Tính đặc sắc Nam Bộ làm nên sắc thái độc đáo ở dòng tôn giáo này, tạo thành chất keo kết dính cho sự tổng hợp những nguồn tư tưởng khác nhau, chính là đạo lý làm người truyền thống của người Việt. Với suy nghĩ như vậy, tôi gọi đấy là dòng tôn giáo đạo lý Nam Bộ. Phải hiểu “học Phật tu nhân” là một nguyên lý, trong đó tu nhân là cái đích, là bản chất.
Tiếng tụng kinh dẫn ta vào một bể dâu mà chính người tu hành trải qua, dần dà lắng xuống những thất tình và tham sân si, cho đến một ngày không còn gì cả, không còn một chút sắc thái tình cảm nào trong lời tụng. Gọi là cầu kinh, nhưng mà thực vô cầu, y như tiếng vọng vô hình trong thanh không vậy.
Nhớ Descartes, khách không khỏi thú vị khi nhận ra một sự đối xứng bất ngờ. Descartes nói “Tôi tư duy nên tôi hiện hữu”. Thiền giả biết “Tôi không tư duy nên tôi không hiện hữu”.
Buddha phiên âm là “Phù Đồ” khi qua nước Đại Hạ và But khi qua các nước nhỏ vùng Tân Cương, Trung Á. Buddha biến thành trọc âm (âm đục) But trong văn tự Hồi Hột. Và các tín đồ Phật giáo Trung Quốc buổi sơ kỳ đã dùng chữ Phật để phiên âm lại danh từ But, vì trọc âm xưa của Phật “佛” cũng là But. Tạm kết luận: Phật hay Bụt đều là hai cách đọc khác nhau của một từ duy nhất.
Chẳng lẽ giới tu hành không nhận ra rằng nền tảng tri thức của Phật giáo tại Việt Nam hiện nay hầu như đã không còn nữa, kinh sách thì bị hiểu lơ mơ, đào tạo tăng lữ thì chỉ mang tính hình thức, Phật giáo đã suy thoái thành một thứ tín ngưỡng dễ dãi và thời thượng, Bồ Tát chỉ còn là một vị thần giúp người ta trúng quả, vào cầu, đẻ con trai, trừng phạt ngoại tình... và thi đỗ đại học?
Việt Nam đang đứng trước ngã tư đường, trên đống gạch vụn đổ nát của các ý thức hệ bất khoan dung đến từ Âu châu, và dưới cái bóng khổng lồ ngày càng lớn của đế quốc Trung Hoa. Việt Nam có thể phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng của quốc đạo truyền thống hay không? Và Phật giáo có thể trở thành chủ đạo văn hóa-chính trị của Việt Nam trong những năm tới hay không?
Toàn bộ thế giới nghệ thuật của tích chèo cổ Quan Âm Thị Kính phải được nhìn ngắm trong luồng ánh sáng mới của mỹ học Phật giáo. Thực ra, Thị Kính không phải là người phụ nữ mềm yếu, chịu đựng một cách thụ động những oan trái cuộc đời. Thị Kính yêu cuộc sống, bị mẹ chồng đuổi ra khỏi nhà vẫn không buông bỏ đời mình mà đi tìm sự giải thoát ở cửa Phật.
Những cơ sở nhận thức thực tế, cụ thể từ phía nhà nước trong một vài năm gần đây đối với Phật giáo có nhiều tiến triển song mới chỉ là những điều kiện mang tính tiền đề để Phật giáo Việt Nam phát huy tinh thần nhập thế, chứ chưa phải là hiện thực phổ biến trong đời sống xã hội.
Từ kinh nghiệm bản thân, niềm tin của tôi đã không đến bằng lý luận hoặc xuyên qua các học thuyết. Đơn giản chỉ vì tôi cho rằng ông Phật của tôi nằm trong một chiều kích không gian khác mà với con mắt quen thuộc của không gian ba chiều, con người không thể nhìn ra được. Ông nằm trong chiều thứ 4 thứ 5 thậm chí chiều thứ 11 nào đó cong nhỏ lại hoặc lớn bất tận nằm ngoài nhận thức con người.