Kinh Bát Đại Nhân Giác - Bài 9

    ĐIỀU GIÁC NGỘ THỨ 8
(ĐẠI TÂM PHỔ TẾ)


1, Chánh văn:

弟 八 覺 知 Đệ bát giác tri
生 死 熾 然 Sinh tử xí nhiên
苦 惱 無 量 Khổ não vô lượng
發 大 乘 心 Phát đại thừa tâm
普 濟 一 切 Phổ tế nhất thiết
願 代 眾 生 Nguyện đại chúng sinh
受 無 量 苦 Thọ vô lượng khổ
令 諸 眾 生 Linh chư chúng sinh
畢 竟 大 樂 Tất cánh đại lạc

2, Dịch nghĩa:

Thứ tám biết rằng
Ngọn lửa sinh tử
Thiêu đốt chúng sinh
Khổ não vô cùng
Vì vậy phải nên
Phát tâm đại thừa
Cứu giúp tất cả
Nguyện vì chúng sinh
Chịu mọi đau khổ
Khiến cho chúng sinh
Được vui giải thoát.

3, Giải thích:

Đây là điều giác ngộ sau cùng của kinh Bát Đại Nhân Giác, đồng thời cũng là đỉnh cao tư tưởng của bản kinh, đó là tư tưởng Đại thừa, đưa Phật pháp vào đời bằng con đường Bồ-tát hạnh. Bồ-tát hạnh được thúc đẩy bởi tuệ giác nhìn thấy được sự thật: Ba cõi đang bốc cháy!

Một lần nọ, khi đức Thế Tôn nói rằng thế giới đang bốc cháy, có một Tỳ-kheo liền hỏi: Cái gì đang bốc cháy? Đức Thế Tôn trả lời: ‘Tất cả đang bị bốc cháy. Bị bốc cháy bởi lửa tham, lửa sân, lửa si. Ta nói rằng bị bốc cháy bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não...’

Thật vậy, ngọn lửa tham, sân, si đang thiêu rụi hành tinh xanh của chúng ta. Chiến tranh, khủng bố, bạo động, cháy rừng, thiếu nước, ô nhiễm môi trường… là những hiểm họa đã và đang đe dọa đến đời sống của con người, và đó chính là hậu quả của lòng tham dục, sân hận và si mê. Đó là chưa kể đến những nỗi khổ đau đang âm ỉ trong tâm hồn của mỗi con người, như buồn phiền, ganh ghét, tị hiềm, tương tư… những khổ đau phiền não ấy đang từ từ thiêu đốt thân tâm của chúng ta. Nhưng nguy hiểm hơn hết, hung dữ và bạo tàn hơn hết là ngọn lửa sanh tử đang thiêu đốt chúng ta từng ngày:

Ví như người cầm gậy
Chăn dắt đàn bò si
Già chết cũng như vậy
Đang lùa mạng sống đi.
(Kinh Pháp Cú)

Ngọn lửa già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não… đang lùa mạng sống đi về nơi vô định mà con người không hề hay biết, cứ thản nhiên vui đùa, thậm chí còn tranh giành hơn thua, chẳng khác gì đàn bò si cứ mãi mê nhởn nhơ gặm cỏ, tung tăng giỡn đùa mà không biết người ta đang vỗ béo để lùa vào lò mổ. Thật đáng thương thay!

Một thời Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng cây Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

“Chúng sanh từ vô thủy sinh tử cho đến nay, cứ mãi xoay vần, không biết được biên tế nguyên thủy của khổ.

“Các Tỳ-kheo, ý các thầy nghĩ thế nào? Nước sông Hằng... nước trong bốn biển lớn là nhiều hay là nước mắt của các thầy tuôn ra trong vòng sinh tử luân hồi là nhiều?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Như chúng con hiểu ý nghĩa của lời Phật nói, nước mắt của chúng con tuôn rơi trong vòng sinh tử luân hồi rất nhiều, nhiều hơn cả nước sông Hằng và nước bốn biển lớn.”

