Thiền Trong Đời Thường

Thế k 21 được xem là thế k ca khoa hc, và nn kinh tế tri thc là mt mt xích chiến lược trong s phát trin bn vng. Bng tri thc, con người to ra nhng tin nghi cho đời sng, kéo dài tui th và thâïm chí tìm cách cướp quyn To hoá. Bằng tri thc, con người đã khám phá ra nhiều bí mt ca t nhiên và vũ tr, đã khai thác những tài nguyên nơi đại dương bao la và trong lòng đất bí n; đã tiến mt bước dài trong vic quan sát các vùng thiên hà cách trái đất hàng nghìn năm ánh sáng.

Tuy nhiên, những bước tiến đột phá ca khoa hc và s phát trin tt bc ca nn văn minh nhân loại, đến nay vn không th tháo g nhng bế tc tinh thn và tình cm cho con người, không th dit tr tn căn nguyên của ti ác, và nht là không th giúp con người tiếp cn chân lý. S đối đầu v tư tưởng và quân s do ý thc h, đã chấm dt vào thp niên cui cùng ca thế k trước, tưởng m ra cho nhân loi con đường thênh thang dn đến hòa bình phn vinh, tưởng là khúc do đầu ca bn giao hưởng hnh phúc và hy vọng. Nhưng thật s không phi thế.

Thiền Trong Đời Thường

Thích Thông Hu

Xin cảm ơn đạo hữu Bùi Hữu Huy đã gởi những bài viết này cho trang nhà, với sự đồng ý và duyệt qua bởi tác giả. BTTDTKVN

MỤC LC

- Lời nói đầu

- Chương một: Thin và s sng

I- Nội dung tu Thin trong cuc sng.

II- Thiền th hin vào đời sng

- Chương hai: Con đường thin tp

I- Ý nghĩa thin tp

II- Nội dung thin tp

- Chương ba: Chứng nghim Thin.

I- Chứng nghim Thin là kết qu ca trc giác

II- Trực tiếp th nhp vào thc ti sng động

III- Sống hn nhiên và tùy duyên hóa độ.

IV- Giác ngộ và gii thoát.

- Chương bốn: Thin trong đời thường.

I- Thiền trong nhng hoàn cnh thun nghch

II- Sống thin

- Chương năm: Thuần nht và đa thù

I- Dẫn nhp

II- Khả tính bt nh ca thun nht và đa thù

III- Áp dụng thc tế

IV- Kết lun

- Chương sáu: Khối nghi và thut khai tâm

I- Dẫn nhp

II- Ý nghĩa và mc đích

III- Một s điều kin h tr

IV- Những câu chuyn thin minh ha

- Chương bảy: Ðn ng

I- Một vài ng nhn thường có

II- Tinh thần đốn ng

III- Ðốn ng tim tu

- Kết lun

LỜI NÓI ÐU

Thế k 21 được xem là thế k ca khoa hc, và nn kinh tế tri thc là mt mt xích chiến lược trong s phát trin bn vng. Bng tri thc, con người to ra nhng tin nghi cho đời sng, kéo dài tui th và thâïm chí tìm cách cướp quyn To hoá. Bằng tri thc, con người đã khám phá ra nhiều bí mt ca t nhiên và vũ tr, đã khai thác những tài nguyên nơi đại dương bao la và trong lòng đất bí n; đã tiến mt bước dài trong vic quan sát các vùng thiên hà cách trái đất hàng nghìn năm ánh sáng.

Tuy nhiên, những bước tiến đột phá ca khoa hc và s phát trin tt bc ca nn văn minh nhân loại, đến nay vn không th tháo g nhng bế tc tinh thn và tình cm cho con người, không th dit tr tn căn nguyên của ti ác, và nht là không th giúp con người tiếp cn chân lý. S đối đầu v tư tưởng và quân s do ý thc h, đã chấm dt vào thp niên cui cùng ca thế k trước, tưởng m ra cho nhân loi con đường thênh thang dn đến hòa bình phn vinh, tưởng là khúc do đầu ca bn giao hưởng hnh phúc và hy vọng. Nhưng thật s không phi thế. Hành tinh xanh ca chúng ta vn còn b đe dọa bi bo lc, khng b và xung đột khu vc, có th biến thành ngòi la chiến tranh bt k lúc nào. Nhng vn nn v bùng n dân s, ngun tài nguyên thiên nhiên cn kit, môi trường ô nhim nghiêm trng, thiên tai bnh ha ngày càng phc tp..., tt c đều là nhng thách thc ln mang tính quy mô toàn cu.

Về mt xã hi, s khng l ca nhng lung thông tin cp nht qua mng internet, nhng trang web hoc din đàn (forum) cá nhân dễ dàng m ra nh các phn mm biếu không, càng khiến mi người thy rõ mt trái ca li sng hưởng th, được khoác lên nhng hình thc hoa m. Cũng vì choáng ngp thông tin, am hiu thi s, cng thêm cuc sng hi h tranh đua, nên con người d b căng thẳng thn kinh tâm lý. Thut ng chuyên môn gi là Stress. Biu hin ca Stress là thay đổi tính tình, d cáu gt bc bi hoc tr nên chán chường, mt mi. Dn dn ý thc gim linh hot, nhn thc ri lon, nh hưởng nng đến tâm thc và cui cùng là đột t.

Ðầu năm 2002, Tiến sĩ Wilcox thuc Ði hc Harvard Hoa K đã báo cáo trong một nghiên cu v tui th, t l người dân trên 100 tui cao nht thế gii là qun đảo Okinawa Nht Bn; đặc bit là s người mc các bnh tim mạch, ung thư và đột qy thp nht. Ông kết lun rng, nguyên nhân do dân bn x s dng nhiu rau qu và cá làm thc phm, vn động nhiu và có tinh thn lc quan yêu đời. Ðiu ny phù hp vi hướng đi mới ca các nhà y hc trong lĩnh vc điều tr và d phòng, chủ trương bệnh tt là do mt cân bng gia các dòng năng lực sng ca cơ thể. Ý tưởng ny đặt căn bản trên Sinh lc lun, mt quan điểm triết hc cho rng “năng lực sng” ca con người quyết định sc kho và s sng. Vì thế, khác vi y hc thường quy quan tâm đến nhng nguyên nhân gây bnh t bên ngoài, các nhà nghiên cu ngày nay chú trng vic khôi phc s cân bng t bên trong, nghĩa là phát huy kh năng tự điều tr cho chính mình. Trong đó, Thiền được xem là mt phương tiện điều tr hu hiu nhất.

Quyển sách ny không nói v Thin như một phương thuốc cha tr hay phòng bnh, vì mc đích tối hu ca hành gi tu Thin là Giác ng và Gii thoát. Tuy nhiên, vì Pht pháp và thế gian pháp không th tách ri, nên thin sinh không xa ri thế gian tìm cầu Phật pháp, cũng không trn tránh thế gian hưởng hnh phúc riêng mình. Thin trong đời thường là s hòa hp nhp nhàng gia mt khi óc minh triết và mt trái tim nhân hu, nghĩa là hòa quyn gia trí tu và t bi. Con đường thin tp là chánh nim tnh giác, chứng nghim vào thc ti sng động. Khi tâm an định, hành gi có s trm tĩnh sáng sut thích nghi vi mi hoàn cnh thun nghch, gii quyết mi vn đề mt cách tt đẹp nht. Mt mt, hành gi làm tròn tracùh nhim đối vi gia đình và cộng đồng, mt mt dc toàn lc vào vic ln ca đời mình, là nhn ra và hng sng vi t tánh bn lai. Ch có th tánh thanh tnh y mi vĩnh vin thường còn, mi là hnh phúc đích thực, và luôn lung linh ta sáng trong s biến động muôn màu muôn v ca cuc sống. Bằng nhng bước chân t do và vong ngã, hành gi nhp vào dòng sng luân lưu, thực hin li ích cho mình và nhiêu ích cho mi người mi vt. Có th nói, tinh thn Thin tông là sng vi bn tâm thanh tnh trong cuc sng đời thường, là đóng góp công sức mình vào hạnh phúc chung ca cng đồng nhân loi.

Khoa học và văn minh càng phát triển, thế gii càng tr nên nh bé, con người càng tùy thuc vào nhau mt cách sâu sc và toàn din. Vic xây dng mt thế gii hòa bình thnh vượng không phi trách nhim của riêng mt t chc hay quc gia nào, mà cn có s hp tác cht ch ca toàn th câng đồng; trong đó, vai trò của cá th trong đời sng tp th là yếu t quan trng và quyết định. Ý thc vai trò y, nhng người con Pht chúng ta thy trách nhim ca mình vô cùng lớn lao và cao quý. Cho nên, xin hãy thông cm nhau bng trái tim trong sáng và t bi để chung tay tnh hoá cuc đời. Khi tt c mi người đều sng theo tinh thn Ðo Pht nhp thế, thì cõi Ta bà s tr thành Tnh độ nhân gian.

Những điều bình thường nht li tim n ý nghĩa sâu mu uyên áo nht, khó din đạt bng ngôn ng thế gian. Chúng tôi không dám có tham vng gi đến quý độc gi mt thông điệp hòa bình, ch mong nhng điều trình bày sau đây đem lại vài li lc nh trong phm vi rng ln ca cuộc sng thường nht. Hy vng quý v tùy h và vui lòng ch bo nhng thiếu sót trong quyn sách ny. Trong tinh thn cu tiến, chúng tôi xin chân thành cm t mi đóng góp xây dựng ca các bc Tôn túc cao minh và tt c chư vị. Nếu quyn sách ny có được chút ít công đức nào, công đức y đều thuc v pháp gii chúng sanh.

Thiền tht Viên Giác

Nha Trang, mùa đông Nhâm Ngọ 2002 - PL. 2546

Thích Thông Huệ


ường ch.1" />

Chương 1. THIN VÀ S SNG

Chúng ta có thể dùng văn tự ngôn ng để din t hay định nghĩa Thin?

Nếu Thiền có th din t bng ngôn t, lúc y không còn là Thin na. Ðc Pht thuyết pháp ròng rã 49 năm, cũng không nói được đến ch ny. Vì không th tiếp cn Thin bng ngôn ng, nên nhiu v Thin sư ngày xưa, khi khai thị cho môn đệ, ch dùng nhng hành động k quc hay li nói vô nghĩa. T đó, Thiền mang mt v bí him, thm chí quái d đối vi nhng người mun nhn ra l tht bng tri thc và kiến thc.

Thật s, ta không th gii hn Thin trong mt khuôn kh, mt hình thc, cũng không th lý gii bng tư duy suy luận. Thin không th tách ri khi cuc sng, không th tìm thy mt nơi xa xôi bí mật nào đó. Bởi vì, Thin là Chân lý sng. S sng ch tươi nhuận luân lưu trong phút giây hiện ti, nên mun trc nhn và thm thu Thin, chúng ta phi t mình bơi lội trong dòng sng đang tuôn trào trôi chảy.

Như thế, Thin có mt trong mi sinh hot đời thường. Nếu hiu Thin là trn chy s sng, là xa lánh cuộc đời, thì vô tình ta đã đánh mất nghĩa v thiêng liêng ca mình đối vi xã hi; và lúc y, ta đã biến Thin thành mnh đất tâm hoang di khô cn.

I- NỘI DUNG TU THIN TRONG CUC SNG

1- Chánh niệm

Kinh Niệm x, mt Thin kinh thuc Trung b tp I, chỉ dạy nhng điều căn bản v Thin Vipassana thuc truyn thng Thin Nguyên thy. Ni dung Thin Vipassana là Chánh nim trong tng giây phút ca đời sng, qua 4 lãnh vc là Thân, th, tâm, pháp. Hành gi luôn đặt tâm vào gi phút hin ti, tnh giác biết rõ mọi vn hành biến đổi ca thân tâm bên trong và cnh vt bên ngoài. Các pháp din biến như thế nào, hành gi biết tường tn như thế đó, mà không có một nim phân bit chia ch xen vào. Ðc Pht gi đó là Tuệ tri, s biết v các pháp đúng như tự thân ca chúng.

Con người thường thích tìm hiu nhng điều cao siêu, xa ri thc tế, trong khi cuc sng luôn dàn tri trước mt ta vi tt c nhim mu. Do chúng ta mong mi tìm cu chân lý đâu đó xa xôi, nên không thể thy chân lý rt đơn giản và ngay mnh đất mình đang đứng. Và ri, hoc chúng ta cm thy mình bt lc khi mun vươn đến lý tưởng tuyt đối; hoc thy cuc đời sao nhiu phin não nhiêu khê, mun tìm nơi yên tĩnh, xa lánh hết mi phù phiếm thế gian.

Con người cũng thường mơ mộng đến tương lai hoặc hoài nim v quá kh. Nhng người ln tui hay sng trong k nim; k nim nào cũng đẹp dù vui hay bun, vì đó là những chuyn đã qua, không bao giờ tr li. Tui thanh niên thì thường phóng tâm đến nhng vin cnh huy hoàng, tuy là nhng gì chưa đến nhưng nhờ có hy vng v mt cuc sng tt đẹp hnh phúc, người ta mi c gng làm vic, hc tp. Hy vng như một tác nhân kích thích, mt ngun động viên quý báu khi quanh ta đầy dy khó khăn gian khổ. Ði vi người tu, cõi Cc Lc hay Niết-bàn là phần thưởng cao c, là mc đích tối thượng kết thúc cuc trường chinh chng k thù phin não tham sân si ngay bn thân mình. Dit tr phin não, th chng B-đề là tinh thn tu tp ca nhng hành gi chưa thoát khỏi vòng kim ta ca thc tâm phân bit, còn thấy phin não đáng diệt tr, Niết-bàn đáng nương cậy như một thế gii lý tưởng mt ta độ không-thi gian nào đó.

Thật ra, chúng ta không th ri thế gian tìm cu Pht pháp, vì pháp Pht và pháp thế gian là bt kh phân ly. Mi s vt hin tượng luôn biến chuyn trong tng sát-na, như dòng sông luôn luôn trôi chảy. Nhưng trong dòng chảy bt tn y vn có mt thc ti bt động vĩnh hng – chính là cái bây gi tuyt đối, ch hin hu nơi đương xứ, bây gi đây. Thiền định là đặt tâm vào cái bây gi tuyệt đối y để thm thu thc tướng các pháp đang là. Trong kinh Pháp Bảo Ðàn, Lc T dy v Thin định như sau:

Ngoại ly tướng tc Thin

Nội bt lon tc định

Ngoại thin ni định, th vi thin định.

