Tích Truyện Pháp Cú Tập 2

(Tập 2 trọn bộ 3 tập) Tập "Tích Truyện Pháp Cú" này được dịch theo bản Anh ngữ "Buddhist Legends" của học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli. Tương truyền Pháp Cú Sớ Giải là công trình của Ngài Buddhaghosa (Phật Âm), sống khoảng thế kỷ thứ V Tây lịch.

Cả thế gian chìm trong đêm tối dày đặc của vô minh phiền não. Ngài cũng ở thế gian mà quét sạch được nó. Với năng lực siêu phàm chứng đạt được, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp.

Ngài là bậc Toàn Trí, phân biệt rành mạch chơn ngụy trong mọi vấn đề. Ðấng Ðạo sư đã thuyết nói chánh pháp, vì lòng từ vô lượng đã giảng giải giáo pháp theo căn cứ, khiến trời người đều được an vui, mãn nguyện.

Tích Truyện Pháp Cú (Tập 2)

Nguyên tác: "Buddhist Legends",

By Eugène Watson Burlingame

Thiền viện Viên Chiếu

Nhà Xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. PL. 2544 – DL. 2000

Mục Lục Tập II

Phẩm VI: Hiền Trí

1. Một Người Được Kho Báu Tinh Thần

2. Những Tỳ Kheo Ương Ngạnh

3. Trưởng Lão Xa Nặc

4. Trưởng Lão Đại Kappina

5. Sa Di Pandita

6. Vững Vàng Như Đá Tảng

7. Yên Lặng Sau Cơn Bão

8. Một Lũ Lang Thang

9. Chồng Và Vợ

10. Ít Người Đến Bờ Kia

11. Từ Bỏ Đen Tối.

Phẩm VII: A La Hán

1. Ðấng Như Lai Không Đau Khổ

2. Thoát Khỏi Trói Buộc

3. Một Tỳ Kheo Trữ Thức Ăn

4. Tỳ Kheo Và Nữ Thần

5. Ðế Thích Lễ Kính Một Tỳ Kheo

6. Tưởng Mình Bị Khi Dễ

7. Mất Một Mắt

8. Không Tin Vào Ai Khác

9. Trưởng Lão Revata Trong Rừng Keo

10. Một Kỹ Nữ Cám Dỗ Một Tỳ Kheo

Phẩm VIII: Ngàn

1. Tên Đao Phủ

2. Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya Dàruciriya

3. Cô Gái Lấy Tên Cướp

4. Ðược Và Mất

5. Chú Của Xá Lợi Phất

6. Cháu Của Xá Lợi Phất

7. Bạn Của Xá Lợi Phất

8. Chàng Trai Tăng Tuổi Thọ

9. Sa Di Samkicca

10. Tỳ Kheo Và Kẻ Cướp

11. Lưỡi Dao Cạo

12. Patacara Bị Mất Cả Gia Đình

13. Kisà Gotami Tìm Hạt Cải Trị Bệnh Cho Đứa Con Đã Chết

14. Góa Phụ Bazhuputtikà Và Những Đứa Con Bất Hiếu

Phẩm IX: Ác

1. Bà La Môn Tiểu Nhất Y

2. Một Tỳ Kheo Bất Mãn

3. Thiên Nữ Với Tỳ Kheo

4. Cấp Cô Ðộc Và Nữ Thần

5. Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Tốt Đồ Dùng

6. Chưởng Khố Chân Mèo

7. Thương Gia Đại Phú

8. Người Thợ Săn Bắn Mê Muội

9. Thợ Săn Bị Bầy Chó Của Mình Nuốt Sống

10. Thợ Kim Hoàn, Tỳ Kheo Và Con Ngỗng

11. Ba Nhóm Tỳ Kheo

12. Suppabuddha Lăng Nhục Đạo Sư

Phẩm X: Hình Phạt

1. Lục Quần Tỳ Kheo

2. Lục Quần Tỳ Kheo

3. Một Bầy Trẻ

4. Tỳ Kheo Và Con Ma

5. Tỳ Xá Khư Và Quyến Thuộc Giữ Bát Quan Trai

6. Ngạ Quỷ Hình Trăn

7. Cái Chết Của Ðại Mục Kiền Liên

8. Tỳ Kheo Lắm Của

9. Santati, Quan Đại Thần Của Vua

10. Tỳ Kheo Và Bộ Đồ Rách

11. Sa Di Sukha

Phẩm XI: Già 

1. Bạn Của Tỳ Xá Khư Say Rượu

2. Ðức Phật Chữa Trị Một Tỳ Kheo Lụy Tình

3. Bà Ni Già

4. Nhóm Tỳ Kheo Cả Tin

5. Ni Cô Và Bóng Sắc

6. Hoàng Hậu Millikà Và Con Chó

7. Một Tỳ Kheo Thường Nói Không Đúng Chỗ

8. Kệ Của Trưởng Lão A Nan

9. Ðại Phú, Con Của Chưởng Khố.

Phẩm XII: Tự Ngã

1. Hoàng Tử Bồ Đề Và Con Chim Thần

2. Một Tỳ Kheo Tham Lam

3. Hãy Hành Động Theo Lời Nói

4. Ðừng Ghét Bỏ Cha Mẹ

5. Mahà Kàla Bị Giết

6. Ðề Bà Đạt Đa Tìm Cách Giết Phật

7. Ðề Bà Đạt Đa Gây Chia Rẽ Trong Tăng Đoàn

8. Vị Tỳ Kheo Đố Kỵ

9. Cô Gái Giang Hồ Cứu Mạng Một Cư Sĩ

10. Tu Tập Chân Chánh Để Tôn Quý Thế Tôn

Phẩm XIII: Thế Gian

1. Một Thiếu Nữ Chế Giễu Thầy Tỳ Kheo Trẻ

2. Ðức Phật Về Thăm Ca Tỳ La Vệ

3. Năm Trăm Tỳ Kheo Chứng Quả

4. Hoàng Tử Vô Úy (Abhaya) Mất Hầu Thiếp

5. Thầy Tỳ Kheo Và Cây Chổi

6. Câu Chuyện Của Chỉ Man

7. Cô Bé Dệt Vải

8. Ba Mươi Vị Tỳ Kheo

9. Chiến Già Vu Khống Phật

10. Phẩm Vật Không Thể Nào So Sánh

11. Ðức Hạnh Được Trả Giả

Phẩm XIV: Phật

1. Ðấng Toàn Giác

2. Thần Thông Song Hành

3. Long Vương Và Ái Nữ

4. Phương Cách Giáo Giới Trong Ngày Bố Tát Của Bảy Đời Đức Phật

5. Phật Trị Bệnh Bất Mãn Cho Thầy Tỳ Kheo

6. Sa Môn Và Long Vương

7. Người Cao Quý Sinh Ra ở Đâu?

8. Ðiều Gì Hạnh Phúc Nhất Trên Đời

9. Tôn Kính Những Bậc Đáng Tôn Kính

Phẩm XV: Hạnh Phúc

1. Mối Tranh Chấp Giữa Hai Lân Bang

2. Ma Vương Chế Ngự Thôn Dân

3. Vua Ba Tư Nặc Bại Trận

4. Ðừng Nhìn Say Đắm Nữ Nhân

5. Phận Ban Thức Ăn Cho Người Đói

6. Ăn Uống Tiết Độ

7. Sống Chân Chánh Là Tôn Kính Phật

8. Ðế Thích Săn Sóc Thế Tôn

Phẩm XVI: Hỷ Ái

1. Cha Mẹ Và Con

2. Phật An Ủi Người Phiền Muộn

3. Phật An Ủi Kẻ Ưu Sầu

4. Các Hoàng Tử Lệ Xá Và Kỹ Nữ

5. Cô Nương Tử Kim

6. Ðừng Để Tâm Vào Của Cải Thế Gian

7. Ngài Ca Diếp Được Cúng Bánh

8. Tôn Giả Chứng Quả A Na Hàm

9. Nandiya Được Sanh Thiên

Phẩm VI: Hiền Trí

1. Một Người Ðược Kho Báu Tinh Thần

Nếu thấy bậc hiền trí...

Giáo lý này Thế Tôn dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Ràdha.

Trước khi trở thành Sa môn, Ràdha là một Bà la môn nghèo ở Xá Vệ. Quyết định đi tu, anh đến Tinh xá, làm đủ các việc: cắt cỏ, quét phòng, xách nước rửa mặt. Các Tỳ kheo đối xử với anh tử tế, nhưng không chịu nhận anh vào Tăng đoàn. Kết quả là anh ngày càng ốm đi.

Một sáng nọ, Thế Tôn quan sát thế gian, thấy người Bà la môn có thể chứng quả A la hán. Ngài giả vờ dạo quanh Tinh xá, đến chỗ Bà la môn hỏi:

- Bà la môn, anh làm gì ở đây?

- Bạch Thế Tôn, con làm mọi việc lớn nhỏ cho các Tỳ kheo.

- Anh có được đối xử tử tế không?

- Bạch Thế Tôn, có. Con được ăn thức ăn đầy đủ, nhưng quý Thầy không cho con xuất gia.

Phật liền nhóm họp các Tỳ kheo hỏi:

- Này, các Tỳ kheo! Có ai nhớ một việc làm nào của Bà la môn kia không?

Trưởng lão Xá Lợi Phất thưa:

- Bạch Thế Tôn, khi con khất thực ở thành Vương Xá, anh ta cúng cho con một muỗng đầy thức ăn của chính anh ta. Con nhớ rõ nghĩa cử đó.

- Này Xá Lợi Phất, một người đã làm một việc như thế, không xứng đáng thoát khỏi phiền não sao?

- Thưa vâng, con sẽ thu nhận anh ta vào Tăng đoàn.

Sau khi gia nhập Tăng chúng, anh ta được một chỗ ngồi trong trai đường ở vòng ngoài. Cháo và những thức ăn khác lâu ngày khiến anh cũng phát chán.

Trưởng lão Xá Lợi Phất cho anh ta đi khất thực chung, thường xuyên răn nhắc, chỉ giáo:

- Con phải làm điều này, không nên làm điều nọ.

Vị Tỳ kheo cung kính tuân theo, hành đúng như lời dạy, đến nỗi chỉ trong ít ngày chứng A la hán. Trưởng lão cùng ông đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống. Phật đón tiếp thân thiện, hỏi:

- Xá Lợi Phất! Ðệ tử ông có dễ dạy không?

- Vâng, Thế Tôn! Thầy dễ dạy, bất cứ lỗi gì con chỉ, Thầy không hề chống trái.

- Xá Lợi Phất, nếu ông có đệ tử như Tỳ kheo này, ông sẽ nhận có bao nhiêu người?

- Con sẽ nhận hết, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường:

- Trưởng lão Xá Lợi Phất là người có lòng biết ơn. Một Bà la môn nghèo chỉ cúng cho ông một muỗng thức ăn, cũng biết ơn và cho xuất gia làm đệ tử. Lại nữa Tôn giả Ràdha, người chịu khó nghe lời răn nhắc, đã có được một vị Thầy kiên nhẫn chỉ dạy.

Phật nghe vậy bèn bảo:

- Các Tỳ kheo! Ðây không phải là lần đầu Xá Lợi Phất tỏ lòng biết ơn. Trong một tiền kiếp ông ấy đã từng như thế. Và đức Phật kể chuyện bổn sanh Alìnacitta như sau:

Alìnacitta, kẻ cường địch phải thảm bại,

Alìnacitta bắt sống vua nước Kosala, người bất mãn quân mình.

Cũng vậy, Tỳ kheo tinh tấn, theo hướng dẫn đúng tu hành,

Nhờ tu tập phạm hạnh, Niết bàn đã đạt đến,

Khi chín muồi nhân duyên thời tiết,

Sẽ cởi tháo hết mọi buộc ràng.

Phật bảo tiếp:

- Thuở ấy, Trưởng lão Xá Lợi Phất là con voi đơn độc, đã tặng con bạch tượng con cho đám thợ mộc, để đền ơn chữa chân đau.

Và Phật nhắc đến Tôn giả Ràdha:

- Các Tỳ kheo! Khi một Tỳ kheo được chỉ lỗi, vị ấy nên tuân hành giới luật như Ràdha.. Và khi bị khiển trách, không nên bất bình. Lý đáng còn phải xem người khiển trách mình như người chỉ cho kho báu.

Rồi Ngài nói Pháp Cú:

(76) Nếu thấy bậc hiền trí,

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng,

Hãy thân cận người trí!

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn, không xấu.

2. Những Tỳ Kheo Ương Ngạnh

Những người hay khuyên dạy...

Thế Tôn dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến các Tỳ kheo Assajipunabbasuka. Nhưng chuyện bắt đầu từ Kìtàgiri.

Các Tỳ kheo này là học trò hai vị Ðại đệ tử, nhưng lại xấu ác và không biết hổ thẹn. Thời gian ở Kìtàgiri, họ trồng và sai người trồng cây cảnh và phạm đủ mọi hạnh xấu. Họ quấy rầy gia đình, đòi các thứ cần dùng. Họ làm cho các Tỳ kheo đàng hoàng trong Tinh xá khó chịu.

Nghe được, Thế Tôn quyết định tẩn xuất họ khỏi Tăng đoàn. Ngài cho gọi hai Ðại đệ tử đến với đồ chúng bảo:

- Hãy tẩn xuất kẻ không vâng lời. Nhưng khuyên răn và dạy dỗ những người biết vâng lời. Người hay khuyên răn và dạy dỗ bị kẻ ít trí ghét bỏ, nhưng được người có trí kính mến.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(77) Những người hay khuyên dạy,

Ngăn người khác làm ác,

Ðược người hiền kính thương,

Bị người ác không thích.

Hai Ðại đệ tử Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên khuyên răn và dạy dỗ các Tỳ kheo. Một số vâng lời sửa đổi cố tật, một số hoàn tục, còn số khác bị trục xuất khỏi Tăng đoàn.

3. Trưởng Lão Xa Nặc

Chớ thân với bạn ác...

Tại Kỳ Viên, Thế Tôn dạy câu trên vì Trưởng lão Xa Nặc.

Có lần Trưởng lão Xa Nặc nhục mạ hai Ðại đệ tử:

- Từ ngày cùng Thế Tôn đại xả ly, tôi chẳng thấy có ai khác, thế mà nay hai Trưởng lão này lại rêu rao "Ta là Xá Lợi Phất, ta là Mục Kiền Liên, chúng ta là hai Ðại đệ tử.”

Nghe các Tỳ kheo kể lại lời của Xa Nặc, Thế Tôn cho mời ông đến khiển trách. Ông im lặng được một hồi, nhưng sau đó tiếp tục chê bai hai Trưởng lão. Thế Tôn lại gọi và khiển trách ông lần thứ hai, lần thứ ba:

- Xa Nặc, hai Ðại đệ tử là bạn tốt của ông, là bậc thượng nhân. Hãy làm bạn với những người tốt như thế, và chỉ học tập họ.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(78) Chớ thân với bạn ác,

Chớ thân kẻ tiểu nhân,

Hãy thân người bạn lành,

Hãy thân bậc thượng nhân.

Nhưng Trưởng lão Xa Nặc, tuy nghe Phật dạy như thế, vẫn tiếp tục chê bai nhục mạ hai Trưởng lão như trước. Các Tỳ kheo lại bạch với Phật và được Ngài dạy như sau:

- Các Tỳ kheo! Bao lâu Ta còn sống, các ông sẽ không dạy nổi Xa Nặc. Tuy nhiên, sau khi Ta nhập diệt, các ông sẽ thành công.

Khi Thế Tôn sắp nhập Niết bàn, Tôn giả A Nan hỏi Phật phải đối xử với Trưởng lão Xa Nặc thế nào? Thế Tôn dạy phải mặc tẩn (Brahmadanda). A Nan đã y lời Thế Tôn, gọi Xa Nặc đến tuyên bố như thế. Ông lo âu buồn bã, cảm thấy thất thế, chớ không lên mặt như ba lần trước. Ông la lên:

- Tôn giả, xin đừng hại con!

Từ đó ông hết lòng chu toàn bổn phận, chẳng bao lâu chứng quả A la hán và các thần thông.

4. Trưởng Lão Ðại Kappina

Pháp hỷ đem an lạc...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Ðại Kappina.

Chuyện quá khứ

A. Thợ Dệt Và Gai Chủ

Xưa kia, Tôn giả Ðại Kappina đã phát nguyện dưới chân Phật Padumuttara. Trải qua nhiều kiếp luân hồi, sau cùng Ngài xin làm thợ dệt chánh tại một làng dệt gần Ba La Nại. Lúc đó có một ngàn vị Phật Ðộc Giác đã ở tám tháng trong Hy Mã Lạp Sơn, xuống núi đến vùng lân cận Ba La Nại để trú qua bốn tháng mưa, và tám vị được phái đến yết kiến vua để xin chỗ ở. Vua đang bận rộn chuẩn bị lễ Hạ Ðiền, nên trả lời thẳng thừng là không rảnh để lo, hẹn các vị trở lại vào ngày mốt, xong quay lưng về cung, không mời ngay cả một bữa ăn. Các vị bèn quyết định qua làng khác.

Tình cờ vợ người thợ dệt chánh đi đến Ba La Nại, gặp các vị, đảnh lễ và hỏi thăm:

- Chư Tôn giả! Có việc gì mà các vị đến phi thời như thế?

Khi biết rõ mọi việc, và vốn thông minh, thành tín, bà liền mời các vị thọ trai vào ngày mai. Dù sau đó biết các vị Phật lên đến một ngàn, bà vẫn đoan chắc với các vị là làng này có một ngàn thợ dệt, và mỗi người sẽ lo cho một vị, thực phẩm lẫn chỗ ở. Ðược các vị hứa khả, bà tức tốc về làng báo tin, rồi cho dựng rạp, sắp chỗ ngồi, chuẩn bị các món ăn thượng vị chờ đón. Cuối bữa ăn, bà cùng tất cả phụ nữ trong làng đảnh lễ các vị và thưa thỉnh họ ở lại ba tháng. Ðược nhận lời, bà động viên dân làng, mỗi nhà một người xách búa, rìu, vào rừng đốn cây để dựng lều cỏ và lá. Mỗi nhà dựng một lều, có chỗ ở ban ngày và chỗ nghỉ ban đêm, tất cả một ngàn cái. Và dân làng đã cung ứng đầy đủ mọi nhu cầu của các vị trong ba tháng mưa. Ðến ngày cuối, bà thuyết phục mỗi nhà cúng cho vị Phật đã nhập hạ trong lều của mình một bộ y đáng giá một ngàn đồng. Hết mùa an cư, các vị Phật cảm tạ, ra đi.

Do công đức này, dân làng dệt tái sanh làm một nhóm chư thiên ở cõi trời Ba mươi ba. Hưởng hết phước báo cõi Trời, họ tái sanh làm những gia chủ ở Ba La Nại dưới thời Phật Ca Diếp. Thợ dệt chánh là con trai một tộc trưởng, vợ anh ta cũng là con gái một tộc trưởng. Các cô lập gia đình với các ông trước kia là chồng mình.

Ngày nọ, nghe tin Thế Tôn thuyết pháp, các gia chủ đưa vợ cùng đến Tinh xá. Vừa vào cổng thì mưa trút xuống. Những người có họ hàng với Sa di hay Tỳ kheo trong Tinh xá thì vào thất các vị ấy trú. Còn đám gia chủ này chịu trận vì không có thân nhân.

Gia chủ trưởng cằn nhằn với người của mình:

- Thật là kỳ cục! Những người đàng hoàng đứng đắn như chúng ta đây lâm vào hoàn cảnh như thế này, thật đáng xấu hổ!

Và ông khuyên mọi người hùn tiền lại xây một Tinh xá cho Phật. Gia chủ trưởng cúng một ngàn đồng, gia chủ khác mỗi người năm trăm, các bà vợ mỗi người hai trăm năm chục. Vì công trình quá qui mô, với một ngàn ngọn tháp bao quanh, nên nửa chừng hụt tiền họ phải đóng thêm một nửa số tiền nữa. Tinh xá hoàn tất, họ làm lễ khánh thành, cúng dường Phật và Tăng chúng suốt bảy ngày và tất cả hai mươi ngàn Tỳ kheo mỗi vị một bộ y.

Riêng vợ của gia chủ trưởng cũng đóng góp như mọi người và với khôn ngoan bà phát tâm cúng dường thêm cho Phật một bộ y màu hoa Anoja trị giá một ngàn đồng với một bó hoa Anoja, bà xin được đẹp và có tên như hoa Anoja ở kiếp sau. Phật hứa khả. Sau khi mạng chung, mọi người đều sanh thiên.

Chuyện hiện tại

B. Vua Kappina Và Hoàng hậu Anoja

Từ cõi trời, gia chủ trưởng tái sinh vào hoàng tộc xứ Kukkutavatì, tức vua Kappina. Những người khác đều làm quan trong triều. Vợ của ông thì tái sanh vào Hoàng cung xứ Maddà trong thành Sàgala. Nước da bà y như màu hoa Anoja nên có tên là Anoja. Khi đến tuổi thành hôn, bà trở thành vợ vua Kappina, Hoàng hậu Anoja. Các phụ nữ khác cũng sanh vào nhà các quan, mọi người đều hưởng vinh hoa phú quý, y như vua, cũng cưỡi voi hoặc ngồi xe ngựa, cũng trang phục lộng lẫy, vì đời trước họ và vua đều cùng làm phước y như nhau.

Nhà vua có năm con ngựa: Vàla, Puppha, Vàlavàhana, Pupphavàhana và Supatta. Con Supatta dành cho vua và bốn con kia cho những người đưa tin. Một sáng, vua hạ lệnh cho họ phóng ra bốn cửa thành tìm khắp trong hai, ba dặm xem có Phật, Pháp, Tăng không. Họ trở về không tin tức gì.

Ngày kia, vua cùng các cận thần cưỡi ngựa dạo hoa viên, thấy năm trăm thương nhân dáng mệt mỏi đang tiến vào thành. Vua cho vời họ lại hỏi thăm, biết đâu nghe được tin lành. Họ từ thành Xá Vệ đến, cách đây một trăm hai mươi dặm đường, và điều làm cho vua run lên với năm cảm xúc vui mừng là họ báo tin đấng Giác Ngộ, đức Phật đã ra đời. Ngập ngừng một lát, vì không tự chế ngự nổi, vua lắp bắp hỏi lại cho chắc:

- Ðạo hữu, quý vị nói gì?

- Ðức Phật đã ra đời.

Lần thứ hai, rồi lần thứ ba vua nghe như thế, và tặng cho họ một trăm ngàn đồng, xong hỏi tiếp còn tin gì nữa không?

- Thưa Ðại vương, Giáo pháp đã ra đời.

Cũng như lần trước, vua ngập ngừng vì không chế ngự được cảm xúc của mình, hỏi lại lần thứ hai, lần thứ ba, rồi cho một trăm ngàn đồng nữa. Và khi được nghe Tăng đoàn đã ra đời, họ lại được vua ban thêm một trăm ngàn đồng nữa.

Vua nhìn lại một nghìn cận thần của mình, hỏi:

- Ðạo hữu, hạnh phúc của quý vị là gì?

Họ hỏi lại vua:

- Còn hạnh phúc của đại vương là gì?

- Phật đã ra đời, Pháp đã ra đời, Tăng đã ra đời. Ta không trở về cung điện nữa, vì Ðạo sư, ta sẽ đi tu theo Ngài.

Họ đồng thanh thưa:

- Tâu đại vương, chúng tôi cũng xuất gia như Ngài.

Vua viết thông điệp trên một dĩa vàng, trao cho đám thương nhân và bảo họ:

- Hoàng hậu Anoja sẽ cho các ngươi ba trăm ngàn đồng ngay khi nhận thông điệp này "Vương quyền nay giao trọn cho Hoàng hậu, hãy an hưởng phú quý vinh hoa.” Và nếu Hoàng hậu hỏi ta ở đâu thì cho biết ta đã lên đường xuất gia theo Ðạo sư.

Các cận thần cũng gởi thư về cho vợ tương tự như thế. Và vua tôi hơn một ngàn người ra đi.

Sáng sớm hôm ấy, Phật quán sát thế gian biết rõ sự việc như trên, và còn thấy trước là họ sẽ chứng A la hán với các thần thông, nên Ngài đến gặp họ. Giống như một Chuyển Luân Thánh vương đến gặp thôn trưởng nhỏ, đức Phật đắp y ôm bát, lên đường đi suốt hai trăm dặm, đến ngồi bên bờ sông Candabhàgà, dưới một gốc đa và phóng hào quang sáu màu. Trên đường đi, nhà vua và các quan gặp một con sông tên Aravacchà sâu một dặm, rộng hai dặm, không có thuyền bè gì. Nếu cứ đi tìm thuyền bè thì già chết theo sau. Và với quyết tâm từ bỏ thế gian vì Tam bảo, vua nguyện thần lực của Tam bảo sẽ cho nước sông không còn là nước nữa. Rồi vua hướng về đức Phật, chú tâm:

- Ngài là đấng Giác Ngộ, Thế Tôn, bậc Chánh Biến Tri.

Trong khi chú tâm như vậy, vua và các quan trên lưng ngàn ngựa phi trên mặt sông như trên đá phẳng, không bị ướt dù chỉ đầu móng chân.

Qua sông rồi, vua tiếp tục gặp con sông khác tên là Nĩlavàhanà, sâu nửa dặm, rộng nửa dặm. Mọi việc diễn ra y như trước, chỉ khác là lần này vua chú tâm vào Pháp Bảo:

- Giáo pháp do Thế Tôn thuyết vi diệu thay!

Ðến con sông thứ ba là Candabhàgà sâu một dặm, rộng một dặm. Lần này vua chú tâm vào Tăng Bảo:

- Tăng đoàn của Thế Tôn tối chơn chánh thay!

Qua sông rồi vua tiếp tục hành trình thì trông thấy hào quang sáu màu từ thân Phật phóng ra. Cành, thân, lá cây đa đều như bằng vàng. Vua nghĩ rằng ánh sáng này không phải của mặt trời, mặt trăng, rồng, thần Garuda (Kim xí điểu), mà vì vua quyết đi xuất gia theo Thế Tôn nên đã được đức Phật thấy biết. Vua lập tức xuống ngựa, nghiêng mình về phía hào quang, đến chỗ Thế Tôn. Vua bước vào Phật quang như bị ngập trong biển son, đảnh lễ Thế Tôn rồi cùng một ngàn cận thần cung kính ngồi một bên.

Thế Tôn theo thứ lớp thuyết pháp. Cuối thời pháp, vua và các quan chứng quả Dự lưu, cùng đứng lên xin gia nhập Tăng đoàn. Phật quán sát, biết rằng những vị này trước đây cúng một ngàn y cho một ngàn vị Phật Ðộc Giác, và trong thời Phật Ca Diếp cũng cúng hai mươi ngàn bộ y cho hai mươi ngàn Tỳ kheo. Như vậy họ sẽ được y bát do thần lực. Phật liền duỗi tay phải ra và nói:

- Hãy đến, chư Tỳ kheo! Hãy sống đời phạm hạnh, đoạn tận phiền não.

Ngay đó họ đều được tám món cần dùng, thành các Trưởng lão trăm tuổi. Họ bay lên không, đáp xuống đất đảnh lễ Ðạo sư và ngồi xuống.

Về phần các thương nhân đến Hoàng cung, gặp Hoàng hậu đưa dĩa vàng. Họ thuật chuyện lại. Và khi họ lặp lại tin Phật, rồi Pháp, rồi Tăng ra đời, cũng y như vua, Hoàng hậu chấn động cả thân tâm; mỗi tin như thế bà thưởng cho họ ba trăm ngàn đồng. Sau cùng nghe vua và các quan đều xuất gia thành Tỳ kheo, Hoàng hậu triệu tập phu nhân các quan, kể lại chuyện, và mọi người đồng hỏi Hoàng hậu:

- Họ có nhắn gì không, thưa Hoàng hậu?

- Họ giao toàn bộ tài sản, địa vị cho các bạn tự do an hưởng.

- Nhưng Hoàng hậu định như thế nào?

- Nhà vua biết phú quý vinh hoa sẽ dẫn đến đau khổ, thì ta cũng vậy. Ai lại quỳ xuống liếm nước bọt của vua nhổ ra. Ta không cần vinh hoa phú quý, ta cũng sẽ lên đường theo đấng Ðạo sư.

- Vậy chúng tôi cũng theo lệnh bà và xuất gia.

Và Hoàng hậu ra lệnh chuẩn bị một ngàn xe ngựa rồi cùng các phu nhân lên đường. Cũng như vua trước đây, bà đến con sông đầu tiên, thắc mắc không biết làm sao, chỉ thị tìm dấu chân ngựa của vua, nhưng không thấy gì hết. Nghĩ rằng chắc vua tuyên bố "Vì Tam bảo mà từ bỏ thế gian" và nhờ đó qua sông, Hoàng hậu cũng nguyện y như vậy, và chú tâm về Tam bảo lực, bà hạ lệnh cho một ngàn xe ngựa tiến lên qua sông như phi trên tảng đá phẳng. Cả đoàn và luôn cả vành xe đều không ướt. Cũng thế, bà qua hai con sông còn lại.

Biết bà sắp đến, Thế Tôn biến hóa khiến các Tỳ kheo vô hình, không ai thấy các Ngài ngồi quanh Phật, Hoàng hậu đến gần trông thấy hào quang chiếu sáng, bà cũng nghĩ như vua trước đó. Gặp Thế Tôn bà đảnh lễ, cung kính đứng một bên thưa hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Con nghĩ Ðại Kappina đã đến đây và thưa với Thế Tôn từ bỏ thế gian vì đấng Ðạo sư. Hiện nay vua ở đâu xin chỉ cho chúng con.

Phật bảo:

- Hãy ngồi xuống! Các con sẽ gặp ông ta ngay đây.

Các bà rất vui mừng, vì nghĩ rằng ngồi đó sẽ thấy được chồng mình. Và họ ngồi xuống.

Thế Tôn thuyết pháp theo thứ lớp. Cuối bài pháp, Hoàng hậu và đoàn tùy tùng đều chứng quả Dự lưu. Trưởng lão Ðại Kappina và tùy tùng nghe Phật thuyết pháp cho các bà liền chứng A la hán cùng các thần thông. Lúc đó Thế Tôn chỉ các Tỳ kheo cho các bà. Sở dĩ Thế Tôn không chỉ các Tỳ kheo ngay vì e rằng các bà thấy chồng mình đắp y vào, đầu trọc, sanh tâm phiền muộn không thể chứng được đạo quả. Khi niềm tin các bà đã vững chắc, Phật mới chỉ cho thấy các Tỳ kheo lúc đó là bậc A la hán. Và các bà đã sụp lạy trước các vị tân A la hán, thưa:

- Chư Tôn giả! Các Ngài bây giờ đã đạt đến cứu cánh của đời tu.

Rồi họ đảnh lễ Thế Tôn, cung kính đứng một bên và xin được gia nhập Tăng đoàn. Vài Tỳ kheo nghĩ rằng Thế Tôn sẽ giao cho Tỳ kheo Ni Liên Hoa Sắc (Uppalavannà) nhưng Thế Tôn lại bảo họ đến Xá Vệ, vào Tinh xá củA tỳ kheo ni. Họ đi bộ suốt một trăm hai mươi dặm. Nơi nào cũng được dân chúng đối xử tử tế và tôn kính. Họ được nhận vào Ni chúng và chứng A la hán. Thế Tôn dẫn một ngàn Tỳ kheo bay lên không về Kỳ Viên.

Tại Kỳ Viên, Tôn giả Ðại Kappina đến chỗ ở ban ngày và chỗ ngủ ban đêm thốt lên:

- Ôi hạnh phúc thay! Ôi hạnh phúc thay!

Các Tỳ kheo nghe được báo cho Thế Tôn, nghĩ rằng chắc ông nói vì hạnh phúc quyền thế khi còn làm vua. Thế Tôn gọi Ngài đến hỏi tại sao lại nói về hạnh phúc của tình yêu và quyền thế. Ngài thản nhiên trả lời rằng chắc Thế Tôn thừa biết Ngài có thốt những lời như thế hay không. Thế Tôn liền bảo các Tỳ kheo:

- Này các Tỳ kheo! Ðệ tử Ta nói như thế không phải liên quan đến quyền lực. Ông ấy đang uống nước pháp và hạnh phúc trong chánh pháp. Niềm hoan hỷ của ông ấy liên quan đến Niết bàn bất tử.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(79) Pháp hỷ đem an lạc,

Với tâm tư thuần tịnh,

Người trí thường hoan hỷ,

Với pháp bậc Thánh thuyết.


5. Sa Di Pandita

Người trị thủy dẫn nước..

Do chuyện Sa di Pandita, Thế Tôn đã dạy như trên tại Kỳ Viên.

Chuyện quá khứ

A. Ðế Thích Và Người Nghèo

Thuở Phật Ca Diếp còn tại thế, Tăng đoàn gồm hai mươi ngàn Tỳ kheo đã lậu tận. Một hôm Phật hướng dẫn họ đến Ba La Nại. Dân chúng nghe tin, họp từng nhóm tám hoặc mười người cúng dường. Sau khi thọ thực Phật hồi hướng công đức:

- Này các Cư sĩ, trong thế gian này, có những người chính mình bố thí nhưng không khuyên người khác bố thí, như vậy họ được giàu có nhưng không có gia nhân. Có người khuyên người khác bố thí nhưng chính mình thì không, như vậy họ có gia nhân nhưng không có của cải. Cũng có người chính mình không bố thí và cũng chẳng khuyên người khác bố thí, như vậy họ chẳng có của cải, cũng chẳng có gia nhân, sống như người ăn cơm thừa canh cặn. Còn một hạng người nữa vừa tự mình bố thí, vừa khuyên người khác bố thí, họ được cả hai phước báu về của cải và gia nhân.

Lúc bấy giờ có một người trí đứng gần đó nghe thế phát tâm cúng dường Phật và cả hai mươi Tỳ kheo. Ðược Phật nhận lời thọ thực vào ngày mai, ông vào làng loan báo đến mọi người. Và với sự cổ động của ông, người xin cúng cho mười vị, kẻ hai mươi vị, một trăm vị, năm trăm vị. Ông ấy ghi số vào lá bối. Trong thành có một người rất nghèo, người ta gọi ông là "Ông hoàng nghèo" Mahàduggata, và ông cũng được mời cúng dường. Ông chỉ biết trả lời:

- Trời! Tôi mà làm được gì cho các Tỳ kheo? Các Tỳ kheo cần người giàu cúng cho họ, còn tôi, một mẻ gạo để nấu cháo cho ngày mai còn không đủ, thì có đâu cho các Tỳ kheo chứ?

Ông kia cố gắng giải thích thêm:

- Ông Mahàduggata ơi! Trong thành này nhiều người sống xa hoa, ăn uống những món đắt tiền, lụa là gấm vóc phủ thân, trang sức kiêu kỳ, giường êm nệm ấm. Nhưng ông kiếm không lấp đầy bao tử. Có phải là ông chưa từng cho ai cái gì?

- Tôi cũng nghĩ thế, ông ạ!

- Vậy tại sao bây giờ ông không tạo công đức đi? Ông còn trẻ, mạnh khỏe, sao không bố thí cúng dường theo khả năng mình?

Xúc động, ông hoàng nghèo bảo ghi tên mình lá cúng cho một Tỳ kheo. Nhưng ông kia cho rằng chỉ có một Tỳ kheo thì viết lên lá làm chi, nên quên mất.

Ông hoàng nghèo về nhà cho vợ hay, và cả hai đồng lòng đi làm thuê để lo cúng dường. Ông đến một thương gia giàu, người đãi ba trăm Tỳ kheo, được giao cho việc bửa củi. Ông thắt dây lưng chặt và làm hết sức mình. Thương gia nhận thấy ông làm việc thật phi thường, ngạc nhiên hỏi, và khi biết được vì ông muốn có thức ăn để cúng dường, thương gia thán phục.

Bà vợ thì được vợ thương gia giao cho giã gạo. Bà giã xong, giần, sàng một cách hân hoan vui sướng như đang khiêu vũ. Và khi được biết lý do cũng là để có thức ăn cúng dường, vợ thương gia cũng rất thán phục.

Xong việc, phần ông nhận được bốn đấu gạo tiền công, và gấp bốn lần nữa do thương gia tốt bụng biếu thêm. Phần bà thì được một chén mật, một hũ sữa đặc, một lô gia vị và một đấu gạo. Vui mừng vì thấy mình đủ vật dụng cúng dường, họ dậy thật sớm chuẩn bị. Bà bảo ông đi tìm lá cà ri, ra chợ không có, ông phải đi dọc bờ sông nhặt lá, ca hát vui vẻ, nghĩ bụng "Hôm nay, ta sẽ hân hạnh được cúng dường các Tỳ kheo!” Một người câu cá gần đấy nghe tiếng ca hát đến hỏi thăm, và cho anh thêm cá.

Thế Tôn quan sát thế gian, biết chuyện tên các Tỳ kheo được cúng dường đều viết trên lá, trừ vị của ông nghèo bị bỏ sót. Vậy không có Tỳ kheo nào cho ông cúng dường sao? Ðương nhiên là phải có, đó là Thế Tôn. Khi ông về nhà chuẩn bị nấu nướng thì ngai của Ðế Thích nóng lên. Biết có chuyện, và biết rằng Phật dành phước cho ông hoàng nghèo, Ðế Thích hóa hình đến nhà ông xin nấu giúp. Ông nghèo không có tiền trả công nên Ðế Thích chỉ làm công đức, giành quyền nấu cơm và cháo, và bảo ông nghèo đi tìm vị Tỳ kheo của ông. Người vận động đưa các Tỳ kheo có tên trên lá đến từng nhà, đến ông nghèo thì trả lời là quên mất. Ông như bị dao đâm vào bụng, đấm ngực khóc xin cho được một Tỳ kheo. Dân chúng nghe kể, phiền trách người vận động, làm anh ta bối rối không biết tính thế nào cho ổn, chợt nhớ đến Thế Tôn, vội bảo ông nghèo đến Tinh xá thỉnh Phật:

- Rất đông vua chúa, đại thần đang đợi trước hương thất, muốn thỉnh Phật mà chưa được. Phật rất thương người nghèo, anh cứ nói rõ và xin ban phước, chắc chắn sẽ được.

Ông nghèo làm theo, đến ngay hương thất. Phật mở cửa, đưa bình bát cho ông. Mọi người trông thấy đều há hốc miệng, trong khi lòng ông hớn hở như được làm Chuyển Luân Thánh vương. Họ không dám đoạt bình bát của Phật trong tay ông, nhưng dụ cho ông tiền. Ông đều từ chối hết.

Nhà vua biết tiền bạc không cám dỗ được ông nghèo, nên không ai lấy được bình bát của Phật đã trao ông ta nhưng vua vẫn cho là ông ta cúng dường chẳng đáng bao nhiêu, nên định bụng đến giờ ông ta dâng thức ăn, sẽ đưa Thế Tôn về cung cúng dường. Do đó vua đi theo Phật.

Tại nhà ông hoàng nghèo, Ðế Thích đã nấu xong cháo, cơm, cà ri và những món khác, soạn sẵn chỗ ngồi cho Thế Tôn và ngồi chờ. Ông nghèo đưa Thế Tôn đến nhà và mời vào. Nhà cửa ông thấp lè tè, phải cúi đầu mới vào được. Nhưng đối với chư Phật thì chẳng bao giờ phải cúi đầu, mặt đất phải hạ thấp xuống, hoặc nhà phải nâng cao. Ðây là phước báo do sự bố thí của chư Phật, và khi các Ngài về thì mọi sự lại như cũ. Do đó Phật vào nhà vừa vặn, ngồi xuống ghế đã soạn. Lúc đó vua bảo Mahàduggata hãy giở cho thấy những thứ gì dọn cho Thế Tôn. Mở đồ đậy ra thì nào cháo, cơm và những thứ khác, hương thơm ngào ngạt bay khắp cả thành. Vua đành đảnh lễ Thế Tôn, thú thật ý định của mình, và xin ra đi vì sợ làm cho thí chủ khó chịu. Ðế Thích dâng món ăn lên Thế Tôn và phục vụ Phật tận tụy. Thọ thực xong, Thế Tôn hồi hướng công đức và đứng lên ra về. Ðế Thích ra hiệu cho ông nghèo đỡ bình bát của Thế Tôn và đi theo Phật.

Ðế Thích quay về nhà ông nghèo, ngừng trước cửa và nhìn lên trời. Lập tức bảy báu mưa xuống, đổ đầy lu và hũ chỉ trong nhà ông nghèo mà thôi. Trẻ nhỏ phải bế ra ngoài vì không còn chỗ trống để ở. Mahàduggata trở về, thấy vậy biết rằng đó là phước báo do sự cúng dường. Ông lên cung vua xin giao hết tài sản, phải một ngàn xe mới chở đủ. Tất cả đều chất đống trước sân Hoàng cung, cao bằng cây thốt nốt. Vua chỉ cho dân chúng thấy, và hỏi họ có ai sở hữu bằng ngần này không. Họ nhìn nhận không ai bằng ông nghèo, và đồng lòng cử cho ông làm Chưởng khố. Vua chỉ chỗ căn nhà vị Chưởng khố trước đã ở, bảo ông dọn sạch cây cỏ để xây nhà cho ông. Khi nền nhà dọn sạch và bằng phẳng, lòi ra nhiều bình vàng bạc châu báu chạm nhau leng keng. Vua được báo, xác nhận:

- Lần trước, bảy báu từ trời mưa xuống đầy nhà là do sự cúng dường chư Phật thật sự toàn hảo. Lần này châu báu hiện ra cũng do công đức của ông. Vậy chỉ mình ông được hưởng.

Cất nhà xong, Mahàduggata cúng dường Phật và Tăng chúng bảy ngày. Sau khi mạng chung, ông sanh thiên. Hưởng hết phước lạc cõi trời suốt thời gian giữa hai vị Phật, ông tái sanh thời Phật hiện tại vào nhà một thương gia giàu có ở Xá Vệ, một cận sự của Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Chuyện hiện tại

B. Pandita, Sa Di Bảy Tuổi

Khi mang thai ông hoàng nghèo, bà mẹ mơ ước được dâng cúng năm trăm Tỳ kheo do Trưởng lão Xá Lợi Phất dẫn đầu, đồng thời đắp y vàng, ngồi vòng ngoài hội chúng và nhận thức ăn thừa củA tỳ kheo. Ước mơ được thành tựu, bà chiêu đãi Tăng chúng bảy lần nữa. (Tương tự như truyện Tissa).

Ðến ngày đặt tên, bà xin Trưởng lão truyền giới cho đứa bé. Ðược bà cho biết trong nhà này ai khờ khạo, điếc câm đều trở nên khôn ngoan từ ngày bà mang thai đứa bé, do đó Ngài đặt tên là Pandita Dàraka, nhà hiền trí.

Lên bảy chú muốn đi tu. Và y hệt Tissa chú được mẹ xin Trưởng lão dẫn đến Tinh xá, rồi được Trưởng lão cạo tóc dạy Thiền quán trên năm yếu tố đầu tiên của thân, đồng thời chú cũng được thu nhận vào Tăng đoàn. Cha mẹ Pandita ở lại bảy ngày cúng dường trong Tinh xá rồi mới đi về.

Ngày thứ tám Trưởng lão dẫn chú vào làng, trễ hơn các Tỳ kheo, vì Trưởng lão còn phải đi quanh khắp Tinh xá dọn dẹp, quét tước, đổ đầy nước uống và nước rửa mặt, sửa lại giường ghế cho đúng chỗ, cũng như đồ đạc vứt ném bừa bãi mất trật tự. Vì Ngài không muốn cho ngoại đạo vào Tinh xá có dịp chê bai: "Hãy xem thói tật của đệ tử ẩn sĩ Cồ Đàm kìa!" Chú bé chưa biết cách đắp y ôm bát nên phải theo sát Thầy, sau khi đã được Thầy chỉ dạy.

Trên đường đi, chú thấy một rãnh nước dẫn vào ruộng, thắc mắc hỏi Thầy. Thầy giải thích đó là vật vô tri nhưng con người có thể điều khiển, dẫn dắt đến bất cứ nơi nào theo ý muốn. Chú lại băn khoăn: Thế sao con người có trí lại không kiểm soát, điều phục tâm mình để chứng quả A la hán?

Ði thêm một quãng nữa, chú thấy người làm tên đang hơ mũi tên và gậy trên lửa và nheo mắt để uốn thẳng. Chú lại hỏi Thầy và cũng băn khoăn sao những mũi tên vô tri có thể uốn thẳng được bằng cách hơ lửa, trong khi con người có trí lại không thể kiểm soát và điều phục tâm mình để đạt quả A la hán?

Ði xa thêm một chút, chú thấy thợ mộc đang đẽo căm, vành trục và những phần khác của bánh xe. Chú cũng thắc mắc y như trước: Nếu ta có thể lấy những mãnh gỗ vô tình này làm thành bánh xe chạy theo ý mình, thì tại sao ta cũng có trí nhưng không điều phục tâm ý để đạt đến quả vị A la hán.

Do đó chú thưa với Trưởng lão xin Ngài nhận lại y bát của Ngài vì chú muốn trở về. Trưởng lão không cho phép mình tự nghĩ "Chú nhỏ Sa di này mới vào tăng đoàn mà đã nói năng như thể ta là ông Phật nhỏ hơn.” Ngược lại, Ngài tùy thuận nhận lại y bát của mình, và còn đưa chìa khóa thất vì sợ chú ở ngoài trời nguy hiểm. Chú còn dặn Thầy nếu mang thức ăn về cho chú, chỉ xin thứ chú ưa thích, nếu do công đức của Ngài không được thì sẽ nhờ công đức của chú.

Chú Sa di Pandita vâng lời Thầy mở cửa thất Thầy vào tọa Thiền, quán về thân, điều phục tâm ý. Ngai Ðế Thích bỗng nóng lên, Ngài hiểu rõ mọi chuyện, bèn muốn đến đó giúp đỡ nên ra lệnh:

- Tứ thiên vương, hãy đuổi chim đang làm tổ trong vườn Tinh xá, và gác bốn góc!

- Thần mặt trăng hãy giữ mặt trăng lại!

- Thần mặt trời hãy giữ mặt trời lại!

Rồi Ðế Thích hiện hình người đi đến chỗ treo sợi dây mở và đóng cửa, đứng gác. Không một tiếng động nào trong Tinh xá trừ tiếng lá rơi. Tâm chú Sa di an tĩnh, và chỉ trong khoảng bữa ăn, chú điều phục được tâm ý và chứng Tam quả.

Trong lúc đó, Trưởng lão đến nhà thí chủ Ngài biết rõ là rất kính mến Ngài để khất thực. Họ dâng thức ăn đúng món chú Sa di thích và xin Ngài thọ thực xong sẽ mang thức ăn về cho Sa di. Trưởng lão nghĩ đệ tử mình chắc đói lắm, nên độ xong vội vàng về Tinh xá.

Sáng sớm, Thế Tôn dùng điểm tâm xong đến Tinh xá. Ngài thấy hết diễn biến về Sa di Pandita, và cũng biết là chú sẽ chứng A la hán trước bữa ăn. Như thế, nếu Trưởng lão về đến Tinh xá đưa thức ăn, sẽ gây trở ngại trong lúc chú đang Thiền quán. Vì vậy, Thế Tôn đến chờ Trưởng lão tại thất, và hỏi Ngài bốn câu:

- Xá Lợi Phất, ông mang gì thế?

- Bạch Thế Tôn, thức ăn.

- Thức ăn mang lại cái gì?

- Bạch Thế Tôn cảm thọ.

- Cảm thọ mang lại cái gì?

- Sắc chất, bạch Thế Tôn.

- Sắc chất mang lại cái gì?

- Bạch Thế Tôn, xúc.

Ý nghĩa như thế này: Một người đói được ăn, thức ăn sẽ làm hết đói và mang thọ lạc. Từ thọ lạc thân sẽ đẹp, tốt thêm, nên nói rằng từ thọ sinh sắc. Ðược sắc thân như thế, người đó sanh tâm hoan hỉ, do đó khi ngồi hoặc nằm đều được xúc hoan hỉ.

Trong thời gian bốn câu hỏi và đáp liên tục thì chú Sa di chứng A la hán cùng các thần thông. Thế Tôn lúc đó mới bảo Trưởng lão đưa thức ăn cho Sa di. Trưởng lão vâng lệnh đến thất gõ cửa. Chú bước ra bưng lấy bình bát để qua một bên, cầm quạt lá cọ quạt cho Trưởng lão. Ðược Thầy bảo ăn, chú mới ăn. Thế là chú bé bảy tuổi, đã là Sa môn vào ngày thứ tám, như một bông huệ nở tươi mát, ngồi xuống thực hành các pháp quán chiếu tự tâm, rồi thọ thực.

Rửa và cất bát xong, hai vị thần trả tự do cho mặt trời và mặt trăng. Tứ thiên vương thôi không gác bốn góc, Ðế Thích cũng ngưng gác cửa, và mặt trời đang giữa trưa bỗng lặn mất.

Các Tỳ kheo bàn tán:

- Bóng đêm bất thường trùm xuống, mặt trời lặn giữa trưa, chú Sa di mới vừa ăn sáng xong, vậy là sao nhỉ?

Phật đến, nghe họ kể lại, đáp rằng:

- Ðúng vậy, các Tỳ kheo! Khi chú Sa di cố gắng đạt quả A la hán thì các vị thần giữ mặt trời, mặt trăng lại, đứng gác bốn góc Tinh xá hay gác tại cửa; chính Ta, dù là Phật cũng không thể nghỉ ngơi, nên phải đến với đệ tử của Ta; người trí thấy người trị thủy dẫn nước, thợ làm tên uốn tên, thợ mộc đẽo gỗ, đã Thiền quán trên các đề mục đó, và tự thắng mình chứng A la hán.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(80) Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc trí nhiếp tự thân.

6. Vững Vàng Như Ðá Tảng

Như đá tảng kiên cố...

Tại Kỳ Viên, Thế Tôn đã dạy như thế, liên quan đến Trưởng lão Lakuntaka Bhaddiya.

Các Sa di và những người khác chưa biết Trưởng lão nên thường kéo tóc, nắm tai, bẹo mũi, hỏi đố:

- Chú ơi! Chú không mỏi mệt vì đạo à? Ðạo làm chú vui thích không?

Trưởng lão không bực bội, cũng không mích lòng. Các Tỳ kheo thấy vậy xì xào với nhau, Thế Tôn nghe được liền bảo:

- Ðúng thế các Tỳ kheo! Người trừ hết lậu hoặc, không giận dữ hay bực bội, nhưng bình thản, không lay động như tảng đá kiên cố.

Và đọc Pháp Cú:

(81) Như đá tảng kiên cố,

Không gió nào lay động,

Cũng vậy, giữa khen chê,

Người trí không giao động.

7. Yên Lặng Sau Cơn Bão

Như hồ nước sâu thẳm...

Thế Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến mẹ của Kànà.

Mẹ của Kànà, một tín nữ đã chứng quả Dự lưu, gả con gái cho một người ở làng khác. Kànà có dịp về thăm mẹ được ít ngày thì chồng cô nhắn về. Cô chào mẹ, được mẹ cầm lại, bảo rằng:

- Con đã ở đây lâu, sao lại về tay không?

Rồi bà làm bánh, ý cho cô có ít quà cáp đối với nhà chồng. Lúc đó có một Tỳ kheo đến khất thực. Bà mời ngồi và cúng dường đầy bát. Vị ấy ra đi kể lại cho người khác nghe. Rồi người thứ hai, thứ ba, thứ tư đến khất thực, cả bốn người đều được cúng dường bánh, nên hết bánh. Kànà phải ở lại. Chồng cô nhắn hai, ba lần, và cũng vì lý do đó cô không về được. Chồng cô không chờ nữa, lấy vợ khác. Nghe tin, Kànà cho rằng các Tỳ kheo đã hại hạnh phúc của cô, do đó cô chửi bới, nhục mạ mọi Tỳ kheo cô thấy. Các Tỳ kheo không dám đi qua nhà cô nữa. Thế Tôn biết chuyện liền đến đó. Bà mẹ mời ngồi và cúng dường cháo và thức ăn cứng. Rồi Thế Tôn hỏi thăm Kànà, bảo gọi đến và hỏi:

- Kànà, tại sao thấy Ta con lại phiền não và khóc lóc?

Bà mẹ kể cho Thế Tôn biết việc nàng đã làm. Phật quay về phía cô, hỏi tiếp:

- Kànà, Ta nghe rằng đệ tử Ta tới nhà con khất thực và mẹ con cho họ bánh, vậy họ có lỗi gì?

Cô sụt sùi đáp:

- Các Tỳ kheo ấy không có lỗi, bạch Thế Tôn, chỉ có con có lỗi.

Rồi cô đảnh lễ Thế Tôn xin được tha thứ. Phật thuyết pháp cho cô và cô chứng quả Dự lưu. Thế Tôn trở về Tinh xá, vua trông thấy khi Ngài đi ngang qua Hoàng cung, nên xin được đảnh lễ. Vua hỏi thăm về Kànà và sau đó hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn, Ngài có làm ngưng được sự nhiếc móc của cô ta đối với các Tỳ kheo hay không?

Phật đáp:

- Ðược, Ðại vương! Cô ta đã hết nhiếc móc, và đã làm chủ tài sản xuất thế gian.

- Bạch Thế Tôn, tốt lắm. Vậy con sẽ cho cô ta tài sản thế gian.

Ðảnh lễ Thế Tôn xong, vua quay về cung, gởi cho cô một kiệu lớn, cho cô trang điểm lộng lẫy, nhận cô làm công chúa và thông báo kén phò mã. Một đại quý tộc cưới cô. Từ đó cô đặt người tại bốn cửa và cho phục vụ tất cả các Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni. Cô còn muốn kiếm nhiều Sa môn hơn nữa để phục vụ cúng dường nhưng không có. Thực phẩm cúng dường thì dồi dào, cả cứng lẫn mềm, luôn luôn có sẵn tại nhà và tuôn ra cửa như một trận lụt lớn.

Các Tỳ kheo lại bàn tán tại Pháp đường về cô. Thế Tôn đến, nghe họ kể lại, bèn đáp:

- Các Tỳ kheo! Ðây không phải lần đầu mà trong tiền kiếp bốn Trưởng lão ấy cũng đã làm phiền Kànà. Cũng không phải lần đầu Ta thuyết phục cô ta mà trong tiền kiếp cũng đã như thế.

Các Tỳ kheo xin Phật kể lại chuyện quá khứ, Thế Tôn bèn kể chuyện Bổn Sanh Babbu

Một con mèo tìm được,

Con thứ hai xuất hiện.

Con thứ ba, thứ tư,

Hang này chúng tìm đến.

Bốn con mèo lúc đó là bốn Tỳ kheo. Con chuột là Kànà và người thợ châu báu là Thế Tôn. Và Ngài nói Pháp Cú:

(82) Như hồ nước sâu thẳm,

Trong sáng, không khuấy đục.

Cũng vậy nghe chánh pháp,

Người trí hưởng tịnh lạc.

8. Một Lũ Lang Thang.

Người Hiền bỏ tất cả...

Do chuyện năm trăm Tỳ kheo, Thế Tôn đã dạy như trên tại Kỳ Viên. Truyện bắt đầu ở Veranjà.

Thế Tôn nhận lời mời của Bà la môn Veranjà đến Veranjà nhập hạ với năm trăm Tỳ kheo. Nhưng Bà la môn bị Ma vương mê hoặc đến nỗi không hề nghĩ đến Phật, dù chỉ một ngày. Hơn nữa tại đây lại xảy ra nạn đói. Các Tỳ kheo ra ngoài khất thực nhưng không nhận được gì và đói lả. Các nhà buôn ngựa sau đó có cho họ lúa ngựa. Trưởng lão Mục Kiền Liên thấy họ đói quá, xin phép đến Uttarakuru khất thực nhưng Thế Tôn không cho. Tuy thế các Tỳ kheo không hề lo âu đến lương thực một ngày nào, mà chỉ lo tu để diệt trừ tham ái dục lậu.

Sau ba tháng, Thế Tôn báo cho Bà la môn Ngài ra đi, ông lễ kính Phật và được quy y. Xong, Phật và các Tỳ kheo trở về Kỳ Viên. Dân Xá Vệ dâng đầy đủ thức ăn chào mừng Ngài trở về.

Thuở đó do lòng tốt của các Tỳ kheo mà năm trăm ăn mày sống trong vòng rào Tinh xá. Ăn xong thức ăn thừa của các Tỳ kheo rồi họ nằm lăn ra ngủ. Thức dậy, họ chạy ra bờ sông la hét, nhảy nhót, vật lộn đùa giỡn. Khi ở bên trong hang, ở bên ngoài Tinh xá, họ đều chẳng được tích sự gì, chỉ có bê bối.

Trong Pháp đường, các Tỳ kheo bàn tán, có vẻ không bằng lòng. Lúc gặp nạn đói ở Veranjà họ đâu có lôi thôi, nhưng bây giờ ăn uống đủ thứ họ lại buông lung phóng túng, đủ kiểu tai hại. Còn các Tỳ kheo thì ở Veranjà và ở đây đều sống yên bình, và tĩnh lặng.

Thế Tôn vào Pháp đường hỏi các Tỳ kheo, nghe kể lại, bèn bảo:

- Trong những kiếp trước họ cũng hành động như thế. Họ vốn là năm trăm con lừa uống cặn nước nho thừa của năm trăm ngựa giống Sindh, nước đó đã pha thêm với nước lã rồi lọc qua một cái khăn, một thứ nước tồi tàn, nhạt nhẽo không còn mùi vị gì. Uống xong, chúng say sưa, la hí vang rân.

Một miếng rượu nhạt thừa,

Làm lừa say nghiêng ngửa.

Ngựa Sindh chẳng chuếch choáng,

Dù uống rượu tốt ngon.

Tâu đại vương, cũng thế!

Người ngu dễ dàng say,

Người trí luôn điềm đạm,

Rượu ngon chẳng chuyển lay.

Và Thế Tôn nói tiếp:

- Như thế, này các Tỳ kheo! Người hiền từ bỏ tham dục xấu ác, và không giao động dù vui hay buồn.

Rồi Ngài đọc Pháp Cú:

(83) Người hiền bỏ tất cả,

Người lành không bàn dục,

Dầu cảm thọ lạc khổ,

Bậc trí không vui buồn.

9. Chồng Và Vợ

Không vì mình, vì người...

Thế Tôn đã dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Dhammika.

Tại Xá Vệ, một Cư sĩ sống đời chánh trực, muốn đi tu, một hôm thân mật báo cho vợ biết. Bà vợ xin chồng đợi sinh con xong. Ðợi đến khi đứa bé biết đi, ông lại nói nữa. Bà vợ lại bảo đợi nó trưởng thành. Ðối với ông, cho phép hay không, không thành vấn đề vì lòng ông đã giải thoát đau khổ của chính mình.

Rồi ông xuất gia, thành Sa môn. Nhận đề tài Thiền quán, ông nỗ lực tu tập và đạt được tuyệt đích của đời tu. Ông trở về Xá Vệ, tìm gia đình và thuyết pháp cho con. Anh ta đi tu và cũng chứng A la hán. Bà vợ thấy ở nhà không còn ai nữa, nên cũng phát tâm đi tu, và cũng chẳng bao lâu chứng A la hán.

Tại pháp đường các Tỳ kheo thảo luận, và được Phật dạy:

- Các Tỳ kheo! Người trí không trông mong thành đạt dù cho mình hay cho người khác. Người chơn chánh chỉ tìm đường nương tựa vào giáo pháp.

Và nói Pháp Cú:

(84) Không vì mình, vì người.

Không cầu được con cái,

Không tài sản quốc độ,

Không cầu mình thành tựu,

Với việc làm phi pháp.

Vị ấy thật trì giới,

Có Trí tuệ, đúng pháp.

10. Ít Người Ðến Bờ Kia

Ít người giữa nhân loại...

Thế Tôn đã dạy như thế khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến vấn đề nghe pháp.

Dân cư tại một con đường ở Xá Vệ rủ nhau đi cúng dường, và quyết định ở lại suốt đêm nghe pháp, nhưng họ không thể nghe cả đêm được. Vài người đã bị dục tình chi phối và đã bỏ về nhà, một số thì lo hờn lo giận, những người khác thì hôn trầm dã dượi, ngồi ngủ gà ngủ gật, không một giọt pháp nào lọt vào tai.

Các Tỳ kheo bàn tán về chuyện trên trong pháp đường. Thế Tôn nghe được liền dạy:

- Các Tỳ kheo! Chúng sanh trong thế gian hầu hết đều dính mắc vào tam độc. Rất ít người qua được bờ bên kia.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(85) Ít người giữa nhân loại

Ðến được bờ bên kia.

Còn số người ở lại

Xuôi ngược chạy bờ này.

(86) Những ai hành trì pháp

Theo chánh pháp khéo dạy

Sẽ đến bờ bên kia

Vượt ma lực khó thoát.

11. Từ Bỏ Ðen Tối

Kẻ trí bỏ pháp đen...

Câu này Thế Tôn dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến năm mươi Tỳ kheo đến thăm.

Năm mươi Tỳ kheo đã nhập hạ tại nước Kosala xong, giải hạ đến viếng Thế Tôn. Họ đảnh lễ Ngài và cung kính ngồi một bên.

Thế Tôn lắng nghe kinh nghiệm hành trì của họ và dạy họ Pháp Cú:

(87) Kẻ trí bỏ pháp đen

Tụ tập theo pháp trắng

Bỏ nhà, sống không nhà,

Sống viễn ly khó lạc.

(88) Hãy cầu vui Niết bàn

Bỏ dục, không sở hữu,

Kẻ trí tự rửa sạch

Cấu uế từ nội tâm.

(89) Những ai với chánh tâm,

Khéo tu tập giác chi,

Từ bỏ mọi ái nhiễm,

Hoan hỷ không chấp thủ,

Không lậu hoặc, sáng chói,

Sống tịch tịnh ở đời.


Phẩm VII: A La Hán

1. Ðấng Như Lai Không Ðau Khổ

Ðích đã đến không sầu...

Do câu hỏi của Jìvaka, Thế Tôn đã dạy như trên ở rừng xoài Jìvaka.

Ðề- Bà Đạt Đa hợp lực với vua A Xà Thế âm mưu giết Phật. Ông lên ngọn Linh Thứu lăn một tảng đá xuống, va vào vách núi, vỡ ra một mảnh bắn vào chân Thế Tôn làm chảy máu. Các Tỳ kheo đưa Ngài đến Maddakucchi, và sau đó đến rừng xoài theo ý Ngài muốn. Jìvaka hay tin liền đến tức thì, đắp thuốc và băng vết thương. Vì có bệnh nhân đang chờ trong thành, ông xin đi ngay, hẹn sẽ trở về tháo băng. Nhưng khi trở về cổng thành đã đóng, ông lo lắng vì nếu không tháo băng đúng giờ, Thế Tôn sẽ chịu đau nhức dữ dội. Ngay khi đó Phật biết được ý nghĩ của ông liền bảo A Nan tháo băng. Vết sẹo biến mất tức khắc như vỏ cây bị bóc ra. Sáng sớm Jìvaka về đến, nôn nóng hỏi thăm Phật có thấy đau đớn không, và được trả lời:

- Jìvaka, Như Lai đã dập tắt mọi phiền não ngay khi lên ngôi Chánh giác.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(90) Ðích đã đến, không sầu,

Giải thoát ngoài tất cả,

Ðoạn trừ mọi buộc ràng,

Vị ấy không nhiệt não.

2. Thoát Khỏi Trói Buộc

Tự sách tấn, chánh niệm...

Thế Tôn đã dạy câu trên, liên quan đến Trưởng lão Ðại Ca Diếp tại Trúc Lâm.

Mãn hạ tại Vương Xá, Thế Tôn loan tin cho các Tỳ kheo biết sau nửa tháng sẽ khất thực, có nghĩa là các Tỳ kheo sẽ đi tráng rửa bình bát, nhuộm y và sẽ thong dong lên đường khất thực.

Trong khi đó thì Trưởng lão Ðại Ca Diếp lại đi giặt y. Các Tỳ kheo thấy thế có vẻ dè bỉu, vì một trăm tám mươi dân trong thành này nếu không là bà con thì cũng là thí chủ của Trưởng lão, dễ gì Ngài từ chối sự cúng dường của họ, và dù Ngài có theo Thế Tôn lên đường cũng chẳng đi xa hơn hang Màpamàda. (Có tên như thế khi Phật du hành đến hang này, thường bảo các Tỳ kheo "Các ông có thể trở về, chớ có buông lung").

Quả vậy, đức Phật thấy không thể để Tinh xá trống không, nhất là vào dịp lễ lạc hay rủi có tai ách, nên đã bảo Trưởng lão mang đệ tử quay trở về. Các Tỳ kheo lại xầm xì:

- Này chư huynh đệ có thấy không? Chúng ta chẳng đoán là Ca Diếp giặt y, không theo Thế Tôn sao? Thật quả như rằng!

Việc đến tai Thế Tôn và Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo! Các ông nói Ca Diếp bị trói buộc vào thân quyến và tứ sự cúng dường, trong khi sự thật ông trở về là vì vâng lệnh ta. Trong tiền kiếp ông đã phát nguyện sẽ như mặt trăng thoát khỏi mọi sự trói buộc, và ông cũng nguyện đến gần các thí chủ. Ca Diếp không hệ lụy vào đàn- na hoặc của tín thí. Nhân chuyện Ca Diếp, ta thuyết cho mọi người Ðạo như đường đi của mặt trăng, Ðạo của những bậc Tuyển Chọn cao quí.

Theo lời yêu cầu của các Tỳ kheo, Phật kể lại chuyện quá khứ một trăm ngàn năm kiếp trước, thời Phật Padumuttara (trong Trưởng lão Tăng kệ). Và Phật xác nhận Ca Diếp, đệ tử của Phật, không dính mắc vào người cúng dường, của cúng dường, Tinh xá cũng như tịnh thất; như con ngỗng chúa xuống hồ bơi lội tự tại trong đó.

Và Phật nói Pháp Cú:

(91) Tự sách tấn, chánh niệm,

Không thích cư xá nào,

Như ngỗng trời rời ao.

Bỏ sau mọi trú ẩn.

3. Một Tỳ Kheo Trữ Thức Ăn

Tài sản không chất chứa...

Khi ngụ ở Kỳ Viên, Thế Tôn đã dạy như trên, liên quan đến Tôn giả Belatthisìsa.

Tôn giả Trưởng lão này thấy việc khất thực hằng ngày phiền toái. Sau khi đi một vòng khất thực trong làng, ông thọ thực, rồi lại đi khất thực tiếp qua con đường khác, nhận cơm không có nước xốt hay cà- ri, mang về Tinh xá cất để dành. Các Tỳ kheo biết được phàn nàn với Thế Tôn. Phật bèn công bố luật cấm chư tăng tích trữ thức ăn. Nhưng vì Trưởng lão đã phạm lỗi trước khi chế luật nên vô tội. Nhân đó Phật đọc Pháp Cú:

(92) Tài sản không chất chứa,

Ăn uống biết liễu tri,

Tự tại trong hành xứ,

"Không, vô tướng, giải thoát,

Như chim giữa hư không,

Hướng chúng đi khó tìm.”

4. Tỳ Kheo Và Nữ Thần

Ai lậu hoặc đoạn sạch...

Nhân chuyện Trưởng lão Anuruddha, Thế Tôn đã dạy câu trên tại Trúc Lâm.

Ba kiếp trước Trưởng lão có người vợ nay tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba là nữ thần Jàlinì. Khi thấy Trưởng lão bới đống rác tìm vải để thay chiếc y rách, nữ thần lấy ba tấm vải trời dài mười ba cubit, rộng bốn cubit, vùi vào đống rác, chỉ để lộ ra mép vải viền mà thôi. Trưởng lão thấy được, lôi ra và thầm nhủ đây là một đống rác đặc biệt.

Vào ngày may y, Thế Tôn đến Tinh xá với năm trăm Tỳ kheo. Ngài ngồi xuống và tám mươi đệ tử cùng ngồi tiến hành việc may y. Ca Diếp ngồi may phần chân, Xá Lợi Phất ở giữa, A Nan phần đầu. Tăng chúng kéo chỉ, Thế Tôn xỏ kim và Mục Kiền Liên tới lui cung cấp mọi thứ cần dùng.

Nữ thần vào làng khuyến khích dân cư cúng dường cháo và các thức ăn khác. Trong bữa ăn Mục Kiền Liên dâng những miếng táo hồng thật to, nhưng năm trăm Tỳ kheo không ai ăn nổi. Ðế Thích vẽ một vòng quanh chỗ may y, mặt đất như nhuộm sữa, các Tỳ kheo dùng xong mà thức ăn vẫn còn hằng đống. Họ phàn nàn với nhau:

- Tăng chúng chẳng bao nhiêu mà sao thức ăn quá nhiều? Chắc là Anuruddha muốn phô trương thân thuộc và thí chủ của mình!

Thế Tôn hỏi, và được họ kể lại, bèn dạy:

- Các Tỳ kheo! Anuruddha đệ tử Ta không làm vậy đâu. Người thoát khỏi tham dục không phí thì giờ bàn về lợi dưỡng, thực phẩm cúng dường này đều do thần lực của thiên nữ.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(93) Ai lậu hoặc đoạn sạch,

Ăn uống không tham đắm,

Tự tại trong hành xứ,

Không, vô tướng, giải thoát,

Như chim giữa hư không,

Dấu chân thật khó tìm.

