, trải qua thành Tỳ Xá Ly đến chỗ Đức Thích Tôn đản sinh.

Rồi từ đó vua lại noi theo con đường mà khi xưa Đức Phật sắp Niết bàn đã đi qua thành

Câu Thi Na Yết La.

Trong khoảng lộ trình trải qua, Ngài có cho xây năm trụ đá lớn để ghi dấu các nơi Thánh tích.

Năm Thánh tích ấy là:

1. Vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Thích Tôn giáng sinh.

2. Thôn Ưu Lâu Tần Loa, nơi Đức Thích Tôn tu khổ hạnh.

3. Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Thích Tôn thành đạo.

4. Vườn Lộc Dã, nơi Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên.

5. Rừng Sa La Song Thọ, nơi Phật nhập Niết bàn.

Riêng về trụ đá ở vườn Lâm Tỳ Ni, trên có chạm hình con ngựa (các trụ khác chạm hình sư tử), đến nay hạ phần vẫn còn, khắc văn cũng rõ ràng có thể phân biệt. Sau cùng, vua đến thăm Kỳ Viên Tinh xá, nơi có di tháp của các vị đại đệ tử Phật như: Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan Đà... Ngoài ra, vua còn cho xây dựng nhiều già lam và Bảo tháp.

Theo bộ A Dục Vương Truyện Ký, thì vua đã khải phát kho tàng của A Xà Thế Vương, lấy ra được 84000 viên Xá Lợi, dùng các bảo vật hòa với nhiều thứ danh hương tạo ra 84000 ngôi Bảo tháp. Ngài lại nhờ Da Xá Tôn giả dùng thần lực phóng 84000 tia sáng, rồi các Quỷ thần mỗi vị bưng một Bảo tháp theo chiều hướng mỗi tia sáng mà bay đi, đến chỗ cuối cùng của ánh quang minh, thì an trí Bảo tháp nơi lòng đất. Các ngôi Bảo tháp ấy được đặt để ở khắp châu Nam Thiệm Bộ. Riêng về xứ Trung Hoa có được 19 chỗ, nhưng vì phước đức chúng sanh kém, nên chỉ có hai nơi hiện lên, một ở núi Ngũ Đài, một ở chùa A Dục. Bảo tháp ở Ngũ Đài Sơn được bao trùm trong ngôi tháp lớn. Còn Bảo tháp ở chùa A Dục (sau đổi là chùa Quảng Lợi) tại huyện Cần, tỉnh Ninh Ba, hiện nay vẫn còn. Có kẻ cho truyền thuyết trên khó tin, điều ấy chưa biết thế nào? Nhưng riêng về Xá Lợi ở tháp chùa A Dục Vương, sự thật có nhiều điểm linh dị. Tùy theo biệt nghiệp, cũng một Xá Lợi ấy mà những người đến chiêm bái đều thấy khác nhau: hoặc lớn hay nhỏ, hoặc một hay nhiều viên, hoặc màu này màu kia, hoặc hình này hình khác, hoặc di động hay đứng yên. Các bậc cao tăng cận đại ở Trung Hoa như: Hư Vân, Ấn Quang, Thái Hư đều chứng thật về việc này.

Trong thời gian tại vị, vua A Dục đã cho 256 vị truyền giáo sư đi truyền bá chánh pháp ở các nơi. Do đó, ảnh hưởng của đạo Phật không những phổ cập khắp Ấn Độ, mà còn lan rộng: phía Bắc đến dãy Tuyết sơn xứ Ni Ba La, Đông lần đến Miến Điện và Mã Lai, Nam vượt biển vào Tích Lan, Tây Bắc ra A Phú Hãn đến Trung Á Tế Á, cực Tây đến Ba Tư cùng miền Đông Địa Trung Hải và mon men đến Ai Cập.

Bởi vua quá nhiệt tâm về sự bố thí và ủng hộ các Tôn giáo, nên các quan đại thần sợ quốc khố thiếu hụt, đều tỏ ý không tán thành. Vì thế, nên niên đại cuối cùng là năm thứ 47 ở ngôi, vua bị Thái tử và triều phần quản thúc, khiến cho chí nguyện không được toại, rồi ít lâu sau Ngài mãn phần.

Những Tinh xá Phật giáo do A Dục Vương lập ra, hiện thời đã tiêu tan không còn. Duy các Tốt Đổ Ba (tháp) thì lúc Ngài Huyền Trang qua du học ở Ấn Độ, còn mục kích được hơn 500 ngôi. Nhưng bây giờ cũng chỉ sót lại có hai ngôi là tháp Tang Kỳ (Sànchi) và tháp Ba Nhĩ Hô (Bharhùrt). Còn các trụ đá của vua dựng lên chia ra hai loại: có ghi khắc và không ghi khắc. Khi mới qua, Ngài Huyền Trang thấy được 16 chỗ, song hiện thời chỉ còn chín thạch trụ mà thôi.

Đại khái, đối với Phật giáo, vua A Dục đã gây một ảnh hưởng quan trọng, tạo một công đức lớn lao, nên người học Phật cũng cần biết lược qua. Trong một đời hộ pháp của nhà vua, sự kiện trọng yếu là kỳ kiết tập Pháp tạng lần thứ ba. Việc này đã tác khởi ngọn gió Từ bi lan tràn trong công cuộc truyền bá Phật giáo, mà hiện thời quần chúng các nơi cũng một phần nhờ đó nên được gội nhuần ánh chân lý. Dưới đây là duyên khởi của cuộc kiết tập.

Sau khi đã phát tâm tín phụng Tam bảo, vua A Dục hằng để lòng hộ trì Phật pháp. Lúc bấy giờ giữa giáo đồ đạo Phật và Bà la môn luôn luôn xảy ra những cuộc tranh luận. Hơn nữa, trong giới Tăng già, hai bộ Thượng Tọa, Đại Chúng cũng có quan điểm bất đồng về lý thuyết hữu vô trên phương diện truyền giáo. Muốn cứu vãn mối tệ mà điều chỉnh tình trạng trên, vua mới tổ chức cuộc kiết tập Pháp tạng lần thứ ba để minh định lại giáo nghĩa.

Cứ theo Thiện Kiến Luận của Ngài Giác Âm và bộ Chấp Luận Sớ của Ngài Chân Đế, thì lòng thành tín của vua A Dục đã đem lại cho Phật giáo sự cúng dường rất dồi dào. Nhìn thấy điểm ấy, nhiều kẻ ngoại đạo cải trang làm Tăng lữ ở lẫn lộn trong đại chúng. Rồi do tông chỉ và kiến giải bất đồng, họ gây ra tình trạng rối loạn trong Phật giáo, có thể phá hoại Chánh pháp. A Dục Vương hay được việc ấy, cho lọc lựa lại, đưa những kẻ tặc trụ Tỳ khưu trở về đạo của họ. Tuy nhiên, trong nhóm ấy cũng có vài trăm người bác đạt, thông thuộc Tam tạng của Phật giáo, mà phe đảng của ngoại đạo lại thạnh, nếu đuổi hết e có hại cho Phật pháp. Do đó vua mới cất một tịnh xá riêng ở Chế Đa Sơn cho họ ở. Sau khi ấy, nơi ngôi đại già lam Ma Yết Đà (Kỳ Viên tự) của vua kiến lập, Tăng chúng có sự bất đồng ý kiến, mỗi lần thuyết giới chia ra hai nhóm ở trong va ngoài Kê Viên không chịu hòa hợp. Tình trạng như thế kéo dài đã bảy năm. Vua sai sứ đến khuyên bảo hợp nhất, chúng Tăng không chịu. Sứ giả nổi giận giết Tăng đồ. Vua hay tin cả kinh, vội vã đến chùa xin sám hối, và hỏi nên xử sứ giả về tội nào? Trong chư Tăng có người nói do vua sai nên vua đắc tội: có vị bảo vua không có ý giết, tội về sứ giả; có kẻ cho rằng cả hai đều đắc tội: Vua nghe nói phân vân nghi hoặc, không biết xử sự ra sao. Lúc ấy có vài vị lớn tuổi khuyên vua nên hỏi Quốc sư. A Dục Vương y lời, đến núi A Hô Hằng Già thỉnh ý Ngài Mục Liên Đế Tu. Tôn giả Đế Tu xét biết có kẻ lẫn lộn dùng lý thuyết phân biệt để chia rẽ đại chúng và gây ra sự rối ren, nên tra gạn và trục xuất những người phá hoại. Xong việc ấy, Ngài tập họp các vị Thánh tăng và những vị tài đức đến thành Ba Tra Lỵ Phất, Bố tát thuyết giới, và kiết tập Pháp tạng lần thứ ba. Công cuộc tổ chức này do nhà vua ủng hộ. Trong đại hội lúc ấy có đến 1000 vị đại đức Tỳ kheo do Tôn giả Mục Liên Đế Tu làm thượng thủ. Việc kiết tập đã diễn ra trong vòng chín tháng, nhằm thời gian A Dục Vương tại vị năm thứ mười tám. Sau khi kiết tập Pháp tạng. Tôn giả Đế Tu lại nêu ra yếu nghĩa của các tông và viết đại cương thành quyển Luận Sự Luận (Kathavattuppakanara).

Qua cuộc kết tập, Ngài Mục Liên Đế Tu nghĩ rằng: “Sau này noi gương nào Phật pháp sẽ được tồn tại lâu dài?”

Nghĩ đoạn, Tôn giả liền nhập định quán sát, thấy Chánh giáo sẽ hưng thạnh nơi miền biên địa. Sau khi xuất định, Ngài khuyên các vị Trưởng lão đi đến những nơi ấy để tuyên dương Phật pháp.

Lúc đó, Đại đức Mạt Văn Đề (Majjhantika) lãnh phần đến nước Kế Tân (Kasmir) và Kiền Đà La (Gandhara) tức Ca Thấp Di La và nam bộ A Phú Hãn.

Ngài Ma Ha Đề Mà (Mahadeva) đến nước Ma Hê Sa Mạt Đà La (Mahisamandala) tức miền Nam Ấn, sông Kỳ Sĩ Mã.

Ngài Lặc Khí Đa (Rakkhita) đến nước Ba Tư (Vanavasa) tức miền biên cảnh Nam Ấn.

Ngài Đàm Vô Đức (Dhammarakkhita) đến nước A Ba Lan Đa Ca (Aparantaca) tức miền duyên hải Bắc bộ Mạnh Mãi.

Ngài Ma Ha Đàm Vô Đức (Mahà Dhamma Rakkhita) đến nước Ma Ha Lặc Tra (Maharattha) tức miền Tây Trung Ấn.

Ngài Ma Ha Lặc Khí Đa (Mahà Rakkhita) đến Du Na Thế Giới (Yonaloka) tức miền Tây Bắc Ấn Độ, lãnh thổ người Hy Lạp, xứ A Phú Hãn.

Ngài Mạt Thị Ma (Majjhima) và Ca Diếp Ba (Kàsyapa) đến biên cảnh Tuyết Sơn (Himavanta).

Ngài Tu Na Ca (Sonaca) và Uất Đa La (Uttra) đến nước Kim Địa, tức Miến Điện.

Ngài Ma Sấn Đà (Masandra) và Nhất Địa Tẩu đến nước Đồng Diệp cũng gọi là Sư Tử quốc, tức xứ Tích Lan.

Các vị Trưởng lão khi đi đều có đem đệ tử theo. Từ đó về sau, đúng như lời tiên đoán của Ngài Mục Liên Đế Tu, Phật giáo tiến triển theo hai đường Nam Bắc. Đường phía Bắc truyền qua Tây Vức vào Trung Hoa. Đường phía Nam thì phát triển mạnh ở Tích Lan. Về nội địa Ấn Độ, Phật pháp cũng hành trướng tùy theo giáo khu, sắc thái địa phương ngày một rõ rệt, sự tranh chấp nổi lên rất nhiều.

Tiết IV. Kỳ Kiết Tập Thứ Tư.

Sau khi A Dục Vương qua đời, con là Thiện Xưng, cháu là Thập Xa Vương kế tiếp lên nối ngôi. Hai ông vua này đều sùng tín ngoại đạo. Đến trước Tây lịch kỷ nguyên 184 năm, nhằm đời vua Đa Xa, quan đại thần đương triều là Bổ Sa Mật Đa La (Pusyamitra) chấp chưởng binh quyền rồi thí vua mà tự lập. Vương triều Khổng Tước từ đây đã đổ, nhường cho vương triều Huân Ca (Sunga) lên thay thế. Triều này đến đời vua thứ mười là Thiên Địa Vương, lại bị viên đại thần là Tài Thiên soán ngôi mà kiến lập ra vương triều Ca Tư Bà (Kànva). Các vương triều trên chỉ cuộc hạn trong phạm vi Trung Ấn, và đều sùng tín ngoại đạo, nên những bậc thạc đức của Phật giáo đều đi truyền đạo ở nước ngoài.

Từ khi vua A Dục băng hà, cách khoảng thời gian 300 năm sau, ở miền Bắc Ấn có vua Ca Nị Sắc Ca (Kaniska) ra đời, tiếp tục ủng hộ Chánh pháp. Điều nên nhắc nhở, trước vua Ca Nị Sắc Ca, ở miền Bắc Ấn đã có vua Di Lan Đà (Milinda) cũng là người của đạo Phật. Vị quốc vương này gốc người Hy Lạp, đem quân xâm nhập vào Bắc Ấn, vượt qua sông Tín Độ, đóng đô ở xứ Xá Kiệt, chiếm hữu các vùng đất dọc theo thượng lưu sông Hằng. Vua Di Lan Đà nghe theo Long Quân Luận sư (Na Tiên Tỳ kheo Nagasena) quy y Phật pháp. Giữa vua và Luận sư có cuộc vấn đáp về Phật giáo, được người bấy giờ ghi chép, tức là Kinh Na Tiên Tỳ kheo của Bắc tông hay Kinh Di Lan Đà Hỏi Đạo (Melinda panha) của Nam tông. Đây là bằng chứng minh xác người Hy Lạp theo Phật giáo mà chính vua là kẻ đầu tiên. Vua Di Lan Đà lên ngôi khoảng 150 năm trước kỷ nguyên, về sau quốc thổ bị vua nước Nguyệt Thị (Ueti Tukhàra, cũng gọi là Nguyệt Chỉ) đánh chiếm.

Vua Ca Nị Sắc Ca tại vị vào khoảng 124 - 150 sau kỷ nguyên. Ngài thuộc giòng Nguyệt Thị, một dân tộc ở miền Tây Vức. Nguyệt Thị vốn là giống dân du mục trú đóng ở biên cảnh Trung Hoa, gần tỉnh Cam Túc. Vào đầu nhà Hán, dân tộc này di cư đến Thông Lãnh, chiếm đoạt cựu lãnh thổ của Hy Lạp, đánh đuổi hậu duệ của vua Di Lan Đà, lập ra vương triều Quý Sương Hầu (Kunasa). Ca Nị Sắc Ca chính là vị vua thứ ba của triều này. Trước tiên vua đóng đô ở thành Bá Lộ Xa (Purusapura Phú Lâu Sa Bổ La) thuộc xứ Kiền Đà La (Gandhàra), sau thiên đô về thành Ca Nị Sắc Ca (Kanishapura). Tại nước Ca Thấp Di La (Kasmitra). Theo lịch sử, đây là một thời vua đại thạnh, chiếm lãnh toàn xứ Ấn Độ, thế lực rất hùng mạnh; phương Nam chinh phục Trung Ấn chiếm thành Hoa Thị, phương Tây hàng nước An Tức (Parthia) thuộc Ba Tư bây giờ, phương Đông chiếm xứ Ba Mễ La của Tây Tạng, đồng thời lại còn chiếm cả lãnh thổ của nhà Hậu Hán như Sớ Lặc (Kashgar), Xa Sa (Yarkand) và Vu Điền (Khotan).

Thời kỳ trước đó, xứ Ấn Độ trải qua nhiều phen loạn lạc, Phật giáo bị ngoại đạo áp bức, các vị Trưởng lão thuộc bộ phái Tát Bà Đa (Thuyết Nhất Thế Hữu Bộ) di cư sang lánh nạn ở xứ Ca Thấp Di La. Hoàn cảnh này đã đưa vua Ca Nị Sắc Ca đến chỗ tín ngưỡng Phật giáo. Về dấu tích hộ pháp, vua có kiến tạo rất nhiều tháp để thờ, tháp cao hơn bốn mươi trượng, trong có thờ Phật, ở tại thành Bá Lộ Xa. Ngoài ra, Ca Nị Sắc Ca Vương lại còn khuyến khích duy trì nền mỹ thuật Phật giáo của Kiền Đà La. Nhưng sự nghiệp đáng kỷ niệm hơn hết của vua là lần kiết tập thứ tư tại xứ Ca Thấp Di La.

Theo Tây Tạng Truyện, cứ mỗi ngày vua Ca Nị Sắc Ca thỉnh một vị tăng vào cung để thuyết pháp, và chính mình duyệt lãm các kinh, luận. Thấy giáo nghĩa trong các bộ không giống nhau, vua lấy làm ngờ vực, đem hỏi Ngài Hiếp Tôn giả (Pàrsava Ba Lật Thấp Phạ Ba Xa). Tôn giả giảng giải cho vua biết, vì lý do Phật giáo có 20 bộ nên cách trình bày giáo nghĩa của mỗi bộ đều khác nhau. Tuy nhiên, đường lối quy hướng chung cũng đồng về một trung tâm điểm. Vua nghe thấy thế, nảy ra ý nghĩ dung hội giáo nghĩa mở đại hội kiết tập Pháp tạng.

Trước tiên, vua hạ lệnh chiêu tập các học giả khắp trong nước để tuyển lấy những bậc học rộng tài cao, tinh thông Tam tạng. Kết quả sự hiệu triệu này, được 500 bị Bồ tát, 500 vị A la hán và 500 bậc học giả tại gia. Sau khi đó, cuộc kiết tập đã diễn ra ở Tinh xá Nhĩ Hoàn Lâm (Kundalavana Samgharàma) thuộc phạm vi thành Ca Nị Sắc Ca. Trong pháp hội này, đại chúng suy tôn Ngài Thế Hữu (Vasumitra) làm thượng thủ. Ngoài ra lại còn có bốn vị phó là các đại đức: Hiếp Tôn giả, Pháp Cứu (Dharmatràta), Diệu Âm (Ghosa), Giác Thiên (Buhadeva). Các vị trên đây chú thích Kinh, Luật, Luận, mỗi thứ 10 vạn bài tụng, tất cả là 30 vạn bài, gồm 660 vạn lời. Kỳ kiết tập này, Tam tạng đều được khắc vào bản bằng đồng, trước sau phải mất 12 năm mới xong. Sau khi hoàn thành, vua cho xây cất một Bảo tháp rộng lớn để tàng trữ, cắt cử người giữ gìn để ngăn ngừa sự lẫn lộn của học thuyết ngoại đạo. Nếu ai muốn học hỏi và nghiên cứu, chỉ được xem ở trong tháp, cấm không cho đem ra bên ngoài. Tuy thế, Kinh và Luật tang cũng đã sớm bị thất lạc, duy có phần chú thích của A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharma mahavibhàsa), gồm 200 quyển do Ngài Huyền Trang dịch là hiện còn lưu truyền. Nội dung của bộ luận này, tổng hợp giáo nghĩa dị đồng của các bộ phái để hoàn thành học thuyết của Hữu bộ.

Sau cuộc kiết tập, các bộ phái đều nhận chân giáo lý của Phật, không còn tranh chấp nhau nữa. Vua tuy tín nguỡng Nhất Thế Hữu bộ, song đối với các bộ phái khác cũng đều công nhận và ủng hộ một cách bình đẳng.

Đương thời, do Mã Minh Bồ tát (Asvaghosa), Đại thừa Phật giáo ở Ấn Độ bắt đầu hưng thạnh. Về phần trị hóa thì các nước trong và ngoài Thông Lãnh đều ở dưới quyền của vua Ca Nị Sắc Ca. Cho nên xét về phương Chính trị và Tôn giáo, sự du nhập của đạo Phật sang Trung Hoa cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi hai điểm trên.

Tiết V. Đại Thừa Kiết Tập.

Khi Đức Như Lai còn tại thế, đối với hạng dung thường, Ngài chỉ thuyết pháp một cách phổ thông bình đẳng, không phân chia là Đại thừa, Tiểu thừa chi cả. Tuy nhiên, trong lời thuyết pháp của Phật, đôi khi có hàm ẩn giáo lý Đại thừa. Chẳng hạn như trong kinh Tiểu thừa, chúng ta thấy có danh từ A Đà Na thức; A Đà Na là thức thứ tám, thức này không phải cảnh giới Thanh văn có thể thấu triệt được. Cho nên khi đọc tới danh từ trên đây, họ chỉ hiểu là thức thứ bảy của ngã chấp mà thôi. Sự dẫn chứng Đại thừa pháp hàm ẩn trong kinh giáo Tiểu thừa, quyển Nhiếp Đại Thừa Luận có phân tích rành rẽ.

Sở dĩ Đức Thế Tôn không đem giáo nghĩa Đại thừa mở rộng giảng cho hàng tiểu căn nghe, vì sợ họ không hiểu rồi sinh lòng phỉ báng mà mang đọa. Theo trong kinh, chấp nhận được giáo lý Đại thừa, chỉ có ba hạng:

1. Hạng Đăng Địa Bồ tát:

Bậc Bồ tát khi đã chứng pháp thân thấy vô số Tịnh độ, Uế độ ở mười phương, được nghe chư Phật Mười thuyết pháp. Bởi lý do này, đối với Phật bảo, Bồ tát tin chắc có vô lượng chư Phật ở tha phương thế giới, không như hàng Thanh văn chỉ biết trong phạm vi tam thiên giới của cõi Ta Bà và chỉ tôn thờ một vi Phật và Đức Thích Ca Mâu Ni.

Đối với Pháp bảo, Bồ tát tin hiểu có vô lượng pháp môn độ sinh, không như hàng Thanh văn chỉ chấp nhập pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên và các tiểu pháp khác.

Đối với Tăng bảo, Bồ tát hiểu rằng có vô lượng chư Bồ tát ở mươi phương, không như hàng Thanh văn chỉ biết có Di Lặc Bồ tát, sau sẽ thành Phật và các vị A la hán như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên...

2. Hạng Thanh văn tin nơi lời của Phật và phát tâm Đại thừa:

Đại thừa tuy không phải là cảnh giới của hàng Thanh văn, nhưng do họ tin lời của Phật mà chấp nhận.

Như trong kinh Pháp Hoa, Đức Thế Tôn bảo: “Xá Lợi Phất! Pháp môn này với đạo quả của ông, hãy còn nương nơi ta mà tin hiểu... Bao nhiêu hàng Thanh văn khác, chỉ tùy thuận Như Lai mà tín thọ, chớ không phải do Trí tuệ của chính mình.”

3. Hạng phàm phu có chủng tử Đại thừa:

Đây là những hạng Đại thừa chủng tánh trong năm tánh theo kinh Phật. Hạng này nhiếp luôn cả Sơ phát tâm Bồ tát và Hiền vị Bồ tát. Tuy chưa chứng đạo quả nhưng hàng Đại thừa chủng tánh do nhiều kiếp về trước đã huân tập pháp Đại thừa, nên một khi nghe đến pháp này liền tín thọ. Như kinh Kim Cang, kinh Vô Lượng Thọ đều nói: “Nếu có người nào nghe pháp này mà tin thuận, nên biết kẻ ấy không phải chỉ gieo căn lành nơi một hai Đức Phật, mà đã từ vô lượng chư Phật về trước rồi.”

Lại, Đại thừa có nhiều pháp môn, nên sự huân tập của hàng Đại thừa chủng tánh cũng có ít nhiều sai biệt. Như cũng đồng Đại thừa chủng tánh mà có kẻ tin pháp Bát nhã, song không tin pháp Bí mật, hay tin pháp Bí mật nhưng không tin pháp Tịnh độ, hoặc tất cả đều tin. Còn hạng không có chủng tánh này, dù đọc hết bao nhiêu Pháp tạng, kết cuộc sự tin hiểu và lối giải thích nếu không Tiểu thừa cũng thế gian, không thế gian cũng ngoại đạo.

Thật đúng như câu: “Nhất đại tạng kinh đô khán tận. Bất tri thùy thị cá trung nhơn?” (Một đại tạng kinh xem đã hết. Biết ai là kẻ ở trong đây?)

Trong một đời giáo hóa, Đức Thế Tôn phần nhiều nói giáo pháp thông thường. Tuy nhiên, đối với hạng đại căn, Ngài lại diễn môn Đại thừa đặc biệt. Những kỳ thuyết pháp này, có khi Đức Phật nói ở Thiên cung, Long cung, hay nơi hải đảo, non cao, hoặc riêng trong chúng hội có căn cơ kham tin nhận đại pháp. Từ trước đến đây, sở dĩ có cuộc dẫn giải dài dòng, là để học giả tin pháp Đại thừa có thật, nhưng rất khó tin, nếu không phải là người đã sẵn đại căn. Vì khó tin nên khi Phật nói kinh Pháp Hoa ở non Linh Thứu, đã có 5000 vị Thanh văn chứng tứ đạo quả, rút lui ra khỏi pháp hội. Và đã có Đại thừa pháp, tất nhiên có cuộc kiết tập giáp nghĩa này.

Căn cứ theo kinh, cuộc kiết tập Đại thừa giáo đã diễn ra ba lần ở ba nơi:

Lần thứ nhất, như kinh Bồ Tát Xử Thai nói: Sau khi Đức Thế Tôn diệt độ bảy hôm, Ngài Ma Ha Ca Diếp dùng thần thông chiêu tập 500 vị A la hán đến Sa La Song Thọ. Đồng thời lại có các bậc Đại A la hán ở mười phương vân tập tới bản xứ. Lúc ấy trong đại hội có tám ức bốn ngàn chúng A la hán.