Tạm dch:

Ngoài lìa tướng là thin

Trong chẳng lon là định

Ngoài thiền trong định, y gi là thin định.

ng như trong kinh Niệm X, Thin định theo Lc T ch dy không b hn cuc thi gian, không gian và cuc sng ca hành gi. Thin định như một thc ti không lìa thế gian, và phi được th hin ngay trong sinh hot thường ngày. Trong tng phút giây, nếu ngoài không dính mc vi trn cnh (lìa tướng), trong không khi nim lăng xăng (chẳng lon), y là ta đang công phu thiền định mt cách đắc lc nht. Khéo an trú trong hin ti, tnh giác nhận din tng con sóng sanh dit ca thân-tâm-cnh, ta không còn b dn lôi phiêu dt trăm nơi nghìn chốn na. Ðây chính là ni dung ca Chánh nim, bước đầu tiên căn bản ca đời sng thin sinh.

Theo lẽ thường, mun tìm trâu phi theo du chân trâu. Cũng vy, mun tìm tâm phi theo du vết ca tâm. Du vết ca tâm là nhng nim sinh dit. Nếu lìa sinh dit nim để riêng tìm tâm thì chng khác nào lìa sóng đi tìm nước. Vì thế, s tnh giác trong đương niệm là bí yếu để nm bt s tht ngay trong dòng sanh diệt ca đương niệm. Chúng ta không nên hiu “tnh giác trong đương niệm” là dit nim, mà là ln sâu vào dòng sanh dit ca đương niệm để thc hin s chuyn hoá tn gc r. Mt khác, khi trí óc ta đầy kiến thc vay mượn và t hào vi chúng, ta chưa dọn tâm để tiếp nhn chân lý Thin. Trong tâm ta phi dn sch mi ý nim có sn, mi kiến gii gom góp t nơi khác. Yếu t quyết định nhân cách ca mt thin sinh không phi là s thông minh bác lãm, mà là công phu hành trì đúng pháp. Bởi vì Thin không thuộc lĩnh vc lý lun tư duy, không nằm trong ngôn ng, mà ngay thế gii hin thc, trong cuc sng hng ngày; và sng Thin nghĩa là chánh nim mi thi mi cnh, khi tĩnh cũng như khi động.

Kinh Pháp Hoa, phẩm Như-Lai Thần Lc din t mt hình nh lung linh huyn diu: T các l chân lông ca Pht Thích Ca phóng ra vô s tia sáng muôn màu rc r, chiếu soi tt c cõi nước mười phương. Hình ảnh ny tượng trưng ánh sáng chánh niệm không th nghĩ bàn, ta chiếu t Pháp thân Ðức Pht. Các bc ng Ðo khi còn sng thế gian, do tâm luôn an trú trong thi điểm hin ti bt động, nên nhng công vic bình thường đơn giản tr thành phi thường thoát tc. Và vì các Ngài đi từng bước bình an trong thc ti hin tin, nên phương tiện cũng chính là cu cánh, Niết-bàn Cc-Lc cũng ch ti đây và bây giờ !

2- Lìa nhị biên

Con người chúng ta khi tiếp xúc vi ngoi cnh, lúc nào cũng khi nim phân bit. Mt thy sc lin phân đẹp xu, đẹp thì ưa, xấu thì ghét; ưa thì muốn chiếm hu, ghét li mun xa lìa. Các căn khác cũng cùng tình trng như thế, biết bao vng nim cun cun theo nhau như dòng thác lũ. Ý sanh khi, kích thích ming nói thân làm. Ðó là tiến trình ca nghip, là động cơ của gung máy sanh t, dù nghip thin lành hay xấu ác. Cho nên, có khi nim là có to nghip, có luân hi. Nói khác đi, khi sáu căn (mắt tai mũi lưỡi thân ý) tiếp xúc sáu trn (sc thinh hương vị xúc pháp), nếu khi phân bit hai bên là ràng buc vào sanh t. Cũng sáu căn ấy, tuy vn tiếp xúc sáu trn mà bt mi vng nim, thì vn thy nghe hay biết rõ ràng mà không còn động cơ tạo nghip, vòng luân hi b cht đứt.

Ðối vi người bình thường, cái chết là ni s hãi ln nht và trường din nht. Bi vì khi sng, con người có th hưởng th mi lc thú ngũ dc, có th tiếp xúc và cm nhn mi hin hu quanh mình. Sng là sinh hot nói năng, là ánh sáng âm thanh muôn màu muôn vẻ; chết là mt tt c, là vô tri vô giác, là ti tăm ghê rợn, là rơi vào một thế gii mt mù vô tn vô biên ... Quan nim như thế có đúng không?

Thật s, thân người không phi là mt cu to đồng nht, mà do nhiu yếu t kết hp li. Ðc Pht dy, t đại là đất nước gió la to nên sc thân, th tưởng hành thc là yếu t tâm lý, nói chung là thân năm uẩn. Các nhà khoa hc ngày nay cũng đã chứng minh rng, đơn vị ca cơ thể là tế bào; mi tế bào li được cu thành bi nhiu yếu t, và tng nhóm tế bào đảm trách nhng công vic khác nhau. Chúng liên tc sinh ra ri chết đi trong từng giây phút, nên thân ta cũng biến đổi không ngng. Li na, nhng b phn trong cơ thể đều t động làm vic mà không theo ý mun ca chúng ta; ch khi nào có tr ngi bnh tt, ta mi ý thc s có mt ca chúng, vì thế thân ny không có ch t. Không đồng nht vì được cu thành bởi nhiu yếu t, do không c định vì biến đổi liên tc, do không có ch t vì hot động độc lp, nên thân này là vô ngã. Bng cái thy minh triết, Ðc Pht dy rng, s sng ch là vay mượn gi hp. Hàng ngày, con người phi vay t đại bên ngoài để bồi bổđổi mi cho t đại bên trong, như mũi hít vào th ra là vay tr gió, ung nước vào thi ra là vay tr nước ... Vay tr thông sut là mnh khe, vay tr b tr ngi là m đau. Ðáo cùng, không có cái gì là thật ngã.

Vì không có cái sống tht nên cũng không có cái chết tht. Khi ta lìa b thân ny, thn thc ch hi đủ duyên, theo nghip mà gá vào thai thành thân sau, c thế qun quanh trong lc đạo. S luân hi như một dòng chy tương tục không bao gi dng, mà cái chết ch là s tm n tàng để ri tái hiện dưới mt hình thc khác. Ngay c dng thân vô hình mà mt thường không nhìn thy và cho là hn ma bóng quế, cũng là nhng cõi sng thuc loài ng qu hoc thân trung m ca người mi mt. Và như vậy, sng và chết ch là hai cnh hung đắp đổi cho nhau như sự hin và biến ca mt cnh trên màn hình.

Hiểu sâu thêm mt bc, tt c nhng khái nim phân bit hai bên đều ch là tương đối; chúng là hai mt đối lp nhau ca mt thc th duy nht và cùng nương nhau mà tồn ti. Có trng mi có đen, có tốt mi có xấu và ngược li. Thánh –phàm, B đề – phin não, Sanh t - Niết-bàn cũng như thế. Khi tâm an định, siêu vit mi chp trước thì tt c đều là Pht pháp; khi tâm lon động, dù nơi thanh tịnh vn thy kh s bun phin. Nhng bc đã giác ngộ nhìn vn pháp đều vi diu nhim mu, vì toàn b đều trong ánh giác. Cho nên, phi nhn cái thanh tnh vĩnh cu ngay ch vô thường ô trược, cái phi tc ngay t phàm tc, cái xut trn ngay trong trn thế. Ðây là tinh thn bt nh, tư tưởng vút cao của nhà Pht, nơi không thể din t bng văn tự nên Ngài Duy-Ma ch còn cách biu hin bng s im lng sm sét (mc như lôi).

Trong kinh A-Hàm, Ðức Pht nói Ð-Bà-Ðt-Ða s đoạ địa ngc vì ti phá hòa hp Tăng và làm thân Phật ra máu. Ng ý Ðc Pht muốn cảnh tnh nhng môn đệ còn yếu v mt nhn thc tương phản hai chiu, phi b xu v tt, b mê v ng, phi phân bit rch ròi gia thin và ác. Nhưng trong kinh Pháp Hoa, Ngài lại bo Ð-Bà-Ðt-Ða là thin hu tri thc đệ nht ca Ngài, vì nh ông ta mà Ngài sớm thành bc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Có phi chăng, Ngài muốn nâng trình độ môn đệ có kh năng hướng đến mt cp độ cao hơn, bằng mt bước nhy siêu vượt c thin và ác, c mê và ng ?

Nhà Thiền có câu “Nim nim tùng tâm khi, Nim nim bt ly tâm”. Mi ý nim đều t tâm mà khi, đều không ri khi tâm. Tâm là ngun ci, nim là ngn ngành. Tâm là bt sanh bt dit, nim thì lúc hin lúc biến; nhưng khi hiện sanh là t cái vô sanh, và khi biến dit li tr v cái vô dit. Cho nên, đứng t Sinh diệt môn hay Tích môn thì thy có biến có hin có đi có đến, còn đứng t Chơn như môn hay bản môn thì không có sanh dit bao gi. Nim như những đợt sóng, tâm như biển c mênh mông; sóng có khi nào ri nước, vng và chơn cũng không th tách ri. Chúng sanh chp vng tâm là mình nên mi mê đuổi theo ngoi vng, b nghip thc dn lôi vào vòng xoáy sanh t; người tu biết tr v ngun ci, ngay vng nhn ra chơn, ngay hiện tượng vô thường nhn ra bn cht hng hu. Mt người tu lý tưởng không phi là người nhm mt bt tai trước trn cnh, mà là người hàng ngày vn tiếp xúc vi các duyên nhưng không dính mắc ; và thc tế hơn, là người dù b vp ngã vn đứng lên, tiếp tc bước đi. Minh chứng cho tinh thn nhp thế là gương các cư sĩ Thin sư, dù trăm công nghìn việc như Tướng quc Bùi Hưu hay vua Trần Thái Tông, dù thê t đông đảo và ca ci sung mãn như Tuệ Trung Thượng sĩ, vn sáng đạo và nhiêu ích cho bao người.

Kinh Lăng Nghiêm mô tả đoạn Tôn gi A-Nan hi Ðc Pht v đầu mối sanh t và ngun gc gii thoát. Ngay lúc y, mười phương chư Phật đồng thanh ct tiếng: “Hay thay cho An Nan! Ông mun biết cái câu sanh vô minh là cái đầu nút khiến ông phi luân hi sinh t, thì nó chính là sáu căn của ông, ch không phi là vt gì khác; ông lại mun biết tính Vô thượng B đề, khiến ông chóng chng đạo qu an vui, gii thoát, vng lng, diu thường, thì cũng chính là sáu căn của ông, ch không phi vt gì khác”(1). T Quy Sơn cũng dy: “Văn thinh kiến sc cái th tm thường, Giá biên na biên ứng dng bt khuyết”. Nghe tiếng thy sc thế nào để tâm bình thường, được như vậy thì bên này (sáu căn), bên kia (sáu trần) t nhiên ng dng toàn vn toàn ho. “Tâm bình thường” là lúc tiếp xúc vi trn cnh, vn thy biết tt c nhưng không có ý thức phân tích hai bên. Sng vi tâm bình thường là gii thoát, là lc tc biến thành lc thông, diu dng bt kh tư nghì.

Lý thuyết nghe rt d, nhưng khi thực hành mi vô cùng khó khăn. Bởi vì tp khí nhiu đời, chúng ta quen dính mc vi cảnh, thy cnh lin sanh tâm phân bit. Nh công phu miên mt, trong phút giây nào đó ta nhận ra l tht, nhưng cũng ch như ánh chớp trong đêm đen, không phải đã xong việc mà còn cn kiên trì gt sch tp khí, buông b vng tưởng. Ði tu rt gian nan vt vả, nhưng bù lại, chúng ta có lúc cm nhn s bình an h lc ca Thin, khi sng vi bn tâm sn đủ. Bn tâm vn lng vn chiếu, là bn tch bn tri. Bn tch là trng thái lng l thanh tnh sn có nên không min cưỡng để vào định. Bn tri là cái thường biết sn có nên không cưỡng cu thêm hiu biết.

Khi các căn tiếp xúc vi các trn, không có ý nim phân ranh là Ðnh nhưng vẫn rõ ràng thường biết là Hu. Ðnh- Hu đồng thi là trng thái vô nim mà tùy cm tùy ng, đúng yếu ch Thin tông. Khéo hiu nhng điều này, công phu ca chúng ta s nh nhàng hơn và kết qu nhanh hơn. Ai cũng có phin não kiết s, nhưng khi rõ tất c đều không tht và không ngoài th tánh bn tch bn tri, ta s hiu vì sao không tìm B-đề ngoài phiền não. Người biết tu là người gp bt c hoàn cnh nào cũng không mt t ch tnh giác. Các v Thin sư vẫn sinh hot, nói năng như mọi người, không h có mt biu hin phi thường xut thế như thi triển thn thông, pháp thut. Chúng ta hay đánh giá người khác qua hình tướng, qua ngôn ng c ch bên ngoài, nên đôi khi nhận lm thy bn. Trong đời sng thường nht, tt nht là dùng bát phong(2) (*) đo định lc ca mình và người.

3-Thiền suy tiến cá nhân nhưng không suy tiến bn ngã:

Quyển Góp nht cát đá do tác giả Ð Ðình Ðng dch, có k chuyn mt người cha truyn ngh đạo chích cho con. Nếu người cha c cho con theo sát mình tng bước, ch dn con tng vic, thì không th giúp con phát huy tính sáng to và nm vng nhng bí quyết trong nghề. Cha phi dn con vào thếđể con t phát hin, t kinh nghim trên thc tế và t tìm gii pháp. Ch có vic ăn trộm mà còn phi nhc công như vậy, hung na là vic tu hành. Người tu phi có nhng cuc thăm dò phiêu lưu gian khổ, t mày mò kinh nghiệm, t mình khám phá nhng bí n k diu trong mnh đất tâm ca chính mình. V thy ch hướng dn và tr duyên cho môn đệ, có lúc phi dn môn đệ vào ch nguy him để môn đệ phát huy ni lc. Ðó là tinh thn t thp đuốc lên mà đi, nhưng phải thp lên với chánh pháp. Nhng môn đệ biết t mình bước trên đôi chân của mình, mi đáng tin cậy và đáng giao phó việc ln trong tông môn.