Phật nói với các Tỳ-kheo:

“Lành thay! Lành thay! Nuớc mắt của các thầy tuôn rơi trong vòng sinh tử luân hồi rất nhiều, chứ không phải nước sông Hằng và nước bốn biển. Vì sao? Vì các thầy đã từng bị mất cha mẹ, anh em, chị em, thân thuộc, người quen; bị mất mát tiền của, nước mắt tuôn rơi cho những sự mất mát đó rất nhiều vô lượng. Các thầy cứ mãi bị ném ra nghĩa địa, máu tanh chảy ra, rồi sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

“Này các Tỳ-kheo, các thầy từ vô thủy sinh tử luân hồi, máu và nước mắt trong thân rất nhiều, nhiều vô lượng”.

Máu và nước mắt chúng ta đã chảy ra trong suốt đêm dài sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay đã nhiều hơn nước trong bốn biển. Cuộc tử sanh nhọc nhằn khổ đau như thế há không đáng sợ hay sao?

Kinh Pháp Hoa nói “ba cõi bất an, giống như nhà lửa”. Người giác ngộ thấy được ba cõi giống như nhà lửa, ngày đêm đang bốc cháy, đang thiêu đốt chúng sinh, mọi sự sinh tồn trong đó không có một chút an ổn, ngược lại còn bị nguy hiểm vô cùng. Nhưng chúng sinh mê muội thì không thấy được điều này, vẫn cứ an vui, say đắm, cười đùa… trong ngôi nhà đang bốc cháy. Cho nên, thấy được hiện trạng cuộc sống của chính mình đang bị thiêu đốt bởi lửa tham, lửa sân, sửa si và hơn hết là ngọn lửa sinh tử là một cái thấy giác ngộ.

Vấn đề đặt ra, trong ngôi nhà lửa đang bốc cháy ấy, cái gì cần được đem ra và cái ấy có giá trị? Kinh Tạp A-hàm nêu bật vấn đề: “Trong ngôi nhà đang bốc cháy, tài sản gì được mang ra, tài sản ấy không bị cháy, và chúng thật hữu ích?”

Giải quyết vấn đề này cũng chính là đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống và làm rõ sứ mạng phát tâm Đại thừa cứu độ chúng sanh, nguyện vì chúng sanh mà nhận chịu đau khổ.

Phát tâm Đại thừa chính là tâm Đại từ, Đại bi, là tâm Bồ-đề, là tâm Phật, tâm Bồ-tát. Tâm ấy luôn luôn cảm nhận được nỗi khổ đau của chúng sinh, đau cái đau của chúng sinh, khổ cái khổ của chúng sinh; và luôn mong muốn cứu giúp tất cả mọi loài thoát khỏi khổ đau. Cứu giúp bằng cách nào? Kinh Bát đại nhân giác nêu lên lý tưởng: Nguyện vì chúng sanh mà nhận chịu mọi điều đau khổ (nguyện đại chúng sanh, thọ vô lượng khổ).

Nguyện vì chúng sanh mà nhận chịu mọi điều đau khổ là cách duy nhất để hoàn thành ước nguyện thành Phật. Bởi vì, ‘Bồ-tát cần phải trải qua ba vô số kiếp tu tập tích chứa tư lương đại phước đức, trí tuệ, hành sáu ba-la-mật, qua nhiều trăm nghìn khổ hạnh, mới chứng đắc Vô thượng bồ-đề’ (Câu-xá luận).