5. Ðế Thích Lễ Kính Một Tỳ Kheo

Ai nhiếp phục các căn...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Pubbàràma, liên quan đến Trưởng lão Ðại- Ca Chiên Diên (Kaccàyana).

Xưa, nhân dịp bế mạc lễ hội, Thế Tôn ngự tại tầng trệt tòa lâu đài của mẹ Migàra, hội chúng Cư sĩ tiếng tăm vây quanh. Trưởng lão Ðại- Ca Chiên Diên thuở đó ngụ tại Avanti. Dù đường sá xa xôi, Ngài vẫn thường đến nghe pháp, do đó các Ðại Trưởng lão vẫn dành một chỗ cho Ngài.

Thiên chủ Ðế Thích cũng đến dự cùng chư thiên từ hai cõi trời, lễ kính Thế Tôn với thiên hương và thiên hoa. Không thấy Ðại- Ca Chiên Diên, ông lo lắng tìm kiếm. Ngay lúc ấy Trưởng lão xuất hiện và ngồi vào chỗ dành sẵn. Ðế Thích trông thấy, ôm chặt mắt cá chân của Trưởng lão, mừng rỡ:

- Ôi! Trưởng lão tôn quý đã đến! Con chỉ mong có bấy nhiêu đó thôi!

Rồi vua trời xoa chân Ngài với hai tay, lễ kính với hương hoa, cúi lạy và cung kính đứng một bên.

Các Tỳ kheo bực mình vì thấy Ðế Thích thiên vị, không tôn kính các Trưởng lão khác. Thế Tôn nghe họ nói, bèn dạy:

- Này các Tỳ kheo! Các Tỳ kheo như là đệ tử, Ta là Ðại- Ca Chiên Diên, hộ trì các căn nên được trời và người đều tôn kính.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(94) Ai nhiếp phục các căn,

Như đánh xe điều ngự,

Mạn trừ, lậu hoặc dứt,

Người vậy, chư thiên mến.

6. Tưởng Mình Bị Khi Dễ

Như đất, không hiềm hận...

Ở Kỳ Viên, Thế Tôn đã dạy câu trên từ chuyện Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Vào cuối một mùa mưa, Trưởng lão Xá Lợi Phất lên đường khất thực với các đệ tử sau khi đảnh lễ Thế Tôn; nhiều Tỳ kheo khác cũng chào từ giã Trưởng lão. Ngài gọi tên và họ các Tỳ kheo quen biết, một vị Tỳ kheo cũng mong được Trưởng lão gọi tên, nhưng tiếc thay Ngài không chú ý tới ông giữa số Tỳ kheo đông đảo, ông sanh lòng căm ghét Trưởng lão. Thêm vào đó viền y của Trưởng lão chạm phải ông làm tăng thêm niềm căm hận. Trưởng lão vừa ra khỏi cổng Tinh xá, ông đến ngày Thế Tôn bạch:

- Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xá Lợi Phất vì nghĩ mình là Ðại đệ tử của Phật đã đánh con một cú muốn sút lỗ tai, rồi chả thèm xin lỗi, lên đường khất thực.

Thế Tôn gọi Trưởng lão đến. Mục Kiền Liên và A Nan nghĩ rằng Thế Tôn chưa hiểu sự tình và dĩ nhiên Xá Lợi Phất sẽ rống tiếng rống của sư tử.

Cả hai quyết định nhóm chúng. Sẵn chìa khóa, họ mở cửa liêu kêu gọi một số đông các Tỳ kheo. Trưởng lão Xá Lợi Phất đến, cùng với các Tỳ kheo còn lại đảnh lễ Thế Tôn và cung kính ngồi một bên. Khi Thế Tôn hỏi, thay vì xác nhận tôi không đánh, Trưởng lão kể lại công hạnh của mình:

- Bạch Thế Tôn, nếu có Tỳ kheo nào không quán thân, xin nghe những điều con nói và lấy đó làm bạn đồng hành, mang theo trên đường đi khất thực.

Rồi Ngài tiếp:

- Bạch Thế Tôn! Người ta liệng những vật sạch trên đất và cũng liệng những vật dơ trên đất.

Rồi Ngài so sánh tâm định tĩnh của Ngài như đất, như bò bị cưa sừng, như thanh niên Chiên- đà- la, như nước, lửa, gió, giẻ lau; thân chịu áp bức như bị rắn và thây chết áp bức, xem thân như cục thịt mỡ.

Khi Trưởng lão mô tả công hạnh của Ngài qua chín lối so sánh, đại địa rúng động chín lần liên tiếp đến tận mé biển. Khi Ngài so mình với giẻ lau, hạng Chiên- đà- la, cục thịt mỡ, những Tỳ kheo chưa chứng Sơ quả không cầm được nước mắt, những vị chứng A la hán thì tràn trề pháp vị.

Vị Tỳ kheo vu cáo sai trái nghe kể công hạnh của Trưởng lão, ăn năn vô cùng. Ông ta phục xuống chân Phật thú tội, nhận rằng mình đã cáo gian. Phật liền khuyên Trưởng lão hay tha thứ cho kẻ gian dối này để đầu ông ta khỏi bể làm bảy mảnh. Trưởng lão cúi mình trước ông ta rồi chấp tay cung kính bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con sẵn lòng tha lỗi cho Tôn giả Tỳ kheo này. Và xin Tôn giả cũng tha thứ cho con, nếu con có làm ông phiền lòng.

Các Tỳ kheo tán thán lòng độ lượng quá tuyệt của Xá Lợi Phất. Thế Tôn nghe được liền bảo:

- Không thể có chuyện sân hận và thù ghét đối với Xá Lợi Phất và những người như ông ấy. Tâm của Xá Lợi Phất giống như đại địa, giống như ngưỡng cửa, như hồ nước lặng.

Nói xong Phật đọc Pháp Cú:

(95) Như đất, không hiềm hận,

Như cột trụ, kiên trì,

Như hồ, không bùn nhơ,

Không luân hồi, vị ấy.

7. Mất Một Mắt

Người tâm ý an tịnh...

Tại Kỳ Viên, Phật đã dạy câu trên liên quan đến một Sa di của Trưởng lão Tissa.

Một thanh niên vọng tộc ở Kosambi xuất gia thành Sa môn trong giáo đoàn của Phật. Làm xong bổn phận, ông được danh xưng Trưởng lão Kosambivàsi Tissa. Thí chủ của ông cúng dường ba y với mật, đường, đặt dưới chân. Ông hỏi:

- Gì thế, Cư sĩ?

Họ thưa:

- Bạch Tôn giả, Ngài đã ở đây với chúng con suốt mùa mưa, ai như thế đều được cúng dường. Xin hãy nhận, Tôn giả!

- Ðừng quan tâm, Cư sĩ. Tôi không cần dùng. Tôi không có Sa di để làm những việc tạp dịch cho tôi, đạo hữu ạ.

- Bạch Tôn giả, nếu thế con trai con sẽ làm Sa di cho Ngài.

Trưởng lão vui lòng nhận phẩm vật. Cư sĩ đem đứa con lên bảy tuổi giao phó cho Trưởng lão xin được nhận vào Tăng đoàn. Trưởng lão cạo tóc cho chú, dạy Thiền quán trên năm yếu tố đầu của thân, và nhận chú vào Tăng đoàn. Ngay khi lưỡi dao chạm vào tóc, chú chứng A la hán cùng những thần thông.

Trưởng lão ở lại đó nửa tháng, rồi sai Sa di lấy những món cần dùng, lên đường thăm Thế Tôn. Trên đường đi ông ghé vào một Tinh xá. Chú Sa di lo kiếm chỗ cho Trưởng lão nghỉ, sửa soạn sắp xếp xong thì trời tối, chú không thể kiếm chỗ cho mình. Thấy đệ tử chưa có chỗ, Trưởng lão cho chú vào phòng ngủ tiện hơn là ngủ bên ngoài, nơi dùng cho khách. Bấy giờ Trưởng lão chưa chúng quả Dự lưu, nằm xuống ông ngủ ngay. Riêng chú Sa di phải ngồi kiết già gần giường Thầy suốt đêm, tính đến hôm nay là ngày thứ ba chú ở chung phòng với Thầy nên không dám nằm xuống ngủ, vì sợ phạm lỗi ngủ chung.

Sáng ra Trưởng lão thức dậy cầm quạt để sẵn trên giường, đập đầu lá cọ trên chiếu của chú Sa di rồi ném quạt bảo:

- Sa di, dậy đi!

Cán quạt trúng vào mắt làm đui luôn mắt chú. Chú vẫn bình tĩnh thưa hỏi lại:

- Thưa Tôn giả, Ngài dạy gì?

- Dậy đi ra!

Chú vẫn im lặng, ôm mắt đi ra. Ðến giờ làm bổn phận chú không hé môi nói con mắt của mình bị đui, cũng không ngồi lại, một tay che mắt, một tay cầm chổi, chú quét cầu tiêu, phòng tắm, rồi tiếp tục múc nước rửa mặt, quét phòng cho Thầy. Nhưng khi đưa tăm cho Thầy, chú đưa một tay. Trưởng lão quở:

- Chú tiểu này chưa được dạy đàng hoàng. Có Sa di nào đưa tăm cho Thầy mà đưa một tay không?

- Bạch Tôn giả, con biết rõ phải làm sao cho đúng, nhưng một tay con không được tự do.

- Có việc gì thế, Sa di?

Chú kể lại sự việc, Trưởng lão nghe xong quá ư xúc động, thấy mình đã gây một việc rất tệ hại.

Ông bảo chú:

- Tha lỗi cho tôi, chú bé tuyệt vời! Tôi không được biết. Hãy cho tôi được nương tựa!

Và ông cung kính đảnh lễ Sa di mới lên bảy. Chú thưa:

- Không phải vì muốn được như thế mà con nói ra, thưa Tôn giả. Con nói ra để Ngài khỏi phải lo lắng. Ngài không có lỗi trong việc này, kể cả con nữa. Chỉ có luân hồi gây ra tội lỗi này. Vì con muốn Ngài khỏi phải ăn năn, nên con đã không nói sự thật với Ngài ngay từ đầu.

Chú cố gắng khuyên giải Trưởng lão nhưng không được. Quá ân hận, Trưởng lão lấy những món tùy thân của Sa di rồi đến gặp Thế Tôn. Phật đang ngồi trên tòa thấy Trưởng lão tiến đến, hỏi:

- Tỳ kheo, mọi việc tốt đẹp chứ? Chắc ông không có gì phiền phức?

Trưởng lão thưa:

- Bạch Thế Tôn, đối với con không có gì phiền hà, nhưng ở đây có chú tiểu đức hạnh tuyệt vời, con chưa từng thấy.

Và Trưởng lão thuật chuyện cho Phật nghe.

Phật bảo:

- Tỳ kheo! Người thoát khỏi dục lậu không còn sân giận hận thù bất cứ ai, trái lại tâm ý đều an tịnh.

Và Ngài nói Pháp Cú:

(96) Người tâm ý an tịnh,

Lời an, nghiệp cũng an,

Chánh trí, chân giải thoát,

Tịnh lạc là vị ấy.

8. Không Tin Vào Ai Khác

Không tin vào ai khác...

Thế Tôn đã dạy câu này tại Kỳ Viên, về Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Một hôm ba mươi Tu sĩ ở rừng đến gặp Phật, đảnh lễ và ngồi xuống. Phật nhận thấy họ đủ duyên lành chứng A la hán, hỏi Xá Lợi Phất:

- Xá Lợi Phất! Ông có tin rằng tín lực khi được khai mở và phát triển, sẽ đưa đến bất tử không?

Trưởng lão đáp:

- Con không hành trì dựa theo niềm tin vào Thế Tôn, cho rằng tín lực khi được khai mở và phát triển sẽ đưa đến Bất tử và thành tựu Bất tử. Nhưng dĩ nhiên, bạch Thế Tôn, ai chưa biết về Bất tử hoặc chưa thấy, chưa nhận ra được, chưa thấu hiểu, chưa nắm Bất tử bằng trí lực, những người như thế cần phải hành trì dựa theo niềm tin vào người khác, nghĩa là với tín lực, khi được khai mở và phát triển sẽ đưa đến Bất tử và thành tựu Bất tử.

Các Tỳ kheo nghe thế bảo nhau:

- Trưởng lão Xá Lợi Phất chưa thực sự dứt sạch tà kiến. Ðến bây giờ Ngài còn phủ nhận niềm tin vào đấng Toàn Giác.

Phật nghe vậy dạy rằng:

- Các Tỳ kheo! Tại sao các ông nói thế? Khi Ta hỏi Xá Lợi Phất: "Ông có tin rằng không khai triển ngũ lực, không khai triển định huệ, có thể chứng đạt đạo quả chăng?" Và ông ta đã trả lời: "Như thế không thể chứng được đạo quả.” Rồi Ta hỏi: "Ông có tin phước báo do bố thí và thiện nghiệp chăng? Ông không tin vào công hạnh của chư Phật và những phước đức khác sao?" Nhưng thực tế Xá Lợi Phất không hành trì dựa theo niềm tin vào người khác mà chính ông tự chứng đạt đạo quả bằng huệ lực có từ Thiền định. Do đó ông ta không thể bị khiển trách.

Và Phật nói Pháp Cú:

(97) Không tin vào ai khác,

Thấu triệt lý vô vi,

Nhân tái sanh cắt đứt,

Thiện ác đều không màng,

Ðã xả ly tham ái,

Vị ấy thật tối thượng.

9. Trưởng Lão Revata Trong Rừng Heo

Làng mạc hay rừng núi...

Câu này Thế Tôn dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Khadiravaniya Revata.

A. Revata Ði Tu

Khi Tôn giả Xá Lợi Phất từ bỏ gia tài tám trăm bảy mươi triệu trở thành Tỳ kheo, ba người chị của Ngài là Càlà, Upacàlà và Sìsùpacàlà cùng với hai em trai Canda và Upasena đều đi tu, chỉ còn em út là Revata, tức Ly Bà Đa ở nhà. Nghĩ rằng nếu chú út Ly Bà Đa cũng đi tu nốt thì tất cả gia tài này sẽ tiêu tan, gia đình sụp đổ, nên bà mẹ định cưới vợ cho chú dù hãy còn nhỏ. Trưởng lão Xá Lợi Phất có lẽ đoán biết trước nên có căn dặn các Tỳ kheo khi Ly Bà Đa xin đi tu thì chấp nhận ngay, vì cha mẹ còn giữ tà kiến không thể xin phép họ, Trưởng lão là cha mẹ của Ly Bà Đa.

Ly Bà Đa lên bảy thì được mẹ sửa soạn cưới vợ là một cô gái nhà lành. Ngày cưới đã định, với trang phục đẹp đẽ và trang sức đắt tiền, chú dẫn đoàn tùy tùng đến nhà gái. Thân tộc hai họ đặt vào tay cô dâu chú rể một bình nước, chúc mừng và bảo cô dâu:

- Chúc cô được như bà nhé! chúc cô sống lâu như bà nhé!

Ly Bà Đa thắc mắc không hiểu "bà" là ai, và giống bà là sao. Họ chỉ một bà lão trên một trăm hai mươi tuổi rụng hết răng và tóc bạc, mặt mũi nhăn nhúm, nốt ruồi đầy mình, lưng cong như nóc nhà hình chóp uốn. Chú hỏi lại cho chắc:

- Nhưng vợ tôi có ngày cũng giống như thế à?

- Ðúng vậy, nếu cô ta sống dai.

Revata nghĩ thầm: "Vợ ta kiều diễm như thế, già đi thì xấu xí như vậy, chắc là anh Upatissa cũng thấy sự biến đổi này, chắc là ta phải bỏ chạy đi tu thôi!”

Thế là Ly Bà Đa quyết định ngay. Cùng cô dâu lên kiệu đi một đoạn đường, chú bảo kiệu ngừng xuống cho chú đi vệ sinh. Chú chạy vội vào một bụi cây, ở đó một lúc, xong trở lại lên kiệu. Lần thứ hai rồi lần thứ ba, họ hàng riết rồi chẳng ai thèm để ý nữa. Lần cuối, họ cứ đi trước không thèm chờ chú. Ly Bà Đa trốn thoát và đến chỗ ba mươi Tỳ kheo đang sống gần đó, đảnh lễ họ thưa xin được nhận vào Tăng đoàn. Họ thấy chú trang sức quá đẹp, không biết là con vua hay con quan nên ngần ngừ. Chú khẩn khoản:

- Chư Tôn giả không nhận ra con sao? Con là em út của Upatissa.

Họ ngơ ngác hỏi:

- Upatissa là ai?

- Chư Tôn giả, phải rồi. Các Tỳ kheo gọi anh con là Xá Lợi Phất nên không biết tên Upatissa.

- Chú là em út của Xá Lợi Phất à? Vậy thì đến đây! Anh chú đã giao phó cho chúng tôi việc này.

Rồi họ tháo bỏ châu báu trên người chú, nhận chú vào Tăng đoàn và nhắn tin đến Trưởng lão. Ngài đến gặp Phật và xin đi thăm em, lần thứ nhất và lần thứ hai đức Phật đều chưa cho phép mà hẹn sẽ cùng đi thăm các Tôn giả sau.

Sa di Ly Bà Đa đang sợ rằng ở đây bà con sẽ kéo đến bắt về nhà, nên chú xin các Tỳ kheo dạy đề mục Thiền quán hướng đến quả vị A la hán, rồi giã từ các Tỳ kheo, đắp y ôm bát lên đường khất thực.

Hành trình suốt ba mươi dặm, chú đến khu rừng keo, ở lại đó hết mùa mưa, và chứng A la hán cùng các thần thông trước khi mãn hạ.

B. Ðức Phật Thăm Ly Bà Ða.

Sau lễ Tự Tứ, Trưởng lão Xá Lợi Phất lại đến xin Phật cho đi thăm em, lần này được chấp thuận. Phật cùng lên đường với năm trăm Tỳ kheo. Ðược một đoạn ngắn, đến ngã ba, Trưởng lão A Nan bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, có hai đường đi đến chỗ Ly Bà Đa. Một đường an toàn dài sáu mươi dặm, có người ở, và đường kia thẳng tắp, dài ba mươi dặm, có ác thần quấy nhiễu. Chúng ta sẽ đi lối nào?

Phật hỏi lại:

- Này, A Nan! Có Sìvali đi với chúng ta không?

- Dạ có, bạch Thế Tôn!

- Thế thì giá nào cũng phải đi đường thẳng.

Thay vì nói "Ta bảo đảm các ông sẽ được cung cấp súp và cơm, hãy đi đường ngắn", Phật lại bảo đi đường thẳng nếu có Sìvali, vì Ngài biết các Tỳ kheo sẽ được cúng dường do phước báo từ một thiện nghiệp.

Ngay khi Thế Tôn đặt chân lên đường, thần rừng bảo nhau sẽ lễ kính Sìvali. Họ dựng nhà nghỉ ở mỗi dặm trên suốt con đường. Các Tỳ kheo chưa đi xa hơn một dặm thì họ đã dậy sớm lấy súp, cơm và những thức ăn khác từ trời đến tìm Trưởng lão Sìvali. Trưởng lão dâng lên Phật cùng chúng Tăng những món họ cúng dường cho Ngài. Như thế Phật cùng Tăng chúng hành trình suốt ba mươi dặm vừa xa vừa khó khăn, và hưởng đủ phước báo dành cho Trưởng lão Sìvali.

Biết Thế Tôn đến, Trưởng lão Ly Bà Đa đã dựng ngay một hương thất cho Phật bằng thần lực, năm trăm nhà ở có tháp, năm trăm lối đi có mái che và năm trăm chỗ ở đêm và ngày cho các Tỳ kheo. Thế Tôn ở đây trọn một tháng như khách của Trưởng lão Ly Bà Đa, hưởng phước báo từ công đức của mỗi một mình Trưởng lão Sìvali.

Có hai Tỳ kheo già cũng đến đó, thấy thế thắc mắc, làm sao Ly Bà Đa có thể hành Thiền khi bận rộn với biết bao công trình xây dựng mới này. Họ cho rằng Thế Tôn đã tỏ ra thiên vị em út của Xá Lợi Phất.

Thế Tôn sáng sớm quan sát thế gian, thấy hai Tỳ kheo này cùng với ý nghĩ của họ. Vì thế ngày họ ra khỏi rừng, Phật khiến họ quên mang theo đồ đựng dầu, bình nước và giày. Họ vừa ra khỏi cổng Tinh xá, Phật thi triển thần thông. Lập tức hai Tỳ kheo đó kêu lên:

- Tôi để quên cái này, quên cái nọ.

- Chết! tôi cũng vậy.

Cả hai trở lại chỗ cũ tìm kiếm quanh quất. Gai keo đâm quẹt chân cẳng họ mà chẳng thấy đồ đạc để đâu, cuối cùng họ bắt gặp treo trên cành cây keo.

Thế Tôn và Tăng chúng ở đó thêm một tháng nữa, cũng hưởng phước báo từ công đức của Sìvali, rồi đến ngụ ở Pubbàràma. Hai Tỳ kheo già kia sáng sớm rửa mặt xong đến nhà thí chủ Tỳ Xá Khư khất thực. Họ được mời ngồi, ăn súp với thức ăn cứng. Tỳ Xá Khư hỏi thăm họ:

- Chư Tôn giả có theo Thế Tôn đến chỗ Trưởng lão Ly Bà Đa không?

- Có, Cư sĩ!

- Chư Tôn giả, chỗ của Trưởng lão là một chỗ tuyệt đẹp.

- Tuyệt đẹp gì đâu! Là một rừng toàn là cây keo đầy gai trắng Cư sĩ ạ. Chỉ thích hợp với ẩn sĩ.

Sau đó có hai Tỳ kheo trẻ đến gõ cửa. Cư sĩ cũng dâng lên họ thức ăn cứng với súp rồi hỏi lại câu trên.

Họ đáp:

- Cư sĩ, thật không thể mô tả bằng lời. Chỗ ở của Trưởng lão giống như cung điện thiên đường Sudhammà được tạo bằng thần lực.

Kẻ trước người sau nói khác nhau. Tỳ Xá Khư suy ra chắc Thế Tôn thi triển thần thông đúng như sự việc đã xảy ra. Tuy thông minh đoán biết như thế, bà vẫn chờ để hỏi Thế Tôn.

Thế Tôn và Tăng đoàn đến nhà Tỳ Xá Khư, ngồi xuống chỗ đã được dọn sẵn. Bà kính cẩn phục vụ. Cuối bữa ăn bà đảnh lễ Thế Tôn, thưa hỏi:

- Bạch Thế Tôn, Tỳ kheo đi theo Ngài có người bảo rằng chỗ ở của Trưởng lão Ly Bà Đa là một khu rừng keo gai góc. Người khác lại nói đó là chỗ tuyệt đẹp, vậy là thế nào?

Phật đáp:

- Cư sĩ, dù đó là một ngôi làng hay một khu rừng, hay bất cứ nơi nào A la hán ngụ, chỗ ấy đều tuyệt diệu.

Và Ngài nói Pháp Cú:

(98) Làng mạc hay rừng núi,

Thung lũng hay đồi cao,

La hán trú chỗ nào,

Ðất ấy thật khả ái.

Một lần khác, các Tỳ kheo bàn tán với nhau không hiểu tại sao Trưởng lão Sìvali ở trong bụng mẹ bảy năm, bảy tháng, bảy ngày. Tại sao Ngài phải đọa Địa ngục? Làm thế nào Ngài đạt đến tuyệt đỉnh danh lợi? Phật nghe thế liền thuật lại:

Chuyện quá khứ

C. Cúng Mật Và Bao Vây Thành.

Này các Tỳ kheo! Cách đây chín mươi mốt kiếp, đức Phật Vipassì ra đời. Nhân chuyến du hành khất thực trong xứ, Ngài trở về thành của vua cha. Dân chúng được loan tin đóng góp thêm với vua để cúng dường Phật cùng Tăng đoàn. Xong bổn phận rồi, họ muốn cúng dường riêng và nhiều hơn, nên mời Thế Tôn, luôn cả vua, vào ngày hôm sau. Thấy phẩm vật dồi dào, vua muốn cúng hơn nên vua mời Thế Tôn ngày kế tiếp. Hai bên thi nhau giành phần hơn, nhưng dân không hơn nổi vua, vua không hơn nổi dân. Ðến lần thứ sáu dân chúng quyết định ngày mai sẽ cúng dường sao cho vua không thể nói là thiếu món này, món nọ được. Mật đã có rất nhiều để nấu ăn, nhưng không có mật tươi. Họ phải sai người ra bốn cửa thành, mỗi người mang một ngàn đồng, kiếm mua.

Bấy giờ có một người dân quê, trên đường vào thành gặp thôn trưởng, thấy một tổ ong trên cây. Ðuổi ong đi, anh cắt nhánh cây lấy mật, định sẽ biếu thôn trưởng. Người tìm mật thấy anh liền gạ hỏi mua. Anh không bán. Anh kia nằn nỉ trả giá mãi, từ một xu lên dần. Anh dân quê nghĩ bụng ông này chắc có tiền nên càng neo giá, cuối cùng lên đến một ngàn đồng thì anh chịu bán, nhưng cũng không quên nói thêm một câu:

- Này ông bạn, ông có điên hay không biết cách xài mật? Mật này không đáng giá một giác (bằng một phần tư xu) mà ông trả đến một ngàn đồng nghĩa là sao?

Anh kia giải thích:

- Ðúng vậy. Nhưng vì tôi cần mật này để cúng dường đức Phật Vipassì với sáu mươi tám ngàn Tỳ kheo.

- Nếu vậy tôi sẽ không bán với giá nào cả. Nếu tôi nhận được công đức cúng dường tôi sẽ trao không cho ông.

Anh kia mang mật trở về và thuật chuyện, dân chúng tin sâu vào sự bố thí cúng dường nên đều đồng ý dành một phần công đức cho anh nhà quê. Ðến ngày trai Tăng, Phật và Tăng chúng được dâng chỗ ngồi, súp và thức ăn cứng. Một bình bát đựng đầy mật được mang đến. Anh dân quê cũng mang một chai sữa dâng, rót vào bình, trộn với mật và dâng lên Phật và Tăng chúng. Tất cả các Tỳ kheo đều nhận đủ phần mình mà vẫn còn dư mật (vì có thần lực trong đó).

Do làm một việc thiện nhỏ như thế, anh dân quê tái sanh vào cõi trời. Sau một thời gian dài anh sanh làm Hoàng tử xứ Ba La Nại, nối ngôi khi vua cha băng hà. Tân vương đăng quang xong, quyết định đánh chiếm thành của nước láng giềng.

Vua bao vây thành, bắn tin với dân chúng hoặc chiến đấu hoặc trao vương quốc. Họ không chiến đấu cũng không trao vương quốc, mà cố thủ. Họ ra vào bằng cổng nhỏ, kiếm củi, nước, v.v... Vua gác ở bốn cổng chánh và bao vây thành suốt bảy năm, bảy tháng. Mẹ vua biết chuyện bảo vua ra lệnh đóng hết cổng nhỏ và phong tỏa kín mít. Vua vâng lệnh, dân chúng không thể ra khỏi thành được nữa, và vào ngày thứ bảy họ giết vua dâng thành và vương quốc. Vì phạm tội này, mạng chung vua bị đọa vào Địa ngục A tỳ đau đớn cho đến khi mặt đất được nâng cao lên một dặm. Vì đóng hết cổng nhỏ nên hết kiếp đó ông đầu thai vào bụng mẹ, ở đó suốt bảy năm, bảy tháng, nằm ngang tử cung bảy ngày. Như thế, các Tỳ kheo, qua việc bao vây thành, Sìvali phải chịu khổ ở Địa ngục và nằm lâu trong thai mẹ; nhưng vì công đức cúng dường mật tươi ông được lợi dưỡng tột đỉnh.

Lại một ngày khác, các Tỳ kheo bàn tán về lợi lộc to lớn cũng như công đức vượt bậc của Sa di Revata do dựng năm trăm nhà có tháp nhọn cho năm trăm Tỳ kheo. Thế Tôn nghe qua bèn dạy:

- Các Tỳ kheo! Ðệ tử Ta không còn bị dính mắc vào thiện và ác, ông đã từ bỏ cả hai.

Và Phật đọc Pháp Cú trong phẩm Bà la môn:

(412) Người sống ở đời này,

Không nhiễm cả thiện ác,

Không sầu, sạch không bụi,

Ta gọi Bà la môn.

10. Một Kỹ Nữ Cám Dỗ Một Tỳ Kheo

Khả ái thay núi rừng...

Câu này Thế Tôn dạy ở Kỳ Viên, liên quan đến một phụ nữ.

Một Tỳ kheo nọ nhận đề mục Thiền quán nơi Thế Tôn, ôm bình bát lên đường khất thực. Ngài đi vào một lạc viên đổ nát để hành Thiền. Lúc bấy giờ có một kỹ nữ hẹn hò với một người đàn ông. Chờ mãi không gặp, thất vọng nàng đi lang thang và cũng đến lạc viên. Ngó quanh quất không thấy ai ngoài một Tỳ kheo đang ngồi kiết già, nàng quyến rũ ông bằng cách cởi bỏ xiêm y trước mặt ông rồi mặc vào nhiều lần, xõa tóc ra rồi lại cuốn lên, vỗ tay và cười. Trưởng lão bị kích động, toàn thân Ngài nhộn nhạo, lòng hoang mang, tự hỏi không biết thế này nghĩa là sao.

Thế Tôn quán sát thấy hết mọi việc. Vẫn ngồi trong hương thất, Ngài bảo:

- Các Tỳ kheo! Chẳng thích thú gì chỗ sống của những người chạy theo dục lạc. Nhưng chỗ những người thoát khỏi dục lạc thì thật là thích thú.

Nói xong, Phật phóng quang hiện thân trước vị Tỳ kheo, dạy Pháp Cú:

(99) Khả ái thay núi rừng,

Chỗ người phàm không ưa,

Vị ly tham ưa thích,

Vì không tìm dục lạc.

Cuối bài kệ, Tỳ kheo chứng A la hán cùng các thần thông ngay khi đang ngồi.


Phẩm VIII: Ngàn

1. Tên Ðao Phủ

Dù nói năng ngàn lời...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Trúc Lâm, về chuyện tên đao phủ răng đồng.

Một bọn bốn trăm chín mươi chín tên cướp sống bằng nghề cướp bóc các thôn làng và những nghề bạo động khác. Bấy giờ, có một gã răng màu đồng, da ngâm đen, mình đầy sẹo, đến xin nhập bọn với chúng. Chúa đảng nhìn gã thấy tánh tình tàn bạo quá đỗi, có thể ăn thịt mẹ và uống máu cha, nên từ chối. Dù thế gã vẫn tìm cách nịnh để mua chuộc cảm tình một lâu la hầu cận, kết quả gã được thâu nhận.

Ðến một lúc nào đó hết thời, bọn cướp bị dân chúng hợp lực với lính nhà vua bắt được, đưa hết ra tòa. Quan tòa ra lệnh chặt đầu bọn chúng bằng rìu. Dân chúng bối rối không tìm ra người bằng lòng làm đao phủ. Cuối cùng họ bảo tên chúa đảng nếu chịu giết hết bọn sẽ được tha mạng và còn được thưởng nhiều. Nhưng đã từng chung sống với nhau, hắn cũng không nỡ. Họ hỏi đến tên răng đồng, da ngâm đen, mình sẹo nọ, gã đồng ý. Rồi gã giết hết cả bọn, được tha mạng và lãnh thưởng.

Cũng thế họ đem năm trăm tên cướp trong xứ từ phía nam đến xét xử, và kết án tử hình. Không tìm được đao phủ, họ nhớ đến gã, tìm đến, gã bằng lòng. Họ cho gã là người xuất sắc và phong làm đao phủ thường trực. Sau đó họ đem năm trăm kẻ cướp từ phương tây, rồi từ phương bắc đến, và gã giết hết tổng cộng hai ngàn người từ bốn hướng. Từ đó mỗi ngày gã giết một hay hai người. Trong suốt năm mươi lăm năm, gã hành nghề đao phủ công cộng.

Về già, gã không thể chặt đầu người một nhát, mà phải hai đến ba nhát, gây thêm đau đớn vô ích cho nạn nhân; vì thế dân chúng muốn kiếm người khác và cho gã nghỉ việc, tức về sau gã sẽ mất bốn bổng lộc là quần áo cũ, cháo sữa nấu từ bơ tươi, hoa nhài và dầu thơm để trang điểm. Do đó ngày bị bãi chức, gã ra lệnh nấu cháo sữa sẵn, rồi ra bờ sông tắm. Xong, gã mặc quần áo cũ, đeo vòng hoa nhài, xức dầu thơm vào tay chân, về nhà ngồi xuống thì cháo sữa đặt trước mặt với nước rửa tay.

Vào lúc đó Trưởng lão Xá Lợi Phất xả Thiền, nhìn trước lối sẽ đi khất thực, thấy cháo sữa trong nhà tên đao phủ cũ, Ngài biết rằng người đặc biệt này sẽ đối xử tử tế, do đó ông sẽ được phước báo lớn. Thấy Trưởng lão khoát y ôm bát đứng trước cửa nhà, ông sanh tâm hoan hỷ, và nghĩ đến biết bao mạng người chết dưới lưỡi đao của mình, ông phát tâm cúng dường. Ông cất tô cháo đặt trước mặt mình, bước ra đảnh lễ và mời Trưởng lão vào nhà ngồi, trút cháo vào bình bát, rưới mật tươi lên, và đứng quạt một bên. Ðã lâu không nếm cháo sữa, ông thèm ghê gớm. Trưởng lão đọc được ý ông bèn bảo ông hãy ăn đi. Ông đưa quạt cho người khác quạt Trưởng lão, còn ông thì ăn cháo. Trưởng lão bảo người quạt hãy qua quạt cho ông đao phủ cũ. Thế là có người quạt hầu, ông ăn một bữa cháo no bụng rồi lấy quạt lại, quạt cho Trưởng lão. Ngài thọ thực xong, ông đỡ lấy bình bát, và Trưởng lão bắt đầu hồi hướng công đức. Nhưng ông chẳng thể để tâm nghe được, vì lâu nay làm việc tàn bạo giết hại nhiều người, giờ đây nhớ lại tâm trí quá rối loạn, ông không chú tâm được. Do đó Trưởng lão tìm lời khéo để giúp ông:

- Ông làm việc tự ý mình hay theo lệnh người khác?

- Vua sai con làm, bạch Tôn giả.

- Nếu thế, ông đâu có lỗi gì, Cư sĩ.

Ông hoang mang, vì theo lời Trưởng lão ông không có lỗi gì. Ông xin Trưởng lão nói tiếp bài hồi hướng. Tâm ông trở nên tĩnh lặng, nhẫn lực được khai mở ông tiến đến quả Dự lưu.

Trưởng lão ra về, ông tiễn Ngài một đoạn đường. Trên đường về ông bị quỷ Dạ xoa dưới lốt con bò cái húc chết. Ông tái sanh vào cõi trời Ðâu Suất.

Các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường về tên đao phủ, và thắc mắc không biết ông ta sanh về đâu. Phật đến, nghe thấy liền dạy:

- Các Tỳ kheo! Ông ta sanh lên cõi trời Ðâu Suất. Ông ta đã được đại thiện tri thức thuyết pháp cho, nhờ đó ông mở mang tri kiến, nên được sanh thiên.

Xong, Phật nói kệ:

Người đao phủ trong thành,

Nghe những lời khéo nói,

Ðược nhẫn và sau đó,

Lên cõi trời hưởng vui.

Các Tỳ kheo vẫn còn ngạc nhiên, hỏi tiếp:

- Bạch Thế Tôn, trong lời hồi hướng thật ra đâu có năng lực gì ghê gớm. Vả lại, người này đã lầm lỗi rất nhiều, làm sao ông ta chứng đạt với ít lời như thế?

Thế Tôn đáp:

- Các Tỳ kheo, đừng đo lường giáo pháp của Ta nhiều hay ít lời. Một câu đầy đủ đạo lý vẫn có công đức siêu việt.

Và Ngài nói Pháp Cú:

(100) Dầu nói năng ngàn lời,

Nhưng không gì lợi ích

Tốt hơn một câu nghĩa

Nghe xong, được tịnh lạc.

2. Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya Dàrucìriya

Dầu nói ngàn câu kệ...

Câu này Thế Tôn đã dạy khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Bàhiya Dàrucìriya.

Một nhóm người ra biển, không may thuyền bị thủng. Ai cũng làm mồi cho cá, trừ một người vớ được miếng ván, cố hết sức lội vào bờ, gần cảng Suppàraka. Mất hết y phục, ông quấn vỏ cây quanh mình, luôn cả nhánh non, và được một gia chủ cho một mảnh sành, ông đến cảng Suppàraka. Người ta cho ông súp, cháo và các món ăn khác. Họ tôn kính ông, cho đó là một vị A la hán. Nếu mặc vải tốt chắc không được danh lợi như thế, nên ông vẫn che thân với vỏ cây. Nhiều người thường chào mừng gọi ông là A la hán, nên ông nghĩ có lẽ mình thật là một trong những A la hán trên thế gian này, hay ít ra cũng đang thú hướng đến quả vị A la hán. Ông đã làm động tâm một vị trời thời xưa là thân tộc của ông.

A. Ngoài Ðề - Chuyện Quá Khứ

Thân tộc này, tức là người đã hành Thiền với ông trong kiếp trước. Vào thời Phật Ca Diếp lúc đạo pháp suy vi, có bảy Tỳ kheo buồn tiếc về đức hạnh lui sụt của các tân Tỳ kheo, Sa di và những người khác, bảo nhau:

- Trong lúc giáo pháp còn, chúng ta hãy tự độ mình thật chắc chắn.

Rồi sau khi lễ đền vàng, họ vào rừng, gặp ngọn núi, họ tuyên bố ai còn đắm trước đời sống thế gian hãy trở lại, ai hết ràng buộc hãy lên núi. Họ đặt thang và mọi người đều lên núi, xong họ đá cho thang ngã xuống, và dốc sức Thiền định. Chỉ sau một đêm thôi, Trưởng lão dẫn đầu chứng A la hán.

Ðại Trưởng lão này nhai một cuống trầu ở hồ A Nậu Đạt, súc miệng và đem thức ăn lấy từ Bắc Câu Lô Châu đến nói với các Tỳ kheo kia:

- Chư huynh đệ! Hãy nhai cuống trầu này, súc miệng và dùng thức ăn này.

Nhưng họ từ chối, viện lý do chỉ dùng thức ăn do chính mình mang về sau khi đã chứng A la hán như Ðại Trưởng lão. Vào ngày thứ hai, Ðệ nhị Trưởng lão chứng Tam quả, và cũng đem thức ăn đến mời, nhưng họ từ chối, vì không lẽ đã khước từ thức ăn của Ðại Trưởng lão mà bây giờ nhận thức ăn của Ðệ nhị Trưởng lão.

Sau đó, Ðại Trưởng lão nhập Niết bàn, Ðệ nhị Trưởng lão sanh về cõi Phạm thiên, còn năm vị kia không khai mở được Minh sát tuệ, héo mòn dần, qua đời vào ngày thứ bảy và được sanh thiên. Ðến thời Phật hiện đời, họ sanh vào những gia đình khác nhau. Một người là vua Pukkusàtì, người là Kumàra Kassapa, người là Dàrucìriya, người khác là Dabba Malla, và một người là Tỳ kheo Sabhiya. "Vị thân quyến trước đây" ám chỉ vị Tỳ kheo đã sanh vào cõi Phạm thiên.

B. Ðoạn Kết Sự Chuyển Hóa Của Bàhiya Dàrucìraya

Vị Phạm thiên thấy bạn mình là Bàhiya đang theo tà kiến, có thể bị trầm luân rất nguy hiểm, nên tìm cách kích động ông ta:

- Này Bàhiya, anh không phải là A la hán, cũng chưa thú hướng đến quả vị A la hán, và con đường anh đang theo cũng không đưa đến quả vị A la hán.

Bàhiya rất hoang mang không biết mình ra sao, liền hỏi:

- Thiên nhân! Có lẽ có A la hán hay những vị thú hướng A la hán trên thế gian hiện nay?

- Bàhiya, hướng bắc có một thành tên Xá Vệ, có đức Thế Tôn, bậc A la hán của những A la hán, bậc Chánh Ðẳng Giác đang thuyết pháp đưa đến quả vị A la hán.

Lúc đó đang đêm, tâm tư Bàhiya xao động mãnh liệt, ông tức tốc rời Suppàraka lên đường đi Xá Vệ suốt đêm, nuốt hết một trăm hai mươi dặm, nhờ thần lực của vị phạm thiên (có chỗ bảo của Phật). Bàhiya đến nơi thì Phật đã vào thành khất thực. Thọ thực xong, ông thấy các Tỳ kheo đi kinh thành ngoài trời liền hỏi thăm Thế Tôn. Biết ông đến từ rất xa, các Tỳ kheo khuyên ông ngồi xuống rửa chân, xức dầu và nghỉ ngơi, khi Thế Tôn trở về ông sẽ gặp Ngài. Ông không thể chờ đợi, toàn thân run lên, ông bảo các Tỳ kheo:

- Bạch Tôn giả! Tôi không biết khi nào Thế Tôn có thể qua đời, hay tôi sẽ qua đời. Tôi vừa vượt qua một đoạn đường dài một trăm hai mươi dặm chỉ trong một đêm, không dừng lại cũng không dám ngồi xuống nghỉ bất kỳ ở đâu. Ngay khi gặp Thế Tôn tôi sẽ nghỉ ngơi.

Ông vào Xá Vệ gặp Thế Tôn đang khất thực, dáng dấp vô cùng trang nghiêm của một vị Phật. Bao lâu nay, bây giờ ông mới gặp được Ngài Cồ Đàm, đấng Toàn Giác. Và tại chỗ ông vừa mới thấy Phật, ông cung kính cúi mình tiến đến gần Phật và đảnh lễ Ngài ở giữa đường, ôm mắt cá chân Ngài và thưa:

- Xin đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, đấng An Lạc hãy thuyết pháp cho con, để con được lợi lạc lâu dài và được giải thoát an lạc.

Phật đuổi ông đi bảo:

- Ông đến phi thời, Bàhiya! Ta đang vào nhà người khất thực.

Bàhiya lòng vẫn nôn nóng thưa tiếp:

- Bạch Thế Tôn, trước đây con đã không chịu nhận thức ăn vật chất, và con đã mãi trôi lăn mãi trong vòng luân hồi. Con không biết khi nào Thế Tôn hay con sẽ qua đời, xin thuyết pháp cho con.

Lần thứ hai, Thế Tôn từ chối. (Thấy được Phật ông quá vui mừng, và tâm còn kích động, ngoài ra thân cũng còn mệt, do đó nếu có giảng pháp, Phật chắc ông sẽ khó lĩnh hội). Lần thứ ba, Thế Tôn vẫn đứng ở giữa đường, dạy:

- Vậy thì, Bàhiya, ông phải học thế này: "Trong cái thấy chỉ có cái bị thấy, trong cái nghe chỉ có cái bị nghe, trong cái nghĩ chỉ có cái bị nghĩ, trong cái hiểu chỉ có cái bị hiểu". Vì vậy, này Bàhiya, ông phải học như vầy: "Trong cái thấy chỉ có cái bị thấy, trong cái nghe chỉ có cái bị nghe, trong cái nghĩ chỉ có cái bị nghĩ, trong cái hiểu chỉ có cái bị hiểu"; do đó, này Bàhiya, ông không ở đây. Này Bàhiya, vì ông không ở đây, do đó ông không ở đời này, cũng chẳng ở đời sau, không ở cả hai đời. Chỉ có thế mới chấm dứt đau khổ.

Ngay khi Bàhiya nghe xong bài pháp, ông dứt trừ lậu hoặc, chứng A la hán cùng các thần thông. Liền đó ông xin Phật được nhận vào Tăng đoàn. Phật hỏi ông có y bát chưa, ông đáp chưa có. Phật bảo hãy tự tìm lấy, rồi Ngài quay đi.

Trong hai mươi ngàn năm hành Thiền, Bàhiya chưa hề cúng dường y bát cho một Tỳ kheo nào, trái lại ông thường nói một Tỳ kheo phải tự lo lấy vật dụng cho mình, kể cả thức ăn, không nên nhờ ai khác. Thế Tôn biết thế, và cũng biết vì thế ông sẽ không nhận được y bát từ thần lực, do đó Ngài không nhận ông vào Tăng đoàn với câu: "Hãy đến, Tỳ kheo" như thường lệ.

Bàhiya đang đi tìm y bát thì quỷ Dạ xoa dưới lốt con bò cái đến húc ông chết. Khất thực xong, Thế Tôn với chúng Tăng đến nơi thấy xác ông nằm sóng soài trên đống rác. Ngài liền bảo các Tỳ kheo lấy cáng đang dựng tại cửa nhà nọ, khiêng xác ra khỏi thành, thiêu và đắp đất chôn. Làm xong họ về Tinh xá thưa lại với Phật và hỏi về đời sau của ông. Phật cho biết ông đã nhập Niết bàn, và trong các đệ tử Cư sĩ và xuất gia, Bàhiya là đệ nhất về học tập Phật pháp mau chóng. Các Tỳ kheo hỏi tiếp:

- Bạch Thế Tôn, Bàhiya đã chứng A la hán khi nào?

- Các Tỳ kheo, chính là vào lúc nghe Ta thuyết pháp.

- Nhưng bạch Thế Tôn, Ngài thuyết pháp cho ông ta lúc nào?

- Khi Ta đang đi khất thực, đứng ở giữa đường.

- Một bài pháp quá ngắn ở giữa đường như thế, Bạch Thế Tôn, ông ta khai mở được Minh sát tuệ với ít lời như thế sao?

- Các Tỳ kheo! Chớ đo lường pháp của ta là ít là nhiều. Nói ngàn câu kệ không hiệu quả, cũng không bằng chỉ một câu đầy đủ đạo lý.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(101) Dầu nói ngàn câu kệ,

Nhưng không gì lợi ích,

Tốt hơn nói một câu,

Nghe xong, được tịnh lạc.

3. Cô Gái Lấy Tên Cướp

Dầu nói trăm câu kệ...

Phật dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến Kundalakesì.

Một thương gia giàu có tại Vương Xá, có duy nhất một cô con gái mười sáu tuổi tuyệt đẹp và khả ái. Cha mẹ cho cô ở trên tầng chót tòa lâu đài bảy tầng, trong một phòng lộng lẫy, với một nàng hầu.

Một hôm, một chàng trai gia thế bị bắt vì tội trộm. Người ta trói tréo tay anh ra sau lưng, dẫn ra pháp trường, và tại ngã tư họ hành hạ anh với biết bao lời mắng nhiếc. Con gái thương gia nghe đám đông la hét, chạy ra ngoài nhìn xuống thấy tên trộm bỗng đem lòng yêu thương, tương tư đến nỗi bỏ ăn nằm liệt giường. Mẹ cô hỏi thăm, biết chuyện nên khuyên con gái đừng dại dột như thế, bà sẽ tìm người môn đăng hộ đối gả chồng cho cô. Nhưng cô không chịu, thề chết nếu không lấy được tên trộm này. Bà bèn kể cho chồng nghe, nhưng ông cha cũng không dỗ dành con gái được, túng thế đem một ngàn đồng tới quan lo lót để chuộc mạng tên trộm. Quan nhận tiền thả hắn ra, giết người khác rồi tâu lên vua tên trộm đã bị xử tử.

Thương gia gả con gái cho tên trộm. Cô dâu mới muốn chiếm trọn vẹn tình cảm của đức lang quân nên chìu chuộng hết sức, trang điểm đẹp đẽ, nấu nướng ngon lành. Tuy thế tên trộm vẫn nuôi ý đồ bất lương: giết vợ lấy châu báu, vào quán nhậu. Anh cho đó là diệu kế duy nhất, nên lên giường nằm bỏ ăn. Cô vợ hốt hoảng hỏi thăm chồng:

- Anh đau làm sao?

- Không sao, em ạ.

- Hay cha mẹ làm anh phiền?

- Không đâu, em ạ.

- Vậy thì chuyện gì?

- Em ạ! Ngày tôi bị trói dẫn đi tôi đã nguyện dâng một phẩm vật lên vị thần ở trên "Bờ Vực Của Kẻ Trộm" xin cứu mạng. Và nhờ thần lực của Ngài mà tôi được cưới em làm vợ. Tôi bối rối không biết làm sao giữ trọn lời thề này.

- Xin anh đừng lo. Em sẽ lo phẩm vật, anh cần gì?

- Cháo ngon, nêm với mật, và năm loại hoa trong đó phải có hoa làja.

- Vâng, em sẽ lo đủ.

Rồi để thân quyến ở nhà, hai vợ chồng cùng đám gia nhân lên đường vui vẻ, tươi cười với cả gia tài quí báu trên mình cô vợ, đúng như ý ông chồng. Ðến chân núi tên trộm cho đám tùy tùng ở lại, bảo vợ mang phẩm vật, rồi anh nắm tay trèo lên đỉnh núi "Vực Kẻ Trộm" (bên này có thể trèo lên nhưng bên kia là vách đá dốc ngược, bọn trộm từ đỉnh bị xô xuống vực nát thây trước khi đến đáy, nên có tên như thế).

Ðứng trên đỉnh núi, cô bảo chồng dâng lễ vật. Tên trộm lặng thinh. Cô lại hỏi tại sao hắn không nói. Cuối cùng hắn phải thú thật là gạt cô lên đây để giết cô lấy châu báu. Khủng khiếp vì sợ chết, cô năn nỉ hắn tha mạng:

- Cả châu báu và thân em đây đều không thuộc anh hay sao? Anh được lợi gì mà phải giết em? Hãy tha chết cho em. Kể từ đây xin coi em như mẹ của anh, hay cho em làm kẻ hầu hạ cũng được.

Rồi cô đọc bài kệ:

Hãy lấy vòng vàng này,

Ðược gắn những ngọc quí.

Lấy hết và tự nhiên,

Xem tôi như tỳ nữ.

Tên trộm vẫn không chịu, vì sợ cô ta về sẽ kể lại hết với cha mẹ. Hắn cũng đáp bằng kệ:

Ðừng than vãn quá nhiều,

Gói của cải mau lên!

Mi không còn sống thêm,

Của cải mi ta lấy!

Cô thấy rõ hắn tàn bạo quá mức, nghĩ rằng Trí tuệ không phải dùng để nấu lên ăn, mà để giúp người ta có thể tính toán trước hành động của mình. Vì vậy cô tìm cách đối phó với hắn. Cô bảo nhờ cô mà hắn được cứu mạng, nên xin hắn cho cô là ân nhân của hắn, được đảnh lễ hắn. Rồi cô đi nhiễu quanh hắn ba vòng, rồi để hắn đứng ở vị trí bên phải của cô, đảnh lễ hắn bốn phía, xong kể lể:

- Ðây là lần cuối cùng em trông thấy anh, và từ đây anh cũng không còn thấy em nữa!

Cô ôm hôn hắn trước mặt rồi ôm từ sau lưng, và từ phía sau nhắm lúc hắn quên đề phòng đứng ngay miệng vực, một tay cô đẩy trên vai hắn, tay kia đẩy ngang thắt lưng, cô xô hắn xuống vực, tan xương nát thịt trước khi tới đáy. Vị thần tại đó hoan hô cô với bài kệ:

Trí tuệ không phải luôn luôn,

Chỉ dành cho bọn đàn ông.

Ðàn bà đôi khi cũng vậy,

Tỏ ra khôn khéo vô cùng.

Nếu về nhà, cha mẹ hỏi, chẳng lẽ không khai thật, miệng lưỡi hai người chắc chắn không tha ta: "Ðã tốn một ngàn đồng chuộc mạng tên vô lại, sao mi lại giết hắn?” Và nếu ta nói thật lý do vì hắn muốn giết ta trước, chưa chắc hai người đã tin. Gia đình ôi sao chán quá!" Nghĩ như thế cô ném hết châu báu, vào rừng đến chỗ ẩn dật của các nữ tu, chào cung kính xin được vào Ni chúng.

Thành ni cô, và sau khi được giải thích hai lối tu: Thiền quán trên mười đề mục hoặc tụng niệm một ngàn tín pháp, cô chọn cách thứ hai. Thấy cô thuần thục, chư ni bảo cô đi khắp vùng Diêm phù đề tìm thiện hữu tri thức có thể đối pháp được với cô. Ðặt một nhánh đào trong tay cô, họ dặn dò:

- Ði đi, đạo hữu! Gặp Cư sĩ đối đáp được chị hãy xin hầu hạ; gặp Tỳ kheo đối đáp được, chị hãy xin gia nhập Tăng đoàn.

Mang tên Ni cô Hồng Táo, cô du hành mọi nơi, đặt câu hỏi với bất cứ ai gặp được, không ai đối đáp lại. Cô nổi danh đến nỗi nghe tin cô đến, người ta bỏ chạy hết. Trước khi vào thành hay vào làng khất thực, cô gom một đống cát trước cổng chánh, trồng nhánh đào lên và thách thức ai đối đáp được hãy giẫm lên nhánh đào này. Không ai dám qua chỗ ấy, nhánh cây này héo, cô tìm nhánh khác tươi hơn, cứ du hành như thế, cô đến Xá Vệ. Trẻ con xúm quanh nhánh cây cô đã trồng như thường lệ xem việc gì đã xảy ra, vừa đúng lúc Trưởng lão Xá Lợi Phất thọ thực xong bước ra khỏi thành. Ngài ngạc nhiên hỏi lũ trẻ, biết chuyện, Ngài bảo chúng hãy giẫm lên nhánh cây. Ban đầu chúng sợ không dám; nhưng được Trưởng lão bảo đảm sẽ trả lời câu hỏi, chúng nhào lên nhánh cây hò hét, đá sụp đống cát.

Ði khất thực xong trở về, thấy thế cô trách mắng lũ trẻ:

- Ta không định đối đáp với chúng mày, sao chúng mày phá phách như thế?

Chúng đáp là làm theo lời Trưởng lão. Ðược Ngài xác nhận, cô xin vấn đáp và cũng được Ngài nhận lời.

Chiều xuống, cô đến chỗ Trưởng lão đặt câu hỏi. Cả thành xôn xao muốn đi nghe. Họ cùng đi với cô, cúi chào Trưởng lão và cung kính ngồi một bên. Cô hỏi Ngài một ngàn đề mục về tín pháp, Ngài trả lời đúng hết. Và Ngài hỏi lại:

- Cô chỉ hỏi có bấy nhiêu thôi à? Còn câu nào khác không?

- Dạ đã hết, thưa Tôn giả!

- Cô đã hỏi tôi nhiều câu, bây giờ tôi hỏi lại cô một câu thôi!

- Xin Tôn giả cứ hỏi.

- Cái gì là Một?

Cô rất muốn trả lời nhưng không trả lời được, bèn hỏi lại Tôn giả. Ngài đáp:

- Ðó là câu hỏi của Phật.

- Vậy xin nói cho con biết, thưa Tôn giả.

- Nếu cô vào Tăng đoàn, ta sẽ cho biết câu trả lời.

Cô bằng lòng xin nhập vào Tăng đoàn, Trưởng lão nhắn ni chúng lo mọi việc. Sau khi làm đầy đủ bổn phận, cô được đặt tên là Kundalakesì, và chỉ vài ngày chứng A la hán cùng các thần thông.

Trong Pháp đường các Tỳ kheo bàn tán về chuyện của cô, cho rằng cô chỉ nghe chút ít pháp rồi được nhận vào Tăng đoàn, hơn nữa cô đã đến đây sau khi chiến đấu dữ dội với một tên trộm và đánh bại hắn. Phật đi đến nghe được, bèn bảo:

- Các Tỳ kheo, đừng đo lường giáo pháp ta nói là ít hay nhiều. Với một trăm câu vô nghĩa thì chẳng có công đức gì so với một câu có đạo lý. Chiến thắng nhiều tên trộm chẳng đáng gì so với chiến thắng tên trộm Dục lạc của chính mình. Ðó mới thực sự là chiến thắng.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(102) Dầu nói trăm câu kệ,

Nhưng không gì lợi ích.

Tốt hơn một câu pháp,

Nghe xong, được tịnh lạc.

(103) Dầu tại bãi chiến trường,

Thắng ngàn ngàn quân dịch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.

4. Ðược Và Mất

Tự thắng tốt đẹp hơn...

Câu này Phật dạy khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến một Bà la môn đã hỏi về được và mất. Một Bà la môn, thắc mắc chắc là Thế Tôn chỉ biết có được chứ không biết mất. Và ông ta đi hỏi Phật, được Phật trả lời:

- Bà la môn! Ta biết cả hai được và mất.

- Vậy thì xin Ngài nói cho con về mất.

Phật nói kệ sau:

Những thứ không ích lợi

Gồm: thứ nhất, ngủ muộn,

Biếng lười chiếm thứ hai,

Thứ ba, ánh trăng soi,

Thứ tư giàu sang mãi,

Thứ năm, hay đi lại,

Sáu, vụng trộm vợ người.

Chạy theo những việc ấy,

Hỡi này, Bà la môn,

Ngươi sẽ được những thứ,

Không ích lợi cho mình.

Bà la môn nghe xong ca ngợi Thế Tôn:

- Hay thay! hay thay! Ðấng Ðạo sư của mọi người! Bậc lãnh đạo của mọi người! Ngài thật biết cả hai được và mất.

- Thật thế Bà la môn! Không ai biết rành hơn ta về mất.

Rồi Thế Tôn xét xem làm cách nào chuyển hóa được ông Bà la môn, Ngài hỏi:

- Bà la môn, ông sống bằng nghề gì?

- Bằng nghề cờ bạc, Ngài Cồ Đàm ạ.

- Thế ai được, ông hay người kia?

- Khi thì con, khi thì người kia.

- Bà la môn, chiến thắng kẻ khác là một việc tầm thường, chiến thắng như thế đâu có lợi lạc gì. Nhưng người nào thắng lướt Dục lạc và tự thắng mình, thì chiến thắng như thế lợi lạc hơn, không ai có thể đánh bại mình.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(104) Tự thắng, tốt đẹp hơn,

Hơn chiến thắng người khác.

Người khéo điều phục mình,

Thường sống tự chế ngự.

(105) Dầu thiên thần, Thát bà,

Dầu Ma vương, Phạm thiên,

Không ai chiến thắng nổi,

Người tự thắng như vậy.

5. Chú Của Xá Lợi Phất

Tháng tháng bỏ ngàn vàng...

Thế Tôn dạy câu này khi ngụ tại Trúc Lâm, liên quan đến chú của Xá Lợi Phất.

Một hôm Trưởng lão Xá Lợi Phất đến thăm chú, Ngài hỏi:

- Bà la môn, ông có bao giờ làm việc thiện chưa?

Ông chú đáp:

- Dạ có, thưa Tôn giả! Mỗi tháng tôi cúng một ngàn đồng.

- Cho ai vậy?

- Các đạo sĩ lõa thể, thưa Tôn giả.

- Ðể mong được gì?

- Ðể lên cõi Phạm thiên.

- Ai bảo ông thế?

- Các đạo sĩ, các Thầy tôi.

- Này Bà la môn, cả ông và Thầy ông đều không biết con đường đưa đến cõi Phạm thiên. Chỉ có Phật mới biết con đường đó. Hãy đi với tôi, tôi sẽ thỉnh Phật chỉ cho ông.

Và Trưởng lão dẫn chú đến gặp Phật. Thưa thỉnh xong được Phật dạy:

- Bà la môn, dù ông bố thí như thế này trong một trăm năm cũng không bằng phước báo của một người có lòng tin, dù trong giây lát biết tôn trọng đệ tử của Ta, hay cúng dường đệ tử Ta dù chỉ một muỗng cơm.

Và Phật nói Pháp Cú:

(106) Tháng tháng bỏ ngàn vàng,

Tế tự cả trăm năm,

Chẳng bằng trong giây lát,

Cúng dường bậc tự tu.

Cúng dường vậy tốt hơn,

Cả trăm năm tế tự.

6. Cháu Của Xá Lợi Phất

Dầu trải một trăm năm...

Khi ngụ tại Trúc Lâm, Phật đã dạy câu trên vì chuyện cháu của Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Trưởng lão cũng đến người cháu hỏi thăm có từng làm việc thiện không. Hằng tháng anh ta giết một con thú để tế lửa, vì tin rằng sẽ được lên cõi Phạm thiên như Thầy anh ta bảo. Trưởng lão cũng khuyên anh đến gặp và thỉnh Phật dạy cho. Phật thuyết như sau:

- Bà la môn, dù ông thờ lửa một trăm năm như thế, công đức cũng chưa bằng giá trị lễ kính đệ tử Ta trong một khoảnh khắc.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(107) Dầu trải một trăm năm,

Thờ lửa tại rừng sâu,

Chẳng bằng trong giây lát,

Cúng dường bậc tự tu.

Cúng dường vậy tốt hơn,

Hơn trăm năm tế tự.

7. Bạn Của Xá Lợi Phất

Suốt năm, cúng tế vật...

Ðó là câu Phật dạy tại Trúc Lâm, liên quan đến bạn của Trưởng lão Xá Lợi Phất.

Trưởng lão cũng đến hỏi bạn mình như đối với chú và cháu của mình trước đây. Việc thiện của anh bạn từng làm là mổ vật tế lễ để được sanh thiên. Ngài cũng khuyên và dẫn bạn đến gặp Phật, thưa thỉnh và được chỉ dạy như sau:

- Bà la môn, dù ông có dâng tế vật một năm, cũng không công đức bằng một phần tư công đức của một thiện tín bố thí cho dân chúng, hay người biết tôn kính đệ tử Ta.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(108) Suốt năm cúng tế vật,

Ðể cầu phước ở đời,

Không bằng một phần tư,

Kính lễ bậc chánh trực.

8. Chàng Trai Tăng Tuổi Thọ

Thường tôn trọng, kính lễ...

Phật dạy câu này khi ngụ tại Arannakutikà gần Dìghalambika, liên quan đến chàng trai Dighàyu.

Có hai Bà la môn sống ở thành Dìghalambika, tu theo ngoại đạo và khổ hạnh suốt bốn mươi tám năm. Một người sợ giòng giống bị diệt vong nên hoàn tục. Ông bán công đức của mình cho người khác, và với một trăm trâu bò, một trăm đồng, cưới vợ sống đời gia chủ. Chẳng bao lâu ông được mụn con trai. Tu sĩ kia, bạn cũ của ông, đi nơi khác, một hôm trở về thăm. Họ chào mừng lẫn nhau. Tu sĩ chúc cả hai vợ chồng sống lâu, nhưng khi đứa bé được trình diện thì Tu sĩ lặng thinh. Ông cha thắc mắc và được Tu sĩ giải thích có một tai họa đang chờ đứa bé, và nó sẽ chết trong bảy ngày. Cả hai ông bà hoảng hốt không biết tính sao. Tu sĩ khuyên nên đến cầu cứu với Sa môn Cồ Đàm. Họ ngần ngừ vì sợ mang tiếng bỏ những ẩn sĩ của mình, nhưng lòng thương con mãnh liệt khiến họ rồi cũng đến Thế Tôn. Họ đến chào Thế Tôn, được Phật chúc sống lâu, nhưng đến phiên đứa bé Phật cũng lặng thinh, cùng lý do như Tu sĩ đã nói. Ông cha thỉnh cầu Phật ngăn đừng cho tai họa cướp mất đứa bé. Phật dạy:

- Nếu ông dựng trước cửa nhà một cái lều, đặt một ghế ở giữa, sắp tám hay mười sáu chỗ ngồi vòng quanh cho đệ tử của Ta; và nếu ông cho tụng những bài kinh cầu an và ngăn ngừa tai họa suốt bảy ngày liên tục, thì con ông sẽ tránh được hiểm họa.

Bà la môn làm đúng theo lời Phật, và các Tỳ kheo đã đọc tụng đúng bảy ngày đêm liên tiếp. Ðến ngày thứ bảy Thế Tôn đến, chư thiên các cõi cũng tụ hội. Có một quỷ Dạ xoa phụng sự cho Vessavana tên là Avarudhaka suốt mười hai năm, được ân huệ là bảy ngày nữa sẽ nhận được đứa bé, đi đến đứng đợi. Nhưng có mặt Thế Tôn và thiên thần đầy quyền lực, các vị khác yếu hơn đều phải thối lui mười hai dặm nhường chỗ, cả Avarudhaka cũng thế.

Phật đọc kinh cầu an suốt đêm, kết quả sau bảy ngày Dạ xoa không bắt được đứa bé. Bình minh ngày thứ tám, đứa bé được đặt trước Thế Tôn và được chúc sống lâu, đến một trăm hai mươi tuổi theo lời Phật, do đó có tên là "Chàng trai Tăng tuổi thọ" Ayuvaddhana. Lớn lên chú có năm trăm đệ tử Cư sĩ đi theo.

Một hôm các Tỳ kheo thảo luận trong Pháp đường về Ayuvaddhana, và không hiểu tại sao mạng sống của chúng sanh được gia tăng ở thế gian này. Phật nghe được liền bảo:

- Các Tỳ kheo! Không phải chỉ có tuổi thọ mà thôi. Ở thế gian này chúng sanh biết tôn kính và lễ trọng những vị đạo đức, sẽ được tăng trưởng bốn pháp, thoát khỏi nguy hiểm và sống an toàn suốt đời.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(109) Thường tôn trọng, kính lễ,

Bậc kỳ lão trưởng thượng,

Bốn pháp được tăng trưởng,

Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.

9. Sa Di Samkicca

Dầu sống một trăm năm...

Do chuyện Sa di Samkicca, Thế Tôn đã dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên.

Có ba mươi vị vọng tộc sống ở Xá Vệ nghe Phật thuyết pháp, quy phục và đi tu. Sau năm năm làm tròn bổn phận, họ đến gặp Phật nghe dạy về pháp học và pháp Thiền. Vì lớn tuổi mới xuất gia, họ không thể theo nổi pháp học, mà muốn tu tập Thiền quán, và được Phật giao đề mục Thiền quán hướng đến quả vị A la hán, họ xin vào rừng ẩn tu. Phật biết trước họ sẽ bị nguy hiểm vì một người ăn thịt vụng, nhưng nếu có Sa di Samkicca đi theo thì sẽ được an ổn, và đạt đến cứu cánh của đời tu.

Samkicca là Sa di của Trưởng lão Xá Lợi Phất chỉ mới bảy tuổi. Mẹ chú thuộc gia đình giàu có ở Xá Vệ. Khi mang thai chú, bà lâm bệnh chết đột ngột. Từ giàn hỏa toàn thân bà cháy hết, còn đứa bé chưa sinh không cháy. Nhưng khi dùng cây khiêng đứa bé ra khỏi giàn hỏa, chú bé bị các cây đó đâm vào thịt hai ba chỗ, một mũi đâm trúng vào con ngươi chú, rồi chú lại bị ném vào đống than, thịt chú cháy hết. Nhưng trên đống than đó lại xuất hiện một chú bé như một tượng vàng đang ngồi trên đài sen. Ðây là kiếp cuối của chú trước khi chứng Niết bàn, và vì chưa thành tựu quả vị A la hán nên không gì có thể hoại diệt chú, ngay cả núi Tu di rơi xuống.

Ngày kế, họ đến dập tắt lửa, ngạc nhiên thấy chú còn sống. Họ đem chú về làng thỉnh ý Thầy bói; và biết được nếu chú sống đời gia chủ, thân quyến sẽ không nghèo suốt bảy đời, nếu đi tu sẽ có năm trăm người tùy tùng. Vì mắt bị gậy (Samku) đâm, họ đặt tên chú là Samkicca.

Lên bảy tuổi, chú nghe bè bạn nói về thân thế của mình, hỏi lại bà con quả đúng như thế, chú quyết định đi tu. Bà con cũng đã có ý đó khi nghe lời Thầy bói, nên hoan hỷ dẫn chú đến giao cho Trưởng lão Xá Lợi Phất xin nhận chú vào Tăng đoàn. Trưởng lão ưng thuận và dạy chú Thiền quán trên năm yếu tố đầu tiên của thân. Ngay lúc dao cạo vừa chạm tóc, chú chứng A la hán. Ðó là chuyện Sa di Samkicca.

Do đó khi ba mươi vị vọng tộc xin vào rừng, Phật bảo hãy đến gặp Trưởng lão Xá Lợi Phất. Suy xét sự việc. Ngài hiểu ý Phật nên bảo họ để Sa di Samkicca đi theo. Ban đầu họ từ chối vì nghĩ rằng không cần đến đứa bé bảy tuổi, nhưng được Trưởng lão giải thích chính họ mới là chướng ngại của Sa di và đó là ý của Phật, họ bằng lòng.

Ba mươi mốt người từ giã Trưởng lão rời Tinh xá. Họ du hành từ nơi này đến nơi khác và sau một trăm hai mươi dặm đường họ đến một làng có ngàn gia đình cư trú. Dân cư thấy họ hoan hỷ, hết lòng phục vụ những thứ cần dùng. Ðược biết họ đi tìm nơi thích hợp để tu, dân chúng quỳ lạy dưới chân xin họ ở lại đây hết mùa mưa, họ sẽ giữ năm giới và làm tròn bổn phận ngày chay. Ðược nhận lời, dân chúng sửa soạn chỗ ở ban ngày và ban đêm, lối đi có mái che và lều cỏ. Họ chia bổn phận hàng ngày cho nhiều nhóm. Ai cũng làm phần mình không quá sức, tận tình phục vụ những thứ cần dùng.