Với tinh thn t lc, nhà Thin ch trương mỗi cá nhân đều là–và phi là– yếu t quyết định trong s giác ng và gii thoát. Không ai làm thay được cho ai, k c chư Phật chư Bồ-tát. Mi người phi t xoay li chính mình, thm nhn bn tâm chân tht sn đủ, bng s th hin ca tng sâu thm trc giác siêu ý thc, cui cùng th chng chân tánh bt sinh. Khi tt c nhng bí mt ngàn đời ca vũ tr vn loi đã được dàn tri, mi v sáng đạo s có mt cách sng khác nhau, mt cách giáo hóa khác nhau tùy bn nguyn. Nhưng muốn đạt đến mc đích tối thượng, người tu phi trang b cho mình mt ý chí kim cương, ngoài kiến thc vng chãi v pháp tu và nhng kinh nghim trong công phu hành trì. Nếu không đầy đủ ngh lc để đương đầu vi bao sóng gió cuc đời, chúng ta khó th thu trit đến mc độ sâu xa siêu tuyt ca đạo lý. Con người yếu hèn bc nhược thì không thể thành công trong bt c công vic nào, hung chi là vic thoát ly sanh t.

Thiền sư Hoàng Bá có bài kệ rt hay:

Trần lao quýnh thoát s phi thường,

Hệ bã thng đầu t nht trường.

Bất th nht phiên hàn trit ct,

Tranh đắc mai hoa phc t hương.

Nghĩa:

Vượt khi trn lao vic phi thường,

Ðầu dây nm cht gi lp trường.

Nếu chng mt phen sương lạnh but,

Hoa mai đâu dễ ngát mùi hương.

Ðây là tiếng chuông cnh tnh và khuyến khích người tu chiến thng mi chướng duyên, viên thành đạo qu. Vượt khỏi trn lao không phi vic tm thường, nên ý chí người tu cũng phi phi thường, có bn lĩnh dám làm dám chu. Người có bn lĩnh là người biết rõ khả năng của mình và công vic mình đang làm; trước khi làm có đắn đo, cân nhắc, và khi biết vic làm y là đúng thì gan dạ gi vng lp trường, đi cho đến đích. Hoa mai trước khi ta hương thơm ngát vào mùa xuân, phải tri qua ba tháng đông lạnh lùng but giá. Người tu cũng thế, phi tri qua cuc sng độc hành độc b, tu tp tinh cn, tam thường bt túc; phi có sc mnh t ni, gan d chiến đấu vi nhng cám d ca ngũ dc bên ngoài và ma chướng bên trong. Ði sng thin sinh chúng ta thú v ch, dù phi chiến đấu vi bn thân trong tng giây phút, phi cnh giác cao độ vi nhng quyến rũ ràng buộc ca tin trn, nhưng khi chiến thng mt trn, ta li thy mình trưởng thành thêm mt ít, và càng vng tin mình s có ngày chiến thng trn cui cùng.

Tuy nhiên, tinh thần suy tiến cá nhân trong nhà Thin không nên đồng hóa vi li suy tôn bn ngã vốn xa l vi đạo Pht. Chúng ta thường nhìn nhn s vt theo cái thy biết ch quan thiên kiến ca mình. Ðây là hành vi ca bn ngã. Ngã tướng biu hin qua muôn vàn khía cnh t thô đến tế, mà nếu không chánh nim tnh giác nhn din và chuyn hoá chúng, ta khó thể thu trit bn cht chân tht ca vn pháp. Chúng ta s bàn đến vn đề này k hơn ở chương Con đường thin tp, nhưng ở đây, cần đề cp đến mt khía cnh ca tinh thn vong ngã: Lòng t bi ca nhng bc Giác ng.

Phẩm Ph môn kinh Pháp Hoa diễn tả lòng t bi ca B-tát Quán Thế Âm như sau:

Bi thể gii lôi chn

Từ ý diu đại vân

Và :

Cụ nht thế công đức

Từ nhãn th chúng sanh

Vì sao bản cht ca lòng Bi (Bi th) được ví như tiếng sm động (lôi chn), và lòng T như đám mây hiền? – Bi vì tình thương của B-tát là tình thương tích cực, va cu kh va ban vui, như sấm chp báo hiu cho mây bao ph, và mưa trút xuống dp tt nhng đám cháy phiền não, làm muôn người muôn vt được tươi mát bình an. Và vì Bồ-tát có đầy đủ công đức, nên nhìn tt c chúng sanh bằng đôi mắt t hòa. Ðây là tình thương chân chính và vong ngã của mt bc giác ng và t b đắm say vào cuc sng. Ti sao nói như thế?

Con người thường cho rng, mình là ch nhân ca vũ tr, nên mi loài mi vt đều phi chu s chi phi ca mình; thm chí dùng mng sng ca chúng để tha mãn nhng nhu cu m thc gii trí cho riêng mình, không biết rung động khi thy chúng s hãi, đau đớn. Tàn nhn hơn, có kẻ ch trương tàn sát những người b xem là thuc chng tộc hạ đẳng hoc không cùng tôn giáo. Nếu ai có tình thương với người vi vt, thì đó cũng là tình thương chiếm hu, v k. Cha m nuôi con, mun con sau này có hiếu vi mình, chăm sóc mình lúc già yếu; nam n kết hp vi nhau cũng có chn la cân nhc, có đòi hỏi s đền đáp tương xứng; bn bè giúp nhau cũng mong có s trao đổi, biết ơn ... Bồ-tát không như vậy. Các Ngài thương chúng sanh một cách t nhiên, không phân bit, không điều kin. Ðây là tâm Vô duyên t. Bng ánh sáng giác ng, các Ngài thy mi loài chúng sanh đều bình đẳng Pht cht, nên thương tất c nhng ai còn vô minh. Tình thương của các Ngài chan hòa và bình đẳng khp vũ tr vn loi, không vướng mc vào nhân- ngã, không b ràng buc vào ý tưởng biết ơn – đền ơn. Bồ-tát th hin nơi đời làm lợi ích cho chúng sanh, không bao gi để l hành tung. Hai Ngài Hàn Sơn – Thập Ðc, mang thân phn người tu căn cơ hạ lit, b mi người r rúng khinh khi, vn bình thn và hành mt hnh. Khi b mi người phát hin là B-tát hoá thân, hai người đưa nhau vào núi ẩn tích. Ngày nay, trên thế gii cũng có nhiu t chc phi chính ph, nhng người tình nguyn vào mi nơi khổ đau bệnh tt, di chng chiến tranh, để cu giúp đồng loi mt cách vô điều kin. Các v y cũng đang hành hạnh B-tát, dù thuc sc tc nào, tôn giáo nào. Hình nh l lùng trong nhà Thin như gái đá nhảy múa, người g hát ca hay sáo không l, đàn không dây ... cốt nói lên diu dng bt kh tư nghì, khi các Ngài sống bng bn tâm thanh tnh, làm mi Pht s vi tinh thn vong ngã.

II- THIỀN TH HIN VÀO ÐI SNG

Bằng tinh thn nhp thế ca Ðo Pht, Thin hòa quyn vào đời sng nh tính cht thc tin, linh hot và bình đẳng, làm cuc sng con người tr nên tt đẹp hơn. Ðồng thi, nh uyn chuyn tùy duyên một cách hiu qu nht, nên Thin tr thành muôn màu muôn v, phù hp vi tt c mi người.

1- Tính thực tin

Nhà đại bác hc Albert Einstein tng tha nhn “Nếu có mt tôn giáo phù hp vi nhng yêu cu ca khoa hc hin đại, thì đó là đạo Pht”. Ð “phù hp vi nhng yêu cu ca khoa hc hin đại”, trước tiên đạo Pht phi có tính thc tin, vì khoa hc không chp nhn mê tín thn quyn. Yêu cu này cũng là ch trương của đạo Pht, mt đạo trí tu và vô cùng thc tin. Thin tông, mt tông phái trong nhà Phật càng đặt nng tinh thn này.

Thiền sư Suzuki nói: “Thiền là bin nước, là không trung, là núi non, là sm sét, là hoa xuân nng h tuyết đông. Không những thế mà còn hơn thế, Thin chính là con người”. Thy bin nước không trung mt cách sâu xa tức t tri tn bn cht các pháp. Thin không phi xa ri thế gii hin thc để tìm kiếm mt thế gii lý tưởng xa vi, mà là thc ti nhim mu khi tâm ta bt động nơi đương xứ. Thin không phi biu hin trên t chương ngôn ngữ, trong khái niệm tư duy, mà hiện sinh trong tng giây phút ca đời sng thin tp. Khi tr v bn th thanh tnh và hng tri, an trú vào gi phút hin ti bt động, chánh nim tnh giác trên tng biến đổi động thái ca s vt và bn thân, hành gi nhn rõ rng, Thin-Ðo–bản thân và muôn pháp tht s không hai không khác.

Một Sa-di đến hi Ngài Tùng Thm Triu Châu:

- Thế nào là đại ý Pht pháp ?

Ngài hỏi li:

- Chú ăn cháo chưa ?

- Bạch Hòa thượng, con ăn rồi.

- Rửa chén đi !

Sa-di liền ng, sp ly t ơn.

Sự ng đạo sao quá d dàng đơn giản? Nghĩa lý nào ch ăn cháo rửa chén? Nếu công phu ca chúng ta chưa có chiều sâu, ta khó th hiu ý nghĩa thâm trm trong câu chuyn ny. Sa-di đã từ lâu thao thc, t lâu tinh cn công phu mà vn chưa tỏ ng lý Thin nên cầu sư phụ ch dy Pháp yếu. Ngài Triu Châu hi “Ăn cháo chưa?” là một th thut vì đương cơ mà quyền biến. Ai biết ăn cháo, ai biết ra chén? Khi ăn cháo, rửa chén mà thm nhn người tht sn đó thì rõ ràng Thiền có mt trong nhng công vic tm thường y. Chúng ta quá phức tp, tâm c lăng xăng rối rm, làm vic này nghĩ vic khác nên tâm không thy cái xut trn ngay trong trn tc. V Sa-di đã dọn sn tâm mình, nên khi Ngài Triu Châu điểm nh, ca tâm lin m rng đón nhận chân lý ngàn đời.

Ðức Pht xut gia tìm đạo và giác ng ti thế gian. Các bc Thánh đệ t ca Ngài và nhng v T sư cũng tu nơi cõi trần mà thành đạo. Nhng bc Ði B-tát Nht sanh B x cũng phi vào cõi Ta-bà ln cui mi công viên qu mãn, chng đạt qu v tt cùng. Phi chn bùn nhơ thì hoa sen mới n, người tu phi gieo ht ging B-đề nơi phiền não kh đau. Chúng ta cũng như thế, ngay thân năm uẩn ti trn gian mà tìm s sng chân tht, ngay nhng hoàn cnh nghch thường mà tìm hnh phúc đích thực, nếu biết biến chướng duyên thành thắng duyên. Con người thường hay ha hn, ch thi điểm thun tin, ch gii quyết công vic gia đình, chờ hoàn thành công trình ln nào đó mới tu. Nhưng có chắc rng lúc y ta còn cơ hội tu không? Thân có kho, tin ca có nhiu mi tu, chng l thân bệnh nhà nghèo không tu được? Nếu có chánh kiến, nm vng pháp tu thì bt c lúc nào và đâu ta cũng có th dng công; đời tu ca ta rt nh nhàng mà hiu qu. Người biết tu cn tìm s vi diu ngay nhng hin tượng s vt bình thường trong cuộc sng. Mt đóa hoa dại bên đường, mt tiếng chim hót trên cao, ngay c mt li nói thông tc, nếu ta thy nghe bng chánh nim, tt c s là nhng bài hc sng động diu thường.

Vì đề cao tính thc tin trong sinh hot và tu hc, nên nhà Thin không chú trọng thn thông. Thn thông diu dng đối vi Thin tông là nhng công vic thường nht, khi làm vi tâm không. T bn tánh thanh tnh khi phát diu dng, diu dng y thiết thc phc v cho chúng sanh muôn loài. Bàng Long Un nói:

Thần thông và diệu dụng

Gánh nước ba ci tài.

Trong kinh A-Hàm đề cp ba loi thn thông: Thn túc thông là kh năng đi khắp tt c ch mt cách t do t ti; Tha tâm thông là kh năng biết mi ý nghĩ ca người khác. Hai loi thn thông ny không quan trng đối vi đạo Pht, đôi khi làm trở ngi đường tu vì khiến hành gi tăng trưởng ngã chp. V li, c ý tu hành để đạt thn thông là hướng ngoi cu huyn, trái vi ý ch ca nhà Thin là phn quan t k. Loi th ba là Giáo hoá thn thông được Ðc Pht khen ngi và khuyến khích vì giúp ích được người khác. Mun có Giáo hóa thn thông, người tu phi có Ðo thông; trước tiên phi rõ lý Ðo, nhn ra th tánh bt sanh, sau mi có th giáo hoá người tnh tu ba nghip, gii thoát phin não kiết s, gii thoát sanh t luân hi.

2- Tính linh hoạt

Hành giả sơ phát tâm rất cn nhng chun mc đạo đức, nhng nguyên tc công phu để đường tu không lc vào ngã r. Tuy nhiên, nếu chp vào nhng khuôn kh y mt cách cng nhc, ta s không thy rõ s vn hành ca cuc sng, không uyn chuyển theo s vn hành y và vô tình, ta tr nên k đứng bên l.

Phật pháp không hin din trong trng thái tĩnh lng khô chết, mà nơi sinh động hng chuyn ca thế gian pháp. Khi nghe tiếng chim hót mà trc nhn tánh nghe, đó là phù hợp ý T. Thanh tnh và hằng tri là hai mt không th tách ri, làm nên ci ngun Thin hc. Trên thc tế, ta thy đời sng trong Thin vin có v m êm yên n hơn ngoài đời, nhưng các vị tu sĩ đâu phải lúc nào cũng trang nghiêm trm mc? Ðc Pht lúc còn ti thế, đâu phải sut ngày tọa thin dưới ci cây, mà Ngài cũng đi đứng, nói năng, sinh hoạt như mọi người. Trong mt tp th tu hành cn có nhng qui tc c định giúp người tu thúc lim thân tâm, nhưng nếu quá gò ép s làm mt sc sng và kh năng sáng tạo ca cá nhân. Tinh thn Thin là luôn linh hot sng động, phù hp vi tng con người, tng hoàn cnh, nhưng không bao giờ xa ri lý Ðo. Ðó là ni dung tùy duyên-bt biến.