Nếu người xuất gia không phát tâm Đại thừa, không nguyện cứu độ tất cả chúng sinh thì từ tâm không trọn; không phát tâm chịu khổ thay chúng sinh thì bi tâm không vẹn. Từ bi không trọn vẹn thì không thể cầu thành chánh giác. Cho nên Tôn giả A-nan mới phát nguyện: 'Nếu còn có một chúng sanh chưa thành Phật, thì con nguyện không thưởng thụ hạnh phúc niết-bàn'. Tôn giả Phú-lâu-na thì nguyện dấn thân vào chỗ hiểm nguy để hoằng pháp, nếu người ta mắng chưởi thì Ngài bảo họ còn từ bi, chưa đánh mình; nếu họ đánh thì Ngài bảo họ vẫn còn từ bi, chưa giết mình; nếu họ giết thì Ngài bảo, cảm ơn họ đã giúp Ngài mau thành chánh giác! Ngài nói: 'Bồ-tát vì muốn làm lợi ích cho hết thảy hữu tình, khoác khôi giáp công đức, phát thú Đại thừa, cỡi cỗ xe Đại thừa, nên được gọi là Ma-ha-tát… Bồ-tát Ma-ha-tát hành bồ-đề không phải vì lợi lạc cho một thiểu số hữu tình, mà cho hết thảy hữu tình'. Bồ-tát Địa Tạng thì phát nguyện: 'Địa ngục chưa hết chúng sanh, thề không thành Phật; chừng nào độ hết chúng sanh mới chứng Bồ-đề'...

Kể trên là những tấm gương sáng ngời vượt quá vầng nhật nguyệt của những tấm lòng đại hùng, đại lực, đại từ bi, nguyện vì chúng sanh chịu mọi đau khổ. Tuy nhiên, để phát khởi được đại nguyện từ bi cứu khổ này không phải ai cũng làm được. Bởi vì trong suốt thời gian ba đại a-tăng-kỳ kiếp hành giả cần phải hành vô số việc khó hành, chịu vô vàn thống khổ của sinh tử liên tục không gián đoạn. Cho nên, điều thứ tám của kinh Bát đại nhân giác không những chỉ nêu lên lý tưởng mà còn cảnh giác cho biết con đường hành Bồ-tát đạo, đem đến lợi ích cho hết thảy chúng sanh, dẫn tất cả đến chỗ an ổn tuyệt đối, đến cứu cánh niết-bàn, không phải đơn giản chút nào, ngược lại còn có rất nhiều gian khổ!

Đạo Phật lưu xuất từ lòng Đại từ, Đại bi của Thái tử Tất Đạt Đa. Chính vì mục kích được hiện thực của cuộc sống, thấy chúng sinh chịu những nỗi khổ đau, sinh diệt, tranh giành, chém giết lẫn nhau, bệnh tật, chết chóc, phiền não… mà lòng thương trỗi dậy trong tâm Ngài. Lòng thương ấy đã lấn át cả địa vị ngai vàng điện ngọc, lấn át cả quyền lực, giàu sang, phú quý, và cuối cùng, lòng từ bi đã trở thành động lực thúc đẩy Ngài từ bỏ tất cả những lợi ích và hạnh phúc cá nhân nhỏ bé để đi tìm đường giải thoát cho tất cả chúng sanh, con đường đó, theo Đại thừa, đã trải qua ba đại a-tăng-kỳ kiếp, với nhiều gian truân cơ cực. Với nhiều gian khổ như vậy, người Phật tử bằng cách nào để có thể duy trì? Bằng cách nào để có thể ở mãi trong tâm nguyện ấy? Đó là điều mà Tôn giả Tu Bồ Đề, đại diện cho những người phát tâm Đại thừa, tâm nguyện Vô thượng bồ-đề, thắc mắc. Thắc mắc này được đức Thế Tôn tận tình chỉ dạy như sau:

Trước hết, phát tâm Đại thừa là phải làm gì? Là phải: “Có bao nhiêu chúng sinh, hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, sinh bằng ẩm thấp, sinh bằng biến hóa, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tư tưởng, hoặc không tư tưởng, ta phải làm cho hết thảy chúng sinh này đều được nhập vào niết bàn hoàn toàn, đều được giải thoát hết cả”.