Sau khi thỉnh Tôn giả A Nan lên tòa thất bảo, Ngài Đại Ca Diếp nói: “Pháp tạng của Phật, nhân giả đã thọ trì. Vậy xin trùng tuyên lại đừng để xót mất một lời một chữ. Về các tạng: Bồ tát, Thanh văn, Giới luật, xin tập hợp mỗi bộ loại cho rành rẽ.”

Khi ấy, giữa chúng hội, Ngài A Nan trùng tuyên Pháp tạng chia thành ba bộ loại: Bồ tát, Thanh văn và Giới luật. Riêng về tạng Bồ tát, Tôn giả lại phân ra tám biệt tạng là: Thai Hóa, Trung Ấm, Đại Phương Đẳng, Giới luật, Thập Trụ Bồ tát, Tạp Tạng, Kim Cang và Phật Tạng.

Lần thứ hai, như Luật Trí Độ nói: Sau khi Phật nhập diệt, các vị Bồ tát Văn Thù, Di Lặc dùng thần thông đem Ngài A Nan đến núi Thiết Vi. Tại nơi đây đã có vô lượng chúng Bồ tát, Thanh văn cùng Thiên long bát bộ vân tập. Lúc đó, giữa chúng hội, Ngài A Nan kiết tập ba tạng Kinh, Luật, Luận, của Đại thừa. Kế đó các Bồ tát lại đem Ngài đến núi Kỳ Xà Quật, kiết tập ba tạng Tiểu thừa.

Lần thứ ba, như Đại Nhật Kinh Sớ nói: Cuộc kiết tập Bí mật tạng chia làm ba bộ phái:

1. Bộ phái Tự môn: Bộ này do Ngài A Nan kiết tập gồm hai môn loại: Kim Cang giới và Thai Tạng giới.

2. Bộ phái Sơn môn: Bộ này cũng kiết tập hai môn loại trên, nhưng Bồ tát Kim Cang Thủ làm Chánh hội chủ, Tôn giả A Nan làm Phó hội chủ.

3. Bộ phái Đông tự: Bộ này do Kim Cang Thủ Bồ tát kiết tập lại Tạp bộ của hai môn loại trước.

Tóm lại, hai kỳ kết tập trước gọi chung là:

- Đại thừa kết tập, xứ sở là Sa La Song Thọ và Thiết Vi Sơn.

- Kỳ kết tập sau gọi là Bí mật kết tập, xứ sở chưa được rõ.

Chương VII: Kinh Điển Đạo Phật.

+ Tiết Mục:

I. Sau thời kiết tập.

II. Kinh Phật tiếng Ba ly.

III. Kinh Phật tiếng Phạm.

IV. Hai hệ thống Kinh điển Phật giáo.

V. Ba tạng.

VI. Mười hai phần giáo.

+ Kinh sách tham khảo:

- Kinh Đại Niết bàn,

- Luận Du già,

- Luận Tỳ Bà Sa,

- Phật Học Đại Cương,

- Phật giáo Khái Luận,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử.

+ Đề yếu: Trong bốn tiết đầu, đại khái nói về sự phát nguyên của hai hệ thống Phật giáo Nam, Bắc. Khi Phật còn tại thế thuyết pháp, Ngài thường dùng lối ngôn ngữ phổ thông của miền Đông Ấn Độ. Sau lúc đức Thế Tôn Niết bàn, những pháp âm của Ngài mới được ghi chép bằng hai thứ tiếng: Phạn, và Ba ly; nhưng sự xuất phát trước sau của hai loại kinh này chưa tìm được tài liệu để chứng minh. Và hai thứ Kinh điển Phạn và Ba ly, đã là nguyên nhân đưa Phật giáo đến hai hệ thống: Nam truyền và Bắc truyền.

Hai tiết sau phân tích về ba tạng, mười hai phần giáo. Mười hai phần giáo không phải là những bộ loại riêng cho tạng Tu Đa La, mà gồm cả Tỳ Nại Gia và A Tỳ Đàm. Và, tất cả pháp điển của Đại thừa, Tiểu thừa tuy nhiều danh mục sai biệt, song tóm lại không ngoài ba tạng, mười hai phần giáo.

Tiết I. Sau Thời Kiết Tập.

Sau khi trải qua mấy kỳ kiết tập, nội dung Kinh điển Phật giáo thật phong phú, sách vở rất nhiều, đời sau lại còn tăng thêm mãi. Hiện thời Pháp tạng đang lưu truyền gồm có đến 5000 quyển, 7000 quyển, hoặc 8000 quyển. Nhìn khắp tất cả Tôn giáo trên thế giới, không có đạo nào Kinh điển nhiều bằng ba tạng của Phật giáo.

Trong hai lần kiết tập đầu tiên, chư Tăng thi hành pháp sự theo thể thức hội tụng (Samgìti), chưa dùng cách biên chép. Thể thức này là đại chúng vân tập ở một nơi, rồi cùng nhau đọc lại và xét định những lời lẽ của Phật đã dạy để lưu truyền. Bởi theo tập tục của thời đó, người ta cho rằng viết chép là làm mất giá trị của thần Thánh. Lại còn một nguyên nhân nữa, là do thiếu những dụng cụ biên chép mà phải như thế. Chẳng hạn, như tình trạng thời xưa ở Trung Hoa, vì thiếu giấy bút nên người đời Lưỡng Hán muốn lưu lại điều chi, phần nhiều đều dùng cách truyền khẩu.

Nhưng đến hai lần kiết tập sau, nhằm vào thời vua A Dục và Ca Nị Sắc Ca, ngoài cách hội tụng, các đệ tử Phật còn ghi chép Tam tạng thành sách vở. Sự kiện này đã được thể hiện bằng hai lối văn tự: Ba ly (Pali) và Phạn ngữ (Sanskrit).

Trong phái quý tộc Ấn Độ lại có sẵn một lối nhã ngữ đã lưu hành, được gọi là thứ tiếng của người học thức, hợp với vận luật kinh Phệ Đà. Khi Đức Phật còn tại thế, vì bình đẳng thí pháp đối với bốn giai cấp, ít khi Ngài dùng thứ nhã ngữ ấy. Nhưng sau khi đức Thế Tôn Niết bàn khoảng một trăm năm, ông Ba Nhĩ Ni (Pànini) là một học giả chuyên về văn pháp, đem thứ nhã ngữ ấy quy định lại rất rõ ràng, được nhiều người khen ngợi, cổ xúy cho sự lưu thông. Nhân đó, Phật giáo đồ cũng thu dụng thứ tiếng ấy để biên chép kinh Phật. Vậy kinh Phật bằng tiếng Phạn hoặc tiếng Ba ly, thứ nào trước, thứ nào sau. Điều đó, thật ra ta chưa tìm được bằng chứng. Nhưng xét về khu vựu lưu hành của mỗi thứ, ta thấy rõ ràng không đồng nhau. Như kinh Phật bằng tiếng Ba ly thì lưu hành về phương Nam, mà Tích Lan là trung tâm điểm. Còn kinh Phật bằng tiếng Phạn được lưu truyền sang miền Bắc, trung tâm điểm trước kia là xứ Ca Thấp Di La, sau lần chuyển sang Trung Quốc.

Tiết II. Kinh Phật Tiếng Ba Ly (Pàli).

Vào thời vua A Dục, trước tiên có hai vị A la hán là Ma Sấn Đà và Nhất Địa Tẩu sang Tích Lan truyền giáo. Sau lại có con gái A Dục Vương là Tăng Già Mật Đa (Sanghamittà) mang một nhánh cây Bồ đề từ nơi đức Phật thành đạo tới trồng tại Tích Lan, mà trong sử gọi là chuyển cây "Thánh thọ.” Đương thời vị quốc vương bản xứ là Thiên Ái Đế Tu (Devànàmpriya Tissa) tín ngưỡng Chánh pháp rất mạnh. Người đã cúng khu vườn Mi Già và lập Tinh xá để chư Tăng cư trú, về sau thành một cảnh chùa rất nguy nga. Nơi đây là cơ sở của Đại Tự Phái (Mahàvihàra) thuộc Thượng Tọa Bộ (Theriyanikàya). Những Kinh điển do hai vị A la hán đem truyền sang Tích Lan là Pháp tạng kiết tập trong kỳ thứ ba, ghi chép bằng thứ ngôn ngữ phổ thông của xứ Ấn Độ, lấy gốc ở tiếng Ma ga đi (Magadhi). Về sau người Tích Lan canh cải ngôn ngữ này thành tiếng Ba ly (Pali). Và thứ tiếng này được dùng để chép Kinh điển của Nam truyền Phật giáo.

Vào khoảng thế kỷ đầu của Tây lịch, tại Tích Lan có Vô Úy Vương (Vathagàmani Abhaya) lên ngôi, rất sùng tín đạo Phật. Vua cho xây dựng một cảnh chùa rất to lớn tại núi Vô Úy (Abhaya) gọi là Vô Úy Sơn Tự (Abhayagiri) để cúng dường Tam bảo. Về sau, chư Tăng ở đây vì bất đồng ý kiến về Giới luật, chi rẽ với phái Đại Tự, và biệt lập một môn phái gọi là Vô Úy Sơn Tự, thuộc Pháp Hỷ bộ (Dhamaruci Nikàya). Vị quốc vương đương thời thấy thế mới triệu thỉnh 500 vị đại đức Tỳ kheo, căn cứ vào ba tạng khẩu truyền bằng tiếng Ba ly, đính chánh cẩn thận rồi chép vào sách. Tại Tích Lan, kinh Phật bằng tiếng Ba ly có sự ghi chép bắt đầu từ đó. Tuy nhiên, về phần chú thích, người ta vẫn còn viết bằng thứ thổ ngữ của Tích Lan. Còn cách biên chép thì họ y theo tục lệ Ấn Độ, dùng lá cây Bối đa la (Battrà) lấy kim chính thành văn tự rồi nhuộm mực, có thể để lâu đời không phai.

Ở triều vua Cù Đàm Bà Gia (Gotabhaya), nhằm 205 năm sau kỷ nguyên, Phật giáo Tích Lan lại phát sinh ra một phái mới gọi là Kỳ Đà Lâm Tự phái (Jetavana). Như vậy Phật giáo Tích Lan thời này có ba phái đối lập nhau.

Phật giáo Tích Lan từ thời cổ vẫn truyền tụng bằng cách đọc thuộc lòng, nhưng cuối triều đại Ba Đà Già Ma Ni Vô Úy (Vatthagàmani Abhaya), Kinh điển mới bắt đầu được ghi chép bằng tiếng Ba ly. Đến đầu thế kỷ thứ V, có Ngài Phật Âm (Budhaghosa), người sứ Trung Ấn đến Tích Lan, Ngài nghiên cứu giáo lý của Đại Tự Phái, chế tác ra bộ Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuđhimagga). Nội dung của bộ này là một thể hệ tam học, và cũng là một giáo học hoàn bị của Đại Tự Phái. Là một vị thông minh bác học, Phật Âm Tôn giả đem phần chú thích Tam tạng bằng thổ ngữ Tích Lan, chép lại thành tiếng Ba ly. Những bộ phận chú thích chưa xong, thì Ngài Hộ Pháp (Dharmapàla) tiếp tục hoàn thành. Bấy giờ kinh Phật bằng tiếng Ba ly ở Tích Lan mới được chỉnh bị. Vì thế, các học giả gần đây đều tôn xưng Ngài Phật Âm là vị giáo tổ thứ hai của Phật giáo Tích Lan. Xem đó, chúng ta có thể biết được lòng tôn sùng của họ là thế nào?

Tiết III. Kinh Phật Tiếng Phạn.

Khi Phật còn tại thế thuyết pháp, Ngài dùng thứ ngôn ngữ phổ thông, tức là tục ngữ của miền đông Ấn Độ. Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, giáo pháp của Ngài được ghi chép bằng hai thứ tiếng: Phạn và Ba ly. Tiếng Ba ly tương tợ với tục ngữ Ấn Độ, còn tiếng Phạn là một lối nhã ngữ ở bản xứ được ông Ba Nhĩ Ni tu chỉnh lại.

Về kinh Phật bằng tiếng Phạn, đại khái đến đời vua Ca Nị Sắc Ca mới hoàn bị. Tương truyền rằng việc thẩm định Tam tạng hồi thời ấy, nếu thứ nào không có bản truyền lại, chư Tăng chép thành bản mới, thứ nào đã có sẵn, cũng đem ra giáo chính kỹ càng. Cho nên những kinh chữ Phạn lúc bấy giờ rất đầy đủ. Tại nước Trung Hoa, khi kinh Phật từ Tây Vức truyền đến, là đã có ngay bản chữ Phạn. Dọc theo miền Ni Bá Nhĩ (Népal) còn rất nhiều bản kinh chữ Phạn truyền lại, nhưng vì hệ thống kết cấu toàn thể không hoàn bị bằng Tam tạng tiếng Ba ly, nên rất khó cho người nghiên cứu.

Vào khoảng thế kỷ thứ VII Tây lịch, ở Tây Tạng có vua Song Tán Tư Cam Phổ ra đời. Quốc vương là một tín đồ thuần thành của đạo Phật. Ngài có cho mười sáu quan đại thần do ông Đoan Mỹ Tam Bồ đề lãnh đạo, sang Ấn Độ học chữ Phạn và Kinh điển Phật giáo. Các vị này lưu trú tại xứ Nam Thiên Trúc bảy năm, lúc trở về có đem theo rất nhiều kinh tượng và pháp khí. Sau khi về đến nước nhà, mười sáu đại thần căn cứ theo Phạn ngữ chế ra chữ Tây Tạng và phiên dịch Kinh điển. Đây là giai đoạn mở đầu của kho pháp giáo Tây Tạng trong hệ thống phương Bắc Phật giáo.

Sau khi đó, Phật giáo ở Tây Tạng rất thịnh hành và được chuyển đổi lại thành quốc giáo. Các vị cao Tăng Ấn Độ đến Tây Tạng hoằng pháp, cũng chuyên về việc phiên dịch Kinh điển Phạn văn ra chữ Tây Tạng. Hầu hết kinh Phật Trung Hoa tuy được dịch ra từ Phạn văn, nhưng đôi khi cũng có thứ phiên dịch từ văn tự Tây Tạng.

Hiện thời kinh Phật ở Tây Tạng chia ra làm hai loại: Một là Cam Thù Nhĩ (Kanjur), có nghĩa: "Lời Phật dạy", biên tập tất cả kinh và luật, gồm 108 bộ sách lớn. Hai là Đan Thù Nhĩ (Danjur), có nghĩa "Lý Luận", biên tập những thứ biện luận và trứ tác, gồm 225 pho sách.

Kinh điển Tây Tạng được thạnh truyền ở miền Trung Á. Vào khoảng thế kỷ thứ XIII, vua Thế Tổ nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt, xâm nhập Tây Tạng, tín dụng Lạt Ma giáo và phong cho Phát Tư Ba làm Quốc sư. Vâng lệnh vua, Quốc sư chế ra chữ Mông Cổ, rồi căn cứ vào kinh Phật của Tây Tạng mà dịch thành đại tạng kinh bằng tiếng Mông Cổ.

Nước Trung Hoa vào thời Hán Minh Đế, niên hiệu Vĩnh Bình thứ mười (sau kỷ nguyên, 6, 7 năm), có hai vị A la hán là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan từ Ấn Độ đến. Hai vị ấy lưu trú tại chùa Bạch Mã, tỉnh Lạc Dương, bắt đầu dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương và Thập Địa Đoạn Kiết. Về sau, các triều đại khác đều lấy việc phiên dịch Tam tạng làm phần chính trong công cuộc quảng bá Phật giáo.

Tiết IV. Hai Hệ Thống Kinh điển Phật Giáo.

Phật giáo chia thành hai hệ thống lớn là Đại thừa và Tiểu thừa. Những nước thuộc hệ thống Đại thừa Phật giáo như: Bắc Ấn, các địa phương Trung Á, Tây Tạng, Mông Cổ, Mãn Châu, Trung Hoa, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Các nước thuộc hệ thống Tiểu thừa Phật giáo như: Nam Ấn, Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao (Lào), Cao Miên (Campuchia). Phật giáo ở những nước này gọi là Nam truyền hay Nam Phương Phật giáo. Kinh điển của Nam phương Phật giáo được ghi chép bằng tiếng Ba ly, nên gọi là Ba ly Phật điển. Kinh điển của Bắc phương Phật giáo được ghi chép bằng tiếng Phạn, nên gọi là Phạn ngữ Phật điển.

Tuy phân chia Đại thừa, Tiểu thừa hay Nam truyền, Bắc truyền, song thật ra Bắc truyền Phật giáo cũng gồm có Kinh, Luật, Luận của Tiểu thừa; Nam truyền Phật giáo cũng có nơi xen lẫn giáo lý Đại thừa. Danh từ Bắc phương hay Nam phương Phật giáo là chỉ cho hai hệ thống Kinh điển Phạn ngữ và Ba ly, chớ không phải chỉ trên phương diện địa lý. Chẳng hạn như đảo Xà Bà (Java), địa cảnh thuộc về Nam phương, nhưng nhân dân xứ ấy đã từng tín phụng Bí mật giáo của Đại thừa. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại đảo này những tượng Phật, Bồ tát và Kinh điển của Đại thừa Phật giáo.

Tiết V. Ba Tạng.

Kinh điển đạo Phật chia ra làm ba loại, người ta thường gọi là Tam tạng: Kinh, Luật, Luận.

- "Kinh" là những pháp về giáo lý, giải, hạnh, do đức Như lai nói ra, hoặc hàng Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác hay Hóa nhân nói, mà được Phật Ấn chứng. Đạo pháp này hợp với chân lý, căn cơ, để cho người học Phật tu hành dứt trừ phiền não.

- "Luật" là những Giới luật của Phật chế định, để cho hàng đệ tử y theo đó ngăn trừ những phi hạnh, tu tập các pháp lành, thân tâm dần dần được thanh tịnh.

- "Luận" có nghĩa: bàn luận, là những sách do các đệ tử Phật viết ra, để phát huy nghĩa lý nhiệm mầu trong kinh luật. Đây là bộ phận triết học của Phật giáo, có công năng quyết đoán tánh tướng các pháp, phân biệt lẽ chánh tà, khiến cho học giả khỏi nhận lầm.

Những điểm đồng và dị của Tam tạng như thế nào? Luận Tỳ Bà Sa nói:

Chư Phật ra đời đều có ba tạng (Tripitaka): Tu đa la (Sùtra), Tỳ nại gia (Vinaya), A tỳ đạt ma (Abhidharma). Ba tạng này thật ra không khác mà khác, hay nói ngược lại. Không khác là tất cả Phật giáo đều từ nơi một biển trí mà sinh ra, đều đồng một nhiếp thọ, lực, vô uý, và đều do tâm đại bi phát khởi. Có khác là Tu đa la y nơi tâm mà luận, Tỳ nại gia y nơi giới mà luận, A tỳ đàm y nơi huệ mà luận. Đây là nói về sở y sai biệt. Lại, Tu đa la do nơi thứ đệ mà hiển, Tỳ nại gia do nơi duyên khởi mà hiển, A tỳ đàm do nơi tướng tánh mà hiển. Đây là nói về sở hiển sai biệt. Lại, Tu đa la thuộc về dòng trí lực, Tỳ nại gia thuộc về dòng đại bi, A tỳ đàm thuộc về dòng vô úy. Đây là nói về đẳng lưu sai biệt. Công năng của Tu đa la là: người chưa trồng căn lành, khiến cho trồng căn lành. Công năng của Tỳ nại gia là: người đă trồng căn lành, khiến cho tiếp tục được thành thục. Công năng của A tỳ đàm là: người đă chủng căn lành thành thục, khiến cho được sự Giải thoát chân chánh. Đây là nói về sở vi sai biệt. Tu đa la do hàng thỉ nghiệp mà nói, Tỳ nại gia do hàng quán tập mà nói, A tỳ đàm do hàng đã vượt qua sự tác ý mà nói. Đây là nói về phận vị sai biệt. Nẻo tiến của Tu đa la là: người chưa vào Chánh pháp, khiến cho vào Chánh pháp. Nẻo tiến của Tỳ nại gia là: người đã vào Chánh pháp, khiến cho thọ trì học xứ. Nẻo tiến của A tỳ đàm là: người đã thọ trì học xứ, khiến cho thông đạt tánh tướng chân thật của các pháp. Đây nói về tiến thú sai biệt.

Trong Tu đa la cũng có luận về giới và huệ. Trong Tỳ nại gia cũng có luận về huệ và tâm. Trong A tỳ đàm cũng có luận về tâm và giới. Đây là điểm khác mà không khác của ba tạng.

Sao gọi là "tạng.” Chữ "tạng" (Pitaka) có nghĩa: trùm chứa. Kinh, luật, luận sở dĩ được gọi là tạng, vì nội dung trùm chứa vô lượng nghĩa lý nhiệm mầu, vì là giáo pháp thuyết minh tạng tánh của Như Lai.

Trong ba tạng, theo nghĩa hẹp, riêng về giáo pháp của Phật nói ra hoặc ấn chứng, được gọi là Kinh, còn bao nhiêu thì là Luật hay Luận. Nhưng ba tạng đều là giáo điển của đạo Phật, đều có liên quan với lời Phật dạy, nên theo nghĩa rộng, cũng thông gọi là Kinh. Vì thế, nên lại có những danh từ như: Nhất thế kinh, Đại tạng kinh, với ý nghĩa gọi chung cho ba phần giáo điển.

Ngoài ra, những Kinh điển Đại thừa còn gọi là Bồ tát tạng, Kinh điển Tiểu thừa gọi là Thanh văn tạng. Cả Đại thừa, Tiểu thừa đều có ba tạng, nghĩa là kinh, luật, luận riêng. Tam tạng của Đại thừa, về kinh như: Hoa Nghiêm, Pháp Hoa; về luật như: Phạm Võng, Đại thừa Giới Kinh; về luận như Khởi Tín, Đại Trí Độ. Tam tạng của Tiểu thừa, về kinh như: A Hàm, Pháp Cú; về luật như: Ngũ Phần, Thập Tụng; về luận như: Câu Xá, Thành Thật.

Lại còn có những danh từ như Bí mật tạng, Tạp tạng..., mà nội dung là: bộ phận mật chú, bộ phận hợp tập những bài thuyết pháp tản mác của đức Phật. Nhưng dù là Bồ tát tạng, Thanh văn tạng, Bí mật tạng hay Tạp tạng, đều không ngoài ý nghĩa ba tạng. Tam tạng là danh từ thống nhất của giáo điển đạo Phật, gồm cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa.

Tiết VI. Mười Hai Phần Giáo.

Ba tạng Kinh điển của đạo Phật, y theo thể tài, được phân chia thành mười hai bộ loại. Người học Phật thường gọi những bộ loại này là "mười hai phần giáo":

1. Tu Đa La (Sùtra):

Danh từ này có một lối gọi là Tô Đát Lãm, Trung Hoa dịch là Kinh hay Khế Kinh. Chữ "Khế" có nghĩa là "hợp", chữ "Kinh" có nghĩa là "thường.” Pháp Giải thoát là pháp chư Phật trong ba đời vẫn thường nói, và pháp ấy hợp với chân lý, hoặc với nhân duyên thời tiết cùng căn cơ của chúng sinh, nên gọi là Khế Kinh. Kinh cũng gọi là Trường Hàng (tản văn, văn xuôi), một lối văn chỉ nói ngay ý nghĩ của mình, tùy theo nghĩa lý mà đọc ra câu văn dài hay ngắn. Lối văn này không cần sửa soạn lắm như lối văn từ phú.

Luận Du già nói: "Kinh là những danh, cú, văn thân, phát huy nghĩa nhiệm mầu, chân thật, thuần thiện. Kinh hay khiến cho chúng sinh được điều lợi ích của giáo nghĩa và dẫn khởi sự tu tập phạm hạnh.”

Kinh Đại Niết bàn nói: "Thiện nam tử! Sao gọi là Khế Kinh? Ấy là giáo thuyết của Phật từ câu "Như thế, tôi nghe" cho đến câu, "vui mừng phụng hành.”

2. Kỳ Dạ (Geya):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Ứng Tụng hay Trùng Tụng. Đây là lối kệ văn thuật lại những ý nghĩa của đoạn văn Trường Hàng nói trên, có khi nói thêm cho ý nghĩa ấy được đầy đủ. Lối văn này thường lấy bốn, năm hoặc bảy, tám chữ làm một câu, bốn câu làm một bài. Lại có khi một bài gồm nhiều câu, tùy theo sự diễn ý rộng hay hẹp. Trong pháp hội, đức Thế Tôn thường nói văn Trùng Tụng, với dụng ý làm cho thính giả ghi nhớ và có thể tóm tắt lại giáo nghĩa mà Ngài vừa tuyên thuyết.

3. Thọ Ký:

Thọ ký cũng gọi là Ký Biệt. Đây là những đoạn văn mà đức Phật ghi nhận cho đệ tử sau sẽ sinh về đâu, hoặc chừng nào sẽ chứng đạo quả, hoặc tương lai sẽ xảy ra sự gì tốt hay xấu. Như đức Phật nói: "A Dật Đa! Đời vị lai có vị quốc vương tên là Nhương Khê. Ông sẽ ở nơi thời ấy mà thành Phật, hiệu là Di Lặc.”