Ðầu mùa mưa các Trưởng lão thỏa thuận như sau:

- Chư huynh đệ! Chúng ta đã nhận đề mục Thiền quán từ Ðức Phật và muốn nhận được ân huệ của chư Phật không làm gì khác hơn là tinh tấn tu tập. Cửa khổ não vẫn đang mở rộng trước mặt; do đó chỉ trừ sáng sớm đi khất thực, buổi tối hầu hạ Ðại Trưởng lão, các giờ khác không được tụ họp từ hai người trở lên. Ai có đau ốm, hãy đánh chuông, chúng ta sẽ đến lo thuốc men. Từ bây giờ trở đi bất luận ngày đêm, chúng ta hãy chú tâm chuyên cần vào đề mục Thiền quán.

Rồi mọi người trở về chỗ của mình.

Lúc đó có một người nghèo sống nhờ vào đứa cháu gái, nhưng nó hất hủi nên ông phải đi tìm đứa cháu khác nương náu. Ông đến chỗ các Tỳ kheo đang ngồi trên bãi cát thọ thực sau khi khất thực trong làng về và kính cẩn đứng một bên. Các Tỳ kheo hỏi thăm, thương hại ông và chia phần cơm trộn với xúp và cà ri trên một chiếc lá. (Ðúng theo luật là khi có người đến vào giờ cơm, nếu không có món ngon nhất thì chia món đang ăn dù ít nhiều cũng được). Ăn xong ông hỏi thăm và khi biết các Tỳ kheo không nhận lời mời ăn của ai cả mà đi khất thực hàng ngày trong khi ông phải làm quần quật cả ngày mà chưa bao giờ được ăn như thế, do đó ông có ý định đi theo các Tỳ kheo hầu hạ.

Hai tháng trôi qua, vì tận tụy làm việc, ông được cảm tình của các Tỳ kheo. Muốn thăm cháu, nhưng sợ các Tỳ kheo không cho, ông bỏ trốn.

Ông đến một khu rừng có năm trăm tên cướp đã sống ở đó. Chúng cầu nguyện với thần sống ở đó, nếu có ai vào trong rừng sẽ giết để tế thần. Và chúng gặp ngay ông lão, vây bắt, trói lại thật chặt rồi chất củi, đốt lửa, vót cọc gỗ nhọn. Ông lão ngạc nhiên hỏi, hóa ra chúng chuẩn bị làm thịt ông để tế thần. Sợ chết khủng khiếp, ông quên hết lòng tốt của các Tỳ kheo đối với ông mà chỉ làm mọi cách để cứu mạng mình. Do đó ông chỉ cho bọn cướp chỗ ở của ba mươi mốt Tỳ kheo để chúng bắt làm vật tế thần, chắc chắn thần sẽ vui mừng hơn. Còn ông thì già cả, chỉ ăn đồ thừa. Bọn cướp nghe ông nói có lý, bèn bảo ông dẫn đường đến Tinh xá. Ðến nơi chẳng thấy ai, ông lão bảo thủ lãnh đánh chuông, thế là các Tỳ kheo tụ đến và ngồi xuống ghế đá thẳng hàng đặt sẵn ở đó. Ðại Trưởng lão của hội chúng thấy bọn cướp liền hỏi ai đánh chuông và lý do gì. Chúng bảo cần một Tỳ kheo để tế thần. Ðại Trưởng lão lấy quyền huynh trưởng quyết định rằng ông sẽ đi nạp mạng, đừng để số phận của tất cả phải chết, hãy ở lại tu tập. Nhưng Ðệ nhị Trưởng lão cũng lên tiếng. Bổn phận của huynh trưởng người thứ hai phải gánh lấy, tức là tôi sẽ ra đi, những người ở lại phải chuyên tâm chánh niệm.

Cứ thế cả ba mươi Tỳ kheo xếp hàng đòi đi, dù không cùng cha cùng mẹ nhưng đã thoát khỏi mọi trói buộc nên ai cũng muốn hy sinh mình vì người khác.

Sa di Samkicca nghe các Tỳ kheo nói như thế cũng quyết định xin đi, nhưng các Tỳ kheo không cho vì sợ Trưởng lão Xá Lợi Phất trách cứ sao nỡ giao đệ tử của Ngài cho bọn cướp. Tuy thế Sa di vẫn nhất quyết bảo rằng chính vì lý do này mà Trưởng lão Thầy mình bảo đi theo các Tỳ kheo, và chú còn xin được tha thứ nếu có lầm lỗi điều chi. Rồi chú Sa di ra đi, các Tỳ kheo mắt đẫm lệ, lòng xốn xang. Ðại Trưởng lão bảo bọn cướp khi sửa soạn lửa, cọc nhọn, trải lá, đừng để cho chú thấy kẻo sợ. Bọn chúng mang chú Sa di đi, đến chỗ hành lễ. Khi mọi việc đã xong chú ngồi xuống, nhập định. Tên thủ lãnh vung kiếm chém xuống vai chú. Nhưng lưỡi kiếm cong làm hai, lưỡi chạm lưỡi. Tên cướp uốn thẳng lưỡi kiếm chém nhát nữa. Lần này lưỡi kiếm bị mẻ nứt từ cán đến mũi như một lá cỏ.

Tên thủ lãnh giật mình thấy sự kỳ diệu. "Thanh kiếm này trước đây chém trụ đá hay gốc keo như chém chồi non, nay bị cong và nứt. Một vật vô hình như thanh kiếm mà còn biết đức hạnh của thiếu niên này, huống hồ một người có lý trí là ta.” Nghĩ thế nên hắn quăng kiếm, phủ phục xuống chân Sa di thưa:

- Tôn giả! Chúng tôi đã ở trong rừng này, dù cả ngàn người mà thấy chúng tôi từ xa, ai cũng đều run rẩy, còn hai hay ba người thì chẳng dám thốt một lời. Nhưng Ngài chẳng mảy may run sợ. Khuôn mặt Ngài rạng ngời như vàng ròng trong lò hay đóa hoa Kanikàra nở to, vì sao thế?

Và hắn lặp lại câu hỏi bằng bài kệ:

Ngài không run, không sợ.

Hơn nữa, thật an tĩnh.

Tại sao Ngài không khóc,

Lúc khủng khiếp như vậy?

Sa di xuất định, thuyết pháp cho bọn cướp:

- Này thủ lãnh! Người nào thoát khỏi dục lậu thì xem cuộc đời như gánh nặng trên đầu, và nếu bị hoại diệt, chỉ có vui chứ không sợ.

Và chú nói kệ tiếp:

Này thủ lãnh!

Người thoát khỏi tham dục

Sẽ không còn khổ nữa.

Này, người chứng kiến!

Kẻ đã thoát buộc ràng,

Sẽ chẳng còn sợ chi.

Nhân luân hồi tử sanh,

Nếu đời này diệt được,

Chết không còn đáng sợ,

Như gánh nặng quẳng đi.

Tên thủ lãnh lắng nghe Sa di xong, nhìn năm trăm tên cướp hỏi chúng có ý định gì. Chúng hỏi lại hắn, hắn đáp:

- Ta quá ngạc nhiên về sự kỳ diệu này, và giờ đây không còn muốn sống đời gia đình nữa. Ta sẽ đi tu với Sa di.

Cả bọn nhao nhao lên đòi đi tu theo, và chúng cúi mình trước Sa di xin gia nhập Tăng đoàn. Dùng gươm, tên, chúng cạo đầu, cắt vạt áo, và nhuộm với đất nâu. Sa di bảo chúng khoác y vàng và truyền mười giới cho. Rồi Thầy trò ra đi đến các Trưởng lão để các Ngài yên tâm hành Thiền. Quả thế, trông thấy chú, các Ngài nhẹ nhõm chào mừng. Chú xin phép dẫn các tân Tu sĩ đến gặp Phật và Thầy của chú. Trưởng lão Xá Lợi Phất và cả Phật đều hỏi thăm năm trăm đệ tử của Sa di. Và Phật bảo họ:

- Này các Tỳ kheo, dù chỉ sống một ngày an trụ trong đức hạnh như các ông đang sống, còn hơn sống trăm năm đắm sâu trong tội ác cướp bóc.

Xong, Ngài đọc Pháp Cú:

(110) Dầu sống một trăm năm,

Ác giới, không Thiền định,

Tốt hơn sống một ngày,

Trì giới, tu Thiền định.

Sau thời gian làm tròn bổn phận, Sa di Samkicca thành Tỳ kheo. Ðược mười năm, chú độ con của người chị làm Sa di tên Atimuttaka. Ðến đúng tuổi chú Sa di được Trưởng lão Samkicca gởi về nhà hỏi lại cha mẹ tuổi chính xác. Trên đường đi chú bị năm trăm tên cướp bắt định tế thần. Chú thuyết pháp cải hóa chúng, và được chúng thả ra với điều kiện không được nói với ai về sự có mặt của chúng. Sa di giữ lời hứa, nên khi thấy cha mẹ đi ngược chiều về phía bọn cướp chú vẫn nín thinh. Cha mẹ chú bị ngược đãi trong tay bọn cướp, khóc lóc trách móc chú đã thông đồng với bọn cướp, nên không thông tin cho biết trước. Bọn cướp nghe được lời trách móc, biết chú bé đã giữ lời hứa, nên phát lòng tin, xin được gia nhập Tăng đoàn. Giống như Thầy của chú trước kia, chú thu nhận hết và dẫn đến Trưởng lão Samkicca rồi đến gặp Thế Tôn. Phật nghe chuyện bèn dạy câu Pháp Cú như trên (110).

10. Tỳ Kheo Và Kẻ Cướp

Ai sống một trăm năm...

Phật đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Khànu Kondanna.

Trưởng lão này nhận đề mục Thiền quán từ Thế Tôn, vào rừng ẩn tu và chứng A la hán. Muốn trình với Phật sở chứng của mình, Ngài rời rừng trở về. Ðường dài mệt mỏi, Ngài ngồi trên một tảng đá nhập định. Bấy giờ một bọn cướp năm trăm tên đang đánh phá một ngôi làng. Chiến lợi phẩm được gói trong nhiều bao tùy theo sức mỗi người. Và chúng đội lên đầu đi xa. Mệt quá chúng đến nghỉ tại một mỏm đá. Lầm tưởng Trưởng lão là cội cây, chúng đặt các bao quanh Ngài, có một bao kê ngay đỉnh đầu, rồi lăn xuống ngủ.

Hừng đông chúng thức dậy ôm bao bị lên, thấy Trưởng lão tưởng là ác thần nên vụt bỏ chạy. Trưởng lão vội kêu họ lại:

- Cư sĩ, đừng sợ. Tôi là Sa môn.

Họ đồng thanh thưa:

- Xin tha lỗi cho chúng con, Tôn giả. Chúng con lầm Ngài với một gốc cây.

Riêng tên chúa đảng lên tiếng đi tu theo Trưởng lão. Và cả bọn đều đồng lòng, y như chuyện Sa di Samkicca. Trưởng lão chấp thuận, và từ đó người ta gọi Ngài là kondanna Gốc Cây, Khànu Kondanna.

Ngài dẫn họ đến Thế Tôn, và được Phật dạy:

- Các Tỳ kheo, dù chỉ sống một ngày có tu tập trí quán còn hơn sống trăm năm tạo nghiệp điên cuồng như thế.

Xong Phật đọc Pháp Cú:

(111) Ai sống một trăm năm,

Ác tuệ, không Thiền định,

Tốt hơn sống một ngày,

Có tuệ, tu Thiền định.

11. Lưỡi Dao Cạo

Ai sống một trăm năm...

Tại Kỳ Viên, Phật đã dạy như thế, liên quan đến Trưởng lão Sappadàsa.

Tại Xá Vệ, một chàng trai gia thế nghe Phật thuyết pháp, đi tu và được nhận vào Tăng đoàn. Sau một thời gian bất mãn, chàng tìm cách tự sát vì nghĩ rằng thà chết hơn làm một Tu sĩ.

Một hôm, sáng sớm, các Tỳ kheo đến Tinh xá sau khi thọ thực, thấy một con rắn trong Pháp đường, nằm ở lò sưởi, liền bỏ vào bình, đậy lại mang ra ngoài Tinh xá. Tỳ kheo bất mãn thấy thế liền giành mang ném bình đựng rắn, cốt cho rắn cắn để chết. Ông đến một chỗ vắng ngồi xuống, thọc tay vào bình quậy tới quậy lui nhưng nó không cắn. Thậm chí ông mở miệng rắn, chọt ngón tay vào nó cũng không cắn, ông ném nó đi cho đó là rắn hiền, không phải là rắn độc. Và ông kể lại cho các Tỳ kheo ở nhà y như thế. Họ không chịu là rắn hiền vì nó phùng mang, rít lên, bắt nó phát mệt. Nhưng khi ông ta bảo là nó không chịu cắn dù làm mọi cách, họ im luôn.

Tỳ kheo bất mãn vốn là người hớt tóc cho cả Tinh xá. Một hôm ông đến Tinh xá cầm theo hai, ba dao cạo. Một để trên sàn, một cạo tóc. Lần đó ông nghĩ sẽ lấy dao cắt đứt họng tự tử. Rồi ông tựa cổ lên một cành cây, dí lưỡi dao vào khí quản. Trong tư thế đó, ông phản quán về thái độ cư xử của mình trong thời gian làm bổn phận của một Sa di, và nhận rằng hạnh kiểm của mình tốt đẹp như mặt trăng sáng trong hay châu ngọc chiếu sáng. Ông vui mừng khắp toàn thân. Nén vui, ông khai triển Minh sát tuệ và chứng A la hán cùng các thần thông. Ông buông dao cạo và trở vào Tinh xá. Gặp các Tỳ kheo khác hỏi chuyện, ông thưa thật, và kết luận thay vì cứa cổ với dao cạo, ông đã cứa bỏ tham dục với dao Trí tuệ. Các Tỳ kheo không tin, thưa chuyện với Thế Tôn. Phật nghe kể, bảo:

- Các Tỳ kheo! Người đã thoát khỏi tham dục thì không thể dứt mạng sống của chính mình.

Họ hỏi Phật tiếp:

- Bạch Thế Tôn! Ngài bảo người này đã trừ hết tham dục, tại sao đã có khả năng chứng A la hán mà còn bất mãn? Sao ông có đủ khả năng chứng quả? Sao ông không bị rắn cắn?

- Các Tỳ kheo! Chuyện đơn giản là con rắn đó là nô lệ của ông ta ở kiếp trước, nên không dám cắn chủ.

Và Ngài kể lại vắn tắt nguyên nhân. Do đó Tỳ kheo này có tên là Sappadàsa (Người có rắn làm nô lệ).

Chuyện quá khứ

A. Bất Mãn Và Tham Ðắm

Vào thời Phật Ca Diếp, một chàng trai thế phiệt nghe Phật thuyết pháp đi tu. Hết thời gian làm tròn bổn phận, ông bất mãn. Tỳ kheo bạn khuyên bảo và kể đời sống gia đình bất lợi như thế nào. Ông nghe theo và tiếp tục tu.

Một hôm, ngồi trên bờ hồ rửa pháp cụ bụi bám suốt thời gian ông bất mãn, ông nói với Tỳ kheo bạn định sẽ cho pháp cụ khi có ý định hoàn tục. Ông kia nghe thế nổi lòng tham nên giở giọng ta thán đời sống xuất gia: "Sống làm chi mà cầm bình bát ăn mày từ nhà này sang nhà khác, còn bị cấm chuyện trò với vợ con! Vả lại nếu anh bạn có ở lại hay ra khỏi Tăng đoàn thì cũng chẳng hề hấn ai!" Thế rồi ông này ca tụng thêm đời sống gia đình. Tỳ kheo trước đây bất mãn bây giờ trở lại bất mãn. Nhưng chợt nghĩ tại sao ông bạn mình trước đây ta thán đời sống gia đình, bây giờ lại ca tụng. Và ông cũng chợt hiểu là ông bạn thèm muốn pháp cụ của mình.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

- Như thế, này các Tỳ kheo! Một Tỳ kheo vì đã bất mãn thời Phật Ca Diếp nên bất mãn thời hiện tại, và vì Thiền định suốt hai mươi ngàn năm nên bây giờ đủ duyên lành chứng A la hán.

Các Tỳ kheo nghe xong, hỏi Phật tiếp một câu nữa:

- Bạch Thế Tôn, Tỳ kheo này bảo đã chứng A la hán ngay khi lưỡi dao chạm cổ họng. Có thể nào chứng quả thời gian ngắn như thế không?

Phật bảo:

- Ðúng vậy, các Tỳ kheo. Một Tỳ kheo phấn đấu hết sức mình có thể chứng quả khi nhấc chân lên, khi đặt chân xuống đất, hoặc cả ngay khi bàn chân chạm đất. Vì một người phấn đấu hết sức mình dù chỉ một khắc còn hơn là sống lười biếng cả trăm năm.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(112) Ai sống một trăm năm,

Lười nhác, không tinh tấn,

Tốt hơn sống một ngày,

Tinh tấn tận sức mình.

12. Patàcàrà Bị Mất Cả Gia Ðình

Ai sống một trăm năm...

Phật dạy như thế tại Kỳ Viên, do chuyện Tỳ kheo ni Patàcàrà.

Bà là con gái một gia đình giàu có ở Xá Vệ, gia sản lên đến bốn trăm triệu. Nhan sắc bà tuyệt đẹp, mười sáu tuổi được cha mẹ cho ở tầng chót tòa nhà bảy tầng, canh gác cẩn thận. Tuy vậy bà vẫn thông gian với gia đồng của mình. Cha mẹ đã hứa gả cho một chàng trai đồng giai cấp và ngày cưới gần kề, bà bảo tên gia đồng rằng hắn sẽ không bao giờ có được quà cáp để đến thăm bà ở bên chồng, do đó hắn hãy tìm cách mang bà đi khỏi nơi này, nếu thật sự thương yêu bà. Và họ đồng ý trốn đi. Ðến ngày hẹn, bà dậy sớm, ăn mặc dơ bẩn, tóc tai rối bù, còn bết thêm bụi đỏ vào mình, cầm bình đựng nước, giả bộ ra ngoài kiếm nước để đến chỗ hẹn. Rồi cả hai đi thật xa đến một làng nọ sinh sống. Chồng trồng trọt gom củi và lá trong rừng. Vợ xách nước, giã gạo, nấu ăn, làm việc nội trợ. Bà lãnh quả báo của tội lỗi mình.

Khi có mang, bà muốn về nhà cha mẹ sinh nở để được giúp đỡ nhưng anh chồng không chịu, sợ họ bắt tội và hành hạ mình. Bà đòi nhiều lần vẫn không được, nên khi chồng vào rừng bà gởi nhà cho hàng xóm rồi về nhà cha mẹ. Anh chồng trở về hay được, rượt theo bắt bà trở lại. Nhưng đến một nơi bà chuyển bụng sinh được một bé trai. Cả hai lại trở về nhà. Lần sau có mang, bà cũng bỏ về nhà cha mẹ như trước. Anh chồng tìm theo cũng bắt bà trở lại. Và trên đường về bất ngờ một cơn bão lớn thổi tới. Mưa như trút, sấm sét không ngừng. Ðúng lúc đó bà chuyển bụng. Anh chồng cầm rìu tìm cách che chòi cho bà lâm bồn. Thấy bụi cây trên ụ mối, anh ta vừa chặt xuống thì rắn độc trườn ra cắn chết, thân nóng như lửa, thịt tím ngắt.

Patàcàrà đau bụng dữ dội, chờ hoài không thấy chồng trở lại. Rồi bà sanh đứa thứ hai. Cả hai đứa không chịu nổi gió mưa, khóc thét lên. Bà chỉ có cách áp chúng vào ngực, úp mình xuống chịu trận như thế suốt đêm. Toàn thân như không còn chút máu, thịt như chiếc lá vàng úa.

Hừng đông hôm sau, bà lên đường, tay ôm đứa mới sinh đỏ hỏn trong lòng, tay kia đưa cho đứa lớn nắm. Ba mẹ con thất thểu đi theo đường anh chồng đã đi, và thấy anh nằm chết gần ụ mối. Bà than khóc ai oán rồi đi tiếp. Ðến bờ sông Aciravatì nước dâng cao, nhiều chỗ đến thắt lưng. Bà quá yếu không thể lội qua với hai đứa con. Ðể đứa lớn bên này, bà đem đứa nhỏ qua sông, bẻ một nhánh cây trải đặt nó lên, rồi quay trở lại. Vừa bơi vừa nhìn ngoái lại, đến giữa dòng thấy một con diều hâu sà xuống quắp đứa bé. Bà hốt hoảng xua tay hét lên: "Bay đi, bay đi!” Nhưng nó không nghe vì quá xa, và chộp đứa bé bay mất. Bên này đứa con lớn thấy mẹ quơ tay tưởng gọi mình, cũng bò xuống sông, bị nước cuốn mất. Chồng bị chết, con đứa thì bị chim tha, đứa thì nước cuốn, bà rên rỉ như thế và đi tiếp đến Xá Vệ. Gặp một người từ trong thành đi ra, bà hỏi thăm về gia đình mình. Ông kia biết nhưng hình như không muốn nói đến. Bà cứ hỏi riết buộc ông phải nói sự thật là gia đình đó cả nhà bị sập đè chết hết. Hàng xóm và thân nhân vừa thiêu họ xong, khói còn bốc lên trên giàn hỏa từ xa vẫn trông thấy. Bà nghe xong nổi điên ngay, y phục tuột hết mà không hay biết. Bà trần truồng như thuở mới sinh, lang thang khóc lóc thở than:

Hai con ta đã chết,

Chồng ta chết giữa đường.

Cha mẹ và anh cũng,

Ðược thiêu trên lửa hừng.

Ai thấy bà cũng đều la lên: "Ðồ điên, đồ điên!" Kẻ ném rác, kẻ tung bụi vào bà.

Lúc ấy Thế Tôn ngụ ở Tinh xá Kỳ Viên, đang thuyết pháp giữa hàng môn đệ. Ngài trông thấy bà từ xa và biết bà đã viên mãn một trăm ngàn kiếp, tròn lời nguyện và đạt đến cứu cánh.

(Thời Phật Padumuttara, bà đã thấy một Tỳ kheo ni được tuyên bố là đệ nhất thông hiểu giáo pháp, được Phật mở cửa trời Ðế Thích cho vào Lạc Viên. Vì thế bà phát nguyện xin được một vị Phật công nhận là Tỳ kheo Ni đệ nhất thông hiểu giáo pháp. Phật Padumuttara nhìn tương lai biết bà sẽ được như nguyện, nên thọ ký vào thời Phật Cồ Đàm bà tên là Patàcàrà sẽ được đúng như lời nguyện).

Do đó Thế Tôn khiến bà đến Tinh xá. Các Tỳ kheo la lên bảo nhau đừng để bà điên vào. Nhưng Phật bảo cứ để bà đến, rồi nói với bà:

- Này chị, hãy tỉnh trí!

Nhờ thần lực của Phật, bà lập tức khôi phục tâm trí. Ngay đó bà nhận ra y phục mất hết, cảm thấy xấu hổ và sợ tội, bà vội úp mình xuống đất. Một người ném cho bà y khoác. Mặc xong, bà phủ phục dưới chân Phật thưa:

- Bạch Thế Tôn, con xin quy y Ngài, nương tựa Ngài. Con có một đứa con bị diều tha, một đứa bị nước cuốn. Chồng con chết, cha mẹ anh em cũng chết.

Phật bảo:

- Patàcàrà, đừng phiền muộn. Ngươi đã đến với người có thể là nơi ẩn trú, nơi che chở, nơi nương tựa cho ngươi. Những điều ngươi kể đều đúng cả. Cho đến ngày nay, qua biết bao nhiêu vòng luân hồi, ngươi đã khóc vì mất con, mất người thân, nước mắt rơi nhiều hơn nước bốn biển.

Và Ngài nói kệ sau:

Nước bốn biển ít hơn

So với lệ nước đổ

Vì sợ và quẩn trí,

Tại sao còn phóng dật?

Thế Tôn giảng về luân hồi từ vô thủy. Ngài nói tới đâu đau buồn của bà giảm tới đó. Ngài nói tiếp:

- Patàcàrà, đối với một người trên đường qua bên kia thế giới thì không có con cái, bạn bè hay thân quyến nào làm nơi trú ẩn hay nương tựa. Ngươi có thể trông đợi họ được bao lâu trong cuộc đời này? Người trí phải biết thanh lọc đạo hạnh của mình, và như thế sẽ thanh lọc con đường dẫn đến Niết bàn.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(288) Một khi tử thần đến,

Không có con che chở,

Không cha, không bà con,

Không thân thích che chở.

(289) Biết rõ ý nghĩa này,

Bậc trí lo trì giới,

Mau lẹ làm thanh tịnh,

Con đường đến Niết bàn.

Cuối bài kệ Patàcàrà chứng quả Dự lưu, và tham dục trong tâm nhiều như bụi đại địa, cháy tiêu hết. Nhiều người khác cũng chứng quả Tư đà hàm và A na hàm. Bà xin Phật gia nhập Tăng đoàn, được nhận và gởi tới Ni chúng. Bà đã làm tròn bổn phận, và vì tánh tình vui vẻ nên được tên là Patàcàrà.

Một hôm, bà múc nước đầy bình và xối rửa chân. Nước chảy ra đất thấm xuống hết. Lần thứ hai nước chảy xa hơn rồi cũng thấm hết. Lần thứ ba xa hơn nữa rồi cũng thấm hết. Bà lấy đó làm đề mục Thiền quán. Tức là nước đổ lần đầu giống như chúng sanh qua đời lúc tuổi nhỏ. Lần thứ hai khi tuổi thanh xuân, và lần thứ ba lúc đã già.

Thế Tôn ngồi trong hương thất, phóng quang ảnh đến trước mặt bà bảo:

- Patàcàrà, sống một ngày hay trong chốc lát mà thấy được sự sanh diệt của ngũ uẩn còn hơn là sống trăm năm chẳng thấy gì hết.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(113) Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp sanh diệt,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp sanh diệt.

Cuối bài kệ, bà chứng A la hán cùng các thần thông.

13. Kisà Gotamì - Hạt Cải Trị Bệnh Cho Ðứa Con Ðã Chết.

Ai sống một trăm năm...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến bà Kisà Gotamì.

A. Kisà Gotamì Kết Hôn Với Con Một Thương Gia Giàu Có

Có một thương gia tài sản lên đến bốn trăm triệu sống ở Xá Vệ. Thình lình của cải biến hết thành than. Ông quá đau khổ, bỏ ăn, nằm liệt giường. Một người bạn đến thăm hỏi chuyện khuyên ông đừng buồn, mà hãy trải chiếu trong cửa hàng, chất than lên và ngồi đó bán. Ông bạn nói tiếp:

- Sẽ có người đến nói: "Hầu hết nhà buôn thì bán quần áo, vải vóc, dầu, mật mía; còn ông ngồi đây bán than.” Ông sẽ đáp: "Nếu tôi không bán thứ gì thuộc về tôi, thì tôi làm gì chứ?” Nhưng rồi lại có người nói: "Hầu hết nhà buôn thì bán quần áo, vải vóc, dầu, mật, mật mía, còn ông thì ngồi đây bán vàng.” Ông sẽ hỏi: "Vàng đâu?” Người đó đáp: "Kìa!” Ông bảo: "Lấy tôi xem!” Người đó sẽ đưa cho ông một nắm than, ông nên cầm lấy, bụm kín trong hai tay, rồi úm ba la! Nó sẽ biến thành vàng. Nếu đó là một cô gái thì cưới cho con trai ông, nếu là chàng trai thì gả con gái cho hắn. Rồi ông giao bốn trăm triệu cho cô dâu hay chàng rể đó, họ sẽ nuôi sống ông.

Thương gia thấy ý kiến hay nên nghe theo. Mọi việc xảy ra đúng như lời ông bạn đã nói. Và đó là một cô gái con nhà nghèo tên là Gotamì, nhưng vì quá ốm nên thường gọi là Kisà Gotamì. Cô làm dâu nhà thương gia, mười tháng sau sanh một bé trai, nhưng đứa bé qua đời khi mới biết đi.

B. Kisà Gotamì Tìm Hạt Cải Trị Bệnh Cho Ðứa Con Ðã Chết.

Kisà Gotamì chưa bao giờ thấy cái chết. Do đó khi người ta mang đứa bé đi thiêu, bà ngăn cản không cho, và bế con trên hông đi từ nhà này đến nhà khác kiếm thuốc cứu con. Người ta bảo là bà điên rồ vì không ai đi tìm thuốc cứu chữa cho đứa bé đã chết. Nhưng bà vẫn đi vì nghĩ rằng thế nào cũng tìm được thuốc chữa cho con bà.

Một bậc trí giả thấy bà và hiểu hoàn cảnh, bảo bà đến gặp Phật. Bà đảnh lễ Thế Tôn, đứng một bên và thưa hỏi:

- Bạch Thế Tôn, có thật như người ta đã nói, Ngài biết thuốc chữa cho con của con không?

Phật đáp:

- Phải, ta biết.

- Con phải kiếm những gì?

- Một nhóm hạt cải trắng.

- Con sẽ đi tìm, nhưng biết nhà ai có?

- Nhà nào không có con trai, con gái hay bất cứ ai chết.

- Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Bà bế con vào làng, đến từng nhà hỏi xin hạt cải. Họ đưa cho bà, nhưng khi hỏi nhà có ai chết không, thì được biết người sống thì ít, người chết thì nhiều, bà đành trả hạt cải. Ði đến chiều cũng không nhà nào có hạt cải đúng theo ý Phật. Bà chợt hiểu không phải chỉ mình bà mất con, mà trong làng này người chết nhiều hơn người sống. Lòng bà trước đây yếu mềm vì tình mẹ, nay cứng cỏi hẳn lên. Bà mang đứa bé vào rừng, đặt xuống đất rồi đi gặp Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên.

Thế Tôn hỏi:

- Ngươi có được hạt cải không?

Bà đáp:

- Thưa không, bạch Thế Tôn! Làng nào người chết cũng nhiều hơn người sống.

- Thật hão huyền nếu ngươi nghĩ rằng chỉ mình ngươi mất con. Ai cũng chịu định luật bất biến, đó là: "Thần chết, như một dòng nước lũ, quét sạch mọi chúng sanh ra biển hoại diệt, trong khi lòng tham đắm của họ chưa thỏa.”

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(287) Người tâm ý đắm say,

Con cái và súc vật,

Tử thần bắt người ấy,

Như lụt trôi làng ngủ.

Cuối bài kệ, Kisà Gotamì chứng quả Dự lưu. Nhiều người khác cũng chứng quả Dự lưu, Nhị và Tam quả. Bà xin gia nhập Tăng đoàn, được Thế Tôn thuận và giao cho Ni chúng. Sau thời gian làm tròn bổn phận, bà được tên là Ni cô Kisà Gotamì.

Một hôm thắp đèn trong giảng đường Bố tát, bà chăm chú nhìn ngọn lửa. Vài ngọn lóe sáng, vài ngọn chập chờn tắt. Bà lấy đó làm đề mục Thiền quán: Chúng sanh trên thế gian cũng như ngọn đèn, chợt sáng chợt tắt, chỉ khi đạt Niết bàn mới chấm dứt.

Thế Tôn ngồi trong hương thất phóng quang ảnh đến trước mặt bà dạy:

- Chúng sanh như ngọn lửa, chợt sáng chợt tắt. Người nào đến Niết bàn mới chấm dứt. Do đó dù chỉ sống trong khoảnh khắc mà chứng Niết bàn, còn hơn sống trăm năm không thấy biết Niết bàn.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(114) Ai sống một trăm năm,

Không thấy câu bất tử,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được câu bất tử.

Cuối bài kệ, Kisà Gotamì chứng A la hán cùng các thần thông.

14. Góa Phụ Bahuputtikà Và Những Ðứa Con Bất Hiếu.

Ai sống một trăm năm...

Tại Kỳ Viên, do Bahuputtikà, Thế Tôn đã dạy câu trên.

Một gia chủ Xá Vệ có bảy con trai và bảy con gái, tất cả đều lập gia đình và được hạnh phúc. Về sau người cha chết, bà mẹ là một Cư sĩ nổi tiếng tiếp tục trông nom tài sản chồng. Các con trai bà muốn thừa hưởng gia tài, nên bảo với mẹ là không lẽ họ không nuôi bà nổi sao mà cần phải ôm giữ của cải? Họ nói nhiều lần, bà nghe cũng có lý nên chia gia tài ra làm hai và cho hết các con.

Vài ngày sau, cô dâu trưởng nói với mẹ chồng:

- Rõ ràng là chỉ có nhà này là mẹ tuyệt vời của chúng con thăm viếng. Làm như con trưởng được thừa hưởng đến hai phần gia tài không bằng!

Mấy cô dâu khác cũng hùa nhau nói xỉa nói xói như thế. Rồi đến con gái, từ đứa lớn đến đứa út cũng y khuôn. Bị đối xử tàn tệ như thế, bà không muốn sống với các con nữa, mà định xuất gia. Bà đến ni viện xin được gia nhập Tăng đoàn. Sau thời gian làm tròn bổn phận, bà được đặt tên là Ni cô Bahuputtikà.

Trong lúc làm việc lớn nhỏ do các Tỳ kheo giao phó, bà thường tự nhắc mình là đi tu khi đã lớn tuổi, do đó, phải tinh tấn, chánh niệm, ngồi Thiền suốt đêm. Dưới nền đất thấp, bà vịn tay vào cột lần bước và Thiền quán. Khi đi kinh hành sợ đêm tối đụng đầu vào gốc cây hay các vật khác, bà vịn cây bước đi và Thiền quán, quyết tâm tuân theo pháp Phật dạy, tư và tu.

Phật ngồi trong hương thất, phóng quang ảnh đến trước mặt bà, nói:

- Bahuputtikà, dù sống trăm năm không nghe pháp Ta dạy và Thiền quán, cũng không bằng sống một ngày thấy được pháp tối thượng.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(115) Ai sống một trăm năm,

Không thấy pháp tối thượng,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được pháp tối thượng.


 

Phẩm IX: Ác

1. Bà la môn Tiểu Nhất Y

Hãy gấp làm điều lành...

Thế Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến Bà la môn Tiểu Nhất Y (Culla Ekasàtaka).

Bà la môn Ðại Nhất Y (Mahà Ekasàtaka) thời Phật Tỳ Bà Thi (Vipassi) kiếp hiện tại tái sanh ở Xá Vệ tên Tiểu Nhất Y. Ông chỉ có độc một nội y, vợ ông cũng vậy, và cả hai xài chung một ngoại y. Như vậy khi Bà la môn hoặc vợ ra khỏi cửa thì người kia phải ở nhà. Một hôm người ta loan báo có thuyết pháp tại Tinh xá. Cả hai thỏa thuận đi nghe pháp: bà ban ngày còn ông ban đêm. Ngồi trước mặt Thế Tôn, toàn thân ông hoan hỷ uống từng giọt pháp, vì thế ông phát tâm cúng dường. Nhưng nếu dâng y này đến Thế Tôn thì không còn ngoại y nào cho cả hai người.

Một ngàn niệm ích kỷ không dâng y nổi lên bên trong, thì có một niệm sùng tín lại muốn dâng y. Hai bên tranh chấp lẫn nhau mãi cho đến khi canh một trôi qua và canh hai lại đến. Và rồi ông vẫn chưa dâng y lên Thế Tôn. Ðến canh cuối, Bà la môn nghĩ rằng hai canh đã trôi qua, nếu cứ giằng co mãi và nếu niệm vị kỷ gia tăng mạnh mẽ thì sẽ không nhấc đầu ra khỏi bốn đường khổ. Do đó ông quyết cúng dường. Lấy y đặt dưới chân Thế Tôn, ông kêu to ba lần: "Ta đã chiến thắng.”

Vua Ba Tư Nặc xứ Kosala tình cờ cũng dự thính, nghe thế ngạc nhiên, bảo quân lính hỏi chuyện, rồi thưởng cho ông một cặp y, Bà la môn lại cũng dâng y này cho Thế Tôn. Vua lại tặng ông gấp đôi, tức là lần thứ nhất hai bộ y, rồi bốn bộ, tám bộ, cuối cùng mười sáu bộ. Bà la môn dâng hết cho Như Lai. Nhà vua lại tặng ba mươi hai bộ còn lại. Dù Bà la môn có dâng hết những gì ông có đến một trăm lần, vua cũng vẫn đáp ứng tương xứng (Trong một tiền kiếp Ðại Nhất Y giữ hai bộ trong sáu mươi bốn bộ nhận được)

Vua thấy Bà la môn làm một việc rất khó làm, nên ra lệnh tìm hai cái mền trong phòng thiết triều mang tặng ông, mền đó trị giá đến một ngàn đồng. Bà la môn tự thấy mình không xứng đáng đắp, nhưng mền đó thích hợp với giáo đoàn của Phật, nên ông lấy làm màn, một tấm treo trong hương thất để che giường của Thế Tôn, và một tấm treo trong nhà mình để che nơi các Tỳ kheo thường đến thọ thực.

Buổi tối, vua đến thăm Thế Tôn, nhận ra mền, hỏi Phật, thì ra là Tiểu Nhất Y cúng dường. Như vậy khi vua có niềm tin và hạnh phúc với niềm tin đó, thì người Bà la môn này cũng thế, sau đó vua tặng cho ông bốn voi, bốn ngựa, bốn ngàn đồng, bốn phụ nữ, bốn tỳ nữ và bốn ngôi làng tốt nhất.

Các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường:

- Ồ! Việc làm của Tiểu Nhất Y thật lạ lùng! Ông đã nhận được thật nhanh quà tặng mỗi thứ bốn cái! Ngay khi ông làm việc thiện, phước báo đến liền.

Thế Tôn đến hỏi, và nghe kể xong, Ngài bảo:

- Các Tỳ kheo! Nếu Tiểu Nhất Y cúng dường cho Ta vào canh đầu, ông đã nhận quà tặng mỗi thứ mười sáu cái. Nếu vào canh giữa, ông đã nhận mỗi thứ tám cái. Nhưng vì để trễ đến canh cuối, nên ông chỉ nhận mỗi thứ bốn cái. Ai làm việc thiện đừng chần chờ, mà phải làm tức khắc. Một việc công đức làm chậm trễ đem lại phước báo cũng chậm trễ.

Do đó ta phải làm việc thiện ngay khi có sự thôi thúc trong lòng.

Nói xong, Ngài đọc Pháp Cú:

(116) Hãy gấp làm điều lành,

Ngăn tâm làm điều ác.

Ai chậm làm việc lành,

Ý ưa thích việc ác.

2. Một Tỳ Kheo Bất Mãn

Nếu người làm điều ác...

Khi ngụ tại Kỳ Viên. Thế Tôn đã dạy câu trên do chuyện Trưởng lão Seyyasaka.

Trưởng lão Seyyasaka là Tỳ kheo bạn của Trưởng lão Làludàyi. Ông bất mãn với giới luật đời tu, và kể cho bạn ông, người đã xúi giục ông vi phạm giới luật đầu tiên của Tăng già. Sau đó ông thường bất mãn và cứ phạm giới như thế. Phật nghe được gọi ông đến hỏi, ông nhìn nhận, và Ngài đã răn dạy:

- Người tham dục! Tại sao ông phạm lỗi trầm trọng như thế? Tư cách của ông đâu được phép như thế!

Sau đó Ngài bắt ông phải tuân hành giới luật, và nhắc ông rằng:

- Hành động như thế chắc chắn dẫn đến đau khổ, cả đời này và đời sau.

Xong, Phật đọc Pháp Cú:

(117) Nếu người làm điều ác,

Chớ tiếp tục làm thêm.

Chớ ước muốn điều ác,

Chứa ác tất chịu khổ.

3. Thiên Nữ Với Tỳ Kheo

Nếu người làm điều thiện...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến thiên nữ Làjà. Câu chuyện bắt đầu ở Vương Xá.

Khi Tôn giả Ðại Ca Diếp ngụ ở hang Tiêu, Ngài nhập định bảy ngày, rồi xuất định. Quan sát bằng thiên nhãn những nơi sắp đi khất thực, Ngài trông thấy một phụ nữ canh giữ cánh đồng đang rang những bông lúa vừa gom được, và biết người này có niềm tin, khôn ngoan và tháo vát, sẽ giúp đỡ Ngài và sẽ được phước báo nhiều.

Rồi Ngài đắp y, ôm bát đến đứng gần ruộng lúa. Bà thấy Ngài, phát tín tâm, toàn thân hoan hỷ, và nhanh nhẹn đi lấy gạo rang, trút vào bình bát, xong đảnh lễ Ngài và ước nguyện:

- Bạch Tôn giả! Xin cho con được tham dự vào giáo pháp mà Ngài đã thấy.

Trưởng lão hứa khả. Tín nữ chào Ngài và trở về, lòng cứ nghĩ đến sự cúng dường cho Ngài. Nhưng khi tín nữ bước trên đường dọc theo ruộng lúa, đến chỗ có con rắn độc trước đây không cắn được Trưởng lão vì y vàng phủ kín chân, nó bò ra và cắn bà té sấp xuống đất, và bà đã chết trong tín tâm. Bà tái sinh lên cõi trời Ba mươi ba như người ngủ thức dậy, trong một thiên cung bằng vàng rộng Ba mươi ba dặm, vóc dáng cao bằng ba phần tư dặm, mặc một thiên y dài mười hai dặm làm nội y và một thiên y bằng như thế làm ngoại y, với một ngàn thiên nữ tùy tùng. Cổng chính thiên cung trang hoàng, có treo một bình vàng đầy hạt lúa bằng vàng do công đức kiếp trước dâng gạo rang cho Trưởng lão Ðại Ca Diếp, và cũng thấy mình không chuyên cần. Do đó bà muốn phục dịch việc lớn nhỏ đối với Trưởng lão để được cứu độ chắc chắn.

Sáng sớm, bà đến phòng Trưởng lão quét dọn sạch sẽ với chổi vàng và đồ hốt rác bằng vàng, rồi đi lấy nước uống. Trưởng lão thấy thế cứ tưởng mấy người cận sự hay Sa di làm. Vào ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba thiên nữ cũng làm thế. Trưởng lão nhìn qua lỗ khóa khi nghe tiếng quét, thấy thân sáng chói của bà, ngạc nhiên hỏi:

- Ai đang quét đó?

Bà đáp:

- Chính con đây, Tôn giả! Nữ Cư sĩ của Ngài, thiên nữ Làjà.

- Tôi không có nữ Cư sĩ tên đó.

Bà kể lại mọi sự. Tôn giả không bằng lòng, bảo bà đi đi. Bà năn nỉ:

- Tôn giả, đừng xua đuổi con. Xin cho phép con hầu hạ Ngài để chắc chắn được cứu độ.

Trưởng lão vẫn cương quyết:

- Thiên nữ, hãy đi ngay! E rằng về sau các Pháp sư được cầm quạt ngũ sắc và ngồi xuống, sẽ có lý do để nói có một thiên nữ đến hầu hạ và lấy nước cho Trưởng lão Ðại Ca Diếp. Ðừng đến đây nữa hãy đi nơi khác!

Thiên nữ vẫn một mực nài nỉ. Thấy bà không chịu nghe lời mình, Ngài bảo:

- Cô chẳng biết chỗ của mình.

Và Ngài búng ngón tay tỏ vẻ khinh bỉ. Thiên nữ không dám ở lại, bay lên không, vòng tay cất tiếng:

- Tôn giả! Ðừng hủy bỏ thành quả của con, hãy để con được cứu độ.

Rồi đứng yên giữa trời than khóc.

Thế Tôn ngồi ở hương thất tại Kỳ Viên nghe được, liền phóng quang ảnh đến trước mặt thiên nữ bảo:

- Thiên nữ! Ðại Ca Diếp, đệ tử Ta, quả có bổn phận phải tự chế. Nhưng ai muốn tạo công đức phải quyết tâm xem đó là việc cần thiết, và thừa nhận tạo công đức là bổn phận duy nhất của mình. Thật vậy, đời này và đời sau chỉ có việc thiện đem đến hạnh phúc.

Rồi Ngài đọc Pháp Cú:

(118) Nếu người làm điều thiện,

Nên tiếp tục làm thêm.

Hãy ước muốn điều thiện,

Chứa thiện, được an lạc.

4. Cấp Cô Ðộc Và Nữ Thần

Người ác thấy là hiền...

Câu này Thế Tôn dạy ở Kỳ Viên, liên quan đến Cấp Cô Ðộc.

Trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã chi hết năm trăm bốn mươi triệu của cải cho Tăng đoàn của Phật tại Tinh xá Kỳ Viên, một ngày ba lần đến hầu hạ Thế Tôn. Nghĩ rằng những người tập sự và Sa di hay để ý ông sẽ mang gì cúng dường, nên không bao giờ ông đến Tinh xá tay không. Sáng sớm, ông thường đem cháo. Sau giờ thọ thực, ông mang bơ tươi và thuốc men. Buổi chiều mang hương, hoa, cao (mỡ bôi) và y phục.

Dần dần ông nghèo đi, vì ngoài phần cúng dường ông đã cho các nhà buôn mượn một trăm tám mươi triệu, chưa kể một trăm tám mươi triệu dành cho gia đình chôn giấu tại bờ sông đã trôi ra biển lúc đất lở. Tuy thế ông vẫn cúng dường chúng Tăng như trước, dù thức ăn không được ngon lành nữa.

Một hôm Thế Tôn hỏi ông:

- Gia chủ vẫn mang vật thực từ nhà đến cúng dường Tăng chúng chứ?

Ông thưa:

- Vâng, bạch Thế Tôn. Nhưng thức ăn chỉ có cháo chua, vừa ít vừa dở.

- Gia chủ đừng nên buồn phiền khi nghĩ rằng đã dâng lên Thế Tôn thức ăn tồi. Nếu ý định thanh tịnh thì món gì dâng lên chư Phật và những vị khác không thể gọi là xấu tệ được. Ông đã dâng cúng lên tám bậc Thánh. Trước đây trong thời Velàma. Ta đã quấy động toàn nước Ấn Ðộ với rất nhiều phẩm vật, nhưng không khuyên được ai thọ Tam quy. Khó mà tìm được người xứng đáng để dâng cúng. Do đó đừng phiền muộn khi nghĩ rằng món dâng của ông dở tệ.

Nói xong, Thế Tôn đọc kinh Velàma.

Khi Thế Tôn và các Thánh đệ tử bước vào nhà ông Cấp Cô Ðộc, nữ thần ngụ trên cổng không thể ở lại đó, vì sức mạnh thiện đức của các Ngài. Cô định sẽ xúi giục gia chủ đừng trung thành với các Ngài, để các Ngài không vào nhà nữa. Lúc tài sản của ông đang cực thịnh, nữ thần dù có nói ông cũng không nghe, bây giờ nghèo ông sẽ sẵn sàng để ý đến lời cô. Do đó ban đêm cô đến phòng Trưởng giả tự giới thiệu và khuyên ông phải nghĩ đến tương lai; ông đã phung phí biết bao vào Giáo đoàn của Phật, bây giờ nghèo rồi ông vẫn cúng dường, nếu ông vẫn tiếp tục như thế mãi thì chẳng bao lâu ông sẽ không còn một hột cơm lót lòng, hay một mảnh vải che thân. Cô còn lên giọng kẻ cả dạy thêm:

- Sa môn Gotama có ích lợi gì cho ông? Ðừng dại dột phung phí nữa, hãy để tâm vào chuyện làm ăn và tạo cơ may.

Trưởng giả ngồi im lắng nghe hết, rồi mới bảo:

- Ðây là điều mà cô đến khuyên tôi có phải không? Thế thì, hãy cút đi! Dù cố thuyết trăm, ngàn lần như thế cô cũng chẳng lay chuyển được tôi. Cô đã nói với tôi những điều không đáng nói. Việc gì cô phải ở trong nhà tôi chứ? Hãy ra khỏi nhà tôi tức khắc!

Nữ thần không thể không tuân theo lời nói của một Cư sĩ đã chứng quả Dự lưu, nên lập tức đem con ra khỏi nhà ông.

Nhưng sau đó cô không thể tìm ra chỗ nào khác để ở. Cô đến vị trời cai quản thành kể tội lỗi của mình, xin ông đến nhà Trưởng giả thuyết phục ông tha thứ và cho cô ở lại. Nhưng vị trời từ chối, vì cô đã nói điều không đáng nói. Cô đến Tứ thiên vương, nhưng họ cũng từ chối với cùng một lý do. Rồi cô cầu cứu với thiên chủ Ðế Thích. Ngài bày cho cô khoác y phục của quản gia Trưởng giả, ghi danh sách tài sản của ông đã phân tán, tức là một trăm tám mươi triệu cho nhà buôn mượn, một trăm tám mươi triệu bị cuốn ra biển và một trăm tám mươi triệu không ai giữ ở nơi này nơi nọ, và dùng thần lực đòi và gom lại, xong chất vào kho trống của ông. Làm như vậy để chuộc lỗi, và sau đó xin ông tha thứ cho cô. Nữ thần vâng theo. Công việc hoàn thành, cô đứng trên không chiếu hào quang xuống phòng Trưởng giả trình bày các việc đã làm, và xin ông cho cô chỗ ở, vì hiện nay cô không tìm được nơi nào, nên rất là vất vả mệt nhọc.

Cấp Cô Ðộc dẫn cô đến bậc Toàn Giác, bảo kể lại mọi sự. Nữ thần úp mặt trước Thế Tôn thưa:

- Bạch Thế Tôn! Vì điên rồ con không nhận ra công đức to lớn của Ngài, và đã nói lời xấu ác, xin tha thứ cho con.

Như thế nữ thần đã xin lỗi Thế Tôn lẫn Trưởng giả, và được Thế Tôn khuyên nhủ:

- Ngay trong đời này, Ðại Trưởng giả! Một kẻ làm ác vẫn cảm thấy tốt lành chừng nào hành động ác của họ chưa chín muồi. Nhưng ngay khi hành động ác chín muồi, họ sẽ chỉ thấy xấu. Cũng thế, một người lành thấy việc xấu dữ bao lâu việc thiện của mình chưa chín muồi, nhưng ngay khi hành động thiện chín muồi, họ chỉ thấy tốt lành.

Nói xong Ngài đọc Pháp Cú:

(119) Người ác thấy là hiền,

Khi ác chưa chín muồi.

Khi ác nghiệp chín muồi,

Người ác mới thấy ác.

(120) Người hiền thấy là ác,

Khi thiện chưa chín muồi.

Khi thiện nghiệp chín muồi,

Người hiền thấy là thiện.

5. Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Tốt Ðồ Dùng

Chớ chê khinh điều ác...

Thế Tôn đã dạy câu tên khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến một Tỳ kheo không giữ gìn tốt đồ dùng.

Tỳ kheo này hay vất đồ dùng ra ngoài trời như là giường, ghế,... bị nắng mưa hay mối mọt ăn mòn, chẳng bao lâu rã ra từng mảnh. Các huynh đệ nhắc nhở ông sao không cất giữ bảo quản, ông thản nhiên bảo đó là lỗi nhẹ, không đáng mất công suy nghĩ và giận dữ. Rồi ông cứ thế làm hoài. Các Tỳ kheo bạch Phật. Ông được Phật kêu lên hỏi, và trả lời như cũ, tức là coi thường việc mình làm.

Thế Tôn bèn dạy:

- Các Tỳ kheo, đừng bao giờ hành động như thế. Ðừng bao giờ xem một việc làm xấu là việc nhỏ. Mà nói rằng đó chỉ là việc nhỏ. Vì khi bình nước mở miệng và mưa rơi xuống, chắc chắn một giọt nước không thể làm đầy được, nhưng khi mưa mãi mưa hoài nước sẽ đầy tới miệng. Như thế, từng chút một, người phạm lỗi tích lũy một đống tội lớn.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(121) Chớ chê khinh điều ác,

Cho rằng "chưa đến mình"

Như nước nhỏ từng giọt,

Rồi bình cũng đầy tràn.

Người ngu đầy tội ác,

Do chất chứa dần dần.

Cuối bài pháp, nhiều người chứng quả Dự lưu, Nhị quả và Tam quả. Rồi Phật tuyên giới:

- Ai không đem giường ngoài trời vào mà nói rằng đó chỉ là việc nhỏ sẽ phạm tội.

6. Chưởng Khố Chân Mèo

Chớ chê khinh điều thiện...

Do chuyện Chưởng khố Chân Mèo Bilalapàdaka, Thế Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên.

Ngày xưa, dân chúng ở Xá Vệ họp từng nhóm cúng dường Tăng đoàn của Phật. Khi hồi hướng công đức, Thế Tôn bảo:

- Các Cư sĩ, trên thế gian này ai bố thí nhưng không khuyến khích người khác bố thí, ở kiếp sau sẽ có phước báo về tài sản, nhưng không có phước báo được nhiều người theo. Nếu không tự mình bố thí mà chỉ khuyên người khác bố thí, thì sẽ có phước báo được nhiều người theo, nhưng không có tài sản. Không tự mình bố thí và cũng không khuyên người bố thí, thì sẽ không có phước báo nào hết. Nhưng người vừa tự mình bố thí vừa khuyên người khác bố thí, sẽ nhận được cả hai phước báo về tài sản và tùy tùng.

Một người trí đứng nghe Phật thuyết như thế liền phát tâm cúng dường, và thỉnh Thế Tôn đến thọ thực tại nhà ngày mai với hết thảy Tỳ kheo. Ðược hứa khả, Cư sĩ vào làng, đi khắp nơi kêu gọi cúng dường cháo và thức ăn khác; mỗi người sẽ lo cho một số Tỳ kheo tùy sức, nhưng sẽ nấu chung một chỗ và dâng cúng chung.

Một Chưởng khố thấy Cư sĩ đến tiệm mình, cho rằng thay vì anh ta mời số ít Tỳ kheo theo sức mình, lại cố mời đông đủ rồi khuyên cả làng cúng dường, nên nổi giận, tuy vậy ông vẫn bảo mang bình tới. Rồi ông lấy một nhúm gạo trong ba ngón tay đưa cho Cư sĩ, cũng thế mỗi thứ đậu ông cho một chút. Do đó sau này ông có tên là Chân Mèo. Và khi cho bơ và đường ông đặt cái rổ trong bình của Cư sĩ, chừa lại một góc trống để ông nhỏ từng giọt một, và chỉ cho rất ít. Cư sĩ đặt phần của ông riêng với người khác. Chưởng khố sanh nghi nên sai tiểu đồng đi theo Cư sĩ. Chú thấy Cư sĩ vừa bỏ hai, ba hột gạo vào cháo và bánh, chia những hột đậu, vài giọt dầu và các viên đường vào tất cả bình, vừa nguyện cho Chưởng khố được nhiều phước báo. Chú về kể lại y như thế, nhưng nghe xong Chưởng khố vẫn còn hậm hực, định bụng nếu bị Cư sĩ đó khiển trách giữa hội chúng, sẽ đánh và giết ông ta ngay khi nghe nêu tên mình trên môi.

Ngày kế Chưởng khố giấu con dao trong nếp y và đến đứng ở trai đường chờ Cư sĩ đưa Tăng đoàn của Phật vào. Tiếng thưa thỉnh của Cư sĩ vang lên:

- Bạch Thế Tôn! Do con gợi ý, tất cả những người này cúng dường lên Phật gạo và các phẩm vật khác theo khả năng từng người. Nguyện cho tất cả mọi người đều được nhiều phước báo.

Chưởng khố nghe được, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, nghĩ rằng nếu không xin lỗi một người tốt như thế, hình phạt của vua sẽ rơi xuống đất. Vì thế, ông phủ phục dưới chân Cư sĩ kể lại tự sự, và xin được tha thứ, Thế Tôn thấy thế, hỏi người tổ chức cúng dường, biết chuyện và dạy lại như sau:

- Này đệ tử! Ðừng bao giờ xem một việc thiện là việc nhỏ, và bảo rằng đó là việc mọn. Người trí tạo công đức, trong một thời gian sẽ được đầy đủ công đức, như một bình nước mở miệng đựng đầy nước.

Nói xong, Phật đọc Pháp Cú:

(122) Chớ khinh chê điều thiện,

Cho rằng "chưa đến mình.”

Như nước nhỏ từng giọt,

Rồi bình cũng đầy tràn.

Người trí đầy thiện đức,

Do chất chứa dần dần.

7. Thương Gia Ðại Phú

Ít bạn đường, nhiều tiền...

Phật đã dạy câu này ở Kỳ Viên, liên quan đến thương gia Ðại Phú.

Chuẩn bị cho một chuyến buôn xa, thương gia Ðại Phú chất hàng hóa đầy năm trăm cỗ xe, và trước khi đi, nhắn các Tỳ kheo ai muốn đi cùng sẽ không phải lo thiếu thức ăn dọc đường. Năm trăm Tỳ kheo lên đường với ông.

Trước đây có năm trăm tên cướp toan đột nhập vào nhà Ðại Phú, nhưng thất bại. Bây giờ chúng nghe tin ông đi buôn, nên vào ẩn trong rừng đón đường. Trước khi băng rừng, ông dừng chân ở một làng nọ, nghỉ lại ba ngày, sắp đặt bò, xe và mọi thứ. Trong thời gian đó ông vẫn cung ứng đủ cho các Tỳ kheo như thường lệ. Bọn cướp muốn chắc ăn, cho bộ hạ đi vào làng thám thính. Tên này dò la tin tức nơi bạn của hắn về ngày thương gia lên đường, nhưng hắn cũng dại dột khai ra bọn cướp đang chờ trong rừng. Người bạn này có lòng từ nên khuyên thương gia chớ đi tiếp. Ông bèn quyết định đi vòng và trở về nhà. Tên bộ hạ trở vào làng và điều tra tiếp, biết thế bèn báo bọn cướp kéo nhau ra khỏi rừng, đón ở một điểm theo hướng ngược lại. Thương gia cũng biết thế, nên cuối cùng ở lại. Ông đến cho các Tỳ kheo hay, và các Tỳ kheo ở lại hay không tùy ý.

Các Tỳ kheo quyết định trở về Xá Vệ. Họ đến đảnh lễ Thế Tôn, cung kính ngồi một bên thưa chuyện, Thế Tôn nghe qua bèn dạy:

- Các Tỳ kheo! Thương gia Ðại Phú tránh con đường vì bọn cướp nằm chờ ông. Cũng vậy, các Tỳ kheo phải tránh điều ác, nhìn ba cõi như con đường bị cướp bao vây.

Và Phật nói Pháp Cú:

(123) Ít bạn đường, nhiều tiền,

Người buôn tránh đường hiểm.

Muốn sống tránh thuốc độc,

Cũng vậy, hãy tránh ác.

8. Người Thợ Săn Bắn Mê Muội

Bàn tay không thương tích...

Khi ngụ tại Trúc Lâm, Thế Tôn dạy câu trên do chuyện thợ săn Kukkutamitta.

Một cô gái con nhà giàu ở Vương Xá đến tuổi cập kê, được cha mẹ cho ở một phòng trên tầng chót tòa nhà bảy tầng với một tỳ nữ hầu hạ. Buổi chiều đứng ngay cửa sổ nhìn xuống đường, thấy người thợ săn cô bị tiếng sét ái tình. Thợ săn sống bằng nghề giết nai với năm trăm bẫy và năm ngàn giáo. Anh vừa giết năm trăm nai chất lên xe, và ngồi trên đầu xe vào thành để bán thịt.

Cô gái, theo tiếng gọi con tim, đưa quà sai tỳ nữ mang tặng thợ săn, và hỏi ngày anh trở lại đây. Biết được ngày và chỗ, sáng sớm hôm sau, cô gói quần áo và nữ trang, mặc y phục tồi tàn, rời khỏi nhà với một số gia nhân và bình nước trên tay, như thể định đi đến bờ sông, nhưng thật sự đến chỗ thợ săn sẽ đi qua và đứng chờ. Anh thợ săn cũng đánh xe ra rất sớm. Cô thụt lại sau và theo anh. Chợt thấy cô gái anh ngạc nhiên hỏi:

- Cô là người lạ, không phải con gái những người tôi quen biết, xin đừng theo tôi nữa!

- Anh không mời nhưng tôi tự ý đến, xin im lặng và đánh xe đi!

Anh bảo cô về đi nhưng cô vẫn không nghe, còn nói thêm khi dịp may đến đừng để vuột mất. Người thợ săn biết chắc là cô gái cố tình theo đuổi mình nên đỡ cô lên xe và tiếp tục cuộc hành trình. Cha mẹ cô tìm khắp nơi nhưng không thấy, cho là cô đã chết, họ làm tang lễ long trọng.

Về sống với thợ săn, cô sanh bảy người con trai. Chúng khôn lớn, cô có thêm bảy nàng dâu.

Sáng sớm, Thế Tôn quan sát thế gian thấy thợ săn cùng con trai con dâu hiện ra và biết mười lăm người này đủ duyên lành chứng quả Nhập lưu nên Ngài ôm bát đến chỗ thợ săn giăng lưới. Hôm đó không có một con thú nào sa lưới. Phật để lại dấu chân tại một cái bẫy rồi đi đến một gốc cây ngồi xuống. Thợ săn đến, kiểm soát tất cả lưới từ đầu đến cuối, không được con thú nào. Thấy dấu chân Phật, anh cho là có người thả thú trong bẫy ra. Anh nổi giận, và khi thấy Phật ngồi dưới gốc cây, anh đinh ninh đó là người phá hoại anh, nên giương cung nhắm bắn. Phật cho phép anh giương cung nhưng không cho phép anh bắn tức là anh đứng yên trong tư thế đó, không hạ tay cung, và cũng không lấy tên ra khỏi dây cung, miệng chảy nước miếng, mệt mỏi đến kiệt sức, như thể xương bị gãy lìa.

Ðám con trai anh về nhà, đợi lâu không thấy anh, và được mẹ nhắc thêm, nên mang cung tên đi tìm. Ðến nơi thấy cha mình đứng bất động, cho rằng người đứng đối diện là kẻ thù của cha, lập tức chúng giương cung. Thần lực của Phật cũng làm chúng chôn chân tại chỗ, không nhúc nhích. Rồi đến phiên bà mẹ cùng các con dâu lên đường đi tìm. Thấy chồng con đều đứng bất động, đang nhắm bắn ai đó, bà tìm hiểu, thì ra họ nhắm bắn Thế Tôn. Bà dang hai tay đưa lên trời, vội kêu lên:

- Ðừng giết cha ta! Ðừng giết cha ta!

Anh thợ săn nghe thấy thế hoảng hồn, nghĩ mình quá độc ác, lầm lỡ định bắn cha vợ. Mấy đứa con trai cũng ân hận vì tính bắn ông ngoại mình. Rồi cả cha con lòng bỗng dịu lại, trở nên thân thiện. Phật biết nên cho họ hạ cung tên, cùng lúc tiếng con gái phú gia bảo ném cung tên đi. Rồi tất cả cúi mình trước Thế Tôn xin thứ lỗi, xong cung kính ngồi xuống một bên.

Thế Tôn thuyết pháp tuần tự cho họ. Cuối bài pháp, anh thợ săn, cùng bảy con trai và bảy con dâu đều chứng quả Dự lưu.

Sau đó Thế Tôn đi khất thực, thọ thực xong Ngài trở về Tinh xá. Trưởng lão A Nan chào đón và hỏi thăm Phật. Ngài cho biết thợ săn cùng các con đều phát nguyện tin Tam bảo, niềm tin bất thối chuyển và đã từ bỏ sát sanh, riêng bà vợ đã chứng quả Dự lưu trước, khi còn ở nhà cha mẹ.

Các Tỳ kheo bàn tán chuyện này và thắc mắc bà vợ đã chứng quả Dự lưu rồi mới lấy thợ săn, rồi còn đưa cung, tên, dao, lưới... cho chồng đi sát sanh. Người đã chứng quả Dự lưu rồi sao còn sát sanh? Phật đến, nghe thế bèn dạy:

- Các Tỳ kheo! Dĩ nhiên người chứng quả Dự lưu thì không sát sanh. Vợ của thợ săn khi làm thế chỉ nghĩ vâng lệnh chồng, chứ không hề nghĩ sẽ đưa những thứ đó cho chồng đi sát sanh. Nếu tay một người không bị thương thì dù có cầm thuốc độc trong tay, thuốc độc cũng không hại họ. Ðúng vậy, người không nuôi tư tưởng lầm lỗi và không làm ác, có thể lấy cung hay các thứ tương tự đưa cho người khác mà vẫn vô tội.

Và Phật nói Pháp Cú:

(124) Bàn tay không thương tích,

Có thể cầm thuốc độc.

Không thương tích, tránh độc,

Không làm, không có ác.

Vào một dịp khác, các Tỳ kheo thảo luận, không hiểu vì sao thợ săn cùng các con chứng quả Dự lưu, và tại sao anh tái sinh làm thợ săn. Phật nghe được bèn kể:

Chuyện quá khứ

A. Chưởng khố Thành Và Chưởng khố Làng

Này các Tỳ kheo! Ngày xưa người ta xây tháp để thờ Xá Lợi Phật Ca Diếp. Họ lấy chất "Orpiment", vàng và "Arsenic" nghiền thành bột làm hồ, với dầu mè làm nước. Rồi họ chặt những viên gạch làm hai đặt xen kẻ với những tảng vàng cho tường phía trong. Tường ngoài gồm những tảng vàng rắn chắc, mỗi tảng trị giá một trăm ngàn đồng. Khi tháp được xây lên đến chiều cao đựng Thánh tích, họ kêu gọi đóng góp một số tiền lớn. Một Chưởng khố trong làng là người đầu tiên cúng mười triệu vàng cho hòm đựng Thánh tích. Dân chúng xầm xì rằng Chưởng khố thành phố quả đã cúng tiền để xây tháp lộng lẫy nguy nga như thế, nhưng không muốn đóng tiền nhiều để làm người đứng đầu, do đó Chưởng khố ở làng thành người đứng đầu với số tiền mười triệu này. Chưởng khố thành phố nghe thế liền cúng hai mươi triệu. Chưởng khố làng leo thang ba mươi triệu. Cứ thế hai bên thi đua nhau tăng tiền nộp cúng, cuối cùng Chưởng khố thành dâng tám mươi triệu. Chưởng khố làng lúc đó có chín mươi triệu, trong khi tài sản của Chưởng khố thành đến bốn trăm triệu nên không thể tranh lại. Do đó ông quyết định không những dâng hết tài sản mà cả chính ông, với vợ, bảy con trai và bảy con dâu làm nô lệ cho tháp này. Dân chúng đồng ý là tiền có thể kiếm được nhưng người này cùng vợ con tất cả là mười sáu người, đã tự hiến mình, rất là hãn hữu nên để ông đứng đầu.

Tuy danh nghĩa là nô lệ cho tháp nhưng dân chúng vẫn để họ tự do và chỉ có họ được coi sóc tháp. Mạng chung, họ tái sanh cõi trời và ở đó suốt thời gian giữa hai đức Phật. Thời Phật hiện tại người vợ sanh làm con gái phú gia. Thợ săn chính là chồng cũ của cô. Do đó khi gặp lại tình cảm trước kia phát sinh:

Do liên hệ từ trước,

Hay lợi thế hiện tiền,

Tình yêu lại nảy sanh,

Như đóa sen trong nước.

Cả con trai và con dâu đều gặp lại kiếp này.

Do công đức coi sóc ngôi tháp kiếp trước mà hiện đời được chứng quả Dự lưu.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

9. Thợ Săn Bị Bầy Chó Của Mình Nuốt Sống

Hại người không ác tâm...

Thế Tôn dạy câu này ở Kỳ Viên liên quan đến thợ săn Koka.

Sáng sớm, thợ săn Koka vào rừng với cung tên và bầy chó săn theo sau. Hắn trông thấy bên lề đường một Tỳ kheo đang vào làng khất thực. Hắn bực bội vì cho rằng gặp một kẻ xúi quẩy. Không biết có phải vì thế không, mà anh ta sục sạo trong rừng cả ngày chẳng được con thú nào. Còn Trưởng lão khất thực và thọ thực xong trở về Tinh xá. Cả hai gặp nhau, và thợ săn vẫn còn tức tối, lùa chó đến cắn Trưởng lão dù Ngài van xin hắn. Ngài vội vã trèo lên cây, bầy chó vây quanh dưới gốc. Thợ săn cay cú nói với theo:

- Ðừng tưởng thoát khỏi nanh vuốt của ta nhé!

Rồi hắn lấy mũi tên đâm vào bàn chân Trưởng lão. Ngài van xin nhưng hắn mặc kệ, cứ đâm hết nhát này tới nhát kia, cho đến khi bàn chân Ngài nát bét. Ngài kéo chân đó lên và thò chân kia xuống. Hắn lại đâm tiếp. Ngài lại kéo chân kia lên. Ngài quá đau nhức, như thể ngồi trên ngọn đuốc, đến nỗi không còn chú ý đến chuyện gì hết, chiếc y ngoài rơi xuống mà Ngài chẳng hay, và chiếc y chụp xuống đầu thợ săn trùm đến chân.

Bầy chó tưởng đó là Trưởng lão rớt trên cây xuống, chúng luồn dưới chiếc y kéo ra nhai sống anh thợ săn đến trơ xương. Chui ra khỏi đống y, chúng đứng đợi. Trưởng lão bẻ một cành cây khô ném xuống. Thấy Trưởng lão chúng mới biết là đã ăn thịt chủ mình, liền cong lưng chạy tót vào rừng.

Trưởng lão bất an khi thấy anh thợ săn mất mạng vì chiếc y của mình. Ngài trở về kể đầu đuôi câu chuyện cho Thế Tôn, và hỏi Phật không biết mình vô tội hay có còn là Tu sĩ không. Thế Tôn trả lời:

- Tỳ kheo! Sự vô tội của ông vẫn nguyên vẹn, ông vẫn là một Tu sĩ. Người nào xúc phạm đến người vô tội sẽ bị diệt vong. Ðây không phải là lần đầu, mà trong tiền kiếp tên thợ săn cũng đã từng phạm tội như thế.