Khi đã thấu tt yếu ch nhà Thin, các bc ng đạo phát khi diu dng nhiêu ích quần sanh mt cách linh hot, muôn màu muôn v, tùy đương cơ mà thi thiết phương tiện. Nam Tuyn chém mèo, Lâm Tế hét, Ðc Sơn đánh, Câu Chi giơ ngón tay ... là những hình nh sáng to, độc đáo, khế lý khế cơ của các Thin sư ngày xưa. Ðến ngày nay lại khác, con người khoa hc đòi hỏi s ging dy phi có tính sư phạm, nhng ý nghĩa thâm sâu uyên áo phi được din đạt bng ngôn ng lý lun khúc chiết; nên mi có ch trương Thiền-Giáo song hành. Ðến vi tng dân tc, Thin còn hòa nhp vào phong tc tập quán và li sng hàng ngày, góp phn to nên nét đẹp văn hóa riêng của dân tc y. Ti Trung Hoa, t thi T Bá Trượng vi tinh thn lao động “Mt ngày không làm mt ngày không ăn”, các hình thức Nông Thin ngày mt phát trin. Các Thin sư có lối dy người thng tt, mc mc và đôi khi thô thiển; như khi nghe hỏi v tôn ch nhà Thin hay yếu lý trong Ðo, các Ngài hoc đánh hét hoặc tr li bng nhng câu vô nghĩa “Ba cân gai”, “Dưới gót chân ông” ... Vit Nam li khác, thi đất nước thnh tr như Ðinh-Lê-Lý-Trần, các v Thin sư vừa giúp vua tr nước, chng gic ngoi xâm, va hướng dn môn đệ tu hành, như các Quốc sư Khuông Việt - Ð Thun - Vn Hnh ... Cùng nhng bc minh quân và hoàng thân quc thích như vua Trần Thái Tông, Trn Nhân Tông, Tu Trung Thượng Sĩ ..., đều là nhng trí thc đương thời, thông bác văn chương kim cổ nên thường dùng thơ văn khi muốn khai th cho đồ chúng. Chúng ta hn nhiu ln nghe các câu k sau đây:

Mạc v xuân tàn hoa lc tn

Ðình tiền tc d nht chi mai.

(Cáo tật th chúng - Thin sư Mãn Giác)

Nghĩa:

Chớ bo xuân tàn hoa rng hết

Ðêm qua sân trước mt cành mai.

Hoặc câu tr li vua Lý Thái Tông ca Thin sư Thiền Lão:

Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cnh

Bạch vân minh nguyt lộ toàn chân

Nghĩa:

Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác

Trăng trong mây bạc hin toàn chân

Tại Nht Bn, Thin li mang màu sc khác, được ng dng vào các ngành ngh thut như cắm hoa, hi ha, ung trà; sau đó phát triển sang các lĩnh vc khác như võ thuật, công k ngh. Nh áp dng công phu thin tp trong đời sng hàng ngày, người hành thin có sc định tâm, t ch nên công vic đạt kết qu tt, năng suất cao. Hin nay, mt s xí nghip, trường hc và c tri giam Nht và các nước phương Tây đã tổ chc nhng gi ta thin vào bui sáng trước khi làm vic. Qua nghiên cu và theo dõi mt thi gian, người ta thy Thin giúp tăng sức tp trung, phát huy tính sáng to và phát trin trí thông minh. Ðc bit, người tu Thin có s vui sng, bt căng thẳng phiền não, bt khuynh hướng bo động, nên t l tù nhân tái phm ti hoc trn tri gim đi đáng kể. T đó, Thiền được xem như một phương thức điều tr các bnh tâm thn kinh; mt liu trình kết hp để kim soát nhng bt n ca tim mch, tiêu hoá ...; một phương pháp nâng cao sức kho, sc chu đựng và kh năng lao động. Có th nói, trong thi đại khoa hc thiên v vt cht hin nay, Thin là mt gam màu linh động không th thiếu trong bc tranh toàn cnh ca đời sng nhân loi.

3- Tính bình đẳng:

Tinh thần Ði tha, nht là Thin tông, đặt căn bản trên Pht tánh bình đẳng sn đủ, nên bt c ai chng ng chân tâm đều có th thành Pht. Chú tiu Hu Năng đến Hoàng Mai bái yết Ngũ T Hong Nhn cu pháp làm Pht. Nghe T hi “Ông là người Lãnh Nam quê mùa thất hc, có th kham làm Pht được sao?”, Hu Năng liền đáp:

- Người tuy có Nam có Bc nhưng Phật tánh đâu có Bắc Nam. Thân quê mùa ny vn cùng Hòa thượng chng đồng, nhưng Phật tánh không h sai khác.

Triệt ng t tánh nh nghe Ngũ T ging kinh Kim Cang, Ngài được T truyn trao y bát kế tha T v, dù vn còn thân cư sĩ. Sau 15 năm tị nn T Hi, đủ duyên ra hong hoá, ln đầu gp Pháp sư Ấn Tông ging kinh Niết-bàn, Ngài lun gii nhng ý nghĩa sâu mu uyên áo đến ni Pháp sư phải chp tay thưa “Tôi giảng kinh như ngói gạch, nhơn giả lun nghĩa ví như vàng ròng”.

Kinh Pháp Hoa, các phẩm 9 (Th hc vô hc nhân ký), 12 (Ð-Bà-Ðt-Ða), 13 (Trì) din t rõ ràng tính bình đẳng trong s tu hành và đắc qu. Long n là loài súc sanh, được B-tát Văn Thù chỉ dy pháp yếu, đốn ng Pht tha, thot chc lin thành Pht. Nhng v T-kheo ni như Kiều Ðàm di mu, Da-Du Ðà-La đều được Ðc Pht th ký. Thm chí nhiu đời theo phá Pht như Ðề-Bà Ðt-Ða, cũng vn có phn. Mt tin thân ca Ðc Pht là Ngài Thường Bất Khinh, sut đời ch hành mt hnh duy nht là nhc nh cho tt c nhng ai gp Ngài “Tôi không dám khinh các người, vì các người s thành Pht”. Trên thế gii t c chí kim, có l chưa có vị giáo ch nào t đặt mình ngang hàng vi môn đệ và mi loài chúng sanh như Ðức Bn sư của chúng ta.

Trong Thiền s cũng k chuyn nhiu v cư sĩ, dù gia duyên ràng buc vn ng đạo và t ti trước sanh t. Gia đình Bàng Long Uẩn lúc còn sng, c nhà cùng tu khúc vô sanh; khi hết duyên, an nhiên th tch mi người mt kiu. Vit Nam có 5 đời vua Trn đều ra đi một cách an nhàn. Tu Trung Thượng Sĩ là hình nh tuyt vi ca mt bc phong lưu tiêu sái, ở trong trn mà không chút bn nhơ.

Thoát trần mt gót thiên nhiên

Cái thân ngoại vt là tiên trên đời(3)

“Thân ngoại vt” là thân không b ràng buc bi các duyên, dù nơi thế tc mà vn xut thế. Người hoàn toàn sng vi Pht tánh sn đủ thì dù hoàn cnh nào, dưới hình tướng nào, cũng cùng Pht Thánh làm bn.

Ðoạn vn đáp sau đây là một giai thoi trong nhà Thiền:

- Năm nay Ngài bao nhiêu tuổi ?

- Tuổi tôi bng tui Pht Di –Ðà

- Vậy Pht Di-Ðà bao nhiêu tui ?

- Phật Di- Ðà bng tui tôi.

Người không hiu tinh thn bình đẳng ca nhà Thin s cho câu nói này là phm thượng bt kính. Pht A-Di-Ðà là Ðng Giáo chủ cõi Cc Lc, bng

48 lời đại nguyn đã thiết lp Tnh độ Tây phương, tiếp dn chúng sanh. Ai có lòng tin đối vi Ngài, vi cõi nước ca Ngài; có tâm chí thành chí kính mun sanh v Cc Lc, nim danh hiu Ngài đến nht tâm bt lon; thì khi mng chung, Ngài và chư Thánh chúng sẽ hin đến trước mt, tiếp dn v Tnh độ. Ðc Pht A-Di-Ðà là v Pht đã thành đạo trước Ðc Bn Sư mười kiếp, làm sao có th so sánh tui mình vi tui ca Ngài? Pht A-Di-Ðà, Trung Hoa dch là Vô lượng quang và Vô lượng th, tc ánh sáng và th mng vô lượng. T tánh Di-Ðà là Pht tánh thường hng sn đủ mi chúng sanh. Chúng sanh mê m, quên tánh giác đuổi theo ngoi trn (bi giác hip trn) nên c lên xung trong trn lao sanh t ; chư Phật sng trn vn vi Pháp thân thường tr, không nhim trn cu (bi trn hip giác) nên là nhng bc giác ng Gii thoát. Nhưng dù chúng sanh còn vô minh còn luân hồi, Pht tánh vn thường nhiên, bình đẳng cùng chư Phật. Thm thu được điều này, chúng ta có cơ sở để phn đấu không mệt mi, ch ct đạt mc đích cuối cùng. Biết và tin chc mình có chánh nhân thành Pht, đó là động cơ khích lệ vô cùng quý báu trên đường đạo thăm thẳm và đầy cm by chông gai.


ường ch.2" />

Chương 2. CON ÐƯỜNG THIN TP

Theo lời Pht dy, tt c chúng sanh vn sống trong bình an muôn thu, nhưng hốt nim vô minh, to nghip thin ác ri lưu lạc khp sáu đường ba cõi. Nhng cõi sng khác nhau biu hin nghip lc do riêng mình t to, nhưng chúng ta lại ging nhau mt điểm: đều là nhng k quên ci quên ngun. Hình ảnh gã cùng t trong kinh Pháp Hoa là hình nh sng động và trung thc nht din t thân phn chúng sanh. Là con v trưởng gi kho báu đầy dy mà đi ăn xin, thì khờ di biết ngn nào. Gi đây may mắn gp Pht pháp, bàng hoàng cht tnh, dng bước phiêu du; và Con đường Thin tp là l trình đưa ta trở v quê hương, về bn th ca chính mình. Trên đường đi, có nhiều lúc hm h chướng ngi khiến ta vp ngã, cũng có khi cnh đẹp làm ta ưa thích; nhưng nếu ta luôn luôn tâm nim phi tr v, thì dù bao nhiêu khó khăn hay cám dỗ, dù hy sinh c tính mng, ta vn vng lòng đi tới. Bng lp trường vng chc và ý chí kiên cường, công phu Thin tp ca chúng ta mi mong có kết qu.

I- Ý NGHĨA THIN TP:

1-Tự do ngay nơi thân năm uẩn:

Con người ngày nay quen sng trong tin nghi vt cht nên mt nhiu thi gi, công sc to dng cho mình và gia đình một đời sng đầy đủ. Nhưng sự ước mun không cùng tn, đã có càng mong có nhiều hơn, ít ai thỏa mãn vi hoàn cnh hin ti ca mình. T đó bị ràng buộc vào vòng danh li như bị cun vào gung máy ln, không bao gi thoát khi.

Chính đời sng thin tp giúp ta quán chiếu tính cht hư giả ca thân ngũ un. Vì thân do t đại kết hp, đủ duyên thành thân, hết duyên thì tan rã; dù là mt k bn cùng mt hạng hay mt quc vương hùng mạnh nht thế gii, rt cuc cũng ch là mt thây chết như nhau. Vì tâm suy nghĩ lăng xăng cũng nương vào pháp trần mà sinh, nhìn li thì không thy đâu, sinh sinh diệt dit không ngng thì làm sao tht có? Thân tâm không tht thì những s hu cũng không tht, có gì tn ti bên mình sut đời sut kiếp mà c chp để sinh ra xung đột oán thù? Quán chiếu sâu sc như thế, chúng ta tng bước ci b nhng ràng buc ca ngã và ngã s, có tinh thn thiu dc tri túc. Thiu dc là ít ham muốn, Tri túc là biết đủ. Do ít ham mun nên biết đủ, và vì biết đâu là đủ nên ít ham mun. Có người cho rng, phi hn định mt mc sng ti thiu nào đó hoặc gò ép mình vào mt khuôn kh mi gi là tri túc. Tht ra, tri túc là tha mãn vi cuc sng hiện tại ca mình, ta có hoàn cnh phước nghip nào thì tha lòng đó. Tri túc như vậy ch yếu ngay nơi tâm chứ không định gá nơi cảnh, vì nếu y nơi cảnh s không bao gi ta bng lòng vi hin ti.

Nhà Thiền ch trương, tự do đích thực nghĩa là siêu vit mi nhn thc lưỡng phân. “Thin” cũng là mt t ng khác ca t do, bi vì người đạt Thin là người đạt ti tâm thái t do, tc đã vượt thoát mi ràng buc, mi mâu thun, mi khuôn sáo trong cuc sng. Có ln Ðc Pht đã dõng dạc tuyên b: “Này các t kheo! Ngay nơi thân năm uẩn gm có Sc, Th, Tưởng, Hành, Thc ny, Như –Lai tuyên bố thế gii, s tp khi ca thế gii, s đoạn dit ca thế gii, và con đường đưa đến s đoạn dit ca thế gii!”. Theo đây, cơ thể năm uẩn của chúng ta là mt toà thiên nhiên đẹp đẽ mu nhim nht, vì trong t thân ca mi người đã có sẵn tim năng vô tận; và chúng ta có th vươn tới chân tri t do thánh thin bng chính đôi chân vững chãi ca mình. Có th nói, tr v vi tâm thái t do là cuộc đấu tranh vĩ đại cui cùng ca đời người, và an thân lp mnh nơi tâm thái tự do y chính là sng Thin.

Nhiều khi Thin gia nói đến s t khước, nhưng đó không có nghĩa là t khước thế gian, mà t khước mi đắm say thế gian. Có khi Thin gia nói đến s xa lìa, không phi xa lìa mi hin trng cuc sng, mà xa lìa mi bám víu vào cuc sng. Tinh thn t khước và xa lìa phi được thc hin ngay trong tâm hành gi, bt c lúc nào và đâu trong sinh hoạt đời thường.