Làm tất cả những việc như thế, nhưng tâm của Bồ-tát phải ở trong trạng thái này: “Làm cho vô lượng, vô số chúng sinh được chứng nhập niết bàn như vậy mà thật ra không thấy có chúng sinh nào được vào niết bàn cả”.

Như vậy, sự phát khởi tâm Đại thừa không chỉ đơn giản nằm lại ở ý nghĩa cứu độ tất cả chúng sinh, hoặc thay thế chúng sinh nhận chịu tất cả những điều khổ đau, mà tất cả những hành động ấy phải được thực hiện bằng một tâm niệm vô sở cầu. Nghĩa là mọi hành động của Bồ-tát phải tuyệt đối bằng lòng từ bi mẫn mà không vì một lý do nào khác. Đức Phật khẳng định: “Bồ Tát không trú ở đâu cả”. Chẳng hạn, khi thực hành hạnh bố thí, Bồ-tát phải: “Không trú đâu cả mà làm bố thí. Không ở nơi sắc mà làm bố thí, không ở nơi thanh, vị, xúc, pháp mà làm bố thí”. Nói cách khác, muốn phát khởi tâm Đại thừa, an trụ và duy trì tâm ấy, Bồ-tát phải “không còn ý tưởng ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả”.

Tóm lại, trong ngôi nhà lửa đang bốc cháy, Bồ-tát lăn lộn trong đó để cứu độ chúng sanh và chỉ cho chúng sanh vĩnh viễn thoát khỏi ngôi nhà lửa, mang theo tài sản quý giá nhất là những gì mình đã cho đi. Kinh ghi: 'Thế gian đang bốc cháy bởi tuổi già và sự chết,... Hãy đem ra bằng sự bố thí; những gì được bố thí được mang ra an toàn'.

4, Kết luận:

Điều ngộ thứ tám là đỉnh cao tư tưởng của Phật giáo đại thừa, cũng là tinh túy của bản kinh này. Nó khẳng định tinh thần từ bi và trí tuệ của Phật giáo. Tinh thần ấy không gì hơn là tình thương yêu đối với tất cả chúng sanh. Cho nên, những ai tự xem mình là Phật tử thì không thể không biểu hiện tinh thần này.
Người xuất gia trẻ trong xã hội ngày nay cần phải tự nhìn lại mình, cần phải xem xét lý tưởng mà mình đang theo đuổi, với đời sống của bản thân mình, xem có phù hợp hay không? Chúng ta là thế hệ trẻ, rất trẻ, có đầy đủ năng lực và trí tuệ, do đó, chúng ta phải sống thật xứng đáng với lý tưởng mình đang theo đuổi và vị trí mà mọi người đang kính trọng, tôn thờ. Chúng ta hãy tự đặt câu hỏi, trong cái gọi là phát tâm Đại thừa cứu độ tất cả chúng sinh, hoặc thay thế chúng sinh nhận chịu mọi điều khổ đau, tủi nhục, trong cái gọi là thương yêu tất cả muôn loài, chúng ta đã làm được những gì? Hay chúng ta đang ở chùa to Phật lớn, đang hưởng thụ những vật chất mà đàn-na tín thí đã phải chắt chiu quyên góp cúng dường, trong khi ngoài xã hội còn có không biết bao nhiêu con người không có nhà để ở, cơm để ăn, áo để mặc? Như vậy gọi là nguyện đại chúng sinh thọ vô lượng khổ hay sao?

Học đến điều giác ngộ sau cùng này, chúng tôi muốn tất cả chúng ta hãy tự đánh giá lại bản thân mình để có một hướng đi đúng đắn, để không cô phụ tấm lòng kỳ vọng của chư Phật, chư Bồ-tát, lịch đại Tổ sư và vô lượng chúng sinh!

 

Thích Nguyên Hùng

http://chuavanhanh.free.fr/index.php?menu=6&ref=3731&lang=