Và Phật kể lại:

Chuyện quá khứ

A. Y Sĩ Ðộc, Bầy Trẻ Và Con Rắn Ðộc

Xa xưa, một y sĩ đi quanh làng kiếm việc làm, tìm không ra việc mà quá đói, ông chợt có ý định cho rắn độc cắn đám trẻ con đang chơi quanh cổng, để có cơ hội chữa vết thương cho chúng mà kiếm cơm. Ông bỏ con rắn vào một lỗ cây, cho thò đầu ra ngoài, dụ mấy đứa nhỏ rằng đó là con chim Sàlikà hãy lại bắt mà chơi. Một đứa trẻ chạy tới nắm cổ rắn kéo ra khỏi lỗ. Ngay khi thấy con rắn trong tay, nó hét lên và ném lên đầu y sĩ đang đứng gần đấy. Rắn quấn quanh vai ông, và ông chết vì bị rắn cắn.

Thế Tôn kết luận:

- Như vậy trong một tiền kiếp, chính thợ săn Koka này đã xúc phạm người vô tội và bị diệt vong.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(125) Hại người không ác tâm,

Người thanh tịnh, không uế.

Tội ác đến kẻ ngu,

Như ngược gió tung bụi.

10. Thợ Kim Hoàn, Tỳ Kheo Và Con Ngỗng

Một số sinh bào thai...

Phật đã dạy như thế khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Tissa, người thường đến thợ kim hoàn khất thực.

Trưởng lão này đã thọ thực tại nhà một người thợ kim hoàn hình như suốt mười hai năm. Ông bà chủ nhà phục vụ Ngài một cách tận tình, xem đó như bổn phận của bậc cha mẹ.

Một hôm đang ngồi chặt thịt, có Trưởng lão ngồi đối diện, thợ kim hoàn nhận một viên ngọc của vua Ba Tư Nặc gởi đến bảo chùi sạch, dùi lỗ xong trả vua. Tay dính máu ông vẫn cầm lấy viên ngọc bỏ vào hộp rồi vào phòng trong rửa tay. Ông có nuôi một con ngỗng trong nhà, rất cưng quí. Ngửi thấy mùi máu nó cho viên ngọc là miếng thịt nên nuốt chửng trước mắt Trưởng lão. Thợ kim hòan quay trở lại không thấy viên ngọc đâu hỏi vợ con, nhưng không ai biết. Ông nghi cho Trưởng lão đã lấy. Bà vợ không đồng ý vì đã bao năm lui tới, Trưởng lão chưa hề sai sót. Nhưng ông bối rối quá, không biết làm sao nên cũng phải hỏi Trưởng lão, và xin Ngài trả lại viên ngọc. Trưởng lão xác nhận mình không lấy, nhưng lúc đó chỉ có hai người, nên thợ kim hoàn cứ đinh ninh ngoài Trưởng lão không ai có thể lấy viên ngọc được. Vì trị giá viên ngọc quá lớn, mọi người trong nhà dù có làm nô lệ cũng không trả nổi, nên ông quyết định tra tấn Trưởng lão. Ông lấy y quấn quanh đầu Ngài và lấy gậy đập vào đầu Ngài. Máu tuôn xối xả từ đầu, tai, mũi và mắt của Ngài. Ðau quá Ngài ngã lăn xuống đất. Con ngỗng đánh hơi máu, đến sát Trưởng lão liếm máu. Thợ kim hoàn trong cơn tức giận, thấy thế đá con ngỗng lăn ra chết tốt. Trưởng lão thấy vậy bảo nới y quanh đầu Ngài ra, hỏi thăm con ngỗng ra sao, và khi biết chắc nó đã chết, Ngài mới cho biết chính con ngỗng đã nuốt viên ngọc. Nếu con ngỗng không chết, thà ông chết hơn là nói sự thật. Mổ bụng ngỗng ra, thấy viên ngọc, thợ kim hoàn bủn rủn chân tay, tim ông đập loạn lên, ông gieo mình xuống chân Trưởng lão van xin:

- Hãy tha thứ cho con, Tôn giả. Vì vô minh con đã làm như thế.

Trưởng lão bình thản đáp:

- Cư sĩ, tất cả không phải tại ông, cũng không phải tại tôi, chỉ có luân hồi chịu trách nhiệm việc này. Tôi tha thứ cho ông.

- Bạch Tôn giả, nếu thật sự Ngài tha thứ cho con, một lần nữa con xin Ngài hãy thường xuyên đến nhà và nhận cúng dường từ chính tay con.

- Cư sĩ, từ nay trở đi tôi sẽ không bước chân vào nhà của bất cứ ai. Tôi nguyện như thế, vì vào nhà người đã gây hậu quả như đã thấy. Từ nay trở đi, khi nào tôi còn đi được trên đôi chân, tôi chỉ nhận thức ăn trước cửa nhà mà thôi.

Trưởng lão đã quyết giữ Phạm hạnh. Và Ngài nói kệ sau:

Thức ăn nấu cho người trí,

Một chút ở đó, ở đây,

Từ nhà nọ đến nhà kia,

Ta đi nhận vật tín thí,

Trên khắp mọi miền ta qua,

Khi còn đôi chân bền bỉ.

Chẳng bao lâu Trưởng lão nhập Niết bàn vì trận đòn của thợ kim hoàn. Con ngỗng tái sanh vào bụng vợ thợ kim hoàn. Ông bị đọa xuống Địa ngục còn bà sanh lên cõi trời.

Các Tỳ kheo hỏi Thế Tôn về kiếp sau của họ, và được Phật cho biết:

- Các Tỳ kheo! Chúng sanh trên thế gian, một số nhập thai lại, người ác đọa Địa ngục, người thiện lên cõi trời, còn người hết lậu hoặc thì vào Niết bàn.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(126) Một số sanh bào thai,

Kẻ ác sanh Địa ngục,

Người thiện lên cõi trời,

Vô lậu chứng Niết bàn.

11. Ba Nhóm Tỳ Kheo

Không trên trời, giữa biển...

Phật đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến ba nhóm người.

Chuyện hiện tại

A. Con Quạ Bị Chết Cháy

Một số Tỳ kheo đến thăm Thế Tôn xong, rời Tinh xá, vào làng khất thực. Dân làng lấy bát, phân phối chỗ ngồi trong nhà nghỉ và trong khi chờ dâng cúng, họ nghe pháp. Bỗng một ngọn lửa phụt cháy dưới nồi cơm đang nêm xốt và cà- ri, bắt lên mái tranh. Một nắm tranh cháy đỏ bung ra khỏi mái, bay lơ lửng trên không. Một con quạ bay qua đâm cổ vào nắm tranh ấy bị đốt cháy đến dòn rụm và rớt xuống đất. Mọi việc xảy ra trước mặt các Tỳ kheo, thật khủng khiếp. Họ đồng lòng đến hỏi Thế Tôn xem kiếp trước con quạ đã làm gì.

Chuyện hiện tại

B. Người Ðàn Bà Bị Ném Xuống Biển

Một nhóm Tỳ kheo thứ hai đi thăm Thế Tôn trên một chiếc thuyền. Ra giữa biển thuyền bỗng đứng lại không nhúc nhích. Hành khách nghi có một tên xúi quẩy nên rút thăm xem là ai. Thăm rơi trúng vợ thuyền trưởng là một thiếu phụ trẻ đẹp. Họ đồng ý rút thăm lại, lần thứ hai rồi lần thứ ba cũng là vợ thuyền trưởng. Hành khách nhìn thẳng mặt ông hỏi ông bây giờ tính sao? Ông ra lệnh ném cô vợ xuống biển. Cô thét lên kinh hãi vì quá sợ chết. Thuyền trưởng bèn bảo tháo hết nữ trang, rồi vì không đủ can đảm chứng kiến cô vùng vẫy trên mặt biển, ông bảo cột bình cát vào cổ xong hãy ném. Khi thân cô chạm mặt nước, cá và rùa bơi đến rỉa thịt cô. Ngoài Thế Tôn không ai biết được kiếp trước cô đã là gì, vì thế các Tỳ kheo trên thuyền định sẽ hỏi Thế Tôn khi lên bờ.

Chuyện hiện tại

C. Các Tỳ Kheo Bị Giam Trong Hang

Có bảy Tỳ kheo lên đường đi gặp Thế Tôn. Họ đến Tinh xá nọ vào buổi chiều. Lúc đó có bảy chiếc giường trong một thạch thất, và họ ngủ trong đó. Ðêm khuya, một hòn đá lớn bằng ngôi chùa lăn từ dốc bên kia xuống và bít lối vào hang. Các Tỳ kheo tại đó cùng với dân trong bảy làng hợp lực hết mình cùng với Tỳ kheo bên trong đẩy hòn đá đi, nhưng không nổi. Suốt bảy ngày người bị nhốt đói meo; đến ngày thứ bảy, thình lình hòn đá tự động lăn khỏi miệng hang. Các khách tăng được trả tự do, họ chờ gặp Phật để hỏi nguyên nhân.

Trên đường đi, họ gặp hai nhóm Tỳ kheo trước và chung đường đến gặp Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Tuần tự mỗi nhóm xin Phật giải thích và được nghe Phật kể:

Chuyện quá khứ

D. Ðốt Cháy Một Con Bò

- Này các Tỳ kheo! Thuở xưa con quạ là một nông dân ở Ba La Nại. Anh cố hết sức điều khiển con bò nhưng nó đi một chút lại nằm xuống, dù bị đánh. Anh nổi giận mắng nó:

- Tốt lắm! Từ phút này, mày sẽ nằm lại đây cho vừa lòng mày.

Anh lấy rơm quấn hết thân con bò rồi mồi lửa. Bò bị cháy đến dòn và chết ngay. Do hành động ác đó, anh ta chịu đau đớn trong Địa ngục rất lâu, sau đó vì nghiệp báo chưa hết phải bảy lần liên tiếp làm thân quạ bị đốt cháy.

Chuyện quá khứ

E. Dìm Chết Một Con Chó

Người đàn bà này đã chịu đau đớn giống hệt một lần bà đã gây cho kẻ khác. Xưa, bà là vợ một gia chủ ở Ba La Nại. Bà tự tay làm mọi việc trong nhà, từ lấy nước, giã gạo, nấu nướng, với một con chó ngồi một bên. Ra ngoài đồng gom lúa hay vào rừng nhặt củi, con chó cũng đi theo. Ðám thanh niên thấy thế chọc ghẹo bà:

- A! Ðây là thợ săn đi với con chó. Hôm nay chúng ta sẽ có thịt ăn đấy!

Bực mình, bà đánh chó, ném đá đất và đuổi nó đi. Nhưng chạy đi một quãng, nó quay trở lại theo bà. (Trong kiếp trước, con chó là chồng bà, do đó tình cảm của nó đối với bà vẫn còn).

Bà rất tức giận, nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Gom lúa đủ dùng, lượm một sợi dây cột vào chéo áo, bà về nhà, con chó vẫn lẽo đẽo theo sau. Lo bữa ăn cho chồng xong, bà lấy cái bình không ra hồ nước. Ðổ cát đầy bình, bà nhìn quanh và nghe tiếng chó sủa bên cạnh. Chó chạy đến, ngoắc đuôi mừng rỡ vì tưởng bà sẽ vui vẻ với nó. Bà nắm chặt cổ nó buộc vào một đầu dây, còn đầu kia cột bình nước, quăng xuống hồ. Con chó bị bình kéo xuống nước chết ngay. Hành động ác chín muồi, bà ta bị đọa rất lâu ở Địa ngục. Sau đó nghiệp báo chưa hết, nên trong một trăm kiếp liên tiếp bà bị cột cổ vào bình cát ném xuống biển chết chìm.

Chuyện quá khứ

F. Giam Cầm Một Con Cắc Kè

Cũng thế, này các Tỳ kheo! Các ông phải chịu đau đớn y như lần đã gây cho người khác. Xưa, bảy chú mục đồng ở Ba La Nại chăn một bầy gia súc từng đợt bảy ngày. Gặp một con cắc kè khổng lồ, mấy chú đuổi theo, nhưng nó đã nhanh chân chui vào ụ mối có bảy lỗ.

Mấy chú đành chịu thua, nhưng hẹn sẽ trở lại. Ngày mai mấy chú trở lại ụ mối, mỗi người lấy cây chà nhét bít mỗi lỗ, xong lùa bò đi nơi khác. Bảy ngày sau, nhớ đến con cắc kè, bảy chú mục đồng trở lại ụ mối moi lấy cây chà ra, cắc kè bò ra ngoài chẳng kể sống chết, chỉ còn da bọc xương, run lẩy bảy. Bảy chú thương tình bảo nhau đừng giết nó, và còn vuốt lưng chúc nó đi bình an. Do đó tuy bảy chú không rơi vào Địa ngục, nhưng mười bốn kiếp liên tiếp thiếu thức ăn trong bảy ngày liền. Các Tỳ kheo, các ông là bảy mục đồng ấy, và đó chính là hành động xấu ác mà các ông đã làm.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Như thế Phật đã trả lời câu hỏi của ba nhóm Tỳ kheo, giải thích cả ba chuyện đã xảy ra. Một Tỳ kheo vẫn còn thắc mắc, hỏi:

- Bạch Thế Tôn, một người làm ác không thể nào tránh hậu quả bằng cách bay lên không, lao xuống nước, hay trốn vào hang núi sao?

Phật đáp:

- Này các Tỳ kheo! Không thể tìm ra nơi nào để trốn tránh, dù trên không, dưới biển hay trong lòng đất. Không nơi nào trên thế gian này có thể thoát khỏi hậu quả của việc làm ác.

Và Ngài nói Pháp Cú:

(127) Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn được quả ác nghiệt.

12. Suppabbuddha Lăng Nhục Ðạo Sư

Không trên trời, giữa biển...

Phật đã dạy câu trên khi ngụ tại Tinh xá Nigrodha liên quan đến vua Thiện Giác (Suppabbuddha) họ Thích.

Vua Thiện Giác họ Thích không bằng lòng Thế Tôn vì Ngài đã bỏ con gái ông đi tu. Rồi con trai ông được nhận vào Tăng đoàn khiến ông hận thù thêm. Ông rắp tâm ngăn cản Thế Tôn, đi đến nơi mời Ngài thọ thực. Một hôm ông ngồi giữa đường, uống rượu mạnh, đón Phật để cản đường. Ðược loan tin Phật và Tăng chúng sắp đến, ông thản nhiên bảo:

- Hãy bảo ông cứ đi đường ông. Ông không lớn hơn ta, ta sẽ không tránh đường.

Thế Tôn bị từ chối nhường đường nên quay trở về. Thiện Giác sai bộ hạ do thám xem Thế Tôn có nói gì không. Khi quay về, Trưởng lão A Nan hỏi Phật tại sao Ngài mỉm cười và được Phật giải thích là vì vua Thiện Giác đã phạm lỗi nặng khi không chịu tránh đường cho một vị Phật đi qua, bảy ngày nữa nơi tầng trệt cung điện, ngay chân cầu thang, vua sẽ bị đất nuốt. Tên bộ hạ nghe được liền về báo lên vua. Thiện Giác vẫn còn căm hận nên quyết chứng minh Thế Tôn là người nói dối.

Vua cho mang hết các thứ cần dùng lên tầng cao nhất trong cung điện bảy tầng, sai dẹp cầu thang qua một bên và đóng cửa lại cài thanh ngang thật chắc, và có hai lực sĩ gác ở mỗi cửa. Vua dặn họ:

- Nếu ta có quên đi xuống, hãy làm ta trở lui.

Rồi vua vào ở trong căn phòng lộng lẫy trên tầng lầu thứ bảy. Thế Tôn nghe ông làm thế, bảo:

- Các Tỳ kheo! Vua Thiện Giác sẽ không được như ý trên tầng lầu chót của cung điện. Dù ông ta bay lên trời, ngồi trong thuyền ra biển, hay vào trong lòng núi, lời của chư Phật cũng không thể nào sai chạy. Chắc chắn ông ta sẽ bị đất nuốt như Ta đã nói.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(128) Không trên trời, giữa biển,

Không lánh vào động núi,

Không chỗ nào trên đời,

Trốn khỏi tay thần chết.

Bảy ngày sau, kể từ khi Thế Tôn bị cản đường, con ngựa chiến của vua bị xổng chuồng ở tầng trệt chạy chung quanh và đá vào tường này rồi đá vào tường khác. Vua đang ở tầng cao nhất nghe náo động liền hỏi và được trả lời tức thì. Ðến khi ngựa thấy vua, nó dịu xuống ngay. Vua muốn bắt nó nên đứng dậy ra phía cửa. Ðúng lúc ấy cửa tự động mở, thang trở về chỗ cũ, lực sĩ gác cửa túm cổ ông ta ném xuống. Cũng y như thế cánh cửa của bảy tầng lầu tự động mở, các cầu thang trở về chỗ cũ, và lực sĩ gác cửa nắm cổ ông ném xuống. Khi vua chạm đến tầng trệt, đại địa nứt ra nuốt sống ông ta và ông bị đọa vào Địa ngục A tỳ.


 

Phẩm X: Hình Phạt

1. Lục Quần Tỳ Kheo

Mọi người sợ hình phạt...

Thế Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến lục quần Tỳ kheo.

Mười bảy vị Tỳ kheo vừa sửa soạn xong chỗ ở thì nhóm Lục quần Tỳ kheo tới bảo:

- Chúng ta lớn hơn, chỗ này thuộc về chúng ta.

Mười bảy vị kia không chịu vì sửa soạn trước nhất. Lục quần Tỳ kheo liền đánh các Tỳ kheo huynh đệ của mình. Khủng khiếp vì sợ chết, họ gào đến bể phổi. Thế Tôn nghe tiếng la thét hỏi chuyện, rồi Ngài ban hành giới luật về việc hành hung:

- Các Tỳ kheo! Từ nay trở đi, một Tỳ kheo không được hành hung. Ai làm điều này là phạm tội.

Và Ngài dạy tiếp:

- Này các Tỳ kheo! Ta phải nhớ rằng cũng như ta, người khác run rẩy trước gậy gộc và sợ chết. Do đó chớ đánh hay giết người.

Phật đọc Pháp Cú:

(129) Mọi người sợ hình phạt,

Mọi người sợ tử vong.

Lấy mình làm ví dụ,

Không giết, không bảo giết.

2. Lục Quần Tỳ Kheo

Mọi người sợ hình phạt...

Thế Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, vì nhóm Lục quần Tỳ kheo.

Câu chuyện cũng tương tự như trên. Khi Lục quần Tỳ kheo tấn công nhóm mười bảy Tỳ kheo, nhóm sau có cử chỉ đe dọa. Thế Tôn cũng nghe tiếng gào thét, kêu đến hỏi, và ban hành giới luật:

- Các Tỳ kheo! Từ nay trở đi, không Tỳ kheo nào được làm như thế. Ai làm điều này là phạm tội.

Và Ngài dạy tiếp:

- Này các Tỳ kheo! Một Tỳ kheo phải biết, cũng như ta người khác cũng run sợ trước gậy gộc, và cũng như ta người khác cũng ham sống. Nhớ nghĩ điều này trong tâm, không được đánh hay giết người khác.

Phật đọc Pháp Cú:

(130) Mọi người sợ hình phạt,

Mọi người ưa sống còn.

Lấy mình làm ví dụ,

Không giết, không bảo giết.

3. Một Bầy Trẻ

Chúng sanh cầu an lạc...

Do chuyện bầy trẻ con, Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên.

Nhân đi vào Xá Vệ khất thực, Thế Tôn thấy một đám trẻ lấy gậy đánh rắn. Ngài hỏi vì sao, chúng bảo vì sợ rắn cắn. Phật liền dạy:

- Nếu các con đánh rắn này vì nghĩ rằng như thế sẽ bảo vệ được hạnh phúc của mình, hậu quả là sau này tái sanh vào các nơi khác nhau các con sẽ không được hạnh phúc. Ai tìm hạnh phúc cho mình thì không đánh đập kẻ khác.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(131) Chúng sanh cầu an lạc,

Ai dùng trượng hại người,

Ðể an lạc cho mình,

Ðời sau không an lạc.

(132) Chúng sanh cầu an lạc,

Không dùng trượng hại người,

Ðể an lạc cho mình,

Ðời sau được an lạc.

4. Tỳ Kheo Và Con Ma

Chớ nói lời độc ác...

Vì Trưởng lão Kundadhàna mà Thế Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên.

Từ khi Kundadhàna trở thành Tỳ kheo, bất cứ Ngài đi đâu cũng có một phụ nữ đi theo. Trưởng lão không thấy, nhưng mọi người khác đều thấy. Vào làng khất thực, dân chúng cũng dâng Ngài một phần trước, và sau đó phần thứ hai cho cô kia.

Chuyện quá khứ

A. Thiên Nữ Hiện Hình Phụ Nữ

Thời Phật Ca Diếp, có hai Tỳ kheo bạn rất thân nhau như hai anh em ruột. Thời Phật Dìghàyu, năm này qua tháng nọ, các Tỳ kheo đều gặp nhau vào ngày Bố tát. Hai Tỳ kheo ấy đều đến giảng đường Bố tát một lượt.

Một thiên nữ ở cõi trời Ba mươi ba thấy vậy bỗng có ý định tách họ ra. Ý tưởng điên rồ vừa sinh trong lòng thì một vị tách ra đi vệ sinh. Thiên nữ liền hóa thành một phụ nữ đi vào bụi cây với vị đó, rồi cùng đi ra, một tay vuốt lại búi tóc, tay kia sửa y phục. Chính vị đó thì không thấy, nhưng vị đứng chờ thì thấy. Khi đã biết thế, cô liền biến mất. Vì thế Tỳ kheo bạn vừa đứng vào chỗ mình thì vị đang đứng nghiêm sắc mặt bảo:

- Này huynh, huynh đã phạm giới dâm.

- Trời, tôi đâu có làm việc đó!

- Không à? Thế cô nào đi sau huynh đó, vừa đi vừa sửa quần áo.

Trưởng lão như bị sét đánh, Ngài lắp bắp:

- Này huynh, chớ hại tôi, tôi không hề làm như thế!

- Ðiều gì tôi thấy, tôi thấy bằng chính mắt tôi. Ðừng mong tôi tin huynh!

Rồi ông bẻ đầu gậy đi chỗ khác.

Trong giảng đường Bố tát, ông không chịu Bố tát chung với bạn mình. Thiên nữ thấy thế, biết mình đã phạm lỗi lầm nghiêm trọng, cô liền thú thật:

- Tôn giả! Vị Trưởng lão thật sự không phạm giới. Tôi làm như thế chỉ cốt thử ông ta. Xin hãy Bố tát chung với ông ta như thường lệ.

Thấy thiên nữ đứng trên hư không nói như thế, Tỳ kheo này tin theo, chịu Bố tát chung, nhưng không còn thân thiện với bạn cũ nữa.

Mạng chung, hai Trưởng lão tái sanh theo thiện nghiệp của họ. Còn thiên nữ bị đọa vào Địa ngục A tỳ, chịu hình phạt suốt thời kỳ giữa hai đức Phật. Thời Phật hiện tại, cô sanh làm đàn ông, xuất gia thành Tỳ kheo, và làm tròn bổn phận của mình. Từ ngày đi tu, luôn luôn có một nữ nhân đi theo, do đó có tên là Kundadhàna.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Các Tỳ kheo thấy thế bảo Trưởng giả Cấp Cô Ðộc đuổi vị ấy ra khỏi Tinh xá để khỏi mang tiếng. Nhưng Trưởng giả bảo để Phật giải quyết. Các Tỳ kheo bảo bà Tỳ Xá Khư y như thế, và bà cũng trả lời y như Trưởng giả. Họ không hài lòng hai Cư sĩ này, nên kể cho vua nghe và yêu cầu vua đuổi vị ấy ra khỏi vương quốc. Vua bằng lòng, và đến Tinh xá, đứng ngay lối vào phòng Trưởng lão. Trưởng lão nghe ồn, bước ra, vua thấy bóng một phụ nữ đứng sau. Khi Trưởng lão vào phòng ngồi xuống, vua không đảnh lễ vị ấy, nhưng cũng không thấy cô đó nữa. Vua nhìn phía trong cửa, dưới giường phòng, thì cô lại hiện ra phía sau. Vua kết luận đó là một bóng ma, và thưa với Trưởng lão:

- Tôn giả, có hình bóng bất tịnh theo sau, sẽ không có ai cúng cho Ngài. Xin thỉnh Ngài đến Hoàng cung, tôi sẽ cung cấp tứ sự.

Các Tỳ kheo bất mãn, bảo vua là tệ ác, còn Trưởng lão là đồi bại, và bây giờ lại thành con hoang của vua. Trưởng lão, trước giờ không hề đối đáp, bây giờ trả đũa, bảo các Tỳ kheo là đồi bại, là con hoang của vua, là giao thiệp với phụ nữ. Các Tỳ kheo bèn đi thưa Thế Tôn. Phật gọi lại hỏi và dạy:

- Các Tỳ kheo thấy một nữ nhân theo sau ông, và họ nói những gì mà họ thấy. Nhưng còn ông, tại sao ông nói những gì ông không thấy? Chắc chắn vì tà kiến trong một tiền kiếp mà sự kiện này xảy đến với ông, bây giờ tại sao ông lại có thái độ sai lầm nữa?

Các Tỳ kheo lại hỏi Trưởng lão đó đã làm gì trong tiền kiếp, Phật thuật lại các nghiệp của ông và kết luận:

- Tỳ kheo chính vì ác nghiệp mà ông phải rơi vào cảnh ngộ đáng buồn này, ông không nên có thái độ sai lầm nữa. Ðừng trả treo với các Tỳ kheo. Ðừng nói một lời nào, như chuông đồng bể miệng không phát ra tiếng. Như thế ông có thể đạt đến Niết bàn.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(133) Chớ nói lời ác độc

Nói ác, bị nói lại,

Khổ thay lời phẫn nộ,

Ðao trượng phản chạm người.

(134) Nếu tự mình yên lặng,

Như quả chuông bể miệng,

Người đã chứng Niết bàn.

Sẽ không còn phẫn nộ.

5. Tỳ Xá Khư Và Quyến Thuộc Giữ Bát Quan Trai

Với gậy người chăn bò...

Thế Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Pubbàràma, liên quan đến Tỳ Xá Khư và các nữ Cư sĩ của bà trong ngày thọ bát quan trai.

Tại Xá Vệ, ngày đại lễ trai giới, năm trăm phụ nữ tuân giữ giới luật trai giới và đến Tinh xá. Tỳ Xá Khư hỏi trong họ vì mục đích gì mà giữ giới luật.

Người già nhất trả lời:

- Chúng tôi mong phước báo cõi trên.

Người trung niên:

- Ðể thoát khỏi quyền lực của chồng.

Người trẻ:

- Chúng tôi muốn có con.

Thiếu nữ mới lớn:

- Chúng tôi muốn có chồng.

Tỳ Xá Khư dẫn tất cả đến gặp Phật kể lại các câu trả lời, và được Phật dạy:

- Tỳ Xá Khư! Chúng sanh trong thế gian đều bị sanh, già, bệnh, chết, giống như mục đồng cầm gậy trong tay. Sanh đuổi họ đến già, già đuổi họ đến bệnh, và bệnh đuổi họ đến chết. Bốn khổ này như rìu cắt ngắn đời sống. Tuy thế, chẳng ai muốn đừng tái sanh. Tái sanh là mong ước của mọi người.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(135) Với gậy người chăn bò,

Lùa bò ra bãi cỏ.

Cũng vậy già và chết

Lùa người đến mạng chung.

6. Ngạ Quỷ Hình Trăn

Người ngu làm điều ác...

Do chuyện Ngạ quỷ có hình trăn, Thế Tôn dạy câu trên ở Tinh xá Trúc Lâm.

Từ đỉnh Linh Thứu, Trưởng lão Ðại Mục Kiền Liên và Lakkhana xuống thành Vương Xá khất thực. Dọc đường, Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn thấy một Ngạ quỷ trong tướng hình trăn dài hai mươi lăm dặm, bị lửa thiêu đốt khắp mình mẩy. Ngài mỉm cười, vị kia hỏi lý do, Ngài bảo đợi đến gặp Phật sẽ nói. Và trước mặt Phật, Ngài giải thích vì từ trước đến giờ chưa hề trông thấy Ngạ quỷ như thế, nên Ngài mỉm cười. Phật cũng xác nhận:

- Các Tỳ kheo, đệ tử Ta có thiên nhãn và đã sử dụng. Chính Ta đã thấy Ngạ quỷ này khi lên ngôi Chánh giác, nhưng Ta không nói ra vì người không tin lời Ta sẽ có hại cho họ. Nay đã có Mục Kiền Liên chứng kiến, Ta mới nói.

Và theo lời yêu cầu của các Tỳ kheo, Ngài kể:

Chuyện quá khứ

A. Chưởng khố Sumangala và Kẻ Trộm

Thời Phật Ca Diếp, Chưởng khố Sumangala đem vàng trải một khoảng đất rộng hai mươi Usabha, tức bằng số tiền xây một Tinh xá, kể cả chi phí tổ chức lễ khánh thành Tinh xá đó.

Một sáng sớm, trên đường đi đảnh lễ Thế Tôn, ông bắt gặp một tên trộm đang núp ở nhà nghỉ cổng thành, chân bê bết bùn, áo trùm khỏi đầu.

Ông biết hắn đã rình suốt đêm đâu đây. Tên trộm bị phát hiện, đem lòng căm thù ông. Hắn đốt ruộng ông bảy lần, đốt nhà bảy lần, chặt chân bò bảy lần. Chưa hả tức, hắn đánh bạn với gia nhân của ông để hỏi xem ông quý trọng cái gì nhất. Ðược biết đó là hương thất, hắn đợi Thế Tôn vào thành khất thực, liền đập bể bình đựng nước với thức ăn rồi nổi lửa đốt.

Nghe tiếng kêu hương thất bị cháy, Chưởng khố chạy tới nhưng đã muộn. Không mảy may buồn tiếc, ông còn hân hoan vỗ tay thật to. Người ta ngạc nhiên hỏi, thì ông giải thích vì sẽ có dịp cúng tiền để xây dựng lại hương thất. Tên trộm nghe thế, cho rằng không thể đánh bại ông, trừ khi giết ông chết. Trong bảy ngày đó ông cúng dường Tăng chúng, và ngày cuối, ông đảnh lễ Phật thưa:

- Bạch Thế Tôn, con biết rằng có một người nào đó bảy lần đốt ruộng, bảy lần đốt nhà, bảy lần chặt chân bò, và cũng chính người ấy đốt hương thất. Con xin nhường phước báo đầu tiên của lần cúng dường này đến người ấy.

Tên trộm núp đâu đó, nghe được, lòng cảm thấy hổ thẹn vì tội lỗi lớn lao của mình, và lo âu vua sẽ giáng hình phạt xuống đầu. Do đó hắn phủ phục dưới chân Chưởng khố xin tha thứ. Chưởng khố hỏi chuyện hắn từ đầu tới đuôi, và cũng xin lỗi hắn vì lỡ thốt ra lời nghi kỵ trong đêm bắt gặp hắn núp. Và cả hai bên tha thứ lẫn nhau. Tên trộm còn xin cho hai vợ chồng hắn làm nô lệ cho Chưởng khố, nhưng ông không nhận và bảo hắn đi đi.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Và Thế Tôn kết luận:

- Do tạo nghiệp ác như thế, khi mạng chung tên trộm bị đọa vào Địa ngục A tỳ, chịu hình phạt ở đó rất lâu, nhưng quả báo chưa hết, hắn phải chịu đau khổ trên đỉnh Linh Thứu. Các Tỳ kheo! Khi làm điều ác, kẻ ngu không biết việc ác của mình. Nhưng về sau, hắn sẽ bị thiêu đốt do nghiệp ác đã tạo, như rừng bị lửa cháy.

Và Ngài nói Pháp Cú:

(136) Người ngu làm điều ác,

Không ý thức việc làm.

Do tự nghiệp, người ngu

Bị nung nấu như lửa.

7. Cái Chết Của Ðại Mục Kiền Liên

Dùng trượng phạt không trượng...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Trúc Lâm, liên quan đến Ðại Mục Kiền Liên.

Các ngoại đạo bàn tán với nhau không hiểu tại sao Sa môn Cồ Đàm được nhiều phẩm vật cúng dường đến thế. Một người nói mình biết lý do. Ðược như thế là Mục Kiền Liên, vì Mục Kiền Liên lên cõi trời hỏi chư thiên đã tạo công đức gì, rồi trở về thế gian kể cho mọi người do làm điều này, điều nọ... rồi ông xuống Địa ngục hỏi các tội nhân tại sao làm thế và cũng trở về thế gian kể lại do phạm tội như thế, như thế. Dân gian tin lời ông, nên đem nhiều phẩm vật đến cúng dường. Bây giờ nếu giết ông đi, thì số phẩm vật đó sẽ về tay các ngoại đạo.

Họ đồng thanh cho là ý kiến hay. Sau đó họ quyên góp các thí chủ được một ngàn đồng, kiếm được một vài tên du đãng cướp bóc, thuê chúng đến Hắc Thạch giết Trưởng lão. Chúng đến ngay nơi Ngài ở, bao vây. Ngài chui qua lỗ khóa trốn thoát. Chúng trở lại và bao vây nữa, Ngài chọc thủng mái nhà bay lên hư không. Suốt hai tháng, bọn du đãng làm đủ cách, nhưng vẫn thất bại. Ðến tháng thứ ba, thấy quả báo do nghiệp ác đã tạo trong tiền kiếp đã đến, Ngài không cố gắng thoát đi nữa. Cuối cùng bọn du đãng bắt được Ngài. Chúng xé tay chân Ngài giã xương nát ra như hạt gạo, quăng hết vào bụi rậm rồi bỏ đi.

Trưởng lão muốn đảnh lễ Thế Tôn trước khi nhập Niết bàn, nên tự quấn mình bằng định lực làm thân cứng lại, và bay lên không, đến gặp Phật, đảnh lễ và thưa:

- Bạch Thế Tôn, con sắp nhập Niết bàn.

Phật hỏi:

- Tại đâu?

- Tại Hắc Thạch, bạch Thế Tôn!

- Vậy thì hãy tụng pháp cho Ta nghe trước khi đi, vì từ nay Ta sẽ không còn thấy lại đệ tử của Ta nữa.

Mục Kiền Liên vâng lời. Trước tiên Ngài bay lên không, biến hóa thần thông như Trưởng lão Xá Lợi Phất đã làm trước khi nhập Niết bàn.

Tin bọn du đãng giết Mục Kiền Liên bay khắp miền Diêm phù đề. Vua A Xà Thế tức tốc phái do thám tìm thủ phạm. Bọn chúng đang nhậu nhẹt trong một quán rượu. Ðứa này nện lưng đứa kia khiến nó té xuống đất. Rồi hai đứa chửi lộn:

- Tại sao mày đánh lên lưng tao? Làm tao té?

- Mày là đồ ăn trộm, du thử du thực. Mày là kẻ đầu tiên đánh Ðại Mục Kiền Liên.

- Sao mày biết tao đánh?

Rồi nhiều tiếng nói hỗn độn:

- Chính tao đánh nè!

- Chính tao đánh nè!

Do thám của vua bắt hết cả bọn. Về triều chúng khai các đạo sĩ lõa thể chủ mưu. Vua bắt năm trăm đạo sĩ chung với năm trăm tên trộm bỏ xuống hố sâu đến thắt lưng đã đào sẵn trước sân Hoàng cung, cho phủ rơm khắp mình chúng, đốt đến cháy dòn, xong cho cày sắt cày ra từng mảnh.

Các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường là Ðại Trưởng lão không xứng để chịu chết như vậy. Phật giải thích đó là ác nghiệp trong tiền kiếp. Và Ngài kể:

Chuyện quá khứ

A. Ðứa Con Giết Cha Mẹ

Ngày xưa, có một chàng trai rất có hiếu. Mọi việc trong nhà như giã gạo, nấu ăn... một tay anh làm hết, chí đến săn sóc cha mẹ anh cũng hết sức chu đáo. Thấy con quá vất vả, hai ông bà định cưới dâu để đỡ đần phần nào. Anh lắc đầu nguầy nguậy, chỉ muốn chính tay mình hầu hạ cha mẹ mà thôi. Nhưng hai ông bà cương quyết cưới vợ cho con, cuối cùng một cô gái trẻ được rước về nhà. Cô ta hầu hạ cha mẹ chồng chỉ được vài ngày, sau đó bắt đầu nói nặng nhẹ. Cô cứ cằn nhằn với chồng là không thể ở nổi nhà này nữa. Ðợi anh đi vắng, cô lấy đất cục, váng cháo rải khắp nhà. Anh chồng về thấy nhà cửa tùm lum như thế, hỏi cô. Ðược dịp cô tru tréo:

- Cha mẹ già mù lòa của anh làm đấy! Cứ vứt bừa, vứt bãi ra thế! Tôi dọn muốn đứt hơi! Khổ thân tôi, làm sao mà tôi sống cho nổi!

Cô cứ than van, rên rỉ mãi, khiến anh chồng bực mình. Trước đây là người đàng hoàng, có hiếu, nay hết thương cha mẹ, và còn tìm cách đối xử ác đối với họ.

Anh gạt cha mẹ lên xe đi thăm bà con. Vào đến rừng sâu, anh trao dây cương cho cha, bảo chỗ này bọn cướp hay rình rập, anh phải xuống xe, nhưng con bò đã rành đường, không lo. Anh đi xa một quãng thì la hét ầm ĩ, càng lúc càng to, như thể bọn cướp sắp tấn công tới nơi. Hai ông bà nhìn quanh nhìn quất cũng chỉ thấy một màn đen tối, nhưng thương con, chỉ nghĩ đến hạnh phúc của nó, nên vội bảo:

- Con ơi! Cha mẹ già rồi, đừng lo nữa, mà hãy tự cứu lấy mình.

Nhưng anh vẫn mặc kệ, giả làm bọn cướp hét đánh và giết hai ông bà, vứt thi thể trong rừng. Xong trở về nhà.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Thế Tôn kết luận:

- Các Tỳ kheo! Mục Kiền Liên đã phạm trọng tội như thế. Ông chịu đau khổ vô số trăm ngàn năm ở Địa ngục. Sau đó, vì ác báo chưa hết, nên một trăm kiếp liên tiếp bị đánh chết thân xác xé tan từng mảnh. Do đó Mục Kiền Liên phải chịu chết như thế tương ứng với ác nghiệp kiếp trước. Cũng vậy năm trăm đạo sĩ lõa thể và năm trăm tên cướp đã tấn công người không gây hấn với chúng, phải chịu chết tương ứng với tội lỗi đó.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(137) Dùng trượng phạt kẻ không trượng,

Làm ác người không ác,

Trong mười loại khổ đau,

Chịu gấp một loại khổ.

(138) Hoặc khổ thọ khốc liệt,

Thân thể bị thương vong,

Hoặc thọ bệnh kịch liệt,

Hay loạn ý tán tâm.

(139) Hoặc tai họa từ vua,

Hay bị vu trọng tội,

Bà con phải ly tán,

Tài sản bị nát tan.

(140) Hoặc phòng ốc nhà cửa,

Bị hỏa tai thiêu đốt,

Khi thân hoại mạng chung,

Kẻ ác sanh Địa ngục.

8. Tỳ Kheo Lắm Của

Không phải sống lõa thể...

Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến một Tỳ kheo nhiều của cải.

Nhân bà vợ qua đời, một gia chủ ở Xá Vệ từ bỏ thế gian, thành Tỳ kheo. Ông xây một thất riêng, một nhà bếp và một nhà kho, trong đó ông chứa đầy nào bơ, nào mật, đủ các thứ. Dù đã là Tỳ kheo, ông vẫn có nô lệ riêng. Họ nấu cho ông ăn theo sở thích, và ông chỉ ăn những món đó mà thôi. Ông cũng còn nhiều nhu cầu, như một bộ y ban đêm và bộ khác qua ngày. Ông ở sát bên Tinh xá. Một hôm đang phơi y và ngọa cụ, các Tỳ kheo trông thấy ông có quá nhiều đồ đạc, bèn dẫn ông đến với Thế Tôn.

Thế Tôn hỏi lại ông cho rõ:

- Tỳ kheo, họ báo cáo về ông có đúng không?

Ông đáp:

- Vâng, bạch Thế Tôn, đúng vậy!

- Tỳ kheo, Ta đã dạy rất rõ là nên tri túc thiểu dục, sao ông chất chứa nhiều của cải như vậy?

Giận dữ vì chút xíu đó, ông la lên:

- Rồi, tôi sẽ đi khắp nơi như thế này đây.

Vừa nói ông vừa quăng thượng y, chỉ mặc nội y đứng giữa hội chúng.

Thế Tôn vẫn kham nhẫn khuyên tiếp:

- Này Tỳ kheo, trong tiền kiếp khi làm thủy tinh ông đã giữ được tính khiêm cung và biết sợ tội chết trong suốt mười hai năm. Tại sao bây giờ ông hư đốn thế? Ðã từ bỏ thế gian thành một Tỳ kheo theo một vị Phật tôn quý như thế, sao ông cởi y, quên tính khiêm cung và không biết sợ tội nữa?

Tỳ kheo như chợt tỉnh, ông khiêm cung trở lại, biết sợ tội chết, quấn y, đảnh lễ Phật và cung kính ngồi xuống một bên.

Theo lời thỉnh cầu của các Tỳ kheo, Phật kể lại:

Chuyện quá khứ

A. Mahimsàsa Và Hai Hoàng tử Mặt Trăng, Mặt Trời

Thật xa xưa, thuở Phật còn là Bồ tát, Ngài làm Hoàng tử của chánh hậu Ba La Nại, tên là Mahimsàsa. Về sau Ngài có thêm một người em nữa là Hoàng tử Mặt Trăng (Canda). Chánh hậu qua đời, vua cưới vợ khác, và có thêm một Hoàng tử Mặt Trời (Suriya). Vua sung sướng nên muốn ban một ân huệ. Hoàng hậu sau này đợi con lớn rồi mới nhắc lại ân huệ đó là xin vương quốc cho con. Vua từ chối vì thấy hai Hoàng tử anh đi khắp nơi, nơi nào cũng chói lọi như ngọn lửa. Nhưng sợ bà trả thù, vua bảo hai con vào rừng, khi vua chết mới trở về lên ngôi. Họ từ giã phụ vương ra đi. Qua sân Hoàng cung, Hoàng tử Mặt Trời thấy và biết chuyện, bèn đi theo. Cả ba đến Hy Mã Lạp Sơn. Bồ tát rời đường mòn, ngồi dưới gốc cây bảo Mặt Trời đến hồ tắm, uống nước xong múc nước đựng trong lá sen mang về. Hồ này do một thủy quái Vessavana trông nom, và hắn được phép ăn thịt ai bước xuống hồ, trừ người nào nói được bậc Thánh là gì.

Hoàng tử Mặt Trời bước xuống hồ, bị thủy quái hỏi, đáp rằng mặt trăng và mặt trời là bậc Thánh. Không đúng, nên chàng bị hắn bắt nhốt trong động. Thấy lâu, Bồ tát sai Hoàng tử Mặt Trăng đi xuống hồ, chàng trả lời, bốn phương là bậc Thánh, cũng không đúng nên bị bắt giam trong động. Bồ tát lần này đích thân đi. Biết hồ này có thủy quái, Ngài không xuống, mà cung kiếm trên tay đứng chờ. Thủy quái thấy thế hóa thành tiều phu đến dụ Ngài:

- Bạn ơi! Bạn đi đường chắc mệt mỏi. Sao không xuống hồ tắm, uống nước và ăn ngó sen, rồi kết vòng hoa?

Ngài biết ngay hắn là một Dạ xoa, hỏi chuyện và hắn nhìn nhận là đã bắt hai Hoàng tử em, vì cả hai không chỉ được ai là bậc Thánh. Bồ tát bảo là sẽ nói cho hắn biết nếu được hắn tắm rửa. Dạ xoa khoái chí liền tắm cho Ngài, múc nước uống, trang điểm cho Ngài với đồ trang sức quý báu, và đỡ Ngài lên tòa ngồi giữa lều trang hoàng lộng lẫy. Hắn ngồi xuống chân Ngài và lắng nghe.

Bồ tát nói kệ sau:

Người khiêm nhường, sợ tội,

Ðược phú tính công bằng,

Chánh trực và Hiền Thiện,

Ðược gọi là Thánh nhân.

Dạ xoa nghe xong, phát tín tâm nơi Bồ tát, và xin trả một người em cho Ngài. Ngài chọn Hoàng tử út tức Mặt Trời. Hắn không chịu, vì như thế Ngài bỏ em lớn lấy em nhỏ làm đảo ngược tôn ti trật tự, tức Ngài biết Thánh nhân nhưng không hành hạnh Thánh nhân. Bồ tát phải giải thích đầu đuôi câu chuyện. Nếu để Mặt Trời bị ăn thịt, sau này trở về nhận vương quốc, không ai tin Ngài mà còn bị nguyền rủa. Dạ xoa rất thán phục nên giao hết hai em cho Bồ tát. Ngài truyền ngũ giới cho hắn, và tiếp tục sống trong rừng với phẩm vật do hắn cung cấp.

Vua cha băng hà, Ngài trở về Ba La Nại lên ngôi, phong Mặt Trăng làm phó vương, Mặt Trời làm đại nguyên soái, và xây dựng một chỗ tiện nghi cho Dạ xoa. Hắn được lo đầy đủ.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Thế Tôn thuyết xong, Ngài hợp nhất các nhân vật trong Bổn sanh như sau:

- Dạ xoa là Tỳ kheo nhiều của cải, Hoàng tử Mặt Trăng là Xá Lợi Phất, Mặt Trời là A Nan, và Mahimsàsa chính là Ta. Và Ngài nói tiếp:

- Tỳ kheo! Như thế trong một tiền kiếp ông đã tìm hiểu bậc Thánh là sao, có tính khiêm tốn và biết sợ chết. Nhưng vừa rồi, ông hành động sai trái, khi đứng trước mặt Ta giữa tứ chúng, với thái độ kỳ cục cho rằng mình thiểu dục, Một Tỳ kheo là Tỳ kheo không phải đã ném bỏ y quanh mình.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(141) Không phải sống lõa thể,

Bện tóc, tro trét mình,

Tuyệt thực, lăn trên đất,

Sống nhớp, siêng ngồi xổm,

Mà con người được sạch,

Nếu không trừ nghi hoặc.

9. Santati, Quan Ðại Thần Của Vua

Ai sống tự trang sức...

Thế Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, do chuyện quan đại thần tên Santati.

Ði dẹp giặc ở biên giới về, Santati được vua Ba Tư Nặc xứ Kosala giao vương quốc cho ông nhiếp chính trong bảy ngày và một cung nữ để múa hát. Suốt bảy ngày đó, ông miệt mài rượu chè, và ngày cuối ông trang điểm lộng lẫy leo lên bạch tượng để đi đến hồ tắm. Ngang qua cổng thành thấy Thế Tôn đang vào thành khất thực, ông vẫn ngồi trên lưng voi, cúi chào Ngài và đi tiếp.

Thấy Phật mỉm cười, A Nan hỏi và được Phật cho biết:

- A Nan, hãy nhìn quan đại thần của vua trang điểm lộng lẫy, sẽ đến chỗ Ta, và nghe xong cuối bài kệ sẽ chứng A la hán. Rồi ông ta ngồi lơ lửng cách mặt đất tám cây thốt nốt và nhập Niết bàn.

Ðám người ở đó nghe được chia ra làm hai phe. Phe tà kiến cho rằng Sa môn Cồ Đàm ưa gì nói nấy, làm gì có chuyện tên say rượu bí tỉ, trang sức đầy mình, sẽ nghe pháp và nhập Niết bàn. Quả là dối trá. Phe Phật tử thì tán thán thần lực của Phật thật kỳ diệu, và họ sẽ được đặc ân nhìn thấy sự vẻ vang của Phật và của Santati.

Xuống hồ, Santati bơi lội cả buổi, rồi vào lạc viên uống rượu, có cung nữ biểu diễn. Ðể có thân hình duyên dáng, cô ta đã nhịn đói bảy ngày và trong khi trổ hết tài khéo của mình, bao tử và trái tim bỗng đau quặn lên như bị dao cắt. Cô chết liền, mắt và miệng còn mở. Santati chỉ kịp lắp bắp:

- Cô nương, coi chừng!

Thì cô ta đã ngừng thở; Santati sầu não quá đỗi. Trong khoảnh khắc, rượu chảy trong máu ông từ cả tuần nay như biến mất, giống như nước để trên than hồng. Ông biết không ai ngoài Thế Tôn có thể dập tắt nỗi buồn của mình, nên đến gặp Phật, đảnh lễ, kể lại và xin được nương tựa. Thế Tôn an ủi ông:

- Ông đã đến đúng người có thể làm tiêu tan sầu khổ cho ông. Biết bao nhiêu lần người đàn bà này đã chết như thế, và ông đã bao phen khóc nàng, nước mắt còn nhiều hơn bốn biển.

Và Ngài đọc kệ sau:

Việc gì đã trôi qua,

Tốt nhất là buông bỏ.

Và ở trước mặt ngươi,

Không có gì ở đó.

Nếu không nắm bắt gì,

Giữa tương lai, quá khứ,

Sẽ bước trong an bình,

Không còn gì khổ sở.

Vừa kết thúc bài kệ, Santati chứng quả A la hán cùng các thần thông. Quan sát thọ mạng mình, ông biết chẳng còn sống được bao nhiêu, nên xin Thế Tôn nhập Niết bàn. Dù đã biết việc làm của ông trong tiền kiếp, Phật vẫn bảo ông kể lại cốt cho nhóm ngoại đạo, đang chờ sự thật sẽ xảy ra khác với tiên đoán của Thế Tôn, và nhóm Phật tử muốn thấy công đức quá khứ của ông, được nghe:

- Vậy thì, Santati, hãy thuật lại chuyện quá khứ, nhưng đừng đứng dưới đất, mà bay lên trời, cao bằng bảy cây thốt nốt.

Santati vâng lời. Ông chào Phật, bay lên trời, đáp xuống chào Phật một lần nữa, rồi bay lên trên, ngồi kiết già kể:

Chuyện Quá Khứ

A. Người Thuyết Pháp Và Nhà Vua

Cách đây chín mươi chín kiếp, thời Phật Tỳ Bà Thi tôi sanh ở Bandhumatì. Băn khoăn không biết làm thế nào để trừ được tham ái và phiền não cho người khác, bỗng gặp các nhà thuyết pháp, tôi quyết định sẽ làm việc đó mà thôi. Tôi khuyến khích mọi người làm việc công đức. Chính tôi cũng vậy, vào ngày Bát quan trai, tôi giữ giới, bố thí và nghe pháp. Tôi đi khắp nơi rao giảng: "Không có châu báu nào có thể sánh với Tam bảo là Phật, Pháp và Tăng. Hãy cung kính Tam bảo!” Vua Bandhumatì, cha của Phật, gọi tôi lại hỏi thăm, và khi biết việc tôi làm Ngài hỏi tôi thường dùng phương tiện gì để đi lại. Nghe tôi thưa thường vẫn đi chân đất, Ngài choàng cho tôi một chuỗi hoa, y như chuỗi ngọc và cho tôi một con ngựa. Sau đó, vua gọi tôi lại lần thứ hai để hỏi thăm. Biết tôi vẫn đi thuyết pháp, vua cho một xe có bốn ngựa thuần chủng Sindh kéo. Hỏi thăm lần thứ ba, vua tặng nguyên tài sản lớn, một bộ châu báu lộng lẫy và cả một con voi. Ðeo hết châu báu và ngồi trên lưng voi, suốt tám mươi ngàn năm thuyết pháp khắp nơi, tạo công đức, thân tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng mùi lá sen.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Kể xong, Santati, vẫn ngồi kiết- già trên trời, nhập Hỏa quang Tam muội, và từ đó nhập Niết bàn. Lửa thiêu hết thân, Xá Lợi rơi từ từ xuống như hoa nhài, Thế Tôn cho trải một tấm thảm trắng để hứng và sai cất tháp tại ngã tư đường để thờ. Dân chúng tôn kính Xá Lợi này sẽ có nhiều công đức.

Các Tỳ kheo bàn tán về Santati, và không biết nên gọi ông là ẩn sĩ hay Bà la môn. Phật nghe được trả lời:

- Các Tỳ kheo! Ðệ tử Ta thật đáng gọi là ẩn sĩ, và cũng đáng gọi là Bà la môn.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(142) Ai sống tự trang sức,

Nhưng an tịnh, nhiếp phục,

Sống kiên trì phạm hạnh,

Không hại mọi sinh linh,

Vị ấy là Phạm Chí,

Hay Sa môn, khất sĩ.

10. Tỳ Kheo Và Bộ Ðồ Rách

Thật khó tìm ở đời...

Khi ngụ tại Kỳ Viên. Thế Tôn đã dạy câu trên vì Trưởng lão Pilotika.

Ngày nọ, Trưởng lão A Nan gặp một chàng trai lang thang, áo quần rách bươm, tay cầm miểng sành. Ngài kêu lại hỏi sao không đi tu có phải khá hơn sống như thế. Chàng trai hỏi tới:

- Tôn giả, ai cho con đi tu?

Ngài đáp:

- Ta sẽ độ ngươi.

Rồi Ngài cho anh ta theo, tự tay tắm rửa cho anh, giao anh một đề mục Thiền quán và xuất gia cho anh. Tấm vải trước đây anh quấn làm nội y được phơi trên cành cây. Ðược nhận vào Tăng đoàn, anh làm tròn bổn phận và hưởng đầy đủ phẩm vật dành cho chư Phật, và đi khắp nơi với những y đáng giá.

Sau một thời gian, anh phát phì và bất mãn, nghĩ rằng chẳng lợi ích gì mà đi lang thang với bộ đồ của đàn na tín thí, tốt hơn là mặc bộ đồ cũ khi xưa. Rồi anh đến cành cây tìm lại tấm vải, tự mắng nhiếc mình là đồ vô liêm sỉ, ngu ngốc, trơ trẽn, bỏ đi ân huệ được mặc y phục tốt lành để đi đắp lên người tấm giẻ rách này với miểng sành, xin ăn đầu đường xó chợ. Giữ ý này làm đề mục Thiền quán, anh tự khiển trách mình, và tâm trở nên an tịnh. Anh cất tấm vải, trở về Tinh xá. Vài ngày sau anh lại bất mãn, và tự trách như lần trước. Ðến lần thứ ba cũng vậy. Các Tỳ kheo thấy anh tới lui như thế, hỏi thăm, anh đáp là đến Thầy anh. Và cứ Thiền quán trên tấm vải cũ rách, anh tự điều phục. Chẳng bao lâu anh chứng A la hán. Các Tỳ kheo lại hỏi anh sao không lui tới Thầy nữa, anh cho biết:

- Chư huynh, khi còn dính mắc vào thế gian, tôi đến một vị Thầy. Nhưng bây giờ tôi đã cắt đứt hết trói buộc với thế gian, tôi không cần đến ông ta nữa.

Các Tỳ kheo báo với Phật, cho là Trưởng lão Pilotika nói dối. Phật liền dạy:

- Các Tỳ kheo, con Ta nói thật đấy, ông ấy đã tự điều phục và chứng A la hán.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(143) Thật khó tìm ở đời,

Người biết thẹn, tự chế,

Biết né tránh, chỉ trích,

Như ngựa hiền tránh roi.

(144) Như ngựa hiền chạm roi,

Hãy nhiệt tâm hăng hái,

Với tín, giới, tinh tấn,

Thiền định cùng trạch pháp,

Minh hạnh đủ, chánh niệm,

Ðoạn dứt vô lượng khổ.

11. Sa Di Sukha

Người trị thủy dẫn nước...

Thế Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến Sa di Sukha.

Chuyện quá khứ

A. Chưởng khố Gandha, Người Lao Ðộng Bhattabhatika Và Phật Ðộc Giác

Gandha là con của vị chánh Chưởng khố thành Ba La Nại. Cha chết, vua gọi anh đến an ủi, và cho kế vị cha làm Chưởng khố. Từ đó người ta gọi anh là Chưởng khố Gandha.

Viên quản gia, một hôm mở cửa kho, chỉ cho anh tất cả tài sản tiền từ cha, ông nội và những người trước. Anh thắc mắc sao họ không đem theo sau khi chết, và được giải thích mọi người chỉ đem theo mình việc làm dù thiện hay ác. Từ đó anh suy luận rằng sẽ ăn xài cho hết, trước khi ra đi. Anh bỏ ra một trăm ngàn đồng xây một nhà tắm bằng pha lê, một trăm ngàn làm một ghế ngồi bằng pha lê để ngồi sau khi tắm, một trăm ngàn làm một cái bát đựng thức ăn của anh, một trăm ngàn làm một mái che trên phòng ăn, một trăm ngàn làm một cái đĩa lót bát mạ đồng, một trăm ngàn xây một cửa sổ lộng lẫy trong nhà. Bữa ăn sáng một ngàn, bữa ăn chiều một ngàn, bữa ăn trưa ngày trăng tròn một trăm ngàn. Vào những ngày ăn tiệc như thế, anh chi một trăm ngàn cho việc trang hoàng trong thành, sai người đánh trống hô to:

- Mọi người hãy đi xem cách ăn của Chưởng khố Gandha.

Dân chúng tụ tập đến, mang cả giường chõng. Và Gandha sử dụng hết mọi thứ mới tạo: tắm trong bồn với mười sáu bình nước hoa, mở chiếc cửa sổ lộng lẫy rồi ngồi trên sập trình diện cho mọi người ngắm. Người hầu dọn thức ăn trong chiếc bát quý giá, để trên chiếc đĩa lót mạ đồng và đặt trước mặt anh. Rồi anh ăn, uống với nguyên một đoàn vũ công bao quanh.

Một anh nhà quê chở củi lên thành. Ðể tiết kiệm anh đến nhà người bạn ở nhờ, nhân dịp đó anh được bạn dẫn đi xem cách ăn của Chưởng khố Gandha. Ngửi mùi thức ăn thơm phức, anh nhà quê thèm quá nhờ bạn mình xin giùm. Chưởng khố không cho, anh bạn xin nữa, và cho biết không ăn được thèm quá sẽ chết. Mặc, Chưởng khố từ chối. Nhiều lần xin quá, Chưởng khố bắt buộc phải lên tiếng:

- Này ông, mỗi miếng cơm đáng giá một trăm tới hai trăm đồng đó. Ai đòi cũng cho thì ta lấy gì ăn?

Anh bạn vẫn cù nhây:

- Ông chủ! Người nhà quê không được miếng cơm của ông sẽ chết, xin ông cứu mạng hắn.

- Không được! À, nhưng mà, để ta xem! Nếu thật thế, hãy bảo hắn làm cho ta ba năm ta sẽ cho hắn bát cơm.

Anh nhà quê đồng ý, và làm mọi công việc rất trung thành, dù ở nhà ở rừng, dù ngày dù đêm. Dân trong thành gọi anh là: "Người kiếm thức ăn, Bhattabhatika.” Mãn hạn, viên quản gia đến báo cho ông chủ biết, không quên khen ngợi anh nhà quê. Chưởng khố ra lệnh cho anh hai ngàn đồng cho bữa ăn tối, một ngàn đồng cho bữa ăn sáng, tất cả là ba ngàn đồng, và bảo mọi người trong nhà, trừ cô vợ yêu là Cintàmanì, ngày hôm ấy hầu hạ ông ta, xem như là ông chủ. Anh được tắm trong phòng tắm pha lê, ngồi ghế pha lê sau khi tắm, mặc y phục Chưởng khố... rồi Gandha sai người đánh trống rao rằng Bhattabhatika làm thuê cho Chưởng khố Gandha để nhận một bát cơm, hãy đến xem sự lộng lẫy huy hoàng trong bữa ăn bát cơm ấy của anh ta. Chỗ nào anh nhìn đến đều rúng động, xung quanh anh vũ nữ đứng phục vụ và gia nhân bưng cơm đặt trước mặt.

Khi anh rửa tay thì một vị Phật Ðộc Giác đắp y, ôm bát, bay trên không, và đặt chân xuống giữa hội chúng, đứng trước mặt anh. Trước đó trên núi Gandhamàdana, xuất định sau bảy ngày, Ngài đã thấy là anh có niềm tin, chịu ban ơn và sẽ được nhiều phước báo. Bhattabhattika hiểu rằng vì trước kia không bố thí nên phải làm thuê suốt ba năm để nhận bát cơm, bát cơm này đủ cho một ngày và một đêm, nhưng nếu dâng cho bậc tôn quý này anh sẽ được nuôi vô số kiếp. Và anh nén sự thèm khát không ăn một miếng cơm nào, mà cầm bát đến chỗ Phật, đảnh lễ Ngài và trút vào bình bát của Ngài. Ðược phân nửa, Ngài lấy tay che bát, nhưng anh khẩn khoản xin Ngài nhận hết để anh được phước, không những đời này mà còn đời sau, và được dự phần vào đạo pháp mà Ngài đã thấy.

Phật hứa khả:

- Mọi ước muốn của ông sẽ được toại nguyện như được ngọc như ý, lời cầu xin sẽ thành tựu như được trăng tròn.

Và Ngài hồi hướng công đức cho anh. Ðể cho dân chúng chiêm ngưỡng, Ngài bay lên trời đến núi Gandhamàdana, và chia thức ăn cho năm trăm vị Phật Ðộc Giác, mỗi vị nhận đủ phần mình.

Chưởng khố Gandha nghe tin, lòng tràn ngập niềm tin, tán thán anh nhà quê đã làm một việc khó khăn biết bao là bố thí; trong khi Gandha hưởng thụ quá đỗi mà chẳng cho ai bất cứ món gì. Chưởng khố mời anh ta đến, cho một ngàn đồng và xin anh ta chia phần phước đức sau khi bố thí số tiền ấy. Anh nhà quê bằng lòng, và Chưởng khố lại chia gia tài của mình ra làm hai, cho anh ta phân nửa.

(Có bốn loại sở đắc:

- Về của cải: Như một bậc A la hán hay vị chứng Tam quả sau khi xuất định đáng nhận được của cải.

- Về tứ vật dụng: Do sống liêm chánh và công bằng.

- Về Trí tuệ: Trí tuệ có được từ tri thức kết hợp với hỷ thọ, do bố thí cúng dường trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai.

- Về thần thông: Sau thời gian Thiền định, như vị Phật Ðộc Giác đã thi triển).

Nghe chuyện Bhattabhatika, vua vời anh đến, ban cho một ngàn đồng để đổi bình bát của anh, cho anh nhiều của cải và phong làm Chưởng khố. Hai Chưởng khố Bhattabhatika và Ganda kết bạn với nhau, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường. Mạng chung, Bhattabhatika sanh thiên, hưởng phước suốt thời gian giữa hai đức Phật, thời Phật hiện tại tái sanh vào nhà một thí chủ của Trưởng lão Xá Lợi Phất ở Xá Vệ.

Chuyện hiện tại:

B. Sa di Sukha

Bà mẹ được săn sóc kỹ lưỡng khi đứa bé còn ở trong bụng. Ðúng theo ý nguyện, bà cúng dường thức ăn đầy gia vị cho Trưởng lão Xá Lợi Phất và năm trăm Tỳ kheo của Ngài, được khoác y vàng, ôm bát vàng, và ngồi vòng ngoài hội chúng, và được chia phần thức ăn còn lại của chúng Tăng. Bà sinh một bé trai. Ngày đặt tên con bà thưa với Trưởng lão chọn tên và truyền giới cho chú. Trong nhà không ai đau ốm từ khi chú còn trong bụng mẹ, nên bà mẹ yêu cầu Ngài đặt tên chú là Sukha Kumàra, tức hạnh phúc, và Ngài truyền giới cho chú. Vào ngày đãi tiệc nhân dịp xỏ lỗ tai cậu bé và những dịp lễ khác, bà thường dâng phẩm vật lên chư tăng. Lên bảy tuổi chú muốn đi tu, bà bằng lòng. Bà thưa với Trưởng lão trước, và sau đó mặc y phục đẹp đẽ cho chú, và dẫn đến Tinh xá giao phó cho Trưởng lão. Ngài cho biết đời Tu sĩ lắm gian nan cực khổ, chú khứng chịu, lãnh một đề tài Thiền quán và được gia nhập Tăng đoàn. Cha mẹ chú ở lại Tinh xá, suốt bảy ngày cúng dường thức ăn trăm vị lên Tăng chúng, chiều tối thì trở về nhà. Ngày thứ tám Tăng chúng lên đường khất thực, Trưởng lão còn quá nhiều việc phải làm khắp Tinh xá nên đi sau với chú.

Dọc đường, chú thấy những đường nước v.v... giống như Sa di Pandita, và được Trưởng lão giải thích giống như Sa di Pandita. Rồi Sukha đưa y bát cho Thầy xin trở về Tinh xá. Ðược Thầy giao cho chìa khóa, chú vào phòng Thầy tọa Thiền và thấu triệt bản tính của thân.

Công hạnh của chú làm ngai Ðế Thích nóng lên. Ông quan sát, thấy sự việc như thế nên muốn giúp chú. Ông mời Tứ thiên vương đến vườn Tinh xá đuổi bầy chim ồn ào rồi gác lối vào bốn phía. Ông cũng ra lệnh cho mặt trời và mặt trăng đứng yên và chính ông đứng gác nơi cổng chính. Tinh xá hoàn toàn yên lặng. Sukha tập trung mãnh liệt, chú khai mở Minh sát tuệ và chứng Tam quả. Còn Trưởng lão khất thực xong rồi vội vã trở về Tinh xá. Thế Tôn trong hương thất thấy biết hết, và cũng biết trước Sa di Sukha sẽ chứng A la hán, nên Ngài rời hương thất đến trước cổng đón Trưởng lão đặt bốn câu hỏi để kéo dài thời gian cho Sa di kịp chứng quả. Trưởng lão trả lời xong câu cuối thì Sa di cũng vừa chứng quả. Lúc đó Phật mới cho phép Trưởng lão mang thức ăn cho đệ tử. Và Tứ thiên vương cùng Ðế Thích rời chỗ gác, mặt trời mặt trăng di chuyển bình thường. Các Tỳ kheo bảo nhau sao hôm nay buổi sáng quá lâu, buổi chiều giờ mới đến, và Sa di mới thọ thực xong. Phật liền giải thích và kết luận:

- Sa di Sukha thấy người đang dẫn thủy nhập điền, thợ làm tên đang uốn tên, thợ mộc đẽo bánh xe v.v... tự điều phục được thân tâm và đắc quả A la hán.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(145) Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên uốn tên,

Người thợ mộc uốn ván,

Bậc trí biết tự điều.


 

Phẩm XI: Già    

1. Bạn Của Tỳ Xá Khư Say Rượu

Cười gì, hân hoan gì...

Vì chuyện những người bạn của bà Tỳ Xá Khư nên Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên.

Năm trăm thanh niên vọng tộc cho năm trăm bà vợ theo đại Cư sĩ nữ Tỳ Xá Khư, tin rằng với sự tốt lành như thế vợ của họ sẽ sống đời chánh niệm. Từ đó dù đến lạc viên hay Tinh xá, các bà vợ luôn luôn đi cùng với Tỳ Xá Khư. Nhân lễ hội uống rượu, các bà pha rượu cho chồng chè chén suốt bảy ngày. Ðến ngày thứ tám trống báo hết lễ, các ông chồng trở về đi làm bình thường.

Thấy rượu còn thừa, các bà muốn uống nên giấu chồng lén đem rượu theo, rồi rủ Tỳ Xá Khư đến lạc viên. Họ uống rượu vào, say ngất ngưởng, đi khắp khu vườn chơi. Trông dáng đi của các bà, Tỳ Xá Khư biết họ đã uống rượu và say. Các ngoại đạo sẽ có dịp rêu rao nữ Cư sĩ của Sa môn Cồ Đàm uống rượu, bà gọi các bà vợ đến quở trách:

- Này các bạn, các bạn đã phạm lỗi lầm to tát, làm tôi cũng nhục lây. Chồng các bạn sẽ nổi giận. Các bạn phải tính sao đây?

Họ lo lắng thưa:

- Thưa đức bà, chúng tôi sẽ cáo bệnh.

Về nhà, các ông chồng biết ngay họ đã uống rượu thừa. Họ bị đánh đập nên rất buồn khổ.

Lễ hội năm sau, họ lại muốn uống rượu như lần trước, nên rủ Tỳ Xá Khư đến vườn giải trí, nhưng bị bà từ chối. Họ bèn bỏ ý định đó và rủ nhau đi đến Tinh xá. Thế là họ sắp hương hoa vào thùng, tay ôm bình đựng rượu, mặc áo choàng ấm, đến gặp Tỳ Xá Khư và cùng bà đến Tinh xá. Sau, các bà vợ ấy lẻn đi uống rượu, vứt bình rồi vào ngồi trong Pháp đường, trước mặt đức Thế Tôn. Bà Tỳ Xá Khư bạch:

- Bạch Thế Tôn, xin Ngài giảng pháp cho các bà này nghe.