Mọi s khn kh ca con người đều do nhận thc ch quan sai lc đối vi các pháp. Khi tiếp xúc vi mi vt, lp tc ta có s phân bit gia mình là ch th nhn thc hay năng duyên, với s vt là đối tượng nhn thc hay s duyên. Không nhng thế, ta còn áp đặt cái thy biết phiến din ca mình trên đối tượng, mà không nhn ra bn cht tht ca nó. Duy thc hc nêu rõ ba loi đối tượng nhn thc do thc Alaya biu hin ra. Mt là thế gii tánh cnh tc bn cht tht ca vn pháp, là thc ti t thân ca thế gii, mà tri giác ca chúng ta không th đạt đến. Th hai là Ði cht cnh, cnh tượng do con người to ra. Cnh này mang mt ít tính cht ca Thế gii tánh cnh, được v vi thêm t nhn định ch quan ca mi người. Th ba là Ðc nh cnh, nhng hình nh khơi lại trong trí nh hay thy trong gic mơ.

Qua phân tích này, rõ ràng thế gii chúng ta đang sống, đang nhận thc, đang hiểu biết đây chỉ là nhng biu hin t tâm, khi sáu căn duyên với sáu trn. Nói khác đi, tất c mi s vt hin tượng đều là sn phm của thp bát gii (sáu căn, sáu trần và sáu thc). Chúng ta không tht có cũng chng tht không. Không tht có vì chúng do các duyên hp li mà thành, không có t th c định. Chúng chng tht không vì con người có th nhn biết và s dng chúng. Vì thế, tánh của các pháp là không, nh nhân duyên t hi nên tm có. Chính vì liu hi bn cht Không ca các pháp nên các bc ng đạo luôn nhn mnh s t khước và x ly. Tuy t khước nhưng các Ngài thương yêu cuộc đời hơn ai hết; tuy x ly mà các Ngài luôn hòa mình với cuc sng, làm li ích cho mi người. Chính do không ham mun ngũ dc, không dính mc vi trn cnh, không chp ngã, chp pháp, nên các Ngài hoàn toàn t do nơi thân năm uẩn.

2-Không miễn cưỡng mong cu:

Chúng ta tu Thiền thường xem giác ng gii thoát như một mc tiêu để theo đuổi, để hướng v. Nhưng nếu có mt mc tiêu nhm đến, thì mc tiêu y đã ở ngoài mình, đã được đặt thì tương lai, có phân chia người đến nơi đến tc có ngã có pháp rõ ràng. Như thế không còn là Thin na, vì Thin không b hn cuc, không b định v, không b phân chia năng sở; và đời sng Thin là mênh mông bát ngát.

Chúng ta thường c gò bó mình vào mt khuôn kh đạo đức. Ðây là điều cn thiết cho nhng bước đầu ca đời tu, nhưng sự ch ý khiên cưỡng y khiến trong ta có nim gng gượng làm mt s hn nhiên t ti ca Thin. Khi thin hành dưới hàng cây râm mát, tai nghe tiếng rì rào qua đám lá, tiếng chim ríu rít trên cành, ta biết mình đang đi đang nghe một cách t nhiên an lc mà không khởi mt ý nim nào, không cn nghĩ mình s đi đâu; thì ngay dưới nhng bước chân thnh thơi ấy, mnh đất Ta- bà đã trở thành Tnh độ, mc đích giải thoát và phương tiện thin hành đã không hai không khác.

Thường độc hành thường độc b

Ðạt gi đồng du Niết-bàn l.

Thiền sư Vĩnh Gia đã diễn t s cô liêu ca mt người đạt đạo. Các Ngài vn trong trn thế, vn tiếp xúc vi muôn pháp để làm mi vic giúp người giúp đời nhưng không vướng bn mt pháp nào, không dính mc mt vic gì. Tâm hn các Ngài rng m thênh thang, tt c các pháp đều biu hin mt cách vi diu, nên bước độc hành trên đất kh đau cũng là do chơi ở cõi Niết-bàn!

Thường chúng ta tưởng tượng có mt cõi Niết-bàn mt thế gii xa xôi lý tưởng, gng công tu hành để khi ri khi thân ny có th tr v đó như đứa con lưu lạc lâu ngày tr v quê m. Con người luôn luôn cm thy bt an, trng vng, thiếu thn mt cái gì, mà sut đời mãi đi tìm đểđắp vào. Cũng có lúc ta thấy mình đầy ti li, đâm ra chán chường tht vng, mun có mt ngun an i nương tựa. Pht-Tri và các v thn linh chính là ngun an i y; ta tìm đến các Người như tìm một dòng sui trong mát để gt ra hết cáu bn t th xác đến tâm hn. Ri khi hi tỉnh, ta li thy mình đủ trong sch, đủ sc lc để quay v lăn lộn nơi trần thế, li chuc ly nhơ bẩn lên người. C thế, con người qua li gia B-tát và D xoa như bị lôi kéo gia hai thế lc hướng thượng và hướng h, mà không th ch động quyết định s phn cho mình .

Thật ra, chúng ta bt an chính vì chúng ta mãi tìm cu mt s an lc t bên ngoài, mãi hy vng nơi một thế lc siêu nhiên ban cho mình s gii thoát. Ta không hiu rng, Niết-bàn chính là trng thái thanh tnh ca tâm khi vng bt mi phin não. Ví như bệnh gh làm nga ngáy khó chu khiến ta phi gãi. Lúc đầu gãi rt đã ngứa, nhưng sau đó thì đau rát nếu c gãi hoài. Cm th nga- đã ngứa –đau rát ta thấy rt rõ, trong đó “đã ngứa” là cm giác khoái lc thích thú vô cùng. S hưởng th ngũ dc cũng thế, cái khoái lc do ngũ dc ch có trong nht thi, sau đó là những tác hi v tinh thn và th cht nếu hưởng th quá mc. Ăn ngon mặc đẹp là ước mun ca mi người, nhưng ăn quá độ làm bnh tt phát sinh, mc quá sang thì phi ra sc làm vic, k c vic ác cũng không t. Mt khác, vì có gh nga nên mi gãi, nhưng ta nên chấp nhn có gh để gãi hay mun da mình lành ln? Dĩ nhiên, ai cũng mun mình không có gh, nhưng khi da ở tình trng bình thường thì đâu có cảm giác gì? Ta không còn để ý đến da na, nhưng thật s đó mới là trng thái bình n, là hnh phúc chân tht. Niết-bàn cũng là trng thái lng l tch tnh như thế, khi tâm ta vng bt mi vng tưởng min cưỡng mong cu.

3-Chuyển nghip và dng nghip.

Nghiệp là thói quen huân tập trong thi gian dài, xut phát t thân ming ý. Ý khi tư tưởng, dn đầu cho ming nói thân làm, nên ý là ch to nghip. Nghip tr li chi phi hoàn cnh chánh báo và y báo ca mi đương sự, theo đúng tiến trình nhân qu không sai mt my may. Không một đấng quyn năng nào có thể sa đổi tiến trình y; ngay c Ðc Pht, bc thy ti cao ca Tri người vn không th ban phước hay giáng ho cho ai. Chiùnh vì thế, mi người là ch nhân ca nghip và cũng là đối tượng th nhn nhng kết qu do nghip mình gây ra.

Những gì ta nghĩ, nói hay làm đều gieo nhng ht ging vào mnh đất tâm thc, mà Duy thc hc gi là Lc t nh t. Tùy ht ging ta gieo là thin hay ác mà qu tr ra là hnh phúc hay đau khổ, khi đủ thi tiết nhân duyên. Nhiu khi ta không định nói hay làm một điều gì đó, nhưng như có ma lực thúc đẩy ta phi thc hin, dù sau đó nhớ li, ta cm thy ân hn vô cùng. Ðó là sc mnh ca thói quen ta huân tp t trước, mà ngun gc là nhng ht ging rơi rớt trong mnh đất tâm ta. Chính nhng thói quen đã tạo nên phong cách riêng ca tng người, và chúng ta kh ch vì do mình tp nhim nhng thói quen xu, li còn vung vãi nhng ht ging không lành mnh y cho nhng người xung quanh.

Bước đầu thin tp là nhìn li mình, suy xét những gì mình đã tạo t thân ming ý, sa đổi nhng điều xu ác, huân tp nghip thin lành. Ðây là ý nghĩa ca s chuyn nghip, t nghip ác thành nghip thin. Người tu thin chú trng nht nơi tâm ý, giai đoạn đầu chưa sạch vng tưởng nhưng biết buông bỏ nhng ý nghĩ bt thin, ý luôn nghĩ điều lành, ming nói li lành, thân làm vic lành. Nhng phước đức hu vi này không giúp ta thoát khi sanh t, nhưng tạo điều kin thun li cho đời tu ca ta. Khi gp nghch cnh chướng duyên, người có phước báo cũng d dàng qua khi. Do vy, dù theo pháp môn nào, người con Pht cũng nh phước-hu song tu, như con chim có đủ hai cánh mi bay cao bay xa được.

Tiến thêm mt bước, nh công phu thin định, chúng ta dn dn buông b tp khí, kiến chp; tuy sng trong hoàn cảnh cũ nhưng đã có niềm vui thanh thn. Tuy vn tiếp duyên xúc cnh nhưng tâm không dính mắc, không khi vng nim. Ý không khi nim tc không còn to nghip. Ðây là tinh thn dng nghip, yếu ch ca s gii thoát sinh t.

Hiểu theo lý thuyết thì việc tu hành có v đơn giản d làm, nhưng khi hành trì ta mới thy thiên nan vn nan. Tri qua vô lượng kiếp, chúng ta đã huân tập bao nhiêu thói quen xu, ý thc li suy tính nghĩ tưởng có lúc nào yên, ví như mây đen cứ cun cun che ph c bu tri. Bài Trữ t t răn của Tu Trung Thượng Sĩ có câu:

Còn mảy tình tam đồ báo ng

Tơ hào niệm lc đạo tiếp nhân.

Còn một my may tình cm là còn chu báo ng trong ba cõi, còn tơ hào niệm là nhân trm luân trong sáu no luân hi. Ngài nói thế để cnh tnh nhng người quá vi vàng, mi hiu Thin qua khái nim, biết mình có tánh giác sn đủ, đã vội cho mình chng đắc, có th sánh vai cùng chư Phật B-Tát. Chúng ta thn trng trong nhn thc trong công phu, nhưng vẫn tinh chuyên hành trì vi lòng tin vững chc vào Tam bo t tâm và Tam bo tha lc. Nhng gi phút thin tp là nhng lúc ta có th tiếp xúc vi Niết-bàn, khi ý thc vng mt, tâm tĩnh lng mà thường rõ biết. Có nhng lúc vì tp khí lôi dn, ta thy mình yếu đuối khn kh, mt lòng tin vào mình và vào pháp tu. Nhưng những cơn khủng hong y cũng qua đi, ta lại tr v vi nim an lc thanh lương nếu c kiên trì tu tập. Ðây là giai đoạn sơ cơ, tâm ta còn lại qua liên miên vi lc đạo; lúc hin thin như nhơn thiên, lúc sân hận như A-tu-la, khi độc ác tham lam hay si mê u ti như chúng sanh trong ba đường ác. Nhưng khi đạt đến qu D lưu (Tu-đà hoàn) là bước đầu vào dòng Thánh, người tu thun dòng chy vào bin chân như, là địa v kiến đạo kiến tánh bt thi chuyn. Các Ngài đã có chỗ định v, có nơi nương tựa vng chc làm kế chung thân, cho dù bao phen lên xung trong cuc đời, cho dù có khi vp ngã, cũng vn có th đứng dy, tiếp tc cuc hành trình thiên lý.

4-Tinh thần vong ngã:

Con người làm bt c vic gì, dù ln hay nh, đều có ý thức mình là người làm hoc làm vic y cho mình. Ngay trong s tu hành, tuy cái ngã thô được nhn din và buông b, nhưng cái ngã tế vn thm n hin, mà nếu ta không chánh nim tnh giác, không miên mật hành trì thì khó kim soát ni. Có th nói, ý thc chp ngã là mt bnh thâm căn cố đế, khó điều tr và li d tái phát. Vì sao như thế? Bi vì, chúng ta mê lm cho thân tâm ny là tht có, là mình.Vì thy thân tht nên làm mi vic ct phng s thân, cốt tha mãn nhng đòi hỏi dù quá đáng của nó; ai khen nó thì ưa thích, ai chê là sinh bực bi thù ghét. Vì thy tâm tht nên luôn cho ý kiến ca mình là hay là đúng, không chấp nhn ai nói ngược làm ngược vi ý mình. Người tu thì cho pháp tu ca mình là cao nhất, v Giáo ch ca mình vĩ đại nht, không biết tôn trng pháp tu khác, tôn giáo khác. Ðây là ngun gc ca nhng cuc tranh cãi bt đồng và nhng cuc chiến tranh mang nhng tên hoa m như Thánh chiến, Thp t chinh...

Khi Tổ B Ð Ðt Ma đến Trung Hoa, vua Lương Võ Ðế thnh Ngài v Kim Lăng (kinh đô nhà Lương). Gặp Ngài, Vua hi:

-Trẫm t lên ngôi đến nay thường ct chùa, chép kinh, độ Tăng ni không biết bao nhiêu, vy có công đức gì không?

Ngài đáp:

- Ðều không có công đức.

- Tại sao không có công đức?

- Bởi vì nhng vic y là nhơn hữu lu, ch có qu báo nh cõi tri cõi người, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phi tht.

-Thế nào là công đức chơn thật ?

- Trí thanh tịnh tròn mu, th t không lng, công đức như thế chng do thế gian mà cu.(4)

Người tu làm nhiu Pht s, nếu không thn trng rt d phát sinh ngã chp. Càng đóng góp nhiều cho Tam bo, s chp ngã càng ln, càng thy mình quan trng hơn, có ích hơn người khác. Nhưng phước báo nhơn thiên chỉ là hu vi sinh diệt, như bóng như vang, như mũi tên bn hết đà rơi xuống. Do chp vào kết qu ca vic làm, chp vào ta - người nên không dính dáng vi công đức ca t tánh là vô vi vô tác, không phi là công đức chân tht và không giúp ta thoát khi trn lao sinh t.