4. Dà Đà (Gàthà):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Phúng Tụng hoặc Cô Khởi. Phúng Tụng là làm những bài kệ hoặc hai ba bốn, năm, sáu câu. Nói Cô Khởi, là lối văn này không thuật lại ý nghĩa đoạn văn Trường Hàng trên, mà chỉ làm riêng từng bài kệ thôi.

5. Ưu Đà Na (Udàna):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Tự Thuyết. Đây là những kinh do Phật dùng Trí tuệ xem xét căn cơ chúng sinh, rồi Ngài tự nói pháp, không đợi phải có người thưa thỉnh yêu cầu.

6. Ni Đà Na (Nidàna):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Nhân Duyên. Đây là những kinh nhân có người thỉnh, hay nhân có duyên chi Phật mới nói ra, hoặc nói về nhân duyên gặp Phật nghe pháp, những chỗ có nhân duyên hóa độ, hay nói về duyên khởi của vũ trụ. Thí dụ như thuở xưa ở nước Xá Vệ có người dùng lưới bắt chim để chơi. Khi bắt được, anh đem nó nhốt vào lồng cho ăn lúa uống nước xem cho chán rồi thả. Phật thấy thế, biết rõ nhân duyên trước sau, khuyên rằng: "Chớ khinh tội nhỏ. Cho là không sao. Giọt nước tuy ít. Lần đầy chum lớn.”

7. A Ba Đà Na (Avadàna):

Danh từ này có nghĩa là Thí Dụ. Pháp của Phật nói ra rất mầu nhiệm, người căn cơ tối chậm khó mà hiểu thấu. Vì thế, khi giảng dạy đức Như Lai phải dùng những thí dụ cho thính chúng dễ hiểu. Đại khái như những lời thí dụ trong các Kinh điển.

8. Y Đế Mục Đa Dà (Itivrttaka):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Bản Sự. Đây là những kinh văn Phật nói chỗ tu nhân của các vị Bồ tát, đệ tử về đời quá khứ, hoặc những ngôn giáo, sự nghĩa liên quan với đời trước. Thí dụ như đoạn: Này các Tỳ kheo! Pháp của ta nói hôm nay gọi là Giới kinh, đời Phật Câu Lưu Tôn gọi là Cam lồ cổ, đời Phật Câu Na Hàm Mâu Ni gọi là Pháp cảnh, đời Phật Ca Diếp gọi là Biệt không.

9. Xa Đà Dà (Jàtaka):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Bản Sanh. Đây là những kinh Phật nói về nhân duyên thọ sanh của chính Ngài hoặc các đệ tử trong nhiều đời trước. Như đoạn: Các ông nên biết, đời quá khứ khi hành đạo Bồ tát, ta đã từng thọ thân hươu, nai, thỏ, gấu, rồng, kim súy điểu, Túc tán vương, Chuyển luân vương.

10. Tỳ Phật Lược (Vaipulya):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Phương Quảng. Đây là những kinh Đại thừa Phương Đẳng, nội dung hàm nghĩa lý cao siêu, rộng rãi, như mười phương hư không.

11. A Tỳ Đạt Ma (Adbhuta dharma):

Danh từ này, Trung Hoa dịch là Vị Tằng Hữu hoặc Hi pháp. Đây là kinh văn nói về những thần lực, những nghiệp duyên, những công đức tối thắng, lạ lùng, ít có, mà trí phàm phu khó tin hiểu. Như kinh Đại Niết bàn nói: "Thế nào là pháp Vị Tằng Hữu? Như Bồ tát khi mới sinh ra, không người nâng đỡ, mà tự đi bảy bước, phóng đại quang minh, nhìn khắp mười phương. Như con vượn tay bưng bát mật cúng dường Như Lai. Như con chó cổ trắng theo bên Phật nghe thuyết pháp. Như Thiên ma Ba Tuần biến làm con thanh ngưu đi trên những bát bằng sành, khiến cho các bát va chạm nhau mà không sứt bể. Và cũng như Bồ tát khi mới sinh được đưa vào miếu thờ thiên thần, các thiên tượng đều đứng lên lễ kỉnh.”

12. Ưu Bà Đề Xá (Upadesa):

Danh từ này có nghĩa Luận Nghị. Đây là lối kinh văn có tính cách vấn đáp biện luận, hoặc phân biệt các tướng mạo, các lẽ chánh tà. Luận Du già nói: "Thế nào là Luận Nghị? Đây là tất cả đối pháp luận, nghiên cứu nghĩa rộng sâu của Tô Đát Lãm, tuyên dương tông yếu của các kinh.”

Trong mười hai bộ loại trên, chỉ có Tu Đa La, Kỳ Dạ và Dà Đà là thể tài chính thức của kinh giáo. Còn chín loại kia, chẳng qua là y theo các sự kiện sai biệt của pháp điển mà lập ra vậy thôi.

Và mười hai phần giáo này, không phải trong kinh nào cũng có đủ cả. Có thứ kinh chỉ được một hai phần, có thứ kinh gồm đến năm sáu phần chẳng hạn. Ấy là tùy theo thời tiết, cơ duyên riêng biệt của mỗi thứ kinh, mà có những sự sai khác hoặc ít hoặc nhiều.


Chương VIII: Sự Phân Phái Của Đạo Phật.

+ Tiết Mục:

I. Nguồn gốc phân phái.

II. Hai mươi bộ phái.

III. Nhân duyên phát xuất của các bộ.

IV. So sánh các bộ phái theo Nam Bắc truyền.

+ Kinh sách tham khảo:

- Dị Bộ Tông Luân Luận,

- Tăng Kỳ Luật Tư Ký,

- Đại Tỳ Bà Sa Luận,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược,

- Tứ Phần Như Thích.

+ Đề yếu: Nguồn gốc phân phái theo Nam, Bắc truyền có nhiều thuyết khác nhau. Vì thế, nội dung của tiết thứ nhất đã nêu ra các thuyết sai biệt để làm một cuộc so sánh, và chọn lấy điểm hợp lý, cho học giả khi tham khảo khỏi phải phân vân. Các bộ phái theo Nam, Bắc truyền lại cũng sai khác, cần phải giản trạch thuyết nào được lưu thông hơn, để làm tiêu điểm nghiên cứu. Tiết thứ hai đã trình bày về việc này. Phần đại khái của hai tiết sau, là lược thuật nhân duyên xuất phát của các bộ; cùng giảo định lại một lần nữa, sự sai biệt giữa Nam và Bắc truyền. Trong đây điểm chánh yếu là tuy Phật giáo có chia ra nhiều chi phái, song không phương hại gì đến tiêu chuẩn tự lợi lợi tha.

Đối với hàng thức giả, việc đó cũng không đáng lưu tâm, vì sự sai biệt vẫn là lẽ tất nhiên của cuộc đời tương đối.

TiếtI. Nguồn Gốc Phân Phái.

Mối phân chia của Giáo đoàn đạo Phật, là do sự đối lập của Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Từ hai bộ căn bản, lại chia thành nhiều chi phái. Những chi phái này, theo Bắc truyền và Nam truyền, có chỗ khác nhau, tiết sau sẽ đề cập đến.

Những thuyết về Thượng Tọa Bộ, Đại Chúng bộ căn bản của các chi phái về sau, cứ theo Nam và Bắc truyền, lại có nhiều sự việc không đồng. Nay nêu ra đây để so lại:

Theo Nam truyền thì sau khi đức Thế Tôn diệt độ 100 năm, vua Ca La A Dục ủng hộ tân phái của Tỳ kheo Bạt Kỳ, do đó gây thành sự phân chia hai bộ. Và sau khi Phật Niết bàn 200 năm, ở chùa Ma Yết Đà tại Kê viên (chùa này cũng gọi Kê Viên tự), chư Tăng có sự tranh chấp về đạo lý, A Dục Vương không biết phương pháp điều giải, mới hỏi ý kiến của Đại Thiên.

Theo Bắc truyền, sau khi Phật diệt độ 100 năm, có con của người thuyền chủ tên là Đại Thiên xuất gia trong Phật pháp, song vẫn giữ chủ thuyết của ngoại đạo. Lúc hai bộ phân tranh, vị quốc vương thời bấy giờ là A Dục Vương, ủng hộ phe phái của Đại Thiên, và có hỏi ý kiến vị Tỳ kheo này về sự tranh chấp ở Kê viên. Lại, sau khi đức Thế Tôn nhập diệt 200 năm, có người ngoại đạo tên là Đại Thiên xuất gia theo Phật pháp, Thọ giới cụ túc trong Đại Chúng Bộ, học nhiều, tinh tấn, cư trú ở Chế Đa Sơn.

So sánh hai thuyết trên, ta thấy thuyết của Nam truyền có phần rành rẽ hơn. Còn thuyết của Bắc truyền thì có sự lầm lẫn về người và niên đại, đem vị quốc vương sau Phật 100 năm làm A Dục Vương, đem Bạt Kỳ làm Đại Thiên. Suy nghĩ kỹ, trước sau chỉ là một Đại Thiên; Đại Thiên tặc trụ Tỳ kheo là nhơn vật lịch sử, còn Đại Thiên sau Phật 100 năm chỉ là nhân vật ảnh tả. Cho nên, sau khi thẩm định ta thấy thuyết của Bắc truyền lấy sự việc sau khi Phật diệt độ 100 năm và 200 năm, hợp lại làm một. Lại, Phật giáo đồ Bắc phương phần nhiều lấy sự kiết tập kỳ hai do Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ mà kéo lại sớm 100 năm, hợp lại đồng thời với sự kiện tập lần đầu do Ngài Ca Diếp đề xướng. Bởi duyên cớ đó, thuyết A Dục và Đại Thiên của Bắc truyền mới sớm hơn thuyết Nam truyền 100 năm. Nhưng thuyết của Nam truyền cũng có chỗ sai lầm về vua A Dục. Thuyết này cho rằng sau Phật 100 năm có vua Ca La A Dục (Candàsoka) tức là Hắc A Dục sau Phật 200 năm có Pháp A Dục. Xét lại, trước sau cũng chỉ là một A Dục Vương thôi; vì vua A Dục trước tiên làm ác, nên dân chúng gọi là Hắc A Dục, sau khi nương về đạo Phật, trở lại làm lành, nên được xưng là Pháp A Dục.

Lại, theo thuyết của Nam truyền, thì sự phân phái là do mười điều phi pháp. Theo thuyết của Bắc truyền, có chỗ nói đồng như sự kiện trên, chỗ lại nói sự phân chia bộ phái là do năm điều tân thuyết của Đại Thiên. Nay cũng xin nêu việc ấy ra đây để bàn định.

Về lịch sử của Đại Thiên, trong Tông Luân Luận của Ngài Thế Hữu và Đại Tỳ Bà Sa Luận của Ngài Long Thọ có những điểm khác nhau. Dung hòa ý chính của hai bộ luận, bỏ các chi tiết đáng nghi ngờ, chẳng hạn như việc Đại Thiên giết cha, giết mẹ, giết A la hán, thì lịch sự của Đại Thiên đại khái như sau:

Khi đức Thế Tôn Niết bàn cách 200 năm về sau, ở nước Ma Thâu La (Mathurà) thuộc miền Trung Ấn, có con của một thuyền chủ, tên là Đại Thiên (Mahadeva Ma Ha Đề Bà). Trước tiên Đại Thiên xuất gia theo ngoại đạo, sau lại quy đầu Phật pháp. Vốn là người thông mẫn, sau khi Thọ giới tu hành không bao lâu, Đại Thiên đã học suốt, ghi nhớ văn nghĩa trong ba tạng, và tự xưng mình đã chứng quả A la hán. Một hôm, nhân bị mộng tiết, ông sai đệ tử đem giặt y. Người đệ tử nghe Thầy tự xưng là A la hán, sao nay lại có việc như thế, mới đem chuyện ấy ra hỏi. Đại Thiên đáp: "Sự di lậu có hai nguyên nhân: một là do phiền não, hai là do sinh lý. Bậc A la hán đã đoạn hết phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên khi thể chất sung cường, lúc ngủ nghỉ bị ma dụ hoặc, cũng có di lậu.” (Điều 1).

Muốn cho đệ tử hoan hỷ, Đại Thiên chọn người nào thông huệ, thọ ký cho một trong bốn đạo quả Sa môn. Đệ tử hỏi: "Tôi nghe bậc A la hán tự có chứng trí, tại sao chúng tôi chứng quả mà không tự biết?” Đại Thiên giải thích: "Sự không biết có hai thứ: một là nhiễm ô vô tri, hai là bất nhiễm vô tri. Bậc A la hán tuy đã dứt hết phiền não nhiễm ô, nhưng không phải biết hết chân tướng của mọi sự vật. Vì thế nên các ông không tự biết.” (Điều 2).

Đệ tử lại hỏi: "Tôi nghe bậc A la hán đã lìa nghi hoặc, tại sao chúng tôi đã chứng quả mà còn có sự do dự hồ nghi?” Đại Thiên đáp: "Nghi có hai thứ: một là tùy miên nghi, hai là xứ phi xứ nghi. Bậc A la hán không còn cái thứ nhất, nhưng đối với công việc có khi sinh nghi ngờ thế nào là hợp lý, thế nào là không hợp lý.” (Điều 3).

Lại một hôm, các đệ tử đọc kinh đến câu: "Bậc A la hán có huệ nhãn, tự biết mình được Giải thoát", liền đến hỏi Thầy rằng: "Chúng tôi đã là A la hán, nên tự chứng biết, tại sao do người khác bảo, mới biết mình chứng nhập?” Đại Thiên nói: "Bậc A la hán phải do người khác bảo mới biết mình đã chứng ngộ. Như Ngài Xá Lợi Phất Trí tuệ đệ nhất, Ngài Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, khi Phật chưa ấn chứng còn không tự biết, huống nữa là các ông.” (Điều 4)

Đại Thiên đã có nhiều lầm lỗi như thế, song căn lành chưa đoạn. Nên một hôm, vào lúc nửa đêm, ông suy nghĩ đến việc quấy của mình, bất giác xướng lên: "Khổ thay! Khổ thay!” Các đệ tử nghe được kinh hãi, sáng ra hỏi thăm. Đại Thiên bảo: "Phàm thấy cuộc đời là khổ, là Vô thường, mà không chí thành xưng khổ, thì Thánh đạo không hiện khởi.” (Điều 5)

Sau khi đã bịa ra năm điều ấy, nhân một ngày Bố tát ở tại chùa Kê Viên (Kukkutarama), Đại Thiên đối trước chư Tăng, tự đọc ra bài kệ: "Dư sở dụ, vô tri. Do dự, tha linh nhập. Đạo nhân thanh cố khởi. Thị danh chân Phật giáo.” Bài kệ này không ngoài ý thuật lại năm điều trên, và gán cho đó là đúng theo kinh Phật; tạm dịch: "Ma dụ hoặc, không biết. Nghi ngờ, người bảo chứng. Đạo nhân tiếng mà sinh. Đây chính là Phật giáo.” Khi Bố tát xong, ông còn đọc lại bài kệ ấy lần nữa, và nói với đại chúng: "Khi đức Như Lai còn ở đời, chư Thiên và tứ chúng nói ra, đều phải được Phật Ấn chứng, mới gọi là kinh. Nay Thế Tôn đã diệt độ, nếu trong đại chúng người nào thông minh, đủ biện tài thuyết pháp, cũng có thể trứ tác Kinh điển.”

Bấy giờ, những vị Trưởng lão học rộng giữ giới, nghe bài tụng ấy đều kinh ngạc, rồi sửa lại câu sau: "Đây chính là ngoại giáo.” Do đó, nguồn tranh biện nổi lên, các hàng sĩ thứ cho đến đại thần trong thành ngăn dứt không được. Lúc đó A Dục Vương nghe biết, đến Kê Viên Tự khuyên giải, nhưng hai bên đều tranh chấp không nhường nhau. Vua cũng nghi ngờ, hỏi ý kiến Đại Thiên, ông này bảo: "Theo pháp diệt tránh trong giới kinh, nên lấy theo sự chấp thuận của phần đông.” Lúc ấy, phái Trưởng lão ít hơn phe của Đại Thiên, nên ông chiếm phần ưu thắng. Tuy nhiên sự phân tranh cũng không dứt, nhân đó mới chia ra các bộ phái về sau.

Trên đây là một thuyết của Bắc truyền, còn thuyết thứ hai, như trong Bộ Chấp Dị Luận bản dịch của đời nhà Lương, đồng cứ bản với Tông Luân Luận, thì không nói rõ việc Đại Thiên sáng chế năm điều, chỉ bảo: "Ngoại đạo lập ra năm thứ nhân duyên.” Và, trong Thập Bát Bộ Luận của Ngài La Thập dịch, cũng không nói rõ việc ấy, chỉ thuật: "Bấy giờ có Tỳ kheo tên Năng, cũng gọi Nhân Duyên, Đa Văn, nói có năm pháp để dạy chúng sanh.”

Y cứ theo các kinh sách của Nam, Bắc tông, dung hội lại những ý chính, ta có thể kết luận nguồn gốc phân phái như sau:

Khi đức Thế Tôn Niết bàn, cách 100 năm sau, do chư Tăng thuộc khuynh hướng canh tân theo quan niệm khoáng đại trì giới, chư Tăng thuộc khuynh hướng bảo thủ theo quan niệm tồn cổ trì giới, tranh chấp với nhau về mười điều, nên mới chia thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Quan niệm của những phần tử thuộc hai bộ trên đây, vì không dung nạp lẫn nhau, nên mới phát sinh ra nhiều tư tưởng và từ đó dần dần phân tán thành nhiều bộ phái. Đây là nguyên nhân chính. Còn về việc của Đại Thiên thì sau khi đức Thế Tôn diệt độ 200 năm, nhằm thời A Dục Vương, Phật pháp được đại thạnh. Lúc bấy giờ, phần đông dân chúng đều hướng về chư Tăng để cúng dường. Do đó, các ngoại đạo mất nhiều lợi dưỡng, nên có một nhóm tự cạo râu tóc lẫn vào trong đoàn thể Tăng già. Nhưng vì hấp thụ theo ngoại giáo đã lâu, sau khi vào Phật pháp, họ vẫn giữ chủ thuyết cũ. Vì thế mới sinh ra sự tranh chấp ý kiến trong Tăng đoàn. A Dục Vương nghe biết được, mới tập hợp tất cả tăng chúng rồi gạn lọc lại, đưa những kẻ Tặc trụ Tỳ kheo trở về đạo của họ. Nhưng trong nhóm ấy có độ ba trăm người bác đạt, thông thuộc Tam tạng, thành thử họ không chịu khuất phục. Lúc đó thế lực ngoại đạo cũng khá mạnh, vua nghĩ họ thông minh và nhiều bè đảng, nếu đuổi đi hết e gây ra sự không hay cho Phật pháp, mới đem an trí riêng một nơi, tại chùa Kê Viên ở Chế Đa Sơn. Nhưng khi tới đây do kiến giải sai biệt, họ lại tranh chấp với chư Tăng cựu trụ. Người cầm đầu số đông trong cuộc tranh chấp này là Đại Thiên. Về sau, A Dục Vương hay tin, giải quyết không được, đến núi A Hô Hằng Già thỉnh Tôn giả Mục Liên Đế Tu thanh lọc lần thứ hai, trục xuất những kẻ phá hoại, việc ấy mới yên. Về năm điều trên, có thể là những cựu thuyết mà Đại Thiên đã hấp thụ từ trước rồi nhân cơ hội gây nên thành quả, chưa chắc do ông ta sáng chế ra. Năm thuyết của Đại Thiên, xét ra, thật không đúng với Chánh pháp. Nhưng dù sao, ông cũng đã dự phần gây ảnh hưởng chi rẽ trong đoàn thể Tăng già, một thời gian khá lâu.

Tiết II. Hai Mươi Bộ Phái.

Sau lần kiết tập thứ hai, trong Giáo đoàn đạo Phật, vì khuynh hướng tự do một ngày một nảy nở, các tư tưởng mới bộc hưng, nên sự phân môn rẽ phái mỗi ngày một nhiều. Việc phân chia này bắt nguồn từ hai phái căn bản là Thượng Tọa Bộ (Sthavira Theravada) và Đại Chúng Bộ (Mahàsànghikà). Về niên đại phân liệt của các bộ phái, theo Nam truyền, vào khoảng sau Phật diệt độ từ 100 năm đến 300 năm. Theo Bắc truyền thì sau khi đức Thế Tôn Niết bàn, trong khoảng 100 đến hơn 200 năm là thời kỳ phân phái của Đại Chúng Bộ, trong khoảng 300 đến 400 năm là thời kỳ phân phái của Thượng Tọa Bộ.

Về số mục của các bộ phái, theo Nam truyền, trước tiên có 18 bộ, hai trăm năm về sau từ Đại Chúng Bộ xuất sinh thêm sáu bộ nữa, tổng cộng là 24 bộ; theo Bắc truyền thì có 18 bộ, gồm hai căn bộ căn bản là 20 bộ. Danh mục của các bộ phái Nam truyền so với Bắc truyền, có đôi chút khác nhau. Nay xin căn cứ theo Dị Bộ Tông Luân Luận của Ngài Thế Hữu (Huyền Trang dịch), một bộ sách rất được thông hành, để ghi lại sự phân chia của các bộ phái:

Trước tiên, bởi sớm phong phú về tư tưởng tự do, từ Đại Chúng Bộ xuất sinh ra ba bộ: Nhất Thuyết, Thuyết Xuất Thế, Kê Dẫn. Lần thứ hai phát sinh ra Đa Văn Bộ. Lần thứ ba phát sinh ra Thuyết Giả Bộ. Lần thứ ba phát sinh ra Thuyết Giả Bộ. Lần thứ tư lại có ba bộ: Chế Đa Sơn, Tây Sơn Trụ, Bắc Sơn Trụ xuất hiện. Như thế, trong vòng sau Phật diệt độ 100 đến 200 năm, từ Đại Chúng Bộ đã phân liệt ra chín phái, kể cả bản mạt.

Trong khoảng thời gian ấy, Thượng Tọa Bộ lui ẩn về xứ Ca Thấp Di La, giữ khuynh hướng bảo thủ, tôn trọng sự truyền thừa, hai bên cũng vẫn dung hòa nhau, không có sự tranh chấp. Nhưng sau vì chịu ảnh hưởng của Đại Chúng Bộ, tư tưởng bảo thủ, truyền thừa của Thượng Tọa Bộ cũng bị lay chuyển. Vì thế, trong khoảng thời gian từ 300 đến 400 năm sau Phật diệt độ, từ Thượng Tọa Bộ phân chia ra mười bộ, kể cả bộ phái căn bản là mười một bộ. Sự xuất sinh của các phái này đã diễn ra như sau: Lần đầu tiên, từ Thượng Tọa Bộ phân ra Thuyết Nhất Thế Hữu Bộ (cũng gọi Tát Bà Đa). Lần thứ hai, từ Hữu Bộ phát sinh Độc Tử Bộ. Lần thứ ba, từ Độc Tử Bộ xuất hiện bốn bộ: Pháp Thượng, Hiền Trụ, Chánh Lượng, Mật Lâm Sơn. Lần thứ tư, từ Hữu Bộ phát xuất Hóa Địa Bộ. Lần thứ năm, từ Hóa Địa Bộ phân liệt ra Pháp Tạng Bộ. Lần thứ sáu, lại từ Hữu Bộ phát sinh Ẩm Quang Bộ (cũng gọi Thiện Tuế). Lần thứ bảy, cũng từ Hữu Bộ phát sinh Kinh Lượng Bộ (cũng gọi Thuyết Độ).

Về Thượng Tọa Bộ, sau khi phân ra Thuyết Nhất Thế Hữu Bộ rồi, thế lực bị suy kém, phải lui về ẩn dật ở Tuyết Sơn, nên lại có tên là Tuyết Sơn Bộ. Để tiện cho người học Phật, xin nêu ra biểu đồ phân phái như sau: ($ bieu do)

Tiết III. Nhân Duyên Phát Xuất Của Các Bộ.

Các phái trên đây, bởi tư tưởng không đồng nên thành đối lập, vì thế phải phân chia ra. Những nhân duyên ấy, theo bản truyền của Ngài chân Đế, đại lược như sau:

1. Đại Chúng Bộ:

Bộ này phát xuất sau khi có sự tranh chấp mười điều Giới luật. Về sau bộ chúng dần dần thêm nhiều, cư trụ ở xứ Ương Quật Đa La (Angottara) thuộc phương Bắc thành Vương Xá.

2. Nhất Thuyết Bộ:

Giáo đoàn của Đại Chúng Bộ nhân nghiên cứu các kinh Đại thừa như: Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Thắng Man, Duy Ma, Kim Quang Minh... có kẻ tin, kẻ không tin. Những người tin theo Đại thừa lại có ba xu hướng, và tự tách ra thành ba bộ phái. Phái thứ nhất trong ba bộ này, cho rằng tất cả các pháp thế và xuất thế gian đều là giả danh không có thật thể. Đây là Nhất Thế Bộ, và điểm trên là tư tưởng chính của họ.

3. Thuyết Xuất Thế Bộ:

Phái thứ hai tin theo Đại thừa, là Thuyết Xuất Thế Bộ. Theo phái này, tất cả pháp thế gian đều bởi điên đảo sinh ra; nghĩa là do điên đảo nên khởi phiền não, từ phiền não mà gây nghiệp và từ nghiệp cảm chịu quả báo. Vì vậy các pháp thế gian đều là hư vọng, giả danh. Trái lại, pháp xuất thế gian là chân thật, vì từ thật cảnh giới thật trí, và do thật trí đạt đến thật cảnh.