Nhưng các bà kia say đến nỗi thân thể lắc lư đảo qua đảo lại và bỗng họ nảy ý muốn múa hát. Một quyến thuộc của Ma vương thấy thế liền bắt xác họ, làm cho họ có những cử chỉ lố lăng trước mặt Phật. Ðức Phật quán sát thấy được nguyên nhân, bèn nghĩ:

- Ta sẽ không cho phép quyến thuộc Ma vương tấn công. Bởi vì mục đích hoàn thành giác hạnh viên mãn của Ta chẳng phải là để Ma vương được dịp hoành hành.

Ngài phóng một đạo hào quang màu xanh đậm từ chặng mày. Lập tức trời đất tối đen. Mấy bà kia sợ chết đến nỗi rượu trong người khô hết. Phật rời chỗ ngồi, bay lên đỉnh núi Tu di, phóng hào quang giữa chặng lông mày, lúc đó trời sáng như thể cả ngàn mặt trăng cùng mọc. Và Ngài bảo các bà:

- Các ngươi đã đến và vào đây trong sự tán tâm. Vì thế một quyến thuộc của Ma vương đã bắt xác các ngươi. Vào thời điểm mà các ngươi không nên cười đùa hay có những cử chỉ không được nghiêm chỉnh, nó đã bắt các ngươi cười cợt lố lăng. Từ đây về sau các ngươi phải nỗ lực dập tắt lửa ái dục và tham ái.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(146) Cười gì, hân hoan gì,

Khi đời mãi bị thiêu?

Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?

Biết họ đã vững niềm tin, không còn bị lay chuyển nữa, Phật xuống núi Tu di và ngồi vào tòa Như Lai. Lúc đó Tỳ Xá Khư thưa:

- Rượu chính là điều ác, đã khiến hạng người phẩm cách như các bà này, tuy ngồi trước mặt Thế Tôn, vẫn không đủ sức kiểm soát hành động của mình, mà múa chân, vỗ tay, phát cười, phát ca hát, nhảy nhót.

Phật bảo:

- Quả vậy, Tỳ Xá Khư! Rượu là điều ác, vì lẽ đó vô số chúng sanh buồn khổ.

Nhưng bạch Thế Tôn, vào thời nào và nguyên nhân nào xảy ra chuyện trên?

Thế Tôn bèn kể lại chuyện quá khứ trong Bổn Sanh Kumbha.

2. Ðức Phật Chữa Trị Một Tỳ Kheo Lụy Tình

Hãy xem hình bóng đẹp...

Câu này Thế Tôn dạy ở Veluvana, liên quan đến Sirimà.

Sirimà vốn là gái giang hồ hạng sang ở Vương Xá. Vào mùa mưa, cô lỡ xúc phạm đến nữ Cư sĩ Uttarà, vợ của Sumana, con một phú gia, và là chị của phú gia Punnaka. Muốn nối lại quan hệ tốt, cô đến nhà nữ Cư sĩ khi Thế Tôn và Tăng đoàn ở đó. Khi đức Phật thọ thực xong, cô liền đến trước Ngài xin sám hối. Thế Tôn đấng Thập Lực đọc kệ sau cho Sirimà nghe:

(223) Lấy không giận thắng giận,

Lấy thiện thắng không thiện,

Lấy thí thắng xan tham,

Lấy chơn thắng hư ngụy.

Cuối bài kệ, Sirimà chứng quả Dự lưu. (Ðây chỉ là tóm lược toàn bộ câu chuyện nằm trong phần kinh luận bài kệ thuộc phẩm Phẫn Nộ).

Sau đó cô thỉnh Thế Tôn đến thọ thực, và sau dâng nhiều lễ vật. Từ đó cô đều đặn cúng dường tại nhà tám phần ăn. Cô múc bơ lỏng và sữa đầy bát, phần cho một Tỳ kheo đủ dùng ba cho đến bốn vị Tỳ kheo, và cô còn bố thí cho mỗi vị mười sáu đồng.

Có một Tỳ kheo đến khất thực tại nhà Sirimà, trở về ông dừng chân tại Tinh xá cách đó ba dặm. Các Tỳ kheo hỏi thăm ông thọ thực ở đâu và như thế nào? Ông thật thà kể đủ chi tiết, nào là món hảo hạng, một phần ăn ba bốn vị dùng cũng đủ, đã thế thí chủ xinh xắn càng nhìn càng đẹp. Một Tỳ kheo khác nghe thế đem lòng yêu cô ta, và muốn đến nhìn mặt.

Hỏi được địa chỉ, sáng sớm vừa rạng đông. Tỳ kheo này lên đường đến phòng phát phiếu khất thực, tự nhận là Trưởng lão của hội chúng và nhận được một phiếu trong tám phần ăn tại nhà Sirimà. Trước đó một ngày, tức ngày Tỳ kheo kia nhận thức ăn xong đi về, cô lâm bệnh, phải tháo hết nữ trang nằm nghỉ trong phòng. Các Tỳ kheo đến khất thực, cô không dậy nổi để tự tay phục dịch, nên nhờ nô tỳ bưng dọn, không quên dặn họ phải chăm sóc chu đáo, và xong xuôi dẫn cô đến đảnh lễ các Tỳ kheo.

Cô đến trước mặt các Tỳ kheo đảnh lễ, toàn thân run rẩy. Tỳ kheo này thấy cô hồn phi phách tán, đang bệnh mà còn đẹp như thế, nếu khỏe mạnh, trang điểm và đeo đồ trang sức nữa thì còn đẹp đến đâu! Sau đó tham ái đã tích lũy từ hàng triệu năm nay nổi dậy trong lòng. Ông không còn biết gì mọi vật xung quanh và không thể thọ thực được. Ông bưng bát trở về Tinh xá, đậy bát lại để qua một bên, nới y ra và nằm dài. Tỳ kheo đi chung năn nỉ, nhưng ông không nuốt nổi một thứ gì.

Ngay tối ngày hôm đó Sirimà qua đời. Thế Tôn hay tin, bảo vua quàng xác để trong nhà thiêu, chớ có hỏa táng, và canh giữ đừng để quạ chó mổ ăn thịt. Ngày qua ngày, đến ngày thứ tư xác của Sirimà trương lên, giống như đống thịt lở loét, từ chín lỗ dòi bò ra chẳng khác gì nồi nấu cơm vỡ nứt. Vua cho đánh trống rao khắp thành bắt mọi người phải đến xem xác Sirimà, ai không đến xem phạt tám tiền. Thế Tôn cùng với Tăng đoàn đến xem.

Bấy giờ Tỳ kheo tương tư này đã bỏ ăn bốn ngày, không đếm xỉa gì đến lời khuyên của các bạn đồng tu. Cơm trong bát đã thối rữa, bình bát thì lên mốc, Nhưng khi nghe tin Thế Tôn sắp đi xem xác Sirimà, đang nằm liệt giường ông tức tốc nhỏm dậy. Và khi có người hỏi ông đi không, ông đáp không cần suy nghĩ: "Chắc chắn là tôi đi.” Rồi ông hắt bỏ cơm thiu rửa và cất bát trong giỏ lưới xong ra đi.

Thế Tôn và chúng Tỳ kheo tăng đứng một bên thi thể. Chúng Tỳ Kheo Ni và đoàn tùy tùng của vua với nam nư Cư sĩ đứng bên kia. Thế Tôn hỏi vua:

- Ðại vương, người đàn bà này là ai?

- Bạch Thế Tôn, Sirimà, em của Jìvaka.

- Sirimà à?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Vậy thì hãy đánh trống loan hết phố thành ai bỏ ra một ngàn đồng sẽ được sở hữu cô ta.

Chẳng có ai "ừ hử" gì cả. Phật bảo vua hạ giá xuống thấp. Từ trăm xuống đến chục, rồi đến xu, một phần hai xu, một phần tư xu, một phần tám xu, cũng chẳng ai muốn lãnh nàng dù là cho không.

Phật liền dạy:

- Các Tỳ kheo! Các ông thấy rõ giá trị của một người đàn bà dưới mắt dân chúng chứ. Trong thành này, trước đây người ta dám bỏ cả ngàn đồng để hân hạnh qua một đêm với người đàn bà này. Nhưng bây giờ không ai chịu lãnh nàng dù được cho không, vì lẽ sắc đẹp đã tàn tạ, không còn nữa. Nhìn xem, các Tỳ kheo, thi thể này tàn rụi và thối rữa.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(147) Hãy xem hình bóng đẹp,

Chỗ chất chứa vết thương,

Bệnh hoạn nhiều suy tư,

Thật không gì trường cửu.

3. Bà Ni Già

Thân này bị suy già...

Phật dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Ni cô Uttarà.

Ni cô vẫn tiếp tục hành hương khất thực cho đến một trăm hai mươi tuổi. Một hôm, gặp một Tỳ kheo, bà dâng hết thức ăn trong bát, không chừa lại gì cho mình. Ngày thứ hai và tiếp ngày thứ ba, Uttarà cũng lại gặp và dâng cúng cho vị Tỳ kheo đó tại chỗ cũ.

Ðến ngày thứ tư, Uttarà đang đi khất thực như thường lệ thì gặp Phật ở nơi thật đông người. Bà bước lui, lá y bà bị tuột, bà giẫm chân lên, vướng víu nên té ngã. Thế Tôn đến gần bà và bảo:

- Sư muội, thân của ngươi suy yếu theo tuổi già, không còn bao lâu sẽ hoại diệt.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(148) Thân này bị suy già,

Ổ tật bệnh mỏng manh,

Nhóm bất tịnh đổ vỡ,

Chết, chấm dứt mạng sống.

4. Nhóm Tỳ Kheo Cả Tin

Như trái bầu mùa thu...

Phật đã nói tại Kỳ Viên câu trên liên quan đến nhóm Tỳ kheo cả tin.

Năm trăm Tỳ kheo nhận đề mục Thiền quán từ Thế Tôn, rút vào rừng nỗ lực phấn đấu Thiền định. Nghĩ rằng mình không còn tham ái và đã hoàn thành tu tập, họ ra khỏi rừng đến báo với Thế Tôn đã chứng đắc. Họ vừa đến ngoài cổng Tinh xá, Thế Tôn vội bảo Trưởng lão A Nan rằng họ chưa có duyên gặp Phật, xin đến lò thiêu trước rồi trở lại sau.

Thay vì thắc mắc tại sao, các Tỳ kheo bảo nhau "Ðức Phật là bậc đại trí, chắc chắn Ngài có ý.” Họ tuân hành đến lò thiêu và trông thấy các thi thể. Với các thi thể để lâu đến một hai ngày thì họ thấy ghê tởm, các thi thể mới chết còn tươi rói lại kích động lòng dục của họ. Lúc đó họ mới nhận ra tham ái vẫn còn trong lòng. Thế Tôn ngồi trong hương thất phóng quang ảnh đến đối diện với các Tỳ kheo bảo:

- Này các Tỳ kheo, thấy nguyên bộ xương mà các ông thích thú tham đắm xấu xa thì có hợp lẽ không?

Rồi Ngài đọc Pháp Cú:

(149) Như trái bầu mùa thu

Bị vất bỏ quăng đi,

Nhóm xương trắng bồ câu,

Thấy chúng còn vui gì?

5. Ni Cô Và Bóng Sắc

Thành này làm bằng xương...

Phật đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến Ni cô Janapada- Kalyànì Rùpanandà.

Cô nghĩ rằng: "Anh cả của ta đã từ bỏ vinh quang của quyền uy, trở thành Tỳ kheo, và giờ đây là người siêu việt ở thế gian, là Phật. Con Ngài là Ràhula Kumàra, cũng là tăng sĩ. Chồng ta là tăng và cả mẹ ta cũng là ni. Cả gia quyến đều sống đời xuất gia, tại sao ta vẫn kéo dài đời tại gia?" Do đó cô muốn đi tu, gia nhập Ni chúng, không phải với lòng tin mà vì lòng thương gia quyến. Vì có vẻ đẹp tuyệt trần nên cô có tên Rùpa.

Một hôm nghe Thế Tôn giảng: "Cái đẹp của sắc là vô thường, hệ lụy với khổ đau, phi thực; thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như thế.” Cô cho rằng Thế Tôn đã nhìn thấy cái xấu trên thân xác của mình, dù rất đẹp để nhìn rất xinh để ngắm. Do đó cô không thích diện kiến Thế Tôn nữa.

Dân cư ở Xá Vệ thường cúng dường sáng sớm, tiếp tục bổn phận của ngày Bát quan trai. Buổi chiều ăn mặc sạch sẽ tươm tất, tay cầm hương hoa, họ tụ tập tại Tinh xá để nghe pháp, Ni chúng cũng thế. Nghe pháp xong, họ vào thành ca tụng công đức của Thế Tôn.

Có bốn tiêu chuẩn để người ta phán đoán về Như Lai và lấy làm mãn nguyện:

1. Trên điều họ thấy được là thân kim sắc của Phật, trang nghiêm với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.

2. Trên điều họ nghe được về đức hạnh của Phật qua biết bao trăm kiếp, và nghe Phật âm gồm có Bát Diệu khi Ngài thuyết pháp.

3. Trên sự khổ hạnh của Phật.

4. Trên sự nhận xét về Ngài là chính trực, có Thập Lực, có trí, an tĩnh, Phật là bậc độc tôn không ai sánh bằng.

Rùpanandà nghe Ni chúng và nữ Cư sĩ kể lại lời ca tụng Như Lai, nhưng cô cho rằng họ xưng tán quá lố đối với anh mình. Nếu như Ngài định chỉ trích sắc đẹp của cô trong chỉ một ngày thôi, Ngài sẽ nói nhiều đến đâu trong khoảng thời gian ấy? Rồi cô có ý định đi nghe pháp, nhìn Thế Tôn rồi trở về mà không muốn cho ai thấy mình. Ni chúng vui sướng dẫn Rùpanandà cùng đi, vì từ lâu cô không muốn đến hầu Phật, có cô Ngài sẽ thuyết pháp với nhiều chi tiết phong phú hơn.

Thế Tôn biết trước hôm nay Rùpanandà đến đảnh lễ. Và để dạy dỗ người quá đắm trước thân mình, để làm tiêu tan lòng kiêu hãnh của nàng vì ỷ có sắc đẹp, Ngài sẽ dùng chính sắc đẹp thân thể làm phương tiện, giống như phải dùng gai lễ gai. Thế Tôn liền hiển thần thông: một thiếu nữ mười sáu xuân xanh, đẹp chưa từng thấy mặc bộ y phục đỏ thẫm, trang điểm với tất cả món trang sức, đứng trước Thế Tôn, cầm quạt phe phẩy. Chỉ có Phật và Rùpanandà trông thấy cô gái.

Rùpanandà vào Tinh xá với Ni chúng. Cô đứng phía sau, năm vóc gieo xuống đảnh lễ Phật và ngồi xuống chỗ Ni chúng. Rồi cô quan sát Thế Tôn từ đầu đến chân. Rực rỡ xán lạn với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, hào quang bao quanh tỏa rộng đến hai mét. Rồi cô thấy cô gái đứng cạnh Phật và cô quan sát gương mặt sáng rực như trăng rằm của cô gái. Ngắm lại thân mình, cô thấy mình chẳng khác gì con quạ đang đứng trước con ngỗng chúa thân kim sắc. Cô trợn tròn mắt vì mái tóc thiếu nữ, ôi thật thanh tú. Cô say mê từng bộ phận trên người thiếu nữ, và nóng lòng muốn mình cũng được như thế. Thế Tôn biết được ý tưởng của cô nên bắt đầu thuyết cho cô bài pháp sau. Thế Tôn hóa hiện thiếu nữ từ mười sáu tuổi lên hai mươi tuổi. Rùpanandà nhận ra ngay bóng sắc này không bằng trước đây. Rồi thiếu nữ thành thiếu phụ một con, đến trung tuần và cuối cùng là một lão bà già khụ. Rùpanandà theo dõi từng giai đoạn biến hóa, mỗi lúc vẻ đẹp chỗ này mất, sắc tươi chỗ kia hết. Và khi đứng đó là bà lão răng rụng, tóc bạc, lưng còng, oằn xuống như chiếc rui nhà hình chữ nhân, phải tựa lên gậy, tay chân run rẩy. Rùpanandà không khỏi ghê tởm.

Phần cuối bài thuyết pháp của Phật là bà lão lâm bệnh. Ném gậy và quạt đi, bà kêu thét lên, té xuống đất, lăn qua lăn lại trên đống phân và nước tiểu của mình. Rùpanandà nhìn và muốn lợm giọng. Rồi đức Phật cho thấy cái chết của bà lão. Liền đó thi thể bà trương phồng, từ chín lỗ mủ chảy ra có dạng như bấc đèn và có cả giun sán. Quạ và chó nhào lên người bà xé xác. Sự kiện này làm chấn động Rùpanandà khôn kể. Cô thấy rõ ngay chính chỗ này người đàn bà này già đi, lâm bệnh rồi chết; và thân của cô cũng sẽ như thế. Từ cái thấy thân mình nằm trong sự vô thường, cô thấy thân thể mình hệ lụy đến khổ đau, và do đó phi thực.

Liền đó, ba pháp (già, bệnh, chết) giống như nhà bị lửa thiêu đốt, hoặc như dây thừng quấn ngang cổ cô, hiển hiện trước mắt Rùpanandà khiến tâm cô đi vào Thiền định. Tuy vậy, Phật biết cô chưa thể chứng quả, nên đọc thêm bài kệ để hỗ trợ cho cô như sau:

Hãy nhìn, Nandà!

Sự liên kết những bộ phận gọi là thân,

Nó là bệnh tật, bất tịnh, thối tha, rỉ chảy.

Thật là ngu ngốc nếu ham muốn nó.

Thân này như thế nào, thân kia cũng thế,

Thân kia ra sao, thân này cũng sẽ vậy.

Hãy nhìn các yếu tố của thân đều là không.

Ðừng trở lại thế gian,

Hãy dập tắt tham ái khiến tái sanh,

Và ngươi sẽ đi trong an tĩnh.

Hướng tâm ý thuận theo giáo lý Phật, Rùpanandà chứng quả Tu đà hoàn. Vì muốn cho cô tiến lên Tam đạo và Tam quả trên nữa, đẩy cô Thiền định thêm về lý không. Thế Tôn dạy thêm:

- Này Rùpanandà, đừng nghĩ rằng thân này có thực, không một chút gì là thực trong thân này. Thân này là thành trì làm bằng xương, do ba trăm khúc xương dựng lên.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(150) Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa.

Cuối bài kệ, Ni cô chứng quả A la hán, và nhiều người cũng thọ trì được bài kệ này.

6. Hoàng Hậu Mallikà Và Con Chó

Xe vua đẹp cũng già...

Tại Kỳ Viên Phật đã dạy câu trên liên quan đến Hoàng hậu Mallikà.

Ngày kia Hoàng hậu Mallikà vào phòng tắm. Rửa mặt xong, bà cúi người xuống và rửa chân. Không dè con chó cưng của bà cũng vào theo. Nó thấy thế bèn làm hạnh bất tịnh với bà, và bà cứ để nó tiếp tục. Từ tầng trên cung điện nhà vua nhìn thấy hết, sau đó mắng nhiếc bà thậm tệ. Bà tìm cách chối quanh, nhưng nhà vua khẳng định:

- Chính mắt ta đã thấy. Chết tiệt đi, con tiện tỳ khốn kiếp!

Bà vẫn chống chế:

- Tâu đại vương, thật lạ kỳ! Ai bước vào phòng tắm ấy, người ở ngoài nhìn vào đều thấy thành hai.

- Mi nói dối.

- Nếu bệ hạ không tin, xin hãy vào phòng tắm, thiếp sẽ ở ngoài nhìn vào.

Vua quả là thật thà, cả tin nên làm theo lời bà. Ðột ngột bà ở ngoài la thất thanh:

- Nhà vua điên khùng kia! Sao làm điều ô uế với con dê cái?

- Ái khanh, ta có làm như thế đâu!

- Chính mắt thiếp thấy!

Vì thế nhà vua tin lời giải thích của Hoàng hậu, là ai vào phòng tắm đều bị thấy thành hai.

Nhưng Mallikà cảm thấy bất an. Tuy đã dối gạt được nhà vua, vì ông đã là một tên ngu ngốc, nhưng bà đã phạm tội trọng, và còn sai quấy khi kết tội nhà vua. Thế Tôn sẽ biết tội của bà, cả hai Ðại đệ tử và tám mươi Trưởng lão cũng biết. Tội lỗi trầm trọng biết bao! (Trước đó bà và vua cúng dường rất nhiều của báu, số tiền lên đến một trăm bốn mươi triệu đồng. Riêng đức Như Lai được cúng dường bốn món vô giá: một chiếc lọng trắng, một chiếc giường, một ghế ngồi và một vật đỡ chân).

Mallikà lúc hấp hối lại quên hẳn sự cúng dường, chỉ nhớ đến hành động xấu ác mình đã phạm, do đó bị đọa vào Địa ngục A tỳ. Vua Ba Tư Nặc rất yêu bà Mallikà nên buồn khổ vô cùng. Lễ tang xong, vua đến gặp Phật, ý muốn hỏi xem bà sanh ở đâu. Thế Tôn biết trước, nên khôn khéo không để vua nhớ lý do đi đến Tinh xá. Phật cứ thuyết pháp, vua nghe xong hoan hỷ hồi cung. Như thế suốt bảy ngày vua không thể nào nhớ để hỏi.

Còn Mallikà, sau bảy ngày rên siết trong Địa ngục, được giải thoát và tái sanh vào cõi trời Ðâu suất.

(Sở dĩ Phật phải làm như thế vì Mallikà rất được sủng ái. Nếu biết bà, một người có niềm tin kiên cố, bố thí cúng dường rất nhiều mà rơi vào Địa ngục, thì số phận của vua sau này sẽ ra sao? Nhà vua sẽ hiểu sai lạc sanh ra hoài nghi, không tiếp tục cúng dường năm trăm Tỳ kheo nữa, và như thế vua sẽ đọa vào Địa ngục).

Vào ngày thứ tám, Thế Tôn ra ngoài khất thực một mình. Ðến cổng Hoàng cung vua nghe tin, cầm bát của Phật định mang lên sân thượng cung điện. Nhưng Phật muốn ngồi ngay nhà để xe, vua bèn dâng chỗ ngồi nơi đó và cúng dường thức ăn loại cứng loại mềm. Rồi nhà vua đảnh lễ Phật hỏi lại câu đã quên suốt bảy ngày qua. Phật đáp:

- Vào cung trời Ðâu suất, đại vương ạ.

Vua vẫn còn buồn khổ nên than:

- Bạch Thế Tôn, từ khi nàng đi về cõi khác, con người tôi không còn sống nữa.

Phật an ủi:

- Ðại vương, chớ nên đau lòng. Ðó là quy luật bất biến cho mọi chúng sanh.

Rồi Phật hỏi tiếp:

- Ðại vương, xe này của ai?

- Bạch Thế Tôn, của ông tôi.

- Còn xe này?

- Của cha tôi, bạch Thế Tôn.

- Còn xe kia.

- Của tôi.

Ðức Phật bèn dạy:

- Ðại vương, xe của cha còn tốt hơn xe ông nội, cũng vậy xe của đại vương còn tốt hơn xe của cha. Sự suy tàn cũng sẽ làm hư hoại thân này. Ðại vương, chỉ có đức hạnh chân chánh mới không hư hoại.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(151) Xe vua đẹp cũng già,

Thân này rồi sẽ già,

Pháp bậc thiện không già.

Như vậy bậc chí thiện,

Nói lên cho bậc thiện.

7. Một Tỳ Kheo Thường Nói Không Ðúng Chỗ

Người ít nghe kém học...

Phật dạy câu này tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Ca Lưu Đà Di.

Trưởng lão này ưa đến các nhà nơi dân chúng làm lễ và đọc kệ về tang tế như "Họ đứng bên ngoài cõi chết.” Thay vì nói những lời thích hợp như thế, có nghĩa là còn sống mãi, khi tang lễ đang tiến hành ông lại nói những câu kệ không dính dáng như "Bố thí và xót thương.” hoặc một câu trong kinh Kim Cang "Bất cứ tài sản nào có được, đời này cũng như đời sau.”

Thật ra, bất kể đi đến đâu, nếu ông dự định nói một điều gì đó thì khi mở miệng cũng khác hẳn, và chính ông không biết mình đã lỡ lời nói không đúng.

Các Tỳ kheo nghe ông nói bèn trình lên Phật:

- Bạch Thế Tôn! Ca Lưu Đà Di đi đến chỗ lễ lạc hay tang ma có lợi ích gì? Ðiều đáng phải nói, Ca Lưu Đà Di nói trật lất.

Thế Tôn đáp:

- Các Tỳ kheo! Ðây không phải lần đầu Ca Lưu Đà Di nói như thế mà ở kiếp trước ông ta luôn luôn không nói điều đúng rồi, lại nói trật lất.

Chuyện quá khứ

A. Aggidatta, Somadatta Và Nhà Vua

Xưa, có một Bà la môn tên là Aggidatta ngụ tại Ba La Nại có con là Somadatta theo hầu vua rất được sủng ái. Ông sống bằng nghề nông, chỉ có hai con bò đực, lại chết mất một con. Ông bảo con xin nhà vua con bò khác. E vua hiểu lầm mình lợi dụng quyền chức để xin xỏ, Somadatta bảo cha trực tiếp đến xin vua, và sợ ông không biết ăn nói, anh chịu khó chỉ dạy thật tỉ mỉ. Anh dẫn cha đến bãi thiêu xác tên là Bụi Cuscus, nhặt cỏ bó thành từng túm, bảo:

- Ðây là nhà vua, đây là phó vương, đây là tổng tư lệnh quân đội. Vào Hoàng cung cha phải đi vào như thế này đây, lùi bước như thế này đây. Rồi cha tâu lên nhà vua trước, phó vương sau. Ðến gần vua, cha phải tâu "Bệ hạ cao quý muôn năm!" Và đứng như vầy, rồi đọc bài kệ sau:

Tôi có hai con bò đực giúp tôi cày bừa.

Nhưng một con đã chết,

Xin cho tôi con khác, vương tử anh hùng!

Bà la môn mất hết một năm mới thuộc bài kệ trên. Ông cho con biết, rồi hai cha con cùng mang lễ vật lên đường. Ðến nơi, Somadatta đến ngồi vào chỗ cận vua. Bà la môn một mình mang lễ vật đến sân rồng. Vua vui mừng thấy ông, hỏi thăm vồn vã:

- Chào ông bạn! Ông bạn đã đi đường xa, hãy ngồi lên giường này và cho ta biết ông bạn cần chi?

Bà la môn lấy hết sức mình đọc bài kệ một lèo:

Tôi có hai con bò đực giúp tôi cày bừa,

Nhưng một con đã chết,

Xin lấy con còn lại, vương tử anh hùng!

Vua ngạc nhiên hỏi:

- Nói gì lạ vậy, ông bạn? Hãy lặp lại!

Nhưng ông vẫn nhắc lại y như trước. Vua biết ông lỡ lời nói ngược lại ý của mình, bèn cười bảo:

- Somadatta, chắc ngươi có nhiều bò đực ở nhà.

Somadatta thưa:

- Tâu bệ hạ, nhiều bằng số bệ hạ đã ban cho chúng tôi.

Vua hài lòng với câu trả lời của vị Phật tương lai, nên ban cho Bà la môn mười sáu con bò đực, thêm nữ trang và đồ gia dụng, và một ngôi làng để trú ngụ. Như thế vua đã ban cho Bà la môn quà tặng xứng đáng và vinh dự to lớn.

Phật kể chuyện xong, đồng hóa như sau:

- Thời đó nhà vua là A Nan. Bà la môn là Ca Lưu Đà Di và Somadatta chính là Ta.

Và Ngài nói thêm:

- Này các Tỳ kheo! Ðây không phải lần đầu tiên ông ta không thể nói đúng việc đúng thời vì quá ngu si. Thực vậy, người ít nghe kém học không khác gì con trâu đực.

Phật đọc tiếp Pháp Cú:

(152) Người ít nghe kém học,

Lớn già như trâu đực,

Thịt nó tuy lớn lên,

Nhưng tuệ không tăng trưởng.

8. Kệ Của Trưởng Lão A Nan

Lang thang bao kiếp sống...

Câu này Phật thốt ra khi ngồi dưới cội Bồ đề, sau này nói lại cho Trưởng lão A Nan để đáp một câu hỏi.

Dưới cội Bồ đề, trước khi mặt trời lặn, Phật chiến thắng Ma vương; đầu đêm, Ngài vén màn vô minh đã bao phủ từ nhiều kiếp; giữa đêm, đắc thần thông; cuối đêm, vì lòng thương xót chúng sanh, Ngài tập trung tư tưởng vào lý nhân duyên, Thiền quán theo chiều thuận và chiều nghịch, và hừng đông Thế Tôn giác ngộ viên mãn. Sau đó, như vô lượng chư Phật đã làm, Ngài long trọng phát biểu bài kệ sau:

(153) Lang thang bao kiếp sống,

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay phải tái sanh!

(154) Ôi! Người làm nhà kia!

Nay ta đã thấy ngươi!

Ngươi không làm nhà nữa.

Ðòn tay ngươi bị gãy,

Kèo cột ngươi bị tan.

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.

9. Ðại Phú, Con Của Chưởng Khố

Lúc trẻ không phạm hạnh...

Thế Tôn đã dạy câu này tại Isipatana, liên quan đến Mahàdhana (Ðại Phú) con của Chưởng khố.

Ðại Phú sanh tại Ba La Nại, nhà giàu, gia sản trị giá tám trăm triệu của cải nhiều như thế, nên ông bà không cần phải cho con làm việc gì khác hơn ngoài vui chơi thỏa thích. Do đó Ðại Phú chỉ học hát và chơi đàn. Một nhà giàu khác trong thành cũng có tài sản tám trăm triệu sanh bé gái. Vì đồng ý nghĩ nên cô bé cũng được cha mẹ chỉ cho học ca hát và nhảy múa. Hai đứa trẻ lớn lên, họ cho thành hôn với nhau theo nghi lễ tập tục. Cha mẹ hai bên qua đời khiến gia sản hai trẻ tăng gấp đôi số tám trăm triệu.

Thường lệ, mỗi ngày ba lần, con của Chưởng khố phải đến hầu vua. Một bọn bất lương trong thành khiếm cách rù quến Ðại Phú để trục lợi. Chúng kiếm rượu và các thứ cần thiết, ngồi một chỗ rình rập con đường Ðại Phú sắp đi qua. Thấy anh ta, chúng đến gần, lấy rượu ra uống, cho muối và đường vào miệng, nhét rễ và củ hành vào răng nhai ngấu nghiến rồi cất tiếng:

- Hãy sống đến trăm tuổi, công tử con của Chưởng khố! Với sự đỡ đầu của công tử, chúng tôi sẽ được ăn uống thỏa thuê!

Ðại Phú ngạc nhiên hỏi tiểu đồng theo sau:

- Mấy người này uống gì thế?

- Thưa công tử, một loại rượu.

- Ngon không?

- Thưa công tử, trên thế gian này không gì sánh bằng.

- Thế thì ta cũng uống.

Rồi Ðại Phú bảo tiểu đồng mang thêm một chút rượu nữa... và uống hết. Chẳng bao lâu bọn bất lương biết rằng Ðại Phú đã ghiền rượu. Chúng tụ tập quanh ông ta, càng lúc càng đông. Mỗi lần đi uống anh phải tiêu một đến hai trăm đồng. Sau đó anh tập tành chất tiền từng đống để gọi rượu và các thứ như:

- Lấy tiền mua hoa về cho ta!

- Cầm tiền, mang hương về cho ta.

- Người này khéo đổ súc sắc, người kia nhảy giỏi hát hay, người đó đàn tuyệt! Cho người này một ngàn, cho người kia hai ngàn!

Ném tiền qua cửa sổ như thế, chẳng bao lâu anh đã phung phí hết gia sản tám trăm triệu của mình. Rồi tám trăm triệu của nhà vợ cũng tan như mây khói. Ðại Phú bán hết ruộng đất, vườn tược, xe cộ... luôn cả ly chén, khăn trải giường, áo khoác. Về già anh bán luôn căn nhà, dắt vợ ra đi và trọ ven tường nhà người khác, tay cầm mảnh sành ăn xin đầu đường xó chợ, kiếm chút cơm thừa canh cặn qua ngày.

Ngày kia, đứng trước cửa một ngôi nhà nghỉ, anh nhận thức ăn thừa của mấy chú Sa di và tập sự. Thế Tôn trông thấy thế mỉm cười. Trưởng lão A Nan hỏi và được Ngài giải thích:

- A Nan! Nhìn xem Ðại Phú, con của Chưởng khố! Anh đã tiêu hết gia sản gấp hai lần tám trăm triệu để bây giờ dắt vợ đi ăn xin. Nếu hồi trẻ anh biết sử dụng đồng tiền để kinh doanh thì đã thành vị Chưởng khố đệ nhất của thành này; và nếu anh lìa bỏ thế gian thành Tỳ kheo sẽ đắc quả A la hán, còn vợ anh chứng Tam quả. Nếu ở tuổi trung tuần, anh không tiêu phí tài sản và biết làm ăn thì sẽ trở thành đệ nhị Chưởng khố thành này; và nếu lìa bỏ thế gian thành Tỳ kheo sẽ đắc Tam quả, còn vợ anh sẽ đắc Nhị quả. Nếu cuối đời mình, anh mới biết chuyển hướng như đã kể, thì sẽ thành đệ tam Chưởng khố, hoặc chứng Nhị quả còn vợ anh chứng Dự lưu. Nhưng bây giờ anh đã đánh mất hết tài sản thuộc về Cư sĩ, cũng như quả vị của đạo. Anh ta không khác gì con cò mắc cạn trong ao.

Rồi Phật đọc Pháp Cú:

(155) Lúc trẻ không phạm hạnh,

Không tìm kiếm tiền bạc,

Như cò già bên ao,

Ủ rũ, không tôm cá.

(156) Lúc trẻ không phạm hạnh,

Không tìm kiếm bạc tiền,

Như cây cung bị gãy,

Thở than những ngày qua.


 

Phẩm XII: Tự Ngã

1. Hoàng tử Bồ Ðề Và Con Chim Thần

Nếu biết yêu tự ngã...

Khi ngụ tại Bhesakalàvana, Thế Tôn đã dạy câu trên liên quan đến Hoàng tử Bồ đề.

A. Hoàng tử, Người Xây Nhà Và Con Chim Thần

Hoàng tử Bồ đề xây dựng một cung điện tên là Sen Ðỏ (Kokanađa) không giống bất kỳ cung điện nào trên mặt đất này, giống như đang nổi lên trong hư không.

Xong việc ông hỏi người xây nhà:

- Anh đã từng xây dựng một cung điện nào giống như thế này ở nơi khác chưa, hay đây là công trình đầu tiên trong đời anh vừa thực hiện xong?

Anh thợ đáp đó là đầu tiên. Ý của Hoàng tử là muốn cung điện của ông độc nhất vô nhị, do đó tốt nhất là giết chết anh thợ, hoặc cắt cụt tay chân, hoặc móc mắt... Ông gặp người bạn thân nhất là Sanjikàputta nói ý đó. Anh bạn này báo cho anh thợ biết, vì không nỡ để một nghệ nhân có khiếu như thế bị giết chết. Vì thế khi Hoàng tử đến hỏi anh thợ đã hoàn tất chưa, anh bảo chưa, và cần thêm một ít gỗ, loại gỗ đã khô hết nhựa, anh sẽ giam mình trong phòng riêng để tập trung làm việc, không ai được phép lai vãng, trừ vợ anh sẽ mang cơm trưa mà thôi. Hoàng tử bằng lòng.

Anh thợ bắt đầu đẽo thớ gỗ thành hình chim Kim xí điểu, đủ rộng để chứa anh ta và vợ con. Anh dặn vợ bán hết đồ đạc, quy ra bằng vàng đưa anh cất. Và khi tác phẩm hoàn tất, anh cùng vợ con chui vào bụng chim, rồi chim cất cánh qua cửa sổ bay mất, mặc dù Hoàng tử đã cho lính bao vây kín mít. Anh thợ đến vùng đất ở Hy Mã Lạp Sơn, tạo ra một đô thị bằng thần thông và cư ngụ ở đó. Người ta gọi anh là Vua Ngựa Gỗ.

B. Hoàng tử Chiêu Ðãi Ðức Phật

Hoàng tử quyết định mở hội ăn mừng ngày hoàn tất cung điện và thỉnh mời Thế Tôn. Ông cho bôi trát lên vách đất sét trộn với bốn loại hương thơm, trải đệm và thảm lên sàn nhà từ ngưỡng cửa. Hoàng tử không có con. Trong khi trải đệm và thảm, ông nghĩ thầm rằng nếu ông sẽ được có con trai hay con gái, Thế Tôn sẽ giẫm chân lên thảm. Nhưng sau khi ông đảnh lễ và ba lần thỉnh Phật vào nhà, Ngài từ chối không vào, chỉ đưa mắt nhìn Tôn giả A Nan. Trưởng lão A Nan hiểu ý, bảo cuốn thảm lên. Rồi Hoàng tử cung kính dâng Phật cháo và các thức ăn cứng, đảnh lễ Ngài xong ngồi một bên thưa:

- Bạch Thế Tôn, con là người hầu trung tín của Thế Tôn. Ðã ba lần con tìm nương tựa nơi Thế Tôn. Lần đầu trong thai mẹ, lần thứ hai là đứa bé con, lần thứ ba khi đến tuổi có trí khôn. Vì sao Thế Tôn không chịu bước chân lên đệm và thảm?

- Hoàng tử, ngươi nghĩ gì khi trải sàn nhà với vải vóc kia?

- Bạch Thế Tôn, con nghĩ nếu số mạng con sẽ có con trai hay con gái, Thế Tôn sẽ đi lên đó.

- Vì lẽ đó Ta đã từ chối không bước lên.

- Nhưng bạch Thế Tôn, phải chăng số mạng của con là không bao giờ có con trai, con gái?

- Ðúng vậy, Hoàng tử.

- Vì lý do gì, bạch Thế Tôn?

- Ở kiếp trước ngươi đã phạm lỗi vô ý, không sáng suốt.

- Vào lúc nào, bạch Thế Tôn?

Ðể trả lời, Phật kể:

Chuyện quá khứ

C. Người Ăn Trứng Chim

Hàng trăm người ra biển bị đắm tàu. Tất cả đều lần lượt chết hết, trừ hai vợ chồng bám được một mảnh ván, tấp vào một đảo gần đó. Cả chồng lẫn vợ quá đói và không tìm được cái gì để ăn trong khi chim chóc trên đảo nhiều vô số, nên họ ăn trứng chim luộc trên lò than. Không đủ no, họ ăn luôn những con chim nhỏ. Họ đã ăn như thế từ lúc trẻ, khi đứng tuổi, đến tuổi già. Cả cuộc đời, không một lúc nào họ được sáng suốt.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Thế Tôn chỉ cho Hoàng tử thấy lỗi lầm trong tiền kiếp rồi dạy tiếp:

- Hoàng tử, nếu một trong ba thời trẻ, trung niên, già của kiếp trước, ngươi và vợ ngươi sáng suốt thì cũng được một đứa con trai hoặc gái trong kiếp này. Hay ít nhất một trong hai người được sáng suốt thì kiếp này các ngươi đã có con. Hoàng tử, nếu biết quí trọng đời sống của mình, ta phải nhớ giữ sáng suốt cả ba thời trong đời mình. Nếu quên, ít nhất cũng phải được một trong ba.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(157) Nếu biết yêu tự ngã,

Phải khéo bảo vệ mình.

Người trí trong ba canh,

Phải luôn luôn tỉnh thức.

2. Một Tỳ Kheo Tham Lam

Trước hết tự đặt mình...

Tại Kỳ Viên, Thế Tôn đã dạy câu trên liên quan đến Trưởng lão Upananda, một Hoàng tử dòng họ Thích Ca.

Trưởng lão vốn có biệt tài thuyết pháp. Nhưng lạ thay sau khi đã nghe giảng về thiểu dục, ông thản nhiên nhận hết y áo do các Tỳ kheo khác, vì muốn giữ phạm hạnh, đã cúng cho mình, luôn cả vật dụng họ để lại. Kịp mùa mưa đến sát bên, ông đi về vùng quê. Dừng chân tại một Tinh xá, ông thuyết pháp và rất được các Sa di và tập sự xuất gia ưa chuộng. Họ thỉnh ông ở lại đây suốt mùa mưa. Ông hỏi:

- Một Tỳ kheo ở lại đây suốt mùa mưa sẽ thọ nhận gì?

Họ đáp:

- Một cái áo khoác ngoài.

Trưởng lão không ừ hử, để lại đôi giày và đi tiếp đến một Tinh xá kế. Khi được mời ở lại, cũng câu hỏi cũ:

- Thọ nhận được gì?

Ðáp:

- Hai áo khoác.

Trưởng lão để lại đó cây gậy.

Ðến Tinh xá thứ ba, hỏi:

- Thọ nhận được gì?

Ðáp:

- Ba áo khoác.

Ngài để lại bình đựng nước.

Ðến Tinh xá thứ tư, hỏi:

- Ðược thọ nhận gì?

- Bốn áo khoác.

Ngài bèn đáp:

- Tốt lắm! Ta ngụ tại đây

Rồi Ngài thuyết pháp cho các Cư sĩ và Tỳ kheo ở đó, hay đến nỗi họ dâng cúng cho Ngài vô số y áo. Hết hạn lưu trú, Ngài báo tin cho các Tinh xá gửi cho Ngài các món đã bỏ lại. Và gom hết tài sản xong, Ngài chất lên một chiếc xe bò lên đường.

Bấy giờ ở một Tinh xá nọ, có hai Tỳ kheo vừa thọ nhận hai chiếc áo khoác và một cái mền, Cả hai không biết làm sao để chia cho đúng, nên dừng lại bên đường cãi vã:

- Huynh lấy áo đi! Còn cái mền của tôi.

Trưởng lão chợt đi ngang, họ liền chận lại:

- Bạch Trưởng lão, xin Ngài chia giùm cho đúng, và cho chúng tôi cái thích đáng.

Trưởng lão nghiêm mặt hỏi lại:

- Quý Thầy có tôn trọng quyết định của tôi không?

- Dạ vâng.

- Tốt lắm. Vậy thì cái mền này chỉ dành cho người nào thuyết pháp đắp, còn hai Thầy mỗi vị một cái áo.

Và trước vẻ mặt ngơ ngác của hai Tỳ kheo kia, Trưởng lão vác chiếc mền đắt tiền lên vai đi mất.

Ghê tởm và thất vọng, họ đến thưa chuyện với Thế Tôn. Phật bảo không phải lần đầu tiên ông ta lấy đồ của các Thầy và làm cho các Thầy ghê tởm thất vọng, ở kiếp trước ông ta cũng đã làm như thế.

Và Ngài kể:

Chuyện Quá Khứ

A. Rái Cá Và Chó Rừng

Xa xưa, có hai rái cá là Anutìracàrì và Gambhìracàrì bắt được một con cá hồng to, nhưng khi chia chác thì lúng túng và lớn tiếng với nhau:

- Cái đầu cá của tôi, phần anh là đuôi cá.

Không thể chia đều và vừa ý cho cả hai, nên thấy bóng một con chó rừng, chúng gọi đến nhờ giải quyết:

- Này bác, bác hãy chia con cá này theo bác thấy đúng với lẽ phải, và bác sẽ được thưởng.

Chó rừng sửa bộ, ra vẻ trịnh trọng:

- Ta được vua chỉ định làm quan tòa. Ta đang phải ngồi tòa xử án hằng mấy giờ liền. Ta ra đây chỉ để giãn chân, bây giờ ta không có thời giờ làm việc đó.

- Bác ơi, đừng nói thế. Hãy chia phần và được thưởng.

- Các ngươi có tôn trọng quyết định của ta không?

- Có chứ, này bác, chúng tôi sẽ tuân theo.

- Tốt lắm, vậy thì trong hai bạn, ai bơi dọc theo bờ (Anutìracàrì) sẽ có cái đuôi, ai bơi trong nước sâu (Gambhìracàrì) sẽ có cái đầu, còn khúc giữa thuộc về ta, vì ta là công lý.

Nói xong, chó rừng nhặt khúc giữa và chạy biến. Còn bọn rái cá chỉ biết đứng nhìn theo lòng đầy ghê tởm và thất vọng.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Thế Tôn an ủi hai Tỳ kheo, và quở trách Upananda:

- Các Tỳ kheo, người muốn dạy bảo người khác trước hết phải điều phục mình cho hợp đạo.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(158) Trước hết tự đặt mình,

Vào những gì thích đáng,

Sau mới giáo hóa người,

Người trí khỏi bị nhiễm.

3. Hãy Hành Ðộng Theo Lời Nói

Hãy tự làm cho mình...

Vì chuyện Trưởng lão Padhànika Tissa, mà Thế Tôn dạy câu trên tại Kỳ Viên.

Trưởng lão này được Phật cho đề mục Thiền quán, rồi dẫn năm trăm Tỳ kheo vào rừng. Trước hết ông bảo họ:

- Này chư huynh! Nhận được đề mục từ đức Phật tại thế rồi, tất cả phải chú tâm Thiền quán.

Nói xong, ông nằm dài ra và ngủ. Còn các Tỳ kheo đi kinh hành suốt canh một, và giữa đêm thì vào Tinh xá. Ngủ no mắt, Trưởng lão thức dậy đi kiếm các Tỳ kheo, hỏi họ:

- Có phải các ông về đây định để ngủ không? Ra khỏi Tinh xá tức khắc! Thiền quán đi!

Nói xong, ông lại về chỗ, nằm dài ra và ngủ. Các Tỳ kheo kia lại đi kinh hành suốt canh giữa, và đến canh cuối họ về Tinh xá. Trưởng lão thức dậy, đến kiếm họ, đuổi ra khỏi Tinh xá và ông lại trở về nằm ngủ tiếp. Vị Trưởng lão cứ theo nhắc nhở hoài như thế, các Tỳ kheo không thể nào chú tâm, dù tụng kinh hay Thiền quán, đến nỗi họ muốn quẩn trí. Rốt cuộc họ bảo nhau:

- Sư phụ của chúng ta quá nhiệt tình. Hãy theo dõi ông ta xem sao!

Khám phá ra sự thật, họ chỉ biết lắc đầu bảo nhau:

- Sư phụ của chúng ta hùng biện rỗng tuếch, chúng ta đành thua thiệt.

Quá mệt nhọc vì mất ngủ, không một Tỳ kheo nào chứng quả.

Hết thời hạn ở rừng, mọi người trở về gặp Phật. Sau lời chào mừng thân hữu, Thế Tôn hỏi họ:

- Này các Tỳ kheo! Các ông có chú tâm Thiền quán hay không? Hành Thiền miên mật không?

Họ đành kể hết tự sự. Phật bảo:

- Này các Tỳ kheo! Ðây không phải là lần đầu Trưởng lão làm nỗ lực tu tập của các ông thất bại. Trước đây ông ta cũng làm như thế.

Và thuận theo lời yêu cầu của các Tỳ kheo Ngài kể chuyện bổn sanh Akàlaràvikukkuta:

Chẳng được mẹ cha nuôi dưỡng,

Chẳng được dạy dỗ bởi Thầy.

Gà ta không sao gáy được,

Ðúng thời, đúng giờ, đúng giấc.

Ở kiếp đó, con gà chính là Trưởng lão Padhànika Tissa, năm trăm Tỳ kheo lúc đó chính là các Sa di này, và vị Thầy nổi tiếng chính là Ta.

Phật dạy tiếp:

- Này các Tỳ kheo! Nếu một người răn bảo kẻ khác, trước hết hãy tự điều phục, và tự điều phục mình thì có thể điều phục kẻ khác.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(159) Hãy tự làm cho mình,

Như điều mình dạy người,

Khéo tự điều, điều người,

Khó thay, tự điều phục!

4. Ðừng Ghét Bỏ Cha Mẹ Mình

Tự mình y chỉ mình...

Câu này Phật dạy tại Kỳ Viên, liên quan đến bà mẹ của Trưởng lão Kumàra Kassapa.

A. Kumàra Kassapa Chào Ðời

Con gái của Chưởng khố thành Vương Xá trước khi đến tuổi khôn lớn đã xin phép đi tu nhiều lần, nhưng không được. Ðến tuổi cặp kê bà thành hôn, về sống bên nhà chồng là một gia chủ, làm người vợ trung thành. Chẳng bao lâu bà có mang, nhưng bà và cả người chồng đều không hay biết. Bà xin xuất gia, lần này được chồng thuận, và cũng chính ông dẫn bà đến Ni chúng. Bà được gia nhập Tăng đoàn Ni chúng thuộc phái Ðề- Bà Đạt Đa.

Sau một thời gian Ni chúng thấy bà mang thai nên hỏi:

- Việc này nghĩa là sao?

Bà đáp:

- Thưa quý Ni, con không hiểu ra sao. Nhưng con biết chắc là con vẫn giữ phạm hạnh trong sạch.

Họ dẫn bà đến Ðề- Bà Đạt Đa, và vì sợ bị quở trách, ông ra lệnh trục xuất. Bà liền van xin chư ni:

- Quý sư tỷ! Ðừng hủy hoại đời con! Con xuất gia không phải theo đề nghị của Tôn giả Ðề- Bà Đạt Đa. Xin dẫn con đến Thế Tôn ở Kỳ Viên.

Thế Tôn biết bà đã mang thai khi còn ở thế gian, và để phản chứng lời buộc tội sai lầm, Ngài triệu tập vua Ba Tư Nặc, Ðại và Tiểu Cấp Cô Ðộc, Cư sĩ Tỳ Xá Khư và các nhân vật tai mắt khác, truyền lệnh cho Trưởng lão Ưu Ba Ly:

- Ông hãy đến giữa tứ chúng biện hộ cho người đàn bà bị kết tội này.

Trưởng lão gọi bà Tỳ Xá Khư đến trước mặt vua giao trách nhiệm. Bà cho treo màn chung quanh thiếu phụ, và khám từ tay, chân, rốn, bụng, đến phần dưới. Rồi đếm tính số tháng và ngày, bà nhận xét thiếu phụ đã có thai khi còn ở thế gian, liền báo tin cho Trưởng lão. Trước tứ chúng Ngài tuyên bố thiếu phụ vô tội và một đứa bé ra đời, mạnh khỏe và to lớn như bà đã cầu xin dưới chân đức Phật Padumuttara.

Ngày kia nhà vua đi ngang qua chỗ Ni chúng, nghe tiếng trẻ khóc, dừng chân hỏi chuyện biết được liền mang đứa trẻ về Hoàng cung giao các công chúa nuôi nấng. Ðến ngày lễ đặt tên, họ đặt là Kassapa, vì được hoàng gia dưỡng dục, nên mọi người gọi là Hoàng tử Kassapa, Kumàra Kassapa.

Trên sân chơi, một hôm, đứa bé đánh mấy trẻ kia. Chúng la lên:

- Tên không cha không mẹ đánh chúng tôi!

Kassapa lập tức chạy đến vua hỏi:

- Tâu bệ hạ, chúng nó nói con không cha không mẹ, ai là mẹ của con xin nói cho con biết.

Vua chỉ các công chúa bảo:

- Các bà mẹ của con đó!

Kassapa không chịu cằn nhằn:

- Con không có nhiều mẹ như vậy, đúng ra con chỉ có một mẹ thôi, ai vậy?

Vua biết không thể dối gạt, nên nói hết sự thật. Kassapa xúc động vô cùng, xin xuất gia ngay. Vua hoan hỷ dẫn đến gặp Phật, và thọ giới xong, chú trở thành Trưởng lão Kassapa. Nhận đề mục Thiền quán từ Thế Tôn, Kassapa rút vào rừng. Nhưng nỗ lực hết sức mình vẫn không chứng quả, nên Ngài nghĩ cần trở về để xin Phật đổi đề mục, sau đó đến trú trong núi Andha.

(Bấy giờ một Tỳ kheo từ thời Phật Ca Diếp tự Thiền định và chứng Tam quả. Ông tái sanh trên cõi trời Phạm thiên rồi trở lại thế gian, hỏi Kumàra Kassapa mười lăm câu hỏi, với lời nhắn nhủ "không ai khác ngoài Thế Tôn có thể giải đáp câu hỏi này, hãy đi gặp Thế Tôn.” Kassapa nghe theo, và khi các câu hỏi được trả lời xong, Trưởng lão chứng A la hán).

B. Ðừng Ghét Bỏ Cha Mẹ Mình

Suốt mười hai năm, kể từ ngày Kassapa lìa bỏ thế tục, bà mẹ Ni cô vẫn khóc hết nước mắt vì quá đau khổ xa con. Một hôm đi khất thực, bà thấy Trưởng lão trên đường bèn mừng quá la lên:

- Con tôi! Con tôi!

Bà chạy đến và té sấp xuống chân Ngài, lăn vòng dưới đất. Sữa từ trong ngực chảy ra ướt hết áo khi bà đứng lên ôm Trưởng lão. Nghĩ rằng nếu nói lời ngọt sẽ không giúp ích gì được cho bà, Kassapa lớn tiếng với bà:

- Bà muốn gì đây? Bà không bỏ được tình cảm thế tục sao?

Bà mẹ chới với, không ngờ con mình nói với mình như một tên cướp. Bà nén lòng hỏi thêm:

- Con yêu quí, con nói gì vậy?

Nhưng Kassapa vẫn chỉ lặp lại những lời cộc cằn tàn nhẫn. Sau đó bà hiểu ra rằng chỉ tại vì nó mà bà đã không ngăn được giọt lệ suốt mười hai năm. Nhưng nó quá cứng cỏi đối với bà, tại sao bà còn thương tưởng nó làm gì? Ngay lúc ấy bà cắt đứt cội rễ luyến ái đứa con và chứng quả A la hán.

Về sau các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường:

- Ðề- Bà Đạt Đa muốn trừ khử Kumàra Kassapa, người có khả năng chứng quả Dự lưu và cả Ni cô mẹ Ngài. Nhưng Thế Tôn đã che chở họ. Lòng Từ bi của Phật đối với chúng sanh to lớn biết bao!

Phật nghe được liền dạy:

- Này các Tỳ kheo! Ðây không phải là lần đầu tiên Ta là chỗ dựa và bênh vực họ. Ở kiếp trước cũng đã như thế.

Và Phật kể chuyện Bổn Sanh Nigrodha:

Ðừng theo nai rẽ đàn

Theo nai chúa mà đi.

Thà chết bên nai chúa,

Hơn sống cạnh nai kia.

Ngài đồng nhất các nhân vật như sau:

- Ở kiếp đó con nai rẽ đàn dẫn đầu một nhánh phái là Ðề- Bà Đạt Đa, những con nai trong nhánh phái là đồng nhóm của Ðề- Bà Đạt Đa, con nai cái đã đạt được sở nguyện là ni cô, con nai tơ là Kumàra Kassapa, và con nai đầu đàn, nai chúa, đã hy sinh mạng sống vì con nai cái và nai tơ, chính là Ta.

Sau khi ca tụng Ni cô đã cắt ái với con mình, lấy chính mình làm nơi an trú cho mình, Thế Tôn đã dạy thêm:

- Này các Tỳ kheo, bởi vì khi một người đạt được cứu cánh cõi trời hay đạo quả, thì thành quả ấy không thể trở thành sở hữu của người khác, do đó chính mình là nơi nương tựa của mình. Làm sao một người có thể làm nơi nương tựa cho người khác được?

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(160) Tự mình y chỉ mình,

Nào có y chỉ khác.

Nhờ khéo điều phục mình,

Ðược y chỉ khó được.

5. Maha Kàla Bị Giết

Ðiều ác tự mình làm...

Phật dạy câu trên tại Kỳ Viên liên quan đến một Cư sĩ tên là Mahà Kàla đã đắc quả Dự lưu.

Vào ngày thứ tám trong tháng, Mahà Kàla tự mình thọ trì bát quan trai giới, và ở lại Tinh xá suốt đêm nghe pháp. Có vài tên trộm sau khi ăn hàng, khua vang đồ đạc làm chủ nhà thức dậy rượt đuổi. Chúng ném hết của đã lấy rồi phân tán mạnh ai nấy chạy. Một tên lọt vào Tinh xá vào lúc sáng sớm, ném món đồ trước mặt Mahà Kàla đang rửa mặt bên bờ ao, rồi chạy mất. Chủ nhà chẳng thấy tên trộm đâu, chỉ thấy Cư sĩ với tang vật, hét vào mặt anh:

- Té ra anh là người xông vào nhà tôi ăn trộm đấy hẳn! Vậy mà anh làm như suốt đêm đã nghe pháp đấy!

Anh không kịp thốt lời nào đã bị đánh tới tấp đến chết. Họ bỏ xác anh trên đường rồi đi mất.

Sáng sớm các Tỳ kheo trẻ và Sa di ôm bình rời Tinh xá đi lấy nước, thì phát hiện xác chết của Cư sĩ. Họ đến thưa chuyện với Thế Tôn:

- Cư sĩ đã ở lại suốt đêm để nghe pháp và bị chết thảm như thế, thật ngược với công lao của anh!

Phật bảo:

- Quả đúng như vậy, này các Tỳ kheo! Cái chết của Mahà Kàla không chính đáng nếu chỉ xét kiếp hiện tại này. Nhưng so với các nghiệp ác đã gây ở kiếp trước thì không oan uổng.

Và Ngài kể:

Chuyện quá khứ

A. Người Lính Và Người Có Cô Vợ Ðẹp

Thật xa xưa ở một làng ven biên giới thuộc xứ của vua Ba La Nại, một băng trộm thường phục kích khách đi đường tại lối vào rừng. Vua phải chốt một người lính tại đó, và tùy thời người lính sẽ hộ tống khách vào rừng rồi trở ra.

Ngày kia có hai vợ chồng vào rừng trên chiếc xe nhỏ. Người lính thấy cô vợ quá đẹp nên lọt vào lưới tình. Khi họ xin được hộ tống thì người lính bảo đã quá muộn, phải chờ sáng mai. Khách nài nỉ vì mùa này trời tốt nên xin được đi ngay, nhưng người lính nhất quyết không chịu. Anh ra dấu cho người phụ tá quay đầu xe dù khách phản đối. Rốt cuộc khách phải ở lại trong nhà người lính.

Hừng đông người lính gây tiếng động làm như trộm vào nhà. Ngay sau đó viên phụ tá của anh đến báo cáo viên ngọc quí của anh bị trộm mất. Anh tức tốc ra lệnh cho người gác cổng làng khám xét mọi người ra vào. Sáng sớm khách thắng xe đi ra, bị khám và bị bắt quả tang viên ngọc giấu trong xe, viên ngọc do anh lính lén bỏ vào xe để vu oan. Họ mắng chửi khách không tiếc lời và tặng thêm một trận đòn nên thân, xong dẫn tới xã trưởng. Khách bị xử đánh đến chết, xác bị ném ra xa.

Ðó là việc làm của Cư sĩ kiếp trước. Mạng chung anh bị đọa Địa ngục A tỳ, chịu cực hình khổ sở rất lâu, nhưng vì ác báo chưa dứt nên anh vẫn bị đánh như thế liên tiếp một trăm kiếp.

(Hết Chuyện Quá Khứ)

Thế Tôn dạy tiếp:

- Này các Tỳ kheo! Trên thế gian này chỉ có chúng sanh phạm điều ác mới bị dày vò khổ não trong bốn kiếp.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(161) Ðiều ác tự mình làm,

Tự mình sanh mình tạo,

Nghiền nát kẻ ngu si,

Như kim cương ngọc báu.

6. Ðề Bà Ðạt Ða Tìm Cách Giết Phật

Phá giới quá trầm trọng...

Thế Tôn đã dạy như thế ở Trúc Lâm, liên quan đến Ðề- Bà Đạt Đa.

Các Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường:

- Chư huynh, Ðề- Bà Đạt Đa tập khí độc hại, tánh tình xấu ác, ý muốn quá tàn bạo. Chỉ vì hiểm độc như thế nên luồn cúi ân sủng của A Xà Thế, dâng tặng nhiều lễ vật cho ông ta, xúi giục ông ta giết cha, rồi cùng âm mưu sát hại Phật.

Thế Tôn nghe được liền bảo:

- Ðây không phải là lần đầu, ở kiếp trước ông ta đã từng như vậy.

Rồi Ngài kể chuyện Kurùga Miga và chuyện khác trong Bổn Sanh, xong dạy tiếp:

- Này các Tỳ kheo! Khi một người phó mặc tính ác độc của mình thắng lướt mọi ranh giới, để cho ý muốn xấu ác nảy sanh từ tánh ác độc, giống như dây leo bám quanh cây Sa- la, cuối cùng sẽ làm cho cây héo chết, người đó sẽ bị tống vào Địa ngục hoặc một cõi giới khổ não nào đó.

Và Phật đọc Pháp Cú:

(162) Phá giới quá trầm trọng,

Như dây leo bám cây,

Gieo hại cho tự thân,

Như kẻ thù mong ước.

7. Ðề Bà Ðạt Ða Gây Chia Rẽ Trong Tăng Ðoàn

Dễ làm các điều ác...

Câu giáo lý này Phật dạy tại Trúc Lâm, do chuyện Ðề- Bà Đạt Đa.

Tôn giả A Nan một hôm bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, sáng nay trên đường vào thành Vương Xá khất thực. Ðề- Bà Đạt Đa gặp con bảo rằng "Kể từ nay, sư đệ A Nan, tôi sẽ trai giới và điều hành công việc của Tăng chúng, độc lập với Tăng đoàn và Thế Tôn.” Hôm nay y sẽ tách Tăng đoàn ra làm hai, tự trai giới và điều hành công việc của Tăng chúng.

Nghe vậy, Thế Tôn đọc bài kệ:

Ðiều thiện thật dễ làm

Ðối với người Hiền Thiện

Người ác không thể kham

Những việc làm phước thiện.

Ðiều ác thật dễ làm

Ðối với người dữ ác

Người hiền chẳng thể cam

Xuống tay làm điều ác.

Rồi Ngài bảo:

- Này A Nan! Người ta dễ làm điều ác, khó làm điều thiện.

Và đọc tiếp Pháp Cú:

(163) Dễ làm các điều ác,

Dễ làm tự hại mình,

Còn việc lành, việc tốt,

Thật tối thượng khó làm.

8. Vị Tỳ Kheo Ðố Kỵ

Kẻ ngu si miệt thị...

Do chuyện Trưởng lão Kàla, Phật đã dạy câu trên tại Kỳ Viên.

Ở Xá Vệ có một phụ nữ thường hay giúp đỡ Trưởng lão Kàla với lòng tốt của bà mẹ đối với con. Sau khi nghe lời tán tụng đức Phật thuyết pháp thật là vi diệu, thật là thích thú, từ cửa miệng một gia đình láng giềng, bà nói với Trưởng lão cũng muốn đi nghe. Nhưng ông ngăn cản. Lý do thật dễ hiểu, vì ông sợ nghe đức Phật thuyết rồi bà sẽ không cần ông nữa. Nhưng một sáng tinh sương, điểm tâm xong bà tự thọ bát quan trai giới rồi đi đến Tinh xá, không quên dặn con gái ráng lo cho Trưởng lão.

Nghe tin bà đã ra đi, lửa sân phựt lên dữ dội, thiêu đốt cả tâm can ông. Không quên nổi ý nghĩ bà đã cắt đứt với mình, ông đi thẳng ngay đến Tinh xá, thấy bà ngồi trước mặt Phật, ông liền thưa:

- Bạch Thế Tôn! Người đàn bà ngu dốt này không thể hiểu nổi bài pháp thâm diệu của Ngài. Chỉ nên giảng cho bà ta bổn phận bố thí cúng dường và trì giới.

Nhưng Thế Tôn biết rõ động cơ thúc đẩy ông, nên bảo:

- Ðừng tự phụ! Vì ác kiến, ông đã phỉ báng giáo pháp của chư Phật. Nhưng như thế ông chỉ tự làm tổn hại mình thôi.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(164) Kẻ ngu si miệt thị,

Giáo pháp bậc La hán,

Bậc Thánh, bậc Chánh mạng.

Chính do ác kiến này,

Như quả loại cây lau,

Mang quả tự hoại diệt.

9. Cô Gái Giang Hồ Cứu Mạng Một Cư sĩ

Tự mình làm điều ác...

Vì chuyện Culla Kàla, Phật dạy câu trên tại Kỳ Viên.

Cũng trong câu chuyện về Mahà Kàla, lúc đó Culla Kàla cũng ở lại suốt đêm nghe pháp, và cũng bị bắt vì gói đồ tên trộm đã liệng trước mặt. Họ cũng túm lấy Cư sĩ định đánh, nhưng vài cô gái giang hồ hạng sang đi tắm sông thấy thế, xác nhận Cư sĩ này không lấy và xin tha mạng cho ông. Culla Kàla được thả ra, bèn đến Tinh xá kể chuyện cho các Tỳ kheo. Các vị này kể lại cho Phật nghe, và được Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo! Cư sĩ Culla Kàla được cứu mạng nhờ cả hai mặt, sự can thiệp của các cô gái giang hồ và chính ông ta vô tội. Chúng sanh ở thế gian này do ác nghiệp gây nên, tự mình chịu khổ não ở Địa ngục hay cõi giới khở sở khác. Nhưng người làm điều thiện thì tự mình cứu độ, được lên cõi trời hay Niết bàn.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(165) Tự mình, điều ác làm,

Tự mình làm ô nhiễm.

Tự mình ác không làm,

Tự mình làm thanh tịnh.

Tịnh, không tịnh, tự mình,

Không ai thanh tịnh ai.

10. Tu Tập Chân Chánh Ðể Tôn Quý Thế Tôn

Dầu lợi người bao nhiêu...

Phật đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Attadattha.

Sắp nhập Niết bàn, Phật bảo đệ tử:

- Này các Tỳ kheo, bốn tháng nữa Ta sẽ nhập Niết bàn.

Bảy trăm Tỳ kheo chưa chứng quả Dự lưu, quá đỗi xúc động, không hề rời xa Thế Tôn, và thì thầm với nhau không biết nên làm gì. Nhưng Trưởng lão Attadattha thì tự nhủ Phật sắp nhập diệt mà mình chưa hết tham ái, vậy phải phấn đấu hết sức để chứng quả A la hán trong khi Phật còn tại thế. Các Tỳ kheo ngạc nhiên thấy Trưởng lão tách rời họ, gần như không nói chuyện với họ nữa. Họ không hiểu tại sao nên thưa chuyện với Thế Tôn. Ngài hỏi lại Trưởng lão, biết được sở nguyện nên tán dương ông và dạy các Tỳ kheo:

- Này các Tỳ kheo! Người nào thành thật quý trọng Ta thì phải như Trưởng lão Attadattha mới được. Thực sự tôn quý Ta không phải là lễ kính Ta với hương hoa. Chỉ có người hành trì theo pháp từ bậc thấp đến bậc cao nhất mới đúng là tôn quý Ta. Do đó các ông nên theo gương Trưởng lão Attadattha.

Và Ngài đọc Pháp Cú:

(166) Dầu lợi người bao nhiêu,

Chớ quên phần tự lợi.

Nhờ thắng trí tự lợi,

Hãy chuyên tâm lợi mình.


Phẩm XIII: Thế Gian

1. Một Thiếu Nữ Chế Giễu Thầy Tỳ Kheo Trẻ.

Chớ theo pháp hạ liệt...

Câu pháp này được Thế Tôn nói khi Ngài ở Kỳ Viên, với một Tỳ kheo trẻ.

Tích truyện:

Vào sáng sớm, một vị Trưởng lão và một Tỳ kheo trẻ đi đến nhà bà Visàkhà để nhận phần cúng dường tại đấy, bà luôn luôn cúng bánh và cháo. Vị Trưởng lão sau khi ăn cháo, bèn đi sang nhà khác, để Thầy Tỳ kheo ở lại. Lúc đó, cô cháu gái của bà Visàkhà đang giúp bà ngoại cúng dường các sư. Khi nàng rót nước vào bát cho Thầy Tỳ kheo, thấy gương mặt mình phản chiếu trong nước, nàng mỉm cười; Thầy Tỳ kheo nhìn vào và cũng cười.

Cô bé thấy Thầy cười, bèn nói:

- Một chiếc đầu trọc cười.

Thầy nổi xung, mắng lại cô:

- Cô là kẻ trọc đầu, má cô, ba cô cũng trọc đầu.

Cô bé òa khóc lên, vào bếp mách bà.

Bà Visàkhà hỏi:

- Chuyện gì thế, cháu cưng?

Cô bé kể lại câu chuyện. Bà Visàkhà lập tức đi đến chỗ Thầy Tỳ kheo và thưa:

- Bạch Ðại Ðức, xin Ngài đừng phiền. Ngài hiểu lầm chỗ này. Ðó chỉ là biểu hiện sự tôn trọng sâu xa đối với một vị Tu sĩ râu tóc cao sạch, tay cầm bình bát nứt bể đi khất thực trong mảnh y vá víu.

Thầy Tỳ kheo đáp nữ thí chủ:

- Ðúng thế, bà hiểu theo luật, tóc râu... của tôi đều phải cắt sạch. Nhưng cô bé này có được quyền hỗn láo gọi tôi là "đầu trọc" không?

Bà Visàkhà không thể nào khuyên can cả Thầy lẫn cháu.

Lúc ấy, Trưởng lão trở về và hỏi:

- Chuyện gì thế, nữ thí chủ?

Sau khi nghe qua câu chuyện, Trưởng lão rầy vị Tỳ kheo:

- Thôi đi! Chú phải bình tĩnh. Không có gì sỉ nhục cho một sư tóc tai cắt sạch, mặc áo vá đi khất thực.