Trên đây là những cái chp ngã thô phù d thy, người tu nh quán chiếu s duyên sinh gi hp ca thân tâm, có th tng bước hoá gii. Ðến cái chp ngã tế vi thì khó nhn biết và khó gii tr vô cùng, mà nhà Phật gi là hết phàm tình vn còn Thánh gii, hết ngã phàm li còn ngã Thánh. Ðó là chp vào s chng đắc trong công phu ca người đã có một trình độ tâm chng nào đó. Thấy ta đạt đạo là còn ý nim s đắc; còn s đắc là còn nguyên t tướng Ngã-Nhơn-Chúng sanh-Thọ gi. Ngay c hy vng cao nht “Thành Pht” cũng còn bóng dáng cái ngã, làm chướng ngi rt nhiu trên đường đạo. Trong kinh Kim Cang, Ðc Pht dy rng: “Nếu có pháp Như Lai được vô thượng chánh đẳng chánh giác thì Ðc Pht Nhiên Ðăng ắt không thọ ký cho ta”. Ðây là tinh thn vong ngã, điều quan yếu ca đạo Pht. Tu thế nào không có mc đích mà vẫn đến ch cui cùng? - Ðiu này có nghĩa, hành gi không tác ý khi dng công, không thy tht có mình là người tu, tht có pháp để tu, tht có quả để chng đắc. Có th nói, đạo Pht là đạo duy nht xương minh thuyết vô ngã, và người tu đạo Pht dùng đạo đứùc vô ngã làm thước đo định lc ca chính mình.

Tinh thần vong ngã trước tiên biu hin cách đối nhân x thế hàng ngày. Ði x vi người khác một cách chân thành bao dung, giúp đỡ người nhưng không có vẻ ban ơn cầu báo; làm mi vic ln nh đều t m chu đáo, hoàn thành tốt nhng công tác được giao mà không mong li dưỡng; trước cnh thun hay nghch đều bình tĩnh gii quyết êm đẹp, không vướng mc, không tranh đua ... Ðây là phong cách của người có chng nghim Thin. Ði vi đời trn vn thì trong đạo mi hoàn toàn. Không ai sng t bc vi người đời, xa l vi đồng loi, quay lưng với ni kh ca thế gian mà là người tu đắc đạo được.

Con người là sinh vt mang tính xã hi rt cao, có s liên đới trách nhim, có đời sng tp qun. Như một b phn trong cơ thể, tuy có chc năng riêng nhưng vẫn liên h cht ch và h tương với nhng b phn khác; mi người là mt phn t trong xã hi, chu nh hưởng ca mi người trong tp th và ngược li, cũng nh hưởng đến toàn b loài người. Ði vi môi trường thiên nhiên cũng thế, không có mt hành vi nào tàn hi môi trường mà không chi phi đến sc kho con người. Vô s thiên tai bnh ha xy ra trong thời gian gần đây đều là hu qu ca nhng nn phá rng, nhng tác động trc tiếp và gián tiếp ca con người làm ô nhim môi trường sinh thái. Khi quán chiếu v s tương tức tương nhập ca các pháp trong vũ tr, chúng ta thy rõ tt c chúng sanh hu tình và vô tình đều ràng buc ln nhau, đều liên quan mt thiết vi nhau và hơn nữa, ÐU LÀ NHAU. Thiên nhiên này chính là ta, vũ tr vn hu là thân ta ch không ai khác, và tàn phá thiên nhiên cũng chính là tàn phá ngay bn thân mình.

Khi công phu tích cực, ý thc chp ngã tm dng, tâm như mặt h lng sóng mênh mông, ta cm nhn mt nim an lc vô biên vô tn. Tâm thanh tnh phát sinh s minh triết; s minh triết li là điều kin để tình thương chân thật ny mm.Hư không không hình tướng nên rỗng rang thênh thang;tâm người tu lúc nào cũng thênh thang như thế, dung nhiếp tt c muôn loài. Ta mun tri lòng ra hòa điệu vi mi chúng sanh, tình thương của ta không còn nhum màu v k chiếm hu mà tr nên bình đẳng không hn cuc, như ánh nắng mt tri chan hòa khp thái dương hệ

Chúng ta học đạo là mun tìm s bình an vĩnh cu, mt hnh phúc chân tht, mt trng thái siêu vit ca tâm linh. Mc đích ấy không d dàng đạt được, phi đánh đổi bng tt c tâm trí sc lc, thm chí toàn b cuc đời mình. Nhưng nếu khi nào ta còn quan nim “đi tìm”, thì bình an hạnh phúc có được cũng ch là tm b phù du. Ch khi nào không còn du vết ca ngã chp dù thô hay tế, hnh phúc chân tht y, bình an vĩnh cu y, Niết-bàn Bo S y mi hin bày. Mt khác, không phải đợi đến đích cuối cùng ta mi có an lc hnh phúc, mà trong công phu thin tp, khi tâm vng bt mi vng tưởng đảo điên, ta cũng được đôi lần cm nhn. Vài git nước cam l là phn thưởng cao quý khuyến khích ta hăng say dấn bước trên đường đạo, vượt qua mi th thách cam go. Ðến khi sch bi phin não, ngã chp pháp chp đều không, gương tâm sẽ phô bày toàn b tính trong sáng và chiếu soi vn có, như hai câu kệ ca Thin sư Vĩnh Gia:

Ngân cấu tn tr quang th hin

Tâm pháp song vong tánh tức chân

Nghĩa:

Khi nào bụi hết gương trong lại

Tâm pháp đều quên tánh tc chân.

II- NỘI DUNG THIN TP:

1- Lộ trình tâm linh:

Trong Bát Chánh đạo, đi đầu là Chánh kiến. Người tu trước tiên phi nm vng phương pháp hành trì, như người đi đường trước khi khi hành phi nghiên cu l trình và nơi đến. Nếu không có kiến gii chơn chánh, tu hành theo chánh pháp, thì dù cực kh công phu đến my cũng không đạt được mc đích cuối cùng, đôi khi lầm lc vào đường tà li r. Dĩ nhiên, mi người có căn cơ, trình độ, s thích khác nhau, nên s chn la pháp tu là do tâm ý ca riêng mình. Kinh nghim tu tp cũng mang tính cách cá nhân, như mỗi bông hoa có mt dáng v, mt hương thơm khác nhau, nhưng đều chung sc ta sc khoe hương cho vườn hoa tp th.

Thiền sinh theo dõi tng vn hành ca tâm nim, thy chúng khi lên và dit đi, không còn dấu vết. Biết rõ chúng là hư dối không tht, ta không theo chúng, t nhiên tâm lin an. Nhn din tiến trình sinh dit ca vng nim là bước đầu ca con đường thiền tập; trong đó, nhận ra b mt ca vng là điều kin đầu tiên ti cn để chiến đấu và chiến thng gic phin não. Mt v tướng tài mun trăm trận trăm thắng, phi biết rõ ta và địch. Gic phin não có tâm vương tâm sở, trn chiến ngay t thân là trn chiến ác liệt nht, nếu ta không nhn din được gic thì làm sao có chiến tích ly lng? Ðây li là cuc trường chinh gian kh, vì tp khí phin não tích t biết bao đời kiếp, không phi mt ngày hai ngày là xong vic. Pháp môn tri vng là li chăn trâu trong nhà Thiền, có nhiu mc đôï từ thp đến cao(5).

Chánh niệm là công phu mi nơi mọi lúc. Thin sinh duy trì s tnh giác thường xuyên, luôn đặt tâm vào gi phút hin ti, nhn rõ s động dng ca thân, s biến đổi ca tâm và s vô thường ca cnh. Ch cn biết rõ tt c mà không khi nim hay cưỡng chế mi s vic theo ý mình. Chánh nim t động soi sáng và chuyn hoá mi cm th thân và nhng phin não cu nhim trong tâm, như ánh nắng chiếu vào nước đá, tự nhiên nước đá tan chảy dù ánh sáng không cố ý mong cu.

Kiến tánh là kiến chiếu vào tn th tánh ca chính mình. Hành gi nhn ra con người tht, con người nguyên thy trước khi cha m sinh ra. Kiến tánh là tr v cái uyên nguyên ca vũ tr nhân sinh; cái không th dùng ý thc tưởng tượng nhưng luôn luôn hiện hu; cái không hình tướng nhưng trùm khắp và không sanh không dit; cái tch lng muôn đời nhưng chiếu soi tn cùng pháp gii. Tr v th tánh chơn thật y, hành gi đã có chỗ y c chung thân, đời tu không còn lui st na.

2- Thiền tp trong mi hoàn cnh:

Trước tiên, chúng ta nên nhn định rng Thin không phi ch là to, nên tu Thin không ch lúc ngi. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu khi tâm ta còn lăng xăng đa sự, to thin là công phu cn thiết và cơ bản giúp ta d định tâm hơn cả. Mt s người dùng li dy ca Lc T, hoc ch trương Thiền là phi sng trong tng giây phút để bài bác vic ta thin. Ðây là mt điều lm ln ln lao. Ðc Pht mi sáng sm trước khi đi giáo hoá, Ngài đều ta thin, sau đó xét căn cơ trình độ ca nhng người hu duyên Ngài s gp, để ch dy phương pháp tu thích hợp. Mt s v T sư không chủ trương tọa thin để đối tr s c chp ca môn đệ, cho ta thin là cu cánh. Nhng phương tiện giáo hoá ca các Ngài lp bày chđương cơ và chỉ thích hp vi đương thời; ngày nay chúng ta li áp dng vào mi nơi mọi lúc, e có khi không hp l.

Lúc tọa thin mà có âm thanh hay tiếng động n ào bên ngoài, ta vn biết nhưng không duyên theo tiếng hoc sanh tâm bc bi. Nhng cnh tượng quy rầy lúc đầu làm tr ngi, nhưng đó cũng là cơ hội để ta tu trong nghch duyên. Tuy thế, không nên c ý to nghch duyên như tự mình m nhc hoc băng thuyết pháp lúc đang tọa thin, vì thin không ch ý ch tâm. Trường hp này thường gp trong gia đình các Phật t đông người, không có không gian riêng cho mình tu tp. Ta có th khc phc hoàn cnh bng cách chn gi yên tĩnh hoc mt nơi thích hợp cho công phu thin ta, kết hp vi thin hành.

Tọa thin là công phu trong lúc tĩnh; tiến thêm mt bước là tp tu trong khi động, theo tinh thn ca Chánh nim hay làm vic gì ch biết vic đó. Trong ngày, lúc thuận tin ta có th thin hành trong phòng, trên sân thượng, trên đường vng hay ngoài bãi bin ..., va đi vừa hít th không khí trong lành, chánh nim trên từng bước chân, Thin hành là li công phu có tính cách t do, không theo nguyên tc c định. Ðơn giản là ta đi bách bộ mt cách chm rãi, không có đích đến. Lúc đi ta biết mình đang đi, cái biết này ch mi trên b mt ý thc nhưng là khởi đầu cn thiết. Tâm tĩnh lng, ta thy an lc hnh phúc nơi từng bước chân. Ðến khi đi chỉ biết là đi mà không còn ngã tướng, thì tuy chân vn bước mà ý nim đi biến mt. Ði trong trng thái vong ngã thì tc khc ta đi vào bản th ca chính mình. Ði thng vào bn th hoàn toàn trái ngược vi s đi quanh của ngã tướng; điều này khó nói cho người khác hiu, ch nh công phu mi t mình thm nhn.

Trong một nhóm tu hành, ta có th t chc nhng ba cơm nhiếp tâm. Duy trì chánh niệm trên tng động tác, nghĩa là đang gắp, nhai, nut ...ta đều biết rõ nhưng không chia nhỏ nhng động tác y. Ví d, trong trí ta c thm nh theo tng c ch “gp-gp lên ming - b vào ming – nhai – nhai - nut...” thì nhng động tác y không thể nào t nhiên được. Các món ăn đặt trên bàn, ta có th gp mt cách t tn t nhiên, v chua cay ngt mn thế nào ta đều biết. Không phi khi ăn không cần biết ngon d, vì như thế trû thành vô tri, dn dn quên mt s sng. Ta có quyn thy nghe hay biết tất c, nhưng điều quan trng là không sanh tâm khen chê ưa ghét, như thế s không xa ri cuc sng, mi có cơ hội phát sinh Tri kiến Như thật.

Mặt khác, trong nhng công vic hàng ngày, ch cn tnh thc chú tâm vào mi động tác, vào công vic làm. Khi ta quét nhà, chính sự quét nhà là nim an lc, nếu ta không xen vào nhng tư tưởng phc tp ca ý thc. Khi ta nu cơm, rửa chén, cuc đất ... cũng vy. Nu cơm để nu cơm, rửa chén là để ra chén. Ch chú tâm vào vic đang làm, việc làm y s được chu toàn, năng suất cao, kết qu tt; và đặc bit, nơi hành động đã là mục đích, nơi phương tiện đã là cứu cánh. Như thế, Thin là s sng trong mi sinh hot bình thường.

Các huynh đệ đồng tu thường có nhng bui pháp đàm, trao đổi nhng kiến gii và kinh nghim trong công phu. Nhng cuc trao đổi như thế rt hu ích, vi điều kin phi có tinh thn hòa ái hoan h, mc đích giúp nhau cùng tu tiến ch không phi tranh lun hơn thua. Nếu không theo tinh thn Tam hòa(6), d gây mt s đoàn kết ni b. Khng T nói: “Tam nhơn đồng hành tt hu ngã sư, ba người cùng đi ắt có người làm thy ta. Ta có th hc được tt c mi người, k c nhng người nh tui hơn, yếu kém hơn ta. Có người thường thích phát biu trước tp th để chng t mình tu hay hơn, hiểu biết hơn người khác; có người bo th, luôn cho ý kiến ca mình là đúng, không chấp nhn nhng ý kiến trái ngược... Tt c đều là hành tung ca bn ngã. Người có ngã chp quá ln không th tiếp thu gì thêm, như ly nước đã đầy, không rót được thêm vào. T đó, đường tu dn dn đi xuống mà không hay biết. Thin tông nói lên được cái tinh hoa ca đạo Pht nên rt thành tu v mt truyn pháp, nhưng do chỉ dy quá thng tt nên nhiu người tưởng hiu lý Thin là xong vic, ly s hiu bng ý thức làm l sng mà không tinh cn công phu, cui cùng t hay chuyn sang d. Thin sinh chúng ta nên cnh giác đối vi bnh khu đầu thin, mt bnh ph biến ca nhng người nói nhiu làm ít. Tu là phải thúc lim thân tâm, thn trng trong tng li nói và tnh giác trong tng hành động, li cn nói ít hơn những điều mình đã thấy. Người có công phu thin tp t nhiên s có mt phong cách đặc bit, trm tĩnh đúng mực t li nói đến vic làm.