4. Kê Dẫn Bộ:

Phái thứ ba tin theo Đại thừa là Kê Dẫn Bộ. Theo phái này, hai tạng Kinh và Luật là phương tiện giả thuyết của đức Thế Tôn. Như một bài kệ trong kinh nói: "Tùy nghi ăn, mặc, ở. Miễn mau dứt phiền não.” Thế thì những hình thức bên ngoài đều thuộc phương tiện, mà sự diệt phiền não mới là chủ điểm. Cho nên chỉ có Luận tạng là giáo điển thiết thật, vì tạng này giải thích nghĩa lý tinh vi rõ ràng. Do đó, họ thành lập một bộ phái riêng.

5. Đa Văn Bộ:

Khi đức Phật còn tại thế, có một vị A la hán tên là Tự Bì Y (Yajnavalkya). Nguyên Tự Bì Y là một tiên nhơn, mặc áo vỏ cây, thờ trời, sau xuất gia trong Phật pháp chứng được đạo quả. La hán Tự Bì Y thường theo Phật, ghi nhớ thọ trì tất cả giáo nghĩa. Trước khi đức Thế Tôn diệt độ, Ngài vào nhập định ở Tuyết Sơn. Sau Phật Niết bàn 200 năm, Ngài xuất định, đến nước Ương Quật Đa La, thấy Đại Chúng Bộ chỉ hoằng dương nghĩa nông cạn của ba tạng, rất lấy làm kinh ngạc. Do đó, La hán Tự Bì Y đọc lại tất cả nghĩa thâm thúy về Đại thừa của Pháp tạng. Một số tăng sĩ thọ trì pháp giới của Ngài, và biệt lập thành Đa Văn Bộ, để nghiên cứu những nghĩa lý rộng sâu trong Kinh, Luật, Luận.

6. Thuyết Giả Bộ:

Ở nước Ma Ha Lạt Đà (Mahàrattha) có vị Tỳ kheo danh đức tên Đại Ca Chiên Diên (Mahàkàtyàyana). Ngài đem giáo nghĩa trong ba tạng phân tích thế nào là nhân, quả, thật thuyết, giả thuyết, chân đế, tục đế. Do nhân duyên đó, có một nhóm tăng sĩ chủ trương giải thích Tam tạng theo lối này, để tùy nghi lựa chọn thủ xả, và biệt lập thành Thuyết Giả Bộ.

7. Chế Đa Sơn Bộ

8. Tây Sơn Trụ Bộ

9. Bắc Sơn Trụ Bộ:

Như trên đã kể, do Đại Thiên cầm đầu nhóm bác đạt, gây ra cuộc tranh chấp trong nội bộ Tăng chúng. Khi A Dục Vương và Tôn giả Mục Liên Đế Tu đến giải quyết, công việc mới yên. Nhưng từ đó, chư Tăng ở đây cũng bị ảnh hưởng ấy, chia nhau cư trụ ba nơi và lập thành ba bộ phái. Phái ở chỗ cũ gọi là Chế Đa Sơn Bộ; phái ở phía Tây Chế Đa Sơn gọi là Tây Sơn Trụ Bộ; phái ở phía Bắc Chế Đa Sơn gọi là Bắc Sơn Trụ Bộ.

10. Thượng Tọa Bộ:

Bộ này cũng phát xuất sau khi có sự tranh chấp về mười điều Giới luật. Đại khái Thượng Tọa Bộ chủ trương bảo thủ cựu phong mà tu hành, lấy Kinh tạng làm bản vị. Chư Tăng trong bộ này cho rằng, Luật vì y theo người nên có sự bất định về các điều khai, giá (mở rộng, nghiêm cấm); còn Luận tuy giải thích kinh, nhưng lại hay đi xa với nghĩa căn bản của Kinh. Vì thế, họ lấy Kinh làm tiêu chuẩn, mà không mấy trọng Luật, Luận.

11. Thuyết Nhất Thế Hữu bộ (cũng gọi Thuyết Nhân):

Thời đại thay đổi, tư tưởng con người cũng biến thiên; về sau các nhà học Phật dần dần theo khuynh hướng trọng Luận nhẹ Kinh. Sau khi đức Thế Tôn diệt độ 300 năm, có Ngài Ca Chiên Diên Ni Tử (Kàtyàyaniputtra) ra đời. Ngài là bậc thạc học trong Phật giáo, tinh thông Tam tạng, nhưng không thích chủ trương lấy Kinh làm bản vị của Thượng Tọa Bộ. Trong khi tu trì ở chùa Ám Lâm (tàmasavanasamghàràma) nước Chi Na Bộc Để (Cinabhukti) thuộc Bắc Ấn, Ca Chiên Diên Ni Tử đã chế tác ra bộ Phát Trí luận. Tuy cũng hoằng truyền cả Kinh và Luật nhưng Ngài lại thiên trọng về Luận lập ra Thuyết Nhất Thế Hữu Bộ, lấy Luận tạng làm bản vị.

12. Độc Tử Bộ (cũng gọi Trụ Tử Bộ):

Bộ này cũng lấy Luận tạng làm bản vị, nhưng sở y về Luận tạng khác hơn Hữu bộ. Chư Tăng phái này lấy bộ A Tỳ Đàm của Ngài Xá Lợi Phất làm tiêu chuẩn. Đệ tử Ngài Xá Lợi Phất là La Hầu La, đệ tử của Ngài La Hầu La là Độc Tử (Vàtsìputra). Về sau hậu duệ của Ngài Độc Tử lập ra phái này, nên nếu gọi cho đủ là: Độc Tử Đệ Tử Bộ.

13. Pháp Thượng Bộ

14. Hiền Trụ Bộ

15. Chánh Lượng Bộ

16. Mật Lâm Sơn Bộ

Bốn bộ này cũng lấy Luận tạng làm bản vị, và được phân xuất từ Độc Tử Bộ. Nguyên khi chư Tăng phái Độc Tử giải thích bộ A Tỳ Đàm của Ngài Xá Lợi Phất, đến đoạn nào quá đơn giản thì đem nghĩa của kinh thêm vào. Vì trong sự tăng bổ có nhiều ý kiến bất đồng, nên từ nơi bản bộ, lại phát xuất ra bốn bộ trên đây.

17. Hóa Địa Bộ:

Bộ này cũng từ nơi Hữu Bộ mà biệt xuất. Nguyên sau khi Phật diệt độ 300 năm, có người Bà la môn tên là Hóa Địa, tinh thông mọi giáo nghĩa của Tứ phệ đà Thánh điển. Sau ông xuất gia trong Phật pháp tu hành, chứng quả A la hán. Nhân khi giảng đọc Kinh điển, đến chỗ nào thiếu sót, ông đem lời văn của kinh Phệ Đà và văn điển Phạn ngữ để tu sức, ý nghĩa đồng như Phật nói. Các đệ tử tin tưởng lời thuyết pháp của Thầy, nên sau khi ông viên tịch, họ lập thành một phái riêng, lấy tên là Hóa Địa Bộ.

18. Pháp Tạng Bộ:

Nhân duyên phát xuất của bộ này, do một vị tôn đức tên là Pháp tạng (Dharmagupta). Nguyên trước kia A la hán Pháp tạng là đệ tử của Tôn giả Mục Kiền Liên. Nhân thường đi theo Thầy du hóa, Ngài ghi nhớ tất cả những điều gì Tôn giả đã nói. Sau khi Tôn giả Mục Kiền Liên viên tịch, Ngài đem Kinh điển chia thành năm tạng. Kinh, Luật, Luận, Mật Chú và Bồ tát tạng. Chư Tăng trong Hóa Địa Bộ có một số người tin tưởng theo thuyết này, nên biệt lập thành ra Pháp Tạng Bộ.

19. Ẩm Quang Bộ (cũng gọi Thiện Tuế): Khi đức Như Lai còn ở đời, Tôn giả Ẩm Quang (Kasyapa Ca Diếp) thọ trì rất nhiều pháp giáo của Phật. Về sau, Ngài tập hợp những pháp giáo ấy, chia thành hai loại: bộ phận phá tà thuyết của ngoại đạo, và bộ phận đối trị phiền não của chúng sinh. Do nhân duyên đó, người sau tin theo pháp giáo này, biệt lập thành một phái, lấy tên là Ẩm Quang Bộ.

20. Kinh Lượng Bộ: Bộ này lấy Kinh tạng làm lượng, không y theo Luật, Luận, nên gọi là Kinh Lượng. Kinh Lượng Bộ lại có tên là Thuyết Độ hoặc Thuyết Chuyển. Hai danh từ này có nghĩa: cá thể của hữu tình nếu nương theo kinh lượng, thì từ đời hiện tại chuyển đến vị lai, dù chưa đắc đạo nhưng hạt giống kinh pháp vẫn không tiêu diệt. Tóm lại, mục đích của phái này là phục cổ, chủ trương tái thiết lập trường của Thượng Tọa Bộ.

Tiết IV. So Sánh Các Bộ Phái Theo Nam Bắc Truyền.

Trên đây là nhân duyên phát xuất các bộ phái theo Bắc truyền. Vì muốn cho người học Phật có chỗ quy nhất, nên nội dung của bản chương chỉ chọn lựa thuyết nào đơn giản và được thông hành trong Nam hoặc Bắc tông. Tuy nhiên, về thuyết của Nam truyền, cũng nên nêu ra đại lược cho tiện việc tham khảo.

Theo Nam truyền, trước tiên, về căn bản và chi mạt của Đại Chúng Bộ, gồm có sáu phái: 1. Đại Chúng Bộ. 2. Kê Dẫn Bộ. 3. Nhất Thuyết Bộ. 4. Thuyết Giả Bộ. 5. Đa Văn Bộ. 6. Thuyết Chế Đa Bộ.

Về văn bản và chi mạt của Thượng tọa Bộ, gồm 12 phái: 1. Thượng Tọa Bộ. 2. Hóa Địa Bộ. 3. Đọc Tử Bộ. 4. Pháp Thượng Bộ. 5. Hiền Trụ Bộ. 6. Lục Thành Bộ. 7. Chánh Lượng Bộ. 8. Thuyết Nhứt Thế Hữu Bộ. 9. Pháp Tạng Bộ. 10. Ẩm Quang Bộ. 11. Thuyết Chuyển Bộ. 12. Thuyết Kinh Bộ.

Trước sau, cả Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ, gồm có 18 bộ phái. Các bản cựu dịch gọi 18 bộ phái Tiểu thừa chính là thuyết này. Khi Phật diệt độ 200 năm về sau, từ Đại Chúng Bộ phát xuất thêm sáu bộ nữa là: Tuyết sơn, Vương Sơn, Nghĩa Thành, Tây Vương Sơn, Đông Sơn, Tây Sơn. Như thế, tổng cộng tất cả được 24 phái. Về nhân duyên xuất phái, bên Nam tông không thấy có lưu truyền.

So sánh lại, bên Nam truyền không có các bộ: Thuyết Xuất Thế, Bắc Sơn Trụ. Bên Bắc truyền không có các bộ: Đông Sơn, Tây Sơn, Thuyết Kinh, Thuyết Chế Đa. Ngoài ra, các bộ kia danh mục tuy khác, song ý nghĩa vẫn đồng, bất quá do sự chuyển đổi của ngôn ngữ mà thôi, như Thuyết Chuyển gọi là Kinh Lượng chẳng hạn. Lại, thứ lớp phát xuất của các phái theo Nam truyền và Bắc truyền cũng khác nhau. Vì không muốn có sự rối ren, nên trong đây không đề cập đến.

Tham khảo về chỗ đồng dị của các bộ phái theo Nam, Bắc truyền thì, như bên Nam truyền chia ra hai bộ: Thuyết Chuyển, Thuyết Kinh, bên Bắc truyền xem đồng một phái, nên chỉ gọi là Kinh Lượng Bộ. Bên Bắc truyền cho Thượng Tọa và Tuyết sơn đồng một bộ, bên Nam truyền cho Tuyết sơn là chi phái riêng thuộc Đại Chúng Bộ. Phái thuyết chế Đa bên Nam truyền có lẽ là Thuyết xuất thế Bộ theo Bắc truyền, vì về vấn đề cá nhân linh hồn, hai phái này lập luận giống nhau, và niên đại phát xuất cũng tương đồng. Theo Nam truyền thì sau khi Phật diệt độ 200 năm, từ Đại Chúng Bộ phát xuất sáu chi phái, hai bộ Đông Sơn, Tây Sơn trong đó, bên Bắc truyền cũng có. Như Tây Vức ký nói: "Ở xứ Đại An Đạt La thuộc miền Nam Ấn, có hai ngôi già lam kỳ cổ, tên là Đông Sơn, Tây Sơn. Hai ngôi chùa này do đục hang đá mà tạo thành. Tương truyền khi xưa hai chỗ này là cơ sở thuộc về Đại Chúng Bộ.” Xem thế thì biết hai bộ ấy lập căn cứ nơi đây. Lục Thành Bộ tức là Mật Lâm Sơn Bộ; vì bên Nam truyền nói bốn bộ Pháp Trượng, Hiền Trụ, Lục Thành, Chánh Lượng phát xuất từ Độc Tử Bộ, bên Bắc truyền cũng gọi bốn bộ Pháp Thượng, Hiền Trụ, Mật Lâm Sơn, Chánh Lượng phát xuất từ Độc Tử Bộ. Các bộ phái: Vương Sơn, Tây Vương Sơn, Nghĩa Thành không có danh mục bên Bắc truyền, nhưng căn cứ theo Bồ đề Sử (Bodhivamsa), ta có thể đoán định Vương Sơn chính là Chế Đa Sơn, Tây Vương Sơn chính là Tây Sơn Trụ, và Nghĩa Thành chính là Bắc Sơn Trụ. Vì trong tập sử này có nói: "Vào thời A Dục Vương, có các ngoại đạo cầu danh lợi mặc pháp phục xen trong đoàn thể chư Tăng, làm cho chánh tà lẫn lộn. Do đó trong Đại Chúng Bộ mới nảy sinh sáu chi phái, như Tuyết Sơn...”

Theo Bộ Tăng Kỳ Luật Tư Ký của Ngài Pháp Hiển, vào thời Tôn giả Ưu Ba Cấp Đa, chư Tăng bất đồng ý kiến về Giới luật (đây nói về phương diện Giới luật), nên dần dần chia thành năm bộ. Trong đây, Đàm Vô Đức chính là Pháp Tạng Bộ, Di Sa Tắc chính là Hóa Địa Bộ. Ca Diếp Di chính là Ẩm Quang Bộ, Tát Bà Đa chính là Thuyết Nhất Thế Hữu Bộ, Bà Sa Phú La chính là Độc Tử Bộ. Tôn giả Ưu Ba Cấp Đa là nhân vật sau đức Thế Tôn 100 năm, năm phái trên đều thuộc về Thượng Tọa Bộ. Cứ theo đây thì thuyết của Nam truyền nói sau khi Phật diệt độ trong khoảng 100 năm đến 300 năm, từ hai bộ căn bản lần lượt sinh ra các chi phái, dường như hợp với hình thế tự nhiên. Còn thuyết của Bắc truyền nói từ 100 đến 200 năm sau Phật diệt độ là thời kỳ phân phái của Đại Chúng Bộ, trong khoảng 300 đến 400 năm là thời kỳ phân phái của Thượng Tọa Bộ dường như có chỗ dụng ý. Hoặc giả người trong phái Nhất Thế Hữu muốn tỏ ra bộ môn căn bản của mình (Thượng Tọa Bộ) phân tán sau hơn cả, nên mới có thuyết này chăng?

Tóm lại, Giáo đoàn đạo Phật tuy chia nhiều bộ phái, song không phương hại gì đến sự Giải thoát. Thuở xưa, đức Thế Tôn đã có dự ký rằng: "Sau khi ta diệt độ, Kinh, Luật của ta chia thành năm bộ, cho đến 18 bộ, danh từ tuy khác nhưng đường lối quy hướng vẫn hợp với cảnh đại Niết bàn. Nếu có ai y theo đó mà tu hành, đều sẽ được Giải thoát.” Đức Phật cũng bảo Ngài Văn Thù: "Trong đời vị lại, đạo pháp của ta hòa hợp với mọi căn cơ chia thành 20 bộ, làm cho ngôi nhà Chánh giáo được vững bền. Trong 20 bộ này, nếu ai y theo tu hành, đều được chứng quả. Ví như nước biển tuy nhiều, song chỉ có một vị; và như người có hai mươi con trẻ, không đứa nào chẳng phải là con mình. Cũng như thế, Tam tạng đều bình đẳng không có tạng nào hơn kém. Đây là lời chân thật của Như Lai.”

Chương IX: Giáo Nghĩa Các Bộ Phái.

+ Tiết Mục:

I. Ba hệ thống bộ nghĩa

II. Giáo nghĩa của Đại Chúng Bộ

III. Giáo nghĩa của Hữu Bộ

IV. Giáo nghĩa của Độc Tử Bộ

+ Kinh sách tham khảo:

- Dị Bộ Tông Luân Luận,

- Tông Luận Khảo,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược.

+ Đề yếu: Tông nghĩa 20 bộ rất phiền toái, trong một bài hữu hạn, không thể ghi ra mỗi mỗi chi tiết. Vì thế, nội dung tiết thứ nhất trong bản chương, y theo Tông Luân Khảo của Ngài Huyền Trang, mà chia các phái thành ba hệ thống: Đại Chúng, Hữu Bộ và Độc Tử. Ba tiết sau nói khái lược về giáo nghĩa của ba bộ phái đại biểu này. Trong đây, giáo nghĩa Hữu bộ phưởng phất như Nguyên thủy Phật giáo, nhưng lối phân tích vạn hữu tinh tế hơn Đại Chúng Bộ. Giáo nghĩa của Đại Chúng Bộ thì quan niệm về Phật thân có phần khoáng đạt hơn Hữu bộ. Còn giáo nghĩa của Độc Tử Bộ lại giản ước và độc lập với thuyết Tam tụ. Đặc điểm của Đại Chúng Bộ là lối nhận xét về hữu vi pháp gần với thuyết "Ngã pháp câu không" làm cơ sở khai triển không tông về sau. Đặc điểm của Hữu Bộ là lối phân tích các pháp một cách tinh tế, làm cơ sở cho Duy thức học của Hữu tông trong tương lai. Riêng Độc Tử Bộ được đặc thù với thuyết Bổ Đặc Già La, làm cơ sở cho lập thuyết Như Lai tạng.

Cả ba hệ thống do ba bộ làm đại biểu, tuy hình thức còn trong phạm vi Tiểu thừa, nhưng về tông nghĩa đều đã manh nha tư tưởng Đại thừa Phật giáo.

TiếtI. Ba Hệ Thống Bộ Nghĩa.

Trong một thời gian không bao lâu, Phật giáo chia ra đến 20 bộ phái, như các thứ nấm mọc lên sau cơn mưa rào, người ngoài trông thấy không khỏi lấy làm lạ. Nhưng điều ấy chẳng có chi kỳ đặc, vì các phái trên chỉ bất đồng ý kiến rồi biệt lập, không có tính cách môn đình kiên cố như các tông Thiên Thai, Thiền, Tịnh, Mật bên Trung Hoa. Trong ấy, duy có hai bộ văn bản là sai biệt, ngoài ra các phái chi mạt chỗ lập nghĩa chỉ hơi khác nhau. Chẳng hạn như bốn phái Pháp Thượng, Hiền Trụ, Chánh Lượng, Mật Lâm Sơn, sở dĩ được chia ra, vì lối giải thích bất đồng trên một bộ luận. Do đó, chỉ trong thời gian hơn hai trăm năm mới phát sinh nhiều bộ như thế.

Nay xin căn cứ quyển Tông Luận Khảo của Ngài Huyền Trang, nương theo nghĩa tương đồng của 20 bộ, mà chia thành ba hệ thống:

1. Đại Chúng, Nhất Thuyết, Thuyết Xuất Thế, Kê Dẫn, Thuyết Giả, Chế Đa Sơn, Tây Sơn Trụ, Bắc Sơn Trụ, Pháp Tạng, Ẩm Quang, Hóa Địa, Đa Văn, Tuyết Sơn, thuộc về hệ thống Đại Chúng Bộ.

2. Thuyết Nhất Thế Hữu, Thượng Tọa, Đa Văn, Tuyết Sơn, Kinh Lượng, thuộc về hệ thống Nhất thế Hữu Bộ.

3. Độc Tử, Pháp Thượng, Hiền Trụ, Chánh Lượng, Mật Lâm Sơn, thuộc về hệ thống Độc Tử Bộ.

Như trên, hệ thống thứ nhất lấy Đại Chúng Bộ làm đại biểu. Hệ thống thứ hai, không lấy Thượng Tọa Bộ làm đại biểu mà lấy Nhất Thế Hữu Bộ, vì bộ này giải thích kinh văn có phần tinh tế hơn, và có tính cách bao quát những bộ tùy thuộc. Trong hệ thống thứ nhất, thứ nhì đều liệt danh Đa Văn và Tuyết Sơn, vì tông nghĩa của hai bộ này kiêm thông cả Nhất Thế Hữu Bộ và Đại Chúng Bộ. Hệ thống thứ ba lấy Độc Tử Bộ làm đại biểu. Trong hệ thống này, về sau Chánh Lượng Bộ được thạnh truyền hơn cả, nên cũng có thể đem Chánh Lượng thay thế Độc Tử mà đại biểu cho ba bộ: Pháp Thượng, Hiền Trụ, Mật Lâm Sơn.

Trong Nam Hải Ký Quy Truyện, Nghĩa Tịnh pháp sư cũng có nói: "Tuy các bộ phái phát xuất không đồng nhau, nhưng sự truyền thừa ở Tây Vức đại cương chỉ có bốn.” Theo pháp sư, bốn hệ thống là ngoài ba đại biểu trên, thêm vào Thượng Tọa Bộ. Nhưng Thượng Tọa Bộ tông nghĩa kiêm thông cả Đại, Tiểu thừa, về sau lại bị canh cải, thành ra mất bản sắc. Trên đây để Nhất Thế Hữu Bộ làm đại biểu là cũng do duyên cớ đó. Như Đồng Diệp Bộ (Tàmrasàtìyà) được lưu hành ở Tích Lan chính là lưu phái thuộc Thượng Tọa Bộ, nhưng sánh với tông nghĩa của căn bản Thượng Tọa Bộ, có chỗ khác nhau.

Tóm lại, các bộ phái tuy nhiều, nhưng tông nghĩa đại khái không ngoài ba hệ thống trên. Cho nên, biết được tông nghĩa của một bộ đại biểu, tức hiểu được tông nghĩa của các bộ tùy thuộc. Tuy nhiên, thể theo dụng ý của Ngài Huyền Trang, nội dung bản chương chỉ trình bày đại nghĩa các phái đương thời một cách giản yếu cho học giả dễ nhận thức, chớ không phải cố tâm sáp nhập 20 bộ vào ba hệ thống. Vì thật ra, do sự lưu truyền và phát đạt của mỗi phái về sau, những tông nghĩa đầu tiên trong 20 bộ cũng có thay đổi, không thể xác chỉ đâu là giới hạn.

Tiết II. Giáo Nghĩa Của Đại Chúng Bộ.

Giáo nghĩa của Đại Chúng Bộ, đại khái có thể chia thành bốn đoạn như sau:

1. Hữu vi luận:

Theo Đại Chúng Bộ, tất cả pháp hữu vi, gọi là hiện tượng giới hay hữu vi giới, đều nương nơi nhân duyên mà sinh diệt. Vì hiện tượng giới luôn luôn sinh diệt, nên các pháp đời quá khứ không có thật thể, bởi nó chẳng còn tồn tại. Các pháp đời vị lai cũng không có thật thể, bởi nó hãy chưa sinh. Duy các pháp trong một sát na của đời hiện tại là có thật thể, bởi nó đang lưu tồn. Đây là chủ thuyết "Quá vị vô thể, hiện tại hữu thể" của bản bộ. Đứng về phương diện triết học, chủ thuyết này gọi là Phê phán thật tại luận. Quan niệm về hữu vi pháp của Đại Chúng Bộ, mục đích để phá trừ tâm chấp có, tuy chưa được hoàn mỹ, nhưng cũng gần với thuyết "Ngã pháp câu không" của Đại thừa.

2. Vô vi luận:

Tương đối với pháp hữu vi, Đại Chúng Bộ lập ra chín pháp vô vi. Chín pháp ấy là: Trạch diệt, Phi trạch diệt, Hư Không, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Duyên khởi chi tánh, Thánh đạo chi tánh.

Trạch diệt vô vi là lý tánh Niết bàn nương vào sức tuyển trạch của Trí tuệ, lìa sự ràng buộc của phiền não mà chứng được Phi trạch diệt vô vi là chân tánh bản lai vắng lặng, không cần sức lựa chọn của Trí tuệ mới hiển ngộ. Hư không vô vi là chỉ cho hư không của lý tánh, không chướng ngại các pháp và không bị các pháp làm chướng ngại. Không vô biên vô vi là cảnh giới trống không do hành giả chán thô chất của sắc tượng, tu không quán mà chứng được. Thức vô biên vô vi là cảnh giới lặng lẽ không ngằn mé, chỉ có sự biến duyên của tâm thức. Vô sở hữu vô vi là cảnh giới trống lặng bình đẳng, do hành giả chán vô biên thức tu Vô ngã quán được thân chứng. Phi phi tưởng vô vi là định cảnh thoát ly trạng thái có, không, chỉ còn tâm tưởng vi tế. Bốn định cảnh thuộc vô sắc giới trên đây, tuy gọi là vô vi, vô sắc, nhưng thật ra còn có sắc chất vi tế gọi là thức tâm (Hrdayavastu). Vả lại Đại Chúng Bộ không cho bốn định cảnh này là cứu cánh, mà chỉ cho là cảnh sở y tạm trong thời kỳ gia hạnh, do nhân tu mà cảm thành bốn không báo sai biệt. Duyên khởi chi tánh vô vi là lý pháp của sự sống chết xoay vần. Đại Chúng Bộ cho rằng mười hai chi duyên khởi tuy là pháp hữu vi, nhưng thứ lớp tương sinh trước sau của nó không thay đổi. Vì lý pháp duyên khởi này nhất định và tương tục không ngừng, nên họ liệt vào vô vi pháp. Thánh đạo chi tánh vô vi là lý pháp lìa nhiễm chứng diệt của Bát Thánh đạo. Do mỗi chi trong Bát Thánh đạo đều có công năng làm cho hành giả lìa sự ô nhiễm, chứng vào thể vắng lặng, nên Đại Chúng Bộ liệt lý pháp này vào vô vi pháp.