- Bạch Ngài, đúng vậy. Nhưng tại sao thay vì khiển trách nữ thí chủ, Ngài lại khiển trách con? Ngài nghĩ xem có thích đáng không, khi chế giễu một nhà sư bằng câu nói: "Thầy trọc đầu"?

Vào lúc đó, đức Thế Tôn đi đến, Ngài hỏi:

- Chuyện gì vậy?

Bà Visàkhà kể lại đầu đuôi câu chuyện.

Ðức Thế Tôn nhận biết Thầy Tỳ kheo có khả năng chứng quả Tu đà hoàn, Ngài nghĩ thầm "Ta phải tiếp tay thêm để giúp Thầy Tỳ kheo này.” Ngài bảo bà Visàkhà:

- Nhưng này, Visàkhà! Có thích đáng cho cháu gái bà không, khi chỉ vì đệ tử Ta đi khất thực với râu tóc nhẵn nhụi, đã chế nhạo và gọi các Thầy là đầu trọc?

Thầy Tỳ kheo trẻ lập tức nhảy lên, chắp tay hướng về Thế Tôn với tất cả lòng thành khẩn, nói:

- Bạch Thế Tôn! Chỉ có Ngài hiểu đúng vấn đề, mà ngay cả Thầy con hay bà thí chủ giàu có này cũng không hiểu.

Ðức Phật biết Thầy đã hòa dịu, bèn nói:

- Thái độ chế giễu, nhạo báng lấy đó làm vui là thái độ thấp hèn không nên có, cũng như không nên sống buông thả phóng dật.

Ngài đọc Pháp Cú:

(167) Chớ theo pháp hạ liệt,

Chớ sống mặc, buông lung,

Chớ tin theo tà kiến,

Chớ tăng trưởng tục trần.

2. Ðức Phật Về Thăm Ca Tỳ La Vệ

Nỗ lực, chớ phóng dật...

Câu Pháp Cú này được đức Phật nói ra khi Ngài đang ở Banyan Grove, liên quan tới phụ vương Ngài.

Khi đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ lần đầu tiên sau ngày thành đạo, hoàng tộc đến trước đón tiếp Ngài. Vào dịp này, để đánh đổ lòng kiêu ngạo của hoàng gia, Ngài dùng thần thông tạo nên một con đường bằng châu báu ở trên không, Ngài đi qua đi lại ở trên đó, vừa đi vừa thuyết pháp. Mọi người trong hoàng tộc đều sanh lòng tin phục, khởi đầu là vua Tịnh Phạn. Và một trận mưa rơi trên thân tộc, khiến dân chúng bàn tán sôi nổi. Ðức Phật nói:

- Này các Tỳ kheo! Ðây không phải lần đầu mà trận mưa rơi trên hoàng tộc của Ta, điều này đã xảy ra ở quá khứ.

Ngài nói Bổn Sanh Vessantara.

Sau khi nghe Ngài thuyết pháp, hoàng tộc đứng dậy ra về, không ai thỉnh mời đấng Ðạo sư. Vua Tịnh Phạn cũng nghĩ rằng: "Nếu con ta không về nhà ta thì đi đâu?", nên nhà vua về cung điện, không mời Phật. Tại Hoàng cung, nhà vua ra lệnh chuẩn bị thức ăn và tòa ngồi cho hai ngàn Tỳ kheo. Ngày kế, đức Phật đi vào thành khất thực, Ngài nghĩ thầm: "Khi chư Phật thời quá khứ trở về thành của phụ vương, các Ngài đi thẳng về nhà hay đi khất thực như thường lệ?" Thấy rằng chư Phật đều đi khất thực từng nhà, đức Bổn Sư cũng đi từng nhà xin ăn. Tiếng đồn đến tai vua Tịnh Phạn, nhà vua vừa choàng áo vừa đi đến chỗ Phật phủ phục trước Ngài và nói:

- Này con, sao con sỉ nhục cha đến thế? Cha rất hổ thẹn khi thấy con đi xin ăn từng nhà. Chính thành phố này còn không đáng cho con đi xin bằng kiệu vàng nữa là.

- Ðại vương! Ta không sỉ nhục Ðại vương. Ta chỉ giữ đúng theo truyền thống của dòng dõi.

- Nhưng, này con! Truyền thống của dòng họ ta là đi xin ăn từng nhà ư?

- Không, đại vương! Ðó không phải là truyền thống của Ngài. Ðó là truyền thống của Ta, vì hàng nghìn chư Phật đã đi từng nhà để xin ăn.

Ðức Phật nói Pháp Cú:

(168) Nỗ lực, chớ phóng dật!

Hãy sống theo chánh hạnh.

Người chánh hạnh hưởng lạc,

Cả đời này, đời sau.

(169) Hãy khéo sống chánh hạnh,

Chớ sống theo tà hạnh!

Người chánh hạnh hưởng lạc,

Cả đời này đời sau.

Vào cuối bài pháp, nhà vua chứng quả Dự lưu, cả chúng hội cũng được lợi ích.

3. Năm Trăm Tỳ Kheo Chứng Quả

Hãy nhìn như bọt nước...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Bổn sư ở tại Kỳ Viên với năm trăm Tỳ kheo chứng quả.

Có năm trăm Tỳ kheo nhận đề mục Thiền định từ đức Bổn Sư, trở về rừng và nỗ lực Thiền định. Nhưng mặc dù gắng sức chiến đấu hết mình, họ không thể nào phát triển tuệ giác.

Các Thầy nghĩ thầm: "Chúng ta sẽ đổi đề mục khác thích hợp với chúng ta hơn.” Các Thầy lại chỗ Phật, trên đường đi các Thầy thấy một ảo ảnh, tập trung mọi ý niệm về ảo ảnh ấy, các Thầy khai mở tuệ giác. Khi bước vào sân tu viện, trời đổ mưa, các Thầy đứng đấy nhìn những bọt nước nổi bập bềnh và tan nhanh chóng. Một tư tưởng trỗi dậy: "Tự ngã của chúng ta như bọt nước nổi tan.” Lập tức các Thầy tập trung tư tưởng vào ý nghĩ này. Ðức Bổn Sư đang ngồi trong hương thất, bèn hóa thân đến trước các Thầy, nói kệ:

(170) Hãy nhìn như bọt nước,

Hãy nhìn như cảnh huyễn!

Quán nhìn đời như vậy,

Thần chết không bắt gặp.

Nghe xong, các Thầy chứng quả A la hán ngay tại chỗ.

4. Hoàng Tử Vô Úy (Abhaya) Mất Hầu Thiếp

Hãy đến nhìn đời này...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Ðạo sư ở Trúc Lâm (Veluvana), liên quan tới Hoàng tử Vô Úy.

Hoàng tử Vô Úy dẹp loạn ở biên giới về, vua cha Tần Bà Sa La rất vui lòng, ban thưởng cho Hoàng tử một vũ nữ trẻ đẹp, giỏi tài múa hát, và cho ở Hoàng cung bảy ngày. Trong bảy ngày, Hoàng tử say mê ngắm vẻ lộng lẫy của cung điện phụ vương. Ngày thứ tám, chàng vào nhà tắm bên sông, tắm xong vào vườn hoa ngồi xuống, y như tể tướng Santati ngắm cô vũ nữ nhảy múa, ca hát. Chẳng bao lâu, cũng y như cô vũ nữ của Tể tướng Santati, cô vũ nữ này bị bệnh và chết.

Hoàng tử Vô Úy rất buồn vì cái chết của nàng vũ nữ. Bất chợt một ý nghĩ thoáng qua: "Chẳng có ai ngoài đức Thế Tôn có thể làm tiêu tan nỗi buồn của ta.” Chàng đi đến chỗ đức Phật và nói:

- Bạch Thế Tôn! Xin giải trừ nỗi buồn cho con.

Ðức Phật an ủi chàng:

- Này Hoàng tử! Trong vòng luân hồi vô thủy, không thể đếm được bao nhiêu lần vũ nữ kia đã chết, và cũng không lường được nước mắt mà Hoàng tử khóc cho cô ấy.

Biết Hoàng tử đã bớt buồn, đức Phật dạy tiếp:

- Này Hoàng tử! Không nên sầu não, chỉ có kẻ khờ dại mới chôn mình trong bể ưu bi.

Ngài nói kệ:

(171) Hãy đến nhìn đời này,

Như xe vua lộng lẫy,

Người ngu mới tham đắm,

Kẻ trí nào đắm say.

5. Thầy Tỳ Kheo Và Cây Chổi

Ai sống trước buông lung...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Sammùnjani.

Trưởng lão Sammùnjani luôn luôn quét dọn từ sáng đến chiều không kể giờ giấc. Một ngày nọ, người cầm chổi đến thất của Trưởng lão Revata (Ly Bà Đa), thấy vị này vẫn tĩnh tọa như thường lệ. Trưởng lão nghĩ thầm: "Nhà Thầy này ăn không ngồi rồi, chỉ nhận thức ăn của thiện tín, rồi trở về ngồi trong thất mình. Sao Thầy không cầm lấy chổi, quét dọn ít ra cũng được cái thất của mình?”

Trưởng lão Ly Bà Đa nghĩ thầm: "Ta sẽ cho Thầy một lời khuyên.” Ngài gọi Sammùnjani:

- Này huynh, hãy đến đây.

- Chuyện gì thế, thưa Tôn giả?

- Hãy đi tắm rồi trở lại đây với tôi.

Trưởng lão Sammùnjani vâng lời, sau đó đến ngồi một cách kính cẩn bên cạnh Trưởng lão Ly Bà Đa. Ngài Ly Bà Đa nói:

- Này huynh! Một vị Tỳ kheo không phải lúc nào cũng quét dọn. Sáng sớm Thầy Tỳ kheo có thể quét dọn phòng xá, sau đó đi khất thực. Khất thực xong về Tinh xá, ngồi tĩnh tọa một phần đêm hoặc một phần ngày, quán tưởng về ba mươi hai vật trong thân, biết rõ thân thể bất tịnh. Vào buổi chiều, Thầy có thể xả Thiền và quét phòng một lần nữa. Nhưng không bao giờ nên tiêu phí suốt ngày chỉ để quét dọn, hoặc tự cho phép mình có thời gian rảnh rỗi.

Trưởng lão Sammùnjani cẩn trọng vâng lời Tôn giả Ly Bà Đa, chẳng bao lâu chứng A la hán.

Sau đó, tuy nhiên, khắp các phòng đều đầy rác. Các Tỳ kheo nói với Sammùnjani:

- Thưa huynh! Các phòng đều đầy rác sao Thầy không quét đi?

- Thưa chư Tôn giả! Trước đây tôi buông lung nên thường quét dọn. Bây giờ tôi đã trở nên tinh cần, nên không quét.

Các Tỳ kheo thuật lại với đức Phật:

- Trưởng lão ấy nói một đàng làm một nẻo.

Nhưng, đức Phật đáp:

- Này các Tỳ kheo! Thầy ấy nói đúng. Trước kia, trong những ngày phóng dật buông lung, Thầy ấy để hết thì giờ trong việc quét dọn. Nhưng bây giờ, Thầy dành trọn thời gian trong niềm vui đạo quả, và không quét dọn nữa.

Thế Tôn nói kệ:

(172) Ai sống trước buông lung,

Sau sống không phóng dật,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che.

6. Câu Chuyện Của Chỉ Man

Ai dùng các hạnh lành...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở Kỳ Viên, liên hệ đến Trưởng lão Chỉ Man (Angulimàla tức Ương Quật Ma La).

Tôi nghe như vầy: Một thời, đức Phật ở tại nước Xá Vệ, Tinh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên. Bấy giờ trong nước của vua Ba Tư Nặc (Pasennadi) có một tên sát nhân đeo chuỗi tay người - Vô Não. Hắn ta rất hung bạo đẫm máu, chỉ giết chóc phá hoại, không thương xót ai cả. Hắn tàn phá làng nào làng ấy không sống sót, đi qua đô thị nào đô thị ấy hoang mạc, đã giết khu vực nào khu vực ấy không tồn tại. Hắn giết hết người này sang người khác, làm một xâu chuỗi bằng ngón tay các nạn nhân.

Vào một buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào thành Xá Vệ khất thực. Sau khi khất thực Ngài trở về dùng buổi sáng, dọn dẹp phòng xá, rồi mang y bát vào khởi sự đi về con đường tướng cướp Chỉ Man đang ẩn núp. Các kẻ chăn bò, chăn trâu, nông dân chạy đến, thấy Thế Tôn đi về hướng ấy đã kêu lên:

- Này Sa môn! Ðừng đi hướng đó. Về phía đó có tên sát nhân Ương Quật Ma La đang ẩn núp. Hắn ta tàn bạo, tay đẫm máu, giết chóc tàn phá không nương tay. Hắn đến đâu là ở đó không còn sự sống. Hắn giết người, làm thành một xâu chuỗi bằng ngón tay nạn nhân đeo trên cổ. Sa môn ơi! Thỉnh thoảng có từng nhóm mười người, hai mươi, ba mươi, bốn mươi người đi chung với nhau trên đường này, và tất cả đều chết bởi tay Ương

Quật Ma La.

Mặc cho họ lo lắng, đức Thế Tôn tiếp tục đi trong im lặng. Lần thứ hai, lần thứ ba khẩn khoản yêu cầu Ngài đừng đi, nhưng đức Thế Tôn vẫn im lặng đi tiếp.

Ương Quật Ma La nhìn thấy Thế Tôn đi từ xa. Hắn nghĩ thầm: "Thật lạ lùng! Thật kỳ đặc! Ðã từ lâu người đi đường thường tụ tập thành từng nhóm mười người hoặc hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi người đi chung với nhau trên con đường này. Vậy mà giờ đây chỉ có một Sa môn đi một mình, không bạn đồng hành, như thể ông ta đang thắng trận. Ðược thôi, ta giết Sa môn này.”

Ương Quật Ma La xách gươm, nai nịt cung tên, chạy theo sau Thế Tôn. Do thần lực của Phật, nên mặc dù hắn chạy hết tốc lực, Thế Tôn đi bình thường, hắn vẫn không sao bắt kịp đức Phật. Hắn suy nghĩ: "Thật phi thường! Thật lạ lùng! Ta đã từng nắm đứng cả voi, ngựa, xe cộ, nai rừng khi chúng đang chạy. Vậy mà với Sa môn đang đi thong thả kia, ta chạy hết sức mình vẫn không bắt kịp.” Hắn dừng lại kêu lớn:

- Sa môn! Dừng lại! Hãy dừng lại, Sa môn!

- Ta đã dừng. Ương Quật, ngươi cũng nên dừng lại.

Ương Quật nghĩ thầm: "Thái tử dòng họ Thích nói thật, phát ngôn thành thật, nhưng Sa môn này nói đã dừng trong khi đang đi. Ta phải hỏi ông mới được.”

Ương Quật nói kệ:

Sa môn!

Mặc dù đang đi, ông nói: "Ta đã dừng.”

Còn tôi đang đứng, ông lại nói: "Ngươi chưa dừng.”

Giờ đây, tôi xin hỏi câu này nhé!

Vì sao ông đã đứng mà tôi đang đi?

Thế Tôn trả lời:

- Này Ương Quật! Ta đứng lại từ lâu. Vì Ta thường tự ái với mọi người.

Còn người không chút xót thương ai. Và vì thế Ta đã đứng còn ngươi chưa đứng, Ương Quật!

- Từ lâu tôi tôn kính Ngài, bậc Trí tuệ phi thường, đại ẩn sĩ rừng sâu. Giờ đây được nghe lời chỉ dạy, tôi sẽ từ bỏ mọi hành động ác xấu.

Nói xong, tên sát nhân ném khí giới xuống hố, phủ phục dưới chân Thế Tôn xin được làm đệ tử Ngài.

Ðức Phật Từ bi, đấng Trí tuệ đệ nhất, bậc Thầy của trời người, nói với tên sát nhân:

- Thiện lai, Tỳ kheo!

Và chỉ như thế, đã biến y thành một Sa môn.

Sau đó, Thế Tôn đi về thành Xá Vệ, có Thượng tọa Ương Quật làm Thị giả, Ngài đi vào Tinh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc Viên. Khi ấy trước Hoàng cung của vua Ba Tư Nặc (Pasenadi), dân chúng tụ tập đông đảo và hô hoán:

- Muôn tâu Hoàng thượng! Có một tên sát nhân trong lãnh thổ của đại vương tên Ương Quật Ma La. Hắn khát máu, tàn bạo, giết người không gớm tay. Hắn đi qua làng mạc, đô thị, phố xá nào, nơi ấy không ai sống sót. Hắn giết người, lấy ngón tay kết thành chuỗi đeo cổ. Xin đại vương trừng trị hắn.

Sáng sớm, vua Ba Tư Nặc rời Hoàng cung với năm trăm xa mã, đi về phía Tinh xá. Nhà vua đi xe trên khoảng đường có thể đi xe, xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn. Ðến nơi nhà vua cúi chào Phật và cung kính ngồi một bên. Thế Tôn hỏi:

- Ðại vương có điều gì phiền nhiễu? Vua Tần Bà Sa La của nước Ma Kiệt khiêu chiến chăng? Hay các Hoàng tử Licchavi của Tỳ Xá Ly gây hấn? Hay vài kẻ cựu thù khác?

- Bạch đức Thế Tôn! Không, vua Tần Bà Sa La chẳng khiêu khích con. Nhóm Licchavi cũng không. Chẳng có kẻ thù nào khác. Bạch Thế Tôn, có một tên sát nhân tên Ương Quật Ma La trong nước con. Hắn tàn bạo, khát máu, tàn phá mọi đô thị, làng mạc, hắn đeo xâu chuỗi tay người. Và con không thể nào trừng trị hắn.

- Này đại vương! Giả sử đại vương thấy Ương Quật với râu tóc cạo sạch, khoác y vàng từ bỏ đời sống gia đình sống đời không gia đình, không sát sanh, không trộm cắp, không nói dối, chỉ ăn ngày một bữa, sống đời Phạm hạnh, đạo đức chân thật. Khi ấy nhà vua sẽ đối xử với y như thế nào?

- Bạch Thế Tôn! Con sẽ cúi chào người ấy, con sẽ đứng dậy và mời ngồi, con sẽ xin được cúng dường y phục, thức ăn, phòng xá, thuốc men cho vị ấy. Con sẽ bảo vệ, ủng hộ vị ấy tu hành với chánh pháp. Nhưng, bạch Thế Tôn! Làm sao một người cực ác như thế lại có thể hoàn toàn vâng theo những tín hiệu luân lý?

Khi ấy, Thượng tọa Ương Quật Ma La ngồi cách Phật không xa. Và đức Phật đưa tay chỉ cho nhà vua.

- Ðại vương, Ương Quật Ma La đây!

Vua Ba Tư Nặc run lên vì sợ, chân tay lập cập, tóc dựng đứng. Ðức Thế Tôn thấy thế khuyên nhà vua:

- Ðừng sợ hãi, đại vương! Ðừng sợ hãi! Ðại vương không có gì phải sợ cả.

Ngay lúc đó, nhà vua lấy lại bình tĩnh, cơn xúc động lắng xuống, nhà vua đến chỗ Thượng tọa Ương Quật Ma La, hỏi thăm:

- Bạch Ðại đức, có phải Ngài là Ương Quật Ma La?

- Thưa vâng!

- Xin được phép biết tôn danh của thân phụ và thân mẫu Ngài?

- Ðại vương! Thân phụ tôi họ Gagga, thân mẫu tôi họ Mantànì.

- Bạch đại đức! Vinh hạnh thay cho Thượng tọa dòng Gagga cao quý, con trai của Mantànì.

Trẫm sẽ tận tình cúng dường y phục, thức ăn, phòng xá, thuốc men cho Ngài.

Nhưng khi ấy, Thượng tọa Ương Quật Ma La đã tuân theo các điều kiện khổ hạnh như: ở trong rừng, đi khất thực, mặc y phấn tảo, chỉ giữ ba y nên trả lời:

- Ðại vương! Ba y tôi đã đủ.

Vua Ba Tư Nặc đến chỗ Phật, kính cẩn ngồi một bên, và thưa:

- Bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu. Thế Tôn điều phục người không thể điều phục, trấn an kẻ dấy loạn, chế ngự kẻ không thể chế ngự. Thế Tôn điều phục không cần đến roi gậy, gươm đao với những kẻ mà nếu chúng con có dùng đến roi gậy, gươm đao cũng không thể chế ngự nổi. Bạch Thế Tôn! Bây giờ con phải về, có những việc phải làm, phải lưu tâm.

- Ðại vương cứ tùy nghi.

Vua Ba Tư Nặc đứng lên lễ Phật, đi nhiễu quanh và trở về.

Một buổi sáng, Thượng tọa Ương Quật Ma La đắp y mang bát vào thành Xá Vệ khất thực. Và khi Thượng tọa đi theo thường lệ từ nhà này sang nhà khác, Ngài thấy một bà mẹ đang đau đớn vì sắp sinh. Thấy thế, Ngài nghĩ thầm: "Ôi! Chúng sanh đau khổ xiết bao.”

Khất thực xong, Thượng tọa trở về, ăn sáng xong, đi đến chỗ đức Phật đảnh lễ và ngồi một bên thưa:

- Bạch Thế Tôn! Sáng nay, con đi khất thực trong thành Xá Vệ như thường lệ, và trông thấy một thiếu phụ đau đớn vì sanh khó. Khi trông thấy cảnh ấy, con nghĩ thầm: "Chao ôi! Chúng sanh đau khổ xiết bao!”

- Ðược rồi, này Ương Quật Ma La, hãy trở vào thành Xá Vệ, đến chỗ thiếu phụ ấy và nói rằng: "Này cô! Từ khi tôi sanh ra, tôi không có ác tâm giết hại đối với bất cứ chúng sanh nào. Nếu điều này đúng sự thật, xin an lành đến với cô và đứa bé sắp sanh.”

- Nhưng, bạch Thế Tôn! Ðó là điều cố ý nói dối, vì con đã cố ý giết hại bao nhiêu chúng sanh.

- Thôi, Ương Quật Ma La hãy đến nói thế này: "Này cô, từ khi tôi sanh vào dòng Thánh, tôi không cố ý giết hại bất cứ người nào. Nếu điều này đúng sự thật xin an lành đến với cô, an lành cho đứa bé sắp sinh.”

- Thưa vâng.

Thượng tọa Ương Quật Ma La vâng lời Thế Tôn, trở vào thành Xá Vệ, đến nói với thiếu phụ... lập tức nàng được an ổn, đứa trẻ chào đời an ổn.

Thượng tọa Ương Quật Ma La sống độc cư, rút lui khỏi thế gian, chuyên tâm quyết ý và chẳng bao lâu ngay đời này, Tôn giả an trú trong Trí tuệ, đạt được Minh sát tuệ, và đạt được mục đích tối cao của dòng Thánh, đó cũng là mục đích của những người trẻ tuổi từ bỏ cuộc đời, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Tôn giả tuyên bố: "Ðời này là đời cuối, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, ta không còn trở lại đời này.” Thượng tọa đã chứng A la hán.

Vào một buổi sáng, Tôn giả Ương Quật Ma La đắp y mang bát vào thành Xá Vệ khất thực. Thấy Tôn giả, người thì ném đất, kẻ ném gậy kẻ ném đá, đánh đập Tôn giả. Tôn giả trở về, đầu vỡ, máu chảy, bát bể, y áo rách tả tơi, đi đến chỗ Thế Tôn. Thế Tôn trông thấy từ xa, an ủi:

- Hãy nhẫn Bà la môn, hãy nhẫn Bà la môn, ngươi đang chịu đau khổ hiện tại vì quả báo của những hành động ác, thay vì chịu đau đớn ở Địa ngục trong nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm.

Giờ đây, Tôn giả Ương Quật Ma La sống một mình tu ẩn, hưởng niềm vui an lạc của giải thoát.

Tôn giả nói kệ:

(172) Ai sống trước buông lưng

Sau sống không phóng dật,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che.

(173) Ai dùng các hạnh lành,

Làm xóa mờ nghiệp ác,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che.

(382) Tỳ kheo tuy tuổi nhỏ,

Siêng tu giáo pháp Phật,

Soi sáng thế gian này,

Như trăng thoát khỏi mây.

Người thù của ta, hãy lắng nghe giáo lý.

Người thù của ta, hãy quy y theo Phật.

Người thù của ta, hãy vun bồi người tốt,

Người chỉ tuân hành giáo pháp của Phật.

Người thù của ta, hãy nghe giáo lý

Của người giảng hạnh nhẫn nhục,

Của người ca ngợi lòng vị tha không ác ý,

Và khi đến thời hãy tuân theo giáo lý ấy.

Người như thế không hại mình, hại người.

Người ấy sẽ đạt được Niết bàn

Và che chở cho mọi chúng sanh.

(80) Người trị thủy dẫn nước,

Kẻ làm tên nắn tên,

Người thợ mộc uốn gỗ,

Bậc trí nhiếp tự thân.

Có người chỉ thị được bằng roi, câu móc, gậy gộc.

Ðức Phật dạy ta không bằng roi hay gươm.

Ngày xưa tên ta là "Sát nhân",

Nhưng nay ta tên "Bất hại.”

Ngày xưa ta tên Ương Quật, kẻ giết người.

Ðược sanh vào dòng Thánh ta quy y theo Phật.

Ngày xưa ta tên Ương Quật, tay đẫm máu.

Tỉnh ra! Ta quy y Phật,

Mắt Trí tuệ sáng ngời.

Làm điều ác rơi vào Địa ngục,

Ta đã chịu quả ấy.

Giờ trả nợ xong, ta hưởng quả của ta.

(26) Chúng ngu si thiếu trí,

Chuyên sống đời phóng dật.

Người trí, không phóng dật,

Như giữ tài sản quý.

(27) Chớ sống đời phóng dật.

Chớ say mê dục lạc.

Không phóng dật, Thiền định,

Ðạt được an lạc lớn.

Cung kính, không thất lễ là lời dạy ta vâng theo,

Ta chẳng phải được chỉ dạy điều dở.

Ta đã bước vào hoàn cảnh tốt đẹp nhất,

Trong tất cả hoàn cảnh đã trải qua.

Ta đã chứng Tam minh,

Ta đã giữ giới Phật dạy.

Khi Tôn giả Ương Quật Ma La nói xong kệ, Ngài nhập Niết bàn Vô dư. Các Thầy Tỳ kheo tụ tập ở Pháp đường bàn tán:

- Chư hiền, Trưởng lão ấy sanh về đâu?

Khi ấy, đức Thế Tôn đi đến, Ngài hỏi:

- Các Tỳ kheo! Các ông ở đây bàn tán về chuyện gì?

- Bạch Thế Tôn! Chúng con đang bàn về nơi tái sanh của Trưởng lão Ương

Quật Ma La.

- Ông ấy đã vào Niết bàn.

- Bạch Thế Tôn! Thế ư? Vào Niết bàn sau khi đã giết hết chừng ấy người?

- Ðúng thế! Này các Tỳ kheo! Trước đây, thiếu người hướng dẫn sáng suốt, ông ấy gây nên tội lỗi. Nhưng sau đó, khi ông ấy vâng theo sự chỉ dạy của bậc minh sư, ông sống rất chánh niệm. Vì thế, ông ấy xóa tan hành động ác quá khứ bằng việc lành.

Thế Tôn nói kệ:

(173) Ai dùng các hạnh lành,

Làm xóa mờ nghiệp ác,

Chói sáng rực đời này,

Như trăng thoát mây che.

7. Cô Bé Dệt Vải.

Ðời này thật mù quáng...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Thế Tôn ở Tinh xá Aggàlava liên quan đến một cô bé thợ dệt.

Một hôm, đức Phật đi đến Alavi. Dân chúng Alavi thỉnh Phật thọ trai. Thọ trai xong, đức Phật dạy một bài pháp ngắn:

"Hãy quán niệm về sự chết, các người hãy tự nhủ rằng: đời sống của ta mong manh. Cái chết của ta là điều cố nhiên. Chắc chắn ta sẽ chết. Cái chết sẽ chấm dứt đời ta. Ðời sống không cố định, cố định là cái chết. Ai không quán niệm về sự chết, sẽ sợ hãi khi giờ lâm chung đến, và sẽ chết trong sợ hãi kinh hoàng, như một người đi đường gặp rắn, không có gậy trong tay, run rẫy dường nào. Còn người có quán niệm về sự chết, sẽ không sợ hãi trong giây phút cuối của cuộc đời, và như một người gan dạ thấy rắn từ xa, đã cầm gậy hất nó đi. Vì thế, hãy quán niệm về sự chết.”

Mọi người nghe xong lại trở về đời sống bình thường. Chỉ có một cô bé thợ dệt mười sáu tuổi tự nhủ "Lời dạy của đức Phật thật kỳ diệu, phần ta, ta sẽ quán niệm về sự chết.” Và cô bé quán niệm suốt cả ngày đêm. Ðức Thế Tôn rời Alavi đến Kỳ Viên. Cô bé cũng tiếp tục quán niệm về sự chết trong ba năm.

Vào một ngày, sáng sớm Thế Tôn quán sát thế gian, Ngài nhìn thấy cô bé xuất hiện trong tầm quan sát của Ngài. Ngài tự hỏi "Những gì sẽ xảy ra?" Ngài chú ý đến sự diễn tiến tiếp theo: "Từ ngày cô bé này nghe Ta nói Pháp, đã thực hành quán niệm về sự chết trong ba năm. Bây giờ, Ta sẽ đế Alavi và hỏi cô bé ấy bốn câu, Ta sẽ khen cô bé, và Ta sẽ nói Pháp Cú: Ðời này thật mù quáng. Nghe xong cô bé ấy sẽ chứng quả. Nhờ vậy, thính chúng sẽ thâm hiểu lời dạy của Ta. Thế là Thế Tôn cùng năm trăm Tỳ kheo lên đường đến Tinh xá Aggàlava.

Dân chúng Alavi nghe tin Thế Tôn đến, họ vào Tinh xá thỉnh Phật thọ trai. Cô bé con người thợ dệt cũng nghe tin ấy, tràn đầy hân hoan. Cô nghĩ: "Thế Tôn đã đến, bậc từ phụ của ta, bậc đạo sư, bậc Thầy quý kính dung mạo như trăng rằm, đức Cồ Đàm Phật Đà.” Cô tự nhủ "Bây giờ, lần đầu trong ba năm nay, ta mới gặp Thế Tôn, người thân sắc vàng chói, giờ đây ta được đảnh lễ thân kim sắc của Ngài, và nghe Ngài giảng pháp vi diệu thấm đầy mật ngọt.”

Nhưng cha cô trước khi đến xưởng dệt, đã dặn cô:

- Này con, trên khung cửi của cha còn một khổ vải chưa dệt xong, cha phải dệt xong hôm nay. Con hãy quấn chỉ vào thoi cho đầy và mang gấp đến cha.

Cô gái nghĩ thầm: "Ta rất mong được nghe đức Phật thuyết pháp, nhưng cha ta đã căn dặn như thế. Ta sẽ đi nghe pháp hay đánh sợi cho cha ta?" Cô nghĩ tiếp: "Nếu ta không mang thoi đến, cha ta sẽ đánh ta. Vậy thì phải đánh sợi cho đầy mấy con thoi, đem đến cho ông, đợi dịp khác đi nghe pháp.” Cô ngồi vào ghế và đánh sợi.

Dân chúng Alavi đợi chờ Thế Tôn, cúng dường thức ăn, sau khi ăn xong họ dọn bát và nghe Ngài chỉ dạy. Ðức Thế Tôn tự nhủ: "Ta đến đây qua một khoảng đường ba mươi dặm chỉ vì một cô bé, cô ấy chưa có mặt. Khi cô ấy đến, Ta sẽ giảng pháp.” Vì thế, Ngài ngồi im, thính chúng cũng lặng yên đợi chờ (Khi đức Phật làm thinh, không có người hay trời nào dám thốt ra một câu).

Cô bé đã đánh thoi xong, bỏ vào giỏ và đem đến xưởng dệt cho cha. Trên đường đi, cô đứng lại ngoài vòng thính chúng và chăm chú nhìn Ðức Phật. Thế Tôn cũng nhìn thấy cô, và cô hiểu ý Ngài: "Ðức Bổn sư ngồi trong pháp hội, tỏ dấu nhìn ta với ý muốn ta đến gần, Ngài muốn ta đến nghe pháp vào ngay lúc này.”

(Vì sao đức Thế Tôn chú ý cô bé? Vì Ngài biết rằng nếu cô bé đi tiếp cô sẽ chết khi chưa xong việc, kiếp sau của cô sẽ không biết ra sao. Nhưng nếu cô bé đến nghe pháp, cô sẽ chứng quả Dự lưu và chắc chắn sẽ tái sanh lên cõi trời Ðâu suất. Ngài biết cô bé phải chết ngày hôm nay).

Với dấu hiệu của cái nhìn đức Phật, cô đến gần Thế Tôn chiêm ngưỡng vầng hào quang sáu sắc chung quanh thân Phật, cung kính đảnh lễ và kính cẩn đến gần Thế Tôn, cô ngồi vào chỗ một cách im lặng với thính chúng chung quanh. Ðức Thế Tôn hỏi cô:

- Con từ đâu đến đây?

- Bạch Thế Tôn! Con không biết.

- Con sẽ đi đến đâu?

- Bạch Thế Tôn! Con không biết.

- Con biết hay không biết?

- Bạch Thế Tôn! Con biết.

- Con không biết phải chăng?

- Bạch Thế Tôn! Con không biết.

Sau bốn câu hỏi của Phật, thính chúng nổi giận xì xào: "Coi kìa! Con bé, con lão thợ dệt nói như đùa với Thế Tôn. Khi Ngài hỏi từ đâu đến nó phải đáp: "Từ nhà thợ dệt" chứ. Và khi Ngài hỏi đi đâu, nói phải thưa là: "Ði đến xưởng dệt, mới phải chứ.”

Thế Tôn bảo thính chúng im lặng, Ngài hỏi cô bé:

- Này con! Khi Ta hỏi con từ đâu đến, vì sao con trả lời không biết?

- Bạch Thế Tôn! Ngài cũng biết rằng con từ nhà cha con là người thợ dệt đến đây. Vì thế khi Ngài hỏi con từ đâu đến, con hiểu rằng ý của câu ấy là con từ đâu sinh ra đây. Nhưng con chẳng biết con từ đâu sinh đến nơi này.

Phật khen ngợi:

- Lành thay! Lành thay! Này con, con đã trả lời đúng câu hỏi của ta.

Ngài hỏi tiếp:

- Khi Ta hỏi con đi về đâu, vì sao con trả lời không biết?

- Bạch Thế Tôn! Ngài cũng biết con đến xưởng dệt với giỏ thoi trên tay. Nên khi Ngài hỏi con đi đâu, con hiểu ý của câu ấy là khi rời nơi đây con tái sinh về đâu. Nhưng với con, sau khi chết con chưa biết sinh về đâu.

- Con trả lời đúng câu hỏi của Ta.

Ðức Phật khen cô lần thứ hai, và hỏi tiếp:

- Khi Ta hỏi, con biết hay không, vì sao con trả lời con biết?

- Bạch Thế Tôn! Vì con biết rằng chắc chắn con sẽ chết, nên con đáp như thế.

- Con đã trả lời đúng câu hỏi của Ta.

Ðức Phật khen cô lần thứ ba, hỏi tiếp:

- Vì sao khi Ta hỏi con không biết hay chăng, con trả lời rằng không biết?

- Bạch Thế Tôn! Ðiều con biết chắc là con sẽ chết, nhưng chết vào lúc nào, vào ban đêm hay ban ngày, vào buổi sáng hay bất cứ khi nào, con không thể biết, nên con trả lời không biết.

Ðức Phật khen ngợi lần thứ tư.

- Con đã trả lời đúng câu hỏi của Ta.

Ngài dạy thính chúng:

- Các người không hiểu ý câu nói của cô bé, nên nổi giận. Với người không có tuệ nhãn, họ đui mù, chỉ người nào có tuệ nhãn mới thấy được điều này.

Ngài nói kệ:

(174) Ðời này thật mù quáng,

Ít kẻ thấy rõ ràng.

Như chim thoát khỏi lưới,

Rất ít đi thiên giới.

Cuối thời pháp cô bé chứng quả Dự lưu. Cô cầm giỏ thoi đi đến chỗ cha mình. Ông đang ngồi ngủ bên khung cửi. Không biết cha đang ngủ cô đưa giỏ thoi vào. Giỏ thoi chạm nhằm đầu khung cửi gây nên tiếng động, cha cô choàng dậy tiếp tục kéo cửi, đầu khung văng mạnh vào ngực cô bé cô ngã ra chết, sanh lên cõi trời Ðâu suất. Cha cô giật mình thấy con gái mình nằm sóng sượt, đầy máu và đã chết. Ông kinh hoàng than khóc:

- Không có ai cứu khổ cho ta.

Ông đi đến chỗ Phật kể lại mọi việc và nói:

- Bạch Thế Tôn, xin cứu con.

Ðức Phật an ủi:

- Chớ ưu sầu, này thiện nam tử! Trong vòng luân hồi vô tận, người đã từng khóc con nước mắt nhiều hơn nước bốn bể.

Ðức Phật nói về vòng luân hồi vô tận, người thợ dệt nghe xong, bớt đau buồn, xin Phật được xuất gia.

Ông làm tròn bổn phận của một Tu sĩ và chẳng bao lâu chứng quả A la hán.

8. Ba Mươi Vị Tỳ Kheo

Như chim thiên nga bay...

Câu chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, có liên quan đến ba mươi vị Tỳ kheo.

Một hôm, có ba mươi vị Tỳ kheo sống ở các xứ khác đến thăm đức Phật. Tôn giả A Nan trông thấy các vị ấy đến khi đang chuẩn bị vào hầu Phật. A Nan nghĩ thầm: "Ta sẽ đợi đức Thế Tôn tiếp đón các Tỳ kheo này, sau đó ta mới vào hầu", và Tôn giả đợi ngoài cửa.

Phật đón tiếp các Tỳ kheo, thuyết pháp một cách hoan hỷ cho các vị. Sau đó, tất cả chứng quả A la hán. Các vị từ giã Phật, bay lên hư không.

Các Tỳ kheo đi rồi, A Nan đến chỗ Phật, hỏi:

- Bạch Thế Tôn, có ba mươi Tỳ kheo đến đây, họ ở đâu?

- Ðã đi.

- Bạch Thế Tôn, họ đi đường nào?

- Họ bay qua hư không.

- Bạch Thế Tôn, như vậy họ đã thoát khỏi sinh tử?

- Ðúng thế! Này A Nan! Sau khi nghe Ta nói pháp, họ đã chứng A la hán.

Lúc ấy, có một vài con thiên nga bay liệng trên không. Ðức Phật nói:

- Này A Nan! Ai phát triển đầy đủ thần túc, người ấy bay lượn như thiên nga.

Ngài nói kệ:

(175) Như chim thiên nga bay,

Thần thông liệng giữa trời,

Chiến thắng ma, ma quân,

Kẻ trí thoát đời này.

9. Chiến Già Vu Khống Phật.

Ai vi phạm một pháp...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Chiến Già Ma Na (Cincà Mànavikà).

Sau khi Phật thành đạo, vô số chư thiên và loài người quy y theo đấng Thập Lực, cõi trời, cõi người tăng trưởng. Ðức hạnh Ngài lan xa, danh dự và lợi dưỡng càng đổ dồn về Ngài. Về phía các ngoại đạo, họ bị mất dần danh dự, lợi dưỡng, như con đom đóm mất ánh sáng dưới ánh mặt trời. Họ tập trung trên đường, kêu gọi:

- Chỉ có Cồ Đàm là Phật thôi sao? Chúng tôi cũng là Phật. Chỉ có cúng dường ông ấy mới đem lại nhiều phước báo thôi sao? Cúng dường chúng tôi cũng đem lại nhiều phước báo vậy. Nên cúng dường chúng tôi nhiều phẩm vật như thế. Nên cúng dường chúng tôi, nên xưng tán chúng tôi.

Nhưng mặc tình họ kêu gọi, cũng chẳng được danh dự và lợi dưỡng.

Họ bèn bí mật nhóm họp và bàn định "Chúng ta tìm cách bêu xấu Cồ Ðàm trước mọi người, để chấm dứt sự cúng dường, tôn vinh y.”

Lúc ấy, tại Xá Vệ có một du sĩ ni tên Chiến Già. Nàng rất đẹp, dễ thương, như một tiên nương, toàn thân sáng chói. Một người trong bọn ngoại đạo, bèn đưa kế hoạch "Với Chiến già, chúng ta có thể bêu xấu Sa môn Cồ- Ðàm, và chấm dứt mọi sự cúng dường cung kính đối với ông ấy.”

"Kế hoạch ấy được lắm", cả bọn tán đồng.

Chiến Già đi vào tu viện ngoại đạo, chào hỏi và đứng chờ, nhưng các Thầy không nói gì với cô. Cô hỏi:

- Các Thầy thấy tôi có lỗi gì?

Cô hỏi ba lần, và lặp lại:

- Các Tôn Trưởng, tôi chỉ hỏi một câu. Thưa các Tôn trưởng, tôi có lỗi gì? Sao các vị không nói với tôi?

Các ngoại đạo trả lời:

- Này chị, chị có biết Sa môn Cồ- Ðàm? Người đã làm tổn hại chúng ta, đoạt mất danh dự và lợi dưỡng của chúng ta?

- Không, thưa các Tôn trưởng, tôi không biết ông ấy. Nhưng tôi có thể giúp được gì trong việc này?

- Nếu chị muốn chúng ta thắng lợi, hãy tìm cách bêu xấu Sa môn Cồ- Ðàm, và làm chấm dứt danh dự, lợi dưỡng của ông ấy.

- Ðược thôi, tôi sẽ làm mọi cách có thể được, đừng lo gì về việc này.

Chiến Già nói xong bèn khởi sự. Cô vận dụng mọi khéo léo của một người đàn bà để đạt mục đích. Khi dân chúng thành Xá Vệ nghe pháp ở Kỳ Viên trở về, cô mặc một chiếc áo choàng màu cánh gián, mang hương hoa đi về phía Tinh xá Kỳ Viên. Một người hỏi:

- Cô đi đâu vào giờ này?

Chiến Già đáp:

- Tôi đi đâu thì có can dự gì đến các người.

Cô trú đêm tại một tu viện ngoại đạo gần Tinh xá, và sáng sớm, khi mọi người chuẩn bị đi đến Tinh xá thăm Phật buổi sáng, cô sẽ trở lui ngược chiều, vào thành phố. Mọi người hỏi:

- Ban đêm cô ở đâu?

- Tôi ở đâu thì có can dự gì đến các người?

Khoảng một tháng rưỡi, khi có ai hỏi, cô đều đáp:

- Ban đêm tôi ở trong hương thất Cồ Ðàm, chỉ một mình.

Bằng cách ấy, cô gái khêu gợi sự nghi ngờ trong lòng những người dễ tin, và họ bàn tán với nhau "Ðiều đó đúng hay không?" Khoảng ba bốn tháng, cô thắt ngay lưng một sợi dây nịt, tạo cảm tưởng rằng mình đang mang thai, cô mặc một chiếc áo đỏ, đi đâu cũng nói "Tôi sắp có con với Sa môn Cồ- Ðàm.” Bằng cách ấy, cô lừa những kẻ ngu.

Tám, chín tháng trôi qua, cô cột một cái dĩa gỗ trước bụng, mặc áo choàng phủ lên, làm cả người có vẻ mập mạp xồ xề bằng cách lấy xương đập lên tay, chân, lưng, và ra vẻ mệt mỏi. Chiều nọ, cô đến Pháp đường đứng trước đức Như Lai. Ở đấy trong vầng hào quang chói ngời, Ngài đang thuyết pháp. Chiến Già đứng đó, mở miệng chửi rủa Thế Tôn.

- Này Sa môn vĩ đại, quanh pháp tòa đám đông tụ tập nghe ông thuyết pháp cũng thật là vĩ đại, âm thanh ngọt ngào, miệng lưỡi ông mềm dẻo. Tuy nhiên, ông chính là người làm tôi mang thai và ngày sanh sắp đến. Ông không cố gắng tìm một chỗ cho tôi nằm, không cung cấp mật, dầu và những thứ tôi cần. Ông không làm tròn bổn phận, cũng không nói với những người hằng cúng dường ông như vua Ba Tư Nặc, hay Cấp Cô Ðộc hay bà Tỳ Xá Khư nữ thí chủ vĩ đại của ông, rằng "Hãy làm cho thiếu phụ này những gì cần cho cô ấy.” Ông biết rất rõ cách hưởng dục lạc, nhưng không biết cách chăm sóc đứa con sắp sanh.

Cô chửi mắng Thế Tôn giữa hội chúng như một người đàn bà cầm phẩn trên tay tìm cách bôi bẩn mặt trăng. Ðức Thế Tôn ngừng giảng dạy và rống lên như sư tử, nói:

- Này chị, những gì chị nói đúng hay sai, chỉ có tôi và chị biết thôi.

- Ðúng vậy Sa môn cao cả kia, nhưng ai có thể quyết định giữa điều đúng và sai về chuyện mà chỉ có tôi và ông biết?

Lúc ấy, tòa ngồi của Ðế Thích nóng lên, Ðế Thích quán sát nguyên do, được biết Chiến Già vu khống Như Lai. Ðế Thích nghĩ "Ta sẽ làm sáng tỏ vấn đề", và bay xuống với bốn Thiền thần. Các thiên thần hóa thành chuột nhắt cắn sợi dây cột cái dĩa trước bụng Chiến Già, và một cơn gió thổi tung tấm áo choàng, cái dĩa rơi xuống, tiện đứt mấy ngón chân của cô.

Ðám đông la ó:

- Tên phù thủy kia chửi mắng Thế Tôn.

Họ đánh đập nàng, ném đá, cầm gậy đuổi ra khỏi Kỳ Viên. Khi cô đi khỏi tầm nhìn của Thế Tôn, đất nứt ra một hố sâu ngay dưới chân cô, và lửa bốc lên từ Địa ngục A tỳ, cuốn cô như tấm vải đỏ úp chụp lấy thân, và cô rơi trong Địa ngục A tỳ. Từ đó, tiếng tốt và lợi lộc của ngoại đạo giảm đi, còn phẩm vật dâng đến đấng Thập Lực càng lúc càng nhiều.

Ngày hôm sau, các Thầy Tỳ kheo bàn tán ở Pháp đường.

- Chư hiền! Chiến Già vu khống đấng Như Lai, Ứng Cúng, đấng Thế Tôn, nên đã bị hủy diệt.

Ðức Phật đi đến và hỏi:

- Các Tỳ kheo! Các ông tụ họp ở đây bàn tán chuyện gì?

Các Thầy thuật lại, Phật dạy:

- Ðây không phải là lần đầu Chiến Già vu khống Ta và bị hủy diệt, trong quá khứ cô ấy cũng đã làm như vậy.

Ngài nói tiếp:

- Một vị vua không thể phạt ai khi chưa nhận thức vấn đề cho rõ, khi chưa nghiên cứu cẩn thận mọi mặt dù lớn hay nhỏ. Ngài kể lại tiền thân Ðại Liên Hoa (Mahà Paduma).

Chuyện quá khứ

A. Hoàng tử Ðức Hạnh Và Thiếu Phụ Dâm Ðãng.

Thuở xưa, Chiến Già là kế mẫu của Bồ tát, Hoàng tử Ðại Liên Hoa. Bà muốn Hoàng tử gian dâm với mình, nhưng bị từ chối. Sau đó bà tự đánh đập mình, làm ra vẻ đau đớn, đến nói với vua cha:

- Hoàng tử hành hạ tôi ra thế này vì tôi không chịu gian dâm với y.

Vua nghe chuyện, hết sức giận dữ, lập tức đày Hoàng tử xuống vực chết. Thiên thần đục xuyên qua núi, mang Hoàng tử lên và báo cáo với long vương. Long vương mang chàng về long cung, và nhường cho một nửa vương quốc rồng. Ở đấy một năm, Hoàng tử muốn xuất gia tu đạo, người lên núi Hy Mã, sống đời Tu sĩ, và phát triển đại định thần thông.

Một người gác rừng thấy Hoàng tử về thuật lại với nhà vua. Nhà vua đến nơi, chào hỏi và sau khi nghe kể đã đề nghị nhường ngôi cho chàng. Hoàng tử từ chối, khuyên nhà vua rằng:

- Về phần tôi, tôi không có tham vọng trị vì. Nhưng về phần đại vương, nên giữ mười điều lành, tránh xa đường xấu ác, và cai trị quốc gia mình trung chánh.

Nhà vua đứng dậy, rơi lệ và trở về Hoàng cung. Vua hỏi đại thần:

- Ai đã ly gián ta với người trung trực như thế?

- Tâu đại vương! Hoàng hậu đã gây nên chuyện này.

Nhà vua bèn bắt Hoàng hậu, treo cổ xuống vực chết, và cai trị vương quốc mình một cách trung chánh. Thuở đó, Hoàng tử Ðại Liên Hoa chính là Bồ tát, và kế mẫu của chàng chính là Chiến Già.

Nói xong chuyện tiền thân Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo! Những người đã phá hủy một giới, những người ấy sẽ nói dối, những người củng cố điều sai lầm, người không tin vào đời sau thì không từ bỏ điều ác nào mà không làm.

Ngài nói kệ:

(176) Ai phạm pháp Nhất thừa,

Ai nói lời vọng ngữ,

Ai bác bỏ đời sau,

Không ác nào không làm.

10. Phẩm Vật Không Thể Nào So Sánh

Keo kiết không sanh thiên...

Câu chuyện này xảy ra, khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến phẩm vật tối thắng.

Một hôm, đức Thế Tôn cùng với năm trăm Tỳ kheo đi khất thực, trở về Kỳ Viên. Vua Ba Tư Nặc đi đến Tinh xá thỉnh Phật thọ trai. Hôm sau, nhà vua ra lệnh sắm sửa rất nhiều phẩm vật để dâng cúng chư Tăng, và bảo dân cư trong thành:

- Hãy đến nhìn phẩm vật do ta sắm sửa.

Dân chúng đến Hoàng cung, nhìn các phẩm vật, rồi ngày hôm sau nữa, họ thỉnh Phật và chúng Tăng, họ cũng chuẩn bị các thứ phẩm vật, tâu lên nhà vua.

- Ðại vương hãy đến nhìn phẩm vật của các thần dân cúng dường.

Khi nhà vua trông thấy các thứ cúng dường của dân chúng, đã tự nhủ: "Các thị dân này đã cúng dường nhiều vô số phẩm vật hơn ta, ta sẽ cúng dường lần thứ hai.” Lập tức, nhà vua sắm sửa phẩm vật vào ngày tiếp theo, và khi dân cư trong thành được thấy các thứ cúng dường ấy, họ cũng trở vể chuẩn bị cúng dường vào ngày kế đó.

Giữa nhà vua và các thị dân thành Xá Vệ không ai hơn ai. Kết quả, sau sáu lần cúng dường, các thị dân gia tăng phẩm vật lên gấp trăm gấp ngàn lần, chuẩn bị đầy đủ đến nổi không ai có thể phê bình là còn thiếu một thứ gì.

Khi nhà vua thấy họ tổ chức quy mô đầy đủ như vậy, Ngài nghĩ thầm "Nếu ta không sắm sửa nhiều hơn họ, ta còn sống để làm gì?" Và nhà vua nằm dài, suy nghĩ mọi phương chước. Hoàng hậu Mạt Lợi (Mallikà) đi đến, thấy nhà vua nằm trầm tư bèn hỏi:

- Ðại vương! Vì sao lại nằm như vậy? Chuyện gì khiến Ðại vương có vẻ lo buồn?

- Vậy hậu không biết gì sao?

- Thần thiếp không biết.

Nhà vua thuật lại mọi chuyện ganh đua cúng dường giữa mình và thần dân. Hoàng hậu nói:

- Xin bệ hạ đừng phiền não, bệ hạ có bao giờ nghe hoặc thấy một chúa tể vương quốc lại bị thua thiệt về vật chất? Thiếp sẽ sắp đặt việc này.

Hoàng hậu Mạt Lợi nói vậy vì bà muốn tạo một phẩm vật tối thắng. Bà tâu vua:

- Ðại vương hãy ra lệnh xây một lâu đài làm bằng gỗ hạng nhất của cây Sala hình vòng cung để cho năm trăm Sa môn ngồi, còn những người tùy tùng các Sa môn thì ngồi ngoài vòng cung ấy. Làm năm trăm lọng trắng cho năm trăm con voi mang lọng đứng che các Sa môn. Giữa lâu đài đặt tám hay mười cái bàn bằng hồng ngọc. Giữa hai Sa môn cho một số thiếu nữ dòng Sát lợi ngồi rưới hương thơm, và một thiếu nữ đứng quạt cho hai vị ấy. Một số thiếu nữ dòng Sát lợi mang hương bột rắc vào bồn vàng. Một số mang hoa sen xanh nhúng vào bồn hương và dâng lên các Sa môn. Ðấy, dân chúng làm gì có con gái dòng Sát lợi, cũng chẳng có lọng trắng, voi và họ sẽ thua Bệ hạ. Ðó là điều Bệ hạ nên làm.

Nhà vua tán thành:

- Hay quá! Chương trình của hậu tuyệt diệu.

Và nhà vua ra lệnh làm theo sự sắp đặt của Hoàng hậu. Tuy nhiên, thiếu một con voi cho một vị Sa môn. Nhà vua bảo Hoàng hậu Mạt Lợi:

- Ái khanh! Chỉ còn thiếu một con voi. Bây giờ làm sao?

- Bệ hạ bảo sao, không đủ năm trăm con voi ư?

- Có đấy, nhưng lại còn lại mấy con voi hung dữ, khi chúng thấy các Sa môn, chúng sẽ nổi cơn phẩn nộ như cuồng phong.

- Thần thiếp biết chỗ đứng cho một con voi hung hăng, có thể mang lọng trên lưng.

- Ðặt nó ở đâu?

- Bên cạnh Tôn giả Angulimàla.

Nhà vua y lời. Chú voi ta cụp đuôi xuống tận chân, xếp tai, nhắm mắt và đứng yên. Dân chúng nhìn chú voi với vẻ thán phục, xầm xì với nhau.

- Con voi dữ kia mới ngoan làm sao!

Nhà vua lo hầu tiếp Tăng đoàn do đức Thế Tôn chủ tọa. Sau đó vua quỳ lạy và thưa:

- Bạch Thế Tôn! Những phẩm vật trong bữa ngọ trai này, đáng giá hay không đáng giá, con xin dâng tất cả cho Thế Tôn.

Tổn phí cho buổi cúng dường khoảng mười bốn triệu châu báu chỉ trong một ngày. Bốn vật vô giá cúng dường cho đức Thế Tôn tùy nghi sử dụng: một lọng trắng, một giường nằm, một ghế ngồi và một ghế đỡ chân. Sau đó, không có phẩm vật nào dâng cúng đức Phật có thể so sánh với phẩm vật của nhà vua, nên được gọi là phẩm vật tối thắng. Ðiều này đã từng xảy ra cho các đức Phật, và luôn luôn do các Hoàng hậu sắp xếp.

Khi ấy, trong triều có hai đại thần Kàla và Junha. Kàla nghĩ thầm "Của cải nhà vua bị mất mát nhiều làm sao! Chỉ trong một ngày mà tốn hết mười bốn triệu châu báu. Và các lão Sa môn kia, sau khi ăn xong, sẽ đi về nằm ngủ khì! Nhà vua phung phí tài sản!" Còn Junha nghĩ "Ôi! Nhà vua dâng cúng phẩm vật tuyệt vời! Chỉ có vua mới làm như vậy! Hơn nữa, chẳng có người nào ngoài nhà vua làm cho mọi loài hưởng phước nhờ sự cúng dường. Ta cảm tạ những phẩm vật mà nhà vua đã dâng cúng.”

Khi đức Phật thọ trai xong, nhà vua cầm lấy bát của Ngài đợi Ngài thuyết pháp. Ðức Phật nghĩ thầm: "Nhà vua đã cúng dường phẩm vật lớn lao, cúng dường như thác lũ. Dân chúng có tín kính điều này, hay không tin?" Và nhận biết được ý nghĩ của hai vị đại thần, Ngài nghĩ tiếp: "Nếu Ta tán thán công đức của nhà vua cho tương xứng phẩm vật, thì đầu của Kàla sẽ vỡ làm bảy phần, Ngài chỉ nói một bài pháp đơn giản gồm bốn câu tán dương nhà vua, người đang đứng trước Ngài sau khi cúng dường tối thắng. Nói xong, Ngài đứng lên trở về Tinh xá.

Các Tỳ kheo hỏi Angulimàla:

- Tôn giả, Ngài có sợ khi thấy con voi mang lọng trắng dữ dằn đứng gần Ngài?

- Không, chư hiền, tôi không sợ.

Các Tỳ kheo bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Angulimàla nói dối.

Phật xác nhận:

- Này các Tỳ kheo! Angulimàla không hề sợ hãi, vì những Tỳ kheo như người con của Ta là cao quý nhất trong số những người cao quý đã thoát khỏi tham dục; và không hề sợ hãi.

Ngài dạy:

(422) Bậc cao quý, thù thắng,

Bậc anh hùng, đại sĩ,

Bậc chiến thắng, vô nhiễm,

Bậc tẩy sạch, giác ngộ,

Ta gọi Bà la môn.

Nhà vua thất vọng cay đắng, nghĩ thầm "Sau khi ta cúng dường vô số phẩm vật, và đứng đấy hầu đức Thế Tôn, thay vì nói lời tán thán tương xứng với phẩm vật ấy, Ngài chỉ nói một bài kệ ngắn và đi về. Có thể là ta đã cúng dường những phẩm vật không thích đáng cho đức Thế Tôn, có thể là ta đã cũng những vật không thích hợp thay vì những vật thích hợp. Có thể là Thế Tôn giận ta, bởi Ngài thường có lệ hồi hướng công đức cân xứng với phẩm vật.” Nghĩ như thế, vua Ba Tư Nặc đi đến Tinh xá, đảnh lễ Phật và bạch:

- Bạch Thế Tôn, con có lỗi lầm khi dâng cúng phẩm vật không? Có phải thay vì cúng những vật thích hợp con lại cúng những vật không thích hợp?

- Vì sao đại vương hỏi như thế?

- Thế Tôn không hồi hướng công đức cân xứng với phẩm vật con đã dâng cúng.

- Này đại vương, phẩm vật cúng dường rất thích hợp. Phẩm vật tối thắng mà đại vương cúng dường chỉ có một lần cho một đức Phật, phẩm vật như thế khó có lần thứ hai.

- Nhưng, bạch Thế Tôn, vì sao Ngài không nói công đức tương xứng với phẩm vật ấy?

- Vì có đại thần không thanh tịnh.

- Bạch Thế Tôn, trong các quan ai là người có lỗi.

Ðức Phật nói cho vua biết hai quan điểm trái ngược của hai đại thần và an ủi vua rằng, vì thương hại Kàla nên Ngài không tán dương công đức.

Nhà vua hỏi Kàla:

- Phải chăng khanh có ý nghĩ như thế?

- Tâu vâng.

- Ta không hề lấy những gì thuộc về khanh, ta chỉ cho những gì của ta, với sự hỗ trợ của Hoàng hậu và Thái tử. Ta có sai quấy gì với khanh không? Hãy đi đi! Những gì ta cúng ta cứ cúng, còn phần khanh bước ra khỏi cung điện của ta.

Sau khi đuổi Kàla ra khỏi cung, nhà vua cho gọi Junha và hỏi:

- Phải khanh nghĩ đúng như thế không?

- Thưa vâng.

- Khanh nghĩ đúng, ta rất hài lòng. Ta cho phép khanh dự vào hoàng tộc và cúng dường bảy ngày như ta.

Nhà vua cho Junha ở trong cung bảy hôm, và đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, tên ngu si ấy đã cư xử tệ hại. Thấy con cúng dường, y đã phản ứng ngược lại.

- Phải đấy, đại vương, người ngu không hoan hỷ khi thấy ai bố thí, và sẽ bị trừng phạt về sau. Nhưng người trí vui thích với phẩm vật được người khác cúng dường và sẽ sanh thiên.

Ngài nói kệ:

(177) Keo kiết không sanh thiên,

Kẻ ngu ghét bố thí.

Người trí thích bố thí.

Ðời sau được hưởng lạc.

Cuối bài pháp, Junha chứng quả Dự lưu. Hội chúng cũng được lợi ích. Junha sau khi chứng quả đã cúng dường suốt bảy ngày như một vị Hoàng đế.

11. Ðức Hạnh Ðược Trả Giá

Hơn thống lãnh cõi đất...

Câu chuyện xảy ra khi đức Phật đang ở Kỳ Viên, liên hệ đến Kàla, con trai Cấp Cô Ðộc.

Kàla là con trai của Trưởng giả Cấp Cô Ðộc, một người cha nổi tiếng và đầy tin kính Phật pháp. Mặc dù như thế chàng không hề gặp Phật hoặc ra chào khi Phật ghé nhà, hoặc nghe pháp, hoặc phụng sự chúng Tăng. Khi cha chàng khuyên:

- Này con đừng làm thế.

Chàng cũng không để ý đến lời cha. Trưởng giả suy nghĩ: "Nếu con ta có thái độ như vậy và hành động theo ý đó, nói sẽ rơi vào Địa ngục A tỳ. Thật không có gì tốt đẹp khi chính mắt ta thấy nó bị đọa. Ðược thôi, không có ai trên trái đất này không bị mua chuộc bởi tài vật, ta sẽ dụ dỗ nó.” Và ông bảo Kàla:

- Này con, nếu con giữ giới trong ngày trai, đi đến Tinh xá nghe pháp, khi về cha sẽ cho con một trăm đồng.

- Thật cha sẽ cho con chứ?

- Ðúng vậy.

Sau khi cha chàng lập lại lời hứa ba lần, Kàla tuân giữ ngày trai giới và đi đến Tinh xá. Nhưng chàng không chú tâm nghe pháp, chàng tìm nơi dễ chịu, nằm ngủ một giấc và trở về nhà sớm. Ông Trưởng giả bảo gia nhân:

- Cậu đã giữ giới trọn ngày trai, hãy đem thức ăn ngon đến cho cậu nhanh lên.

Nhưng Kàla nói:

- Con chưa nhận tiền là con không ăn.

Chàng cương quyết từ chối mọi thứ đem đến. Cha chàng không thể ép con ăn, bèn ra lệnh mang tiền đến, chàng cầm tiền trên tay, rồi sau đó mới ăn uống.

Ngày hôm sau, ông Trưởng giả bảo con:

- Này con, cha sẽ cho con một ngàn đồng, nếu con đi đến chỗ Thế Tôn, học thuộc một bài kệ ngắn, và trở về nói lại cho cha nghe.

Lập tức Kàla đi đến Tinh xá, đứng trước Phật. Chẳng bao lâu chàng thuộc một câu kệ và muốn ra đi. Ðức Phật khiến chàng không hiểu nghĩa câu kệ ấy, Kàla tự nhủ: "Ta sẽ học thuộc câu sau.” Vì vậy, chàng ngồi nán lại và tiếp tục nghe pháp. (Ai nghe pháp với tất cả chú tâm sẽ chứng Sơ quả và các quả còn lại). Kàla nghe pháp với tất cả chú tâm, nhưng đức Phật cũng khiến chàng không hiểu nghĩa, chàng nghĩ ta sẽ hiểu rõ hơn câu kệ tiếp theo. Chàng cứ nán lại và nghe, rồi chứng Sơ quả.

Ngày hôm sau, chàng tự động đi theo chư Tăng, có đức Phật dẫn đầu, vào thành Xá Vệ. Trưởng giả thấy con trai đi sau chúng Tăng, tự nhủ "Hôm nay, thái độ của con ta làm ta hài lòng.” Còn Kàla thì nghĩ thầm "Mong rằng cha sẽ không đưa tiền cho ta ngay hôm nay, trước sự hiện diện của Phật. Mong rằng cha ta giữ kín việc vì có tiền ta mới giữ giới ngày trai" (nhưng đức Phật đã biết trước điều này).

Trưởng giả dâng cơm cho chư Tăng, có đức Phật thọ trai và cũng cho con trai những thức ăn ấy. Kàla ngồi im, uống súp, ăn thức ăn cứng và cơm. Khi Phật thọ trai xong, Trưởng giả đặt túi tiền một ngàn đồng trước mặt con và nói:

- Này con, chắc con nhớ cha đã yêu cầu con giữ giới đúng ngày trai và đi nghe pháp, rồi sẽ cho con một ngàn đồng. Ðây là tiền của con.

Kàla thấy cha chàng đưa tiền ngay trước mặt đức Phật, rất ngượng và nói:

- Con không cần tiền.

- Ậy, cầm tiền đi con.

Chàng cứ từ chối, không động đến túi tiền. Trưởng giả đảnh lễ Phật và bạch:

- Bạch Thế Tôn, thái độ của con trai con hôm nay làm con rất mừng.

- Vì sao?

- Ngày hôm kia, con bảo hắn đi đến Tinh xá, hứa cho một trăm đồng. Hôm qua hắn về nhà, không chịu ăn cơm khi chưa có tiền. Nhưng hôm nay, khi con cho tiền nó cứ từ chối không nhận.

- Ðúng vậy, này Trưởng giả. Hôm nay con trai ông đã chứng Sơ quả, y đã đạt điều vượt hơn việc được làm Chuyển Luân Vương hay sanh thiên, hay làm Phạm thiên.

Ngài nói kệ:

(178) Hơn thống lãnh cõi đất,

Hơn được sanh cõi trời,

Hơn chủ tể vũ trụ,

Quả Dự lưu tối thắng.


Phẩm XIV: Phật

1. Ðấng Toàn Giác

Ai chiến thắng...

Ðức Phật dạy câu này khi Ngài ngồi dưới cội Bồ đề, có liên quan đến các cô gái con của Ma vương, và được lặp lại ở nước Kuru, với Bà la môn Màgandiyà.

A. Phật Không Nhận Màgandiyà

Chuyện kể rằng có một Bà la môn tên Màgandiyà, ở nước Kuru (Câu Lâu), có một cô con gái cũng tên là Màgandiyà (Mạn La Hoa) đẹp tuyệt trần. Rất nhiều nhà giàu có và thế lực thuộc dòng dõi Bà la môn và Sát đế lợi, muốn cưới cô làm vợ nhưng ông từ chối:

- Các người không xứng đáng với con ta.

Ngày nọ, khi đức Thế Tôn quan sát căn cơ chúng sanh vào buổi sáng sớm, Ngài thấy ông Bà la môn cùng vợ ông đều có thể đắc Tam quả (A na hàm). Bấy giờ, ông Bà la môn nọ thường canh lửa ở ngoài làng. Thế Tôn đắp y mang bát đi đến đó. Từ xa, nhận thấy vẽ sáng rực của đức Phật, ông thầm nghĩ: "Trên đời này không ai sánh nổi người này, rất xứng với con gái ta, ta sẽ gả cho anh ta.” Ông ta nói với Phật:

- Này Sa môn, tôi chỉ có một đứa con gái, tôi tìm cho nó một người chồng xứng đôi nhưng chưa thấy, nên chưa gả cho ai. Ông xứng đáng với nó, tôi sẽ gả nó cho ông. Hãy đứng đợi đây tôi sẽ dẫn nó đến.

Thế Tôn đứng nghe, không nói gì. Bà la môn về nhà bảo vợ:

- Bà nó ơi! Hôm nay tôi tìm được một người chồng xứng với con gái mình. Hãy gả nó cho anh ta.

Bà la môn trang điểm cho con, dắt vợ con đi đến chỗ Phật. Ðám đông hiếu kỳ kéo theo sau. Ðức Phật, thay vì đứng tại chỗ đã hẹn, đã đi sang nơi khác, cố ý để lại dấu chân (Khi đức Phật ấn chân và nói: "Hãy để người như thế, như thế... nhìn dấu chân", dấu chân chỉ hiện ở nơi ấy và không nơi nào khác)

Vợ ông Bà la môn hỏi:

- Anh ấy đâu?

- Tôi đã bảo anh ta đứng đây.

Nhìn quanh thấy dấu chân, Bà la môn chỉ cho vợ:

- Dấu chân anh ấy đây.

Người vợ đã quen với việc nhận biết dấu hiệu, lập tức bảo chồng:

- Ông à, đây không phải là dấu chân của người theo đuổi dục lạc.

- Bà này cứ quan trọng vấn đề. Khi tôi bảo anh ta là tôi sẽ gả con cho, anh ta nhận lời mà.

- Ông muốn nói gì thì nói, nhưng đây là dấu chân người thoát khỏi tham dục.

Bà nói kệ:

Dấu chân người tham dục không rõ.

Dấu chân người ác không hằn sâu.

Dấu chân người si mê thì dao động.

Ðây là dấu chân người thoát khỏi lưới đam mê.

Ông Bà la môn gắt:

- Thôi đi, bà đừng lảm nhảm nữa, im mồm mà đi theo tôi.

Ði tới một chút, ông thấy đức Phật, bèn chỉ cho vợ:

- Anh ấy đây rồi.

Ði đến gần, ông nói:

- Sa môn, tôi sẽ gả con gái cho anh.

Thế Tôn thay vì nói: "Ta không cần đến con gái ông.” Ngài nói:

- Này Bà la môn! Tôi có vài điều muốn nói với ông, hãy nghe tôi.

- Nói đi, tôi sẽ nghe.

Thế Tôn kể cho người Bà la môn nghe câu chuyện xảy ra trong đời Ngài, lúc ẩn tu. Sau đây là phần tóm lược câu chuyện.