Các bậc hiền sĩ ngày xưa thường ch trương Thà chết vinh hơn sống nhc. Danh d nhiu khi quý giá hơn tài sản, tính mng. Nhưng làm sao trong vinh dự được tôn xưng mà ta không ngã mạn cng cao, thì có lúc nào đó bị người khinh chê, ta s không quá bun kh. Gp la nóng ta biết ngay mà tránh, còn nước mát li d làm mt cnh giác, chết đuối lúc nào không hay. Nghch cnh như lửa nóng, người tu d thc tnh nh xoay li mình, còn cnh m êm thun tho đôi lúc gây kiêu ngạo. Cho nên nhà Thin không s tht bi, mà li ngại s thành công; vì chính tht bi là nghch duyên cn thiết để hành gi có thêm kinh nghim t thân, biết mình còn xu d mà tinh cn tu hc.

Có một điều tế nh chúng ta cn lưu ý: Một hôm nào đó ta gặp mt người dáng v tu hành mu mc, sng trong cảnh bần hàn và luôn chê bai xem thường danh li. Tiếp xúc vi người y đôi lần, ta rt ngưỡng m và mun tôn làm thy dy đạo. Nhưng cần tnh táo sáng sut nhn định rõ vn đề. Ng ngôn Pháp k chuyn con cáo chê chùm nho xanh, không đáng để nó b công hái. Nhưng thật ra, vì chùm nho trên cây cao quá, cáo ta năm lần by lượt nhy lên mà không vi ti, nên mi ra b chê bai. Ðó ch là tâm lý phn ng trước mt th mà mình không th có dù thâm tâm rt mun. Trong đời, chúng ta có th gp rt nhiu hình nh “con cáo và chùm nho” như thế.

Cổ đức nói:

Phiền não khi giai do đa sự

Thị phi sanh dĩ th đa ngôn.

Con người chúng ta không nhiu thì ít đều có nhng ham mun đam mê. Chính sự ham mun to thành kiết s, trói buc và sai khiến ta phi tìm mi cách tha mãn; đạt được li mun nhiu hơn, không đạt khi sanh sân hn. Nhu cu bn thân càng cao thì phi ôm đồm nhiu vic, phin não càng ly lng. Con người tr thành nn nhân cho chính dc vng ca mình, ngày càng bt an, thn kinh căng thẳng đưa đến nhng hu qu khó lường. Li na, khi ngi vi nhau, thường thì chúng ta hết bàn s phi quy li đến chuyn đông tây kim cổ. Nhưng bàn chuyện người thì có ích gì cho mình, càng nói nhiều càng lm th phi. Chúng ta có mâu thun là mun bình an nhưng lại thích lun bàn thế s, li thy rõ cái d ca người mà không biết tìm khuyết điểm nơi mình. Chúng ta tu là chấp nhn nhng điểm yếu ca mình mt cách thng thn, và sa đổi để ngày càng hoàn thin. Ta nhn định mi người mi vt bng cp mt khách quan, không thn tượng hoá người nào, không lý tưởng hoá vt gì. Trên đời không có cái gì tuyt đối, không ch có thy mình là hay nht, không ch có pháp tu ca mình là đúng nhất. Những cái nhìn thin cn biên kiến là tư tưởng cc b ch quan, làm đóng khuôn và che mờ thc ti. Ðo Pht là đạo trí tu, người con Pht phi có chánh kiến, nhìn mi vn đề mt cách toàn din và bao dung được mi tư tưởng lp trường khác bit. T đó, ta có thể hòa đồng vi mi người và chu đựng mi hoàn cnh mà vn gi bn cht, phong thái riêng ca mình.

Thiền sư Vạn Hnh có bài k ni tiếng:

Thân như điện nh hu hoàn vô

Vạn mc xuân vinh thu hu vô.

Nhậm vn thnh suy vô b

Thịnh suy như lộ tho đầu phô.

Nghĩa:

Thân như bóng chớp có ri không

Cây cỏ xuân tươi, thu nhuốm hng.

Mặc cuc thnh suy, đừng s hãi

Thịnh suy như cỏ ht sương đông.

Khi biết vn pháp đều không tht, đều vô thường, thì s thăng trầm thnh suy ca cuc sng đối vi các Ngài như hạt sương trên đầu ngn c. Chúng ta chưa được t ti như các Ngài, nhưng nhờ công phu thin tp, ít nhiu cũng có s trm tĩnh. Trước khi quyết định mt vic gì, ta suy nghĩ chín chn, x thế có lý có tình và có lp trường vng chc. Ta không t nan việc gì trong kh năng mà có ích cho đời, làm nhưng không dính mắc vướng bn. Ði sng ca ta s có ý nghĩa dù th mng ngn hay dài; ta hiến dâng nhiu bao nhiêu thì s an lc hnh phúc đến vi ta tương đương như thế.

Một s thin sinh thường thc mc: Trong cuộc sng, ai cũng phi tính toán lo toan cho bn thân, cho gia đình. Người tu càng nhiu vic sp xếp, t chc trong t vin và nhng vic Pht s bên ngoài. Sut ngày suy tính bn bu như thế có trái vi tôn ch nhà Thin là vô s vô tâm?. Các bc ngộ đạo cũng trăm công nghìn việc, nhưng các Ngài sắp xếp vic nào ra vic y, tính xong ri buông x, nên các Ngài làm tt c mà cũng như không làm. Chúng ta học theo các Ngài, cũng phi lo toan cho cuc sng hàng ngày mt cách chu đáo, làm tròn mọi trách nhiệm đối vi gia đình và xã hội, nhưng không dính mắc, thì dù đa sự mà vn không phin não.

3- Một vài ng nhn trong công phu:

* Có người cho rng, tu hành là phi tránh bt duyên khi chưa triệt ng, nên ch trương tự tu t hc khi đã biết cách dng công. Ðây là mt quan nim hu lý, có cơ sở, nhưng nếu ta c chp li sinh ra cc đoan. Ngày xưa, các vị Thin sư khi kiến tánh, thường vào núi rng n tu mt thi gian gt sch tp khí, sau đó mới vào cuc đời giáo hoá chúng nhân. Ngày nay, chúng ta không thể sng mt mình nơi hoang dã, uống nước sui ăn trái rừng qua ngày, chưa kể lúc m đau hoặc chướng duyên làm tr ngi. Vì thế, phn đông chúng ta đều chp nhn cuc sng chung cùng bn l, tuy kết qu không nhanh chóng bng người xưa, nhưng được li là giúp mình giúp người. Mt khác, nếu nm vng pháp tu, trong lúc động li tiến nhanh hơn khi tĩnh. Cùng sng vi tp th, mt mt ta giúp được người đi sau, mặt khác ta nương vào người để cng c lòng tin, ý chí, để được bo v trước nhng cám dỗ ca ngũ dc. Nhiu người thích tu nơi vắng v, mt thi gian tưởng mình đã xong việc, không ng khi tr v thế gian li sanh phin não, có trường hp sa ngã, ung mt đời tu. Ðây không nhng là kinh nghim đối vi người xut gia, mà còn cho nhng đạo tràng cư sĩ ti gia.

* Có người hiu lm ch có ta thin mi là tu, nên xem thi gian ta thin trong ngày là chun mc đạo đức. Tht ra, khi mi phát tâm, ta thin giúp ta d an định tâm, do các căn ít tiếp xúc vi trn cnh. Nhưng trong các giai đoạn sau, khi công phu đã thuần thc, ta cn tu trong mi thi khc, mi nơi chốn, mi oai nghi. Các Thin sư, khi trả li câu hi “Thin là gì?”, thường bo “Dưới gót chân ông” hoc “Trong thân ch nào không có máu?”. Lc T ch trương kiến tánh ch không chủ trương tọa thin, vì chưa kiến tánh thì chưa bước chân vào ca Thin tông.

* Một s thin sinh quan nim Thin là ct đứt mi hot động tâm lý. Ðây là li tu theo kiu đá đè cỏ, luôn phi chú tâm đè nén vọng tưởng nên hành gi rt s cnh s duyên, không có sự sáng to và sc sng riêng cho chính mình; đến khi gp chướng ngi không biết làm cách nào để tránh. Có người li hiu Thin qua sách v, nghĩ Thin d tu d chng, chưa gì đã tự tôn xưng, thỏng tay vào ch. Tht là mt lm ln tai hi, sao khi đọa vào kh x? Tt c ngôn t, dù cao siêu hoa m đến đâu, cũng không din đạt đến l tht. Mun ng lý Thin, ta phi khéo thông qua ngôn ng mà thm lãnh hi thc ti phi ngôn. Thin là đời sng t mình kinh nghim, t thu trit ngay t nhng điều bình dị đơn giản nht.

* Ðức Pht bo “Chúng sanh là Pht s thành”, y là mun sách tn hàng môn đệ, vì qu tht mi chúng sanh đều có mm mng giác ng. Không có nhân thành Pht, không th nào chúng ta tu đến qu v cui cùng. Nhưng nếu chúng ta hiu đơn giản rằng, ch “s thành” có nghĩa là mt tương lai nào đó, thì vô hình trung ta có sự vng cu mong mi. Như thế là không hp lý đạo. Pht là Pht tâm ti hin tin, ch không phi là mt Ðng Cu thế bên ngoài hay mt qu v Pht thi điểm nào xa xôi. Người tu thiền có tâm mong cu kết qu, có khi công phu thy cnh l li khi lòng vui mng hay s hãi, thường d phát sinh bnh tt, điên cuồng. Ðây là điều chúng ta cn thn trng ghi nh.


ường ch.3" />

Chương 3: CHNG NGHIM THIN

Tất c thin sinh, ai cũng phi ít nhiều bơi lội trong công phu. Dù có lúc ta b tán tâm, quay cung theo các cnh, nhưng nhờ kp thi tnh thc nên ly li s t ch t do. Cũng có nhng khi thân th kho mnh, khí lc sung mãn, điều kin xung quanh thun lợi, s ta thin quyết lit giúp ta đi sâu vào công phu, ta cảm thy tươi mát, bình an và tự tin vô cùng. Như vậy, có thin tp là có s cm nhn trên chính bn thân mình mt trng thái vô nhim ca tâm, khi tâm ta an nhiên bt động trong phút giây hin tại.

Có thể nói, nếu xa ri Thin, ta không th hiu bn cht ca đạo Pht, vì Thin là tinh túy, là ct ty ca đạo Pht. Nhưng nếu không có chng nghim thì cũng không có Thin. Chính nh chng nghim khi hành thin, ta mi có s bình an vng chãi trước mọi cnh hung, mi có th vượt qua nhng chướng ngi đến t bên ngoài và trong thân tâm, mi có cơ hội phát minh vic ln.

Trong chương nầy, chúng ta s trin khai nhng khía cnh và mc độ chng nghim Thin, để có cơ sở soi ri li bn thân mình, t đó có niềm tin vng chc trên đường tu. Dĩ nhiên, kết qu công phu và s cm nhn ca mi người là nhng kinh nghim t ni, không ai giống ai; hơn nữa, s giác ng không phi đến mt cách th lp, tim tiến, mà là mt trng thái đột biến, bt ng. Tuy vy, trong lộ trình công phu, bước sau phi khác bước trước. Và vì tiến trình tu tp có rt nhiu gian lao th thách, và c nhng hm h cm by, nếu không da vào kinh nghim ca ngui đi trước như những bng ch dn bên đường, chúng ta có th phm nhng li lầm đáng tiếc.

I- CHỨNG NGHIM THIN LÀ KT QU CA TRC GIÁC:

Pascal, một nhà triết hc lng ly người Pháp đã nói: “Con người ch là mt cây sy, yếu t nht trong thiên nhiên, nhưng là cây sậy biết tư duy” (L’homme n’est qu’un roseau, le plus faible de la nature, mais c’est un roseau pensant). Thật vy, kh năng của con người thích nghi vi môi trường vi hoàn cnh kém xa so vi loài vt, nhưng lại đứng trên ngôi v chúa t muôn loài là nh đâu? – Chỉ nhờ b óc biết lý lun, phân tích, tư duy. Trí óc là phương tiện ti cn trong thế gii hu vi để tn ti và phát trin, để n định trt t xã hi, để thăng hoa về đạo đức. Ði vi người tu, bước đầu cũng phi vn dng trí óc để nghe và hiu đúng chánh pháp. Trí hữu sư là trí tuệ nh thy dy và trò vn dng tư duy mà có, là bước căn bản khi mi vào đạo để khi sa vào tà kiến, mê tín.

Mặt khác, người tu Pht như người chèo thuyn ngược dòng. Ch nói vic ta thin, nhng hành gi sơ cơ chưa quen với tư thế tĩnh ta, nếu không vn dng ý chí để làm ch thân tâm, làm sao có th vượt qua nhng cm giác đau tê của thân và nhng vng nim ly lng ca tâm trong sut 1-2 gi bt động? Và nhng ma chướng cám d ca ngũ dc, nếu không kiên định chiến đấu liên tục vi chúng, làm sao có th chiến thng?

Như thế, ý thc và ý chí đều là nhng điều kin quan yếu ca người tu lúc nhp môn. Nhưng đó có phải là điều kin duy nht để được giác ng gii thoát không?

Ta đã biết, Thin không l thuc vào mt tư thế, một hình thc l nghi nào. Thin là trng thái ca tâm thanh tnh mà luôn tnh sáng, là s th nhp toàn trit vào thc ti sinh động. Ði vi người mi vào đạo, ta thin là tư thế ti ưu giúp tâm dễ an định, nh ý chí h tr để kéo dài thi gian tĩnh ta. Nhưng khi nỗ lc bng s tác ý, vô tình ta li nuôi dưỡng ngã tướng vì thy có cái ta trong dng công; cái ta y cũng tri dài, ln dn theo thi gian công phu. Ðây là điều rt tế nh mà nếu không khéo chú ý, ta khó th nhn ra.

Ngài Ðạo Nht lúc còn là thin sinh núi Hoành Nhc, hng ngày ta thin rt tinh tn. Thin sư Nam Nhạc biết là bc pháp khí nên mt hôm đến gn hi :

- Ðại đức ngi thin để làm gì ?

Ngài Ðạo Nht thưa:

- Ngồi thin để làm Pht.

Câu trả li rt hay, biểu lộ ý chí xut trn. Theo gương Ðức Pht ta thin liên tc 49 ngày đêm dưới ci Tt-bát-la và tr thành bc giác ng, chúng ta đều mong có ngày, nh n lc ta thin, chúng ta cũng được thành tu đạo qu. Tuy nhiên, chúng ta ch biết thi điểm cui cùng lúc sao Mai vừa mc, đánh dấu s thành công ca Ðc Bn sư ; còn quá trình tu tập trước đó, tâm thức ngài din biến thế nào, thì ai hiu thu? Thin sư Nam Nhạc mun cnh tnh nên đem gạch đến mài trước ca am Ngài Ðo Nht. Và đây là đoạn đối đáp rất lý thú và nghĩa lý rt sâu xa:

Ðạo Nht thy l hi:

-Thầy mài gch để làm gì?