Trong chín pháp trên đây, điểm trọng yếu nhất là Trạch diệt vô vi, vì trừ phiền não chứng Niết bàn, là mục đích của người tu đạo Giải thoát. Xét lại, quan niệm vô vi của Đại Chúng Bộ, không phải chỉ có tính cách tịch tĩnh, mà gồm cả hoạt động, như Duyên khởi chi tánh chẳng hạn. Vô vi của họ, không phải phủ nhận hiện tượng của các pháp, mà là phủ nhận tâm niệm phiền não chấp trước trên các pháp.

3. Tâm tánh bản tịnh luận:

Đại Chúng Bộ chủ trương tâm tánh bản lai thanh tịnh, xa lìa tất cả phiền não mê vọng. Duyên vì khách trần phiền não bên ngoài làm ô nhiễm, nên tâm tánh trở thành bất tịnh. Đây là thuyết "Tâm tánh bản tịnh, khách trần ô nhiễm" của Đại Chúng Bộ.

Vì tâm tánh thì bản tịnh, khách trần là phiền não, tâm và phiền não đều có từ vô thủy, khách trần thường đeo đuổi theo tâm, nên gọi là tùy phiền não. Bởi có tùy phiền não nên tâm bị ô nhiễm, tạo ra nghiệp, khiến cho chúng sinh mãi xoay vần trong nẻo khổ. Nếu nương vào sự tu hành để gột rửa phiền não, thì tâm trở nên trong sạch, hiển hiện được tịnh tánh sẵn có từ xưa. Tâm là chủ, phiền não là khách, hai thứ đều đồng thời; tâm tánh thì vô thủy vô chung, phiền não thì vô thủy hữu chung. Lập luận này tương tợ thuyết "Quan hệ giữa tự tánh và thần ngã" của Số luận, nhưng về nghĩa sinh diệt thì có phần khác hơn.

4. Niết bàn Phật thân luận:

Quan niệm về Niết bàn của Đại Chúng Bộ, không thấy ghi chép rõ ràng. Nhưng về Phật thân, Đại Chúng Bộ cho rằng đức Thích Tôn sinh ở Ấn Độ, giáo hóa nhân gian, là hóa thân chớ không phải thật thân. Thật thân của Phật nương vào nhân hạnh nhiều kiếp mà thành, đối với không gian thì khắp tất cả chỗ, đối với thời gian thì thọ lượng vô cùng. Oai lực của Phật cũng không biên tế, gần gũi giáo hóa chúng sinh mà không khởi phiền não, sự ứng hiện và nhập diệt đều được tùy duyên tự tại.

Đối với Đại Chúng Bộ, Phật thân là vô lậu thân, là siêu việt và thường tồn tại. Do đó, khi Phật chuyển pháp luân, trong một âm thanh có thể nói tất cả pháp, trong một sát na có thể hiểu biết hết mọi việc. Phật thường ở trong định, không có thụy miên, chúng sinh hỏi gì, Ngài đều đáp ngay không cần phải suy nghĩ.

Trên đây là khái lược yếu nghĩa của Đại Chúng Bộ. Hữu vi luận của bộ này, rất gần với không quán của Ma Ha Bát nhã. Vô vi luận có thể làm tiền khu cho thuyết Chân như duyên khởi của Đại thừa. Trong Tâm tánh bản tịnh luận, thuyết phiền não vô thủy hữu chung rất giống với Chân như duyên khởi luận, và cũng là nguyên nhân để dẫn dụ đến tư tưởng "Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh", của Đại thừa. Niết bàn quan của Đại Chúng Bộ tuy không thấy ghi chép, nhưng chúng ta có thể khái luận rằng Phật thân và Niết bàn của họ vẫn không xa nhau. Vì thế, giáo nghĩa của bộ này tuy là Tiểu thừa, mà có những tư tưởng rất gần với Đại thừa. Cho nên có thể nói, giáo nghĩa Đại thừa là từ chỗ phát triển dần dần ở giáo nghĩa của Đại Chúng Bộ.

Tiết III. Giáo Nghĩa Của Hữu Bộ.

Nhất Thế Hữu Bộ phát xuất từ Thượng Tọa Bộ. Giáo nghĩa của Thượng Tọa Bộ thuộc về Nguyên Thủy Phật giáo, gồm cả đạo lý Đại, Tiểu thừa, nhưng Đại thừa còn ở trong vòng ẩn mật. Giáo nghĩa của Hữu Bộ lại nương vào sự tiến triển của Nguyên thủy Phật giáo. Vì vậy, khi nói về bộ này, ta có thể suy biết được nội dung của Thượng Tọa Bộ và các chi phái cùng một hệ thống Lập thuyết của Hữu Bộ được khái quát theo bốn đoạn như sau:

A. Pháp tạng Y Cứ:

Như trên đã nói. Nhất Thế Hữu Bộ do Tôn giả Ca Chiên Diên Ni Tử khai sáng, lấy Luận tạng làm bản vị. Tôn giả chế tác ra A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận (Abhidharma jnànaprasthàna sàstra) gồm 20 quyển làm nền tảng cho Hữu bộ. Ngoài Phát Trí Luận ra, còn sáu bộ khác được gọi Lục Túc Luận, cũng là Pháp tạng y cứ của Hữu Bộ. Sáu bộ luận ấy là:

1. A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận (Abhidharma Sanjitiaparyàpàdá Sàstra) 20 quyển, tương truyền do Ngài Xá Lợi Phất sáng tác trong khi Phật còn tại thế.

2. A Tỳ Đạt Ma Pháp Uẩn Túc Luận (Abhidharma dhamaskandhapàda Sàstra) 12 quyển, do Ngài Xá Lợi Phất tạo; theo bản Hán dịch thì do Ngài Mục Kiền Liên.

3. A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận (Abhidarma prajnàtipàda Sàstra) gồm 18.000 bài tụng, do Ngài Mục Kiền Liên tạo; theo bản Hán dịch thì do Ngài Đại Ca Chiên Diên.

4. A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidarma vijnànakàyapàda Sàstra) 16 quyển, do Ngài Đề Bà Thiết Ma (Devasarman Thiên Tịch, Thiên Hộ) sáng tác khoảng sau Phật diệt độ 100 năm.

5. A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận (Abhidarma prakaranapàda Sàstra) 18 quyển, do Ngài Thế Hữu sáng tác phần đầu, Kê Tân La Hán viết phần cuối.

6. A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (Abhidharma dhàtukàyapàda Sàstra) 3 quyển, do Ngài Phú Lâu Na tạo; theo Hán dịch thì do Ngài Xá Lợi Phất. (Trên đây, phần ghi chú tác giả là y theo thuyết của Ngài Xứng Hữu, trong Câu Xá Thích).

Sáu bộ trên, về giáo lý, chỉ là những phần tử của Phát Trí Luận nên gọi là Lục Túc Luận. Còn Phát Trí Luận gọi là Thân Luận. Đây là y theo nghĩa bản và mạt. Về sau, các bậc học giả của Hữu Bộ lại giải thích giáo nghĩa của Phát Trí Luận, và biên tập lại thành một bộ gọi là A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (Abhidharmamahàvibhàsà Sàstra) gồm 200 quyển. Trong đó có nhiều đoạn dẫn chứng từ Lục Túc Luận.

Ngài Ca Chiên Diên Ni Tử lấy Luận tạng làm bản vị, bởi có hai lý do. Một là để đối kháng với tân thuyết của Đại Chúng Bộ, phương diện khác là để đả phá hai học phái Thắng luận và Số luận của ngoại đạo, đang phục hưng lúc đương thời thường hay bài xích Phật giáo. Vì mục đích đó, Ngài chủ trương môn lý luận của Phật giáo cần phải có lập trường cho thật vững chắc để quyết thắng. Lại, trong khi tranh biện, Ngài thường lấy giáo nghĩa của Thắng luận và Số luận để dẫn chứng, nên nội dung của Hữu Bộ có hình tích ảnh hưởng từ Thắng luận, cũng như giáo nghĩa Đại Chúng Bộ chịu ảnh hưởng của Số luận vậy.

B. Chúng Sinh Và Thế Giới:

Theo Nguyên thủy Phật giáo, thì năm uẩn là những yếu tố để thành lập thế giới. Tất cả chánh báo và y báo thế gian, không ngoài hai điểm sắc, tâm trong năm uẩn. Nhưng Hữu Bộ vì chịu ảnh hưởng sự phân loại vạn hữu của phái Thắng luận, nên đem chia tất cả sự vật thành năm vị: sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng hành và vô vi. Năm ngôi vị này gồm có 75 pháp như sau:

1. Sắc pháp: Sắc pháp có 11 thứ, là năm căn, năm cảnh và vô biểu sắc. Năm căn là: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Năm cảnh là: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vô biểu sắc (Avijnaptirùpa) là những tác động của thân, khẩu, phát sinh từ tâm nghiệp lành dữ của chúng sinh.

2. Tâm pháp: Tâm pháp chỉ có một thứ, gọi là Tâm vương. Tâm vương đây là chỉ cho những công dụng của tinh thần, như cảm giác, tri giác, tưởng tượng. Nếu đem tế phân thì công dụng tinh thần này không ngoài sáu thức.

3. Tâm sở pháp: Tâm sở pháp gồm có 46 thứ như: Mười đại địa pháp: thọ, tưởng, tư, xúc, dục, huệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam ma địa. Mười đại thiện pháp: tín, cần, hành xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an, bất phóng dật. Sáu đại phiền não pháp: si, phóng dật, giải đải, bất tín, hôn trầm, điệu cử. Hai đại bất thiện pháp: vô tàm, vô quý. Mười tiểu phiền não địa pháp: phẩn, phú, xan, tật, não, hại, hận, siểm, cuống, kiêu. Tám bất định địa pháp: hối, miên, tầm, từ, tham, sân, mạn, nghi.

4. Tâm bất tương ưng hành pháp: Ngôi vị này có 14 thứ: đắc, phi đắc, chúng đồng phận, vô tưởng quả, vô tưởng định, diệt tận định, mạng căn, sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân, văn thân.

5. Vô vi pháp: Vô vi pháp có ba thứ: trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, hư không vô vi.

Bảy mươi lăm pháp thuộc năm ngôi vị trên đây là đứng về phương diện khách quan để phân loại vũ trụ vạn hữu. Còn đứng về phương diện chủ quan thì có ba khoa là: năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới. Ba khoa này không ngoài ba phần: Căn, cảnh, thức hằng làm nhân duyên cho nhau mà sinh ra các pháp, và mọi tác dụng của tinh thần.

Hữu Bộ cho rằng tất cả pháp, nương vào thời gian thì phải trải qua bốn trạng thái sanh, trụ, dị, diệt; nương vào không gian phải có sự, lý, hợp, biến hóa. Hiện tượng các pháp tuy sanh diệt biến hóa, nhưng thể tánh của nó vẫn thường tồn tại trong ba đời. Ví như các làn sóng tuy sanh diệt biến hóa, nhưng thể tánh của nó là nước vẫn không thay đổi. Tác dụng của thể tánh hằng hữu này, lúc chưa phát khởi gọi là vị lai, lúc đang diễn ra gọi là hiện tại và lúc đã qua rồi gọi là quá khứ. Đây là thuyết "Tam thế thật hữu, pháp thể hằng hữu" của Hữu Bộ. Đứng về phương diện triết học, thuyết này gọi là Đa Nguyên Thật Tại Luận.

Hữu Bộ tuy chia chẻ vạn hữu có phần tinh tế hơn Thượng Tọa Bộ, nhưng cũng không ngoài hai điểm: sắc và tâm; hay nói cách khác là chúng sinh (tâm) và thế giới (sắc). Theo Hữu Bộ, chúng sinh nương nơi trần cảnh mà khởi phiền não; nếu quán biết các pháp đều do nhân duyên hòa hợp, sinh diệt trong sát na, thì tâm chấp trước không còn, ngã tướng phải tiêu tan. Môn quán này tên: Tích sắc nhập không gọi tắt là Tích không quán. Vì thế, tông nghĩa của Hữu Bộ gọi là Ngã Không Pháp Hữu Tông.

C. Quan Niệm Tu Hành:

Hữu Bộ quan niệm rằng cuộc đời nhiều khổ, mục đích của người tu là cầu Giải thoát sự khổ ấy, để đạt cảnh giới Niết bàn an vui. Muốn được như thế, phải biết đời là khổ, phải trừ phiền não là cái khổ nhân, phải nương nơi đạo pháp đạt đến Niết bàn mà tu, và cuối cùng sẽ chứng vào cảnh Niết bàn an lạc. Quan niệm tri, đoạn, tu, chứng này không ngoài đạo lý Tứ Thánh đế. Nếu giản ước lại, phương pháp tu hành của Hữu Bộ, theo thứ lớp chia thành ba bậc:

1. Kiến đạo (Darsana màrga): Trước tiên, dùng sức lựa chọn của Trí tuệ, biết rõ lý Tứ đế, đoạn hết phần kiến hoặc.

2. Tu đạo (Bhàvana màrga): Tiến thêm một bậc, đem huệ lực để tu tập theo lý Tứ đế và Tam thập thất giác phần.

3. Vô học đạo (Asàiksa màrga): Sau cùng, tất cả phiền não đều tiêu tan, chứng vào thể tánh Niết bàn, không còn chi phải học nữa.

Lại, nương vào căn tánh của người tu, Hữu Bộ chia ra ba hạng thượng, trung, hạ, và sở chứng của ba hạng này được gọi là tam thừa. Hạ căn thuộc về Thanh văn thừa; hạng này nương vào lời dạy của Phật, quán lý Tứ đế mà tu hành, chứng được quả A la hán. Trung căn thuộc Độc giác thừa: hạng này quán mười hai nhân duyên mà tự tỏ ngộ, chứng quả Bích Chi Phật (Pratyeka Buddha). Đây cũng gọi là Duyên giác thừa. Thượng căn thuộc về Bồ tát thừa, hạng này y theo Lục độ tu tập trong nhiều kiếp, sau cùng đầy đủ phần tự lợi lợi tha, chứng quả Vô thượng Chánh giác.

D. Niết bàn Và Phật Thân:

Khi đức Như Lai còn tại thế, Phật thân chứng Niết bàn, sắc thân hiện tồn tại, nên không có sự luận nghị về Niết bàn và Phật thân. Nhưng sau khi đức Thế Tôn diệt độ, vấn đề đó lần lần trở thành trọng đại là mục tiêu sinh ra nhiều kiến giải không giống nhau.

Đối với vấn đề Niết bàn và Phật thân, kiến giải của Hữu Bộ cũng như Nguyên thủy Phật giáo. Về Niết bàn, bộ này cũng chia ra Hữu dư Niết bàn. Còn về Phật thân, thì Phật là thân người hiện thật. Thân thể của Phật vì liên quan đến nghiệp nhân của đời trước nên thọ mạng có hạn định. Khi nghiệp quả đã dứt, thân xác tiêu tan, Như Lai vào Vô dư Niết bàn, trở về nơi tịch tĩnh. Tự thân của Như Lai không làm điều gì ác, nhưng vì còn thể chất nên còn là sở y của suy, già, bệnh, khổ. Và, với Hữu Bộ, Phật cũng có tâm vô ký, có sự ngủ nghỉ, không phải thường ở trong định, trong một sát na không thể suốt hết mọi việc, trong một âm thanh không thể nói tất cả pháp. Về nhân hạnh của Phật trong đời quá khứ, mục đích cốt yếu là cứu độ loài hữu tình chớ không mấy chú trọng ở sự đoạn hoặc. Nhưng khi tiền thân của Như Lai thọ sinh trong tam giới tu hạnh Bồ tát, phiền não do đó dần dần bị chiết phục, đến khi nhân hạnh viên mãn, nghiệp hoặc tiêu tan, được trở thành bậc Đại giác. Đây là thuyết "Phục hoặc nhân hành" của Hữu Bộ.

Như trên đã lược thuật, đạo lý của Hữu Bộ phưởng phất với Thượng Tọa Bộ, với Nguyên thủy Phật giáo. Nhưng đặc biệt là giáo nghĩa của bộ này, về sau trở thành những tài liệu quan trọng cho môn Duy thức học trong đạo Phật.

IV. Giáo Nghĩa Của Độc Tử Bộ.

1. Pháp tạng y cứ:

Tử Nhất Thế Hữu Bộ, trước tiên phát sinh ra Độc Tử Hữu Bộ. Nhưng đặc biệt, giáo nghĩa của bộ này lại không thuộc vào Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ, mà tự nó có một hệ thống giáo nghĩa riêng.

Nguyên lúc đức Như Lai còn tại thế, có một người ngoại đạo tên là Độc Tử, xuất gia trong Phật pháp, quy y với Tôn giả La Hầu La, rồi từ đó đời này đến đời khác Thầy trò truyền thọ cho nhau. Sau đức Thế Tôn diệt độ 200 năm, những học đồ thuộc hệ thống của Ngài Độc Tử mới biệt lập thành một phái lấy tên là Độc Tử Bộ. Luận tạng y cứ của phái này là bộ Pháp tướng A Tỳ Đàm. Bộ luận này nguyên là Cửu Phần Tỳ Đàm của Phật nói, Tôn giả Xá Lợi Phất căn cứ theo đó mà giải thích rộng thêm, rồi truyền lại cho Ngài La Hầu La. Tôn giả La Hầu La lúc đương thời hoằng dương thuyết này, và truyền lại cho Ngài Độc Tử.

Thuyết Bổ Đặc Già La (Pudgala): Giáo nghĩa đặc thù của Độc Tử Bộ là Thuyết Bổ Đặc Già La. Danh từ này, Trung Hoa dịch là "Ngã"; nhưng Ngã của Độc Tử Bộ không đồng với Ngã của ngoại đạo, cũng không thuộc về Ngã của ngũ uẩn. Ngã của ngoại đạo là nguyên chất của vạn hữu sinh hoạt gọi là Linh hồn hay Thần ngã; Phật giáo cho đó là lối chấp thường của Nhất thần giáo. Ngã của ngũ uẩn là vọng nghiệp của sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biến hóa sinh diệt Vô thường. Ngã của Độc Tử Bộ thì khác; phái này cho rằng Bổ Đặc Già La không phải đương thể của ngũ uẩn, cũng không phải lìa ngũ uẩn mà có. Như con người khi tạo nghiệp nhân lành dữ, sẽ phải cảm thọ quả báo về sau, Bổ Đặc Già La là mối liên quan từ đời này cho đến nhiều đời khác. Nếu không có nó duy trì, thì ngũ uẩn cũng tiêu diệt không còn sự chuyển sinh ở kiếp sau. Chẳng hạn như Phật là bậc Nhất thế trí biết tất cả mọi pháp, nếu không có Bổ Đặc Già La thì cái biết thuộc về tâm, tâm sở sinh diệt. Nếu là tâm, tâm sở sanh diệt thì khi biết tâm không biết sắc, khi biết sắc không biết tâm. Nhưng vì có Ngã thường trụ bất biến, nên đức Thế Tôn biết khắp cả sắc và tâm một cách tự tại. Cho nên từ địa vị phàm phu cho đến khi thành Phật, Bổ Đặc Già La là một thật thể tồn tại quán thông ba đời, duy trì nghiệp nhân lành dữ, và biết khắp tất cả.

3. Ba tụ và năm tạng:

Độc Tử Bộ lại lập ra ba tụ và năm tạng. Ba tụ là Hữu vi tụ, Vô vi tụ và Phi nhị tụ. "Tụ" có ý nghĩa: phân loại, bộ phận. Hữu vi tụ là phân loại thuộc các pháp hữu vi. Vô vi tụ là bộ phận về vô vi pháp. Phi nhị tụ là chỉ cho Bổ Đặc Già La, vì thật thể này không thuộc về hữu vi pháp của ngũ uẩn, cũng không thuộc về vô vi pháp của Niết bàn.

Từ ba tụ, Độc Tử Bộ lại chia thành năm tạng. Năm tạng ấy là: Quá khứ tạng, Hiện tại tạng, Vị lại tạng, Vô vi tạng, và Bất khả thuyết tạng. Ba tạng đầu gọi là Tam thế tạng, do sự tế phân từ Hữu vi tụ. Vô vi tạng tức là Vô vi tụ. Còn Bất khả thuyết tạng là biệt danh của Phi nhị tụ, tức chỉ cho Bổ Đặc

Già La.

Kết luận lại, giáo nghĩa của Độc Tử Bộ rất giản ước, thâu gồm muôn pháp trong ba tụ. Về đường lối tu hành, thì bộ này chủ trương phá sự chấp trước trên hữu vi, vô vi, mà xu hướng về Phi nhị tụ, làm hiển lộ Bất khả thuyết tạng, tức Bổ Đặc Già La. Riêng về thuyết Bổ Đặc Già La, có thể gọi là giáo nghĩa đặc thù của phái Độc Tử, và làm cơ sở cho lập thuyết Như Lai tạng của Đại thừa Phật giáo về sau.


Chương X: Tiểu Thừa Và Đại Thừa.

+ Tiết Mục:

I. Ý nghĩa Tiểu thừa, Đại thừa.

II. Khởi nguyên phân biệt giữa hai phái.

III. Những điểm sai biệt của hai phái.

IV. Dung hội các thừa.

+ Kinh sách tham khảo:

- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa,

- Kinh Văn Thù Bát nhã,

- Kinh Tạp A Hàm,

- Trí Độ Luận,

- Nhập Đại Thừa Luận,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược,

- Phật Giáo Khái Luận.

+ Đề yếu: Ý nghĩa Đại, Tiểu thừa và sự sai biệt giữa đôi bên, đã thường gây nhiều thắc mắc cho người sơ cơ học Phật. Để giải thích phần nào mối hoài nghi ấy, trong tiết thứ nhất thuộc bản chương đưa ra ba sự kiện: pháp môn, tế độ, quả vị, để lược bàn về quan điểm hơn kém của song phương. Hai tiết kế, tiếp tục nói qua nguyên nhân phân biệt và sự sai khác giữa Tiểu thừa Đại thừa, mà yếu tố chính không ngoài cảnh duyên và sự nhận thức của cá tính. Tiết sau cùng trích dẫn kinh Tạp A Hàm và đại ý phẩm Phương Tiện trong kinh Pháp Hoa, chỉ rõ các thừa đều là những nấc thang phương tiện để đi đến Phật thừa, trong một đời thuyết giáo, đức Thế Tôn duy nói Nhất thừa pháp mà thôi.

Thể nhận nghĩa này, người học Phật sẽ tự giải thích được tâm niệm phân vân, chia rẽ.

Tiết I. Ý Nghĩa Tiểu Thừa, Đại Thừa.

Khi đức Phật còn ở đời, vì tùy trình độ của mọi người, mà Ngài thuyết pháp có cạn sâu, cao thấp. Lại đôi khi, thính chúng tuy cùng nghe một giáo lý, nhưng sự lĩnh hội của mỗi người có thấp cao, rộng hẹp không đồng. Nhân đó, về sau mới nảy sinh ra sự phân biệt giữa Đại thừa (Mahàyàna) và Tiểu thừa (Hìnayàna).

Đại thừa là gì? Một lời tổng quát, đó là "giáo pháp dạy tất cả hữu tình thành Phật.” Đứng về phương diện phân tích, chữ "Thừa" là vận tải, vận độ, nghĩa là chuyên chở. Giáo lý của Phật dạy có đủ công năng, phương pháp, dắt đường chỉ lối, chuyên chở chúng sanh từ cõi trần lao phiền não đến cảnh thanh tịnh an vui, Từ biển sống chết luân hồi đến bến Niết bàn Giải thoát, nên gọi là "Thừa.”

Trong danh từ Tiểu thừa, chữ "Tiểu" có những nghĩa: hẹp, nhỏ, thấp. Nghĩa "hẹp" của Tiểu thừa, là chỉ cho quan niệm của người tu duy lo tự độ, tự đưa mình đến chỗ Giải thoát, không đoái hoài đến bao nhiêu chúng sinh khác đang ở trong biển trầm luân. Có điều nên phân biệt, nếu người nào có hoài bão lòng tha thiết độ sanh, tuy dùng pháp Tiểu thừa để giáo hóa, song thật ra lại thuộc về tâm niệm Đại thừa. Và những kẻ tuy ở nơi non cao rừng thẳm, không tiếp xúc với đời, nhưng có bi nguyện tự độ để độ tha, cũng thuộc về tâm niệm Đại thừa. Nghĩa "nhỏ" của Tiểu thừa, là chỉ cho giáo pháp cạn cợt, chỉ thích hợp, hóa độ được một hạng người, không thích hợp, hóa độ được mọi tầng lớp chúng sinh. Điểm cạn cợt này, là sự chấp nhận trong phạm vi giáo pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Một điều nên nhận định, tiểu pháp không thể bao hàm đại pháp, nhưng trái lại đại pháp bao hàm tiểu pháp; vì thế Tứ đế, Thập nhị nhân duyên cũng là một phương tiện trong sự độ sinh của Đại thừa. Nghĩa "thấp" của Tiểu thừa, là chỉ cho giáo pháp đưa người đến quả vị thấp của Thanh văn, Duyên giác, không đưa đến quả vị cao siêu cứu cánh của Phật Đà. Giáo pháp này cũng chính là Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Tóm lại "Tiểu thừa" có ba ý nghĩa: "sự vận tải hẹp, nhỏ, thấp", như trên.