1B. Phật Cự Tuyệt Các Cô Gái Con Ma vương

Thái tử, đã từ bỏ ngai vàng, leo lên lưng ngựa Kiền Trắc, có Xa Nặc tùy tùng, tiến về trước trên đường ẩn tu. Khi ra khỏi cổng thành, Ma vương nói:

- Tất Đạt Đa! Hãy trở lại, trong bảy hôm nữa Ngài sẽ làm Chuyển Luân Vương.

- Ta cũng biết vậy, Ma vương, nhưng Ta không thích điều đó.

- Vậy vì mục đích gì Ngài đi vào rừng ẩn cư?

- Ta muốn tìm giác ngộ.

- Ðược rồi, kể từ hôm nay, nếu Ngài khởi ý nghĩ tham dục, xấu ác, ta sẽ hành động.

Từ đó, Ma vương theo dõi Thái tử trong bảy năm, chờ cơ hội. Trong sáu năm, Thái tử khổ hạnh, rồi với sự cố gắng, Ngài đạt giác ngộ dưới cội Bồ đề, Ngài ngồi tại đấy trải qua niềm vui của sự giải thoát. Khi đó, Ma vương ngồi trên cõi trời, nhìn xuống với vẻ đau khổ, nghĩ thầm: "Ta theo dõi Ngài suốt thời gian, tìm cơ hội, nhưng chẳng có dịp, giờ đây Ngài đã thoát khỏi quyền lực của ta!”

Ba người con gái của Ma vương là Tham ái, Sân hận, Dâm đãng hỏi nhau:

- Cha chúng ta ở đâu?

Nhìn khắp nơi, họ thấy Ma vương đang ngồi đấy, họ đến gần và hỏi:

- Thưa cha, vì sao cha có vẻ âu sầu và thất vọng đến thế?

Ma vương thuật câu chuyện, các ma nữ nói:

- Cha đừng vội thất vọng, chúng con sẽ chế ngự và sẽ dẫn y về đây.

- Các con ơi, không ai có thể chế ngự Ngài ấy đâu.

- Chúng con là nữ nhi, chúng con sẽ làm y mù quáng bởi nhục dục. Sẽ dắt y về cha đừng chán nản.

Họ đến gần Phật, nói:

- Sa môn, chúng em muốn làm kẻ nô lệ cho người.

Thế Tôn chẳng màng đến lời họ cũng chẳng buồn để mắt tới họ.

Các ma nữ bàn tán: "Ðàn ông họ thích nhiều hạng. Có kẻ thích thiếu nữ, người khác thích thiếu phụ xuân xanh, người thích thiếu phụ trung niên, người ưa đàn bà già. Chúng ta sẽ mê hoặc y bằng mọi hình dáng.” Và với thần thông mỗi ma nữ biến hóa nữ nhân đủ mọi lứa tuổi. Hoặc là thiếu nữ hoặc thiếu phụ chưa sanh con, đã sanh con, một con, hai con, thiếu phụ trung niên, lão bà, họ lui tới gặp Phật sáu lần, và nói:

- Sa môn, chúng em muốn làm nô lệ Ngài.

Ðức Thế Tôn cũng chẳng để ý đến, thái độ tự tại, làm như các thứ tạo nên thân Ngài thảy đều tan hoại. Nhưng sau đó chúng chẳng chịu rút lui, Thế Tôn bảo:

- Hãy đi! Các ngươi thấy gì mà gắng sức mê hoặc Ta? Hành động như vậy chỉ có kết quả với ai chưa giải thoát tham dục và những đam mê thấp hèn. Như Lai đã thoát khỏi tham dục. Các người muốn chế ngự Ta được sao?

Ngài nói kệ:

(179) Vị chiến thắng không bại,

Vị bước đi trên đời,

Không dấu tích chiến thắng,

Phật giới rộng mênh mông,

Ai dùng chân theo dõi,

Bậc không để dấu tích?

(180) Ai giải tỏa lưới tham,

Ái phược hết dắt dẫn,

Phật giới rộng mênh mông,

Ai dùng chân theo dõi,

Bậc không để dấu tích?

Nói kệ xong, nhiều thiên thần được pháp nhãn, ba cô ma nữ biến mất.

Ðức Phật bảo Bà la môn:

- Màgandiyà, ngày xưa ta đã thấy ba ma nữ ấy, thân thể như vàng ròng tinh khiết không có đờm dãi và những thứ bất tịnh khác của thân thể, Ta cũng không hề khởi tham đắm. Còn thân ái nữ ông, đầy đủ ba mươi hai thứ bất tịnh, một cái bình nhơ uế được sơn phết. Dù cho chân Ta lấm bùn, cô gái này nằm phục ở ngưỡng cửa Ta, Ta chẳng muốn chạm đến cô, dù là chỉ bằng gót chân.

Ngài nói kệ:

Ðã từng thấy Tham ái, Sân hận, Dâm dục,

Ta không hề khởi tham đắm.

Thân thể xấu xa như thế này,

Ta không muốn chạm đến dù gót chân.

2. Thần Thông Song Hành

Người trí chuyên Thiền định...

Ðức Phật dạy câu này khi Ngài ở tại cổng thành Sankassa, liên hệ đến nhiều thiên, nhơn. Nhưng câu chuyện bắt đầu từ Vương Xá.

A. Phật Quở Tân Ðầu Lư

Có một lần, một nhà Trưởng giả thành Vương Xá đến sông Hằng để tắm. Ðể khỏi mất đồ trang sức và y phục, ông đặt tất cả vào giỏ mây. Lúc ấy có một cây bạch đàn đỏ mọc bên bờ sông Hằng, rễ bị sóng nhồi bật gốc lên, đổ xuống sông Hằng bị những tảng đá dưới sông từ từ đánh gãy vụn từng mảnh. Một mảng gỗ bị nước mài nhẵn, trôi lềnh bềnh gần giỏ mây và bị mắc vào đó. Trưởng giả hỏi:

- Cái gì thế?

- Thưa một khúc cây, người hầu trả lời.

Ông bảo đem đến xem, và tự hỏi: "Gỗ này là loại gỗ gì?" Ông lấy búa tách ra một mảnh và thấy rằng đấy là loại gỗ bạch đàn đỏ, loại màu cánh gián. Ông Trưởng giả chẳng tin một Tôn giáo nào, nhưng rất công bình. Cầm khúc gỗ đỏ đẹp ông nghĩ: "Ở nhà ta có cả khối loại gỗ này, ta sẽ làm gì với khúc gỗ này.” Rồi ông tự nghĩ: "Có nhiều người tự xưng là A la hán, họ nói: Chúng tôi là A la hán. Nhưng ta chẳng biết một vị A la hán nào. Ta sẽ bảo tiện một cái bát bằng gỗ này, lấy dây treo lên một giàn tre cao khoảng sáu mươi cubits (khoảng hai trăm thước). Và thông báo: "Nếu ai là A la hán, hãy bay lên và lấy chiếc bát. Người nào lấy được, ta và vợ con ta sẽ làm đệ tử.” Nghĩ như thế, ông trở về, ra lệnh làm chiếc bát gỗ lấy dây treo lên một giàn tre và tuyên bố:

- Nếu bất cứ ai trên thế gian này là A la hán, hãy bay lên và lấy cái bát này!

Các Lục sư ngoại đạo nói với ông:

- Cái bát này chính là vật dành cho chúng ta. Hãy trao nó cho chúng ta.

Nhưng Trưởng giả chỉ nói:

- Bay lên và lấy đi.

Vào ngày thứ sáu, Ni Kiền Tử, nhà khổ hạnh lõa thể bảo đệ tử đi đến nói với ông Trưởng giả: "Cái bát này chính là dành cho Thầy ta, đừng đòi hỏi chúng ta bay lên không trung chỉ vì một vật nhỏ mọn. Hãy đưa bát đây.” Họ đến nói với ông, và về trả lời:

- Ông ta nói cái bát chỉ thuộc về người nào có thể bay lên và lấy nó.

Ni Kiền Tử quyết định đi. Ông ra lệnh cho đệ tử:

- Ta sẽ nhấc một tay và một chân, và cử động như sắp bay lên. Lúc đó, các ngươi hãy nói: "Thưa Tôn sư, Thầy làm gì thế? Xin Thầy đừng phô bày quyền năng ẩn mật của một vị A la hán trước đám đông, chỉ vì một bát gỗ.” Nói như thế, các người kéo tay chân ta xuống, và đẩy ta nằm dưới đất.

Xong, Ni Kiền Tử đến nói với Trưởng giả:

- Này Ðại Trưởng giả, cái bát này rốt cuộc không phải là vật của ai khác. Ðừng đòi hỏi ta bay lên không trung chỉ vì một vật tầm thường như thế. Hãy đưa bát cho ta.

- Thưa Tôn ông, hãy bay lên và lấy nó, chỉ có một cách ấy thôi.

Ni Kiền Tử bảo các đồ đệ:

- Ðược rồi, đến đây, đến đây.

Khi họ đến, ông nói:

- Bây giờ, ta sẽ bay lên.

Nói thế, ông nhấc một tay và một chân lên. Lúc đó, đám đệ tử la lên:

- Tôn sư! Tôn sư! Thầy làm gì thế? Tất cả chỉ vì một cái bát gỗ hạ tiện, khốn khổ, cần gì Thầy phải phô bày quyền lực ẩn mật giữa đám đông?

Họ chạy tới, lôi tay chân ông lại và đặt nằm xuống đất. Ông bảo Trưởng giả:

- Ðại Trưởng giả, mấy đệ tử này không muốn tôi bay lên không trung, xin hãy đưa bát cho tôi.

- Ðại sư! Hãy bay lên và lấy đi.

Lục sư ngoại đạo thử cố công trong sáu ngày nhưng mặc cho họ cố gắng vẫn chẳng lấy được bát gỗ.

Ngày thứ bảy, Tôn giả Mục Kiền Liên và Tôn giả Tân Đầu Lư Phả La Đọa (Pindola Bhàradvàja) sửa soạn đi khất thực trong thành Vương Xá, các Ngài dừng ở một tảng đá bằng phẳng và quấn y.

Lúc ấy có vài người đi săn nói chuyện với nhau:

- Này bạn, sáu giáo chủ ngoại đạo thường tuyên bố mình là A la hán nhưng bảy hôm trước khi Trưởng giả thành Vương Xá treo một cái bát lên cao và nói: "Nếu ai là A la hán, hãy bay lên hư không và lấy cái bát.” Chẳng có ai trong các vị tự xưng là A la hán có thể bay lên hư không. Bây giờ, chúng ta biết chắc rằng không có A la hán trên cõi đời này.

Nghe nói thế, Tôn giả Mục Kiền Liên nói với Tôn giả Tân Đầu Lư:

- Này huynh, có nghe họ nói không? Như là họ đang thách đố Phật pháp. Bây giờ huynh có thần thông quảng đại, quyền lực siêu nhiên, hãy bay lên hư không và lấy cái bát ấy.

- Tôn huynh Mục Liên, Ngài nổi tiếng là bậc thần thông đệ nhất, Ngài hãy lấy bát, nếu Ngài không lấy, tôi cũng sẽ lấy.

- Huynh hãy đi.

Tôn giả Tân Đầu Lư nhập đại định, rồi xuất định Ngài đi quanh một tảng đá rộng ba dặm dùng đầu ngón chân nhấc bổng nó lên một cách dễ dàng như nhấc một miếng bông gòn. Ngài bay quanh thành Vương Xá bảy vòng. Thành này cũng rộng đúng ba dặm, tảng đá hiện lên bao trùm cả thành. Dân cư trong thành thấy vậy nghĩ: "Tảng đá sẽ rơi xuống đè bẹp chúng ta.” Họ run rẫy sợ hãi, họ đội nia lên đầu và trốn tứ tung. Ðến vòng bay thứ bảy, Tôn giả đẩy tảng đá ra xa và hiện thân trước dân chúng. Thấy Ngài, họ kêu lên:

- Tôn giả Tân Đầu Lư! Hãy giữ tảng đá! Ðừng để nó đè bẹp chúng tôi.

Tôn giả hất tảng đá đi, nó rơi về chỗ cũ. Rồi đáp xuống trên nóc nhà Trưởng giả, ông này phủ phục sát đất, và nói:

- Tôn giả, xin bay xuống.

Khi Tôn giả bay xuống đất, ông mời ngồi, xin phép hạ bát xuống và đặt bốn loại thức ăn ngon ngọt trong bát đem cúng dường Ngài. Tôn giả nhận bát thức ăn trở về Tinh xá. Những người dân vắng mặt khi ấy, chưa được thấy phép lạ, đã tụ tập kéo theo sau Ngài và yêu cầu:

- Tôn giả! Xin thi triển thần thông cho chúng tôi xem.

Tôn giả cũng lặp lại thần thông như thế cho họ. Rồi tiếp tục về Tinh xá.

Ðức Thế Tôn nghe tiếng reo hò hoan hô của đám đông, hỏi A Nan:

- A Nan, họ hoan nghênh ai thế?

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Tân Đầu Lư bay lên hư không và lấy cái bát bằng gỗ đỏ, dân chúng hoan nghênh Tôn giả.

Phật gọi Tôn giả đến hỏi:

- Có đúng là ông đã làm như thế?

- Bạch Thế Tôn, thật vậy.

- Này Tân Đầu Lư, vì sao ông làm như thế?

Ðức Phật quở trách Tôn giả, bắt Ngài đập vỡ cái bát, đem mảnh vụn cho các Tỳ kheo nghiền thành bột. Sau đó, Ngài đặt ra giới cấm thi triển thần thông vì mục đích như thế.

B. Thế Tôn Hứa Thực Hiện Thần Thông.

Các ngoại đạo nghe rằng Sa môn Cồ Đàm đã ra lệnh đập vỡ cái bát, và đã chế giới cấm các đệ tử thi triển thần thông, họ nói: "Dù cho mạng sống họ tùy thuộc vào thần thông, các đệ tử Cồ Đàm cũng không dám phạm giới đã chế đặt. Hơn nữa, Sa môn Cồ Đàm cũng giữ luật lệ này. Ðây là cơ hội cho chúng ta.”

Và họ đi rao trên khắp đường phố.

- Chúng ta muốn giữ quyền năng ẩn mật, vì thế trong câu chuyện vừa rồi, chúng ta đã từ chối không phô bày quyền năng chỉ vì cái bát gỗ. Nhưng đệ tử của Cồ Đàm đã phô trương tài phép trước quần chúng chỉ vì một cái bát không đáng kể. Sa môn Cồ Đàm đã khôn ngoan ra lệnh đập bể cái bát và đưa ra điều luật cấm đệ tử thi hành phép thuật. Từ nay chúng ta sẽ thi triển phép thuật chỉ với ông ấy.

Vua Tần Bà Sa La nghe thế, đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, tin đồn Ngài cấm các đệ tử trổ phép lạ có đúng không?

- Ðúng thế, đại vương.

- Nhóm ngoại đạo đang nói rằng họ sẽ thi triển phép thuật với Ngài. Ngài phải làm gì trong trường hợp đó?

- Nếu họ thi triển thần thông, Ta cũng sẽ thi triển.

- Ngài không đặt ra luật cấm thi hành phép lạ đó ư?

- Ðại vương, Ta không ra luật cho Ta, luật chỉ áp dụng cho đệ tử của Ta.

- Có phải ý Ngài nói luật do Ngài đặt ra áp dụng cho mọi người trừ chính Ngài?

- Ðại vương, Ta sẽ trả lời cách khác hơn. Này đại vương, đại vương có một vườn thượng uyển trong Hoàng cung, đúng không?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Ðại vương! Nếu có người dân nào ăn xoài và các thứ trái khác trong vườn của đại vương, đại vương sẽ làm gì?

- Con sẽ phạt họ.

- Nhưng chính đại vương có quyền ăn những trái cây ấy chứ?

- Thưa vâng, con không phải bị phạt. Con có quyền ăn những thứ thuộc về con.

- Này đại vương! Như đại vương cai trị trên vương quốc ba mươi dặm, và chính mình không bị phạt khi ăn trái cây trong vườn mình, trong khi người khác làm thế thì bị phạt. Cũng thế Ta có quyền trên tam thiên đại thiên thế giới, và Ta có thể vượt qua những luật lệ do Ta đặt ra, người khác thì không, do đó, Ta sẽ thi triển một phép lạ.

Khi các nhà ngoại đạo nghe những lời này, họ nói với nhau:

- Chúng ta bị hố rồi! Sa môn Cồ Đàm tuyên bố rằng luật lệ do ông ấy đặt ra chỉ áp dụng cho hàng đệ tử, không phải cho ông ấy. Và ông ấy tuyên bố rằng chính mình sẽ thi triển một phép lạ. Chúng ta phải làm sao?

Vua hỏi đức Phật:

- Bạch Thế Tôn, khi nào Ngài thi triển thần thông?

- Vào ngày trăng tròn tháng Asàlhi, bốn tháng nữa.

- Bạch Thế Tôn, ở tại đâu?

- Gần thành Xá Vệ.

(Vì sao đức Phật chọn địa điểm xa như thế? Vì Xá Vệ là nơi mà tất cả chư Phật đã thực hiện đại thần lực, và nơi ấy có thể chứa nhiều người).

Các ngoại đạo nghe như vậy bàn với nhau:

- Bốn tháng nữa Sa môn Cồ Đàm sẽ hiển thần thông ở Xá Vệ. Từ đây đến đó, chúng ta phải theo đuổi ông ta không ngừng. Khi dân cư thấy, họ sẽ hỏi: "Thế này là sao?” Chúng ta sẽ trả lời: "Các ngươi nên nhớ chúng ta có nói: Chúng ta sẽ đấu phép với Sa môn Cồ Đàm. Ông ta chạy trốn nên chúng ta đuổi theo.”

Khi đức Phật đi khất thực trên đường phố thành Vương Xá, ngoại đạo cũng đi theo. Nơi nào Ngài thọ trai, thì họ nghỉ đêm ở đó, nơi nào Ngài nghỉ đêm, thì họ ăn sáng ở đó. Khi dân chúng hỏi:

- Như thế nghĩa là gì?

Họ trả lời như trên. Dân chúng bảo nhau:

- Chúng ta sẽ được xem phép lạ.

Và họ kéo theo sau đức Phật đến Xá Vệ, nhóm ngoại đạo cũng theo sát nút. Ðến nơi họ chuẩn bị chỗ ở, xài phí cả trăm ngàn đồng tiền để ra lệnh xây cất một cái trại với cột bằng gỗ xiêm gai, và lợp bằng hoa sen xanh. Làm xong họ tuyên bố:

- Chúng ta sẽ thực hành phép lạ tại đây.

Vua Ba Tư Nặc đến bạch Phật:

Bạch Thế Tôn, các ngoại đạo đã ra lệnh cất trại, con có thể xây cất một cái cho Ngài?

- Không cần, đại vương, Ta đã có người.

- Bạch Thế Tôn, ở đây có ai ngang bằng con để xây cất cho Ngài?

- Ðại vương, có vua trời Ðế Thích.

- Bạch Thế Tôn, Ngài sẽ thi triển thần thông ở đâu?

- Ở dưới gốc cây xoài gọi là cây của Ganda.

Các ngoại đạo nghe nói Phật sẽ hiển thần thông ở dưới cây xoài, lập tức họ nhổ hết rễ những cây xoài trong chu vi một dặm quanh đó, ngay cả những cây mới mọc hôm đó, và ném tất cả vào rừng.

C. Thần Thông Sơ Khởi.

Vào ngày trăng rằm tháng Asàlhi, đức Thế Tôn đi vào thành. Cùng ngày đó Ganda, người giữ vườn thượng uyển, thấy một trái xoài to chín vàng giữa đám lá, bay mùi thơm ngon. Ganda bèn hái trái ấy, định sẽ dâng lên vua. Trên đường đi, gặp Phật, chàng nghĩ: "Nếu nhà vua ăn trái này, nhà vua có thể ban cho ta tám hay mười sáu đồng, không đủ nuôi ta suốt đời. Nhưng nếu ta cúng dường Phật, sẽ có lợi cho sự cứu rỗi ta không cùng.” Và chàng cúng quả xoài chín cho Phật.

Ðức Phật nhìn A Nan, A Nan nhận trái xoài và đem dâng Phật. Ðức Phật chìa bát ra nhận xoài và ngỏ ý muốn ngồi tại đó, A Nan trải tọa cụ. Khi đức Phật ngồi xong, A Nan lọc nước ép trái xoài thành nước và dâng lên Phật. Phật uống nước ép trái xoài xong bảo Ganda:

- Ðào một cái lỗ ở đây và trồng hột xoài xuống.

Chàng giữ vườn làm y lời Phật dạy. Ðức Phật rửa tay ngay trên chỗ xoài được trồng. Ngay lúc ấy, một cây xoài cao to tốt tươi mọc lên rất nhanh, cao năm mươi cubits (cao hơn 25 mét), từ thân cây vươn ra năm nhánh, mỗi nhánh cũng dài hơn hai mươi lăm mét, bốn nhánh chia bốn hướng và một nhánh mọc thẳng lên trời. Trong phút chốc, cây xoài phủ đầy bông và trái, và một bên có cành nặng trĩu từng chùm xoài chín. Các Tỳ kheo đi theo sau đức Phật, hái xoài chín ăn xong rồi ra về. Khi nhà vua nghe chuyện cây xoài thần diệu bèn ra lệnh không cho ai được chặt phá và đặt người canh gác. Vì cây xoài được trồng bởi Ganda, nên được đặt tên là cây xoài của Ganda.

Hàng thứ dân cũng được ăn xoài và kêu lên:

- Các Thầy ngoại đạo đê tiện, khi các Thầy nghe Sa môn Cồ Đàm sẽ làm phép màu dưới chân cây xoài Ganda, đã ra lệnh nhổ tất cả mọi cây xoài trong vòng một dặm, ngay cả những cây mới mọc cũng lôi rễ lên. Ðấy, cây xoài Ganda đấy.

Nói xong họ ném xoài thối, hột xoài vào các ngoại đạo.

Ðế Thích ra lệnh cho Thần gió:

- Hãy nhổ trại các ngoại đạo và ném xuống cầu.

Rồi ra lệnh cho thần mặt trời:

- Hãy đốt chúng.

Các thần làm xong. Ðế Thích lại ra lệnh:

- Thần gió! Hãy thổi mạnh lên!

Thần gió tung hết vũ bảo ra. Các ngoại đạo run rẩy, toát mồ hôi đầy mình. Thần gió còn phun bụi vào họ cho đến khi trông họ giống kiến đỏ. Ðế Thích ra lệnh đổ mưa, và toàn thể ngoại đạo giống như bò đốm. Trần truồng, hỗn loạn, họ chạy tứ tán.

Ngay khi họ bỏ chạy, một nông dân đệ tử của Phú Lan Na Ca Diếp nghĩ thầm: "Ngày mai là ngày Tôn sư ta thi triển quyền phép, ta phải đi xem.” Ông ta tháo cày ra, và mang bình đựng canh đã đem theo từ sáng sớm, và lấy dây trở về nhà. Khi Phú Lan Na đang chạy trối chết, ông hỏi:

- Tôn sư, con về nhà với ý định sẽ đi xem Tôn sư phô bày phép lại. Vậy Ngài đi đâu thế?

Phú Lan Na đáp:

- Có gì ngươi muốn xem phép lạ? Ðưa ta bình đựng nước và sợi dây.

Người nông dân đưa, Phú Lan Na cầm bình nước và dây, đi đến bờ sông lấy dây cột bình nước vào cổ, rồi nhảy ùn xuống sông, bọt nước sủi lên, Phú Lan Na đã chết, rơi xuống A tỳ.

Ðức Phật biến hóa một lối đi bằng châu báu trên hư không, chạy dài suốt từ chân trời phía đông đến chân trời phía tây. Khi chiều đến, người ta kéo đến xem đứng đông đầy trải dài tới ba mươi sáu dặm. Ðức Phật nghĩ: "Ðây là lúc ta hiển thần thông.” Ngài rời hương thất ra đứng ở sân thượng.

Lúc ấy, một nữ Phật tử tên Gharanì chứng Tam quả, có thần thông, đứng gần Phật thưa:

- Bạch Thế Tôn, bao lâu còn một đệ tử như con, không còn nhọc sức Ngài, con sẽ thi triển một phép lạ.

- Này Gharanì, người thực hiện thần thông gì?

- Bạch Thế Tôn, con sẽ nhận chìm trái đất xuống nước, và lặn xuống đó, rồi trồi lên xuất hiện ở mặt Ðông trái đất, cứ thế con sẽ xuất hiện ở cực Tây, cực Nam, cực Bắc của trái đất, và ở giữa. Dân chúng sẽ hỏi "Ai thế?" và người khác trả lời: "Ðó là Gharanì. Nếu đây chỉ là thần thông của một người đàn bà, thì thần thông siêu việt của Phật sẽ như thế nào?" Các ngoại đạo sẽ trốn mất, không cần đợi Thế Tôn.

Phật trả lời:

- Ta biết rõ rằng con có thể thi triển thần thông như con vừa nói. Nhưng vinh dự này không phải của con.

Gharanì tự nhủ: "Ðức Thế Tôn từ chối đề nghị của ta, chắc có một ai có thể thi triển thần thông vĩ đại hơn ta.” Cô đứng qua một bên.

Một hôm nam Cư sĩ tên Culla Anàthapindika nghĩ thầm: "Bao lâu đức Thế Tôn còn có đệ tử như ta, người chứng đến Tam quả, thì Ngài không bận tâm đến chuyện này.”

Ông đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con sẽ thực hiện một thần thông.

- Thần thông gì?

- Bạch Thế Tôn, con sẽ hóa thành Ðại Phạm thiên, cao lớn mười hai dặm, đứng giữa quần chúng, rống lên như sấm sét, bão tố, con sẽ rung chuyển trái đất như Ðại Phạm thiên rung chuyển quả đất. Dân chúng sẽ hỏi nhau: "Tiếng gì thế?" và người khác sẽ trả lời: "Ðó là tiếng động đất gây ra bởi Culla Anàthapindika.” Các ngoại đạo nói: "Ðó mới chỉ là quyền năng của một Cư sĩ, còn quyền năng của Phật như thế nào?" Nói xong họ sẽ bỏ chạy mà không đợi gặp Ngài.

Ðức Thế Tôn cũng trả lời như với Gharanì "Ta biết con có quyền năng đó.” Và từ chối đề nghị.

Một cô bé Sa di lên bảy tuổi tên là Cìrà (Ly La) đã đạt được Tứ thông, đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con sẽ thực hiện một thần thông.

- Thần thông gì?

- Con sẽ xếp ngọn núi Tu di, tất cả những ngọn núi trên trái đất, luôn cả rặng Hy Mã thành một hàng, và con bay lượn trên những ngọn núi ấy như một con ngỗng trời và không chạm đến núi. Dân chúng thấy con sẽ hỏi: "Ai thế?" và họ sẽ được trả lời: "Ðó là cô bé

Sa di Ly La.
” Các ngoại đạo sẽ nói: "Chỉ một cô bé bảy tuổi mới là Sa di còn có thần thông như thế, thì thần thông của Phật ra sao?" Và họ sẽ chạy trốn không đợi gặp Thế Tôn.

Ðức Phật cũng từ chối y như trước.

Ðến một chú Sa di bảy tuổi tên Cunda (Thuần Ðà), đã đạt Tứ Thiền và giải thoát mọi tham dục, bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con sẽ thực hiện một thần thông.

- Thần thông gì?

- Con sẽ vác trên vai một cây hồng táo lớn, tượng trưng cho cõi Diêm phù đề, vẫy tới vẫy lui, sẽ đưa những nhánh táo sai trái cho mọi người ăn. Cũng như vậy con sẽ mang đến hoa san hô.

Rồi Tỳ kheo ni Uppalavannà (Liên Hoa Sắc) đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con sẽ trổ thần thông.

- Thần thông gì?

- Trước mắt mọi người trong mười hai dặm, con sẽ biến thành Chuyển Luân Vương với đoàn tùy tùng bao quanh ba mươi sáu dặm, đến đảnh lễ Phật.

- Ta biết thần thông của ngươi.

Phật cũng từ chối.

Tôn giả Mục Kiền Liên đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con sẽ hiện thần thông.

- Thần thông gì?

- Con sẽ đặt ngọn núi Tu di, chúa tể các ngọn núi, giữa hai hàm răng và cắn nó như cắn một hạt đậu.

- Rồi gì nữa?

- Con cuộn tròn quả đất như một chiếc chiếu và ép chặt giữa những ngón tay.

- Rồi gì nữa?

- Con sẽ xoay trái đất như một bánh xe của thợ gốm, và con sẽ cho mọi người nếm thức ăn của đất.

- Rồi gì nữa?

- Con sẽ sử dụng núi Tu di như một cây dù, nhấc quả đất đặt lên đó, cầm một tay như một nhà sư cầm cây dù nơi tay, đi dạo trên hư không.

- Ta biết thần lực của ông.

Ðức Phật cũng từ chối lời đề nghị của Tôn giả.

Mục Kiền Liên nói:

- Chắc chắn Thế Tôn biết người nào có thể hiển thần thông quảng đại hơn ta.

Và Tôn giả đứng qua một bên.

Ðức Phật bảo Tôn giả:

- Này Mục Kiền Liên, việc này không phải việc của ông. Gánh nặng của Ta không giống gánh nặng của bất cứ ai, và không ai có thể gánh vác nó được, nên không có gì lạ khi chẳng ai gánh vác thế Ta được. Trong quá khứ cũng thế, do ý muốn của Ta, Ta thọ sanh làm súc, cũng không có ai có thể gánh vác gánh nặng ấy cho Ta.

Nghe Phật nói thế, Tôn giả thưa:

- Bạch Thế Tôn, việc ấy ra sao, và xảy ra lúc nào?

Phật bèn nhắc lại chuyện tiền thân Kanha Usabha:

Vì trọng tải quá nặng, vì con đường lún bùn,

Chúng thắng ngựa Blackie, và nó lập tức chở hàng đi.

Phật cũng nói tiếp chi tiết chuyện tiền thân Nandi Visàla để làm vấn đề sáng tỏ hơn:

Nên luôn luôn nói lời dịu dàng, không bao giờ nên nói thô bạo,

Với người nói lời dịu dàng, nó kéo một trọng tải thật nặng nề,

Và làm người ấy giàu có, tất cả chỉ vì nó thích người ấy.

Sau khi nhắc lại các chuyện tiền thân, Ngài bước đi trên con đường trân bảo, đoàn tùy tùng theo sau trải rộng mười hai dặm phía trước Ngài, mười hai dặm phía sau, mười hai dặm bên tay trái, mười hai dặm bên tay phải. Thế Tôn đứng oai nghiêm giữa một đám đông khổng lồ bao quanh hai mươi bốn dặm và hóa hiện thần thông Song Hành.

D. Phật Hiện Thần Thông Song Hành

Thế nào là thần thông Song Hành của Như Lai? Trong dịp này, Thế Tôn hóa hiện thần thông Song Hành, thần thông vi diệu hơn bất cứ thần thông nào của chúng đệ tử. Từ trên thân Ngài phóng ra lửa, và từ dưới chân Ngài phun nước, hoặc dưới thân tuôn lửa, trên thân tuôn nước. Trước mặt tuôn lửa, sau lưng tuôn nước, hoặc trước mặt tuôn nước, sau lưng tuôn lửa. Từ hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, hai vai, hai tay, hai bên hông, hai chân, đầu ngón chân và gót chân, nơi mỗi phần trên thân Thế Tôn lần lượt tuôn lửa và nước. Những luồng lửa nước lóng lánh đủ màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng và màu kim tuyến chói lọi. Thế Tôn đi, hóa thân của Ngài đứng, hoặc nằm, hoặc ngồi; hóa thân nằm thì Thế Tôn đi, đứng hoặc ngồi. Ðây là truyền thống thần thông Song Hành của đức Phật.

(Thần thông này, đức Thế Tôn biểu hiện khi Ngài đi lên đi xuống trên con đường trân bảo. Lúc đó Ngài nhập hỏa đại Tam muội thì lửa từ trên thân tuôn ra, và khi nhập thủy Ðại Tam muội thì nước tuôn từ dưới thân. Tất cả những phần trên thân Ngài đều như vậy, hễ phần này tuôn lửa thì phần kia tuôn nước và ngược lại. Những luồng lửa và nước không hề lẫn lộn nhau, cả hai đều bắn tung xa đến trời Phạm Thiên và trở xuống cõi của Cakkavàla. Sáu sắc trong những tia lửa và nước ấy, như vàng lỏng chảy từ lò luyện kim, hay là vàng của vua từ ống chảy ra, chiếu sáng từ cõi Cakkavàla, lên đến Phạm thiên, rồi trở lại Cakkavàla, như một hình chóp nón và toàn pháp giới ngời sáng hào quang).

Vào ngày ấy đức Phật đi lên đi xuống hiển hóa thần thông Song Hành, thỉnh thoảng Ngài cũng thuyết pháp cho quần chúng nghe, không làm họ chán với bài pháp vô tận mà làm cho tinh thần họ tăng trưởng hỷ lạc bởi chốc chốc Ngài lại để họ nghỉ ngơi, thư giãn. Cho nên họ vỗ tay ca ngợi vang rền. Ðức Phật nhìn vào giữa đám đông và dùng mười sáu cách để quan sát tâm trí mỗi người. Khi một chúng sanh nào thích thú với bài pháp hay một thần thông nào, Ngài liền giảng đúng bài pháp ấy và hiện chính thần thông ấy cho người đó. Rất nhiều chúng sanh được Pháp nhãn thanh tịnh.

Khi đức Phật thấy trong số quần chúng đông đảo ấy không ai hiểu ý mình và có thể hỏi, Ngài liền hóa hiện một thân khác, hóa thân hỏi và Phật trả lời. Khi đức Phật đi tới đi lui thì hóa thân có những cử động khác và ngược lại. Ðược thấy thần thông và thuyết pháp, có hai trăm triệu người được Pháp nhãn thanh tịnh.

E. Ðức Phật Lên Cung Trời Ba Mươi Ba.

Khi hiện thần thông xong, đức Phật nghĩ thầm: "Chư Phật quá khứ sẽ ở đâu sau khi hiện thần thông?” Theo thông lệ, đức Phật sẽ lên cung trời Ba mươi ba và giảng dạy luận A Tỳ Đàm cho thân mẫu.” Nghĩ thế Ngài nhấc chân phải và bước lên ngọn núi Yugandhara, chân trái đặt lên núi Tu di, và như vậy với ba bước chân chấm đất hai lần, Ngài đi sáu trăm tám mươi hai ngàn dặm. Không ai có thể đo được chiều dài mỗi bước chân của Phật, chỉ biết rằng khi Phật nhấc chân lên các ngọn núi co đầu thấp dưới chân Ngài, và khi Ngài bước qua chúng ngẩng lên và đứng ở vị trí cũ.

Trời Ðế Thích thấy Phật và nghĩ thầm: "Ðức Thế Tôn sẽ ở đây trong ba tháng mùa mưa trên ngai Hoàng Thạch sẽ làm lợi ích cho vô số chư Thiên. Nhưng nếu Thế Tôn an cư ở đâu, chư thiên khác sẽ không có chỗ chen chân. Phiến Hoàng Thạch này dài sáu mươi dặm và rộng năm mươi dặm, Thế Tôn ngồi trên ấy cũng như không có ai ngồi.” Ðức Phật biết ý nghĩ của Ðế Thích, Ngài ném tọa cụ trùm cả phiến đá Hoàng Thạch. Ðế Thích nghĩ: "Ðúng là Ngài ném tọa cụ trùm hết cả phiến đá thật, nhưng khi Ngài ngồi lên đó chắc chắn Ngài sẽ thành ra nhỏ tí.” Ðức Phật lại biết được những ý nghĩ ấy nên Ngài trùm phủ phiến đá trong nếp y của Ngài, như một Sa môn cao lớn phủ áo nạp lên chiếc ghế đẩu thấp, và Ngài ngồi lên đó. Lúc ấy, dân chúng ở cõi Ta bà bỗng nhiên không thấy Phật, như mặt trăng chợt lặn. Họ hỏi nhau:

- Thế Tôn đã đi Cittakùta hay Kelàsa hay Yugandhara? Chúng ta không được trông thấy đấng Toàn Giác, bậc chúa tể thế gian, đấng Trí tuệ của loài người.

Họ khóc lóc, than thở. Những người khác nghĩ thầm: "Ðức Thế Tôn thích độc cư, Ngài khó chịu khi hiện thần thông như thế cho một đám đông như thế, nên đã đi sang xứ khác. Chúng ta có còn gặp được Ngài hay không?"

Họ khóc lóc, rên rỉ, nói kệ:

Ngày vui trong nhàn tịnh,

Ngài đã đi xa không trở lại cõi này.

Chúng ta không còn thấy bậc Tối Thắng,

Bậc chúa tể thế gian,

Bậc hiền trí nhất trong loài người.

Họ hỏi Tôn giả Mục Kiền Liên

- Thế Tôn đi đâu, thưa Tôn giả?

Mặc dầu biết đức Phật đi đâu, nhưng Tôn giả nghĩ thầm: "Hãy để cho người khác tỏ phép mầu", nên bảo mọi người:

- Hãy hỏi Tôn giả A Nậu Lâu Đà.

Và khi mọi người hỏi, Tôn giả A Nậu Lâu Đà đáp:

- Thế Tôn đã bay lên cung trời Ba mươi ba, ngồi trên ngai Hoàng Thạch, Ngài sẽ giảng dạy luận A Tỳ Đàm cho thân mẫu.

- Thưa Tôn giả, khi nào Ngài trở về?

- Ngài ở đó ba tháng hạ, và trở về vào dịp giải hạ.

Mọi người reo hò:

- Chúng ta không đi đâu cả cho đến khi gặp lại đức Bổn sư.

Họ cắm trại tại đó, ngủ đêm dưới bầu trời. Và dù đông đảo họ không gây nhơ uế trên đất, vì khi họ đại tiểu tiện đất nứt ra và khép lại, cho nên lúc nào mặt đất cũng sạch sẽ.

Trước khi lên cung trời đức Phật dặn Tôn giả Mục Kiền Liên:

- Mục Kiền Liên, ông thuyết pháp cho mọi người, còn Cấp Cô Ðộc sẽ cung cấp thực phẩm.

Như vậy, trong suốt ba tháng, ông Cấp Cô Ðộc cung cấp đồ ăn, thức uống, trầu cau, hương hoa cho mọi người. Tôn giả Mục Kiền Liên thì giảng dạy và trả lời mọi câu hỏi.

Khi Ðức Thế Tôn đã lên cung trời Ba mươi ba, đã ngồi vào pháp tòa, chư Thiên của mười ngàn thế giới vây quanh và hầu tiếp Ngài.

Trên cõi trời Ba mươi ba,

Khi đức Phật đấng tôn quý của mọi loài,

Ngồi dưới cội san hô, trên tòa Hoàng Thạch,

Thần tiên mười ngàn cõi tụ về và hầu tiếp.

Ðấng Tối Thắng, ngồi nơi cao nhất của cõi trời,

Không ai chói sáng bằng Ngài,

Chỉ mình Ngài độc nhất, rực rỡ át chư thiên.

Hoàng hậu Ma Da từ cõi trời Ðâu suất đến, ngồi bên tay phải của đức Phật, trời Indaka cũng đến ngồi bên tay phải Phật, và trời Ankura đến ngồi bên tay trái. Khi các vị trời đầy quyền lực đến dự hội, Ankura phải rời khỏi chỗ và ngồi một chỗ cách xa mười hai dặm, trong khi Indaka còn ngồi bên tay phải Phật. Thế Tôn quan sát cả hai, Ngài muốn dạy về phước báo lớn lao của sự cúng dường xứng đáng, nên bảo Ankura:

- Dù trong mười ngàn năm ngươi đã cho lập nên những lò sưởi trên suốt quảng đường dài mười hai dặm, và cúng dường vô số phẩm vật, sau thời gian dài ấy bây giờ ngươi đến đây nên trong chúng hội của Ta, lại ngồi xa ta nhất tới mười hai dặm. Tại sao thế?

Thế Tôn nhìn Ankura và Indaka, tuyên bố ai cúng dường giá trị, Ngài nói:

Ankurà, ngươi cúng dường vô số,

Vậy mà sau một thời gian dài,

Ngươi ngồi chỗ thật xa. Hãy đến đây!

Âm thanh ấy dội xuống mặt đất, dân chúng đang cắm trại dưới ấy đều được nghe.

Ðược đấng Ðạo sư thức tỉnh, Ankura nói:

- Những thứ cúng dường ấy đã đem lại ích lợi gì cho con? Người xứng đáng được cúng chẳng đem lại phước báo gì ư? Dạ xoa Indaka này chỉ dâng chút ít phẩm vật. Vậy mà ông ấy sáng hơn hết thảy chúng con, như mặt trăng sáng hơn tất cả tinh tú.

Khi Ankura nói như thế, đức Phật hỏi Indaka:

- Này Indaka, ngươi ngồi bên tay phải ta, vì sao ngươi ngồi đây mà không dời đi?

Indaka đáp:

- Bạch Thế Tôn, như một nông phu gieo một ít hột giống trên thửa ruộng tốt, con nhận phước lành này nhờ cúng dường đáng giá.

Ðể làm sáng tỏ vấn đề người nào cúng dường giá trị người nào không, Indaka nói:

Như hột giống, mặc dù rất nhiều, gieo trên đất xấu.

Không gặt hái nhiều, không làm nông dân vui thích.

Vật cúng dường dù nhiều, dâng người ác,

Không gặt quả nhiều, không lợi ích cho người thí.

Còn hột giống dù ít, gieo trên đất tốt,

Sẽ gặt nhiều kết quả, nông phu vui lòng.

Như thế, cúng dường người đức hạnh, chính trực và Thánh thiện.

Dù ít vẫn được kết quả tốt, phong nhiêu.

Chuyện kể rằng, nhân dịp Ngài A Nậu Lâu Đà đi khất thực, Indaka cúng dường Tôn giả một muỗng thức ăn của mình. Nên mặc dù Ankura đã đốt hàng ngàn lò sưởi trên khoảng đường dài mười hai dặm trong mười hai ngàn năm, và bố thí rất nhiều, nhưng việc làm của Indaka được kết quả lớn hơn.

Thế Tôn bảo:

- Này Ankura, phải nhận xét trong khi cúng dường. Với phương cách đó, giống như gieo giống trên đất tốt, việc cúng dường được quả tốt. Nhưng ngươi không làm như thế, nên phước báo ngươi không đủ.

Ngài nói kệ:

Cúng dường với sự xét đoán, được quả đây,

Người như thế được sanh thiên.

Như Lai khen ngợi sự cúng dường với óc phán đoán.

Nên cúng dường đến người xứng đáng nhất,

Sẽ gặt quả tốt, như hạt giống gieo đất tốt.

Ngài nói những Pháp Cú tiếp theo:

Cỏ làm hại ruộng vườn,

Tham làm hại người đời,

Bố thí người ly tham,

Do vậy được quả lớn.

Cỏ làm hại ruộng vườn,

Sân làm hại người đời.

Bố thí người ly sân,

Do vậy được quả lớn.

Cỏ làm hại ruộng vườn,

Si làm hại người đời.

Bố thí người ly si,

Do vậy được quả lớn.

Cỏ làm hại ruộng vườn,

Dục làm hại người đời.

Bố thí người ly dục,

Do vậy được quả lớn.

Và ngồi giữa chúng hội chư thiên, đức Phật muốn lợi lạc cho thân mẫu nên bắt đầu giảng dạy luận A Tỳ Đàm, bắt đầu bằng những câu: "Những điều này tốt, những điều này xấu, những điều này không tốt, không xấu.” Suốt ba tháng Ngài dạy luận A Tỳ Đàm không ngừng. Lúc nào đi khất thực, Ngài hóa ra một thân khác và bảo: "Hãy nói pháp cho đến lúc Ta trở về.” Xong, Ngài đi đến núi Hy Mã, sau khi đánh răng và súc miệng nơi hồ A Nâu Đạt (Anotatta), Ngài nhận thức ăn từ châu Uất Đơn Việt (Uttarakura), và ngồi trong vườn của một Trưởng giả Ngài dùng bữa trưa.

Tôn giả Xá Lợi Phất lên đến trời Ðâu suất và làm Thị giả cho đức Phật. Khi Phật thọ trai xong, Ngài nói:

- Xá Lợi Phất hôm nay Ta đã nói pháp như thế như thế, ông có thể thuật lại cho năm trăm Tỳ kheo tu học với ông.

Và Phật dạy cho Tôn giả. Chúng ta được biết rằng, khi đức Phật hiện thần thông Song Hành, có năm trăm thanh niên con nhà vọng tộc xuất gia với Tôn giả Xá Lợi Phất, và để ám chỉ các vị này đức Phật đã nói như trên. Giảng dạy cho Tôn giả xong, Phật trở lên cõi trời thay vào chỗ hóa thân Phật và nói tiếp. Tôn giả Xá Lợi Phất trở xuống nhân gian, nói pháp cho các Tỳ kheo, và ngay khi Phật còn ở lại thiên giới, các Tỳ kheo đạt được Thất giác chi.

Vào thời đức Phật Ca Diếp, năm trăm Tỳ kheo này là bầy dơi nhỏ. Chúng ở trong một động núi, và có hai Thầy Tỳ kheo cư ngụ trong ấy đọc tụng kinh A Tỳ Đàm. Chúng nghe âm thanh Luận tạng khi bay chung quanh đó và đâm ra yêu thích âm thanh ấy. Với các câu: "Ðây là các uẩn của chúng sanh, đây là các đại của chúng sanh", tuy chúng không hiểu ý nghĩa nhưng vì yêu mến tiếng đọc tụng, chúng được sanh thiên. Vào thời giữa Phật Ca Diếp và Thích Ca, họ ở cung trời hưởng khoái lạc và tái sanh vào Xá Vệ, trong gia đình vọng tộc. Do sự kính tin và thần thông Song Hành, họ xuất gia theo Tôn giả Xá Lợi Phất, và trở thành những người đầu tiên thông đạt Thất giác chi. Ðức Phật tiếp tục chỉ dạy như thế trong ba tháng. Khi nghe Ngài dạy xong, có tám trăm ngàn triệu chư thiên đạt được Pháp nhãn, và Hoàng hậu Ma Da chứng Sơ quả.

F. Ðức Phật Xuống Nhân Giới Và Chư Thiên Qủy Thần Hộ Tống

Quần chúng trong ba mươi sáu dặm, biết lễ giải hạ sẽ đến trong bảy ngày nữa, đến hỏi Tôn giả Mục Kiền Liên:

- Thưa Tôn giả, có gì trở ngại không nếu chúng con biết ngày nào đức Phật trở về? Chúng con sẽ không đi đâu cho đến lúc gặp Phật.

Tôn giả đáp:

- Tốt lắm!

Tôn giả đi đến chân ngọn núi Tu di và nghĩ thầm: "Hãy để mọi người thấy ta leo lên.” Và khi Tôn giả bắt đầu leo lên núi, thân hình Ngài hiển lộ với tấm y vàng trong suốt. Mọi người theo dõi và reo lên từng chập:

- Tôn giả đang leo lên một dặm, hai dặm...

Tôn giả lên đỉnh núi đảnh lễ dưới chân Phật, lấy đầu mình nâng bàn chân Phật và bạch:

- Bạch Thế Tôn! Dân chúng muốn đến nơi nào để có thể thấy Thế Tôn, khi nào Thế Tôn trở xuống?

- Nhưng này Mục Kiền Liên! Xá Lợi Phất đâu?

- Bạch Thế Tôn! Tôn giả đang ở cổng thành Samkassa.

- Này Mục Kiền Liên! Bảy ngày nữa Ta sẽ xuống tại cổng thành Samkassa vào ngày giải hạ. Ai muốn thấy Ta hãy đến đó.

Khoảng cách từ Xá Vệ đến Samkassa là ba mươi dặm, và không ai có thể cung cấp thức ăn cho mọi người trên lộ trình dài như thế. Phật bảo:

- Hãy dạy họ phát nguyện giữ trai giới (không ăn) và đi theo sức của họ có thể đi, như thể đang đến Tinh xá kế cận nghe pháp.

- Thưa vâng.

Tôn giả trở lại, nói cho mọi người biết lời dạy của Phật.

Mùa an cư đã chấm dứt, lễ giải hạ được cử hành. Ðức Phật nói với Ðế Thích:

- Nay là lúc Ta trở lại cõi người.

Ðế Thích bèn hóa ra ba con đường bằng bậc thang, một bằng vàng, một bằng ngọc, và một bằng bạc. Ba con đường dẫn từ núi Tu di xuống đến cổng thành Samkassa, đường bằng vàng bên phải dành cho chư thiên và quyến thuộc, đường bằng bạc bên trái dành cho Ðại Phạm thiên và quyến thuộc, đường chính giữa bằng ngọc dành cho Thế Tôn. Trong dịp này, Phật đứng trên đỉnh núi Tu di hóa hiện thần thông Song Hành và nhìn lên. Ngài nhìn suốt chín tầng trời Ðại phạm, và khi nhìn xuống Ngài nhìn đến tầng Địa ngục Vô gián. Rồi Ngài quán sát bốn phương tám hướng, nhìn suốt vô tận cảnh giới, người và trời đều thấy lẫn nhau. Chúng hội đông dầy trong khoảng chu vi ba mươi sáu dặm, ai đã thấy vẻ huy hoàng của Phật đều mong muốn mình sẽ thành Phật.

Từ trên không trung đức Phật đi xuống trên con đường bằng ngọc, chư Thiên xuống bằng đường vàng, Phạm thiên xuống bằng đường bạc. Nhạc thần Càn thát bà (Pancasikha) bay bên phải đức Phật, khảy đàn ca tụng Phật bằng những âm thanh tuyệt vời. Thần thiên xa (Màtali) tung hương hoa bên trái đức Phật. Trời Ðại Phạm cầm lọng, trời Dạ ma cầm quạt bằng đuôi con Yak. Với các thiên thần tùy tùng như thế, đức Phật đặt chân xuống cổng thành Samkassa. Tôn giả Xá Lợi Phất đến đón Phật và đảnh lễ Ngài, và hứng khởi vì chưa bao giờ thấy đức Thế Tôn trở về trong nghi thức long trọng, vĩ đại của một vị Phật như thế. Tôn giả nói:

Con chưa từng thấy, chưa ai từng nghe,

Ðức Bổn sư thuyết pháp âm êm dịu,

Nay từ Ðâu suất trở về với chúng tùy tùng.

Bày tỏ niềm vui bằng câu kệ và bằng mọi cách xong rồi, Tôn giả bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, hôm nay, tất cả trời người được thấy sự tôn quý của Ngài và theo Ngài.

- Này Xá Lợi Phất, với phạm hạnh như vậy chư Phật là bậc tôn quý hơn cả người và trời.

Ngài nói kệ:

(181) Người trí chuyên Thiền định,

Thích an tịnh viễn ly,

Chư thiên đều ái kính,

Bậc Chánh giác, chánh niệm.

Lệ thường của chư Phật, sau khi hóa hiện thần thông Song Hành đã an cư ba tháng trên cõi trời, và trở xuống tại cổng thành Samkassa. Ðể ghi dấu nơi đức Phật đặt bàn chân mặt xuống quả đất, một Tinh xá được xây cất tại đây. Ðức Phật sẽ đặt một câu hỏi vừa sức hiểu của những ai chưa chứng Sơ quả, những người này trả lời dễ dàng câu hỏi ấy, nhưng không thể trả lời câu hỏi dành cho những người chứng Sơ quả. Tương tự như thế chứng Sơ quả không thể trả lời câu hỏi dành cho những người chứng Nhị quả... cuối cùng người được Tứ quả không thể trả lời câu hỏi dành cho Tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn giả Mục Kiền Liên không thể trả lời câu hỏi dành cho Tôn giả Xá Lợi Phất, và Tôn giả Xá Lợi Phất không thể trả lời câu hỏi dành cho Phật.

Ðầu tiên Phật nhìn về phương Ðông, và các phương kế tiếp. Thật là một pháp hội vĩ đại. Trời và người đứng khắp bốn phương tám hướng, Phạm thiên phía trên, dưới là các Long vương, A tu la (Supannas), tất cả đều đứng với dáng cung kính, tất cả đều nói:

- Bạch Thế Tôn, trong đây không ai có thể trả lời câu hỏi này, xin đừng hỏi thêm.

Ðức Phật nói:

- Xá Lợi Phất bối rối khi nghe câu hỏi thuộc về Phật trí này: "Tất cả những ai đã tu theo pháp và chứng quả A la hán, tất cả những ai đang tu tập, những ai chưa chứng quả Dự lưu, Thượng tọa, ông biết đấy, tôi hỏi rồi, ông hãy nói tôi nghe về việc đi và nói của những người ấy.”

Xong, đức Phật nghĩ: "Mặc dù trong tâm Xá Lợi Phất không hề nghi ý nghĩa của câu hỏi, bởi ông ấy hiểu Ta đang hỏi về việc đi và nói của những người đang tu tập và những người đã tu tập đắc quả A la hán, nhưng ông ấy lại nghi mục đích Ta hỏi câu ấy, và ông ta đang suy nghĩ như vầy: "Về các vấn đề uẩn và đại của hữu tình, hay là vấn đề lục nhập, không biết ta nên nắm ý của Thế Tôn qua cái nào?" Nếu Ta không khai mở giúp Xá Lợi Phất, ông ấy không thể trả lời câu hỏi. Nay Ta sẽ giúp Xá Lợi Phất.” Và Phật hỏi:

- Xá Lợi Phất, ông có hiểu ý danh từ "hữu tình này" không?

Phật nghĩ tiếp: "Ngày lúc Xá Lợi Phất hiểu được ý Ta, ông ấy sẽ đáp câu hỏi trong phạm vi các uẩn của hữu tình.”

Ðức Thế Tôn vừa truyền mật ý, câu hỏi liền hóa ra rõ ràng theo một trăm và một ngàn cách. Sau khi Thế Tôn gợi ý, Trưởng lão lập tức trả lời câu hỏi.

Chúng ta biết rằng, trừ các bậc Toàn Giác, không ai có thể trả lời câu hỏi mà Phật nêu ra với Xá Lợi Phất. Cho nên Trưởng lão đứng trước Phật cao giọng hùng hồn nói:

- Bạch Thế Tôn, con có thể đếm số giọt mưa rơi trên biển lớn của tất cả những cơn mưa trong suốt một kiếp, và cũng thế con đếm được số giọt mưa rơi trên đất liền, rơi trên núi. Và con có thể đưa ra một con số chính xác.

Phật dạy:

- Này Xá Lợi Phất, Ta biết khả năng toán số của ông.

Thật vậy, không gì có thể sánh với Trí tuệ của Xá Lợi Phất (Trí tuệ vô tỷ). Vì thế, Tôn giả nói:

- Cát sông Hằng vô số, nước biển lớn bao la, vi trần nhiều vô lượng, con có thể dùng trí tính đếm được tất cả.

(Ý câu kệ trên như sau: "Bạch Thế Tôn bậc Thánh trí tối thượng, sau khi trả lời câu hỏi này, con có thể trả lời hàng trăm ngàn câu hỏi khác, mỗi câu được đánh dấu bằng một hạt cát hoặc một giọt nước hay một hạt bụi. Gồm tất cả số hạt cát, hạt nước, hạt bụi sông Hằng, không thiếu sót một hạt nào, số hạt bụi này còn ít hơn khả năng trả lời các câu hỏi của con").

Vị Sa môn dồi dào phước báo đã nương theo phương tiện của Phật trả lời câu hỏi thông suốt, mặc dù lúc đầu Tôn giả không biết đầu đuôi câu hỏi ra sao vì nó nằm trong lãnh vực Phật trí.

Khi các Tỳ kheo nghe kệ này, đã bàn tán như sau:

- Tôn giả Xá Lợi Phất, vị tướng quân của chánh pháp, đã trả lời câu hỏi mà không ai trên trái đất có thể trả lời được.

Ðức Phật nghe những lời bàn tán ấy, dạy rằng:

- Ðây không phải lần đầu tiên Xá Lợi Phất trả lời câu hỏi mà trên toàn thế gian này không ai có thể trả lời, ông ấy đã làm như thế ở thời quá khứ.

Ðức Phật kể lại câu chuyện quá khứ (Jàtaka 99):

“Dù cho hơn ngàn người thiếu trí tụ họp nhau và lảm nhảm cả một trăm năm. Không bằng một người có trí siêu việt, hiểu rõ điều người khác nói.”

3. Long Vương Và Ái Nữ.

Khó thay được làm người...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ngồi dưới bảy cây Sirìsaka, gần Ba La Nại, liên hệ đến Long vương Erakapatta.

Vào thời đức Phật Ca Diếp, Erakapatta là một Sa môn trẻ. Một hôm, Thầy ngồi trên thuyền bơi dọc sông Hằng. Ngang qua khu rừng cây Eraka, Thầy nắm một chiếc lá, xuồng đi nhanh Thầy níu lại, và chiếc lá bị rách tan. Thầy nghĩ thầm "Chuyện vặt!" Trong suốt hai mươi năm Thiền định trong rừng, Thầy không sám hối lỗi này, nhưng khi gần chết, Thầy có cảm giác bị một chiếc lá Eraka quấn ngang cổ. Thầy muốn thú tội, nhưng không có vị Tỳ kheo nào gần đó. Tràn đầy hối hận Thầy kêu lên:

- Giới phẩm của ta bị khiếm khuyết.

Sau khi chết Thầy tái sinh làm Long vương, kích thước to lớn như một con tàu. Khi sanh ra, thấy hình dạng mình, Long vương buồn bã nghĩ thầm: "Sau khi Thiền định lâu dài ta đã tái sinh trong một nơi vô lý, sanh vào đầm lầy của loài ếch.”

Khi Long vương có một cô con gái, Ngài nằm trên sông Hằng và đưa cao cái lưng khổng lồ, long nữ hát múa trên lưng. Long vương nghĩ thầm: "Bằng cách này, khi có đức Phật ra đời, ta sẽ biết tin. Trong trường hợp người nào hát đáp được câu hỏi của ta, ta sẽ gả con gái, luôn cả tài sản và quyền lực của Long vương.” Vào một đêm nhằm ngày Bố tát, Long vương đặt con gái trên lưng, long nữ nhảy múa và hát đố rằng:

Thế nào gọi là vua?

Thế nào bị gọi là tham dục thống trị?

Làm sao thoát khỏi quyền lực của tham dục?

Tại sao gọi là người ngu?

Tất cả cư dân trên cõi Diêm phù đề nói với nhau: "Chúng ta phải thắng long nữ.” Với khả năng khôn ngoan nhất, họ tìm câu trả lời và hát đáp lại, nhưng long nữ đều bác bỏ. Và như thế cứ nửa tháng, long nữ lại xuất hiện, hát múa trên lưng vua cha, điều ấy xảy ra suốt thời gian giữa hai đức Phật.

Khi đức Phật xuất hiện, vào một buổi sáng, Ngài quan sát căn cơ chúng sanh, và nhận thấy Long vương Erakapatta và thanh niên Bà la môn Uttara có nhân duyên đáng độ. Quán sát tiếp, Ngài nhận thấy: "Hôm nay là ngày Long vương đặt con gái lên lưng và cho cô gái hát. Chàng Bà la môn Uttara sẽ học câu hát trả lời do Ta chỉ dạy, chứng Sơ quả và mang câu trả lời đến chỗ Long vương. Khi nghe câu trả lời, Long vương sẽ biết có Phật ra đời và đến gặp Ta. Khi Long vương đến, Ta sẽ dạy câu kệ giữa pháp hội, vào cuối bài kệ có tám mươi bốn ngàn người được Pháp nhãn.”

Lúc bấy giờ bảy cây Sirìsaka không xa Ba La Nại, và đức Phật đến ngồi dưới gốc cây. Dân chúng chuẩn bị câu hát trả lời và tụ tập với nhau. Ðức Phật thấy Uttara đang đi gần đó, Ngài nói:

- Uttara!

- Thế Tôn! Có việc gì?

- Hãy đến đây!

Uttara đến đảnh lễ Phật, và ngồi một bên, Phật hỏi:

- Ngươi đi đâu?

- Con đi đến chỗ long nữ, con Long vương Erakapkatta đang hát múa.

- Nhưng ngươi biết câu trả lời chưa?

- Thưa vâng, con biết.

Uttara đọc lại câu trả lời của chàng cho Phật nghe, Phật dạy:

- Câu trả lời ấy không đúng. Ta sẽ dạy cho ngươi câu trả lời, ngươi có mang đi đáp lại long nữ không?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!

- Này Uttara! Khi long nữ hát đố, ngươi nên hát trả như sau:

Người nào làm chủ sáu căn, ấy là vua.

Người nào vui thích với sáu căn, ấy là bị tham dục làm chủ.

Người không vui thích với sáu căn, là thoát khỏi tham dục.

Người nào vui thích với sáu căn, là người ngu.

Sau khi dạy Uttara câu trả lời, Phật dạy tiếp:

- Uttara! Khi ngươi hát xong, long nữ sẽ hát tiếp:

Vì sao người ngu tái sinh?

Bằng cách nào người trí tự tại?

Bằng cách nào chứng Niết bàn?

Hãy trả lời câu hỏi của ta.

Và ngươi hãy trả lời:

Do lòng tham ái người ngu tái sanh.

Bằng ý chí người trí được tự tại.

Người thoát khỏi mọi triền phược,

Người ấy chứng Niết bàn.

Uttara ghi nhớ câu trả lời và chứng Sơ quả. Sau khi chứng Sơ quả, chàng rao lên:

- Này! Tôi có câu trả lời, hãy tránh đường cho tôi.

Ðám đông nhiều đến nỗi chân chàng lách giữa các đầu gối của họ.

Long nữ đang đứng trên lưng vua cha, vừa múa vừa hát:

- Với quyền lực gì được gọi là vua?

Uttara trả lời:

- Ai làm chủ sáu căn, ấy là vua.

Long nữ quay sang hát:

- Vì sao người ngu tái sanh?

Uttara hát trả:

- Vì lòng tham dục nên người ngu tái sanh.

Khi Long vương nghe những câu này, biết rằng đã có một vị Phật xuất hiện ở thế gian. Long vương nghĩ thầm: "Ta chưa hề nghe một bài hát như thế suốt thời gian giữa hai đức Phật. Hôm nay Phật thật sự ra đời.” Lòng nhà vua tràn ngập niềm vui. Long vương vẫy mạnh chiếc đuôi khổng lồ, một lượn sóng lớn dâng lên quét sạch hai bên bờ, dân cư trong khoảng ấy rơi tõm xuống nước. Long vương bèn đưa lưng đỡ hết thảy và đặt lên bờ. Nhà vua tiến đến gần Uttara và hỏi:

- Tiên sinh, đức Phật hiện ở đâu?

- Ðại vương, Ngài đang ngồi dưới cội cây.

- Chúng ta hãy đến đó.

Long vương đi với Uttara, đám đông kéo theo sau. Ðến chỗ Phật, Long vương hóa hiện hào quang trên con đường của mình, và đảnh lễ Phật, lui đứng một bên khóc. Phật hỏi:

- Có điều gì vậy, đại vương?

- Bạch Thế Tôn, con là đệ tử của một đức Phật, và hành Thiền suốt hai mươi năm. Nhưng công phu ấy không giúp cho con tránh khỏi quả báo. Chỉ vì con làm rách một chiếc lá Eraka nhỏ, con phải tái sanh làm rồng, bò đi bằng bụng. Trong khoảng thời gian giữa hai đức Phật, con không được làm người, không được nghe pháp, cũng chẳng gặp Phật.

Nghe vậy, đức Phật đáp:

- Này Ðại vương, khó được thân người, khó được nghe pháp, khó có Phật ra đời. Vì Phật muốn thành phải trải qua muôn ngàn gian lao cực khổ.

Ngài nói kệ:

(182) Khó thay, được làm người.

Khó thay, được sống còn.

Khó thay, nghe diệu pháp.

Khó thay, Phật ra đời.

Nghe xong kệ, có tám mươi bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh.

4. Phương Cách Giáo Giới Trong Ngày Bố Tát Của Bảy Ðời Ðức Phật

Không làm mọi điều ác...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật đang ở Kỳ Viên, liên quan đến câu hỏi của Tôn giả A Nan.

Ngày nọ, Tôn giả A Nan đang ngồi chợt nghĩ: "Ðức Thế Tôn đã dạy rõ về cha mẹ của bảy đời chư Phật, đã dạy về thọ mạng, cội cây của chư Phật ngồi thành đạo, đệ tử, vị thống lãnh Tăng đoàn và người ngoại hộ chính thức. Tất cả điều đó đức Thế Tôn nói rõ, nhưng Ngài không nói về phương cách giáo giới của bảy đời chư Phật trong ngày Bố tát. Phương cách có giống như hôm nay hay khác?”

Nghĩ thế, Tôn giả đến bạch Phật và thưa hỏi những điều như trên.

- Chư Phật tuy khác nhau về thời gian Bố tát, nhưng tương đồng về lời dạy khi giáo giới.

Ðức Phật Tỳ Bà Thi (Vipassì) bảy năm Bố tát một lần, nhưng lời dạy của Ngài trong hôm ấy áp dụng suốt bảy năm. Phật Thi Khí (Sikhì) và Phật Tỳ Xá Phù (Vessabhù) sáu năm Bố tát một lần. Phật Câu Lưu Tôn (Kakusandha) và Câu Na Hàm Mâu Ni (Konàgamana) Bố tát mỗi năm. Phật Ca Diếp (Kassapa) sáu tháng Bố tát một lần.

Ðức Thế Tôn đã giảng dạy cho Tôn giả A Nan về thời gian Bố tát của bảy đời chư Phật xong, Ngài giải thích rằng lời giáo giới của chư Phật thường nói trong ngày Bố tát.

(183) Không làm mọi điều ác,

Thành tựu các hạnh lành,

Giữ tâm ý trong sạch,

Chính lời chư Phật dạy.

(184) Chư Phật thường giảng dạy,

Nhẫn, khổ hạnh tối thượng,

Niết bàn, quả tối thượng,

Xuất gia không phá người,

Sa môn không hại người.

(185) Không phỉ báng, phá hoại,

Hộ trì giới căn bản,

Ăn uống có tiết độ,

Sàng tọa chỗ nhàn tịnh,

Chuyên chú tăng thượng tâm,

Chính lời chư Phật dạy.

5. Phật Trị Bịnh Bất Mãn Cho Thầy Tỳ Kheo

Dầu mua bằng tiền vàng...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một Thầy Sa môn bất mãn.

Chuyện kể rằng, một Thầy Tỳ kheo nọ gia nhập Tăng đoàn và làm đầy đủ bổn phận, bổn sư của Thầy ấy dạy rằng:

- Hãy đi đến nơi đó... học luật nghi.

Thầy đi không bao lâu, cha Thầy lâm bệnh. Ông ước ao được gặp con, nhưng không ai tìm ra Thầy. Trước giờ lâm chung, ông lảm nhảm những lời thương nhớ con, ông trao một trăm đồng cho con trai kế, và bảo:

- Hãy cầm tiền này, sắm y bát cho anh con.

Và ông chết.

Khi Thầy Tỳ kheo trở về nhà, người em trai gieo mình dưới chân Thầy, lăn tròn trên đất, khóc và nói:

- Tôn giả ơi! Cha đã thiết tha gọi Tôn giả khi sắp chết và đưa cho con một trăm đồng, con phải làm gì?

Thầy Tỳ kheo từ chối không lấy tiền.

- Ta không cần tiền.

Nhưng sau đó, Thầy lại nghĩ: "Có thú vị gì khi ta sống đời khất sĩ? Một trăm đồng này đủ cho ta sinh sống, ta sẽ hoàn tục.”

Bị đè nén bởi lòng bất mãn, Thầy lơ là với kinh kệ, Thiền định, và trở nên đau khổ như người mắc bệnh vàng da. Các chú tiểu hỏi Thầy:

- Thầy có chuyện gì vậy?

- Tôi đang bất mãn.

Các chú tiểu đi mách lại với quý Thầy, và cuối cùng câu chuyện đến tai Phật. Phật gọi Thầy lên hỏi:

- Có phải đúng là ông đang bất mãn?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Vì sao? Phải chăng ông có cách sống nào khác?

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

- Gia tài ông được bao nhiêu?

- Thưa, một trăm đồng.

- Tốt lắm, đi tìm vài miểng chén đến đây, ta sẽ làm một bài toán, và biết kết quả ông có đủ phương tiện để sống hay không?

Thầy Tỳ kheo đem miểng chén đến, Phật bảo:

- Bây giờ, để ra năm mươi đồng cho thức ăn thức uống, hai mươi bốn đồng mua hạt giống, cày bừa, cuốc xẻng, và một con dao cạo râu.

Kết quả là một trăm đồng không đủ vào đâu cả. Phật bảo Thầy Tỳ kheo:

- Số tiền ông có rất ít ỏi. Vì sao ông mong ước được thỏa nguyện với một số tiền như thế? Ở thời quá khứ, những vị Chuyển luân vương chỉ cần vẫy tay một cái là mưa tuôn châu báu, mặt đất ngập mười hai dặm vàng bạc. Những người này sống vương giả trải qua ba mươi sáu đời làm Ðế Thích, và mặc dầu làm chư thiên lâu như thế, khi chết vẫn không thỏa mãn ước nguyện.

Khi đức Phật nói xong, các Tỳ kheo thỉnh Phật nói chuyện quá khứ. Phật bèn kể lại chuyện tiền thân Mandhàtà (Jàtaka 285):

Tận cùng những nơi mặt trời mặt trăng chiếu sáng.