Sư đáp:

- Mài để làm gương.

- Mài gạch đâu có thể thành gương được?

- Ngồi thin đâu có thể thành Pht được?

- Vậy làm thế nào mi phi?

- Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải hay đánh trâu là phải?

Chấp vào vic ta thin cho là cu cánh, cũng ví như người mun mài gch thành gương hay nấu cát thành cơm. Trâu và xe dụ cho tâm và thân, chúng ta tu là tr ngay con trâu tâm, tr mi nơi mọi lúc ch không ch lúc ta thiền. Li dy sau đây của Thin sư càng làm rõ hơn ý ấy.

- Người hc ngi thin hay hc ngi Pht? Nếu hc ngi thin, thin không phi ngi nm. Nếu hc ngi Pht, Pht không có tướng nht định, đối pháp không tr, chng nên th x. Ngươi nếu ngi Pht tc là giết Pht, nếu chp tướng ngi chng đạt ý kia.(7)

Nói như thế, không phi chúng ta bài bác vic ta thin. Ðo Pht là Trung đạo, không chp bên ny cũng không thiên bên kia. Chúng ta cn khéo hiu li dy ca các Ngài để có cái nhìn toàn diện v mi vn đề, ngoài đời cũng như trong đạo.

mc độ cao, Thin là trí tu Bát–nhã, là hành vi ca trc giác. Trc giác Bát-Nhã phóng xut khi vng bt nhng suy lun tư duy. Trí hữu sư do vay mượn kiến thc bên ngoài kết hp vi ý thc bên trong, trở nên chướng ngi nếu hành gi chp cht vào đó. Ðức Pht gi là S tri chướng. Thin không đồng hoá vi mc ta, cũng không ph thuc vào yếu t tri thc là nhng k nim tri dài theo tiến trình nhân qu. Ðưa tay vào lửa lin biết nóng, t nhiên rút tay lại; nghe gi lin thưa, không cần suy nghĩ ... Hàng ngày, có bao nhiêu điều ta không cn suy lun mà vn thy nghe hay biết. Kh năng ấy do đâu mà có? Mọi động dng thi vi đều không ri cái BIT. Biết là biết tc thì, suy nghĩ lin trái. Cái biết hiện hu mi chúng sanh, không phân bit ging loài. Biết y chính là TÂM. Nh câu chuyn gió và phướn trong Kinh Pháp Bo Ðàn: Gió và phướn động là vic ca duyên, còn cái biết có s lay động là Tâm. Do tâm động nên tranh cãi, tâm không động thì có gì dính dáng?

Các pháp biểu hin bng muôn màu muôn v, biến đổi không dng. Ðó là thc ti sng động. Thin gi chng nghim vào thc ti sng động y, nhn ra sát-na bt động vĩnh hng. S minh triết nh công phu thin tp là trí tu phát sinh qua chng nghiệm tự thân, là kết qu ca trc giác. Nhà Pht gi là Trí vô sư, trí tuệ không nh Thy mà có, là trí tu chân chính, là cái Biết đích thực đến tn cùng bn th ca muôn pháp.

II- TRỰC TIP TH NHP VÀO THC TI SNG ÐNG:

Có vị khách hi:

- Thế nào là Niết-bàn thường tr?

Sư đáp:

- Lá rụng theo dòng nước,trăng sáng trên đỉnh đồi.

Lời đáp rất nên thơ và diễn t cnh tc thì, nhưng nếu người nghe phóng tâm chy theo cnh thì đã lầm qua. Nếu Thin sư trả li bng cách mô t mt cnh gii vi diu ca Niết-bàn, thì cũng chng thu đến bn cht tht s mà còn làm người nghe thêm kiến gii. Bi vì Niết-bàn thường tr không phi mt nơi chốn xa vi nào đó để ta hướng đến, mà chính là thc ti hin tin sng động, khi tâm ta hoàn toàn thanh tnh hng tri. Thin không là mong cu tìm kiếm, vì thc ti nhim mu y ch hin hu khi ta bt dt mi ý nim phân bit hai bên, như mặt h lng sóng thì bóng trăng hiện sáng ngi. Khi hành gi luôn thp sáng chánh niệm, tỉnh giác trong đương xứ, v y thy mi vt mi cnh đều là thc ti hin tin.

Shiki có bài thơ ngắn:

Ta nhìn sâu xa

Dưa nằm trong c

Hé mấy n hoa.

(Nhật Chiêu dch)

Cái “nhìn sâu xa” chính là cái nhìn thẩm thu vào mi s vt hin tượng. Ðây là cái nhìn của Thin, thy biết các pháp nhưng không khởi nim. Lúc này, mt trái dưa trong đám cỏ, vài n hoa hé n cũng đều là thc ti nhim mu. Bng cái nhìn sâu xa y, Thin gi nhn ra s bt động vĩnh hng trong mt hin hu sng động, s tch tĩnh muôn đời trong cái linh hot muôn màu muôn v ca thế gii.

Có vị tăng hỏi:

-Thường nghe nói chư Phật và giáo pháp vi diu đều t kinh ny lưu xuất. Vy kinh ny là kinh nào?

Sư đáp:

- Luôn ở bên ông, đừng tra hi, đừng lý lun, cũng đừng nói năng, thì sẽ nm bt được.

- Làm sao nhận ra và nm bt được?

- Phải nghe bng hai con mt .

Thật là ngôn phong ca các Thin sư! Lời đáp của các Ngài không phi cho ta hiu, mà để ta sng ngay vào giây phút hin ti. Nhng câu hot ng như thế là tuyt đường lý lun, tuyt đường so sánh, là lìa tướng ngôn thuyết lìa tướng tâm duyên. Hàng ngày, ta đi đứng nói năng hoạt động, đó là ai? Chỉ nên thm nhn biết, đừng tư duy lý luận, đừng mong tìm kiếm, vì có nim s th s đắc là đã xa rời Ðo. Người tu thường mong mau kiến tánh, vì nghe nói kiến tánh là điều kin vào ca nhà Thin. Ý thc mun tìm thy tánh mà không hiu tánh y chính là mình, ch có th t tri t nhn. Như khi ta nhìn rõ cảnh vt, ta t biết mình có mt sáng, ch không th thy li cp mt ca mình. Cái Biết cũng vy, nó t thm nhn đang thấy nghe hay biết mà không có ý thc “ta đang biết”. Trng thái ny không th din t bng li cho người khác hiu, mà ch trc tiếp kinh qua, trc tiếp chiêm nghim, hành gi mi t mình khám phá. Ðiu ny nói lên sự khác bit rõ ràng gia mt bên là s th nhp trng thái ca tâm, và bên kia là khái nim v trng thái đó. Ví như một cơn đau, chỉ có người bnh mi biết rõ cường độ, tính cht, v trí chính xác ca nó; còn người ngoài cuc ch có nhng khái niệm về cơn đau ấy nh tưởng tượng, suy lun mà thôi.

Một s người nghĩ rng, trng thái chết lm ý thc hay si định là mt bước tiến quan trng trong công phu, nên hết sc tránh duyên để mong sm đạt được. Trng thái ny tht ra không d dàng mà có, nhưng lại không phù hợp vi yếu lý nhà Thin. Pháp gii luôn hin hu vi muôn vàn hình tướng, luôn sng động biến đổi không ngng. Ðây là s hu, s tướng bên ngoài. Và nơi hiện hu b mt y, li tim n s vô là cái bt động thường tr, là bn cht ca pháp giới. Sự hu là hin tượng sanh dit, s vô là bn cht bt sanh. Hin tượng và bn cht, c hai không th tách ri nhau, đứng ngoài nhau. Các pháp hin din là biu tướng s hu, nhưng nếu ta chy theo s hu, tc duyên theo trn cnh, thì còn trôi lăn trong luân hồi; còn ch chú tâm vào s vô thì tr nên khô cằn bt động, không giúp ích được gì cho ai.Thin sư kiến tánh không phi kiến chiếu vào s vng lng khô chết, mà nhn rõ cái hng hu ca s vô ngay t cái sinh động vô thường ca s hu. Thin là trạng thái tch tĩnh nơi sự hu ch không phi tch lng s vô. Hoa đào nở là s hu, Ngài Linh Vân ng đạo; Tôn gi Ca-Diếp mm cười khi cành sen giơ lên, đây là cái sống động nhim mu nơi sự hu. Thế gii ny dù hoi dit, cái sng động nhim mu ấy vẫn miên trường; con người mt đi chỉ là kết thúc tm thi mt giai đoạn sng, còn tánh Biết thường hng thì không đến không đi, không bao giờ biến đổi.

Tánh Biết hay Pht tánh, Bn lai din mc..., tt c chúng sanh đều sn đủ. Con người không biết mình có gia tài quý báu ấy nên c mãi làm k bn cùng, lang thang trong cuc t sinh. Cũng có người chy quanh bn phía tìm cái bóng ha hn nào xa xôi; nhưng hễ còn nim tìm kiếm, còn tâm khao khát mong được hnh phúc, ta còn xa ri thc ti, và hnh phúc đích thực vn ngoài tm tay. Thin tp là dng li, sng trn vn vi phút giây hin ti, không theo đuổi truy cu quá kh tương lai.

Tuy nhiên, sống trn vn trong giây phút hin ti không phi là duyên theo cnh ri sanh tâm phân bit. Nhà Pht gi đó là phan duyên, tức đuổi theo các duyên, bnh trm kha ca chúng sanh, ngun gc ca luân hi. Hành gi tu Thin không trn tránh các duyên, nhưng khi đối cnh phi quét sch mi to tác, mi dính mc trên cnh. Ta có th thy nghe hay biết tt c mà không có ý niệm khen chê tt xu: đó là sống vi tâm bình thường.

III- SỐNG HN NHIÊN VÀ TÙY DUYÊN HOÁ Ð:

Ðời sng thin tp giúp hành gi thoát khi ý nim phân bit hai bên. Giai đoạn đầu, ta thin theo dõi hơi thở hay tri vng, mi vic xy ra xung quanh ta vẫn biết nhưng không vận dng tư duy, dần dn ta có s bình an khi tĩnh ta. Tiến thêm mt bước, trong cuc sng thường ngày, nh chánh nim tnh giác trước mi biến chuyn ca thân tâm cnh để nhn din và chuyn hoá, ta có th đối phó vi mi tình hung mà không mt s bình n t ch. Nhà Thin dùng bát phong làm thước đo định lc ca người tu, ch không đánh giá kết qu hành trì da vào s din đạt khéo léo, li thuyết ging lưu loát hoặc nhng cnh gii thy được lúc ta thin.

Khi công phu đến ch thâm sâu, như cây có gốc r vng vàng trước giông bão, người tu có mt sc sng riêng, mt phong thái riêng, biu hin s t ti trước mi hoàn cnh. Các Ngài không thy đạo phi th đắc và đời phi xa lìa, vì không có cái phi tc ngoài phàm tục, cái xut thế ngoài thế gian, cái thường hng ngoài sinh dit. Cuc sng là mt dòng chy bt tn, và Thin không phi xa ri cuc sng hay chn đứng dòng sng sinh động để tìm s bt động vĩnh hng. Thin tp là bơi lội vào dòng sng luân lưu không dừng ngh y, vào thế gian pháp sinh dit y mà nhn ra Pht pháp nhim mu. Phin não tcB- đề là như thế.

Nhà Thiền có câu:

Tùy duyên tiêu nghiệp cũ

Hồn nhiên mc áo xiêm.

Hay:

đời vui đạo khéo tùy duyên

Ðói đến thì ăn, mệt ng lin.

Những bậc đạt đạo thường không theo mt khuôn mu nht định nào trong phong cách sinh hot. Mi v biu hin mt v rt riêng, nhưng hồn nhiên đói ăn mệt ng. Người đời thường lm tưởng, phi ra v nghiêm trang đạo mo mi đúng phong thái Thiền sư, lâu ngày sự miễn cưỡng cường điệu y tr thành mt loi kiết s, trói buc h vào khuôn kh cng nhc. Ngược li, có người ch trương phá chấp trit để, tr thành buông lung phóng túng. Ðó là hai cc đoan không hợp l đạo.

Sự hn nhiên ca nhng bc đạt đạo, trước hết là vô tâm khi tiếp duyên xúc cnh. Vô tâm không phi là không biết, mà là thu hiu tt c mi điều nhưng không khởi nim phân bit hai bên. Do lìa nh biên nên không vướng bn ngã nhơn, các Ngài vẫn sinh hot gia lòng cuc đời, vn sng bình thường như mọi người, nhưng trong cái bình thường y li hàm cha s phi thường, vì buông x được tt c phin não chp trước. Hơn thế na, tính hn nhiên còn là t ch, kham nhn và lòng can đảm vô song- đó là cái Dũng ca Thánh nhân. Các Ngài đã chiến thng chính mình, nên trước nhng th thách gian nan hay cám d ngũ dc, trước nhng chướng ngi bnh tt ca thân tâm, trước c nim vui xut thế do các tng Thin định đưa đến, các Ngài vn an nhiên t ti. Thin sư Linh Hựu khi v núi Qui, ch mt thân mt bóng, ăn trái rừng ung nước sui mi ngày. Gp thú d, Ngài ch bình thn nói mt câu: “Nếu ta có duyên vi núi ny, các ngươi nên tránh đi chỗ khác; nếu ta không có duyên đây thì các ngươi cứ ăn thịt ta đi!(8),thế là thú d b đi. Tự ch trước him nguy, kham nhẫn trước khó kh, can đảm chiến đấu vi hoàn cnh ngt nghèo bên ngoài cùng ni cô liêu cay đắng bên trong, để cui cùng tr thành v Ði Thin tri thc cho 1.500 đồ chúng, đó có phải là cái Dũng ca Thánh nhân? Không có cái Dũng phi phàm y, Thin sư Linh Hựu khó th sng hn nhiên sut by năm trên ngọn núi không mt bóng người.

Vua Kế Tân mang gươm đến trước T Sư Tử, hi:

- Thầy đã được không tướng chưa?

- Ðã được.

- Ðã được, thì còn s sng chết không ?

- Ðã lìa sống chết thì đâu có sợ?

- Chẳng s