Phản ảnh lại, danh từ Đại thừa cũng có ba nghĩa: rộng, lớn và cao. "Rộng" là độ mình và tất cả chúng sinh; "lớn" là đủ các pháp môn thích hợp với mọi căn cơ; "cao" là đưa loài hữu tình đến quả vị Vô thượng Chánh giác. Cả hai danh từ Tiểu thừa, Đại thừa, nếu mỗi bên thiếu một trong ba ý nghĩa trên, thì không thể thành lập.

Đại thừa, tiếng Phạn gọi là Ma ha Diễn Na (Mahàyàna). Đầu tiên, danh từ này không có tính cách để đối chọi với Tiểu thừa, đại ý của nó là chỉ cho những giáo lý cao thâm, những pháp môn rộng lớn có công năng độ khắp chúng sinh mà thôi. Vì thế, trong kinh Đại thừa vẫn có những danh từ thuộc Tiểu thừa, và trong kinh Tiểu thừa ta cũng thường thấy những danh từ thuộc Đại thừa. Khi đức Thế Tôn còn ở đời, giáo pháp của Ngài tuy hàm ẩn cả Đại, Tiểu thừa, nhưng trong Giáo đoàn vẫn hòa hợp tu hành, không có sự phân biệt lớn nhỏ, cao thấp. Khoảng thời gian 600 năm sau Phật diệt độ, tuy chư Tăng chia thành nhiều bộ phái, song cũng không có sự đối lập giữa Đại, Tiểu thừa. Trong các chi phái thuộc ba hệ thống Hữu Bộ, Đại Chúng và Độc Tử, có nhiều vị nghiên cứu kinh luận Đại thừa. Như Ngài Chân Đế nói: "Giáo đồ của Đại Chúng Bộ ở thành Vương Xá cũng học hỏi truyền bá những Kinh điển Đại thừa như Hoa Nghiêm, Niết bàn, Thắng Man, Duy Ma, Kim Quang Minh, Bát nhã...”

Nhưng từ 600 năm sau Phật diệt độ trở đi, do tư tưởng tiến triển của quần chúng, do hoàn cảnh, nhân duyên, sự phân biệt và đối lập giữa hai tập đoàn lớn trong Phật giáo lâm vào tình trạng không thể tránh khỏi.

Tiết II. Khởi Nguyên Phân Biệt Giữa Hai Phái.

Nhân duyên phân biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa, đại ước có ba điểm:

1. Do hoàn cảnh:

Đại thừa Phật giáo bộc hưng, một phần do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài. Xét theo lịch sử, từ đời A Dục Vương về sau, quần chúng miền Bắc Ấn thường giao thiệp với dân tộc hai xứ Hy Lạp, Ba Tư. Những nhà học Phật ở Bắc Ấn lúc ấy càng ngày càng đông. Do sự tiếp xúc với ngoại nhân, họ dần dần chịu ảnh hưởng tư tưởng Tôn giáo của hai xứ đó, nên có nhiều nhà học Phật chủ trương sùng bái cầu nguyện. Bởi nguyên nhân này, thuyết tha lực vãng sanh đã sẵn có trong Kinh điển Phật giáo được đề khởi lên. Thời bấy giờ, phong trào cầu vãng sanh về cõi Đâu Suất của Di Lặc Bồ tát, cõi Cực lạc của Phật A Di Đà, cõi Lưu Ly của Phật Dược Sư, cõi Diệu Hỷ của Phật A Súc Bệ rất thịnh hành. Trong đây chỉ có thuyết vãng sanh Cực lạc là được lưu thông hơn cả. Người ta gọi phong trào này là Chủ tình Đại thừa giáo.

Mặt khác, sau Phật diệt độ 500 năm, các phái ngoại đạo dần dần phục hưng, lý thuyết của họ càng ngày càng được cải cách thêm đến mức siêu việt. Song song với phong trào đó, kho tàng Phật giáo cũng phải được khai thác triệt để, mới có thể đối phó với ngoại đạo và giải quyết đầy đủ mối nghi ngờ của học giả. Vì thế, Đại thừa Phật giáo phải ra đời để thích ứng với thời đại.

2. Do trào lưu tư tưởng:

Khởi nguyên tư tưởng Đại thừa Phật giáo lẽ dĩ nhiên đã có từ khi đức Như Lai còn tại thế. Sau khi đức Thế Tôn diệt độ 100 năm, Giáo đoàn đạo Phật chia thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ, rồi dần dần phát sinh ra các chi phái. Giáo nghĩa của các bộ phái đó phần nhiều bao hàm cả đạo lý Đại thừa. Tư tưởng của học giả cũng biến thiên theo trào lưu, từ đời A Dục đến đời Ca Nị Sắc Ca, quan niệm Đại thừa giáo càng ngày càng phát hiện thêm rõ rệt.

Trên phương diện địa lý, tư tưởng này bắt nguồn từ xứ An Đạt La thuộc Nam Ấn Độ. Giáo nghĩa nẩy nở đầu tiên là Ma Ha Bát nhã, phát xuất từ Đại Chúng Bộ. Trong kinh Bát nhã có đoạn Phật dự ký: "Sau khi Như Lai Niết bàn, kinh này được truyền về phương Nam, rồi từ đó lưu chuyển đến phương Tây và lên phương Bắc.” Lời dự ký này đã chứng minh cho Đại thừa Bát nhã xuất phát từ phương Nam. Đại thừa Phật giáo ở Bắc Ấn Độ phát nguyên từ địa phương nào, sự kê khảo chưa được chính xác. Nhưng theo Ngài Huyền Trang thì tại xứ Câu Tát La (Kosala), Kinh điển Đại thừa rất nhiều, Phật pháp ở đây cực thịnh và được truyền bá đi các nơi khác. Hoặc giả địa phương này là chỗ phát nguyện của Đại thừa Phật giáo miền Bắc Ấn chăng?

3. Do các học giả phát khởi:

Sau khi Phật diệt độ, một mặt do trào lưu tư tưởng dần dần biến thiên, nên sự đòi hỏi thích ứng với quan niệm quần chúng càng ngày càng thêm cần thiết. Mặt khác, giáo nghĩa của ngoại đạo cũng dần dần được cải tiến, họ biết rút lấy cái hay của các phái khác trong ấy có cả đạo Phật, để bổ khuyết thêm cho học thuyết của mình. Vì thế, lập luận của họ càng ngày thêm vững vàng, trong đó các phái Thắng luận, Số luận, Phệ đàn đà luôn luôn bài xích Phật giáo. Giữa lúc ấy, phần đông chư Tăng lại thiên về khuynh hướng Giải thoát, bảo thủ lấy truyền thống xưa, nên thanh thế Phật giáo dần dần thấy sút kém trước ảnh hưởng của ngoại đạo. Để cứu vãn tình thế và thích ứng thời cơ, sau Phật diệt độ 700 năm, hai Ngài Mã Minh, Long Thọ nối nhau xuất hiện, trứ tác các bộ như: Đại Thừa Khởi Tín Luận, Đại Trang Nghiêm Luận Kinh, Trí Độ Luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, Trung Quán Luận, để phát huy ý nghĩa Đại thừa Phật giáo. Kế tiếp sau hai Ngài, có các vị như Đề Bà, La Hầu La, Bạt Đà La, Vô Trước, Thế Thân, cũng cực lực đề xướng đạo lý này.

Xét ra, đứng về mặt bao quát, Đại thừa kiêm cả Tiểu thừa. Nhưng Đại thừa giáo sở sĩ được biệt lập là để đối kháng với quan niệm bảo thủ và xu hướng tự Giải thoát của phần đông chư Tăng thời bấy giờ. Nhưng hoàn cảnh hoặc trào lưu tư tưởng chỉ là nhân duyên phát khởi, mà thành quả lại do sự xướng lập của chư đại đức Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân. Cho nên người sau thường gọi các Ngài là những nhà cách mạng Phật giáo.

Vậy, khởi nguyên của Đại thừa Phật giáo là bởi ba lý do trên. Quan niệm phân biệt, khen chê giữa Đại thừa và Tiểu thừa sau này, thật ra cũng có. Nhưng sự đối lập giữa hai tập đoàn lớn trong Phật giáo, là một lẽ tất nhiên của thời đại, mà dù muốn dù không, người ta vẫn không thể tránh.

Tiết III. Những Điểm Sai Biệt Của Hai Phái.

Đứng về phương diện lịch sử mà nói, sự đối lập giữa Tiểu thừa và Đại thừa có ba nguyên nhân như trên. Nhưng về phương diện lập thuyết, thì hai phái hoàn toàn khác nhau từ chỗ phát tâm đến giáo, lý, hạnh, quả. Trong Trí Độ Luận, Ngài Long Thọ nói: "Phật pháp đồng một vị, đó là vị Giải thoát. Trong vị Giải thoát này có hai thứ: một là chỉ vì mình, hai là vì tất cả chúng sinh. Cho nên, tuy đồng cầu Giải thoát, mà có sự lợi mình và mình người đều lợi khác nhau. Vì thế, mới có sự sai biệt giữa Tiểu thừa, Đại thừa.” Xem đây thì biết, sự khu phân của hai phái không phải chỉ thuộc trên nguyên nhân, mà còn trên phương diện chủ thuyết. Căn cứ theo Nhập Đại Thừa Luận của Ngài Kiên Ý, và xét qua chủ trương lập thuyết đôi bên, ta có thể chia sự sai biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa thành tám điểm như sau:

1. Tâm lượng:

Hàng Tiểu thừa tâm lượng hẹp hòi, gấp cầu Giải thoát mọi sự khổ não trong đường sinh tử. Họ chỉ biết độ cho mình hơn là độ cho kẻ khác. Hàng Đại thừa tâm lượng rộng rãi, quyết đạt đến lý tưởng tự lợi lợi tha. Hơn nữa, họ còn lấy việc lợi tha làm chủ đích.

2. Căn cơ:

Tiểu thừa là hàng căn tánh tối chậm, chỉ tin hiểu những tiểu pháp như Tứ đế, Thập nhị nhân duyên. Đại thừa là hạng có thắng giải đại tánh, không thích tiểu pháp mà ưa thọ trì những đại pháp như: Ngã pháp câu không, Duyên khởi như huyễn.

3. Nhân sinh quan:

Tiểu thừa khuynh hướng về nhân sinh quan Vô thường, nhiều khổ não. Vì vậy, họ chủ trương phá tan tiểu ngã, mong sớm chứng vào thể tánh vắng lặng, và lấy đó làm chỗ Giải thoát an vui. Đại thừa cũng bắt đầu từ quan niệm ấy, nhưng lại hiểu rằng các pháp như huyễn, chúng sinh chính là tự tánh của mình. Cho nên lập thuyết của họ là phá chấp trên ngã, pháp, để khuyếch trương đại ngã, không cần phải lìa đời xa lánh chúng sinh, mà vẫn được Giải thoát tự tại.

4. Vũ trụ quan:

Tiểu thừa đối với vạn hữu thì cuộc hạn trong phạm vi hiện tượng luận sinh diệt, yếu tố để giải thích của họ duy có 75 pháp. Sự chứng biết của Tiểu thừa cũng chỉ trong vòng tam thiên đại thiên thế giới, cho nên họ không tin có tha phương Tịnh độ. Đại thừa thì ngoài hiện tượng sai biệt, còn thuyết minh chân như bình đẳng không sinh diệt để đạt đến bản thể luận. Yếu tố để Giải thoát vạn hữu của họ gồm có 100 pháp. Họ tin nhận rằng, ngoài thế giới này còn có vô số uế độ và Tịnh độ như vi trần. Tất cả đều là thể Như huyễn tự tánh thanh tịnh tánh.

5. Quan niệm Tam bảo:

Về Phật bảo, hàng Tiểu thừa chỉ chấp nhận đức Thích Ca Mâu Ni và chư Phật của cõi Ta bà, không tin có các đấng Như Lai ở tha phương thế giới. Về Pháp bảo, họ duy tính thuận những kinh Tiểu thừa như A Hàm, Pháp Cú... , không tin nhận những kinh Đại thừa như Hoa Nghiêm, Pháp Hoa. Về Tăng bảo, họ chỉ hiểu biết các bậc A la hán như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên..., không chấp nhận các bậc Bồ tát tha phương như: Phổ Hiền, Dược Vương, Nguyệt Quang, Thế Chí. Trái lại, Đại thừa tin nhận cả tiểu pháp lẫn đại pháp và ngôi Tam bảo ở cõi này cùng mười phương.

6. Tư lương tánh:

Trên phương diện tu hành, hàng Tiểu thừa thiên về huệ, y theo Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Tam thập thất đạo phẩm, mục đích để phá trừ ngã chấp, chứng quả nhân không. Còn hàng Đại thừa thì y theo Lục độ vạn hạnh gồm tu phước huệ, phá cả ngã chấp lẫn pháp chấp, chứng quả nhị không.

7. Thời gian tánh:

Về Tiểu thừa, hàng Thanh văn phải từ ba đời đến 60 kiếp mới chứng quả A la hán; còn hàng Duyên giác phải tu từ bốn đời đến 100 kiếp mới chứng quả Bích Chi Phật. Còn bên Đại thừa phải dùng ba A tăng kỳ kiếp để tu sáu độ và 100 kiếp để tu nhân tướng tốt, mới chứng quả Phật.

8. Quả chứng:

Giải thoát của Tiểu thừa là tiêu cực. Họ muốn lánh khỏi mọi sự khổ não ở hiện tại mà thể nhập vào cảnh không tịch. Cho nên mục đích chung cuộc của họ là cầu lấy quả A la hán hoặc Bích Chi Phật. Giải thoát của Đại thừa là tích cực. Họ hiểu rằng phiền não vốn không và trong chúng ta có đủ đức tướng, Trí tuệ của Như Lai cùng vô lượng công đức. Vì thế họ lấy địa vị Phật Đà làm lý tưởng chung cuộc. Về chúng sinh, Đại thừa quyết độ tất cả đều thành Phật. Về thế giới, họ quyết biến cõi uế ác thành cảnh thiện mỹ, trang nghiêm. Cho nên mục đích của Đại thừa gồm trong câu: "Trang nghiêm Phật độ, thành tựu chúng sinh.”

Tiết IV. Dung Hội Các Thừa.

Theo Nguyên thủy Phật giáo, quả Niết bàn Giải thoát của hàng Thanh văn đồng với Phật, nhưng bậc Thanh văn phước trí chưa được đầy đủ bằng đức Thế Tôn. Theo Đại thừa Phật giáo, quả Vô thượng Bồ đề của Như Lai, duy những vị tu theo Bồ tát thừa mới chứng được. Đứng về mặt khách quan để khảo cứu Kinh điển của hai phái, ta có thể chia lối thuyết pháp của Phật ra ba thời kỳ:

- Thời kỳ thứ nhất, đức Thế Tôn vì muốn cho hàng đệ tử lìa khỏi nỗi khổ thân tâm hiện tại, hưởng sự an vui tịch tịnh, nên Ngài chỉ ngay những phương tiện Giải thoát. Như đức Phật dạy: "Thế này là Khổ, thế này là Tập, thế này là Diệt, thế này là Đạo. Như Lai đã tu tập theo đường lối ấy, các ông nên thực hành theo. Như Lai đã đắc quả Giải thoát theo đường lối ấy, các ông nên cố gắng để chứng nhập... Hiện nay sự sống chết của ta đã dứt, phạm hạnh đã thành lập, việc làm cũng đã xong, không còn thọ thân đời sau nữa...” Xuyên qua mấy lời này, đạt đáo điểm của Phật cùng với hàng đệ tử trong buổi đầu tiên dường như không khác nhau, có thể biểu dương bằng câu: "Hành đồng đạo, đắc đồng quả.”

- Qua thời kỳ thứ hai, đức Thế Tôn dần dần nói những đạo pháp cao rộng hơn. Như trong đoạn Ngài Văn Thù trình bày kiến giải với Phật: Bạch đức Thế Tôn! Tu Bát nhã Ba la mật là không rời bỏ pháp phàm phu, không cầu lấy pháp hiền Thánh. Tại sao thế? Vì người thực hành môn này, không thấy có pháp để lấy hoặc bỏ, cũng không thấy có Niết bàn đáng ưa, sinh tử đáng chán. Bởi Niết bàn cùng sinh tử, hành giả còn không thấy có, huống nữa là sự ưa chán ư? Đức Phật bảo: "Đúng như thế! Này Văn Thù! Đó là sở hành của các bậc Bồ tát ma ha tát. Cho đến hàng Thanh văn, Duyên giác, nói chung là bậc hữu học, vô học, đều không nên rời pháp ấn này mà tu đạo quả.” Đoạn kinh văn trên đây, chứng minh đức Thế Tôn khuyến dụ hàng Thanh văn đi vào thâm pháp. Ngài còn bảo chính mình đã trải qua vô lượng kiếp, tu những nhân hạnh tự lợi lợi tha rộng lớn, mới thành tựu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô úy, mười tám pháp bất cộng của quả Vô thượng Bồ đề.

- Đến thời kỳ thứ ba, đức Thế Tôn dung hòa ba thừa. Đại ý Ngài nói: "Những vị nghe tu theo pháp Tứ đế, chứng được đạo quả, gọi là Thanh văn thừa. Hạng căn cơ lanh lợi hơn, tự phát minh hoặc do ngôn giáo của Như Lai mà tỏ ngộ Thập nhị nhân duyên, gọi là Độc giác hoặc Duyên giác thừa. Bậc thực hành Lục độ, cầu quả Vô thượng, gọi là Bồ tát thừa. Nhưng hàng Thanh văn, Duyên giác có thể hướng thượng và thành Phật; hai thừa này chỉ là những nấc thang để bước lên Bồ tát thừa mà thôi.” Tóm lại, ba thừa chỉ là một, đức Như Lai ra đời không ngoài mục đích đưa chúng sinh đến quả Phật, và Ngài cũng chỉ dạy có đạo pháp Nhất thừa. Danh từ Nhất thừa, trong Kinh điển của hai phái, đức Phật cũng thường nhắc nhở đến. Như kinh Tạp A Hàm nói: "Có Nhất thừa đạo hay khiến cho chúng sinh được thanh tịnh, đưa họ vượt qua sự thương lo buồn khổ, vào pháp chân như. Đó là Tứ niệm xứ...” Và đoạn:

“Ta có pháp Nhất thừa

Vì chúng sinh các cõi

Diễn nói Chánh pháp âm

An ủi chúng sinh khổ

Chư Phật đời quá khứ

Dùng pháp này độ sinh

Chư Phật đời vị lai

Cũng diễn Nhất thừa pháp

Chư Phật đời hiện tại

Nương đây độ dòng mê

Đưa khỏi bờ sinh tử...

Kinh Pháp Hoa cũng nói:

Vì thế, Xá Lợi Phất

Ta mới lập phương tiện

Nói các pháp diệt khổ

Chỉ bày nẻo Niết bàn

Nhưng cảnh Niết bàn này

Chưa phải chân diệt độ

Các pháp từ xưa nay

Tự tướng hằng vắng lặng

Phật tử đã hành đạo

Về sau sẽ thành Phật

Ta dùng sức phương tiện

Mở bày pháp tam thừa

Tất cả chư Thế Tôn

Đều nói Nhất thừa đạo

Nay trong đại chúng đây

Phải nên trừ nghi hoặc

Lời chư Phật không khác

Chỉ một, không hai thừa...

Pháp tối diệu bậc nhất

Vì các loại chúng sinh

Phân biệt nói ba thừa

Kẻ thấp ưa pháp nhỏ

Không tin mình thành Phật

Nên ta dùng phương tiện

Chia ra các đạo quả

Tuy là nói ba thừa

Kỳ thật dạy Bồ tát...”

Căn cứ mấy đoạn kinh trên, thì từ trước đến sau, đức Phật chỉ dạy có Nhất thừa pháp, chẳng qua vì tùy trình độ chúng sinh mà phương tiện dẫn dụ thế thôi.

Tóm lại, trong một đời giáo hóa, nói rộng ra, tuy đức Thế Tôn dạy bảo Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ tát thừa, song không ngoài mục đích để thành tựu Phật thừa, tức là Nhất thừa đạo. Đối với hạng chưa thể tu theo đường Giải thoát, Ngài khuyên dạy pháp Ngũ giới, Thập thiện, để cho họ trồng căn lành, khỏi sa vào ác đạo, gây nhân duyên đắc độ về sau. Với hạng có thể bước lên nẻo Niết bàn, Ngài khai thị pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, để họ thoát nỗi khổ luân hồi, hưởng sự vui tịch tịnh, rồi lần lượt dẫn dụ vào đại pháp. Với hạng đại căn cơ, Ngài chỉ ngay Bồ tát đạo, khiến cho họ mau thành tựu quả Phật. Đức Từ bi, Bình đẳng, Trí tuệ, phương tiện của Phật quả thật khôn lường! Thế thì dù Tiểu thừa hay Đại thừa, đều cùng là con của Phật, cùng sẽ về một tiêu điểm, người Phật tử chỉ nên tự xét và tự hướng lối đi của mình đúng như lời dạy của đức Thế Tôn, chớ không nên cố tâm chia rẽ.

Chương XI: Sự Phát Triển Của Tiểu Thừa.

+ Tiết Mục:

I. Nguyên nhân phân biệt danh từ.

II. Sự phát triển của Hữu Bộ.

III. Sự phát triển của Kinh Lượng Bộ.

IV. Sự phát triển của Đồng Diệp Bộ.

+ Kinh sách tham khảo:

Dị Bộ Tông Luân Luận.

Phật Học Đại Cương.

Lược Sử Truyền Bá Phật giáo.

Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược.

+ Đề yếu: Bởi chúng sinh căn tánh có khác nhau, nên giáo pháp mới chia thành Đại, Tiểu thừa sai biệt. Tuy nhiên, nhìn nơi hiện thực, mỗi bên đều có những ưu điểm riêng. Trong ba bộ phái Tiểu thừa được phát triển nhất, giáo nghĩa đặc sắc của Hữu Bộ là Câu Xá Luận; giáo nghĩa đặc sắc của Kinh Bộ là Thành Thật Luận. Đạo lý của hai bộ này về sau gây thành Câu Xá Tông và Thành Thật Tông bên Trung Hoa. Còn Nam phương Thượng Tọa Bộ nhờ ở điểm giữ theo cổ truyền, đến nay thế lực vẫn không suy giảm, lại có phần muốn lấn hơn Bắc phương Phật giáo.

Nam tông và Bắc tông đã có những ưu điểm riêng, thiết tưởng người học Phật cũng nên có quan niệm bao dung, tham khảo giáo nghĩa cùng sự hành trì của đôi bên, để chiết trung lấy, bỏ những phần ưu, liệt.

Tiết I. Nguyên Nhân Phân Biệt Danh Từ.

Sau khi Phật giáo chia thành hai mươi bộ, các phái đều phát đạt, nhưng tiến trình rất sai khác nhau. Hoặc có bộ phái dừng lại nơi giáo lý Tiểu thừa, có bộ phái biến thành Đại thừa. Các phái Tiểu thừa phần nhiều thuộc hệ thống Thượng Tọa Bộ. Các phái Đại thừa phần nhiều thuộc hệ thống Đại Chúng Bộ.

Trước tiên, sau khi đức Thế Tôn diệt độ trong khoảng 100 năm, Phật giáo chưa bị chia chẻ, nên thật ra chưa có danh xưng phân biệt. Lúc Giáo đoàn Tăng lữ dần dần chia thành hai mươi bộ, ta có thể gọi đó là thời kỳ Bộ phái Phật giáo. Bấy giờ những danh từ Tiểu thừa, Đại thừa hay Nguyên thủy để chỉ định cho một tập đoàn nào cũng chưa có. Nhưng sau khi Đại thừa Phật giáo được chính thức thành lập, những học giả Đại thừa muốn phân biệt sự cao thấp về mặt tư tưởng giáo lý, nên gọi những bộ phái thiên về quan niệm tự độ, chấp ngã không pháp hữu là Tiểu thừa. Trái lại, Tiểu thừa Phật giáo không chấp nhận danh từ Tiểu thừa, để tỏ ra giáo lý của mình đi đúng với căn bản hơn, sau này họ tự xưng là phái Nguyên thủy. Gần đây, muốn gây ý niệm dung hòa trong khi giao tiếp, bên Đại thừa thường tự xưng là Bắc tông và gọi bên Tiểu thừa là Nam tông.

Khi Đại thừa Phật giáo mới ra đời và dần dần được hưng long, phái Tiểu thừa bị kích thích bởi ảnh hưởng đó, cũng trở nên tiến đạt. Thời ấy, bên phái Tiểu thừa, giáo lý được phát triển hơn cả là học thuyết của Nhất Hữu Bộ và Kinh Lượng Bộ.

Tiết II. Sự Phát Triển Của Hữu Bộ.