Tất cả mọi người sống trên trái đất đều là nô lệ của Mandhàtà.

Ngài đọc Pháp Cú:

(186) Dầu mưa bằng tiền vàng,

Các dục khó thỏa mãn.

Dục đắng nhiều ngọt ít,

Biết vậy là bậc trí.

(187) Ðệ tử bậc Chánh giác,

Không tìm cầu dục lạc,

Dầu là dục chư thiên,

Chỉ ưa thích ái diệt.

6. Sa Môn Và Long Vương.

Loài người sợ hoảng hốt...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, ngồi trên đống cát, liên hệ tới Aggidatta, Thầy Tư tế của vua Ba Tư Nặc.

Aggidatta (A Kỳ Đạt Đa) là Thầy Tư tế của vua Mahà Kosala. Khi nhà vua băng hà, con trai Ngài là Ba Tư Nặc lên nối ngôi, cũng kính trọng Aggidatta và cử giữ chức tư tế. Mỗi khi Aggidatta đến, nhà vua đều chào đón và mời ngồi ngang hàng. Sau một thời gian, Aggidatta nghĩ thầm: "Nhà vua rất kính trọng ta, nhưng không thể nào được vua sủng ái mãi mãi được. Sống trong Hoàng cung rất thú vị cho những ai đồng trang lứa với nhà vua. Còn ta đã già, tốt hơn là nên làm Thầy tu.” Aggidatta bèn xin nhà vua được xuất gia, đánh trống rao khắp thành phố, bố thí tài vật suốt một tuần, sau đó rời bỏ thế gian, trở thành Thầy tu trong một phái ngoại đạo. Có mười ngàn người đi theo ông.

Aggidatta và môn đệ cư trú tại biên giới ba nước: Angas, Ma Kiệt Đà, và Câu Lâu (Kurus). Ông dạy đệ tử:

- Chư huynh đệ, khi các người bị nhiễu loạn bởi các tư tưởng bất chánh như tham dục, xấu xa độc ác, hãy đến bờ sông múc đầy bình cát và đổ nơi đây.

Và như vậy khi các Thầy bị những tư tưởng bất thiện quấy rối, họ làm theo lời dạy. Sau thời gian, nơi đó thành đụn cát lớn. Long vương Ahicchatta đến ở đó. Dân cư các nước Angas, Ma Kiệt Đà và Kurus hằng tháng đem theo lễ vật trọng thể đến dâng cúng các Thầy. Aggidatta dạy họ như sau:

- Nương tựa nơi núi rừng, hang động, cây cối, đó là những nơi nương tựa vững chắc. Nương tựa như vậy các ngươi sẽ thoát khổ đau.

Khi đó, đức Phật sau khi tu ở Khổ Hạnh lâm và đạt giác ngộ viên mãn, Ngài đến ở Kỳ Viên gần thành Xá Vệ. Quan sát căn cơ chúng sanh, Ngài nhận thấy Bà la môn Aggidatta và môn đệ có cơ duyên chứng quả A la hán. Buổi chiều Ngài nói với Tôn giả Mục Kiền Liên:

- Này, Mục Kiền Liên, ông có thấy Bà la môn Aggidatta đã dạy mọi người một bài học khác với chân lý? Ông hãy đến khuyên dạy họ.

- Bạch Thế Tôn, các Tu sĩ này đông quá, nếu con đi một mình, sợ họ không chịu nghe theo. Nếu Thế Tôn cũng đến đó, chắc họ sẽ vâng lời.

- Ta cũng sẽ đến đó, ông hãy đi trước.

Tôn giả Mục Kiền Liên đi và nghĩ thầm: "Các Tu sĩ này đông và có thế lực. Nếu ta đến nói với họ lúc họ đang tụ họp, chắc họ sẽ xúm lại hại ta.” Tôn giả bèn dùng thần thông tạo ra một trận mưa lớn, các Tu sĩ tản mác khắp vòm cây trú ẩn. Tôn giả đến trước lều của Aggidatta và gọi lớn:

- Aggidatta!

Nghe tiếng gọi, Aggidatta nghĩ thầm: "Trên đời này không có ai kêu tên tộc ta như vậy.” Với thái độ bướng bỉnh một cách ngạo mạn, ông hỏi:

- Ai đấy?

- Tôi đây, tôi là một Bà la môn.

- Anh muốn gì?

- Chỉ cho tôi một chỗ ẩn trú qua đêm nay.

- Ðây không có chỗ cho anh ở lại, chỉ có một lều cỏ vừa vặn cho một Tu sĩ.

- Aggidatta! Người có chỗ ở của người, súc vật có chỗ ở của súc vật, và Tu sĩ có chỗ ở của Tu sĩ. Ðừng ngại, hãy cho tôi ở nhờ.

- Anh là một Tu sĩ?

- Phải, tôi là Tu sĩ.

- Nếu là Tu sĩ, bình Khàri của anh đâu? Vật dụng của anh đâu?

- Tôi cũng có vật dụng nhưng mang theo mình bất tiện, nên tôi tự tìm lấy trên đường đi của mình.

Aggidatta nổi giận:

- Vậy anh cứ tìm lấy trên đường của anh đi!

- Thôi, Aggidatta! Ðừng nổi nóng, hãy chỉ cho tôi một nơi ở qua đêm.

- Ðây không có chỗ ở.

- Thế ai ở trong đồi cát kia?

- Long vương đấy!

- Hãy cho tôi ở đồi cát đó.

- Tôi không thể để anh ở đó, điều ấy là một điều sĩ nhục lớn đối với Long vương.

- Không sao, hãy cho tôi ở đó.

- Ðược thôi, rồi anh sẽ thấy.

Tôn giả đi đến đồi cát. khi Long vương thấy Tôn giả đi đến gần, nghĩ thầm: "Ông Thầy kia đi đến đây, chắc ông ấy không biết có ta. Ta sẽ phun khói giết ông ấy.” Nghĩ thế Long vương phun khói mù mịt. Tôn giả nghĩ: "Long vương này tự cho mình có thể phun khói, không ai khác phun khói được chắc.” Và Tôn giả cũng phun khói. Hơi khói của hai bên bay lên đến trời Phạm thiên, khói không gây hề hấn gì đối với Tôn giả nhưng khiến cho ông Long vương khó chịu. Long vương không thể ở mãi trong hơi khói, bèn bốc thành lửa. Tôn giả bèn nhập Hỏa quang Tam muội, và lửa trong thân Ngài bốc lên đến Phạm thiên. Toàn thân Tôn giả như một cây đuốc cháy. Các Tu sĩ chung quanh thấy thế, đều nghĩ rằng: "Long vương đang phun lửa đốt Thầy tu kia. Ông ta chắc phải chết vì không nghe lời chúng ta.” Khi Tôn giả chế phục Long vương xong, Ngài ngồi kiết già trên đồi cát. Long vương bày biện thức ăn ngon chung quanh đồi cát, và biến cái đầu rồng thành một mái che rộng lớn, che trên đầu Tôn giả.

Sáng sớm hôm sau, các Tu sĩ đi đến đồi cát xem Tôn giả chết hay chưa, họ thấy Tôn giả ngồi trên cát, liền đảnh lễ tôn kính Ngài và nói:

- Tôn huynh, chắc Long vương đã quấy nhiễu ghê gớm đến tôn huynh.

- Các vị không thấy y đương che mát cho tôi đó ư?

Các Tu sĩ nói:

- Sa môn này đã chiến thắng Long vương hung dữ thật kỳ diệu làm sao!

Rồi họ đứng vây quanh Tôn giả.

Lúc ấy Thế Tôn đi đến. Tôn giả đứng lên đảnh lễ Ngài. Các Tu sĩ hỏi:

- Vị này lớn hơn Ngài ư?

- Ðây là đấng Ðại Giác, đức Thế Tôn. Tôi chỉ là đệ tử Ngài.

Phật đến ngồi trên đỉnh đồi cát. Các Tu sĩ bảo nhau:

- Nếu thần thông của đệ tử như thế, thì thần thông của vị này còn cao đến đâu?

Và họ cung kính chắp tay đảnh lễ Phật, xưng tụng Ngài. Phật bảo Aggidatta:

- Aggidatta ngươi dạy môn đệ và thí chủ thế nào?

- Con dạy họ vầy: "Nương tựa nơi núi rừng, hang động, cây cối. Ðó là những nơi nương tựa vững chắc. Nương tựa như vậy các ngươi sẽ thoát khỏi khổ đau.

- Không đúng! Này Aggidatta! Ai nương tựa vào những nơi ấy không thoát khỏi đau khổ. Chỉ có người quy y Phật, Pháp, Tăng mới hoàn toàn thoát khỏi vòng khổ đau.

Ngài nói kệ:

(188) Loài người sợ hoảng hốt,

Tìm nhiều chỗ quy y,

Hoặc rừng rậm, núi non,

Hoặc vườn cây, đền tháp.

(189) Quy y ấy không ổn,

Không quy y tối thượng.

Quy y các chỗ ấy,

Không thoát mọi khổ đau.

(190) Ai quy y đức Phật,

Chánh pháp và chư Tăng,

Ai dùng chánh tri kiến,

Thấy được bốn Thánh đế.

(191) Thấy khổ đau và khổ tập,

Thấy sự khổ vượt qua,

Thấy đường Thánh tám ngành,

Ðưa đến khổ não tận.

(192) Thật quy y an ổn,

Thật quy y tối thượng,

Có quy y như vậy,

Mới thoát mọi khổ đau.

Bài pháp kết thúc, tất cả các Tu sĩ đều chứng A la hán và có thần thông. Họ đảnh lễ Phật và xin vào Tăng đoàn, đức Thế Tôn đưa tay ra và bảo họ:

- Thiện lai, Tỳ kheo! Hãy sống đời Thánh thiện.

Ngay lúc đó các Thầy trở thành Tỳ kheo như đã tu từ cả một trăm năm, và đầy đủ tám món cần thiết.

Bấy giờ, vào ngày tất cả dân cư ba nước Angas, Ma Kiệt Đà và Kurus theo thường lệ mang nhiều phẩm vật đến cúng. Khi họ thấy các Thầy đều trở thành Tỳ kheo, họ nhủ thầm: "Bà la môn Aggidatta của chúng ta lớn hay Sa môn Cồ Đàm lớn?" Và nhận thấy đức Thế Tôn đã từ chỗ mình đến đây, họ kết luận: "Chỉ có Aggidatta lớn.” Ðức Phật biết ý họ, nói:

- Aggidatta, hãy dẹp tan mối nghi ngờ của các môn đệ ông.

Aggidatta đáp:

- Ðó là điều con rất mong.

Và ông dùng thần thông bay lên hư không bảy lần, mỗi lần bay xuống đều đảnh lễ đức Phật và bạch:

- Bạch Thế Tôn, Ngài là Thầy con, con là đệ tử Ngài.

Khi Aggidatta nói thế, ông mặc nhiên công nhận mình là đệ tử Phật.

7. Người Cao Quý Sinh Ở Ðâu?

Khó gặp bậc Thánh nhân...

Câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến câu hỏi của Tôn giả A Nan.

Một hôm, Tôn giả A Nan ngồi tại nơi cư trú ban ngày, nghĩ thầm: "Thế Tôn đã dạy chúng ta về dòng dõi của những loài voi, ngựa và bò quý, Ngài nói con voi cao quý phát sinh từ giống Chaddanta hay giống Uposatha, ngựa cao quý phát sinh từ dòng dõi Valàhaka là dòng ngựa chúa, và báo cao quý xuất phát từ dòng giống Dekkan. Còn người cao quý phát xuất từ đâu?”

Tôn giả đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và thưa hỏi về vấn đề trên. Phật dạy:

- Này A Nan, người cao quý không thể sinh ra ở bất cứ nơi nào, mà phải sinh trong phạm vi đường kính ba trăm dặm, cùng chu vi chín trăm dặm của thủ đô một nước. Và không phải sinh ra ở bất cứ gia đình nào, mà phải là gia đình thuộc dòng Sát đế lợi hay Bà la môn.

Ngài nói kệ:

(193) Khó gặp bậc Thánh nhân,

Không phải đâu cũng có,

Chỗ nào bậc trí sanh,

Gia đình tất an lạc.

8. Ðiều Gì Hạnh Phúc Nhất Trên Ðời?

Vui thay Phật ra đời!...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một số Thầy Tỳ kheo.

Một hôm năm trăm Tỳ kheo ngồi ở pháp đường và bàn luận:

- Chư hiền, điều gì là hạnh phúc nhất trên đời?

Người thì nói:

- Không có gì hạnh phúc bằng làm vua.

Người khác nói:

- Chỉ có tình yêu là hạnh phúc nhất.

Còn có người nói:

- Chỉ có ăn ngon là hạnh phúc nhất.

Ðức Phật đi đến chỗ các Thầy và nói:

- Các ông ngồi đây bàn tán về vấn đề gì?

Các Tỳ kheo kể lại, Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo! Các ông nói thế nào? Tất cả các hạnh phúc các ông vừa kể đều nằm trong vòng luân hồi đau khổ.

Ngược lại, gặp Phật ra đời, được nghe chánh pháp, sống thanh tịnh và hòa hợp trong Tăng đoàn, những điều ấy là hạnh phúc nhất.

Ngài nói kệ:

(194) Vui thay, Phật ra đời!

Vui thay, Pháp được giảng!

Vui thay, Tăng hòa hợp!

Vui thay, hòa hợp tu!

9. Tôn Kính Những Bậc Ðáng Tôn Kính

Cúng dường bậc đáng cúng...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật đang đi du hóa, liên hệ đến ngôi đền vàng của Phật Ca Diếp.

Một hôm, đức Phật đi từ Xá Vệ đến Ba La Nại cùng với một số đông các Tỳ kheo theo sau. Trên đường Ngài ghé qua một ngôi đền làng Todeyya. Ðức Phật ngồi tháp và sai Tôn giả A Nan gọi người Bà la môn đang cày bừa gần đấy. Khi người Bà la môn đến, ông không chào Phật mà chỉ đảnh lễ ngôi đền. Sau đó ông đến đứng trước Phật, Phật hỏi:

- Vì sao ông lưu tâm đến chỗ này?

Bà la môn trả lời:

- Ngôi đền này đã có từ nhiều thế hệ, vì thế tôi tôn kính nó.

Phật khen ông:

- Này Bà la môn, lành thay, ông tôn kính ngôi đền này rất đúng.

Khi các Tỳ kheo nghe câu chuyện, các Thầy bàn tán:

- Vì lý do gì Thế Tôn khen ngợi như thế?

Phật bèn dạy đoạn kinh Ghatìkàra trong Trung Bộ (Majjhima Nikàya) để giải quyết mối nghi cho các Tỳ kheo. Ngài dùng thần thông hóa hiện một trái núi bằng vàng giữa không trung, nơi ấy hiển hiện ngôi tháp của đức Phật Ca Diếp cao một dặm. Ngài chỉ tay vào chúng đệ tử và nói:

- Bà la môn, càng đúng hơn khi tôn kính những ai đáng tôn kính, như những vị này.

Và dùng lời trong một đoạn kinh Ðại Niết bàn, Ngài dạy có bốn hạng người: Phật, Bích Chi Phật, A la hán và Chuyển luân vương xứng đáng xây tháp. Có ba loại tháp: tháp thờ Xá Lợi Phật, tháp thờ những di tích kỷ niệm, và tháp thờ những vật tùy thân.

Phật nói Pháp Cú:

(195) Cúng dường bậc đáng cúng,

Chư Phật hoặc đệ tử,

Các bậc vượt hý luận,

Ðoạn diệt mọi sầu bi.

(196) Cúng dường bậc như vậy,

Tịch tịnh, không sợ hãi.

Các công đức như vậy,

Không ai ước lượng được.

Nghe xong, người Bà la môn chứng Sơ quả. Trong suốt bảy ngày ngôi tháp vàng cao một dặm hiện giữa không trung. Ðây là một cơ hội lớn của dân chúng, họ cúng dường ngôi tháp bằng mọi phẩm vật. Và khi ngôi tháp trở về vị trí cũ, tại đó người ta dựng lại một ngôi tháp đá để kỷ niệm. Có tám mươi bốn ngàn người trong chúng hội được Pháp nhãn thanh tịnh.


Phẩm XV: Hạnh Phúc

1. Mối Tranh Chấp Giữa Hai Lân Bang

Vui thay, chúng ta sống...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn đang ngự gần thân tộc Thích Ca, liên quan đến việc chấm dứt sự tranh chấp giữa các bộ tộc lân bang.

Dân cư trong thành Ca Tỳ La Vệ và dân cư thành Câu Lợi (Koliya) có chung một con sông. Sông Rohinì bắt nguồn từ một đập nước giữa hai thành phố, và cung cấp nước cho hai cánh đồng của cả hai bên. Vào tháng Jetthamùla, lúa bắt đầu chín, nông dân hai bên họp lại, dân thành Câu Lợi nói:

- Nếu nước sông chia đôi cho hai bên sẽ không đủ, lúa chúng tôi cần nước để chín. Hãy nhường nước cho chúng tôi.

Phía Thích Ca trả lời:

- Sau khi các anh đã thâu hoạch đầy bồ, chúng tôi chỉ còn nước chết đói và xách túi đi xin ăn các anh. Lúa của chúng tôi cũng cần nước để chín. Bây giờ hãy để chúng tôi lấy nước.

- Không, chúng tôi không để các anh lấy nước.

- Hừm! Chúng tôi không bao giờ nhường nước cho các anh.

Cuộc bàn cãi trở nên gay cấn, đến lúc bên này đấm bên kia một đấm, bên kia đấm trả lại và do đó có hận thù. Cuộc tranh cãi gay cấn hơn khi đôi bên bắt đầu nói xấu về cội nguồn của nhau.

Nông dân thành Câu Lợi nói:

- Hỡi dân thành Ca Tỳ La Vệ, hãy cõng vợ bồng con đi nơi khác. Chúng ta không muốn sử dụng voi, ngựa, khí giới với lũ các người đê tiện như lang sói, cưới chị làm vợ.

Dân chủng tộc Thích Ca gào lên:

- Ðồ cùi, hãy mang vợ con đi khuất mắt. Các người tưởng rằng chúng ta thích đem khí giới, voi ngựa để đánh lại lũ ngươi, chỉ sống dưới cây táo như súc vật?

Ðám nông dân hai bên trình bày câu chuyện lên quan Tổng Trấn của họ, và các quan Tổng Trấn tâu lên vua của họ. Dòng Thích Ca chuẩn bị khí giới và la lên:

- Chúng ta sẽ chứng tỏ sức mạnh của những kẻ kết hôn với chị em bà con.

Dòng Câu Lợi cũng sửa soạn chiến tranh và đáp trả:

- Chúng ta sẽ chứng tỏ thế nào là sức mạnh của kẻ sống dưới cây táo.

Khi đức Thế Tôn quan sát thế gian vào mỗi sáng sớm, Ngài thấy sự kiện trên và nghĩ thầm: "Nếu Ta không đến giảng hòa, họ sẽ giết hại lẫn nhau mất.” Ngài bay lên hư không, ngay trên chỗ tụ họp của hoàng gia Thích Ca, và ngồi kiết già trên khoảng không của sông Rohinì. Hoàng tộc Thích Ca thấy Ngài, họ ném khí giới và đảnh lễ Phật. Thế Tôn hỏi:

- Ðại vương! Gây hấn vì chuyện gì thế?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Vậy thì ai biết?

- Có lẽ thống tướng quân binh biết.

Ông thống tướng trả lời:

- Có lẽ phó vương biết.

Cứ thế, Phật hỏi tuần tự, đến đám nông dân, và họ trả lời:

- Bạch Thế Tôn, cuộc chiến tranh này là vì con sông.

Ðức Phật hỏi nhà vua dòng Thích Ca:

- Ðại vương! Giá trị của một chút nước ruộng là ra sao?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng đáng gì.

- Giá trị của các chiến sĩ dòng Sát lợi như thế nào?

- Dòng Sát lợi vô giá, bạch Thế Tôn!

- Không có gì vô lý bằng chỉ vì chút nước mà các ông tiêu diệt dòng Sát lợi như thế.

Họ im lặng. Ðức Phật khuyên dạy:

- Chư đại vương! Vì sao chư đại vương hành động như thế? Nếu Ta không đến đây hôm nay, các ông sẽ cho máu chảy thành sông. Các ông hành động thật sai lầm. Các ông sống trong hận thù, nuôi dưỡng sân giận. Ta đã thoát khỏi sân hận. Các ông sống trong sự hèn yếu của dục vọng. Ta đã thoát khỏi dục vọng. Các ông say mê theo đuổi ngũ dục. Ta đã thoát ngoài ngũ dục.

Phật nói kệ:

(197) Vui thay, chúng ta sống,

Không hận, giữa hận thù.

Giữa những người thù hận,

Ta sống không hận thù.

(198) Vui thay, chúng ta sống,

Không bệnh giữa ốm đau,

Giữa những người bệnh hoạn,

Ta sống không ốm đau.

(199) Vui thay chúng ta sống,

Không rộn giữa rộn ràng.

Giữa những người rộn ràng,

Ta sống không rộn ràng.

2. Ma vương Chế Ngự Thôn Dân

Vui thay, chúng ta sống...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại ngôi làng Bà la môn Pancasala, liên hệ đến Ma vương.

Một hôm, đức Phật quan sát căn cơ dân làng Bà la môn nọ và nhận thấy có năm trăm cô gái trong làng có khả năng chứng quả Tu đà hoàn, Ngài bèn đi đến gần làng ấy. Bấy giờ vào ngày lễ, các thôn nữ đi đến gần bờ sông tắm, tắm xong các cô trang sức nhiều vòng tay vòng chân, đi về làng. Ngay lúc đó, đức Thế Tôn đi vào làng khất thực, Ma vương khống chế toàn bộ dân làng khiến không ai cúng dường Thế Tôn dù chỉ một muỗng nhỏ, Phật ra khỏi làng với cái bát rỗng. Ma vương đứng ở cổng làng hỏi:

- Sa môn, ông không nhận được gì ư?

- Này hiện thân của xấu ác! Vì sao ông sắp đặt để Ta không khất thực được gì?

- Tốt lắm! Sa môn hãy trở vào làng.

Khi nói như thế, Ma vương thầm nghĩ: "Nếu Cồ Đàm trở vào trong làng, ta sẽ dùng quyền lực khiến dân chúng vỗ tay, cười vào mặt ông ấy, và làm mọi trò chế giễu.”

Khi đó các cô gái về đến cổng thấy đức Phật, họ dừng lại đảnh lễ và đứng qua một bên. Ma vương nói với đức Phật:

- Bạch Thế Tôn, Ngài không xin được chút thức ăn nào, chắc là đói bụng lắm.

- Này Ma vương, dù cho ngày hôm nay Ta bị quấy rầy, Ta vẫn an lạc như ở cõi trời Quang Âm.

Ngài nói kệ:

(200) Vui thay, chúng ta sống,

Không gì, gọi của ta.

Ta sẽ hưởng hỷ lạc,

Như chư thiên Quang Âm.

3. Vua Ba Tư Nặc Bại Trận

Chiến thắng sinh thù oán...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến vua Ba Tư Nặc nước Kosala.

Chuyện kể rằng, vua Ba Tư Nặc đánh nhau với A Xà Thế, gần làng Kasika và ba lần bại trận. Trở về sau lần thất bại thứ ba, nhà vua nghĩ thầm: "Nếu không thắng được tên miệng còn hôi sữa ấy, ta sống làm gì?” Nhà vua bỏ ăn nằm dài trên long sàng. Tin tức bay đi khắp thành và đến Tinh xá.

Các Tỳ kheo thuật lại chuyện cho đức Thế Tôn nghe:

- Bạch Thế Tôn, nhà vua sau ba lần chiến bại ở gần làng Kasika, đã trở về bỏ ăn, nằm dã dượi trên giường, nói: "Nếu ta không thắng được tên vua trẻ tuổi kia, ta sống làm gì?”

Sau khi nghe kể, Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo, kẻ thắng bị oán ghét, người thua phải buồn rầu.

Ngài nói kệ:

(201) Chiến thắng sinh thù oán,

Thất bại chịu khổ đau.

Sống tịch tịnh an lạc,

Bỏ sau mọi thắng bại.

4. Ðừng Nhìn Say Ðắm Nữ Nhân

Lửa nào sánh lửa tham...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một cô gái dòng quý tộc.

Chuyện kể rằng, vào ngày hôn lễ của con gái, cha mẹ cô mời đức Thế Tôn đến nhà cúng dường. Ðức Phật cùng chúng Tỳ kheo đến nhà cô thọ trai, cô dâu lăng xăng tới lui để tiếp đãi chúng Tăng. Khi đó, chú rể đứng nhìn cô chăm chăm và lòng khởi lên tham dục. Chú không thấy đức Phật, cả đến tám mươi vị Trưởng lão, chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: "Ta muốn ôm choàng lấy nàng.”

Ðức Phật biết được ý nghĩ của chàng, và Ngài làm cho chú rể không thấy cô dâu nữa, mà quay sang chiêm ngưỡng Thế Tôn. Khi chàng trai đứng đấy, nhìn Phật chăm chăm, Ngài nói với chàng trai:

- Này con, không lửa nào bằng lửa tham dục, không ác nào bằng lòng sân hận, không khổ nào bằng khổ uẩn, không vui nào bằng vui Niết bàn.

Ngài nói kệ:

(202) Lửa nào sánh lửa tham?

Ác nào bằng sân hận?

Khổ nào sánh khổ uẩn?

Lạc nào bằng tịnh lạc?

Nghe xong, đôi vợ chồng trẻ chứng quả Tu đà hoàn. Vào lúc đó, Phật cho phép họ lại nhìn thấy nhau.

5. Phật Ban Thức Ăn Cho Người Ðói

Ðói ăn, bệnh tối thượng...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Alavi, liên quan đến một nam Cư sĩ.

Ngày nọ, đức Thế Tôn ngồi trong hương thất ở Kỳ Viên, Ngài quan sát căn cơ chúng sanh, và nhận thấy một nông dân nghèo ở Alavi có duyên đắc quả Tu đà hoàn. Ngài bèn đi cùng với năm trăm Tỳ kheo đến Alavi. Dân cư tại đây liền mời Phật thọ trai. Người nghèo nọ cũng nghe tin Phật đã đến Alavi, và định đi nghe thuyết pháp. Nhưng hôm đó, con bò của ông đi lạc, ông suy tính: "Ta sẽ đi tìm bò hay đi nghe pháp?" Cuối cùng ông quyết định: "Ta sẽ đi tìm bò trước, rồi đi nghe pháp sau.” Do đó, sáng sớm ông bương bả đi tìm bò.

Cư dân của Alavi sắp đặt cúng dường đức Phật và chư Tăng. Sau khi Phật thọ trai xong, họ dọn cất bình bát và đợi nghe Pháp. Thế Tôn nghĩ thầm: "Ta đi ba mươi dặm đường chỉ vì một chúng sanh có căn cơ chứng quả, kẻ ấy đang lang thang trong rừng tìm con bò. Khi nào người đó trở lại, Ta sẽ nói pháp.” Và Ngài ngồi làm thinh.

Ðến trưa, người nông dân kia tìm được con bò và đánh nó về chuồng. Ông nghĩ: "Dù chưa ăn uống gì, ít ra ta cũng đi đảnh lễ Phật.” Ngay khi đó, dù đang đói meo, ông ta cũng quyết định không về nhà mà vội vã đi đến chỗ Phật, cung kính đảnh lễ và ngồi một bên. Phật bèn hỏi người coi về thức ăn:

- Thức ăn của chư Tăng còn thừa chăng?

- Bạch Thế Tôn, vẫn còn.

- Tốt lắm! Hãy cho người nghèo này một phần ăn.

Và người ta dọn chỗ cho người kia theo sự chỉ dẫn của Phật, cung cấp đầy đủ các loại thức ăn cứng, mềm. Người nông dân ăn xong, súc miệng.

(Ðây là trường hợp ngoại lệ duy nhất, trong ba tạng không hề ghi lại việc Thế Tôn để tâm đến việc phân phối thức ăn). Sau khi anh nông dân đã no lòng, tâm tư anh trở nên an tĩnh. Ðức Phật giảng dạy Tứ đế theo thứ tự Khổ - Tập - Diệt - Ðạo. Cuối bài pháp, anh nông dân chứng quả Tu đà hoàn. Ðức Thế Tôn hồi hướng công đức và trở về Tinh xá, thính chúng theo sau Ngài một đoạn đường rồi ai về nhà nấy.

Các Tỳ kheo tùy tùng đức Phật hôm ấy bất mãn tột độ, xì xào:

- Huynh đệ nghĩ xem, Thế Tôn đã làm như thế. Một chuyện không hề xảy ra từ xưa đến nay. Vậy mà trưa nay khi thấy một người nghèo đói, Ngài đã hỏi thức ăn và dạy đem cho anh ta.

Ðức Phật dừng bước, quay lại hỏi:

- Các Tỳ kheo, các ông bàn tán việc gì?

Sau khi nghe thuật lại, Ngài nói:

- Ðúng thế! Này các Tỳ kheo, Ta đến đây qua một đoạn đường dài ba mươi dặm đầy nhọc nhằn, chỉ với mục đích duy nhất, vì Ta thấy rõ người nông dân kia có khả năng chứng quả Tu đà hoàn. Từ sáng sớm, ông ta vào rừng tất tả tìm con bò, lòng không bụng đói. Ta nghĩ nếu Ta nói pháp cho người này nghe trong khi y khổ sở vì đói, y sẽ không hiểu gì cả. Vì thế Ta phải làm như thế. Này các Tỳ kheo, không gì khổ sở cho bằng đói.

Ngài nói kệ:

(203) Ðói ăn, bệnh tối thượng,

Các hành, khổ tối thượng,

Hiểu như thực là vậy,

Niết bàn, lạc tối thượng.

6. Ăn Uống Tiết Ðộ

Không bệnh, lợi tối thượng...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở Kỳ Viên, liên quan đến vua Ba Tư Nặc.

Có một lúc, vua Ba Tư Nặc có thói quen ăn uống vô độ, ăn nhiều cơm, canh, cà ri. Ngày kia sau khi dùng điểm tâm, nhà vua không cưỡng nổi cơn ngầy ngật vì quá no, bèn đi đến chỗ đức Phật và loanh quanh bên Ngài với vẻ mặt đau khổ. Nhà vua chỉ muốn nằm ngủ, nhưng không dám, khi hiện diện bên Phật. Cuối cùng vua đến ngồi một bên Thế Tôn. Phật hỏi:

- Ðại vương, đến đây mà chưa ngủ nghỉ ư?

- Bạch Thế Tôn, không phải như vậy, nhưng con luôn luôn khổ sở sau khi ăn xong.

- Này Ðại vương! Ăn uống quá độ thường mang lại sự khổ nhọc.

Ngài nói kệ:

Người ưa ngủ, ăn lớn,

Nằm lăn lóc qua lại,

Chẳng khác heo no bụng,

Kẻ ngu nhập thai mãi.

Sau khi nói kệ khuyên vua, Phật dạy tiếp:

- Ðại vương, cần phải giữ tiết độ khi ăn uống, đó là điều tốt.

Ngài nói kệ tiếp:

Người lo chừng mực uống ăn,

Khổ đau giảm bớt, thêm tăng tuổi trời.

Nhà vua không tài nào nhớ hết câu kệ (Vì rất buồn ngủ). Nên đức Phật nói với Hoàng tử Sudassana (Tu Đà Na), vừa là cháu ruột vừa theo hầu cận nhà vua:

- Hãy ghi nhớ câu kệ này.

- Bạch Thế Tôn, sau khi học thuộc câu kệ, con sẽ làm gì?

- Khi nhà vua dùng cơm, ngay khi xới chén cơm cuối cùng con hãy đọc bài kệ. Nhà vua sẽ hiểu ý và lập tức buông chén. Hôm sau, khi nấu cơm cho nhà vua, con hãy bớt đi số gạo tương đương chén cơm cuối cùng đó.

- Thưa vâng! Bạch Thế Tôn!

Và mỗi buổi sáng chiều khi vua Ba Tư Nặc dùng cơm, Hoàng tử làm như lời Phật dạy. Và mỗi khi nghe bài kệ trên, nhà vua bố thí cả ngàn đồng. Nhà vua tự hài lòng với lượng cơm giới hạn mỗi ngày. Sau một thời gian nhà vua trở nên thon ốm và rất vui tươi.

Một ngày khác, vua đến đảnh lễ Phật và bạch:

- Bạch Thế Tôn, bây giờ con rất sung sướng, con có thể tham dự cuộc săn bắn gấu rừng, ngựa rừng. Con từng giận hờn đứa cháu, nhưng sau đó con đã gả công chúa Vajirà cho nó, con tặng công chúa ngôi làng này để nàng có hồ tắm. Mối giận hờn tan biến và con thấy hạnh phúc. Ngày hôm kia, một viên ngọc quý, tài sản của Hoàng cung bị mất, nhưng rồi tìm lại được, vì thế con cảm thấy hạnh phúc. Muốn kết tình thân với đệ tử Phật, con đã có được một công nương trong hoàng tộc của Ngài về sống với hoàng tộc con, và vì thế con cũng hạnh phúc.

Phật dạy:

- Sức khỏe là hạnh phúc lớn nhất mà mọi người mong muốn. Bằng lòng với những gì hiện có là giàu có nhất. Trung tín là điều tốt nhất khi giao hảo. Nhưng không có hạnh phúc nào có thể so sánh với Niết bàn.

Ngài nói kệ:

(204) Không bệnh, lợi tối thượng,

Biết đủ, tiền tối thượng.

Thành tín đối với nhau,

Là bà con tối thượng.

Niết bàn, lạc tối thượng.

7. Sống Chân Chánh Là Tôn Kính Phật

Ðã nếm vị độc cư...

Câu chuyện này kể lại khi đức Thế Tôn ở Vệ Xá Ly (Vesali) liên quan đến một Thầy Tỳ kheo.

Khi nghe đức Phật tuyên bố:

- Này các Tỳ kheo, bốn tháng nữa ta sẽ vào Niết bàn.

Bảy trăm Thầy Tỳ kheo tràn đầy lo sợ. Các A la hán chứng nghiệm giáo lý vô thường, còn những vị chưa đắc Sơ quả thì không ngăn nổi nước mắt. Các Tỳ kheo, tụ tập thành từng nhóm nhỏ, và bàn tán, hỏi han:

- Chúng ta sẽ làm gì?

Lúc bấy giờ, có một Thầy Tỳ kheo tên Tissa nghĩ thầm: "Nếu quả thật bốn tháng nữa Thế Tôn vào Niết bàn, thì vì ta chưa thoát khỏi tham dục, ta phải đạt được quả A la hán trong khi Thế Tôn còn ở tại thế.” Lập tức, Thầy thúc liễm bốn oai nghi và sống riêng một mình không giao tiếp với các Thầy khác và không nói với ai lời nào. Các Tỳ kheo hỏi han:

- Này huynh Tissa, tại sao huynh làm như vậy?

Tuy nhiên, Tissa không lưu tâm đến lời lẽ ấy.

Các Tỳ kheo lặp lại câu chuyện cho đức Phật nghe:

- Bạch Thế Tôn, Tissa không có lòng tôn kính Ngài.

Ðức Phật gọi Thầy Tissa đến và hỏi:

- Tissa! Tại sao ông làm như thế?

Khi Tissa thuật lại động cơ đã tác động Thầy, đức Phật khen ngợi:

- Lành thay, Tissa!

Và Ngài bảo các Tỳ kheo:

- Các Tỳ kheo! Chỉ có người như Tissa mới thật sự tôn kính Ta. Dù cho mọi người tôn kính Ta với hương hoa, cũng không phải thật sự tôn kính.

Nhưng người nào thực hành chân lý tối thượng và giữ đúng luật nghi, người ấy mới thật sự tôn vinh Ta.

Ngài nói kệ:

(205) Ðã nếm vị độc cư,

Ðược hưởng vị nhàn tịnh,

Không sợ hãi, không ác,

Nếm được vị pháp hỷ.

8. Ðế Thích Săn Sóc Thế Tôn

Lành thay thấy Thánh nhân...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở tại làng Beluva, liên quan đến trời Ðế Thích.

Vào những ngày cuối đời, đức Phật bị bệnh kiết lỵ, nên rất đau đớn, trời Ðế Thích lo lắng nghĩ thầm: "Ta phải đi đến chỗ đức Phật và săn sóc Ngài trong cơn đau ốm.” Lập tức, trời Ðế Thích rời bỏ thân hình cao lớn đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và dùng hai tay xoa bóp chân Phật, Phật hỏi: - Ai đấy?

- Bạch Thế Tôn, con Ðế Thích.

- Vì sao ông đến đây?

- Con săn sóc Thế Tôn trong cơn đau.

- Này Ðế Thích! Ðối với chư thiên, mùi của phàm nhân hôi hám khó ngửi, dù cách xa một trăm dặm. Ông hãy rời khỏi nơi đây vì Ta đã có các Tỳ kheo săn sóc.

- Bạch Thế Tôn, con nghe được hương thơm đức hạnh của Ngài lan xa từ tám muôn bốn ngàn dặm. Con đến đây chỉ là muốn được săn sóc Ngài trong cơn đau.

Ðế Thích không cho ai mó tay đến thùng phân của đức Phật, chính tự mình đội nó lên đầu, và không chút tỏ vẻ nhờm gớm, như thể vua trời đang đội một bình đầy hương thơm. Cứ như vậy Ðế Thích săn sóc Thế Tôn, và chỉ rời khỏi chỗ khi Phật đã bớt đau.

Các Thầy Tỳ kheo bàn tán:

- Ôi! Thật lớn lao làm sao là lòng tôn kính của Ðế Thích đối với Thế Tôn! Thử nghĩ Ðế Thích đã rời cung trời lộng lẫy, để đến săn sóc Thế Tôn trong cơn đau như thế! Thử nghĩ, ông ấy đã đội thùng phân của Thế Tôn trên đầu như là đội bình hương, không tỏ vẻ nhờm gớm dù chỉ một nét nhích môi!

Nghe thế Phật dạy:

- Các ông nói gì? Không có gì lạ khi Ðế Thích, vua chư thiên đã tận tâm chăm sóc Ta. Bởi vì nhờ Ta, trời Ðế Thích này đã cởi bỏ lốt thân Ðế Thích già nua, chứng được quả Tu đà hoàn và nhận một thân Ðế Thích mới, trẻ trung. Ở thân trước, ông ấy đến viếng Ta với sự sợ hãi vì mình sắp chết, được dự báo bởi nhạc thần Càn thát bà. Khi ấy Ta ngồi trong động Indasala giữa chư thiên, Ta trấn an ông ta bằng bài kệ:

Hãy hỏi, Vasava

Muốn gì cứ nói ra

Ta sẵn sàng giải đáp.

Những gì ngươi hỏi ta. Sau đó, Ta thuyết pháp cho Ðế Thích nghe. Cuối cùng, có một trăm bốn mươi triệu thiên thần được Pháp nhãn. Ðế Thích chứng quả Tu đà hoàn ngay sau đó và đổi thân làm Ðế Thích hiện nay. Vì Ta đã cứu độ ông ấy nên không có gì lạ khi ông ấy bày tỏ lòng tôn kính Ta. Này các Tỳ kheo! Thật là hạnh phúc khi được sống gần gũi và chăm nom chư Phật, còn sống với người ngu chỉ đem lại đau khổ.

Phật nói kệ:

(206) Lành thay, thấy Thánh nhân,

Sống chung thường an lạc,

Không thấy những người ngu,

Thường thường được an lạc.

(207) Sống chung với người ngu,

Lâu dài bị lo buồn,

Khổ thay gần người ngu,

Như thường sống kẻ thù.

Vui thay, gần người trí

Như chung sống bà con.

Do vậy:

(208) Bậc hiền sĩ, Trí tuệ,

Bậc nghe nhiều, trì giới,

Bậc tự chế, Thánh nhân,

Hãy gần gũi thân cận,

Thiện nhân, trí giả ấy,

Như trăng theo đường sao.


Phẩm XVI: Hỷ Ái

1. Cha Mẹ Và Con

Bỏ mình theo thế tục...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến ba đệ tử.

Tại Xá Vệ, một gia đình nọ chỉ có một người con trai. Công tử là niềm vui và tình thương đối với cha mẹ. Một ngày kia, có vài vị Tỳ kheo được mời đến nhà thọ trai. Sau khi ăn xong chư Tỳ kheo nói lời hồi hướng. Chàng thanh niên nghe những câu kệ tụng bỗng ao ước trở thành Sa môn và lập tức xin cha mẹ xuất gia. Hai ông bà từ chối. Chàng trai nghĩ thầm: "Khi cha mẹ ta không để ý, ta sẽ trốn nhà đi tu.”

Mỗi khi ông cha đi đâu, ông bảo vợ trông chừng con trai:

- Hãy giữ nó cẩn thận.

Và khi người mẹ đi vắng, bà giao ông trông chừng. Ngày nọ, sau khi người cha rời khỏi nhà, bà mẹ thầm nghĩ: "Ta sẽ trông nom con ta chu đáo.” Bà ngồi chắn ngang cửa ra vào, hai chân chặn hai cánh cửa và bắt đầu dệt. Chàng trai nghĩ: "Ta sẽ lừa mẹ trốn đi", và chàng nói:

- Mẹ yêu dấu, nhấc chân lên một chút, con muốn đi ra ngoài.

Bà nhích chân và cậu đi ra. Cậu chạy như bay đến Tinh xá và xin phép các Tỳ kheo cho mình xuất gia. Các Tỳ kheo nhận lời, cho cậu gia nhập Tăng chúng.

Người cha về đến nhà, hỏi vợ:

- Con đâu rồi?

- Nó vừa mới đây.

Ông cha tìm khắp nơi, nghĩ: "Con ta có thể đi đâu?" Và khi không thấy con trai đâu, ông kết luận: "Chắc nó đã đến Tinh xá.” Ông cha đi đến Tinh xá, và thấy con trai đã khoác y vàng, ông khóc lóc than thở:

- Con ơi, sao con nhẫn tâm với cha vậy?

Nhưng sau đó, ông suy nghĩ: "Bây giờ con ta đã xuất gia, sao ta còn sống đời Cư sĩ làm gì?" Ông bèn xin xuất gia làm Sa môn.

Bà mẹ ở nhà bắt đầu sốt ruột: "Sao thằng con và ông già đi đâu lâu quá?” Tìm kiếm chán, thình lình bà chợt nhớ: "Chắc chắn họ đã đi vào Tinh xá và tu rồi.” Bà chạy đến Tinh xá, thấy hai cha con trở thành Sa môn, bà suy tính: "Họ đã xuất gia, mình còn sống ở thế gian này làm gì?" Và bà đến Tinh xá ni, xin xuất gia.

Nhưng dù cho cả ba đã từ bỏ thế gian và chấp nhận đời sống Tu sĩ, họ cũng không thể lìa xa nhau. Ngay ở tăng xá hay bên nữ tu viện, cả ba đều ngồi chung với nhau và nói chuyện với nhau cả ngày. Chư Tỳ kheo chê trách thái độ ấy và bạch lên đức Phật. Thế Tôn cho gọi cả ba và hỏi:

- Có phải các ngươi làm như thế, như thế?

Họ thưa vâng. Phật dạy:

- Vì sao các ngươi làm vậy? Ðó không phải thái độ của người xuất gia.

- Nhưng, bạch Thế Tôn, chúng con không thể sống xa nhau được.

- Từ khi đã xuất gia, thái độ như thế là không thích hợp. Chia lìa người thân hay bắt buộc phải gặp hoài người không thân, cả hai đều gây đau khổ. Vì thế, ta không nên chấp nhặt là thân hay không thân, dù đối với người hay là vật.

Phật nói kệ:

(209) Bỏ mình theo thế tục,

Người không tròn phận tu,

Bỏ đích theo lòng dục,

Ganh tị bậc chuyên tu

(210) Chớ gần gũi người yêu,

Trọn đời xa kẻ ghét.

Yêu không gặp là khổ,

Oán phải gặp cũng đau.

(211) Do vậy chớ yêu ai,

Ái biệt ly là ác,

Nhưng ai không yêu ghét,

Không thể có buộc ràng.

2. Phật An Ủi Người Phiền Muộn

Do ái sinh sầu ưu...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một đệ tử Cư sĩ.

Một tín đồ nọ mất đứa con trai, ông ta buồn đến nỗi mỗi ngày đều đi đến nơi hỏa táng than khóc khôn nguôi. Một buổi sáng sớm, đức Phật quan sát căn cơ chúng sanh, Ngài nhận thấy ông ta có khả năng chứng Thánh quả. Sáng hôm ấy, sau khi khất thực, Ngài mang theo một vị Tỳ kheo Thị giả đi đến trước nhà ông ta. Nghe tin đức Phật đến nhà, ông ta nghĩ thầm: "Chắc hẳn Thế Tôn muốn chúc sức khỏe theo phép lịch sự như thường lệ.” Ông ta mời Phật vào nhà, thỉnh ngồi, đảnh lễ Phật và kính cẩn lui ngồi một bên.

Phật hỏi liền:

- Thiện nam, vì sao ông buồn?

- Con trai mới mất nên con buồn.

- Này thiện nam, chớ ưu bi! Cái chết không dành riêng một nơi nào hoặc riêng cho ai, đó là quy luật chung cho tất cả chúng sanh trên thế gian. Không có ngũ uẩn nào thường tại. Vì thế không nên buồn rầu quá đáng, mà hãy có một cái nhìn hợp lý về cái chết, như người ta thường nói: "Các pháp sanh diệt phải chịu sanh diệt, các vật biến hoại phải chịu biến hoại.”

Cư sĩ hỏi:

- Bạch Thế Tôn, ai đã làm được như thế? Trong trường hợp nào? Xin Ngài dạy cho con!

Phật kể một chuyện quá khứ:

Như rắn lột bỏ da,

Người đi về cõi khác

Bỏ lại sau thân xác

Thân thể đã chết rồi

Ðâu còn biết buồn vui

Trong lúc ngọn lửa bốc

Thiêu rụi thân mình đó

Hắn đâu nghe tiếng khóc

Tiếng than của bà con

Vì thế ta đâu còn

Khổ buồn vì hắn chết

Hắn đã đi, và đến

Tới nơi hắn phải đi.

Sau khi đức Phật kể lại đầy đủ chi tiết chuyện tiền thân Uraga (trong phẩm năm), Ngài nói tiếp: "Thời quá khứ, người trí không hành động như ngươi khi con trai chết. Ngươi đã bỏ hết mọi việc, không thèm ăn uống, mà phí thời giờ khóc than. Người trí thì không như vậy. Trái lại, họ chuyên chú quan sát cái chết, không theo cơn phiền muộn, ăn uống như thường, làm mọi công việc hàng ngày. Này, đừng buồn phiền vì ý nghĩ đứa con trai thân yêu của mình đã chết. Có ưu bi sợ hãi chỉ vì ta thương một kẻ nào đó.

Phật nói kệ:

(212) Do ái sinh sầu ưu,

Do ái sinh sợ hãi,

Ai thoát khỏi tham ái,

Không sầu, đâu sợ hãi.

3. Phật An Ủi Kẻ Ưu Sầu

Ái luyến sinh sầu ưu...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở Kỳ Viên, liên quan đến nữ thí chủ Tỳ Xá Khư.

Bà Tỳ Xá Khư thường nhờ cậy cô cháu gái tên Dattà, chăm sóc các Tỳ kheo khi bà vắng nhà. Ít lâu sau Dattà chết. Bà Tỳ Xá Khư hỏa táng thi hài cháu gái xong, quá buồn khổ bà đi đến chỗ Phật đảnh lễ và lui ngồi một bên. Phật hỏi:

- Này Tỳ Xá Khư! Có việc gì ngươi ngồi đây đầy vẻ buồn khổ, rơi nước mắt khóc than?

Tỳ Xá Khư kể chuyện:

- Bạch Thế Tôn, đứa cháu gái thân yêu rất thật thà và trung tín của con vừa qua đời. Con sẽ không còn thấy lại nó.

- Này Tỳ Xá Khư, có bao nhiêu cư dân trong thành Xá Vệ này?

- Bạch Thế Tôn, con có nghe Ngài nói khoảng bảy mươi triệu.

- Giả sử tất cả những người này đều là người thân yêu của ngươi như Dattà, ngươi có thích không?

- Thưa vâng, thích.

- Có bao nhiêu người ở Xá Vệ chết trong một ngày?

- Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

- Trong trường hợp đó, chắc chắn ngươi sẽ không đủ thời giờ than khóc, ngày đêm ngươi sẽ chẳng làm gì ngoài việc khóc lóc, kể lể.

- Thưa Thế Tôn, đúng vậy. Con đã hiểu.

- Tốt lắm, đừng ưu sầu. Ưu sầu hay sợ hãi chỉ khởi lên từ ái luyến.

Ngài nói kệ:

(213) Yêu thương, ngục buồn phiền,

Ái luyến, xiềng sợ hãi.

Người lòng như hư không

Ngục xiềng nào khóa mãi?

4. Các Hoàng Tử Lệ Xá Và Kỹ Nữ

Hỷ ái sinh sầu ưu...

Câu chuyện này được kể lại khi đức Phật ở Tinh xá gần Vệ Xá Ly (Vesali), liên hệ đến các hoàng thân dòng Lệ Xá.

Vào một ngày hội, các Hoàng tử Lệ Xá trang điểm đỏm dáng với đủ kiểu đồ trang sức, ra khỏi thành phố đến chỗ hội hè. Khi Phật đi vào thành khất thực, gặp họ trên đường, Ngài chỉ cho các Tỳ kheo:

- Này các Tỳ kheo! Hãy nhìn theo các Hoàng tử Lệ Xá! Ai chưa từng thấy chư thiên cõi trời Ba mươi ba, hãy nhìn những Hoàng tử này thì biết.

Trên đường đến chỗ lễ hội, các Hoàng tử gặp một kỹ nữ, và mang cô theo. Trước người đẹp, họ ganh tài nhau, đi đến đánh nhau gây thương tích, máu chảy dường thành sông. Dân chúng phải xúm khiêng các công tử về Hoàng cung.

Ðức Phật và chư Tăng thọ trai xong, trở về Tinh xá, bắt gặp cảnh tượng đó. Các Tỳ kheo bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Hồi sáng sớm, các Hoàng tử Lệ Xá rời thành lộng lẫy như chư thiên, vậy mà bây giờ chỉ vì một cô gái họ trở nên thảm hại thế đấy.

Phật dạy:

- Này các Tỳ kheo! Ở đâu có tham dục, ở đó có buồn khổ, lo âu.

Ngài nói kệ:

(214) Hỷ ái sinh sầu ưu,

Hỷ ái sinh sợ hãi,

Ai giải thoát hỷ ái,

Không sầu, đâu sợ hãi?

5. Cô Nương Tử Kim

Tham ái sinh sầu muộn...

Câu chuyện được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Anitthigandha Kumàra.

Kumara từ cõi trời Phạm thiên tái sanh xuống Xá Vệ, trong một gia đình quyền quý. Từ lúc chào đời, chàng không thích gần phụ nữ, nếu có bà vú nào ẵm bồng chàng khóc thét lên, muốn cho bú bà vú phải kê một cái gối trước ngực mình. Khi đến tuổi trưởng thành, song thân chàng bảo:

- Này con! Ba má muốn cưới vợ cho con.

Chàng trả lời:

- Con không cần vợ.

Sau đó cha mẹ hỏi nhiều lần chàng đều từ chối. Cuối cùng, chàng cho mời năm trăm người thợ kim hoàn đến, trao cho họ ngàn lượng vàng khối, bảo họ đúc một tượng thiếu nữ thật xinh đẹp.

Một lần nữa, khi song thân chàng bảo:

- Này con, nếu con không chịu kết hôn, dòng dõi nhà ta sẽ tuyệt tự. Hãy để cha mẹ cưới vợ cho con.

Chàng chỉ pho tượng vàng:

- Thưa, nếu cha mẹ tìm được cho con một cô gái y như pho tượng này, con sẽ vâng lời.

Song thân chàng mời một vài người Bà la môn đến nói:

- Con trai chúng tôi đáng giá ngàn vàng, cần có một người tương xứng với nó. Hãy mang pho tượng này đi theo, và khi tìm được cô gái nào giống như thế thì đưa về.

Các Bà la môn nhận lời, họ khởi sự đi tìm, từ thành này đến thành kia, cho tới khi đến thành Sagala thuộc vương quốc Madda. Trong thành này có một thiếu nữ độ tuổi trăng tròn rất xinh đẹp, cha mẹ nàng để nàng ở trên tầng lầu thứ bảy. Các Thầy Bà la môn đặt pho tượng vàng bên đường đi đến hồ tắm, và ngồi tại đó nghĩ thầm: "Nếu có thiếu nữ đẹp như pho tượng này, dân cư ở đây trông thấy sẽ bảo nhau, pho tượng này đẹp như con gái nhà nọ nhà kia.”

Bấy giờ, bà vú của cô gái đi đến hồ tắm, thấy pho tượng tưởng là cô chủ mình, bèn đi đến rầy rà:

- Cô hư lắm nhé! Tôi vừa tắm cho cô xong, ra khỏi nhà là cô đã đến đây trước tôi!

Vừa nói vừa đập nhẹ pho tượng, bà bỗng thấy mình chạm phải cái gì đó cứng ngắt, bà lẩm bẩm:

- Tôi tưởng đây là cô tiểu chủ, sao lại thế này?

Các Bà la môn thấy thế bèn hỏi:

- Này bà, cô chủ của bà có giống bức tượng này không?

- Cô chủ tôi hả? Tượng này không bằng một góc!

- Ðược rồi, hãy đưa chúng tôi đến gặp. Bà vú dẫn các Bà la môn về nhà, thuật lại câu chuyện cho cha mẹ cô. Họ tiếp đón các Thầy nồng hậu và cho cô gái xuống đứng gần bức tượng. Cô xinh đẹp đến nỗi lu mờ cả pho tượng. Các Bà la môn trao pho tượng cho cha mẹ cô, được phép dẫn cô đi, đồng thời liền báo tin cho cha mẹ Kumara. Họ rất vui mừng, ra lệnh đón cô lập tức, kèm theo nhiều lễ vật.

Khi Kumara nghe tin có một thiếu nữ đẹp hơn cả tượng vàng, nỗi ước muốn dâng lên, chàng mong mau được gặp cô gái. Cô gái lên xe đi, nhưng cô quá đỗi mảnh mai, đoạn đường dằn xóc làm cô ngã bệnh và chết. Còn Kumara cứ hỏi chừng:

- Nàng đến chưa? Ðến chưa?

Lòng khao khát chờ đợi của chàng biểu lộ quá mãnh liệt khiến họ không báo tin ngay, cứ nay hứa mai hẹn. Sau đó họ mới nói sự thật, chàng kêu lên:

- Trời ơi! Ta đã mất đi người vợ xinh đẹp!

Nỗi buồn rầu đè nặng lấy chàng như cả tảng núi đá.

Ðức Phật thấy chàng có khả năng chứng quả, nên trên đường khất thực, Ngài dừng lại trước cửa nhà Kumara. Song thân chàng mời Phật vào nhà, cúng dường trọng hậu. Thọ trai xong, Phật hỏi:

- Còn Kumara đâu?

- Bạch Thế Tôn, nó chẳng chịu ăn uống, cứ ở lỳ trong phòng.

- Hãy gọi ra đây.

Kumara đi ra, đảnh lễ Phật và lui ngồi một bên.

Phật bảo:

- Trông con có vẻ thảm sầu quá!

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn, một người vợ xinh đẹp chưa cưới của con đã chết trên xe hoa, tin ấy làm con buồn đến mức không thể ăn được gì.

- Nhưng con có biết nguyên nhân nỗi khổ ấy không?

- Bạch Thế Tôn, không.

- Này, Kumara! Vì ái sinh sầu muộn, sầu muộn và sợ hãi phát sinh từ ái.

Ngài nói kệ:

(215) Dục ái sinh sầu ưu,

Dục ái sinh sợ hãi,

Ai thoát khỏi dục ái,

Không sầu, đâu sợ hãi.

Nghe xong, Kumàra chứng quả Tu đà hoàn.

6. Ðừng Ðể Tâm Vào Của Cải Thế Gian

Tham ái sinh sầu ưu...

Câu chuyện này được đức Phật nói đến khi Ngài ở Kỳ Viên, liên quan tới một người Bà la môn.

Một người Bà la môn tà kiến ngày đi dọn cỏ ruộng bên bờ sông. Ðức Phật nhận thấy ông ta có khả năng chứng quả, bèn đi đến chỗ ông làm ruộng. Bà la môn, mặc dù thấy Phật, không hề tỏ dấu cung kính, chỉ im lặng, Phật mở lời:

- Này Bà la môn! Ông đang làm gì thế?

- Tôi đang dọn đất, Cồ Đàm!

Phật không hỏi thêm, đi qua. Ngày hôm sau, ông đi cày. Phật cũng đến hỏi:

- Bà la môn, ông đang làm gì đấy?

- Tôi đang cày ruộng, Cồ Đàm!

Phật nghe xong, tiếp tục đi qua. Mỗi ngày, Ngài đều đến chỗ Bà la môn và hỏi như thế. Tùy mỗi lúc, Bà la môn trả lời:

- Tôi đang gieo mạ, tôi đang nhổ cỏ, tôi đang canh nước..

Phật cũng lại đi. Một ngày nọ, Bà la môn nói với Phật:

- Cồ Đàm, ông đã đến đây từ khi tôi mới dọn đất, khi nào lúa chín tôi sẽ chia cho ông. Tôi không muốn ăn một mình. Từ đây ông là bạn của tôi.

Thời gian trôi qua, lúa chín. Bà la môn tự nhủ: "Lúa đã chín, ngày mai ta đi kêu thợ gặt.” Và ông chuẩn bị gặt hái. Nhưng đêm đó một trận mưa bão khốc liệt nổi lên làm tan nát cả ruộng, cánh đồng trơ trụi như được gặt sạch. Tuy vậy, đức Phật đã dự biết trước vụ gặt không thành. Sáng sớm hôm sau, Bà la môn nhủ thầm: "Ta sẽ đi thăm ruộng.” Khi đến nơi thấy cánh đồng bị quét sạch, ông đau đớn nghĩ thầm: "Thầy Cồ Đàm đã đến thăm cánh đồng này từ khi ta mới dọn đất, ta có hứa sẽ chia lúa cho ông khi mùa gặt đến. Nhưng ước mong của ta không thành tựu.” Ông buồn quá nên không ăn uống gì và nằm dài trên giường.

Bấy giờ, đức Phật dừng chân trước cửa nhà ông. Nghe tin, ông bảo:

- Hãy mời ông bạn của ta vào nhà và mời ngồi!

Phật ngồi xong, hỏi:

- Người Bà la môn ở đâu?

- Thưa đang nằm trong phòng.

- Hãy mời ông ra.

Ông Bà la môn ra ngồi một bên. Phật hỏi:

- Có chuyện gì thế?

- Thưa Cồ Đàm, ông đã đến thăm tôi từ ngày tôi mới dỡ miếng ruộng, và tôi có hứa chia lúa cho ông. Nhưng hy vọng của tôi không thành, nên tôi buồn khổ, không còn muốn ăn uống gì.

- Nhưng này! Ông có biết nguyên nhân nào khiến ông buồn khổ không?

- Thưa, không. Nhưng Ngài biết.

Phật xác nhận:

- Ðúng thế! Này Bà la môn, khi nào có ước mong sẽ có sợ hãi và sầu khổ.

Ngài nói kệ:

(216) Tham ái sinh sầu ưu,

Tham ái sinh sợ hãi,

Ai thoát khỏi tham ái

Không sầu, đâu sợ hãi.

7. Ngài Ca Diếp Ðược Cúng Bánh

Ðủ giới đức, chánh kiến...

Câu chuyện được kể lại thời gian đức Phật ở tại Trúc Lâm, khi Ngài đang trên đường đi, liên quan đến năm mươi thanh niên.

Một hôm vào dịp lễ hội, đức Thế Tôn cùng với tám mươi vị Trưởng lão thượng thủ và năm trăm Tỳ kheo tùy tùng vào thành Vương Xá khất thực. Trên đường, Ngài gặp năm trăm thanh niên vai mang túi bánh đi đến chỗ hội. Khi gặp Phật, họ chỉ khẽ chào và tiếp tục đi, không hề mời một vị Tỳ kheo nào ăn bánh.

Họ đi rồi, Phật hỏi các Tỳ kheo:

- Các ông có muốn ăn bánh không?

- Bạch Thế Tôn, bánh ấy ở đâu?

- Các ông có thấy các thanh niên vừa đi ngang, vai mang túi bánh chứ?

- Nhưng bạch Thế Tôn, họ chẳng cúng cho ai chiếc bánh nào?

- Này các Tỳ kheo, mặc dù họ không mời Ta hay các ông ăn bánh, nhưng có một Tỳ kheo đi phía sau sẽ được cúng số bánh ấy, các ông sẽ được ăn bánh trước khi đi.

Ðức Thế Tôn không hề nghĩ xấu hoặc ghét ai nên Ngài nói như thế. Và Ngài ngồi dưới một cội cây cùng các Tỳ kheo.

Khi các thanh niên thấy Tôn giả Ca Diếp đi sau, lập tức sanh lòng kính mến, nỗi vui sướng tràn ngập toàn thân khi họ vừa thấy Tôn giả. Họ để giỏ bánh xuống, đảnh lễ Tôn giả, xong dâng hết bánh cho Ngài:

- Xin mời Ngài dùng bánh.

Tôn giả nói:

- Ðức Thế Tôn và chư Tăng đang ngồi dưới gốc cây đằng kia. Hãy đem bánh đến cúng dường.

- Thưa vâng, bạch Tôn giả!

Họ đi đến Phật và chư Tăng dâng bánh. Ðến lượt Tôn giả, họ dâng bánh rồi đứng chờ một bên, đợi Ngài dùng xong, đưa nước rửa tay.

Các Tỳ kheo đều mích lòng, nói:

- Mấy thanh niên này thiên vị khi cúng dường, họ chẳng dâng cúng lên Thế Tôn hoặc chư vị Trưởng lão thượng thủ, mà chỉ cúng cho Tôn giả Ðại Ca Diếp.

- Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo như Ðại Ca Diếp rất được trời người kính mến, đối với vị như vậy họ rất hân hạnh được dâng cúng tứ sự.

Và Ngài nói kệ:

(217) Ðủ giới đức, chánh kiến,

Trú pháp, chứng chân lý,

Tự làm công việc mình

Ðược quần chúng ái kính.

8. Tôn Giả Chứng Quả A Na Hàm

Ước vọng pháp ly ngôn...

Câu chuyện này xảy ra khi Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một vị Trưởng lão đắc quả A na hàm.

Một ngày kia, các đệ tử của vị Trưởng lão hỏi Thầy mình như sau:

- Bạch Thầy, Thầy đã đạt Thánh quả chưa?

Vị Trưởng lão nghĩ: "Ngay cả hàng tục gia Cư sĩ cũng có thể chứng Tam quả. Ðể đợi khi ta chứng Tứ quả rồi sẽ nói với chúng.” Và vì ngượng, Thầy không nói chi. Không bao lâu, Thầy viên tịch và tái sanh lên cõi trời Ngũ Na hàm. Các đệ tử của Thầy khóc lóc than thở, đi đến chỗ Thế Tôn, cúi lạy lui ngồi một bên, cũng còn than khóc. Phật hỏi:

- Vì sao các ông khóc?

- Thầy chúng con đã mất, bạch Thế Tôn!

- Không sao cả, các ông chớ buồn, đó là luật vô thường.

- Thưa vâng, chúng con biết điều ấy. Nhưng chúng con đã hỏi người chứng quả hay chưa, mà người mất, không trả lời chúng con. Vì thế chúng con buồn.

- Này các Tỳ kheo, các ông chớ lo lắng, Thầy các ông đã chứng Tam quả và nghĩ rằng: "Ngay cả hàng tục gia Cư sĩ cũng có thể chứng Tam quả. Khi nào chứng Tứ quả, ta sẽ nói với chúng.” Vì ngượng nên ông ấy không nói. Khi mất, ông ấy tái sinh vào cõi Ngũ Na hàm thiên. Các ông hãy vui mừng, Thầy các ông đã thoát ngũ dục.

Phật nói kệ:

(218) Ước vọng pháp ly ngôn (Niết bàn)

Ý cảm xúc thượng quả,

Tâm thoát ly các dục,

Xứng gọi bậc Thượng Lưu.

9. Nandiya Ðược Sanh Thiên

Khách lâu ngày ly hương...

Câu chuyện này được kể lại khi Phật ở tại Lộc Uyển (Chư thiên đọa xứ) liên quan đến Nandiya.

Tại Ba La Nại, có một thanh niên tên Nandiya, con của một gia đình Phật tử thuần thành. Nandiya có nhiều đức tính tốt nên song thân chàng để chàng làm Thị giả trung tín của chư Tăng. Ðến tuổi trưởng thành, song thân chàng muốn chàng kết hôn với Revatì, bà con cô cậu ở nhà đối diện. Nhưng Revatì không tin Phật nên chẳng biết cúng dường, vì thế Nandiya không muốn kết hôn.

Mẹ Nandiya bảo Revatì:

- Này con, hãy quét dọn nhà, lau chùi sạch sẽ chỗ các Sa môn sẽ ngồi, chuẩn bị chỗ ngồi, để đồ gác chân vào đúng chỗ cho các Ngài. Khi các Ngài đến, đỡ lấy bát, mời ngồi, dâng nước lọc sạch. Khi các Ngài thọ trai xong, hãy rửa bát. Nếu làm được như vậy con sẽ chiếm được tình cảm của nó.

Revatì làm y lời, và mẹ của Nandiya bảo chàng:

- Bây giờ Revatì đã thuần hậu.

Nandiya đồng ý, họ làm lễ thành hôn. Nandiya bảo vợ:

- Nếu em chăm sóc các vị Tỳ kheo chu đáo, và chăm sóc cha mẹ cũng thế, em có đặc quyền ở trong nhà này, em nên lưu ý.

- Thưa vâng.

Revatì hứa làm theo lời chồng. Trong vài hôm, nàng học cách đối xử như một Phật tử thuần thành. Nàng luôn vâng lời chồng, và sau đó sanh hai con trai. Khi cha mẹ chồng mất nàng trở thành nữ chủ và Nandiya được hưởng gia sản trở nên giàu có. Chàng cúng dường Tăng chúng thường xuyên, và cho để vật thực ở cửa, đều đặn cung cấp cho người nghèo và khách lữ hành. Ít lâu sau, nghe Phật thuyết pháp, chàng bèn khởi công cất một Tinh xá tứ giác có bốn phòng, tại đại Tinh xá ở Lộc Uyển. Sau khi sắm đủ giường ghế, chàng dâng cúng cho chư Tăng, thiết lễ ngọ trai và xối nước cúng dâng vào tay mặt Thế Tôn. Khi dòng nước vừa xối vào tay đức Phật, trên tầng trời Ba mươi ba mọc lên một tòa lâu đài lộng lẫy rộng mười hai dặm, cao một trăm dặm, làm bằng thất bảo với vô số thiên nữ trong ấy.

Khi Tôn giả Ðại Mục Liên du hành lên cõi trời, Ngài dừng lại trước cung điện này và hỏi:

- Ai là chủ nhân đầy phước đức của cung điện với vô số thiên nữ này?

Chư thiên thuật lại công đức chủ nhân:

- Thưa Tôn giả, Ngài Nandiya, con trai của một gia chủ đã xây cất Tinh xá cúng dường đức Phật, do công đức ấy, cung điện này hiện ra.

Các thiên nữ bạch với Tôn giả:

- Thưa Tôn giả, chúng tôi là nô lệ của Nandiya. Mặc dù được sinh ở đây, chúng tôi rất buồn vì không gặp chủ nhân. Xin Ngài nói với Nandiya lên đây, cởi bỏ thân người làm thân trời, giống như đập vỡ bình gốm để lấy bình vàng.

Tôn giả trở về bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, có đúng là người nào hiện tại tạo nhiều phước lành ở cõi người sẽ gặt nhiều vinh dự ở cõi trời.

- Này Mục Kiền Liên, chính mắt ông thấy những thành quả trên cõi trời Ba mươi ba mà Nandiya đạt được, sao ông lại hỏi Ta câu ấy?

- Như vậy là đúng sự thật, bạch Thế Tôn.

- Này Mục Kiền Liên, sao ông nói vậy? Nếu có người con hay anh em đi vắng lâu nay trở về, những người đứng ở cổng làng trông thấy vội vã về báo tin cho thân quyến. Họ sẽ vui mừng hân hoan, mau mau đi đón nói: "Con thân yêu, thế là con đã về.” Cũng thế, khi thiện nam hay thiện nữ đã tạo nhiều công đức ở đây, rời bỏ cõi đời này sang cõi khác, chư thiên mang nhiều phẩm vật tranh nhau đi đón và nói: "Hãy để tôi đến trước! Tôi đến trước.”

Và Phật nói kệ:

(219) Khách lâu ngày ly hương,

An toàn từ xa về,

Bà con cùng thân hữu

Hân hoan đón chào mừng.

(220) Cũng vậy các phước nghiệp,

Ðón chào người làm lành,

Ðời này đến đời kia,

Như thân nhân đón chào.

Trong chú giải Vimàna - vatthu kể tiếp rằng sau khi Nandiya sanh thiên, Revatì thôi không cúng dường chúng Tăng, mắng chửi Tỳ kheo và bị ném vào Địa ngục lúc còn sống.

(Hết quyển 2)