Lập nghĩa của Hữu Bộ, ban sơ lấy Phát Trí Luận của Ngài Ca Chiên Diên Ni Tử làm căn bản. Kế đó, các Luận sư trong bộ phái này căn cứ theo bản luận mà diễn thích thành sáu bộ khác, gọi là Lục Túc Luận. Ít lâu sau, những học giả thuộc bản bộ lại y cứ theo Phát Trí Luận và Lục Túc Luận mà giải thích một cách tỉ mỉ, biên soạn thành bộ A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận. Về thời gian chế tác bộ Đại Tỳ Bà Sa, có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng niên đại chế tác luận này vào lúc Phật diệt độ hơn 400 năm, khi vua Ca Nị Sắc Ca mới lên ngôi. Còn trong Thế Thân Truyện lại bảo sau Phật diệt độ 500 năm. Ngài Đạo Đỉnh, vị pháp sư viết lời tựa Tỳ Bà Sa Luận, thì nói là hơn 600 năm sau Phật diệt độ. Thuyết sau này gần với sự thật hơn cả.

Đương thời, tông nghĩa của Hữu Bộ lấy xứ Ca Thấp Di La làm trung tâm, và được thịnh hành ở địa phương Tây Bắc Ấn Độ. Khi bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận đã được biên soạn, học thuyết của Hữu Bộ dường như trở nên cố định, ngưng phát triển trong một thời gian. Nhưng đến sau, do phản ứng từ sự công kích của những Luận sư Đại thừa Phật giáo như Long Thọ, Đề Bà, các phái Tiểu thừa cũng dần thức tỉnh. Riêng về Hữu Bộ, họ hết sức chỉnh đốn lại nội dung của tông nghĩa mình. Như Ngài Thi Đà Bàn Ni (Stapàni) soạn thuật bộ Đề Bà Sa Luận; Ngài Pháp Thắng (Dharmasri) soạn thuật bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận. Sau đó, Ngài Ưu Ba Phiên Đà (Upasantà) sáng tác bộ A Tỳ Đàm Tâm Luận Kinh; Ngài Đạt Ma Đà La (Dharmatràta) sáng tác bộ Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận. Tất cả những bộ luận trên đều cùng chung mục đích phát huy chân giáo nghĩa của Hữu Bộ. Niên đại xuất thế của các vị Luận sư kể trên, thuộc vào khoảng đầu thế kỷ thứ II đến cuối thế kỷ thứ IV Tây lịch. Đến đầu thế kỷ thứ V, có Ngài Tắc Kiền Địa La (Skandila), trứ thuật bộ Nhập A Tỳ Đạt Ma Luận. Giáo nghĩa của Hữu Bộ nhờ đó thêm phần đặc sắc.

Từ trước Hữu Bộ đã có bốn vị học giả trứ danh, mà cổ lai thường gọi là Hữu tông tứ đại Luận sư. Bốn Ngài đó là: Pháp Cứu (Dharmatràta), Diệu Âm (Ghosa), Thế Hữu (Vasumitra), và Giác Thiên (buddhadeva). Đến cuối thế kỷ thứ IV, có hai đại học giả Phật giáo là Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) ra đời. Hai Ngài sinh quán ở thành Phú Lâu Sa Bổ La (Purusapura Bá Lộ Sa), thuộc nước Kiền Đà La. Trước tiên hai Ngài tin theo Bà la môn giáo, sau thấy đạo này chưa được cứu cánh, nên đồng xuất gia học tập giáo lý Tiểu thừa trong Hữu Bộ. Nhưng vì không mãn nguyện với học thuyết Tiểu thừa, về sau hai vị lại chuyển sang nghiên cứu Kinh điển của Đại thừa Phật giáo.

Riêng về Ngài Thế Thân, khi còn ở Hữu Bộ, nhân nghiên cứu học thuyết của Kinh Bộ thấy có nhiều ý tứ cao siêu, muốn đem học thuyết này chiết trung với Hữu Bộ để bổ khuyết cho giáo nghĩa của tông mình. Nhưng vì tông lý uyên nguyên khó bề tường tận, Ngài sang xứ Ca Thấp Di La tham phỏng với một vị đại đức của Hữu Bộ là A la hán Ngộ Nhập (biệt danh Chúng Hiền, Tăng Già Bạt Đà La Sam ghabhadra). Sau khi nắm hết được các yếu nghĩa, Tôn giả Thế Thân trở về bản quốc giảng Đại Tỳ Bà Sa Luận, nạn phá những chỗ ý tứ chưa được ổn, cải thiện lại học thuyết của Hữu Bộ. Và, thuận theo lòng ngưỡng mộ cùng sự yêu thỉnh của các học giả ở Ca Thấp Di La, Ngài biên tập lại những bài giảng của mình thành bộ A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (Abhidharma Kosasàstra). Chúng Hiền Luận sư là một học giả chính thống của Hữu Bộ nghe Ngài Thế Thân sau khi phỏng đạo với mình, trở về làm luận Câu Xá, bác phá nhiều điểm cổ truyền của bản tông, có ý không bằng lòng. Do đó Luận sư viết ra hai bộ: A Tỳ Đạt Ma Bảo Luận cũng gọi là Thuận Chánh Lý Luận và A Tỳ Đạt Ma Hiển Tông Luận; bộ trước dụng ý phá tà, bộ sau dụng ý hiển chánh. Nhưng hai bộ luận này vì chấp theo cựu thuyết, nên nội dung còn lủng củng, có nhiều chỗ phải viết trái với cổ nghĩa, ý tứ mới được thông. Vì vậy, bộ Câu Xá Luận được chiếm phần ưu thế hơn; các học giả trong Hữu Bộ khi tham tầm giáo lý của bản tông, chỉ nghiên cứu Câu Xá Luận là đầy đủ. Còn hai bộ luận của Ngài Chúng Hiền soạn, với chủ trương kháng đối Câu Xá Luận, ngược lại, bị họ coi là phản bội với giáo nghĩa của Hữu Bộ. Do đó, người đời sau gọi Câu Xá Luận là Tân Tỳ Bà Sa Luận, Tôn giả Thế Thân là tân giáo chủ của phái Tát Bà Đa (Hữu Bộ).

Và, học thuyết của Hữu Bộ phát triển đến đây là cùng cực.

Tiết III. Sự Phát Triển Của Kinh Lượng Bộ.

Theo Bắc truyền, Kinh Lượng Bộ tức là Thuyết Chuyển Bộ. Nhưng theo Nam truyền thì hai bộ ấy khác nhau, Kinh Lượng Bộ phát xuất là Thuyết Chuyển Bộ. Nếu căn cứ thuyết sau này, giáo nghĩa của hai phái tất phải có chỗ sai biệt. Nhưng thuyết của Nam truyền không tìm thấy kinh sách để tham khảo, nên nay chỉ theo Bắc truyền mà lược thuật tông nghĩa của Kinh Lượng Bộ.

Sở dĩ được gọi Kinh Lượng, vì bộ này lấy kinh làm Chánh Lượng, mà không y theo Luật, Luận. Trong thời kỳ Kiết tập thứ nhất, vị Tôn giả trùng tuyên tạng Kinh là Ngài A Nan, nên phái này suy tôn Ngài làm sơ tổ của bản bộ. Kinh Lượng lại có tên là Thuyết Chuyển với hàm ý: học thuyết của bộ này lưu chuyển về sau không cùng. Theo Kinh Lượng Bộ, giáo nghĩa của tạng Kinh có công năng gây thành hạt giống trong tâm thức, hạt giống đó họ gọi là Nhất vị uẩn. Nhất vị uẩn lại có công năng sinh ra tự quả là danh và sắc. Danh sắc chủng tử cùng tâm chủng tử hai bên duy trì nhau, nên dù cho ở địa vị hữu tâm hay vô tâm, Nhất vị uẩn vẫn hằng tương tục không tiêu diệt này gọi là Tế ngũ uẩn, tương đối với Thô ngũ uẩn sinh diệt biến hóa. Tế ngũ uẩn tức là Nhất vị uẩn, Thô ngũ uẩn gọi là Căn biên uẩn.

Trước tiên, Kinh Lượng bộ chấp ngoài tâm có pháp, sau dần dần có khuynh hướng về Duy tâm luận. Phái này có hai học giả trứ danh: vị trước là Cưu Ma Ra La Đa (Đồng Thọ), chủ trương thuyết Sắc tâm hỗ trì. Vị sau là Thất Lỵ La Đa (Thắng Thọ), chủ trương thuyết Tế ý thức. Tế ý thức là bốn uẩn vi tế làm căn bản cho Thô ngũ uẩn. Theo Kinh Lượng Bộ, các loài dị sanh tự nhiên có chủng tử vô lậu. Do đó, dù Phật ra đời hay không ra đời, được nghe pháp hay không nghe pháp, những loài này đều có năng lực tự Giải thoát. Bản phái lại lập ra thuyết Thắng Nghĩa Bổ Đặc Già La, cho đây là cái thật ngã vi tế. Bổ Đặc Già La này không có biệt thể khác năm uẩn như phái Độc Tử và Chánh Lượng, mà rất vi tế không thể nghĩ bàn, nên mới gọi là Thắng nghĩa. Tế ý thức là ngã thể trong nhân vị khi chưa thành Phật. Thắng Nghĩa Bổ Đặc Già La là bản thể vô thủy vô chung, thông cả phàm phu và Phật vị.

Kinh Lượng Bộ lại lập ra ba định tụ: chánh định tụ, tà định tụ và bất định tụ. Chánh định tụ là pháp vào Niết bàn. Tà định tụ là pháp không thể vào Niết bàn. Bất định tụ là pháp không nhất định được Niết bàn. Phái này cũng lập ra thuyết Vô vi vô tác dụng như Hữu Bộ. Vô vi vô tác dụng đại khái giống như thuyết Chân như bất động của Duy Thức. Vì thế, có kẻ cho Kinh Lượng Bộ là tiền khu của Duy Thức tông.

Đến giữa thế kỷ thứ IV Tây lịch, có Ngài Ha Lê Bạt Ma (harivarman Sư Tử Khải) ra đời, chỉnh đốn lại giáo nghĩa của Kinh Lượng Bộ. Ha Lê Bạt Ma gốc người Trung Ấn, thuộc dòng Bà la môn, đã từng tu học theo phái Số luận, sau mới quy y Phật giáo. Khi nương về Chánh pháp, đầu tiên Ngài theo đại đức Cưu Ma La Đa, một học giả của Hữu Bộ, tham cứu về Phát Trí Luận. Sau Ngài thấy học thuyết của Hữu Bộ còn nông cạn mà lối biện luận dần dần đi vào chỗ phiền toái, nên chuyển sang nghiên tầm giáo nghĩa của Đại Chúng Bộ. Khi nương về Kinh Lượng bộ, Ngài có mục đích thống nhất giáo nghĩa của các phái, nên mới chiết trung các học thuyết Đại, Tiểu thừa, mà soạn ra bộ Thành Thật Luận (Satyasiđhi Sàstra).

Nội dung của Thành Thật Luận là căn cứ vào thuyết Tứ Thánh đế, để chỉnh đốn lại đạo lý của Phật giáo. Trong đây chia thành năm tụ, gồm 202 phẩm. Năm tụ là: Phát tụ, Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ và Đạo đế tụ. Phát tụ giải thích ý nghĩa Tam bảo và mục đích tạo luận. Khổ đế tụ nói về sự khổ nung nấu của ngũ ấm. Tập đế tụ bàn vấn đề nghiệp và phiền não. Diệt đế tụ giải thích vấn đề Niết bàn. Còn Đạo đế tụ thuyết minh về Định và Trí. Điểm đặc sắc trong luận, là nơi phẩm Diệt Pháp Tâm có đề cập đến thuyết Nhân pháp câu không, giống như giáo nghĩa của Đại thừa, còn các phẩm khác đều bàn về Tiểu thừa pháp. Ngoài ra, Ngài Ha Lê Bạt Ma còn kế thừa thuyết "Hiện tại thật hữu, quá vị vô thể" của Kinh Lượng Bộ.

Đại khái, Kinh Lượng Bộ được phát triển rực rỡ nhất, nhờ khoảng thời gian bộ Thành Thật Luận ra đời.

Tiết IV. Sự Phát Triển Của Đồng Diệp Bộ.

Đồng Diệp Bộ cũng gọi là Nam phương Thượng Tọa Bộ. Sở dĩ có danh từ Nam phương Thượng Tọa Bộ là để phân biệt với Thượng Tọa Bộ tại miền Bắc Ấn. Đồng Diệp quốc hay Sư Tử quốc đều là biệt danh của người Trung Hoa gọi đảo Tích Lan; Nam phương Thượng Tọa Bộ thịnh hành trước tiên ở đảo này, nên gọi là Đồng Diệp Bộ. Về sau Phật giáo các nước: Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên, từ hình thức cho đến giáo nghĩa đều giống như Nam phương Thượng Tọa Bộ của Tích Lan. Vậy nay chỉ nói về Thượng Tọa Bộ đã phát triển nơi xứ này, còn Phật giáo ở các nước kia, vì đồng một hệ thống có thể suy ra để hiểu, vả lại phạm vi cũng quá rộng, nên xin ngừng lại cho phần lịch sử.

Về Phật giáo Tích lan, nơi mục "Kinh Phật tiếng Ba ly" trong chương thứ bảy của bản thiên đã có nói lược qua, nên nay chỉ đề cập những điểm cần yếu.

Đạo lý của Phật giáo Tích Lan, lúc đầu thuộc về hệ thống Thượng Tọa Bộ. Giáo đoàn trước tiên là Đại Tịnh Xá Tự Phái, gọi tắt là Đại Tự Phái (Mahàvihàra). Phái này được thành lập từ đời vua Thiên Ái Đế Tu thứ bảy, thuộc Thượng Tọa Bộ (Theriyanikàya). Đến thời kỳ Vô Úy Vương tức vị, lại xuất sanh phái Vô Úy Sơn Tự (Abhyagiri) thuộc về Pháp Hỉ Bộ (Dhammaruci nikàya). Sang triều vua Cù Đàm Bà Gia (Gotabhaya) lại phát xuất thêm một phái mới nữa, gọi là Kỳ Đà Lâm Tự (Jetavana). Như vậy, từ thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên đến đầu thế kỷ thứ II sau Tây lịch, Phật giáo Tích Lan có tất cả ba phái khác nhau.

Đến đầu thế kỷ thứ XI, xứ Tích Lan bị dân tộc Tamil ở Nam Ấn Độ tràn tới đánh phá đô thành, thiêu hủy chùa tháp, tàn sát chư Tăng, nên Phật giáo ở nơi đây bị suy vi trong một thời gian. Sau đó vài mươi năm, có vua Tỳ Dà Gia Bà Hầu (Vijaya bhàhu) nổi lên đánh đuổi quân thù, khôi phục lại bờ cõi, sai sứ sang Miến Điện nghinh thỉnh Tam tạng Kinh điển đem về. Phật giáo ở bản xứ nhờ đó mới trở lại hưng thịnh.

Cuối thế kỷ thứ XII, vua Ba Ra Ca Ma Bà Hầu (Parakhama bhàhu), một vị anh quân của Tích Lan, lên ngôi thống trị. Vua là người hết sức lưu tâm đến việc chấn hưng và thống nhất Phật giáo. Từ trước ở bản xứ, ba phái Phật giáo vẫn đối lập nhau, nhưng sau khi lên ngôi, vua dung hòa và thống nhất ba phái thành một, lấy tông nghĩa của Đại Tự Phái thuộc Thượng Tọa Bộ làm giáo học chính thống.

Từ thế kỷ thứ XVI trở đi, nước Tích Lan tuy bị người Bồ Đào Nha và Hòa Lan dùng đủ mọi cách đem tư tưởng Thiên Chúa giáo truyền vào, nhưng dân chúng phần đông vẫn là tín đồ của Phật giáo. Đến tháng hai năm 1948, xứ Tích Lan thoát khỏi vòng cai trị của người Anh và tuyên ngôn độc lập. Sang tháng 5 năm 1950, hội nghị Phật giáo thế giới gồm đại biểu của 29 nước được chiêu tập tại nơi đây. Hội nghị này đã quyết định từ nay về sau, Phật giáo của các nước thuộc hệ thống Tiểu thừa đều gọi là Theravada (Thượng Tọa Bộ Phật giáo). Và từ đó, giữa Tiểu thừa và Đại thừa Phật giáo đã có sự thông cảm.

Tóm lại, sự tiến triển của Nam phương Thượng Tọa Bộ ở Tích Lan nói riêng, cũng như các nước: Miến Điện, Thái Lan, Ai Lao, Cao Miên nói chung, đều đồng những điểm đặc sắc then chốt là:

Chỉ tôn thờ Phật Thích Ca là đấng Bổn Sư duy nhất.

Đều thông dụng thứ Kinh điển chép bằng tiếng Ba Ly.

Chỉ có chư Tăng, không có Ni chúng.

Chư Tăng đều vấn y vàng, ôm bát.

Phái xuất gia cố gắng giữ giới, tham Thiền, phái tại gia ưa thích sự cúng dường, bố thí.

Chương XII: Sự Phát Triển Của Đại thừa

+ Tiết Mục:

I. Bốn bậc long tượng của Đại thừa.

II. Chư pháp thật tướng luận.

III. Các Luận sư thuộc hệ thống Thật tướng luận.

IV. A lại da duyên khởi luận.

V. Các Luận sư thuộc hệ thống Duyên khởi luận.

+ Kinh sách tham khảo:

- Trung Quán Luận, Trí Độ Luận,

- Hải Triều Âm Văn Khố,

- Ấn Độ Phật Giáo Sử Lược,

- Phật Học Đại Cương.

+ Đề yếu: Theo Đại thừa Khởi Tín Luận, tổng thể của nhất tâm có hai môn: Chân như và Sinh diệt. Chân như môn thuộc về Bản thể quan, Sinh diệt môn thuộc về Hiện tượng quan. Để phá quan niệm chấp có và thuyết minh chân tâm theo Bản thể quan, hai Ngài Mã Minh, Long Thọ đề xướng thuyết Chư pháp thật tướng. Với mục đích trừ quan niệm chấp không và thuyết minh chân tâm theo Hiện tượng quan, hai Ngài Vô Trước, Thế Thân đề xướng thuyết A lại da duyên khởi. Nhưng, Thật tướng chẳng phải thiên không, Duyên khởi chẳng phải trệ hữu, cả hai đều là thể diệu hữu chân không. Đây là điểm cốt yếu của hai hệ thống Đại thừa Phật giáo.

Kế thừa tư tưởng hai hệ thống này, tuy có nhiều Luận sư, nhưng hiển trứ hơn cả, bên Không tông có hai Ngài: Đề Bà, Thanh Biện, bên Hữu tông có hai Ngài Hộ Pháp, Giới Hiền. Về sau, các chi phái Đại thừa tuy phát xuất ra nhiều, nhưng cũng không ngoài hai hệ thống Không và Hữu. Cho nên trong bản chương chỉ đưa ra Thật tướng luận và Duyên khởi luận để đại biểu cho sự phát triển của Đại thừa Phật giáo, chính là do chủ ý trên đây.

Muốn cắt dây leo, nên từ cội gốc; căn bản đã thông, chi mạt cũng thông. Tôn chỉ này, các học giả tất cả đã biết rõ.

Tiết I. Bốn Bậc Long Tượng Của Đại Thừa.

Tư tưởng Đại thừa Phật giáo ở Ấn Độ, tổng yếu có hai hệ thống: hệ thống Bát nhã chủ trương thuyết Chư pháp thật tướng, hệ thống Du già chủ trương thuyết A lại da duyên khởi. Khai sáng lập thuyết trước, có hai Ngài: Mã Minh, Long Thọ. Khởi xướng lập thuyết sau, có hai Ngài: Vô Trước, Thế Thân. Nay tưởng cũng nên lược thuật qua sự tích của bốn đại học giả ấy:

1. Ngài Mã Minh (Asvaghosa):

Niên đại xuất thế của Mã Minh Bồ tát, có nhiều thuyết khác nhau. Lại căn cứ nơi luận Thích Ma Ha Diễn thì có đến sáu Ngài Mã Minh. Nhưng theo sự nhận xét của phần đông các nhà học Phật, thì trước sau chỉ có một Mã Minh Bồ tát. Và, riêng về thời đại trứ tác, bộ Đại thừa Khởi Tín thuyết Ngài xuất thế khoảng sau Phật diệt độ 600 năm, là có phần chính xác hơn hết.

Ngài Mã Minh dòng dõi Bà la môn, người thành Sa Kỳ Đa (Sakera) thuộc xứ Trung Ấn. Ngài là bậc học vấn uyên bác, biện tài vô ngại, văn chương, thi phú hơn người, thông suốt Phệ Đà cùng những môn học phụ thuộc, rành về các giáo quỷ chân ngôn. Ngài có những biệt danh là: Nan Phục, Nan Phục Hắc, Dõng Mẫu Nhi, Phụ Nhi, Pháp Thiện Hiện, Thể Huệ... Ban sơ Ngài học theo ngoại đạo, biện luận thắng tất cả các học giả Phật giáo tại nước Ma Kiệt Đà. Nhưng sau gặp đại đức Hiếp Tôn giả và Phú Na Dạ Sa (Pùrnayasas) Ngài bị chiết phục, suy kính hai vị ấy làm bậc Thầy. Khi đã nương về Chánh pháp, Ngài du hành các miền Trung, Bắc Ấn, đem tài hùng biện chiết phục ngoại đạo, tuyên dương Phật giáo, thanh danh vang dội khắp nơi. Tương truyền Ngài có tài vừa đàn vừa ca, làm cho loài ngựa cảm động chảy nước mắt, kêu lên tiếng bi thương. Và, lúc vua Ca Nị Sắc Ca tiến đánh thành Hoa Thị, đòi một trong hai điều kiện: dâng Ngài Mã Minh, hoặc nộp vàng chín ức. Chủ thành không có đủ vàng, đành phải đem Ngài Mã Minh ra thay thế. Khi vua được Ngài Mã Minh, liền rước về Bắc Ấn để hoằng dương Đại thừa Phật giáo. Có thuyết nói, trong thời kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ tư, Ngài Mã Minh đã tham gia với phận sự nhuận sắc văn chương.

Về phần trứ thuật, tương truyền Ngài có soạn hơn 100 bộ kinh luận, nhưng hiện nay chỉ còn mười tác phẩm như sau: Phật sở Hành Tán, Đại Trang Nghiêm Luận Kinh, Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo Kinh, Lục Thú Luân Hồi Kinh, Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng, Ni Kiền Tử Vấn Vô ngã Nghĩa Kinh, Đại Tôn Đại Huyền Văn Bản Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Bách Ngũ Thập Tán Phật Tụng, và Bản Sanh Mang Luận. Trong bài tựa quy kính của Đại Trang Nghiêm Luận Kinh, Ngài đã viết:

Phú Na, Hiếp Tỳ kheo

Các học giả Di Chức

Chúng Tát Bà Thất Bà

Bậc Ngưu Vương chánh đạo

Những Luận sư như thế

Nay tôi đều kính thuận.

Phú Na Dạ Sa và Hiếp Tôn giả là bậc Thầy của Ngài. Di Chức là dịch âm của danh từ Mahìsàsakà, tức Hóa Tha Bộ. Tát Bà Thất Bà là dịch âm của danh từ Sarvàtivàsda, tức Nhất Thế Hữu Bộ. Ngưu Vương, có học giả cho là dịch âm của danh từ Kaukkutika, tức Kê Dẫn bộ. Xem thế thì biết sở học của Ngài kiêm cả Đại thừa, Tiểu thừa. Bài tựa quy kính trên biểu lộ thái độ khoan hòa của một nhà học Phật, biết dung hợp tất cả giáo lý không cuộc hạn tông phái nào, cốt để tìm cầu chỗ hay, gạt bỏ chỗ kém. Có thể cho tư tưởng của Ngài Mã Minh như một chiếc cầu nối liền giữa hai lãnh vực Tiểu thừa, Đại thừa vậy.

2. Ngài Long Thọ (Nàgàrjuna):

Ngài là người xứ Tỳ Đạt Bà (Vidharbha, có chỗ gọi Bối Liệp Nhĩ Berar) ở Nam Ấn, thuộc dòng Bà la môn, ra đời vào khoảng 700 năm sau Phật diệt độ. Ngài có biệt danh Long Mãnh hoặc Long Thắng, bẩm tánh kỳ ngộ, Trí tuệ sâu xa, xem nghe một lần là nhớ tất cả, không cần phải hỏi lại. Lúc thiếu thời, Ngài đã tinh thông các Kinh điển Phệ Đà, cùng những môn thiên văn, địa lý, y học, toán số và nhiều học thuật khác. Nhưng các môn học đó không làm cho tự tâm được thỏa mãn, nên Ngài quyết chí xuất gia tìm đạo lý cao siêu trong Phật giáo. Lúc đầu Ngài học về giáo lý Tiểu thừa, sau lại nghiên cứu sang Đại thừa Phật giáo. Tương truyền rằng sau khi xuất gia, trong vòng ba tháng Ngài đã đọc hết ba Pháp tạng, muốn tìm kinh khác mà không được. Nhân khi du hành đến Tuyết Sơn, Ngài gặp một vị Tỳ kheo truyền dạy cho các Kinh điển Đại thừa. Thầy của Ngài, tục gọi Tuyết sơn lão Tỳ kheo, chính là Tôn giả La Hầu La Bạt Đà La (cùng với đệ tử Ngài Đề Bà tên đồng mà người khác). Khi đã thông hiểu giáo lý thâm huyền, vì chí nguyện hoằng pháp, Ngài đi du hóa các nơi, dùng tài biện luận hàng phục ngoại đạo, và lập thành hệ thống Đại thừa Phật học. Địa điểm hoạt động của Ngài có rất nhiều nơi, những chỗ trung tâm truyền bá là nước Kiều Tát La (Kosala). Vị quốc vương ở bản xứ vì mến đức độ của Ngài, nên phát tâm quy y Phật giáo và kiến tạo một đại Tinh xá ở Hắc Long Sơn (Bhràmaragiti) để cho Ngài trụ trì. Tương truyền Ngài đã dùng thần thông đi xuống Long cung, trong ba tháng đọc thuộc hết lược bản kinh Hoa Nghiêm, gồm mười vạn bài kệ. Sau Ngài lại đến thiết tháp ở Nam Thiên Trúc, được Kim Cang Tát Đỏa Bồ tát truyền thọ cho kinh Đại Nhựt, nên tinh thông cả Trì minh tạng. Vì thế người đời gọi Ngài là bậc xướng đạo cả hai giáo pháp Hiển và Mật. Về công trình hoằng dương Phật pháp, Ngài được xem như đức Thích Ca tái hiện.

Trên lãnh vực trứ thuật, Long Thọ Bồ tát đã soạn ra nhiều bộ luận. Tựu trung các bộ như: Trung Quán Luận, Đại Trí Độ Luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận... là được lưu hành hơn cả. Giáo nghĩa của Ngài đề xướng tuy nhiều, nhưng hiển trứ hơn cả là thuyết Bát bất trung đạo và thuyết Vãng sanh. Bát bất trung đạo là: bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất lai, bất khứ. Trung đạo đây không phải ý nghĩa trung gian giữa sự có không, sinh diệt, đoạn thường, mà là ý nghĩa vượt ra ngoài vòng tương đối sai biệt để hiển lộ thể chân không diệu hữu, thuộc trường hợp dứt bặt lời nói và sự suy nghĩ. Còn thuyết Vãng sanh, như nơi phẩm Dị Hành trong luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa, Ngài đã nói: "Từ địa vị phàm phu cho đến ngôi Vô thượng Chánh giác có hai đường lối tu tập: nan hành đạo và dị hành đạo. Nan hành đạo là dụng công khắc khổ tu trì chẳng tiếc thân mạng, ngày đêm tinh tấn, mà được bất thối chuyển. Dị hành đạo là dùng phương tiện niệm danh hiệu chư Phật, mà được bất thối chuyển mau lẹ dễ dàng. Nan hành đạo thuộc về tự lực; Dị hành đạo kiêm cả tự lực và tha lực.” Trong Dị hành đạo, Ngài lại thiên trọng về phần niệm Thánh hiệu Phật A Di Đà. Hai lập thuyết do Ngài đề xướng, đã ứng hợp với lời huyền ký của đức Phật trong kinh Lăng Già: "Sau xứ Nam Thiên Trúc. Có danh đức Tỳ kheo. Tôn hiệu là Long Thọ. Hay phá hữu, vô tông. Tuyên dương pháp Đại thừa. Trong thế gian hiển ngã. Được Sơ hoan hỷ địa. Sinh về cõi Cực lạc.”

3. Ngài Vô Trước (Asanga):

Sau Phật diệt độ 900 năm, có hai bậc đại học giả Phật giáo ra đời. Đó là Ngài Vô Trước và Thế Thân. Sinh quán của hai Ngài ở tại thành Bá Lộ Sa (Purasapura), thuộc nước Kiền Đà La miền Bắc Ấn. Hai Ngài nguyên dòng dõi Bà la môn, thân phụ là Kiều Thi Ca (Kausika), thân mẫu là Tỷ Lân Trì (Virinci). Vô Trước có ba anh em, Ngài là anh cả, Thế Thân là em lớn, Tỷ Lân Trì Tử (Virincivaisa) là em út. Cả ba anh em đều xuất gia đầu Phật. Ban sơ Ngài Vô Trước tin theo đạo Bà la môn, sau bỏ Bà la môn đi xuất gia, học tập đạo pháp Tiểu thừa thuộc Hữu Bộ. Nhưng vì không mãn nguyện với giáo lý ấy, Ngài lại chuyển sang nghiên cứu Kinh điển Đại thừa. Tương truyền, Ngài đã dùng sức thần thông lên cung trời Đâu Suất (Tusita) để nghe Bồ tát Di Lặc (Maitreya) giảng về pháp Đại thừa. Sau khi đó, Ngài lại thỉnh Bồ tát giáng xuống hạ giới, ngự tại một giảng đuờng thuộc nước A Du Đà (Ayodhyà) miền Trung Ấn. Trong khoảng thời gian bốn tháng, cứ về đêm thì Ngài nghe Bồ tát thuyết pháp, ban ngày lại đem những điều đã nghe được tuyên giảng cho đại chúng. Và cũng trong vòng bốn tháng. Bồ tát Di Lặc đã nói xong năm bộ đại luận: Du già Sư Địa Luận, Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Thập Địa Kinh Luận, Trung Biên Phân Biệt Luận, Kim Cang Bát nhã Luận.

Ngài Vô Trước cũng có nhiều trứ tác riêng, gây thành hệ thống Pháp Tướng Duy Thức Học. Nơi trung tâm hoằng pháp của Ngài là hai nước A Du Đà và Ma Kiệt Đà. Ngài thọ được 75 tuổi.

4. Ngài Thế Thân (Vasubandhu Bà Tu Bàn Đầu):

Sinh sau Vô Trước Luận sư độ hai mươi năm, Thế Thân Bồ tát là một bậc thông minh tài tuấn. Ngài xuất gia theo Hữu Bộ, đến xứ Ca Thấp Di La học giáo nghĩa Đại Tỳ Bà Sa, rồi trở về bản quốc là nước Kiền Đà La thuộc miền Bắc Ấn, soạn ra bộ Câu Xá Luận. Lúc đầu Ngài hết sức hoằng dương giáo lý Tiểu thừa, bài bác Đại thừa. Sau nhờ anh là Vô Trước điểm hóa, Ngài được khai ngộ, trở lại tuyên dương Đại thừa Phật giáo. Trước sau Ngài trứ tác tất cả 500 bộ luận Tiểu thừa và 500 bộ luận Đại thừa. Căn cứ theo những bộ đã dịch sang chữ Hán, ta có thể chia tư tưởng học thuật của Ngài thành năm thời kỳ: Tiểu thừa Hữu Bộ, Đại thừa Duy Thức, Kim Cang Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn và Tha Lực Tịnh độ.

Sau các đại học giả: Mã Minh, Long Thọ, Vô Trước, ta có thể nói Thế Thân Luận sư là một ngôi sao sáng chói nhất trên nền trời Phật học ở Ấn Độ thời bấy giờ. Những đặc sắc của Ngài cũng đi song song với Bồ tát Long Thọ. Nếu Bồ tát Long Thọ là bậc hưng long Đại thừa Phật giáo ở thời đầu, thì Ngài là bậc trung hưng giáo pháp này ở thời giữa. Bồ tát Long Thọ hoằng truyền Phật giáo ở Nam Ấn, Ngài thạnh truyền Chánh pháp ở Bắc Ấn. Bồ tát Long Thọ kế thừa hệ thống giáo lý của Đại Chúng Bộ, Ngài kế thừa hệ thống tông nghĩa của Thượng Tọa Bộ. Bồ tát Long Thọ xương minh tư tưởng Chư Pháp thật tướng thuộc lập thuyết "Không", Ngài đề xướng tư tưởng A lại da duyên khởi thuộc lập thuyết "Hữu.” Bồ tát Long Thọ vang danh là Thiên bộ luận chủ, Ngài cũng nổi danh là Thiên bộ Luận sư.

Qua thời gian du hóa đó đây, cuối cùng Thế Thân Luận sư trở về nhập diệt tại nước A Du Đà, hưởng thọ 80 tuổi.

Tiết II. Chư Pháp Thật Tướng Luận.

Thuyết Thực tướng là một lối lý luận nói rõ thực thể của vũ trụ, đại để cũng như thuyết thực tại (réalisme) thông thường, thực tại thuộc về trực quan giới, không thể đem lời nói và văn từ mà diễn tả được. Tuy nhiên, chúng ta có thể dùng những tỷ dụ tương tợ để hình dung nó. Trung Quán Luận nói:

Các pháp nhân duyên sinh

Ta nói tức là không

Đó chính là giả danh

Cũng là nghĩa trung đạo.

Bài kệ này thuyết minh: bởi các pháp do nhân duyên sinh ra, nên nó là không, giả, và chính là trung đạo thật tướng. Để hiểu nghĩa này rõ ràng hơn, ta hãy quay sang phân tích về đạo lý "Bát bất.”

Các pháp đã do nhân duyên hòa hợp mà sinh, nên chỉ là giả huyễn chớ không phải thật có; nếu quả thật có, tất ưng không đợi nhân duyên mới sinh. Vì nghĩa không phải thật sinh, nên gọi là "bất sinh.” Khi thế lực nhân duyên suy tàn, tất cả các pháp phải diệt; nhưng trước kia đã không sinh, thì nay đâu thật có diệt, vì thế nên gọi là "bất diệt.” Các pháp do nhân duyên mà có sinh trưởng đổi thay nên gọi là "bất thường.” Vạn hữu trước có sau không gọi là đoạn, nay đã không thật có, nên cũng chẳng có chi là đoạn. Đây là nghĩa "bất đoạn.” Các pháp sinh khởi trước sau chẳng giống nhau, như mộng với lúa không phải là một, đó là nghĩa "bất nhứt.” Nhưng nếu quả mộng với lúa không phải là một, thì mộng không ưng sanh lúa, mà phải sanh cái khác; nay vẫn thấy sanh lúa, nên gọi là "bất dị.” Vạn hữu đã như huyễn, thì sự đến đi dường như trong mộng không có thiết thật, nên gọi là "bất lai, bất khứ.”

Trước mắt chúng ta, xưa nay các đối tượng vẫn hiện bày ngàn hình muôn trạng, tại sao Ngài Long Thọ dùng thuyết "bát bất" để phủ nhận? Bởi theo quan niệm của thế gian thì các pháp có sanh, có diệt, có thường, có đoạn, có một, có khác, có lại, có đi; quan niệm này thuộc về lối mê chấp trên giả tướng. Để phá quan niệm ấy và hiểu rõ thật tướng trung đạo, Ngài Long Thọ dùng tám thứ không là: không sinh, không diệt, không thường, không đoạn, không một, không khác, không lại, không đi. Thế thì sự phủ nhận trên, chỉ có tính cách bác phá quan niệm chấp tướng, chớ không phải thật phủ nhận các tướng, bởi hằng sa muôn pháp là diệu thể Bồ đề. Đây là lối dùng không môn đi vào thật tướng.

Đại Trí Độ Luận nói: "Trong Phật pháp có nhị đế, là: thế đế và đệ nhất nghĩa đế. Vì thế đế nên Như lai nói có chúng sinh, vì đệ nhất nghĩa đế nên lại bảo chúng sinh không thật có.” Trung Quán Luận cũng nói: "Chư Phật y theo nhị đế mà thuyết pháp cho chúng sinh, đó là thế tục đế và đệ nhất nghĩa đế. Nếu người nào không biết mà phân biệt nhị đế, tất không thể hiểu nghĩa chân thật của đạo pháp nhiệm mầu.” Căn cứ hai đoạn trên, ta thấy thế đế hay đệ nhất nghĩa đế đều là pháp giả lập để đối trị bệnh mê của chúng sinh, nếu chấp một trong hai phương diện thì không làm sao hiểu được Phật pháp. Như cái nhà do nhân duyên kèo, cột, vách, ngói hợp thành, nếu bảo đó là thật có hay thật không, đều là quan niệm trên mê chấp. Cho nên chư Phật không rời các pháp mà nói thật tướng, không động thật tướng mà lập các pháp. Vì thế, nhị đế tuy hai mà chẳng phải hai, chỉ vì phàm phu lầm diệu hữu là vọng hữu, nhị thừa mê chân không làm thiên không, nên mới dùng phương tiện để đối trị vậy thôi.

Như trên, hai đạo lý bát bất và nhị đế là tư tưởng căn bản của Chư pháp thật tướng luận. Thật tướng này, như trước đã nói, chỉ cùng thí dụ tương tợ để ngộ nhập, tuyệt không thể dùng lời nói cùng văn tự miêu tả được. Cho nên, Duy Thức tông gọi là "Phế thuyên đàm chỉ.” Tam Luận tông gọi là "Ngôn vong lự tuyệt"; Thiên Thai tông gọi là "Bách phi câu khiển, tứ cú giai ly"; Thiền tông gọi là "Bất lập văn tự"; Hoa Nghiêm tông gọi là "Quả phần bất khả thuyết"; Chân Ngôn tông gọi là "Xuất quá ngôn ngữ đạo"; Tịnh độ tông gọi là "Bất khả xưng, bất khả thuyết, bất khả tư nghị.” Muốn hiểu Thật tướng, chúng ta nên thầm hội ý vị của những câu trên.

Tiết III. Các Luận Sư Thuộc Hệ Thống Thật Tướng Luận.

Lập thuyết Chư pháp tướng phát nguyên từ hệ thống Đại Chúng Bộ, do hai Ngài Mã Minh, Long Thọ đề xướng, và căn cứ truyền giáo khởi thủy ở Nam Ấn. Thừa kế tư tưởng này, có Ngài Đề Bà (Àryadeva Thánh Thiên). Đề Bà Luận sư ra đời vào thế kỷ thứ III, sinh quán ở Tích Lan, sau qua Nam Ấn làm đệ tử của Bồ tát Long Thọ. Ngài có viết ra bộ Quảng Bách Luận, thường dùng lý thuyết "không" để hàng phục ngoại đạo, sau bị họ oán sợ mà ám sát. Đệ tử của Luận sư Đề Bà là La Hầu La Bạt Đà La (Ràhula bhadra), gọi tắt là La Hầu Đa La, lại kế truyền học thuyết của Thầy. Ngài là bậc thông minh, có tài biện luận, thường đến các nước ở vùng Trung Ấn để tuyên dương giáo lý Đại thừa. Chính Ngài đã chú thích bộ Trung Luận của Long Thọ Bồ tát, nhưng rất tiếc không còn truyền được tới ngày nay.

Đến thế kỷ thứ IV, có hai Ngài Thanh Mục (Pingala) và Kiên Ý cũng tổ thuật tư tưởng của Ngài Long Thọ. Thanh Mục Luận sư chú thích bộ Trung Luận theo chủ nghĩa "Vô tướng giai không"; Kiên ý Luận sư thì viết ra bộ Nhập Đại Thừa Luận. Qua thế kỷ thứ V, ở Nam Ấn có Ngài Phật Hộ (Buđhapàlita) ra đời, tuyên dương thuyết Trung đạo phi hữu phi không của Bồ tát Long Thọ. Pho trứ tác của Ngài về sau lưu hành sang Tây Tạng gây thành hệ phái Trung Quán tông.

Cuối thế kỷ thứ V, cũng ở Nam Ấn, có Luận sư Thanh Biện (Bhàvaviveka Tình Biện), tạo ra bộ Chưởng Trân Luận và Bát Nhã Đăng Luận. Luận sư dung hòa Không thuyết của Long Thọ với Duy thức học, và đề xướng tục đế là pháp nhân duyên thể không, chân đế là pháp tánh thường trú. Thế là thuyết Vô tướng giai không của Bồ tát Long Thọ đến giai đoạn này đã có hơi chuyển biến. Đối với thuyết Y tha khởi của Duy thức thuộc Hữu tông, Luận sư giải thích là nhân duyên không pháp. Lý luận này đã gây thành cuộc tranh biện dây dưa bất phân thắng bại của hai tông Không, Hữu.

Cuối thế kỷ thứ VI, có Ngài Trí Quang (Jnànaprabha), đệ tử của Thanh Biện Luận sư ra đời. Ngài khởi xướng lối phán thích giáo lý, đưa học thuyết của Bồ tát Long Thọ lên hàng tối cao. Đồng thời ở Nam Ấn lại có Ngài Nguyệt Xứng (Candrakìrti) soạn bộ Trung Luận Thích, lập thuyết cũng tương phù với Ngài Phật Hộ.

Đầu thế kỷ thứ VII có đệ tử Ngài Trí Quang là Sư Tử Quang xuất hiện, giảng về Tam luận tại chùa Na Lan Đà. Ngoài ra, còn có các Luận sư khác như Thắng Quang, Trí Hộ... , đều tuyên dương giáo nghĩa của Ngài Long Thọ.

Như thế, hệ thống truyền thừa về Thật tướng luận thuộc Không tông, có thể sắp theo thứ tự như sau: Mã Minh, Long Thọ, Đề Bà, La Hầu Đa La, Thanh Mục, Phật Hộ, Thanh Biện, Trí Quang, Sư Tử Quang, Thắng Quang, Trí Hộ...

Tiết IV. A Lại Da Duyên Khởi Luận.

Thuyết Thật tướng của hai Ngài Mã Minh, Long Thọ, thể hiện nghĩa chân không của Như Lai tạng. Qua đến thời đại Pháp tướng học, hai Ngài Vô Trước, Thế Thân, lại thuyết minh Như Lai tạng bằng nghĩa diệu hữu.

Từ trước, hàng Tiểu thừa chỉ thành lập có sáu thức là: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức. Song sáu thức là những tâm lý sinh diệt, Vô thường. Như năm thức trước chỉ do sự kích thích của ngoại giới mà tả tượng vào nội tâm. Chúng không có những tác dụng tinh thần như: so sánh, suy luận hoặc truy niệm cảnh quá khứ. Có đủ những tác dụng ấy và chiếm được địa vị trọng yếu, duy có thức thứ sáu mà thôi. Nhưng ý thức cũng là một thứ tâm lý có gián đoạn, niệm trước đã qua, niệm sau mới đến. Và khi chúng ta chết rồi thì ý thức cũng tiêu tan. Thế thì cái gì duy trì nghiệp lực làm cho nó không gián đoạn sau khi chúng ta chết?

Lý do trên là nguyên nhân thành lập ra A Lại Da thức của phái Đại thừa. A Lại Da có nghĩa: Hàm tàng thức hoặc Chủng tử thức, là một tâm thể chứa đựng tất cả chủng tử của vạn hữu, làm cội gốc duy trì và mở mang ra hiện tượng giới, có đủ ngàn hình muôn trạng bao la. Sáng lập ra thuyết A Lại Da duyên khởi là giáo phái Pháp Tướng, cũng gọi là giáo phái Duy Thức. Ngoài sáu thức của Tiểu thừa, phái này lập thêm hai thức nữa: Mạt na (Màna) thứ bảy, và A lại da (Alaya) thứ tám. Mạt na có nghĩa: Chấp ngã, một tâm lý lầm nhận cái ta là có thật.

Theo nhà Duy thức, nếu nói chân như làm duyên khởi cho vạn hữu, là không hợp lý. Bởi chân như thì bình đẳng đồng nhất, mà vạn hữu thì muôn hình sai biệt. Vậy căn nguyên phát khởi các hiện tượng muôn vàn sai biệt ấy, tất phải do muôn vàn chủng tử sai biệt. Nơi chứa đựng các chủng tử này là thức A lại da, và A lại da làm nhân duyên phát khởi các pháp, nên gọi là A lại da duyên khởi. Chính thức A lại da này cũng do nhân duyên mà thành. Từ vô số kiếp đến giờ, do nghiệp nhân lành dữ huân tập, nó vẫn luôn luôn sinh khởi không gián đoạn, chứa đựng tất cả mọi chủng tử và có khả năng vô hạn để phát hiện ra hữu tình giới và khí thế giới. A lại da có hai: Chúng sinh A lại da thức và Như Lai A lại da thức. A lại da của chúng sinh có tính cách biệt. A lại da của Như Lai có tính cách đồng. A lại da của chúng sinh vô thủy hữu chung. A lại da của Như Lai vô thủy vô chung. A lại da của chúng sinh thuộc Biến kế chấp tánh. A lại da của Như Lai thuộc Viên thành thật tánh.

Duy thức tông lập ra ba tánh: Biến kế chấp, Y tha khởi và Viên thành thật. Y tha khởi là các pháp do nhân duyên sinh khởi, đứng địa vị trung tâm. Trên Y tha khởi mà lầm nhận có không, đoạn thường, sinh diệt, quay cuồng theo hiện tượng là Biến kế chấp. Trên Y tha khởi mà tiêu diệt những quan niệm ấy, là Viên thành thật. Trong A lại da thức của chúng ta chứa đủ chủng tử mê và ngộ. Nếu chúng ta hiểu rõ nhân, pháp như huyễn, không còn quay cuồng mê chấp theo muôn trượng, thì tâm thức lắng yên, phiền não tiêu diệt, dần dần sinh ra giác ngộ. Vậy từ mê đến ngộ chỉ là sự thay đổi quan niệm.

Tóm lại, thuyết A lại da duyên khởi đứng về mặt diệu hữu mà thuyết minh Như Lai tạng. Thể tướng A lại da này làm nhân duyên cho nhau sanh khởi vô cùng; trong Vô thường ẩn lý chân thường, trong sanh diệt ẩn lý phi sinh diệt, mê cùng ngộ chỉ bởi nơi người mà thôi. Cho nên lời văn trong bài tựa kinh Lăng Già nói: "Tâm không rời thức, hằng Niết bàn nơi sự diệt sinh; thức chẳng lìa tâm, uổng sống chất trong vòng thường trụ" là chỉ cho ý nghĩa này vậy.

Tiết V. Các Luận Sư Thuộc Hệ Thống Duyên Khởi Luận.

Tư tưởng A lại da duyên khởi phát nguyên từ hệ thống Thượng Tọa Bộ, do hai Ngài Vô Trước, Thế Thân đề xướng, và căn cứ truyền giáo khởi thủy ở Bắc Ấn. Tư tưởng này được truyền bá hầu khắp Ấn Độ, đứng ngang hàng với lập thuyết Thật tướng luận của hai Ngài Mã Minh, Long Thọ, gây thành hai hệ thống Phật giáo lớn lao và có thế lực nhất đương thời.

Thừa kế Duyên khởi luận, sau Ngài Thế Thân, có các Luận sư: Thân Thắng (Bandhusri), Hỏa Biện (Gitrabhàna), Đức Huệ (Gunamati), An Huệ (Sthiramati), Nan Đà (Nanda), Tịnh Nguyệt (Sudacandra), Hộ Pháp (Dharmapàla), Thắng Hữu (Visesamitra), Thắng tử (Jinaputra), Trí Nguyệt (Jnànacandra). Các Luận sư trên đều là những nhân vật từ đầu đến cuối thế kỷ thứ VI, và cũng là mười đại Luận sư của Duy thức tông. Trong đây, Ngài Hộ Pháp là vị thừa kế chính thống và hoàn thành môn học của Ngài Thế Thân. Ngoài ra còn có Ngài Trần Na (Mahàdignàga Đại Vức Long) hoàn thành môn Nhân minh luận để phụ lực Duy thức học. Trong hàng đệ tử Ngài Hộ Pháp có Luận sư Giới Hiền (Silabhadra) cũng là một bậc thái đẩu của các học giả đương thời về môn Pháp tướng. Về sự nhận thức, tuy cũng đồng tuyên dương Pháp tướng học, nhưng tư tưởng của các Luận sư trên có đôi chút khác nhau. Như các Ngài: Thân Thắng, Nan Đà, Đức Huệ, Tịnh Nguyệt, chỉ thành lập có hai phần Duy thức là Tướng phần và Kiến phần. Ngài An Huệ thành lập thêm Tự chứng phần và bảo đó là tác dụng nhận thức có thực thể, còn Tướng, Kiến phần không có thực thể. Riêng hai Ngài Hỏa Biện, Trần Na thì chủ trương cả ba đều có thực thể. Về sau, Ngài Hộ Pháp lại lập thêm Chứng tự chứng phần để hoàn thành các thuyết trên.

Đến tiền bán thế kỷ thứ VII, khi Ngài Huyền Trang ở Trung Hoa sang Ấn Độ cầu pháp, Giới Hiền Luận sư đã hơn 100 tuổi già. Tại học viện Na Lan đà, Luận sư đem pháp môn Duy thức truyền cho Ngài Huyền Trang. Về sau Trang sư tập hợp giáo nghĩa của mười bậc đại Luận sư trong tông Pháp tướng mà viết ra bộ Thành Duy Thức Luận. Về nội dung, Ngài lấy giáo nghĩa của Hộ Pháp Luận sư làm phần chính, còn học thuyết của chín vị kia chỉ đứng ở phần phụ. Theo ký sự của Ngài Huyền Trang, khung cảnh chùa Na Lan Đà gồm có tám viện, ba trăm phòng. Tăng chúng tập hợp tại đó đến năm ngàn vị, những bậc Luận sư thuộc hai hệ thống Không, Hữu phần nhiều đều về ở đây. Người muốn lưu học lại chùa này, trước tiên phải qua một kỳ khảo sát về hạnh giải rồi mới được cho nhập học. Vì thế, các học giả đã tốt nghiệp ở chùa này, đều là những người tài đức trong Phật giáo.

Như trên đã nói, Thật tướng luận và Duyên khởi luận cấu thành hai tư trào lớn về giáo pháp Đại thừa, diễn xuất hết tinh hoa của đạo Phật. Đến cuối thế kỷ thứ VII lại có Ngài Pháp Xứng (Dharmakìrti), một bậc học rộng tài cao, viết ra Tạp Lượng Luận, chấn hưng Nhân minh học của Ngài Trần Na đến chỗ đặc sắc, làm cho pháp môn Duy thức nảy thêm những tia sáng tân kỳ. Song song với hai tư trào Không, Hữu, Mật giáo và Tịnh độ tông cũng được phát triển một cách cực thạnh.

Vấn đề này không đơn giản, trong phần khác sẽ nói đến. Và nội dung của bản thiên xin kết thúc ở nơi đây.

(Hết Thiên Thứ Nhất)


Phật Học Tinh Yếu Thiên II" />

Phật học Tinh Yếu Thiên 3
" />